Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng Agribank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài: Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn đối với phát triển kinh tế – xã hội ở huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái lược tình hình phát triển kinh tế – xã hội ở huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam từ 2019 đến nay
Đại Lộc là huyện thuộc phía bắc của tỉnh Quảng Nam, có hệ toạ độ địa lý nằm gọn trong vòng nội chí tuyến, tại múi giờ thứ 7, là vùng đất vừa có đồng bằng, vừa có rừng núi, mang tính chất trung du. Diện tích tự nhiên toàn huyện 585,55 Km2, dân số đến 31/12/2023 là 161.285 người [1, tr.5]. Cơ cấu lao động trong độ tuổi chiếm tỷ lệ 58,75% [26, tr.25].
Đây là vùng đất chịu hậu quả rất nặng sau hai cuộc kháng chiến. Hiện nay trên địa bàn huyện có đến 697 Bà Mẹ Việt Nam Anh hùng đã được phong tặng, 1.597 người thuộc đối tượng chính sách hưởng chế độ BHXH do Nhà nước đài thọ [26, tr.96]. Tuy nhiên, là vùng có truyền thống cách mạng, nhân dân Đại Lộc không chỉ anh hùng bất khuất trong kháng chiến mà còn cần cù, sáng tạo, dũng cảm cả trong sự nghiệp xây dựng phát triển kinh tế. Từ sau Đại hội Đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam Lần thứ VI, cùng với cả nước, Đảng Bộ và nhân dân Đại Lộc đã kiên trì thực hiện đường lối Đổi mới của Đảng, xây dựng và phát triển kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Qua 5 năm thực hiện Nghị quyết Huyện Đảng Bộ Lần thứ XVIII (nhiệm kỳ 2019-2023), kinh tế – xã hội huyện đã có những bước phát triển vượt bậc, đi kèm với những thành tựu là những hạn chế, yếu kém cần phải nhìn nhận để vượt qua, nhằm sớm đạt được mục tiêu xây dựng huyện trở thành huyện Công nghiệp.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
===>>> Nhận Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tài Chính Ngân Hàng
2.1.2. Những thành tựu đạt được
Trong 5 năm (2019-2023), tốc độ tăng trưởng kinh tế toàn huyện khá ổn định, tốc độ tăng GDP bình quân đạt 11,01%, cao hơn mức tăng trưởng bình quân của tỉnh và cả nước. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển biến tích cực. Năm 2018 tỷ trọng ngành nông nghiệp chiếm 41,33%, CN-TTCN-XD và TM-DV chiếm 58,67% trong cơ cấu GDP, đến cuối năm 2023 các chỉ số tương ứng là 31,52% và 68,48%, cơ chế mới và nhất là công cụ tín dụng đã góp phần huy động tiềm năng, thu hút các nguồn lực bên trong và bên ngoài để đầu tư cho phát triển. Các vấn đề xã hội đã được giải quyết tốt, góp phần cải thiện mọi mặt của dời sống xã hội. Thu nhập bình quân đầu người tăng 1,49 lần (năm 2019 đạt 3,665 triệu đồng/người, năm 2023 đạt 5,45 triệu).
SX CN – TTCN tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao, bình quân đạt 15,41% năm. Riêng phần CN do huyện quản lý tăng 21,6%. đã hình thành 7/2 cụm công nghiệp ở Đại Hiệp, Khu 5- ái Nghĩa, Đại An, Đại Nghĩa 1, Đại Nghĩa 2, Mỹ An – Đại Quang thu hút được nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước. Đến cuối năm 2023 đã có 4 dự án đầu tư đi vào hoạt động. Số vốn đăng ký của 19 dự án đạt trên 40 tỷ VNĐ và 11,4 triệu USD. Từ năm 2018 đến nay có thêm 15 doanh nghiệp ra đời với tổng vốn điều lệ 10,68 tỷ VNĐ. Hiện nay trên toàn huyện có trên 1.750 cơ sở sản suất TTCN đang hoạt động, giải quyết gần 6.000 lao động chuyên và trên 16.000 lao động nông nhàn thời vụ. [3, tr.2-3-4]. Một số ngành nghề mới như dệt vải, chế tác đá mỹ nghệ, gia công chế biến thuỷ sản, đan lưới… ra đời, các ngành nghề truyền thống đã và đang được khôi phục và phát triển. Luận văn: Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng Agribank.
Các ngành TM – DV từng bước mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng sản phẩm, tốc độ tăng trưởng bình quân trong 5 năm đạt 13,52%. đã đầu tư quy hoạch và xây dựng hệ thống mạng lưới chợ nông thôn, tạo điều kiện cho thị trường nông thôn phát triển nhất là việc tiêu thụ hàng hoá nông sản. Du lịch bước đầu đã có những khởi động tốt, các điểm du lịch mới như Bằng Am (Đại Hồng), Suối nước nóng Chấn Hưng (Đại Hưng)… đang được nghiên cứu, xúc tiến thu hút đầu tư.
Sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tiếp tục được phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, giữ vững và phát triển nhịp độ tăng trưởng, có bước chuyển biến tích cực trong cơ cấu nội bộ ngành. Trong 5 năm, diện tích lúa giảm trên 3.000 ha nhưng tổng sản lượng lương thực vẫn đạt từ khoảng 60.000 tấn/năm, vượt luôn vượt mức kế hoạch của tỉnh và Nghị quyết Huyện Đảng bộ đề ra. Chính sách phát triển kinh tế trang trại, kinh tế vườn được triển khai và mang lại kết quả tốt, nâng số trang trại theo tiêu chí chuẩn được công nhận đến cuối 2023 là 75 trang trại, lao động cho kinh tế trang trại là 341 người, tổng diện tích vườn tạp được cải tạo sang chuyên canh có hiệu quả là 942 ha, chiếm 70% tổng diện tích đất vườn. Tỷ trọng ngành chăn nuôi được nâng dần trong cơ cấu của SX nông nghiệp, từ 18,6% (năm 2019) lên 23,03% (năm 2023). Chủ trương dồn điền đổi thửa trong nông nghiệp được hưởng ứng mạnh mẽ từ phía nông dân, đến cuối năm 2023 có 87/159 số thôn hoàn thành việc dồn điền đổi thửa, từ đó đã quy hoạch chuyển đổi 70,72 ha đất lúa sang trồng cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao, chuyển đổi sang diện tích mặt ao nuôi cá 10,9 ha, trồng cỏ nuôi bò 90 ha…[3, tr.1].
Thu ngân sách nhà nước hàng năm đều đạt và vượt dự toán, tăng bình quân hằng năm là 26%, trong đó thu phát sinh kinh tế trên địa bàn 15,6% năm. Luận văn: Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng Agribank.
Hoạt động huy động vốn đầu tư khá đa dạng, cơ cấu đầu tư hướng vào mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Trong 5 năm tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đạt xấp xỉ 570 tỷ đồng, trong đó đầu tư cho kết cấu hạ tầng đạt 285 tỷ đồng, tập trung trên các lĩnh vực: Bê tông hoá giao thông nông thôn, kiên cố háo kênh mương, tầng hoá và chuẩn hoá trường học, trạm y tế xã… đã làm thay đổi căn bản bộ mặt nông thôn.
Lĩnh vực văn hoá xã hội có nhiều tiến bộ. Các vấn đề xã hội bức xúc được quan tâm giải quyết, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện đáng kể. Các chương trình xoá đói giảm nghèo, cho vay vốn giải quyết việc làm, phát triển nông nghiệp nông thôn được chú trọng. Công tác xã hội hoá giáo dục, y tế bước đầu đạt kết quả tốt. Đã có 33/66 trường học các cấp đạt chuẩn quốc gia. Đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở sớm hơn 3 năm theo kế hoạch. Giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề, học tập cộng đồng ngày càng phát triển.
Mạng lưới y tế từ huyện đến cơ sở được quan tâm đầu tư, tăng cường, cơ bản đáp ứng được yêu cầu khám chữa bệnh của nhân dân. Công tác phòng chống dịch bệnh và các chương trình y tế quốc gia được thực hiện khá tốt. Đề án xây dựng 3 công trình vệ sinh giai đoạn 2019-2022 cơ bản hoàn thành.
Chương trình xoá nhà tạm và xây dựng nhà đại đoàn kết được tập trung chỉ đạo và thu được kết quả khá cao (trong 5 năm đã vận động xây dựng hoàn thành 824 ngôi nhà tình nghĩa, 358 nhà địa đoàn kết). Công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm lo người có công được duy trì và nâng cao.
Lĩnh vực dân số, gia đình và trẻ em có nhiều tiến bộ, duy trì được mức giảm sinh hàng năm ở mức 0,84%o. Giảm tỷ lệ suy dinh dưởng trẻ em từ 34,39% (2018) xuống còn 21,5% (2023)…
Đời sống văn hoá cơ sở có nhiều khởi sắc. Đến cuối 2023 toàn huyện có 75,6% đơn vị đạt khu, thôn phố văn hoá, 79,8% gia đình văn hoá, 90% cơ quan văn hoá được công nhận.
Về lao động và việc làm có những chuyển biết tốt. Bằng các chương trình tín dụng hỗ trợ giải quyết việc làm, các cơ sở sản xuất CN-TTCN ngày càng được mở rộng quy mô, trong 5 năm đã có 22.095 lao động có việc làm mới.
Nhận xét về thành tựu đạt được: Luận văn: Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng Agribank.
Bảng 2.1: Các chỉ tiêu kinh tế – xã hội chủ yếu của huyện Đại Lộc (2019 – 2023)
Bảng 2.1 cho thấy tăng trưởng kinh tế huyện giai đoạn 2019 -2023 luôn ở mức cao và ổn định. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, trong cơ cấu ngành nghề và cả trong nội bộ từng ngành. CN, DV ngày càng phát triển và chiếm ưu thế. Nông nghiệp được tổ chức lại theo hướng sản xuất hàng hoá, chăn nuôi được đẩy mạnh phát triển. Sản lượng lương thực cây có hạt tăng trong 3 năm 2019-2021, giảm trong 2 năm cuối 2023-2023 và sẽ còn tiếp tục giảm trong những năm tới để nhường chỗ cho sản lượng cây công nghiệp, chăn nuôi và cả sản lượng CN, DV. Đây là một tất yếu trong hành trình của CNH, HĐH, khẳng định được đường lối phát triển đúng đắn của Đảng Bộ và nhân dân Đại Lộc trong 5 năm qua.
Bảng 2.2: Cơ cấu giá trị các ngành kinh tế (2019 – 2023)
Tăng trưởng và giá trị sản lượng trong cơ cấu các ngành kinh tế cũng phản ảnh được hướng đi tích cực của đường lối phát triển KT-XH tại huyện. Trong đó, tốc độ tăng trưởng của CN-TTCN-XD luôn luôn ở mức cao và chiếm ưu thế. Nếu như năm 2019 tốc độ tăng trưởng của Nông nghiệp, CN-TTCN-XD và TM – DV tương ứng là 3,59% – 13,35% – 12,05% thì đến năm 2023 cơ cấu tăng trưởng là 6,24% – 18,62% – 13,94%.
Bảng 2.3: Tốc độ tăng trưởng kinh tế ở các ngành (2019 – 2023)
2.1.2. Những hạn chế và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng Agribank.
2.1.2.1 Những hạn chế
Đi kèm với những thành tựu đạt được trong phát triển KT-XH trên địa bàn huyện Đại Lộc trong 5 năm (2019 – 2023) là những yếu kém, hạn chế thể hiện như sau:
Kinh tế tăng trưởng luôn ở mức cao nhưng chưa thật sự vững chắc, chất lượng tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng. Cơ cấu sản xuất từng ngành, từng lĩnh vực, từng vùng chuyển dịch chưa đáp ứng nhu cầu thị trường. Tâm lý sản xuất nhỏ vẫn còn ảnh hưởng nặng trong nhận thức và tư duy của một bộ phận cán bộ. Kết cấu hạ tầng dù có tập trung đầu tư nhưng vẫn còn thấp kém nhiều mặt. Trình độ công nghệ và năng lực tiếp nhận chuyển giao công nghệ còn nhiều hạn chế. Công tác quy hoạch và triển khai các đề án quy hoạch được duyệt còn nhiều bất cập, lúng túng, kéo dài, gây tâm lý bức xúc, không đồng tình trong nhân dân. Thành phần kinh tế nhà nước và hợp tác, mà chủ lực là các DNNNvà HTX trên địa bàn chưa thật sự đủ mạnh, chưa làm tốt vai trò chủ đạo trong xây dựng và phát triển.
Trong nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu sản xuất, cơ cấu giống cây trồng, con vật nuôi còn nhiều lúng túng bị động, chưa hình thành được các vùng tập trung chuyên canh nguyên liệu cho công nghiệp. Chăn nuôi vẫn chưa được đầu tư đúng mức, tỷ trọng ngành chăn nuôi có tăng nhưng vẫn còn thấp so với yêu cầu. Công tác dồn điền, đổi thửa là một chủ trương đúng đắn, tạo điều kiện cho quá trình tích tụ tập trung ruộng đất, hình thành những trang trại có quy mô lớn, nhưng chưa được chỉ đạo thực hiện kiên quyết, tiến độ thực hiện còn chậm so với yêu cầu. Kinh tế trang trại chưa được chú ý phát triển. Các chính sách tín dụng hỗ trợ kinh tế trang trại, kinh tế vườn, chăn nuôi theo các Quyết định 30, 66 của UBND tỉnh thực hiện còn nhiều bất cập và kém hiệu quả. Luận văn: Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng Agribank.
Trong CN- TTCN chưa có những sản phẩm chủ lực để khẳng định thế mạnh của công nghiệp địa phương. Hoạt động đầu tư và thu hút đầu tư còn nhiều bất cập, vẫn còn tình trạng nhiều dự án đã được cấp phép nhưng chưa thực hiện, gây lãng phí tài nguyên đất đai. Không loại trừ nhiều dự án “ma”, không vì mục đích SXKD chính đáng… Quản lý khai thác tài nguyên vẫn còn nhiều sơ hở.
Các ngành dịch vụ, du lịch chưa phát triển đúng tiềm năng. Kinh tế du lịch chưa được quy hoạch khai thác có hiệu quả.
Trong lĩnh vực lao động việc làm còn nhiều bất cập. Lao động trong độ tuổi chiếm tỷ lệ cao (58,75%), nhưng trình độ chuyên môn, kỹ thuật nói chung còn thấp, dẫn đến tình trạng thừa về số lượng nhưng thiếu về chất lượng. Trong khi các dự án đầu tư mới trên địa bàn huyện có nhu cầu sử dụng lao động rất lớn (Công ty May mặc Thái Liên cần khoảng 2.000 lao động kỷ thuật…) thì số lao động thiếu việc làm hiện có lại không đáp ứng được yêu cầu về trình độ chuyên môn, kỹ thuật. Đầu tư cho đào tạo ngành nghề chưa tương xứng với yêu cầu. Các cơ sở đạo tạo chuyên môn kỹ thuật tại còn nhỏ về quy mô và yếu về chất lượng, chưa thể đáp ứng tốt các yêu cầu sử dụng lao động của địa phương.
2.1.2.2. Nguyên nhân của những hạn chế
Sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp uỷ địa phương trên một số lĩnh vực còn thiếu nhạy bén, tư duy kinh tế chậm đổi mới nên chưa khai thác tốt tiềm năng, lợi thế và tranh thủ những cơ hội để gia tăng tốc độ phát triển.
Nhận thức đường lối phát triển kinh tế của Đảng, vận dụng linh hoạt và hiệu quả vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của một số địa phương, ngành còn yếu kém, bất cập. Một số đơn vị kinh tế, ngành chưa có chiến lược phát triển sắc bén, linh hoạt, chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa lợi ích chung của KT-XH toàn huyện với lợi ích cục bộ của đơn vị mình.
Chưa khai thác tốt tiềm năng trí tuệ của cán bộ đảng viên và năng lực nội sinh của các tổ chức đoàn thể cơ sở, đơn vị kinh tế. Tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào cấp trên của một bộ phận không nhỏ của cán bộ, đảng viên và nhân dân chưa được khắc phục. Một bộ phận cán bộ, đảng viên còn có biểu hiện chủ quan, thiếu ý chí phấn đấu, đầu tư tâm huyết trí tuệ cho nhiệm vụ chung, vẫn còn dấu hiệu của tình trạng quan liêu, tham nhũng ….
2.2. Đánh giá thực trạng hoạt động của tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đối với phát triển kinh tế – xã hội ở huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam Luận văn: Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng Agribank.
2.2.1. Những kết quả bước đầu của tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đối với phát triển kinh tế – xã hội ở huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam, nguyên nhân của thành tựu.
2.2.1.1. Về cơ cấu tổ chức hoạt động tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên địa bàn Đại Lộc
Hiện nay ở huyện Đại Lộc tồn tại đan xen của 5 hình thức tín dụng: tín dụng nặng lãi, tín dụng thương mại, tín dụng tập thể, tín dụng ngân hàng thương mại, tín dụng NHCSXH và tín dụng nhà nước. Tuy nhiên, tín dụng của NHNo&PTNT ở Đại Lộc từ trước đến nay vẫn luôn chiếm giữ vị trí quan trọng và là loại hình tín dụng chiếm thị phần chủ yếu của tín dụng ngân hàng tại địa phương.
Hiện nay trên địa bàn tín dụng của NHNo&PTNT do 2 chi nhánh cấp 2 trực thuộc NHNo&PTNT tỉnh Quảng Nam, gồm chi nhánh NHNo&PTNT huyện Đại Lộc và chi nhánh NHNo&PTNT Vùng B, Đại Lộc.
Từ khi được thành lập, sau Nghị định 53/NĐ-CP của Chính Phủ, Chi nhánh Ngân hàng Phát triển nông nghiệp Đại Lộc, nay là chi nhánh NHNo&PTNT huyện Đại Lộc trải qua quá trình vận động thăng trầm với nhiều giai đoạn khó khăn. Tuy nhiên, có thể chia làm 2 giai đoạn quan trọng: Trước và sau ngày 01/01/2023. Luận văn: Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng Agribank.
Trước 01/01/2023, Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Đại Lộc là chi nhánh ngân hàng thương mại nhà nước duy nhất có mặt trên địa bàn, gồm 1 chi nhánh cấp 2 và 2 chi nhánh cấp 3 (Chi nhánh Vùng A và chi nhánh Vùng B) phụ thuộc.
Từ ngày 01/01/2023 đến nay chi nhánh NHNo&PTNT Vùng B được nâng cấp lên chi nhánh cấp 2 trực thuộc NHNo&PTNT tỉnh Quảng Nam. Có địa bàn hoạt động gồm 7 xã Vùng B (Đai Minh, Đại Cường, Đại Phong, Đại Thắng, Đại Thạnh, Đại Chánh và Đại Tân). Chi nhánh NHNo&PTNT huyện có địa bàn gồm 10 xã, thị trấn còn lại (thị trấn ái Nghĩa, các xã Đại Hoà, Đại Nghĩa, Đại Hiệp, Đại Quang, Đại Đồng, Đại Hồng, Đại Lãnh, Đại Hưng và Đại Sơn).
Tổng số cán bộ viên chức NHNo&PTNT trên địa bàn huyện Đại Lộc hiện nay có 30 người, trong đó 25 viên chức biên chế của ngành và 5 trường hợp là hợp đồng giúp việc không thường xuyên. Trình độ CBVC biên chế ngành gồm: Đại học 18, chiếm tỷ lệ 72%; trung cấp 5, chiếm tỷ lệ 20 % và sơ cấp 2, tỷ lệ 8%.
Cơ cấu tổ chức của 2 chi nhánh NHNo&PTNT cấp 2 trên địa bàn Địa Lộc thực hiện theo mô hình tổ chức của NHNo&PTNT Việt Nam, ban hành theo quyết định số 454/NHNo-HĐQT- TCCB, ngày 24/12/2022 của Chủ tịch Hội đồng Quản trị NHNo&PTNT Việt Nam. Chi nhánh NHNo&PTNT huyện có 2 phòng chuyên môn (phòng Tín dụng, phòng Kế toán – Ngân quỹ), bộ phận Tổ chức – Hành chính và 1 chi nhánh cấp 3 (Chi nhánh Vùng A). Chi nhánh NHNo&PTNT Vùng B thực hiện theo mô hình chi nhánh loại V, chỉ có 2 tổ nghiệp vụ (tổ Tín dụng và tổ Kế toán – Ngân quỹ).
2.2.1.2. Những kết quả hoạt động tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đối với phát triển kinh tế – xã hội ở huyện Đại Lộc 2019 – 2023
Do điều kiện lịch sử để lại, khi Nghị định 53/NĐ-CP của Chính Phủ ra đời chuyển đổi hệ thống ngân hàng từ 1 cấp sang 2 cấp, năm 1988 Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp huyện Đại Lộc trở thành ngân hàng thương mại nhà nước duy nhất có mặt tại Đại Lộc. Từ đó đến nay, hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT luôn gắn chặt với sự vận động và phát triển của KT-XH huyện.
Tổng hợp kết quả huy động vốn và cho vay của các chi nhánh NHNo&PTNT trên địa bàn huyện Đại Lộc từ 2019- 2023:
+ Huy động vốn: Luận văn: Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng Agribank.
Bảng 2.4: Hoạt động huy động vốn (2019-2023)
Với phương châm “đi vay để cho vay”, các chi nhánh NHNo&PTNT trên địa bàn huyện luôn chú trọng đến công tác huy động nguồn vốn, đã đạt được những bước phát triển mạnh và vững chắc, thể hiện trên doanh số huy động cho từng năm.
Bảng 2.4 cho thấy nguồn vốn huy động có xu hướng tăng mạnh qua từng năm, từ 32.183 triệu đồng năm 2019 đã lên đến 91.926 triệu đồng vào 2023, tăng gấp 2,86 lần. Tăng trưởng nguồn vốn huy động 5 năm cao hơn nhiều lần (2,86 lần) so với tăng trưởng kinh tế (1,54 lần) thể hiện xu hướng tích cực và hiệu quả của các giải pháp huy động vốn của NHNo&PTNT.
Vốn huy động có thời hạn luôn được chú trọng. Trong 5 năm, vốn huy động có thời hạn tăng từ 20.159 triệu đồng lên đến 54.797 triệu đồng, gấp 2,72 lần. Có thể nói đây là một sự đảm bảo cho tính phát triển bền vững của hoạt động huy động vốn cho suốt thời gian khảo sát và cả những năm sau.
Mặt khác, quy mô của loại tiền gửi các tổ chức kinh tế và tiền gửi không kỳ hạn thấp hơn tiền gửi dân cư và tiền gửi có kỳ hạn nhưng vẫn chiếm phần không nhỏ trong tổng nguồn cho thấy sự tận dụng tối đa các nguồn vốn có lãi suất thấp tại địa phương, vừa bổ sung cho vốn đầu tư tín dụng, vừa có thể duy trì được lãi suất bình quân đầu vào thấp. Trong khi đó, tiền gửi dân cư vào ngân hàng cho các thể thức huy động có kỳ hạn luôn tăng trưởng ở mức cao và ổn định là một dấu hiệu tích cực, bảo đảm cho nguồn vốn ổn định, tái đầu tư vào phát triển KT-XH trên địa bàn.
+ Cho vay vốn: Luận văn: Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng Agribank.
Trong 5 năm 2019 – 2023, hoạt động cho vay vốn tín dụng của NHNo&PTNT phục vụ SXKD, tiêu dùng trên địa bàn huyện Đại Lộc đã mang lại những hiệu quả thiết thực. Tổng mức đầu tư tín dụng qua từng năm đều tăng, trong 5 năm tổng dư nợ trên cân đối kế toán đã tăng 130,28%, nếu loại trừ nhân tố tín dụng chính sách (đã bàn giao cho NHCSXH 10/2022) thì thực chất tổng dư nợ tăng khoảng 150%.
Bảng 2.5: Cơ cấu dư nợ cho vay (2019 – 2023)
Riêng về chất lượng tín dụng: Tiêu chí phản ánh chất lượng tín dụng trong hệ thống NHNo&PTNT là tỷ trọng nợ có vấn đề (còn gọi là nợ xấu) trong tổng dư nợ. Đây là “các khoản tín dụng cấp cho khách hàng không thu hồi được hoặc có dấu hiệu có thể không thu hồi được theo đúng cam kết trong hợp đồng tín dụng” [30, tr.286].
Bảng 2.6: Tình hình nợ xấu trên bảng cân đối kế toán (2019 – 2023)
Nợ xấu thể hiện trên cân đối kế toán các năm 2019-2023 đều ở mức thấp, cả số tuyệt đối và cả tỷ trọng trong tổng dư nợ. Trong các năm 2019 – 2022, tỷ trọng nợ xấu ở mức dưới 1%. Năm 2023, nợ xấu có xu hướng tăng nhưng cũng chỉ ở mức 1,7% (mức khống chế của NHNo&PTNT Việt Nam là dưới 3%). Trong một chừng mực, đây là sự lành mạnh nhất định, thể hiện chất lượng tín dụng và khả năng kiểm soát, quản lý được dư nợ tín dụng đã đầu tư của các chi nhánh NHNo&PTNT trên địa bàn.
Tuy nhiên, để đánh giá một cách đúng đắn chất lượng tín dụng, theo đúng bản chất là nợ “không thu hồi được” hoặc “có dấu hiệu có thể không thu hồi được” [30, tr.286], theo tác giả, chỉ nghiên cứu dữ liệu từ các sổ sách kế toán là chưa đủ chính xác và khách quan. Mà còn phải tính đến các khoản nợ xấu đã được xử lý rủi ro, theo dõi riêng ngoài bảng cân đối kế toán. Thực chất, theo quy chế quản lý tín dụng, việc xử lý rũi ro, chuyển nợ xấu ra ngoài bảng cân đối để theo dõi chỉ là giải pháp điều hành và quản lý tín dụng của ngân hàng chứ không hề làm suy giảm trách nhiệm trả nợ của người vay.
Các khoản nợ xấu chưa thu hồi, được xử lý rũi ro các năm 2019 đến 2021 không đáng kể, chỉ tập trung vào các năm 2022 và 2023, gồm: Luận văn: Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng Agribank.
Năm 2022 nợ xấu chuyển rũi ro là 1.896 triệu đồng. Trong đó chỉ bao gồm nợ ngắn hạn và thuộc đối tượng HSX, tư nhân, cá thể.
Năm 2023, số dư nợ xấu thuộc nợ rủi ro theo dõi ngoại bảng là 6.639 triệu đồng.
Trong đó, ngắn hạn là 2.663 triệu đồng và trung, dài hạn là 3.976 triệu đồng.
Ngoài ra, tình hình nợ quá hạn nhưng chưa chuyển sang theo dõi ở tài khoản nợ quá hạn cũng là một yếu tố không thể bỏ qua trong công tác quản lý chất lượng tín dụng. Sở dĩ có tình trạng này là do việc thực hiện các quy chế quản lý tín dụng hiện hành chưa chặt chẽ và nghiêm túc. Do vậy nợ quá hạn chưa được xác lập để phân nhóm, thực chất đây chính là nợ xấu. Cuối năm 2023, trên địa bàn huyện loại nợ này có khoảng 1.100 triệu, chiếm tỷ trọng 1,34%. Đây là một nguy cơ, tiềm ẩn rủi ro trong hoạt động tín dụng mà công tác điều hành quản lý ngân hàng không thể bỏ qua hoặc xem nhẹ.
Đánh giá vai trò tín dụng của NHNo&PTNT trên địa bàn Đại Lộc:
Từ tổng hợp kết quả huy động vốn và cho vay của các chi nhánh NHNo&PTNT trên đây gắn liền với các nhân tố KT-XH 2019 – 2023, có thể đánh giá vai trò tín dụng của NHNo&PTNT trên địa bàn huyện Đại Lộc như sau:
Một là, tín dụng của NHNo&PTNT đã đáp ứng cơ bản nhu cầu về vốn nói chung và vốn tín dụng nói riêng cho phát triển KT-XH trên địa bàn huyện.
Qua 5 năm, nguồn vốn huy động tại chỗ đã chuyển từ trạng thái không đáp ứng đủ nhu cầu vốn để cho vay vào các năm đầu, sang trạng thái thừa vốn, không chỉ đáp ứng đủ yêu cầu cho vay mà còn dôi dư để đưa vào nguồn điều tiết chung của toàn hệ thống và NHNo&PTNT trên địa bàn. Diễn biến đó, thể hiện ở bảng sau:
Bảng 2.7: Nguồn vốn huy động và sử dụng vốn (2019–2023)
Mặt khác, do chủ động về nguồn vốn, tín dụng của NHNo&PTNT là nguồn cung ứng vốn vay chủ yếu cho toàn bộ các ngành, thành phần kinh tế, với các nhu cầu khác nhau để phát triển SXKD và đời sống.
Đến cuối năm 2023, có 12.515 hộ có dư nợ NHNo&PTNT, chiếm tỷ lệ 34% tổng số hộ trong toàn huyện. Tuy tốc độ tăng trưởng dư nợ chưa cao nhưng khối lượng tín dụng tuyệt đối tăng lên hàng năm đã không ngừng tăng, đáp ứng được phần lớn yêu cầu vay vốn của doanh nghiệp, dân cư trên địa bàn. Luận văn: Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng Agribank.
Đến nay huyện đã hoàn thành mục tiêu “xoá xã trắng” quan hệ tín dụng NHNo&PTNT. Các xã vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa thuộc khu vực III như Đại Sơn, Đại Thạnh tín dụng của NHNo&PTNT cũng đã “phủ sóng” và đã có nhiều đơn vị, cá nhân thoát nghèo, vươn lên làm giàu bằng chính đồng vốn tín dụng của NHNo&PTNT.
Hai là, tín dụng của NHNo&PTNT trên địa bàn huyện Đại Lộc đã tác động tích cực vào chương trình xoá đói, giảm nghèo, hỗ trợ khắc phục thiên tai, ổn định đời sống và sản xuất, giải phóng các nguồn lực, khai thác các lợi thế tiềm năng đất đai, tài nguyên, lao động tại địa phương.
Trong 5 năm (2019-2023), cơ cấu kinh tế huyện dù có những chuyển biến mạnh nhưng ưu thế vẫn luôn là kinh tế nông nghiệp, GDP nông lâm nghiệp luôn chiếm tỷ trọng cao (39,82% – 37,69% – 35,77% – 33,80% – 31,51%), từ lý do đó tín dụng của NHNo&PTNT đã lấy nông nghiệp, nông thôn làm đối tượng phục vụ chính, góp phần thúc đẩy sản xuất, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, con vật nuôi trong nông nghiệp, tạo công ăn việc làm cho người lao động, đẩy mạnh sản xuất hàng hoá ở nông thôn.
Bằng các chính sách tín dụng phù hợp, các chi nhánh NHNo&PTNT trên địa bàn huyện luôn bám sát địa bàn, đa dạng hoá các sản phẩm dịch vụ, vận dụng các thể thức, hình thức tín dụng một cách linh hoạt để phục vụ tốt cho sự phát triển của KT-XH huyện. Các đối tượng được ngân hàng lựa chọn cho vay không chỉ là những dự án có hiệu quả kinh tế cao mà còn phải mang lại hiệu quả xã hội thiết thực, tích cực góp phần thực hiện các chủ trương định hướng phát triển KT-XH của địa phương, khai thác các tiềm năng thế mạnh, giải quyết nhiều việc làm cho lực lượng lao động nông nhàn, dôi dư, vốn còn kém về trình độ. Trong đó phải kể đến các dự án khai thác và chế biến bột đá tràng thạch xuất khẩu, với nhiều cơ sở SXKD, nhiều doanh nghiệp thực hiện, giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động; đầu tư phát triển SXKD cho HTX 27-7, là đơn vị kinh tế tập thể mà bộ máy lãnh đạo cốt cán đều là thương binh, số lao động thường xuyên đến nay thu hút được là 542 người …
Tín dụng của NHNo&PTNT không chỉ đáp ứng các yêu cầu của SXKD mà trong điều kiện thiên tai mất mùa, NHNo&PTNT đã tích cực giải ngân cho vay các đối tượng trên địa bàn khắc phục thiên tai, ổn định đời sống bằng nguồn vốn chỉ định của Chính phủ với lãi suất thấp hoặc bằng vốn tín dụng thông thường của NHNo&PTNT. Trong 3 năm 2016-2018, chỉ với vốn chỉ định của Chính Phủ, thông qua công cụ tín dụng của NHNo&PTNT trên địa bàn huyện đã giải ngân cho vay khắc phục hậu quả thiên tai tổng số 17,2 tỷ đồng, cho 9.070 hộ. Trong đó, khắc phục hạn hán năm 2016 là 540 triệu đồng tương ứng với 215 hộ vay, khắc phục lũ lụt 2016 là 7,1 tỷ đồng tương ứng với 3.750 hộ và khắc phục hậu quả lũ lụt 2017-2018 là 9.560 triệu đồng, tương ứng với 5.105 hộ [18, tr.7]. Tín dụng khắc phục hậu quả thiên tai đã góp phần quan trọng giúp cho nhân dân trong vùng thiên tai vượt qua khó khăn, ổn định đời sống và sản xuất. Luận văn: Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng Agribank.
Trong các năm 2019 – 2022, khi NHCSXH chưa ra đời, tín dụng cho vay ưu đãi hộ nghèo là một bộ phận của tín dụng NHNo&PTNT. Với những cơ chế đặc biệt ưu đãi như lãi suất cho vay thấp, không cần tài sản thế chấp và nhiều điều kiện ưu đãi khác, vốn tín dụng ưu đãi hộ nghèo đã đóng góp rất lớn vào chương trình xoá đói giảm nghèo tại địa phương. Điều đó thể hiện rõ trong bảng 2.8:
Bảng 2.8: Hoạt động tín dụng cho vay ưu đãi hộ nghèo (2019-2022)
Trong 4 năm hoạt động tín dụng ưu đãi hộ nghèo của NHNo&PTNT (từ 2019 đến tháng 10/2022 NHCSXH ra đời, NHNo&PTNT bàn giao toàn bộ dư nợ hộ nghèo sang NHCSXH), hầu hết các hộ trong diện nghèo đều được vay vốn ưu đãi để làm ăn, từ đó nhiều hộ thoát nghèo và từng bước vươn lên làm giàu. Tổng số hộ thoát nghèo nhờ vay vốn ưu đãi là 993 hộ trên tổng số 1.858 hộ nghèo được thoát nghèo, chiếm tỷ lệ 53,44%. Đây là một con số rất có ý nghĩa đối với sự phát triển KT-XH huyện.
Ba là, tín dụng của NHNo&PTNT tác động mạnh mẽ vào quá trình tích tụ tập trung ruộng đất, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh theo hướng phát triển SX hàng hoá trên địa bàn.
Kết quả khảo sát thể hiện ở bảng 2.5 cho thấy qui mô và tỷ trọng tín dụng của NHNo&PTNT cho kinh tế nông nghiệp luôn chiếm phần quan trọng trong tổng mức đầu tư. Các chi nhánh NHNo&PTNT luôn xác định nông nghiệp, nông thôn là đối tượng khách hàng chính và là bạn đồng hành cùng với ngân hàng để phát triển. Vốn tín dụng của NHNo&PTNT đã góp phần vào việc chuyển dịch kinh tế trong nông nghiệp tại địa phương. Cho vay để đầu tư lớn vào sản xuất, nhiều hộ có năng lực quản lý tốt đã mạnh dạn vay vốn ngân hàng để thuê, mua lại quyền sử dụng đất, mở rộng sản xuất theo hướng hàng hoá.
Trong 3 năm (2021 – 2023) từ khi có chủ trương của UBND tỉnh về khuyến khích phát triển kinh tế trang trại theo Quyết định 30/2020/QĐ-UB, ngày 24 tháng 5 năm 2020 và khuyến khích phát triển chăn nuôi bò theo Quyết định 66/2022/QĐ-UB, ngày 24 tháng 5 năm 2022 của UBND tỉnh Quảng Nam, tín dụng của NHNo&PTNT đã chú trọng đầu tư mở rộng diện tích đất vườn, rừng tập trung, mua sắm máy móc công cụ, vật tư thiết bị, con cây giống… Luận văn: Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng Agribank.
Bảng 2.9: Một số chỉ tiêu chủ yếu của kinh tế trang trại (2021 – 2023)
Rõ ràng tín dụng của NHNo&PTNT trên địa bàn huyện đã đáp ứng tốt yêu cầu của phát triển kinh tế trang trại và chăn nuôi. Vốn tín dụng tham gia vào lĩnh vực này ngày càng cao cả doanh số và tỷ trọng vốn vay trên tổng vốn đầu tư (19,68%-2021; 30,21%-2022; 33,26%-2023), góp phần tăng tổng sản lượng hàng hoá do kinh tế trang trại sản xuất ra sau 3 năm lên đến 2,8 lần, tác động tích cực vào tất cả các chỉ tiêu phát triển chủ yếu của kinh tế trang trại trên địa bàn Đại Lộc.
Trong phát triển ngành CN, TTCN vốn tín dụng của NHNo&PTNT luôn là đối tác không thể thiếu, đã tham gia vào mọi công đoạn, từ giai đoạn xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị đến mua nguyên vật liệu cho sản xuất. Dư nợ tín dụng NHNo&PTNT cho phát triển CN, TTCN từ 2019 – 2023 lần lượt là: 3.150 (triệu đồng) – 9.300 – 14.400 – 15.100 – 16.200. Trong đó phải kể đến các đơn vị sử dụng vốn tín dụng của NHNo&PTNT mang lại hiệu quả khá cao, đó là: HTX TTCN Lam Phụng, tiền thân là một tổ hợp tác sản xuất TTCN, nhờ tác động của vốn vay đã dần phát triển, đến nay HTX là một trong những đơn vị SXKD có hiệu quả của huyện, có tổng vốn đầu tư lên đến 3,5 tỷ đồng. Trong đó vốn tín dụng của NHNo&PTNT là 600 triệu đồng (ngắn hạn 500 triệu đồng, trung hạn 100 triệu đồng), với trang thiết bị máy móc hiện đại, khai thác và sản xuất bột đá tràng thạch, làm nguyên liệu cho nhiều loại vật liệu xây dựng cao cấp. Lao động sử dụng thường xuyên là 150 người. Đầu tư tín dụng trung hạn cho Công ty TNHH Đông Trường Sơn 800 triệu để mua sắm trang thiết bị sản xuất vật liệu xây dựng, phục vụ cho nhu cầu phát triển hạ tầng tại các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn. Vốn tín dụng đã phát huy tốt hiệu quả, góp phần đa dạng hoá sản phẩm công nhiệp địa phương. Công ty Thương mại Đại Lộc (nay là Công ty Cổ phần Thương mại Đại Lộc) là đơn vị ngay từ khi thành lập (trước 1988) đã gắn bó với tín dụng NHNo&PTNT (dư nợ NHNo&PTNT hiện nay là 1,1 tỷ đồng). Bằng vốn tín dụng của NHNo&PTNT đã xây dựng Xí nghiệp may xuất khẩu, lao động sử dụng gần 300 công nhân, giá trị hàng xuất khẩu mỗi năm khoảng 500.000 USD … Luận văn: Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng Agribank.
Trong lĩnh vực TM, DV trên địa bàn huyện Đại Lộc, tín dụng của NHNo&PTNT cũng luôn là tác nhân quan trọng, góp phần mở rộng quy mô kinh doanh, đẩy mạnh chu chuyển và lưu thông hàng hoá, mở rộng và đa dạng hoá các loại hình dịch vụ. Mức đầu tư tín dụng cho lĩnh vực TM, DV thể hiện rất rõ trên bảng 2.5. Nếu so với giá trị GDP, hàng năm mức dư nợ trong lĩnh vực thương mại dịch vụ chiếm khoản 10%.
Bốn là, vốn tín dụng của NHNo&PTNT đã góp phần xây dựng kết cấu hạ tầng, đưa các thành tựu của khoa học công nghệ tiên tiến vào đời sống kinh tế – xã hội trên địa bàn huyện Đại Lộc.
Dưới nhiều hình thức, phương thức khác nhau, tín dụng của NHNo&PTNT trên địa bàn đã tác động tích cực vào xây dựng kết cấu hạ tầng trên tất cả các mặt như : xây dựng các công trình thuỷ lợi, thuỷ điện, giao thông, các khu cụm công nghiệp v.v… Góp phần đáng kể vào việc xây dựng diện mạo mới cho đời sống KT-XH ở địa phương. Trong đó, điển hình như: Cho vay Công ty TNHH Nam Quan – Vân Long, xây dựng hạ tầng Cụm công nghiệp Đại Hiệp 1,8 tỷ đồng; Cho vay Công ty Xây dựng và phát triển nông thôn Đại Lộc thi công san ủi mặt bằng khu, cụm công nghiệp 800 triệu đồng góp phần xây dựng hạ tầng các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn, tạo điều kiện cần để thu hút đầu tư. Cho vay Công ty Xi măng Hải Vân (Đà Nẵng) cung ứng xi măng xây dựng giao thông nông thôn theo cơ chế ban hành kèm theo Quyết định số 19/2020/QĐ-UB của UBND tỉnh Quảng Nam, tổng số tiền là 2 tỷ đồng tương ứng với 2.500 tấn xi măng (bảo lãnh bằng quỹ ngân sách huyện); Cho vay hỗ trợ kinh phí của hộ gia đình đóng góp xây dựng giao thông nông thôn, dưới nhiều hình thức, tổng số tiền là 2,4 tỷ đồng, góp phần xây dựng 179,7 Km đường bê tông nông thôn, với tổng vốn đầu tư 59,3 tỷ đồng, trong đó phần đóng góp của nhân dân là 28 tỷ… [39, tr.9].
Cho vay theo chương trình ô – tô chuyên dụng, giải phóng sức lao động cho nông dân (theo Hợp đồng của NHNo&PTNT Việt Nam với Tổng Công ty Ôtô Cửu long), chỉ tính trong năm 2023 đã giải ngân gần 2 tỷ đồng, tương ứng với khoảng 25 chiếc xe tải nông dụng, thay thế các phương tiện quá hạn sử dụng, phục vụ cho nông nghiệp, nông thôn…
Năm là, tín dụng của NHNo&PTNT trên địa bàn huyện có tác động thúc đẩy nâng cao năng lực sản xuất kinh doanh và hạch toán kinh tế cho các chủ thể kinh tế trên địa bàn, góp phần cho cho sự phát triển kinh tế – xã hội toàn diện.
Với các điều kiện ràng buộc đối tượng vay vốn: hoàn trả tiền vay cả gốc lẫn lãi theo thời hạn nhất định, chấp nhận cơ chế kiểm tra giám sát mục đích sử dụng vốn vay và các hoạt động SXKD của Ngân hàng… tác động của tín dụng của NHNo&PTNT không chỉ bằng tiền vốn, mà còn buộc các chủ thể kinh tế vay vốn, tất cả các loại hình kinh tế từ tư nhân cá thể, HSX, HTX đến hệ thống các doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với ngân hàng đều phải không ngừng nâng cao năng lực SXKD, hạch toán kinh tế, ngày càng đáp ứng tốt mọi yêu cầu của Ngân hàng – cũng là yêu cầu cho phát triển. Khi các chủ thể có quan hệ tín dụng được nâng cao năng lực SXKD và trình độ hạch toán kinh tế thì theo yêu cầu của quy luật cạnh tranh trong cơ chế thị trường, các chủ thể còn lại cũng phải vươn lên tự hoàn thiện mình. Luận văn: Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng Agribank.
Đến nay trên toàn huyện, hệ thống các HTX sản xuất nông nghiệp (hầu hết đều có quan hệ tín dụng với NHNo&PTNT) đều đã được sắp xếp và củng cố lại. “Nhiều HTX nông nghiệp có chuyển biến, mở rộng ngành nghề, tạo thêm việc làm cho xã viên và người lao động. Hiệu quả SXKD có nâng lên” [3, tr.3]. Trong đó, phải kể đến các HTX gắn bó nhiều năm với NHNo&PTNT và đã có những bước phát triển mạnh mẽ, khẳng định được vai trò tích cực đối với kinh tế nông nghiêp, nông thôn. Đó là HTX kinh doanh tổng hợp Đại Hiệp, HTX TTCN Lam Phụng, HTX 27-7, HTX kinh doanh tổng hợp Đại Hiệp … có dư nợ vay NHNo&PTNT thường xuyên mỗi đơn vị từ vài trăm triệu đến hàng tỷ đồng.
Trên bình diện kinh tế quốc doanh, sự vận động và phát triển của một số doanh nghiệp nhà nước cũng có dấu ấn tích cực của nhân tố tín dụng NHNo&PTNT. Điển hình nhất là Công ty Thương mại Đại Lộc (nay là Công ty Cổ phần thương mại Đai Lộc). Nguyên là 2 đơn vị gồm “công ty thương nghiệp cấp 3” và “Công ty xuất nhập khẩu huyện”, sau Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ VI, 2 đơn vị được sáp nhập và chuyển đổi sang loại hình kinh tế quốc doanh được nhà nước giao quyền tự chủ SXKD, trở thành “Công ty Thương mại Đại Lộc”. Ngay từ giai đoạn phôi thai của một doanh nghiệp nhà nước, kinh doanh trên lĩnh vực thương mại, xuất nhập khẩu, với cơ chế thị trường khắc nghiệt, đơn vị đã được Ngân hàng Nông nghiệp huyện mạnh dạn cho vay, luôn sát cánh cùng đơn vị vượt qua khó khăn. Đến nay qua hành trình gian nan, theo chủ trương sắp xếp lại DNNN, đơn vị đã được cổ phần hoá, giao toàn bộ doanh nghiệp cho người lao động. Tuy nhiên, điều đáng nói là trong suốt hành trình phát triển, tín dụng của NHNo&PTNT là một tác nhân không thể thiếu trong việc cùng đơn vị hoàn thành sứ mệnh lịch sử của thời bao cấp. Hiện nay, bước vào giai đoạn cố phần hoá, Công ty Cổ phần thương mại Đại Lộc tiếp tục gặp phải những khó khăn, nhưng NHNo&PTNT vẫn tiếp tục là đối tác quan trọng, đơn vị vẫn là một doanh nghiệp lớn, kinh doanh đa năng, ứng dụng nhiều thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, sử dụng nhiều lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao…
Sáu là, tín dụng của NHNo&PTNT đã tác động mạnh vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm nền tảng cho mục tiêu xây dựng huyện Đại Lộc trở thành huyện công nghiệp vào những năm 2010 – 1015.
Trên bảng 2.5 thể hiện cơ cấu tín dụng đối với từng ngành, từng lĩnh vực được thay đổi qua từng năm, theo hướng ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển KT-XH trên địa bàn. Cùng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đầu tư tín dụng của NHNo&PTNT vào các ngành Nông nghiệp – CN, TTCN – TM, DV cũng có những chuyển đổi tích cực. Tín dụng cho phát triển CN, DV, dịch vụ ngày càng được mở rộng, tín dụng cho nông nghiệp tiếp tục được chú ý đầu tư nhưng tỷ trọng thì thu hẹp dần. Năm 2019 tỷ trọng tín dụng cho Nông nghiệp – Công nghiệp – Dịch vụ là 65,07% – 22,22% – 11,29% thì đến 2023 tỷ trọng tương ứng là 44,90% – 34,96% – 19,87%. Đó chính là sự vận động phù hợp với quy luật phát triển, phục vụ tốt cho đường lối phát triển KT-XH địa phương. Luận văn: Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng Agribank.
Vốn tín dụng của NHNo&PTNT đã có mặt ở hầu hết các lĩnh vực, các địa bàn dân cư và các thành phần kinh tế ở huyện, trong đó chiếm phần chủ yếu là hộ sản xuất nông nghiệp, nông thôn. Năm 2023 tỷ lệ dư nợ hộ sản xuất là 71.769 triệu đồng, chiếm đến 88,06%/ tổng dư nợ. Rõ ràng đây là đối tượng tín dụng chủ yếu và là khách hàng truyền thống của tín dụng NHNo&PTNT trên địa bàn. Tuy nhiên, các doanh nghiệp tư nhân vẫn luôn được chú ý tìm kiếm những dự án có hiệu quả KT-XH cao để đầu tư. Chính những đối tượng này mới là động lực tạo chuyển biến trong cơ cấu đầu tư tín dụng cũng như cơ cấu ngành kinh tế.
Dễ nhận thấy rằng tín dụng cho doanh DNNN trên địa bàn huyện được duy trì suốt 4 năm (2019 – 2022), nhưng đến năm 2023 thì nhất loạt biến mất khỏi bảng cân đối của Ngân hàng. Nguyên nhân là do tín dụng DNNN từ 2019 đến 2022 chỉ thuộc 2 đơn vị có dư nợ là Công ty Thương mại Đại Lộc và Công ty Gốm sứ La Tháp, cuối năm 2022 cả hai đều được cổ phần hoá, giao toàn bộ doanh nghiệp cho người lao động sở hữu. Do vậy, sang năm 2023 toàn bộ dư nợ này đều được chuyển sang dư nợ doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Điều đáng lưu ý là hiện có đến 18 đơn vị DNNN của TW và tỉnh có chi nhánh, xí nghiệp phụ thuộc đóng trụ sở trên địa bàn huyện (như Xí nghiệp Khai thác thuỷ lợi, Bưu điện, Hiệu thuốc, Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm nhân thọ …) nhưng tất cả đều không có quan hệ tín dụng với NHNo&PTNT trên địa bàn huyện vì việc này đều do đơn vị chủ quản quyết định.
2.2.1.3. Nguyên nhân của những kết quả đạt được trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đối với phát triển kinh tế – xã hội ở huyện Đại Lộc Luận văn: Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng Agribank.
Những kết quả đạt được trong việc phát huy vai trò của tín dụng NHNo&PTNT đối với phát triển KT-XH trên địa bàn huyện Đại Lộc nêu trên do nhiều nguyên nhân tác động. Tuy nhiên, những nguyên nhân chủ yếu để có được những kết quả đó được khái quát như sau:
Một là, nhờ có Chủ trương chính sách đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước về tín dụng và sử dụng công cụ tín dụng như một đòn bẩy để phát triển KT-XH. Sự lãnh đạo của các cấp Đảng, chính quyền, NHNo&PTNT và vận dụng công cụ tín dụng một cách hiệu quả vào phát triển KT-XH.
Trong điều kiện của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tín dụng ngân hàng là một công cụ đòn bẩy trong hệ thống chính sách tài chính tiền tệ, điều tiết sự vận động của nền tài chính quốc gia. Điều đó thể hiện rõ từ phương hướng nhiệm vụ phát triển KT-XH giai đoạn 2019 – 2023 là phải “sử dụng có hiệu quả các công cụ chính sách tiền tệ” [5, tr.197] và phải “Cải cách hệ thống ngân hàng thương mại, tách chức năng tín dụng chính sách ra khỏi chức năng kinh doanh của các ngân hàng thương mại quốc doanh” [5, tr.322], từ Quyết định 67/2017/QĐ-TTg, ngày 30/3/2017 của Thủ tướng Chính phủ: “Ban hành một số chính sách tín dụng phát triển nông nghiệp nông thôn”. Đây là những chủ trương, chính sách đúng đắn làm nền tảng cho các hoạt động tín dụng ngân hàng nói chung và tín dụng của NHNo&PTNT nói riêng, tác động mạnh vào sự phát triển của KT-XH trên địa bàn huyện.
Trong phạm vi kinh tế huyện, tín dụng ngân hàng còn có những vai trò đặc hữu, tác động tích cực vào sự phát triển của KT-XH, như chương 1 đã phân tích trên đây. Nhận thức được vai trò tín dụng trong phát triển KT-XH, các cấp lãnh đạo địa phương, từ tỉnh xuống huyện và cấp xã đã chú trọng vai trò của tín dụng và đưa vào các chỉ thị, nghị quyết của địa phương. Từ đó, cùng với chiến lược phát triển đúng đắn của NHNo&PTNT Việt Nam, phấn đấu đưa NHNo&PTNT Việt Nam trở thành định chế tài chính hùng mạnh và là bạn đồng hành của nông nghiệp, nông thôn, nông dân, tín dụng của NHNo&PTNT đã thật sự trở thành một thành tố quan trọng, không thể thay thế của sự phát triển KT-XH, nhất là trên địa bàn huyện.
Hai là, sự phối hợp đồng bộ và hỗ trợ đắc lực của Chính quyền, đoàn thể, mặt trận và các cơ quan chức năng hữu quan ở địa phương trong hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT hướng đến sự phát triển toàn diện của KT-XH huyện.
Do những đặc thù trong cơ chế tổ chức, vai trò, chức năng của NHNo&PTNT Việt Nam, hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT không thể vận hành bình thường nếu không có sự phối hợp và ủng hộ của các cấp chính quyền hữu quan trên địa bàn chi nhánh NHNo&PTNT phục vụ. Hơn thế nữa, mức độ thành công và hiệu quả của tín dụng NHNo&PTNT đối với sự phát triển KT-XH luôn luôn gắn liền với mức độ phối hợp và hỗ trợ của chính quyền sở tại. Luận văn: Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng Agribank.
Những tác động tích cực đó, trên địa bàn huyện Đại Lộc thể hiện ở sự phối hợp của các tổ chức đoàn thể như: Hội Nông dân với việc triển khai thực hiện Nghị quyết liên tịch 2308/NQ, chỉ tính trong 5 năm, trên địa bàn huyện đã thành lập được 19 tổ vay vốn, với 215 thành viên, góp phần đưa vốn tín dụng về tận tay nông dân đưa vào SXKD; Hội Phụ nữ trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết liên tịch 02/NQ, Hội Cựu Chiến binh và nhiều hội đoàn thể khác cũng có những hoạt động tương tự.
Đặc biệt liên tục trong 3 năm 2022 – 2025, UBND huyện Đại Lộc đã có văn bản chỉ đạo trực tiếp cho các cấp chính quyền và cơ quan chức năng phối hợp với NHNo&PTNT nhằm “tăng cường các biện pháp xử lý nợ vay ngân hàng, lành mạnh hoá hoạt động tín dụng tại địa phương” [42, tr.1] và đẩy mạnh “tăng trưởng vốn tín dụng và nâng cao chất lượng tín dụng, lành mạnh hoá hoạt động ngân hàng” [41, tr.1]. Đầu năm 2025 Ban Chỉ đạo thi hành án dân sự huyện được thành lập lại, do Chủ tịch UBND huyện làm Trưởng Ban và thành viên là lãnh đạo các cơ quan thực thi và bảo vệ pháp luật như: Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, Công an, Cơ quan Thi hành án… đã tập trung chỉ đạo cương quyết giải quyết các án tồn đọng thuộc lĩnh vực tín dụng ngân hàng, đã thực hiện cưỡng chế thi hành án tổng số 10 vụ, thu hồi là 211 triệu đồng, chưa kể các món vay xử lý chuyển quyền sử dụng đất và tài sản để thu hồi nợ… Hiệu quả của các hoạt động trên không chỉ là các vụ việc được giải quyết, thu hồi vốn tín dụng bị chiếm dụng về cho NHNo&PTNT mà có ý nghĩa còn cao hơn là sự tác động mạnh mẽ của nó vào việc lập lại trật tự kỷ cương trong các hoạt động tín dụng.
Ba là, nguyên nhân về phía các chủ thể kinh tế trên địa bàn đã nhận thức đầy đủ các chủ trương chính sách phát triển KT-XH của Đảng và Nhà nước, hiểu biết, gắn bó, hợp tác có hiệu quả với các hoạt động của tín dung NHNo&PTNT.
Chủ thể kinh tế có quan hệ tín dụng với NHNo&PTNT trên địa bàn bao gồm các doanh nghiệp, tổ chức cá nhân, hộ sản xuất… Đó cũng chính là những bộ phận chủ yếu của KT-XH trên địa bàn. Là địa phương có truyền thống cách mạng, trong xây dựng và phát triển kinh tế, người dân ở Đại Lộc cũng đã thể hiện bản chất anh hùng, dám nghĩ, dám làm, sẵn sàng đột phá, tạo nên những bước đi vững chắc trong làm ăn. Đó là nguyên nhân tạo nên kết quả tốt trong các hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT trên địa bàn huyện. Luận văn: Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng Agribank.
Bốn là, truyền thống, thương hiệu của NHNo&PTNT Việt Nam (Agribank), đội ngũ CBVC có tầm nhận thức đúng đắn, có kỷ năng, đạo đức, đoàn kết xây dựng, gắn bó với nông nghiệp, nông thôn.
Đây là nguyên nhân thuộc về năng lực nội sinh của NHNo&PTNT Việt Nam, được khẳng định bởi truyền thống hoạt động gần 20 năm (1988-2025), với trên 2 vạn cán bộ viên chức, hơn 2.000 chi nhánh có mặt ở tất cả các vùng miền, khu vực, với thị phần tín dụng chiếm trên 50% [33, tr.81], chiến lược phát triển đúng đắn, phù hợp với đường lối xây dựng và phát triển kinh tế của Đảng, NHNo&PTNT Việt Nam từ lâu đã trở thành chỗ dựa tin cậy cho toàn bộ nền kinh tế. Do vậy mà chính truyền thống và thương hiệu Agribank đã là nguồn lực quan trọng thúc đẩy sự phát triển của tất cả các chi nhánh, đơn vị phụ thuộc.
Trên địa bàn huyện Đại Lộc, cũng với bề dày thời gian và công sức xây dựng đơn vị, tập thể lãnh đạo và nhân viên các chi nhánh NHNo&PTNT là một tập thể mạnh, đủ sức tổ chức thực hiện thành công sách lược, chiến lược hoạt động của mình, từ đó đưa hoạt động tín dụng vào nề nếp, tác động tích cực cho sự phát triển KT-XH địa phương. Đây cũng là điều kiện then chốt, là sự đảm bảo cho vấn đề tồn tại, phát triển của đơn vị trong giai đoạn đối mặt với những thời cơ và thách thức của hội nhập, của WTO…
2.2.2. Những hạn chế và nguyên nhân hạn chế của tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đối với sự phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn huyện Đại Lộc Luận văn: Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng Agribank.
2.2.2.1. Những hạn chế
Từ các dữ liệu, tình hình, thực trạng tín dụng của NHNo&PTNT đối với sự phát triển KT-XH trên địa bàn có thể rút ra những hạn chế, yếu kém chủ yếu như sau:
Tăng trưởng nguồn vốn huy động chưa ổn định, còn hiện tượng trồi sụt, bấp bênh. Cơ cấu vốn huy động chưa cân đối và hợp lý, tỷ lệ vốn trung dài hạn đạt thấp…
Sự tăng trưởng nguồn vốn huy động trên địa bàn nhiều năm chưa đạt được sự bền vững cần thiết. Từ năm 2022 về trước, NHNo&PTNT trên địa bàn luôn nằm trong tình trạng mất cân đối giữa vốn huy động và sử dụng vốn, vốn huy động không đáp ứng đủ yêu cầu của đầu tư tín dụng. Chỉ đến năm 2023 đến nay tình trạng đó mới cơ bản được khắc phục (Bảng 2.7).
Tỷ trọng vốn huy động có thời hạn luôn cao hơn vốn không thời hạn nhưng mức chênh lệch và quy mô của nó vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu về vốn, ảnh hưởng đến thanh khoản và năng lực tài chính của ngân hàng. (bảng 2.4). Vốn huy động trung hạn đạt tỷ lệ rất thấp trong tổng nguồn vốn. Số dư cuối năm 2023, nguồn vốn có thời hạn trên 12 tháng chỉ có 54.146 triệu đồng, chiếm tỷ lệ 58,9%. Riêng nguồn vốn huy động trung hạn (thời hạn 36 tháng trở lên) đến cuối năm 2023 có số dư bằng không.
Dư nợ qua từng năm có mức tăng trưởng tuyệt đối là đều nhưng không cao, tốc độ tăng trưởng có xu hướng giảm dần. Đầu tư trung và dài hạn ngày càng được tập trung chú ý, tuy nhiên mức đầu tư và tỷ trọng so với tổng dư nợ vẫn chưa đáp ứng yêu cầu của phát triển. Các thể thức, hình thức tín dụng áp dụng còn đơn điệu, chỉ hạn chế trong phạm các thể thức truyền thống.
Năm 2019 tổng dư nợ là 62.552 triệu đồng, tốc độ tăng trưởng so với năm 2018 là 32,6%, qua năm 2020 dư nợ tăng 12.331 triệu đồng, tốc độ tăng 19,71%, giảm so với tốc độ tăng năm 2019 là 12,89% [18, tr.9].
Ngân hàng Chính sách xã hội được thành lập, tháng 10/2022 chi nhánh NHNo&PTNT huyện Đại Lộc bàn giao dư nợ tín dụng chính sách 11,5 tỷ đồng. Nên 2022 tổng dư nợ giảm 9.307 triệu đồng, tương ứng -12,58%. Do vậy, để đánh giá chính xác phải tính số thực chất của tốc độ tăng dư nợ năm 2022 so với năm 2021 phải là {[(73.949 + 11,5) x 100%]:83.256}= 10,26%. Năm 2023, tổng dư nợ tăng lên 81.493 triệu đồng và tốc độ tương ứng là 11,02% [18, tr.12].
Như vậy, dư nợ tuyệt đối tăng nhưng tốc độ tăng có xu hướng giảm. Đây là điều trái ngược với xu hướng gia tăng nguồn vốn huy động. Luận văn: Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng Agribank.
Tỷ lệ dư nợ trung, dài hạn qua 5 năm, lần lượt từ 2019 đến 2023 là 16,58% – 36,87% – 33,36% – 16,34% – 21,94%. [18, tr.5-9-12-14-17]. Tỷ lệ từng năm chưa cao, lại biến động phức tạp cho thấy sự bất hợp lý trong hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT, làm hạn chế vai trò tích cực của tín dụng đối với phát triển kinh tế, khi nhu cầu tín dụng trung, dài hạn trên địa bàn là rất cao.
Từ việc này dẫn đến tình trạng người vay sử dụng tín dụng ngắn hạn để đầu tư cho các đối tượng trung, dài hạn. Ngân hàng khó có thể kiểm soát được quá trình sử dụng vốn của người vay.
Trong khi sự phát triển KT-XH tại địa phương đang trong tình thế sôi động, các khu, cụm công nghiệp ngày càng xuất hiện nhiều nhà đầu tư, doanh nghiệp có chức năng nhiệm vụ SXKD đa dạng thì tín dụng của NHNo&PTNT vẫn chưa có được những động thái tích cực để đa dạng các sản phẩm dịch vụ liên quan. Các thể thức tín dụng tiên tiến đang được các nhà đầu tư quan tâm như: cho thuê tài chính, dịch vụ thẻ, ngân hàng điện tử v.v.. chưa được đầu tư và phát triển đúng mức, đồng bộ với các loại hình truyền thống.
Tương quan giữa cơ cấu dư nợ so với cơ cấu GDP chưa có sự hợp lý cần thiết. Sự chuyển dịch cơ cấu dư nợ chưa theo kịp sự chuyển dịch tích cực của cơ cấu kinh tế.
Nhìn tổng thể tình hình 2019 -2023, cơ cấu GDP giữa các ngành chính Nông nghiệp – CN – TM, DV có chuyển dịch tích cực, nhưng cơ cấu vốn đầu tư tín dụng thì chưa tương quan và dịch chuyển cũng chưa phù hợp, chưa đáp ứng được yêu cầu. Dư nợ tín dụng cho ngành nông lâm nghiệp luôn ở mức cao, trong khi đối với CN, DV thì chưa có sự đầu tư hợp lý. Điều này cho thấy các chi nhánh NHNo&PTNT trên địa bàn lấy nông nghiệp, nông thôn làm đối tượng khách hàng truyền thống mà chưa chú trọng đầu tư vốn vào các ngành sản xuất CN và DV. Nguyên nhân chủ yếu là do điều kiện vay vốn đối với các đối tượng sản xuất công nghiệp, dịch vụ có nhiều yếu tố ràng buộc hơn (như dự án sản xuất kinh doanh khả thi, điều kiện về tài sản thế chấp, tư cách pháp nhân…), trong khi đó, với cơ chế chính sách hỗ trợ nông nghiệp của Nhà nước, lĩnh vực nông nghiệp nông thôn dễ dàng tiếp cận với vốn tín dụng ngân hàng hơn. Về phía ngân hàng cũng an tâm hơn khi đầu tư vào nông nghiệp.
Tuy nhiên, càng về sau sự chuyển dịch trong cơ cấu dư nợ đã được điều chỉnh tích cực hơn dù vẫn chưa tương ứng với cơ cấu GDP, thể hiện sự điều chỉnh hợp lý hơn của NHNo&PTNT trên địa bàn đối với cơ cấu đầu tư vào các ngành kinh tế.
Bảng 2.10: Cơ cấu dư nợ và cơ cấu GDP đối với các ngành kinh tế (2019 – 2023)
Tình trạng nợ xấu ở mức cao, chất lượng tín dụng kém chưa được giải quyết dứt điểm, ảnh hưởng tiêu cực đến việc thực hiện công cụ tín dụng tác động vào sự phát triển KT-XH, đến kỷ cương pháp luật và làm tổn hại đến uy tín, năng lực của chính Agribank. Luận văn: Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng Agribank.
Kết quả khảo sát từ bảng 2.6 phân tích dữ liệu cho thấy chất lượng tín dụng qua từng thời gian tuy ở mức chấp nhận được nhưng đó chỉ là trên sổ sách kế toán. Tuy nhiên, thực tế trên hồ sơ tín dụng vẫn tồn tại nhiều món vay đã quá thời hạn hoàn vốn nhưng người vay chưa trả. Tình trạng này khá phổ biến trong nhiều năm. Đến cuối năm 2023, trên địa bàn huyện có khoảng 1.100 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 1,34% tổng dư nợ thuộc diện quá hạn thanh toán chưa phân nhóm nợ xấu.
Tình hình chất lượng tín dụng kém không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực tài chính, uy tín của NHNo&PTNT mà điều đáng bàn là nó còn gián tiếp tác hại nhiều mặt vào sự phát triển của KT-XH trên địa bàn huyện.
2.2.2.2. Nguyên nhân của hạn chế
Nguyên nhân của những hạn chế trong việc nâng cao vai trò của tín dụng NHNo&PTNT cho phát triển KT-XH trên địa bàn bao gồm các nội dung sau:
Trước hết là từ chính trình độ phát triển của KT-XH địa phương.
Tín dụng của NHNo&PTNT được sử dụng như một công cụ đòn bẩy tác động vào quá trình phát triển của KT-XH địa phương, nhưng chính trình độ phát triển của KT-XH huyện cũng sẽ tác động trở lại vào hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT.
Trong những năm qua, với sự vận dụng đúng đắn đường lối, chính sách của Đảng, KT-XH huyện Đại Lộc đã đạt được những thành tựu quan trọng (thể hiện tại 2.1.1), tuy nhiên, đến nay các tiêu chí cơ bản của một huyện công nghiệp vẫn đang còn ở xa phía trước. Luận văn: Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng Agribank.
Các doanh nghiệp nhà nước có mặt trên địa bàn chưa đủ mạnh. Hoạt động kinh doanh còn nhiều khó khăn, sức cạnh tranh kém. Loại hình kinh tế hợp tác dù đã được đầu tư sắp xếp củng cố nhưng đến nay sự vận hành trong cơ chế thị trường còn nhiều lúng túng, chưa thu hút được các tầng lớp nhân dân tham gia. Từ đó, đầu tư vốn tín dụng của NHNo&PTNT cho 2 thành phần kinh tế chủ chốt, đảm bảo định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa hạn chế (do thiếu các điều kiện vay vốn), vừa kém hiệu quả.
Các cụm, khu công nghiệp đang được hình thành trên địa bàn huyện, yếu tố được xem như cứu cánh của phát triển kinh tế trong những năm tới đã và đang có nhiều nhà đầu tư đến đặt chỗ nhưng sự khởi động vẫn rất nặng nề, do thiếu vốn. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các cơ sở kinh tế trên địa bàn nói chung chưa đủ mạnh. Vẫn còn thiếu những đơn vị SXKD mạnh vốn, có trình độ công nghệ cao, có chiến lược phát triển năng động, sắc bén… những điều kiện tạo nên ưu thế cho tín dụng và cũng là ưu thế cho phát triển KT-XH.
Nguyên nhân về phía các cấp lãnh đạo Đảng và chính quyền sở tại ở địa phương, sự phối hợp và hỗ trợ của các cơ quan hữu quan trên địa bàn trong việc giữ vững kỷ cương pháp luật, lành mạnh hoá hoạt động tín dụng.
Quan điểm chính sách của các cấp lãnh đạo Đảng và Chính quyền đối với hoạt động tín dụng là đúng đắn, nhưng chưa thật nhất quán trong việc triển khai thực hiện. Đôi lúc, đôi nơi vẫn còn có tư tưởng đánh đồng vị trí của chi nhánh ngân hàng thương mại nhà nước duy nhất trên địa bàn (tức NHNo&PTNT) như một doanh nghiệp bình thường hoạt động chỉ với mục tiêu lợi nhuận. Từ đó mà sự quan tâm và phối hợp để “giữ vững kỷ cương pháp luật, lành mạnh hoá hoạt động tín dụng” [38] không được duy trì liên tục và đồng bộ ở tất cả các cấp, ngành. Thực tế cho thấy, khi kỷ cương pháp luật trong các quan hệ tín dụng bị lơi lõng thì lập tức sẽ tác động xấu đến hoạt động tín dụng, tác động dây chuyền đến các các quan hệ kinh tế nói chung trên địa bàn.
Sự tách bạch giữa tín dụng chính sách và tín dụng thương mại trên địa bàn vẫn chưa thể thực hiện nghiêm túc, tác động xấu đến quá trình quản lý tín dụng của NHNo&PTNT, thậm chí ảnh hưởng đến an ninh tài chính của các chi nhánh NHNo&PTNT trên địa bàn. Luận văn: Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng Agribank.
Tháng 10/2022, theo chỉ đạo của NHNo&PTNT Việt Nam, toàn bộ dư nợ tín dụng ưu đãi hộ nghèo được bàn giao sang NHCSXH quản lý và sử dụng. Tuy nhiên, sau sự kiện đó, trên địa bàn huyện với 2 ngân hàng song song cùng hoạt động, nhưng sự tách bạch giữa 2 đối tượng tín dụng vẫn chưa thực hiện triệt để. Tình trạng cho vay chồng chéo, cùng một đối tượng nhưng được cả 2 ngân hàng cho vay là khó tránh khỏi. Điều này rất nguy hiểm cho công tác quản lý tín dụng.
Mặt khác, cơ cấu tín dụng của NHNo&PTNT hiện vẫn còn các khoản nợ cho vay theo chương trình chỉ định của Chính Phủ, hỗ trợ khắc phục hậu quả thiên tai, bao gồm khắc phục hậu quả hạn hán năm 2016, khắc phục hậu quả lũ lụt năm 2016 và 2017. Thực chất đây là đối tượng của tín dụng chính sách nhưng không được chỉ đạo bàn giao sang NHCSXH. Đến cuối năm 2023, tổng dư nợ vay khắc phục hậu quả thiên tai tồn đọng trên địa bàn là 3,9 tỷ đồng (NHNo&PTNT huyện 2,7 tỷ và NHNo&PTNT Vùng B 1,2 tỷ). Điều đáng nói là toàn bộ dư nợ này đều đã quá hạn từ lâu, người vay do nhiều lý do không trả được nợ, nên theo yêu cầu của NHNo&PTNT Việt Nam, các chi nhánh đã phải trích chi phí để lập quỹ dự phòng rũi ro cho các khoản nợ này, chuyển toàn bộ dư nợ sang theo dõi ngoại bảng. Từ đó gây ảnh hưởng nặng đến an ninh tài chính của đơn vị vào cuối năm 2023 và nhiều năm sau.
Những nguyên nhân về phía năng lực nội sinh của NHNo&PTNT trên địa bàn: Cơ chế điều hành còn thiếu nghiêm minh, triệt tiêu động lực; Sự vận dụng của chính sách tín dụng thiếu mềm mỏng, linh hoạt; Trình độ công nghệ và ứng dụng công nghệ thông tin chưa cao; Tình trạng thiếu cán bộ, nhất là cán bộ làm công tác tín dụng vẫn dai dẳng, chưa có lối thoát…
Cơ chế tài chính của NHNo&PTNT Việt Nam, yếu tố được cho là động lực của sự phát triển và việc áp dụng linh hoạt cho các cấp chi nhánh còn nhiều bất cập, thiếu công bằng; cơ chế thưởng phạt trong hệ thống chưa nghiêm… Từ đó dẫn đến xu hướng thắt chặt, thủ thế, triệt tiêu động lực của các chi nhánh NHNo&PTNT trên địa bàn, ảnh hưởng trực tiếp đến việc điều hành chính sách tín dụng. Luận văn: Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng Agribank.
Trong những năm qua, mặc dù đã được đầu tư đáng kể cho mục tiêu HĐH công nghệ ngân hàng, nhưng nói chung trình độ công nghệ và ứng dụng công nghệ thông tin chưa đáp ứng được yêu cầu. Mức độ tự động hoá trong các quy trình nghiệp vụ chưa cao, nhiều khâu trong quy trình nghiệp vụ vẫn phải thao tác thủ công song song với thao tác máy. Hệ thống phần mềm ứng dụng chưa theo kịp sự đổi mới cơ chế nghiệp vụ. Hoạt động quản trị điều hành vẫn còn theo lối thủ công truyền thống mà chưa khai thác có hiệu quả hệ thống công nghệ thông tin hiện có.
Theo kết quả khảo sát tại 2.2.1.1, thể hiện rõ tình trạng thiếu cán bộ tại các chi nhánh NHNo&PTNT ở Đại Lộc. Trong nhiều năm đội ngũ cán bộ viên chức không được bổ sung, dẫn đến tình trạng tuổi đời bình quân cao (42,5 tuổi), đa số được đào tạo từ thời bao cấp, khả năng nắm bắt, sử dụng hệ thống vi tính cho chuyên môn là kém. Đây là bức xúc không chỉ riêng của các chi nhánh NHNo&PTNT trên địa bàn Đại Lộc mà còn là bức xúc chung của hệ thống NHNo&PTNT tỉnh Quảng Nam.
Cả hai điều kiện trình độ công nghệ và trình độ lao động đều thấp cả về chất và lượng, hệ quả không tránh khỏi là năng suất lao động thấp cùng với tình trạng quá tải tín dụng, đã gây nên những khó khăn gay gắt trong hoạt động tín dụng của NHNo&PTNT trên địa bàn. Luận văn: Thực trạng hoạt động tín dụng của ngân hàng Agribank.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Giải pháp phát huy vai trò của tín dụng NH Agribank

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

