Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Một vài nét khái quát hoạt động du lịch tại Quảng Ninh
2.1.1. Điều kiện phát triển du lịch Quảng Ninh
Quảng Ninh nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam, có biên giới giáp với Trung Quốc thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế với quốc gia đông dân nhất hành tinh bằng cả đường bộ và đường biển; đồng thời du lịch bằng đường biển ở Quảng Ninh cũng có nhiều thuận lợi nhờ phía Đông giáp biển Đông. Với lợi thế về vị trí địa lý và tài nguyên, Quảng Ninh được xác định là một trong 3 đỉnh của tam giác tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ: Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh. Quảng Ninh đã tập trung mọi nguồn lực để xây dựng cơ cấu kinh tế: Công nghiệp – Thương mại dịch vụ và Du lịch – Nông nghiệp, đóng góp của Công nghiệp và dịch vụ đối với nền kinh tế của tỉnh ngày càng tăng. Với định hướng đó, Quảng Ninh sẽ tiếp tục đẩy mạnh sự phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong đó thương mại và du lịch được chú trọng đầu tư, phát triển.
Quảng Ninh là vùng đất được ưu đãi nhiều tài nguyên du lịch vô giá, đó là nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú cùng với nhiều giá trị văn hóa lịch sử có ý nghĩa cho sự phát triển du lịch, hình thành nhiều loại hình du lịch.
Trước hết, đó là nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên đa dạng và phong phú, với nhiều loại hình: danh lam thắng cảnh, nguồn nước khoáng, hệ sinh thái động thực vật. Luận văn: Thực trạng nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.
Danh lam thắng cảnh là một ưu thế nổi trội để phát triển du lịch. Vịnh Hạ Long là thắng cảnh độc đáo của Quảng Ninh, có giá trị độc đáo về nhiều mặt: giá trị về thẩm mỹ, địa chất, địa mạo… Nhờ những giá trị đó mà vịnh Hạ Long được UNESCO hai lần công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới, là tài sản vô giá và là tài sản của quốc gia.
Ngoài Vịnh Hạ Long nổi tiếng, Quảng Ninh còn có khoảng 30 danh lam thắng cảnh có giá trị khác cùng các hang động, bãi tắm đẹp, đồng thời nguồn nước khoáng phong phú dinh để điều trị dưỡng bệnh và nguồn nước giải khát làm nên sự đa dạng cho du lịch Quảng Ninh. Bên cạnh đó, ở Quảng Ninh còn có hệ sinh thái đa dạng với nhiều loài động thực vật quý hiếm. Đó là các hệ sinh tháI biển nhiệt đới với thảm thực vật thường xanh quanh năm trên các đảo, rừng ngập mặn với nhiều loài chim thú rừng, hệ sinh thái san hô độc đáo.
Quảng Ninh còn có nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phong phú với hệ thống các di tích lịch sử – văn hóa với quy mô lớn, có giá trị cho phát triển du lịch như khu di tích Yên Tử, chùa Quỳnh Lâm, đền Sinh, khu lăng mộ nhà Trần, cụm di tích Bạch Đằng, đền Cửa Ông, đình Quan Lạn, đình Trà Cổ… với các lễ hội nổi tiếng thu hút nhiều khách đến tham quan, tìm hiểu….
Nguồn tài nguyên du lịch phong phú góp phần vào việc hình thành và phát triển đa dạng các loại hình, sản phẩm du lịch: du lịch tham quan, du lịch văn hóa, du lịch sinh thái…
BẢN ĐỒ QUẢNG NINH
Ghi chú:
- Vùng I; Cụm di tích lịch sử văn hóa (Yên Hưng, Đông Triều, Uông Bí)
- Vùng II: Cụm danh lam thắng cảnh (Hạ Long, Cẩm Phả, Vân Đồn)
- Vùng III: Du lịch thương mại (Móng Cái, Trà Cổ)
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.1.2. Tình hình phát triển du lịch Quảng Ninh từ năm 2001 đến năm 2006
Giai đoạn từ năm 2001 đến 2006 tuy có những thăng trầm song đã đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ của du lịch Quảng Ninh.
2.1.2.1. Khách du lịch
Mặc dù thời gian này, du lịch Quảng Ninh gặp một số khó khăn do ảnh hưởng của một số nguyên nhân như: dịch bệnh SARS, dịch cúm gia cầm, thay đồi chính sách về thủ tục xuất nhập cảnh cho công dân Trung Quốc đi du lịch Việt Nam, số lượng khách du lịch tăng đều qua các năm. Trong thời gian từ năm 2001 đến năm 2006, lượng khách du lịch tăng bình quân là 14%, trong đó khách quốc tế tăng bình quân 13%. Luận văn: Thực trạng nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.
Bảng 2.1. Lượng khách du lịch giai đoạn 2001 – 2006.
đầu năm 2007 (tổng lượng khách tăng so với cùng kỳ là 35%) thì khả năng hoàn thành chỉ tiêu đón 5 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế là 2,2 triệu lượt vào năm 2010 của du lịch Quảng Ninh có thể thực hiện được. Tuy nhiên, số ngày khách lưu lại còn thấp, trung bình là 1,4 ngày/khách cho thấy sức cạnh tranh và khả năng hấp dẫn của du lịch Quảng Ninh chưa cao.
Thị trường khách chủ yếu của Quảng Ninh trong thời gian qua là khách Trung Quốc, Châu Âu, Đông Bắc Á (gồm Nhật Bản và Hàn Quốc), trong đó khách Trung Quốc chiếm tỷ lệ lớn nhất khoảng 48,5%, Đông Bắc Á là khoảng 10% và Châu Âu là 16,5%. Mặc dù còn chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng lượng khách Đông Bắc Á và Bắc Mỹ đang có xu hướng ngày tăng.
2.1.2.2. Doanh thu du lịch
Doanh thu du lịch tăng bình quân trong các năm từ 2001 – 2006 là 27%. Có thể thấy, chỉ số tăng trưởng về doanh thu của du lịch Quảng Ninh cao và nhanh chứng tỏ sự chuyển biến của du lịch Quảng Ninh về chất lượng. Cùng với sự tăng trưởng về doanh thu, các khoản nộp ngân sách nhà nước hàng năm tăng trưởng khá, đóng góp quan trọng vào GDP của tỉnh. Sự phát triển của du lịch đã tác động mạnh đến các ngành kinh tế khác và trở thành động
Không gian du lịch được mở rộng, ngoài khu du lịch Hạ Long, đến nay toàn tỉnh đã hình thành các trung tâm du lịch mới gồm: Móng Cái – Trà Cổ, Vân Đồn, Uông Bí – Đông Triều – Yên Hưng. Như vậy, đến nay trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã hình thành 4 khu vực trọng điểm phát triển du lịch theo quy hoạch với những sản phẩm du lịch đa dạng: du lịch tham quan, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch nghỉ dưỡng… Các khu du lịch mới được hình thành với các khu vui chơi giải trí: Tuần Châu, công viên quốc tế Hoàng Gia, các trung tâm thương mại và nhiều dịch vụ bổ sung đã tạo diện mạo mới cho du lịch Quảng Ninh.
Đến nay, toàn tỉnh đã thu hút được trên 40 dự án phát triển du lịch và dịch vụ với tổng vốn đăng ký đạt trên 10 nghìn tỷ đồng, trong đó có 19 dự án đầu tư hạ tầng các khu du lịch, 21 dự án đầu tư nước ngoài… Các dự án đầu tư về cơ sở lưu trú và các dịch vụ vui chơi giải trí, các dự án đầu tư về hạ tầng du lịch được đầu tư đúng hướng như: dự án nâng cấp tuyến đường du lịch Dốc Đỏ – Yên Tử, cáp treo Yên Tử, dự án đường du lịch Ngọc Vừng…
2.1.2.4. Về cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch Luận văn: Thực trạng nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.
Trong thời gian từ 2001 đến 2006, số lượng các cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn tỉnh không ngừng tăng lên so với định hướng. Năm 2001, tổng số cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh là 253 cơ sở với 3.600 phòng nghỉ, trong đó có 19 khách sạn được xếp hạng từ 1 đến 4 sao với 1.320 phòng nghỉ. Đến năm 2006, toàn tỉnh đã có 902 cơ sở lưu trú với tổng số 12.380 phòng trong đó có 75 khách sạn được xếp hạng từ 1 đến 4 sao với 4.360 phòng nghỉ. Tuy nhiên đến nay tỉnh Quảng Ninh chưa có khách sạn 5 sao, đồng thời số lượng khách sạn do tập đoàn lớn quản lý còn ít.
Loại hình lưu trú tàu nghỉ đêm trên Vịnh phát triển khá nhanh trong những năm qua góp phần thu hút khách và tăng thời gian lưu lại của khách du lịch. Trong năm 2002 có 16 tàu kinh doanh loại hình này với 134 phòng, đến năm 2006, tăng lên 90 tàu với 680 phòng có chất lượng.
Các dịch vụ vận chuyển khách du lịch cũng không ngừng tăng lên. Năm 2001, tổng số tàu vận chuyển khách tham quan vịnh Hạ Long là 251 chiếc với 8.084 chỗ, đến năm 2006 có 370 tàu với 14.352 chỗ, trong đó có 334 tàu được xếp hạng sao và đạt tiêu chuẩn. Theo thống kê, tốc độ đầu tư tàu vận chuyển khách thăm vịnh Hạ Long tăng bình quân 9%/năm với chất lượng ngày càng được cải thiện, đạt hiệu quả kinh doanh cao. Các phương tiện vận chuyển khách đường bộ cũng phát triển khá nhanh, chất lượng tốt, hiện Quảng Ninh có khoảng trên 200 xe ô tô vận chuyển khách du lịch. Một số loại hình vận chuyển khác cũng đang được hoạt động tại khu du lịch Bãi Cháy như: xe ngựa, xích lô du lịch, xe đạp đôi… tạo nên sự phong phú về phương tiện vận chuyển tại khu du lịch cho du khách lựa chọn.
2.2. Thực trạng nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh
Du lịch Quảng Ninh ngày càng khởi sắc và đem lại nguồn thu đáng kể cho kinh tế – xã hội của tỉnh, tiếp tục khẳng định vị trí mũi nhọn. Cùng với sự phát triển của ngành, nguồn nhân lực du lịch cũng được quan tâm phát triển cả về số lượng và chất lượng. Dựa trên các tiêu chí trong nội dung phát triển nguồn nhân lực du lịch: số lượng, chất lượng, cơ cấu, thực trạng nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh sẽ được phân tích theo số lượng trong cơ cấu ngành nghề, cơ cấu độ tuổi, giới tính, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, từ đó thấy được chất lượng nguồn nhân lực. Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn tập trung chủ yếu vào đội ngũ lao động trực tiếp phục vụ du lịch.
2.2.1. Số lượng nhân lực du lịch Luận văn: Thực trạng nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.
Trong thời gian từ 2001 đến 2006, số lượng nhân lực du lịch, cả trực tiếp và gián tiếp, không ngừng tăng lên. Năm 2006, tổng số nhân lực du lịch của Quảng Ninh khoảng 53.000 người, trong đó lao động trực tiếp khoảng 18.000 người, chiếm 34% tổng số lao động và lao động gián tiếp là 35.000 người, chiếm 66% tổng số lao động.
Bảng 2.2.Số lượng nhân lực du lịch Quảng Ninh
Số lượng nhân lực du lịch Quảng Ninh có tốc độ tăng trưởng khá đều, năm sau tăng hơn năm trước, tỷ lệ thuận với sự tăng trưởng của ngành. Tính từ năm 2001 đến năm 2006, nhân lực du lịch Quảng Ninh tăng 1,86 lần với số lượng là 24.500 người. Tuy nhiên có thể nhận thấy, trong thời gian 6 năm, nhân lực du lịch trực tiếp làm việc trong ngành chỉ tăng 8.500 người thấp hơn so với số lượng nhân lực gián tiếp khoảng 10.000 người.
2.2.2. Chất lượng và cơ cấu lao động
Trong nội dung phát triển nguồn nhân lực nói chung và phát triển nguồn nhân lực du lịch nói riêng, khi đề cập tới chất lượng nguồn nhân lực du lịch bao gồm các nội dung: phát triển về thể lực, trí lực. Tuy nhiên, hoạt động thống kê về chất lượng nguồn nhân lực du lịch với đầy đủ các mặt trên, đặc biệt là về thể lực chưa được thực hiện một cách toàn diện. Vì vậy rất khó có cơ sở để đánh giá về chất lượng nguồn nhân lực du lịch một cách đầy đủ theo các chỉ tiêu trên, hơn nữa về mặt thể lực, sức khỏe, ngay từ khâu tuyển dụng và sử dụng lao động, nhân lực du lịch phải đảm bảo các yêu cầu cần thiết về thể lực và sức khỏe để đáp ứng được vị trí công việc mà nhà tuyển dụng cần. Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn tập trung vào đánh giá chất lượng nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh qua cơ cấu nguồn nhân lực theo các chỉ tiêu: trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ và ngoại ngữ, độ tuổi, giới tính, trong đó đề cập đến lao động trực tiếp trong ngành du lịch.
2.2.2.1. Cơ cấu lao động theo ngành nghề
Lao động du lịch theo ngành nghề của Quảng Ninh phân theo hai nhóm lớn: lao động quản lý bao gồm quản lý nhà nước về du lịch và quản lý tại các doanh nghiệp; lao động nghiệp vụ (buồng, bàn – bar, lễ tân, hướng dẫn viên, bộ phận khác).
Xét về lao động quản lý, số lao động thuộc khối quản lý nhà nước về du lịch ở Quảng Ninh hiện nay có 35 người. Đây có thể xem là con số khá khiêm tốn so với lực lượng lao động của ngành, chỉ chiếm 0,2% tổng số lao động của ngành. Lao động quản lý tại các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh chiếm 13,8% tổng số lao động.
Theo nghiệp vụ, lao động phục vụ buồng chiếm 16,8% trong tổng số, lao động phục vụ bàn – bar chiếm 8,3%, lao động bếp chiếm 6,5%, lao động lễ tân chiếm 10,2%, hướng dẫn viên du lịch chiếm 3%, các bộ phận khác chiếm khoảng 41,2% trong tổng số. Luận văn: Thực trạng nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.
Nhìn chung, cơ cấu trên phân lớn nghiêng về lao động nghiệp vụ. Tuy nhiên về lĩnh vực lữ hành, với tỷ lệ 3% hướng dẫn viên như hiện nay là quá ít.
Để đáp ứng nhu cầu phát triển trước mắt và lâu dài của ngành thì đây là vấn đề cần quan tâm giải quyết, đặc biệt là khi xét đến các tiêu chí về trình độ đào tạo, ngoại ngữ của đội ngũ hướng dẫn viên du lịch của Quảng Ninh thì việc có được đội ngũ hướng dẫn viên có số lượng và trình độ để đáp ứng sự tăng lên về số lượng và đa dạng về các loại khách khác nhau là một nhiệm vụ quan trọng. Cơ cấu lao động trong ngành du lịch Quảng Ninh cần cân đối để phù
a, Trình độ văn hóa phổ thông
Số lao động du lịch có trình độ văn hoá chưa tốt nghiệp phổ thông trung học ở Quảng Ninh không nhiều, chỉ chiếm khoảng 0,8% tổng số lao động trực tiếp, phần lớn là lao động trong các lĩnh vực phục vụ không đòi hỏi trình độ học vấn và chuyên môn nghiệp vụ cao. Đặc thù của ngành du lịch là dịch vụ, phục vụ với đặc điểm lao động khác nhau ở từng vị trí công việc, có những lĩnh vực không đòi hỏi lao động trình độ cao. Lao động có trình độ học vấn tập trung chủ yếu vào lĩnh vực đòi hỏi tay nghề, chuyên môn nghiệp vụ và lao động thuộc khối quản lý. Phần lớn đội ngũ lao động trực tiếp trong ngành du lịch Quảng Ninh đều đã tốt nghiệp phổ thông trung học.
b, Trình độ chuyên môn nghiệp vụ
Du lịch Việt Nam nói chung và du lịch Quảng Ninh nói riêng đều có xuất phát điểm thấp, là ngành còn non trẻ, vì vậy nguồn nhân lực được đào tạo chuyên sâu và có kinh nghiệm về du lịch không nhiều, phần lớn lao động từ các ngành khác chuyển sang nhằm bổ sung bước đầu về nhân lực cho ngành. Hơn nữa, du lịch mang tính liên ngành cao, lao động trong du lịch ngoài đòi hỏi những người có chuyên môn về du lịch cũng cần đến những người lao động được đào tạo về chuyên môn khác như: ngoại ngữ, văn hoá, kiến trúc, địa lý, kinh tế, quản trị, tài chính. Khi đánh giá về trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nhân lực du lịch Quảng Ninh cũng cần xem xét cả lao động đã qua đào tạo bồi dưỡng về du lịch và lao động được đào tạo từ các ngành khác. Trong phạm vi của luận văn chỉ tập trung vào đội ngũ lao động trực tiếp của ngành du lịch Quảng Ninh.
Hiện nay, tỷ lệ được đào tạo về chuyên ngành du lịch hoặc được đào tạo, bồi dưỡng về du lịch của đội ngũ nhân lực du lịch Quảng Ninh còn thấp, chỉ chiếm khoảng 32% trong tổng số lao động, còn lại là lao động chưa qua đào tạo và lao động được đào tạo từ các ngành khác chuyển sang. Lao động quản lý nhà nước và tại các doanh nghiệp du lịch phần lớn từ các ngành khác chuyển sang, nhiều người chưa có kinh nghiệm làm việc trong ngành du lịch. Điều này ảnh hưởng ít nhiều tới chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý. Một số doanh nghiệp du lịch được hình thành do chủ doanh nghiệp có một số vốn tương đối lớn song chưa được đào tạo và chưa có kinh nghiệm về nghiệp vụ cũng như trình độ quản lý, điều này dẫn tới những hạn chế về chất lượng phục vụ, tính chuyên nghiệp, phục vụ theo kiểu áp đặt do tư duy “ông chủ”.
c, Trình độ ngoại ngữ Luận văn: Thực trạng nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.
Hiện nay, trình độ ngoại ngữ của nhân lực du lịch Quảng Ninh không cao, chủ yếu lao động sử dụng tiếng Trung (do đặc thù về thị trưng khách trên địa bàn) và tiếng Anh, những ngoại ngữ khác như: tiếng Pháp, Nhật, Hàn, Nga… chiếm tỷ lệ rất thấp. Tỷ lệ lao động du lịch sử dụng 1 ngoại ngữ là rất cao, trong đó ngoại ngữ có tỷ lệ người lao động du lịch tại Quảng Ninh biết nhiều nhất là tiếng Anh và tiếng Trung. Những thứ tiếng khác chiếm tỷ lệ rất nhỏ. Theo thống kê, lượng khách du lịch từ Trung Quốc đến Quảng Ninh hàng năm chiếm khoảng gần 40% tổng lượng khách quốc tế đến Quảng Ninh (con số này đối với năm 2005 là 22%), thị trường khách Trung Quốc vẫn được coi là thị trường khách tiềm năng của Quảng Ninh, không thể phủ nhận những hiệu quả của thị trường khách có số dân đông nhất thế giới đem lại. Việc tiếp tục hấp dẫn thị trường khách này cùng với đội ngũ nhân lực làm du lịch thông thạo tiếng Trung, hiểu biết về văn hoá, tính cách của người Trung Quốc sẽ là điều kiện rất thuận lợi để phát triển du lịch tỉnh nhà.
Tuy nhiên với trình độ ngoại ngữ của nhân lực du lịch Quảng Ninh như hiện nay là một khó khăn cho sự chuẩn bị về nhân lực phục vụ cho các thị trường khách mới trong tương lai. Hiện tại ngành Du lịch Quảng Ninh không chỉ tập trung vào thị trường khách Trung Quốc mà đang hướng vào những thị trường mới, có xu hướng đi du lịch nhiều vào nước ta nói chung và Quảng Ninh nói riêng như khách Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức… nên việc trang bị cho đội ngũ nhân lực du lịch có khả năng giao tiếp bằng những ngôn ngữ của các nước trên là rất cần thiết bên cạnh tiếng Anh được xem là ngoại ngữ bắt buộc.
Xét về trình độ tiếng Anh, khoảng 70% số lao động du lịch Quảng Ninh có thể giao tiếp ở trình độ A – B – C và có khoảng 10% số lao động có trình độ đại học tiếng Anh với khả năng giao tiếp thành thạo, phần lớn số này thuộc nhóm lao động là lễ tân khách sạn, số ít là hướng dẫn viên. Riêng trong lĩnh vực lữ hành, đội ngũ hướng dẫn viên du lịch của Quảng Ninh phần lớn có ngoại ngữ là tiếng Trung, có doanh nghiệp 100% hướng dẫn viên sử dụng tiếng Trung.
Xét về những ngoại ngữ khác, chỉ có một tỷ lệ rất nhỏ nhân lực có thể sử dụng ngoại ngữ là tiếng Pháp, Nhật, Hàn, Nga, và một số ngoại ngữ khác, ước tính có khoảng 4% lao động du lịch sử dụng tiếng Pháp, khoảng 1,2% lao động sử dụng tiếng Nhật, khoảng 0.4% lao động biết tiếng Hàn, tiếng Nga có khoảng 1.5% lao động sử dụng.
Xét đến trình độ ngoại ngữ theo từng lĩnh vực nghiệp vụ, lao động là hướng dẫn viên du lịch và lễ tân có khả năng sử dụng thành thạo 1 ngoại ngữ cao và có trình độ C trở lên, một số có 2 bằng ngoại ngữ và sử dụng được 2 ngoại ngữ, tuy nhiên số lao động sử dụng thành thạo từ 2 ngoại ngữ trở lên còn thấp.
a, Cơ cấu theo giới tính Luận văn: Thực trạng nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.
Do đặc thù nghề nghiệp nên tỷ trọng lao động nam và nữ trong du lịch cũng được phân bổ tuỳ theo từng vị trí công việc. Đối với nghề như hướng dẫn viên du lịch, bếp chiếm đa số là lao động nam (hướng dẫn viên du lịch chiếm 70%, lao động bếp chiếm khoảng 60%), nghề hướng dẫn viên du lịch do yêu cầu công việc đòi hỏi phải có sức khoẻ, phải di chuyển, xa nhà thường xuyên nên không phù hợp với nữ giới. Đối với các nghề như: lễ tân, bàn, buồng thì nữ giới lại chiếm đa số bởi đặc thù của công việc đòi hỏi sự nhẹ nhàng, khéo léo, duyên dáng nên nữ giới thường phù hợp hơn. Mặc dù vậy, với nghề phục vụ bàn, tỷ lệ nữ giới lớn hơn nam giới cũng ít nhiều ảnh hưởng đến công việc vì đây là công việc không chỉ cần sự khéo léo mà cũng là một công việc nặng nhọc, vất vả, cần sự tháo vát, nhanh nhẹn của nam giới.
Nói chung, tỷ lệ về giới làm trong ngành du lịch Quảng Ninh hiện nay giữa nam và nữ tương ứng là 38% và 62%.
b, Cơ cấu theo độ tuổi
Có thể nói lao động du lịch Quảng Ninh có độ tuổi trẻ, đang trong thời kỳ phấn đấu và cống hiến tốt cho sự phát triển của ngành, phần đông là lao động trong độ tuổi từ 25 đến 40, chiếm khoảng 60%.
Tuy nhiên, nếu xét trên từng lĩnh vực nghề nghiệp thì cơ cấu tuổi của lao động trong lĩnh vực quản lý nhà nước về du lịch có độ tuổi trung bình cao hơn so với đội ngũ lao động trực tiếp phục vụ, bởi trên thực tế, một số công việc phục vụ trong ngành du lịch có thể nói là kén người và kén tuổi như: nghề hướng dẫn viên du lịch, lễ tân khách sạn, nhân viên bàn bar…, hầu hết tuyển những người bên cạnh có nghiệp vụ, lứa tuổi phù hợp với công việc thường là còn trẻ và thời gian làm việc ở vị trí đó cũng không lâu như đối với đội ngũ lao động quản lý có thể làm đến lúc về hưu. Theo điều tra, lao động trong độ tuổi dưới 24 và từ 40 đến 55 có tỷ lệ xấp xỉ nhau, thấp nhất là lao động có độ tuổi trên 55 (tỷ lệ khoảng 1,6% tổng số). Có thể nhận thấy cơ cấu tuổi của nhân lực du lịch Quảng Ninh theo biểu đồ 2.8 dưới đây:
2.3. Thực trạng công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch tại Quảng Ninh Luận văn: Thực trạng nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.
2.3.1. Công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh
Cùng với sự phát triển của ngành du lịch Quảng Ninh, công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh cũng được quan tâm chú ý.
Hiện nay, Quảng Ninh có 11 cơ sở đào tạo nghề du lịch, trong đó có 1 trường Cao đẳng, 1 trung tâm bồi dưỡng đại học hệ tại chức.
Bảng 2.3. Danh sách các cơ sở đào tạo du lịch ở Quảng Ninh.
Hàng năm các cơ sở này tuyển sinh đào tạo được khoảng 2.000 học viên, đáp ứng nhu cầu học tập tại địa phương, cung cấp nhân lực du lịch trình độ cao đẳng, trung cấp, sơ cấp nghề cho du lịch địa phương. Các chuyên ngành chủ yếu được đào tạo ở trình độ trung cấp và dạy nghề là kỹ thuật chế biến món ăn, kỹ thuật phục vụ buồng, bàn, lễ tân; ở trình độ cao đẳng chủ yếu đào tạo các chuyên ngành như quản trị kinh doanh khách sạn, lữ hành – hướng dẫn du lịch. Quy mô tuyển sinh các chuyên ngành du lịch ở các bậc đào tạo ngày càng tăng.
Mặc dù còn nhiều khó khăn, hầu hết các cơ sở đào tạo du lịch tại Quảng Ninh đã cố gắng đảm bảo và nâng cao chất lượng đào tạo. Từ năm 2001 đến năm 2006, ước khoảng gần 9.000 học sinh được đào tạo nghiệp vụ du lịch tại Quảng Ninh. Học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp đã tìm được việc làm (ước khoảng 70% học sinh tốt nghiệp các trường trung học nghiệp vụ và dạy nghề tìm được việc làm đúng chuyên ngành đào tạo du lịch); cơ bản đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của công việc và làm việc có hiệu quả; đồng thời có khả năng tiếp tục tự đào tạo để phát triển toàn diện, hoà nhập với tập thể và cộng đồng.
Hiện nay, tại Quảng Ninh chưa có bậc đào tạo đại học (cả nước có 29 trường đại học đào tạo chuyên ngành du lịch), chỉ có bậc đào tạo cao đẳng (1 cơ sở), trung cấp và nghề về du lịch (9 cơ sở), bồi dưỡng tại chức (1 cơ sở). Nhìn một cách tổng thể, với điều kiện phát triển như hiện tại cùng với tiềm năng vốn có và vị thế của du lịch Quảng Ninh trong tương lai so với cả nước thì việc chưa có một cơ sở đào tạo du lịch bậc đại học là một hạn chế trong công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch trình độ cao đáp ứng cho sự phát triển của du lịch tỉnh nhà và cung cấp lực lượng lao động cho ngành.
2.3.1.1. Chương trình, giáo trình đào tạo Luận văn: Thực trạng nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.
Ngoài trường Cao đẳng Văn hoá Nghệ thuật và Du lịch Hạ Long, hầu hết các cơ sở đào tạo về du lịch tại địa phương chưa có hệ thống chương trình, giáo trình đào tạo. Tuy nhiên, việc xậy dựng chương trình và giáo trình của trường Cao đẳng Văn hoá Nghệ thuật và Du lịch Hạ Long vẫn chưa đầy đủ, thống nhất, chưa đạt chuẩn, đặc biệt chưa phù hợp với tình hình thực tế đào tạo tại địa phương. Điều này cũng ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng đào tạo của nhà trường. Có thể nhận thấy vấn đề thống nhất về chương trình và giáo trình đào tạo du lịch cho các cơ sở đào tạo là vấn đề chung cho các trường đào tạo du lịch của cả nước nhằm tạo điều kiện cho hoạt động đào tạo liên thông và liên kết cho các cơ sở từ trung ương tới địa phương.
Hiện nay, với việc thực hiện và vận dụng chương trình của dự án Phát triển nguồn nhân lực du lịch Việt Nam do Tổng cục du lịch thực hiện bằng nguồn vốn tài trợ không hoàn lại của Cộng đồng Châu Âu áp dụng 13 tiêu chuẩn kỹ năng nghề du lịch, đây có thể được xem là cơ sở để các trường du lịch trong cả nước nói chung và Quảng Ninh nói riêng trong việc định hướng xây dựng chương trình chi tiết thống nhất cho các môn chuyên ngành du lịch. Một vấn đề đặt ra là hầu hết các cơ sở đào tạo về du lịch ở Quảng Ninh chưa có sự quản lý chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà nước về đào tạo và về chuyên ngành du lịch để xây dựng những tiêu chí thống nhất, cụ thể về chuyên môn làm căn cứ trong việc xây dựng chương trình, giáo trình quy chuẩn và nhất quán về nội dung cũng như phương pháp giảng dạy.
2.3.1.2. Đội ngũ cán bộ, giảng viên, giáo viên
Hiện nay, đội ngũ giáo viên, giảng viên về du lịch ở Quảng Ninh còn hạn chế về chất lượng, số lượng giáo viên cơ hữu thấp. Ngoại trừ trường Cao đẳng Văn hoá Nghệ thuật và Du lịch Hạ Long có số lượng giáo viên cơ hữu và thỉnh giảng nhất định về du lịch (40 người), còn lại hầu hết các cơ sở đào tạo nghề về du lịch trên địa bàn tỉnh chủ yếu mời giáo viên về giảng dạy. Đội ngũ giáo viên cơ hữu đã được đào tạo cơ bản tại các trường đại học có chuyên ngành du lịch, hầu hết còn trẻ cả về tuổi đời (tuổi trung bình là 25,5), tuổi nghề, kinh nghiệm giảng dạy cũng như kinh nghiệm thực tế về nghiệp vụ du lịch chưa nhiều. Số giáo viên có khả năng sử dụng ngoại ngữ vào giảng dạy không nhiều, khả năng vi tính không cao, đây có thể xem là một khó khăn trong điều kiện hội nhập quốc tế ở lĩnh vực đào tạo. Phương pháp giảng dạy vẫn còn nặng về thuyết giảng, thuyết trình, nặng về lý thuyết, khả năng nghiên cứu khoa học còn hạn chế do nhiều nguyên nhân (cả chủ quan và khách quan).
Tại các cơ sở đào tạo về du lịch khác, đội ngũ giáo viên chủ yếu là mời từ các cơ sở đào tạo ở trung ương, chủ yếu là dạy trực tiếp vào nghiệp vụ trong thời gian khoảng từ 1 đến 2 tuần cho mỗi nghiệp vụ.
2.3.1.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ đào tạo Luận văn: Thực trạng nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.
Cơ sở vật chất kỹ thuật của các cơ sở đào tạo du lịch ở Quảng Ninh còn nhiều hạn chế, thiếu thốn, chưa đồng bộ và đạt chuẩn. Các cơ sở đào tạo nghề về du lịch chủ yếu thuê cơ sở tại các khách sạn hoặc nhà nghỉ cho học viên thực hành. Trường Cao đẳng Văn hoá Nghệ thuật và Du lịch Hạ Long là cơ sở đào tạo có quy mô và được chú ý đầu tư về cơ sở vật chất cho học viên học tập cả về lý thuyết và thực hành, tuy nhiên chất lượng của các phòng học thực hành cũng chưa đạt tiêu chuẩn, trang thiết bị phục vụ cho việc học tập và giảng dạy còn nghèo nàn, chưa cập nhật công nghệ mới. Hiện nay, tại Quảng Ninh chưa có cơ sở đào tạo có trung tâm thực hành nghề, phát triển theo mô hình Trường – Khách sạn – Trung tâm lữ hành.
Cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị phục vụ cho công tác đào tạo là phương tiện hỗ trợ đắc lực cho công tác đào tạo phát triển nhân lực du lịch đạt chất lượng. Với điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật hiện tại sẽ hạn chế tới chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo du lịch ở Quảng Ninh.
2.3.1.4. Hợp tác quốc tế về đào tạo du lịch
Hoạt động hợp tác quốc tế về đào tạo du lịch góp phần không nhỏ vào việc nâng cao chất lượng đào tạo và chất lượng nguồn nhân lực du lịch, trao đổi và học hỏi kinh nghiệm về đào tạo và quản lý… của các nước có ngành du lịch phát triển.
Tại Quảng Ninh đã có một cơ sở đào tạo gia nhập mạng lưới cơ sở đào tạo du lịch Châu Á – Thái Bình Dương APETIT trong tổng số 19 cơ sở đào tạo du lịch của cả nước tham gia vào mạng lưới này, đồng thời tham gia vào các khoá đào tạo của dự án phát triển nguồn nhân lực du lịch do Tổng cục Du lịch triển khai bằng nguồn tài trợ không hoàn lại của cộng đồng Châu Âu. Tuy nhiên hoạt động hợp tác quốc tế của các cơ sở đào tạo du lịch ở Quảng Ninh còn nhiều hạn chế, cơ sở đào tạo đã tham gia vào các tổ chức quốc tế về đào tạo du lịch chưa phát huy được hết các lợi ích của việc hợp tác đó, ít tham gia các buổi hội thảo nhằm trao đổi, học hỏi kinh nghiệm. Điều này ảnh hưởng tới hiệu quả và hạn chế trong việc học tập vận dụng những kinh nghiệm quý báu vào công tác đào tạo nhân lực du lịch.
2.3.1.5. Công tác bồi dưỡng, đào tạo lại nhân lực du lịch Quảng Ninh Trong thời gian qua, ngành du lịch Quảng Ninh cũng đã quan tâm đến công tác đào tạo lại và bồi dưỡng nhân lực mặc dù kinh phí cho hoạt động này còn hạn hẹp cùng với những khó khăn nhất định do điều kiện công việc trong từng thời điểm chi phối tới việc đào tạo.
Dưới sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân Tỉnh, Sở Du lịch đã phối hợp với các cơ sở đào tạo và giáo viên chuyên ngành tập trung mở các lớp đầo tạo, bồi dưỡng nhân lực còn thiếu và yếu về ngoại ngữ, chuyên môn, nghiệp vụ, quản lý nhà nước…
Hiện nay, hoạt động kinh doanh tàu nghỉ đêm trên Vịnh Hạ Long phục vụ nhu cầu lưu trú của du khách đang ngày càng tăng, những nhân viên phục vụ trên tàu góp phần không nhỏ vào việc khẳng định vẻ đẹp của Vịnh Hạ Long, tuyên truyền, quảng bá cho điểm đến Hạ Long – Quảng Ninh, điều này chỉ có được khi chất lượng phục vụ được nâng cao và hoàn thiện, trong khi hầu hết các nhân viên phục vụ trên tàu đều ở trình độ thấp, nhiều người chưa tốt nghiệp phổ thông trung học, chưa được đào tạo bồi dưỡng về du lịch đặc biệt là kỹ năng giao tiếp, thái độ phục vụ du khách, nhận thức về ngành du lịch. Việc mở các khoá đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ du lịch và kỹ năng giao tiếp cho các đối tượng trên là cần thiết. Cho đến nay, ngành du lịch Quảng Ninh đã đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ du lịch cho khoảng 2.000 thuỷ thủ, thuyền viên, nhân viên phục vụ trên các tàu chở khách tham quan vịnh Hạ Long. Riêng năm 2005, số thuỷ thủ, thuyền viên, nhân viên phục vụ trên tàu được đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ du lịch là 1.150 người. Mặc dù số lượng được đào tạo chưa nhiều so với số lao động trên các tàu du lịch hiện có song đây cũng là hoạt động đáng ghi nhận nhằm nâng cao chất lượng phục vụ của đội ngũ lao động này.
Sở Du lịch Quảng Ninh cũng đã phối hợp mở các lớp bồi dưỡng ngoại ngữ tiếng Nhật, Hàn cho cán bộ nhân viên ngành du lịch bằng nguồn kinh phí hỗ trợ của Tỉnh với số lượng là khoảng 60 người được bồi dưỡng. Tuy khoá đào tạo không được mở rộng rãi cho lao động ngành du lịch và số lượng học viên được đào tạo không nhiều nhưng đây là bước chuẩn bị ban đầu của ngành cho việc đón khách tiềm năng ở thị trường Đông Bắc Á. Đồng thời, Sở Du lịch đã mở một số khoá bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ cho nhân viên buồng, bàn tại một số khách sạn trên địa bàn tỉnh với số lượng khoảng 300 người. Luận văn: Thực trạng nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.
Số lượng nhân lực được bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ như trên so với nguồn nhân lực du lịch hiện có chiếm tỷ lệ nhỏ song đây là cố gấng, nỗ lực của ngành Du lịch Quảng Ninh trong công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực du lịch.
Thời gian qua, ngành du lịch Quảng Ninh cũng đã tranh thủ sự hỗ trợ của Tổng cục Du lịch về công tác phát triển nguồn nhân lực tổ chức chương trình đào tạo kiến thức quản lý tổ chức các sự kiện du lịch, bồi dưỡng kiến thức cho cán bộ quản lý ngành du lịch về nghiệp vụ chuyên môn trong và ngoài nước, hệ thống lý luận chính trị, về hội nhập kinh tế quốc tế. Trên cơ sở chương trình Dự án Phát triển nguồn nhân lực du lịch của Cộng đồng Châu Âu do Tổng cục Du lịch triển khai, nhiều lao động trong ngành Du lịch Quảng Ninh đã tham gia các khoá học về đào tạo nghiệp vụ và phát triển đào tạo viên do Dự án triển khai.
Công tác phát triển nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn đã phần nào được quan tâm. Qua điều tra, hầu hết các doanh nghiệp đều có chương trình phát triển nguồn nhân lực với các hình thức như: đào tạo tại chỗ hoặc mời giảng viên có kinh nghiệm từ các cơ sở đào tạo du lịch ở địa phương và trung ương; cử nhân viên đi đào tạo tại các cơ sở đào tạo du lịch trong và ngoài tỉnh; khuyến khích nhân viên tự học, doanh nghiệp tạo điều kiện về thời gian; tạo điều kiện cho nhân viên tham gia thực tế tại một số khách sạn lớn trên Hà Nội, cử nhân viên đủ điều kiện tham gia các lớp đào tạo của dự án EU. Nhìn chung các hoạt động này không được tiến hành thường xuyên do nhiều yếu tố của hoạt động kinh doanh du lịch tác động, thêm vào đó cũng những nguyên nhân của chính người lao động và của doanh nghiệp du lịch không có định hướng và chương trình chi tiết, có kế hoạch cụ thể và nguồn kinh phí hỗ trợ cho hoạt động phát triển nguồn nhân lực tại doanh nghiệp mình còn ít.
Mặc dù hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nhân lực phục vụ công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh đã được quan tâm, chú ý song nhìn chung chuyển biến chậm, chưa theo kịp và đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành. Đội ngũ cán bộ quản lý, nhân viên nghiệp vụ đã được đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng nhưng chất lượng còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu nghiệp vụ ngày càng cao của ngành và nhu cầu ngày càng đa dạng của du khách, đặc biệt phải kể đến trình độ ngoại ngữ và tin học còn nhiều bất cập, điều này ít nhiều ảnh hưởng tới sự phát triển của ngành trong quá trình hội nhập.
2.3.2. Thực trạng công tác quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh Luận văn: Thực trạng nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.
2.3.2.1. Hệ thống tổ chức quản lý đào tạo du lịch
Tại Quảng Ninh, Sở Du lịch, Sở Giáo dục – Đào tạo, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thực hiện chức năng quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực du lịch của Tỉnh trên cơ sở tham mưu cho Uỷ ban nhân dân Tỉnh về công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch.
Công tác quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng nhân lực du lịch tại Quảng Ninh được tăng cường thông qua việc xây dựng và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục và đào tạo được Tổng cục Du lịch cụ thể hóa cho phù hợp với Ngành, như quy chế tổ chức và hoạt động của các trường cao đẳng, trung học nghiệp vụ du lịch trực thuộc Tổng cục Du lịch; các quy định về tiêu chuẩn hướng dẫn viên du lịch quốc tế, tiêu chuẩn nhân viên phục vụ khách sạn,…Tổng cục Du lịch đã tổ chức xây dựng chương trình khung trung học chuyên nghiệp ngành Du lịch, tập huấn và triển khai Quy trình đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao năng lực lao động của Ngành. Việc bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, luân chuyển, từ chức, miễn nhiệm cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo làm công tác quản lý nhà nước về đào tạo được tiến hành đúng tiêu chuẩn, trình tự, thủ tục theo quy định tại Quyết định 27/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và các quy định tại các văn bản hướng dẫn của các bộ, ngành liên quan. Công tác kiểm tra, thanh tra đào tạo du lịch bước đầu được quan tâm, đã tiến hành thanh tra việc sử dụng và cấp văn bằng, chứng chỉ không hợp pháp. Hàng năm đều tổ chức kiểm tra, thanh tra công tác tuyển sinh.
Công tác quản lý nhà nước về đào tạo trong lĩnh vực du lịch có sự tham gia phối hợp của nhiều cơ quan. Cơ quan chịu trách nhiệm chính gồm: Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Du lịch với vai trò là cơ quan quản lý ngành, và các ngành liên quan khác như Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính….
Công tác quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng nhân lực du lịch mặc dù đã được quan tâm trong những năm gần đây, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, biểu hiện rõ nhất là:
Bộ máy quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng nhân lực du lịch chưa đủ mạnh cả ở Trung ương và địa phương. Ở Tổng cục Du lịch chỉ có một bộ phận phụ trách công tác đào tạo thuộc Vụ Tổ chức cán bộ. Quảng Ninh là trọng điểm du lịch song vẫn chưa có bộ phận chuyên trách về quản lý phát triển nhân lực du lịch. Vì vậy việc lập kế hoạch đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch, thống kê nguồn nhân lực du lịch không được thực hiện thường xuyên và tổng thể. Hiện nay, cả nước chưa có Trường hoặc Trung tâm bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức du lịch nên việc triển khai các khóa đào tạo lại, bồi dưỡng còn gặp nhiều khó khăn. Luận văn: Thực trạng nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.
Đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng nhân lực du lịch rất mỏng, chủ yếu làm việc kiêm nhiệm, thiếu kiến thức và hiểu biết về quản lý đào tạo, bồi dưỡng và về đào tạo, bồi dưỡng trong du lịch, do đó hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước thấp.
Chưa có định hướng cụ thể cho công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực du lịch, nên các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nhân lực du lịch bung ra hoạt động tự phát, chưa được kiểm tra, chấn chỉnh.
Thiếu các văn bản hướng dẫn cụ thể của cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo và của ngành Du lịch đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân lực du lịch; chưa ban hành kịp thời và tổ chức thực hiện chưa tốt các văn bản hướng dẫn về chủ trương xã hội hoá đào tạo, bồi dưỡng nhân lực du lịch.
Thực tế hiện nay, nhiều doanh nghiệp du lịch rất cần đội ngũ lao động kỹ thuật thực hành có trình độ cao đẳng. Tuy nhiên, theo quy định của Luật Giáo dục thì dạy nghề hiện nay chỉ có hai cấp trình độ đào tạo là đào tạo ngắn hạn – cấp chứng chỉ nghề và đào tạo dài hạn – cấp bằng nghề. Đây cũng là bất cập chung của hệ thống đào tạo nghề hiện nay.
2.3.2.2. Hệ thống chính sách về phát triển nguồn nhân lực du lịch
Hệ thống chính sách của Nhà nước gắn với phát triển nguồn nhân lực Du lịch bao gồm: Chính sách về quản lý phát triển Du lịch: quy định những tiêu chuẩn nghề nghiệp Du lịch, chương trình đào tạo chuyên ngành; Chính sách về giáo dục, đào tạo Du lịch: về cơ sở đào tạo Du lịch, chương trình đào tạo, tiêu chuẩn giáo viên, chế độ đối với giáo viên và người học, học phí; Chính sách về lao động Du lịch: quy định chế độ làm việc, thời gian làm việc, chế độ bảo hiểm, tiền lương, đào tạo nghề.
Hệ thống văn bản quản lý nhà nước về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch được xây dựng từ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước ở cấp trung ương, địa phương; các văn bản quy định, hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ của các cơ sở đào tạo, các bên tham gia vào phát triển nguồn nhân lực; các văn bản về chiến lược, quy hoạch như chiến lược giáo dục, chiến lược du lịch; các văn bản quy định chi tiết các hành vi, hoạt động của các đối tượng chịu sự quản lý nhà nước như hoạt động tổ chức đào tạo, tuyển sinh, công nhận tốt nghiệp, học phí, lệ phí…. Các văn bản quy định và hệ thống chính sách chủ yếu gồm: Luật giáo dục, Luật du lịch, Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam năm 2001- 2010 và các văn bản quy phạm pháp luật khác. Mặc dù các Luật và các chiến lược đang được xây dựng và hoàn chỉnh nhưng thiếu các văn bản hướng dẫn thực thi nên ảnh hưởng không nhỏ tới việc triển khai, áp dụng vào thực tiễn.
Vai trò quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực của các sở ngành liên quan còn có những bất cập, chủ yếu theo sự phân công của UBND Tỉnh.
Công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch chưa có kế hoạch cụ thể cũng như dự báo nguồn nhân lực sẽ cần trong tương lai cho ngành.
2.4. Đánh giá thực trạng phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh và những nguyên nhân chủ yếu Luận văn: Thực trạng nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.
2.4.1. Điểm mạnh và nguyên nhân
2.4.1.1. Điểm mạnh
- Nhân lực du lịch Quảng Ninh đã đáp ứng được yêu cầu công việc hiện tại. Cùng với sự tăng nhanh về các chỉ tiêu: cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch, lượng khách, doanh thu…, nguồn nhân lực du lịch trực tiếp cũng phát triển cả về số lượng và chất lượng. Du lịch phát triển thực sự đã đem lại nhiều lợi ích kinh tế – xã hội, giải quyết việc làm cho phần lớn lao động của Tỉnh.
- Đội ngũ lao động đa phần còn trẻ, yêu nghề, yên tâm công tác, quan tâm học tập, nâng cao trình độ, năng lực nghiệp vụ.
- Tỷ lệ lao động được đào tạo, đào tạo lại, lao động có kinh nghiệm nghề nghiệp, có trình độ ngoại ngữ có xu hướng tăng lên.
- 100% lao động quản lý nhà nước về du lịch đã tốt nghiệp đại học, trong công việc hiện tại, tích cực nghiên cứu, tìm hiểu và nắm vững yêu cầu của công việc, có khả năng hoàn thành công việc chuyên môn và nhiệm vụ được giao.
- Hoạt động và trưởng thành trong cơ chế thị trường, đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp năng động, có khả năng phát hiện, nắm bắt nhu cầu thị trường và tổ chức các dịch vụ đem lại thu nhập cho doanh nghiệp và đóng góp cho xã hội.
- Đội ngũ quản lý có xu hướng trẻ hoá, có năng lực và nhanh nhạy với những thay đổi của thị trường.
- Đội ngũ cán bộ quản lý tại các doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp thuộc tập đoàn quốc tế quản lý có khả năng làm việc cường độ cao, ít nhiều tích luỹ được kinh nghiệm quản lý hiện đại, có những tố chất cần thiết của nhà quản lý trong thời kỳ mở cửa và hội nhập.
- Đội ngũ lao động nghiệp vụ phần nào đáp ứng được yêu cầu công việc hiện tại, phần lớn lao động đã được đào tạo về nghiệp vụ tại các cơ sở đào tạo ở trung ương và địa phương, đồng thời được tham gia các khoá đào tạo lại tại doanh nghiệp. Lao động có ý thức làm việc, tự trang bị và tích luỹ kinh nghiệm trong công việc.
- Lao động tại các doanh nghiệp lữ hành lớn, các doanh nghiệp kinh doanh cơ sở lưu trú liên doanh, có vốn đầu tư nước ngoài, tập đoàn quốc tế quản lý có chất lượng khá cao, phong cách, tác phong, ý thức, thái độ nghề nghiệp đến kỹ năng thực hành, kiến thức, trình độ ngoại ngữ cũng được đánh giá cao.
- Công tác đào tạo mới, đào tạo tại chỗ, bồi dưỡng, đào tạo lại ở trong nước và ngoài nước đã được quan tâm, chú ý. Một số doanh nghiệp đã có chương trình phát triển nguồn nhân lực, chú ý đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực tại doanh nghiệp. 4.1.2. Nguyên nhân
- Ngành du lịch được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước với những chính sách và định hướng kịp thời. Tổng cục Du lịch đã và đang xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực du lịch cho cả nước trong đó có Quảng Ninh, một trong những trung tâm du lịch trọng điểm.
- Tỉnh đã có sự quan tâm đầu tư cho hoạt động đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh, nâng cấp cơ sở vật chất, bổ sung đội ngũ giáo viên du lịch cho một số cơ sở đào tạo du lịch.
- Cơ sở đào tạo nhân lực du lịch tại Quảng Ninh có sự nâng động, thích nghi với những thay đổi và đòi hỏi của thị trường lao động.
2.4.2. Điểm yếu và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.
2.4.2.1. Điểm yếu
- Tuy lao động du lịch Quảng Ninh phát triển nhanh về số lượng nhưng vẫn bị mất cân đối và thiếu đồng đều về cơ cấu ở từng nghiệp vụ, giữa lao động quản lý và lao động nghiệp vụ, chất lượng chưa đáp ứng được yêu cầu của từng nghiệp vụ. Theo đánh giá, lao động du lịch của Quảng Ninh mới chỉ đáp ứng được 70% về số lượng và 30% về chất lượng.
- Cơ cấu nhân lực giữa các vùng du lịch không đồng đều về số lượng và chất lượng, Lao động du lịch phần lớn tập trung tại khu du lịch Hạ Long và Móng Cái; những khu du lịch khác như: Vân Đồn, Yên Hưng – Uông Bí – Đông Triều, đội ngũ nhân lực còn mỏng, chất lượng chuyên môn nghiệp vụ còn yếu, đa số chưa qua đào tạo về nghiệp vụ.
- Chuyên môn, nghiệp vụ còn nhiều hạn chế, chưa theo kịp với sự phát triển của ngành và những đòi hỏi ngày càng cao và đa dạng của ngành du lịch. – Trình độ ngoại ngữ, tin học là một trong những bất cập quan trọng của ngành du lịch Quảng Ninh đặc biệt trong điều kiện hội nhập như hiện nay. Tỷ lệ lao động có khả năng giao tiếp 2 ngoại ngữ rât ít, số lượng người có thể sử dụng thành thạo một ngoại ngữ (Anh hoặc Trung) không nhiều.
- Đội ngũ hướng dẫn viên du lịch không chỉ hạn chế về nghiệp vụ, chuyên môn, ngoại ngữ mà còn yếu về kiến thức, hiểu biết về văn hoá, lịch sử, truyền thống dân tộc….
- Một bộ phận không nhỏ lao động phục vụ trên các tàu du lịch chưa qua đào tạo, nhận thức về du lịch chưa cao đã ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng phục vụ và chất lượng của điểm đến Vịnh Hạ Long.
- Trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ý thức, thái độ nghề nghiệp, tác phong, … của nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh tại các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau có sự chênh lệch khá lớn. Lao động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường được đào tạo lại, bài bản theo yêu cầu phục vụ rất cao của doanh nghiệp nên trình độ chuyên môn nghiệp vụ hầu hết đều đạt tiêu chuẩn quốc tế, trình độ ngoại ngữ cũng đáp ứng yêu cầu công việc. Còn lao động trong các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân – hộ cá thể, doanh nghiệp có quy mô nhỏ phần nào được đào tạo về nghiệp vụ du lịch song vẫn chưa đáp ứng yêu cầu công việc, trình độ ngoại ngữ, tin học còn nhiều hạn chế. Theo đánh giá tại các cơ sở, có tới 80% lực lượng lao động thuộc các doanh nghiệp này chưa qua đào tạo. Đây có thể xem là một hạn chế cần được quan tâm để phát triển nguồn nhân lực du lịch một cách đồng bộ, cân đối, đảm bảo chất lượng phục vụ du lịch. Luận văn: Thực trạng nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.
- Kỹ năng giao tiếp, quảng bá, giới thiệu của đội ngũ lao động nghiệp vụ phục vụ trực tiếp còn hạn chế, tác phong làm việc chưa có tính chuyên nghiệp.
- Lao động quản lý nhà nước về du lịch cũng như lao động quản lý tại các doanh nghiệp còn hạn chế nhiều về trình độ ngoại ngữ và phương pháp, kỹ năng quản lý. Số lượng cán bộ có trình độ chuyên môn và khả năng quản lý tốt chưa nhiều, tầm quản lý chủ yếu vẫn ở phạm vị quy mô nhỏ. Nhiều người từ những ngành khác chuyển sang, chưa được đào tạo về quản lý và nghiệp vụ, chủ yếu qua kinh nghiệm thực tế và thâm niên làm việc nên việc quản lý đôi khi còn cứng nhắc, bảo thủ.
- Việc cập nhật kiến thức mới, bồi dưỡng và đào tạo ở một số vị trí công tác, kỹ năng tác nghiệp của đội ngũ cán bộ quản lý chưa cao, chưa theo kịp với sự phát triển và hội nhập. Một bộ phận cán bộ quản lý còn thụ động, khả năng tổng hợp, phân tích và đưa ra những định hướng cho sự phát triển của ngành chưa kịp thời và hiệu quả.
- Thiếu chuyên gia ở các lĩnh vực như: quy hoạch du lịch, quản lý du lịch, xúc tiến quảng bá du lịch, tổ chức các sự kiện…; Thiếu đội ngũ lao động lành nghề có chất lượng, thiếu nghệ nhân ở một số vị trí công việc đòi hỏi có tay nghề và trình độ.
- Công tác tổ chức thi nâng bậc nghề không diễn ra thường xuyên, vì vậy khó đánh giá chất lượng của đội ngũ lao động cũng như không tạo động lực khuyến khích người lao động học tập, rèn luyện, nâng cao tay nghề. – Chưa có sự ổn định cao trong công việc của đội ngũ lao động phục vụ trực tiếp. Tỷ lệ lao động chuyển từ doanh nghiệp này sang doanh nghiệp khác hoặc ra khỏi ngành có xu hướng tăng lên.
- Cơ sở đào tạo về du lịch còn thiếu thốn, nghèo nàn về cơ sở vật chất, trang thiết bị hỗ trợ giảng dạy, hạn chế về chất lượng đội ngũ giáo viên, chương trình, giáo trình, phương pháp giảng dạy, trình độ ngoại ngữ, kinh nghiệm thực tế, bất cập trong phân bổ thời lượng học lý thuyết và thực hành, thực tập…
- Công tác quản lý nhà nước về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh còn mang nặng tính hình thức, công tác thanh tra, kiểm tra chưa thường xuyên, chặt chẽ.
- Công tác thống kê về nguồn nhân lực du lịch và nhu cầu về nhân lực du lịch trên địa bàn Tỉnh chưa được thực hiện thường xuyên, chi tiết để có cái nhìn bao quát về số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực du lịch từ đó có những dự báo và định hướng mang tính chiến lược để chuẩn bị nhân lực cho sự phát triển của ngành.
2.4.2.2. Nguyên nhân Luận văn: Thực trạng nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.
- Ngành du lịch ở giai đoạn đầu của sự phát triển, cơ sở vật chất, trang thiết bị còn nghèo nàn, những nhân tố tham gia vào hoạt động đào tạo nhân lực du lịch còn thiếu và yếu; đồng thời khoảng cách giữa quy mô, cơ cấu và chất lượng đào tạo nhân lực du lịch của các cơ sở đào tạo du lịch với nhu cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp là khá lớn.
- Ngành du lịch Quảng Ninh chưa có kế hoạch và chính sách cụ thể về phát triển nguồn nhân lực du lịch. Nhận thức về vấn đề phát triển nguồn nhân lực du lịch chưa được quan tâm đúng mức. Chưa có chính sách đầu tư thoả đáng cho hoạt động phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh. Chính sách tài chính, lương bổng, đãi ngộ để thu hút nhân tài, những người có kinh nghiệm nghề nghiệp… chưa được quan tâm đúng mức.
- Do sự phát triển của thị trường lao động, của nhu cầu xã hội, của người học nên hoạt động đào tạo, phát triển nguồn nhân lực ít nhiều không tránh khỏi trào lưu thương mại hoá, điều này đã làm ảnh hưởng tới chất lượng đào tạo nguồn nhân lực du lịch.
- Đội ngũ cán bộ quản lý, nhân viên nghiệp vụ trong ngành du lịch chưa được đào tạo một cách cơ bản và chưa tiếp cận nhiều với phong cách quản lý và làm việc của những nước có ngành du lịch phát triển nên trình độ và khả năng quản lý, nghiệp vụ còn nhiều hạn chế.
- Chưa xây dựng được tiêu chuẩn về nghiệp vụ, chưa thực hiện đúng quy trình tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng nhân lực, chưa quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa sử dụng và nhu cầu bồi dưỡng, đào tạo nhân lực. – Thiếu các chính sách phù hợp để huy động các nguồn tài trợ cho hoạt động phát triển nguồn nhân lực du lịch.
Những hạn chế về nguồn nhân lực du lịch là một trong các nhân tố ảnh hưởng, cản trở tới sự phát triển của du lịch Quảng Ninh. Có thể nói đây là một trong những khó khăn cần khắc phục và có những định hướng kịp thời nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành trong tương lai như trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của tỉnh đến năm 2010 và định hướng đến 2015: phấn đấu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế trọng điểm và đưa Quảng Ninh, Hạ Long trở thành trung tâm du lịch lớn trong khu vực và quốc tế. Để thực hiện được mục tiêu “phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn” và đưa Quảng Ninh trở thành trung tâm du lịch lớn của cả nước và xứng tầm khu vực, đồng thời phát triển du lịch theo hướng bền vững, những cố gắng về phát triển nguồn nhân lực du lịch trong thời gian qua mới chỉ dừng bước đầu đáp ứng khoảng 70% về số lượng nhưng chất lượng chỉ đáp ứng được 30%, vì vậy, cần thiết phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp với sự phối kết hợp của nhiều nhân tố không chỉ của các cơ sở đào tạo du lịch, các doanh nghiệp du lịch, các cơ quan quản lý nhà nước mà còn cả các đối tượng có liên quan gián tiếp đến sự nghiệp phát triển nhân lực du lịch Quảng Ninh. Luận văn: Thực trạng nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Giải pháp phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh
