Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường tiểu học mai động quận Hoàng Mai, Thành Phố Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát đặc điểm, tình hình kinh tế -xã hội và giáo dục của quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
2.1.1. Đặc điểm, tình hình kinh tế- xã hội của quan Hoàng Mai
Quận Hoàng Mai là một vùng đất nằm ở phía Đông Nam thành phố Hà Nội, phía Bắc giáp quận Hai Bà Trưng; phía Đông giáp Sông Hồng nhìn sang huyện Gia Lâm; phía tây giáp huyện Thanh Trì và quận Thanh Xuân; phía Nam giáp huyện Thanh Trì. Quận Hoàng Mai có diện tích 41, 04km2, dân số là 329.000 người (2009).
Quận Hoàng Mai được thành lập gồm 14 phường: Định Công, Đại Kim, Hoàng Liệt, Thịnh Liệt, Thanh Trì, Vĩnh Tuy, Lĩnh Nam, Trần Phú, Yên Sở, Mai Động, Tương Mai, Tân Mai, Giáp Bát, Hoàng Văn Thụ.
Tình hình kinh tế- xã hội: Trong những năm qua, quận Hoàng Mai đã vươn lên, phát triển khá toàn diện về nhiều mặt, trong đó kinh tế luôn tăng trưởng cao, tỷ lệ tăng trưởng bình quân 17,47%/ năm.
Về nông nghiệp, quận tập trung đầu tư tổ chức cơ cấu lại cây trồng theo hướng năng suất, hiệu quả kinh tế cao như Vĩnh Tuy với nghề trồng hoa; Lĩnh Nam, Trần Phú với nghề trồng rau, quả thực phẩm an toàn…
Về giao thông vận tải: quận Hoàng Mai là một đầu mối giao thông quan trọng của cả thành phố khi nơi đây có hai bến xe lớn: ga đường sắt Giáp Bát và bến xe ô tô phía Nam. Ngoài ra, trên địa bàn quận có đường giao thông đường thủy Sông Hồng nối mạch giao thông giữa quận Hoàng Mai với các tỉnh phía Bắc, phía Tây và phía Nam; có các đường giao thông quan trọng đi qua quốc lộ 1A, 1B, đường vành đai 3, cầu Thanh Trì… Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học.
Về Danh lam thắng cảnh: Trên địa bàn quận Hoàng Mai có 56 di tích văn hóa lịch sử, trong đó có một số di tích nổi tiếng như: Chùa Nga My, chùa Liên Đàm, Chùa Lủ, đền Lư Giang, đình Thanh Trì, đình Hoàng Mai, Miếu Gàn…
Gần đây nhất quận vừa khai trương công viên Yên sở vào ngày 07/04/2014.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.1.2.Tình hình giáo dục của quận Hoàng Mai.
Quận Hoàng Mai là một quận thành lập muộn ở thành phố Hà Nội nhưng là một trong những quận rất chú trọng phát triển công tác giáo dục, sự nghiệp giáo dục của quận Hoàng Mai không ngừng phát triển cả về quy mô trường lớp, cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ, giáo viên và chất lượng giáo dục đào tạo.
Trên địa bàn quận hiện có 28 trường thuộc khối mầm non, 18 trường thuộc khối tiểu học, 16 trường thuộc khối trường Trung học cơ sở (trong đó có 13 trường đã đạt chuẩn Quốc gia như trường mần non Mai Động, mầm non Yên Sở, Thực hành Linh Đàm…).
Hệ thống các trường dạy nghề của quận cũng đã và đang phát triển, góp phần đào tạo nguồn nhân lực mới cho quận và thành phố.
Theo tổng kết năm học 2014-2015 ngành giáo dục quận Hoàng Mai đã có nhiều thành tích nổi bật: Có 203 học sinh giỏi cấp Thành phố, 22 học sinh giỏi Quốc gia, 1 học sinh giỏi Quốc tế. Về hoạt động TDTT đạt 85 huy chương cấp Thành phố, tăng 52 huy chương so với năm học 2011- 2012, văn nghệ đoạt giải Nhất toàn đoàn cấp Thành phố và được Sở GD&ĐT tặng Bằng khen. 15 giáo viên được công nhận GV dạy giỏi cấp Thành phố (10 giải Nhất, 05 giải Nhì). Đặc biệt, đây là lần đầu tiên Ngành giáo dục quận Hoang Mai có 04 GV Tiểu học được công nhận GV dạy giỏi cấp Quốc gia. Quận được Thành phố khen thưởng là đơn vị đạt giải Xuất sắc trong hội thi. Về tập thể: 01 đơn vị được đề nghị tặng Huân chương Lao động hạng Ba (TH Đền Lừ); tập thể Phòng Giáo dục và Đào tạo được Bộ Giáo dục và Đào tạo tặng bằng khen, 01 tập thể đề nghị đạt Cờ thi đua của Bộ (TH Yên Sở), 01 tập thể đề nghị đạt Cờ thi đua Xuất sắc cấp Thành phố (THCS Tân Định), 12 đơn vị được UBND Thành phố công nhận Tập thể Lao động Xuất sắc, 45 đơn vị được đề nghị công nhận danh hiệu Tập thể Lao động Tiến tiến (tăng 07 đơn vị). Phòng Giáo dục và Đào tạo được Sở GD&ĐT Hà Nội khen thưởng 13/13 chỉ tiêu xếp loại tốt, trong đó có 03 chỉ tiêu xếp loại Xuất sắc. Công đoàn giáo dục quận được Công đoàn giáo dục Việt Nam tặng Bằng khen là đơn vị Công đoàn Xuất sắc năm học 2014-2015. Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học.
2.1.3. Đặc điểm của trường TH Mai Động, quận Hoàng Mai, thành phố Hà ội.
Trường TH Mai Động được thành lập vào ngày 03 tháng 12 năm 1991, nằm trên địa bàn phường Mai Động, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Hiện nay trường có 32 lớp với 1465 học sinh. Trong những năm qua nhà trường luôn giữ vững danh hiệu “Trường tiên tiến cấp quận”. Lãnh đạo nhà trường có 01 đồng chí Hiệu trưởng, 02 đồng chí Phó hiệu trưởng, 58 cán bộ, giáo viên, 03 nhân viên (thiếu so với quy định).
Đến năm học 2014 – 2015 số lượng cán bộ quản lí, giáo viên tương đối đủ, đa số cán bộ, giáo viên trẻ có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, yêu nghề, thương yêu học sinh hết mực, từng bước đáp ứng yêu cầu trong việc đổi mới phương pháp quản lí, phương pháp giảng dạy, đảm đương tốt khối lượng công việc và nhiệm vụ được giao.
- Tỷ lệ học sinh hoàn thành chương trình Tiểu học đạt 98%.
- Tỷ lệ học sinh xếp loại hạnh kiểm Đạt đạt 100%
Tuy nhiên, để đạt được chất lượng quản lý hoạt động giáo dục tốt thì các điều kiện đi kèm như đội ngũ cán bộ quản lý , cơ sở vật chất, kinh phí… cần được trang bị tốt, thuận lợi cho công tác quản lý hơn nữa.
Về tình hình chung của việc quản hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường TH Mai Động, quận Hoàng Mai
Giáo dục TH: Tích cực chỉ đạo công tác dạy và học, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục theo hướng đổi mới phương pháp giảng dạy và làm tốt công tác đổi mới chương trình giáo dục tiểu học. Đặc biệt là phối hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp dạy học truyền thống với các phương pháp mới và ứng dụng các phương tiện hiện đại.
Có nhiều đổi mới trong công tác quản lý giáo dục: thanh tra, kiểm tra, thông tin quản lý, thi đua… Công tác xã hội hóa giáo dục được đẩy mạnh và trở thành phong trào quần chúng sâu rộng.
Nhà trường luôn chú trọng nâng cao chất lượng quản lý giáo dục nói chung và chất lượng quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh các trường Tiểu học nói riêng. Qua khảo sát, có thể nhận thấy việc quản lý hoạt động giáo dục đạo đức bên cạnh những mặt thuận lợi còn có những khó khăn mà nhà trường đang gặp phải.
Thuận lợi: Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học.
Quận ủy, HDND, UBND Quận, các ban nghành đoàn thể trong Quận đều quan tâm tới công tác phát triển GD&ĐT. Nghị quyết các Đại hội của Đảng bộ Quận Hoàng Mai đều có những định hướng phát triển GD&ĐT rất cụ thể. Đặc biệt các đề án thực hiện nghị quyết TW4 (khóa VII), TW 2 (khóa VIII) cho tất cả các ngành học, bậc học đang được thực thi.
- Công tác chỉ đạo của nghành GD& ĐT có nhiều định hướng đồi mới và đúng hướng, đồng thời tổ chức thực hiện có hiệu quả.
- Nhân dân phường Mai Động tuy còn khó khăn về đời sống nhưng đang ngày càng có ý thức coi trọng học vấn.
- Dưới sự định hướng của cấp trên, nhận thức được chỉ đạo và vai trò của mình trong công cuộc phát triển ngành giáo dục của quận Hoàng Mai, nhà trường đã triển khai sôi nổi công tác thi đua dạy tốt học tốt, dạy tốt cả về tri thức và đạo đức.
Trong những năm gần đây giáo dục của nhà trường đã có nhiều thay đổi nhờ tăng cường và tổ chức tốt công tác giáo dục tư tưởng, chính trị, đạo đức lối sống, giáo dục nhân cách, kỹ năng sống cho học sinh. Nhà trường đã có những kế hoạch, biện pháp tích cực trong giáo dục, đặc biệt là trong công tác giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh.
Khó khăn:
- Phường Mai Động là một phường có số dân cao trong thành phố nên công tác quản lý gặp nhiều khó khăn.
- Cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập của nhà trường đã được quận và thành phố đầu tư với nguồn kinh phí lớn, tuy nhiên vẫn chưa đủ đáp ứng yêu cầu về phòng học nên phải học luân phiên. Trang thiết bị phục vụ dạy và học đã được đầu tư lớn nhưng chưa đáp ứng được với yêu cầu giảng dạy.
Đa số các em học sinh TH của trường TH Mai Động có phẩm chất đạo đức tốt, tuy nhiên vẫn còn một số lượng nhỏ học sinh vẫn chưa ngoan. Vẫn còn hiện tượng nói tục chửi bậy, nói dối bố mẹ thầy cô, chưa có ý thức sống và học tập lành mạnh…, tỷ lệ này tuy nhỏ nhưng xét về số lượng tuyệt đối thì số học sinh có hạnh kiểm chưa đạt vẫn còn. Đây là vấn đề mà trường TH Mai Động cần đặc biệt quan tâm, nhanh chóng tìm ra những biện pháp tích cực, hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng trong việc giáo dục đạo đức học sinh.
2.2. Thực trạng GDĐĐ cho học sinh ở trường TH Mai Động quận Hoàng Mai Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học.
Để tìm hiểu thực trạng GDĐĐ cho học sinh của trường TH Mai Động, chúng tôi đã soạn thảo một hệ thống phiếu hỏi và tiến hành khảo sát cán bộ, giáo viên, cha mẹ học sinh, học sinh thuộc trường TH Mai Động, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội
2.2.1. Về tình hình vi phạm đạo đức
Đánh giá mức độ vi phạm đạo đức của học sinh
Chúng tôi đã tiến hành lấy ý kiến của cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh về ý thức thực hiện nội quy của học sinh và thu được kết quả sau:
Qua bảng 2.1 cho thấy ý kiến của CBQL và giáo viên đánh giá ý thức thực hiện nội quy nhà trường của học sinh còn chưa tốt, hầu hết các nội dung học sinh đều thỉnh thoảng vi phạm, mức độ thường xuyên vi phạm cao nhất là Không giữ gìn vệ sinh nơi công cộng (GV là 23% và HS là 25,3%), tiếp theo là Nói chuyện, mất trật tự trong lớp (GV là 20% và HS là 24,7%), Ý thức học tập chưa cao, lười học (GV là 15% và HS là 18,6%), Ăn quà vặt cổng trường (GV là 12% và HS là 18,6%), Vi phạm luật giao thông (GV là 12% HS là 14,9%)
Kết quả khảo sát CBQL, giáo viên và học sinh cho thấy sự trùng nhau về các mức độ vi phạm nội quy của HS, mặt khác tỉ lệ mức độ thường xuyên vi phạm và thỉnh thoảng vi phạm nội quy qua phiếu khảo sát của HS cao hơn so với CBQL và GV cho thấy việc thực hiện nội quy của HS thì CBQL và GV chủ yếu theo dõi khi HS tham gia học tập và rèn luyện tu dưỡng tại trường, trong khi HS lại có thể theo dõi việc thực hiện nội quy không chỉ ở bên trong nhà trường mà còn ở bên ngoài nhà trường.
Kết quả khảo sát cũng cho thấy mức độ vi phạm nội quy của HS còn tương đối cao do đó rất cần có biện pháp QLGD đạo đức cho HS phù hợp.
2.2.2. Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh. Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học.
- Thực trạng về nhận thức về vai trò và vị trí của giáo dục đạo đức
Để tìm hiểu nhận thức của giáo viên và phụ huynh học sinh về vai trò, vị trí của giáo dục đạo đức, tác giả đưa ra câu hỏi: “Bạn hãy cho biết ý kiến của hình về vai trò, vị trí của giáo dục đạo đức”.Tính theo tỉ lệ %, kết quả thu được ở bảng 2.2:
Qua khảo sát cho thấy: hầu hết giáo viên và phụ huynh nhận thức đúng về vai trò, tầm quan trọng của đạo đức và tài năng trong cuộc sống. Có 96% giáo viên và 83% phụ huynh cho rằng cả tài và đức đều rất quan trọng, bên cạnh đó vẫn còn không ít giáo viên và phụ huynh chưa nhận thức được đúng và đầy đủ vị trí, vai trò, tầm quan trọng của đạo đức và tài năng: có tới 48% giáo viên và 53% phụ huynh cho rằng tài năng quan trọng hơn đạo đức và cũng có 56% giáo viên và 48% phụ huynh cho rằng đạo đức quan trọng hơn tài năng. Đánh giá về vai trò của đạo đức trong các môn học: có tới 62% giáo viên và 74% phụ huynh thì cho rằng giáo dục đạo đức chỉ có trong môn đạo đức và kỹ năng sống ; có 51% giáo viên và 40% phụ huynh thì cho rằng giáo dục đạo đức có trong các môn học. Để đánh giá về việc giáo dục đạo đức ở nhà trường, gia đình và xã hội có 25% giáo viên và 40% phụ huynh cho rằng giáo dục đạo đức chỉ cần thực hiện ở nhà trường và cũng có 22% giáo viên và 35% phụ huynh cho rằng giáo dục đạo đức chỉ cần thực hiện ở gia đình, có 20% giáo viên và 30% phụ huynh cho rằng giáo dục đạo đức chỉ cần thực hiện ở ngoài xã hội. Nhưng bên cạnh đó có tới 95% giáo viên và 80% phụ huynh cho rằng giáo dục đạo đức cần thực hiện ở cả gia đình, nhà trưòng và ngoài xã hội. Về lứa tuổi để giáo dục đạo đức có tới 78% giáo viên và 35% phụ huynh cho rằng giáo dục đạo đức cần thực hiện ở mọi lứa tuổi.
Qua đây có thể thấy rằng phần lớn giáo viên và phụ huynh đều nhận thức được tầm quan trọng của Đức và Tài trong nhân cách của con người, nhưng chưa nhận thức đúng vai trò giáo dục đạo đức trong các môn học, trong các hoạt động khác nhau của nhà trường và trách nhiệm của giáo viên và của gia đình.
- nhận thức của học sinh về các phẩm chất đạo đức
Học sinh chính là chủ thể của quá trình giáo dục, rèn luyện và tu dưỡng đạo đức, vì vậy công tác giáo dục đạo đức chỉ có kết quả khi học sinh có nhận thức đúng đắn, có ý thức và chủ động tham gia vào hoạt động tu dưỡng và rèn luyện đạo đức. Khi tham khảo ý kiến của các em học sinh của trường TH Mai Động, tác giả thu được kết quả:
Qua bảng 2. cho thấy: Các nội dung Hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo; Kính trọng thầy cô giáo, người lớn tuổi; Trung thực, thật thà, Thực hiện nội quy trường lớp có 100% ý kiến HS cho rằng quan trọng và rất quan trọng mức độ quan trọng: Nội dung Yêu quê hương đất nước 71,6%; Đoàn kết với bạn bè 70,6%; Yêu quý, biết giúp đỡ bạn bè khi gặp khó khăn 56,7% …
Kết quả trên phản ánh đa số học sinh đã nhận thức được những phẩm chất đạo đức cần thiết để các em hoàn thiện nhân cách bản thân. Từ nhận thức trên, học sinh sẽ chủ động tham gia tích cực vào quá trình rèn luyện bản thân.
Bên cạnh đó, còn có một số ý kiến không nhỏ rằng Bảo vệ môi trường 12,1%; Biết tự phục vụ 8,7%; Tiết kiệm 8,2%; …là không quan trọng. Do đó, nhà trường cần phải tuyên truyền hơn nữa để nâng cao nhận thức cho họ sinh về nội dung giáo dục.
2.3. Thực trạng quản lý hoạt động GDĐĐ cho học sinh ở trường TH Mai Động quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
2.3.1. Xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức
Để nắm rõ thực trạng công tác xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh, tác giả tiến hành khảo sát giáo viên trường TH Mai Động về việc thực hiện xây dựng các kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh của các trường. Kết quả được thể hiện trên bảng 2.4. và 2.5. Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học.
Kết quả thu được sau khảo sát cho ta thấy: Nhà trường đã làm tốt việc xác định mục tiêu giáo dục đạo đức 72%và xây dựng tốt kế hoạch giáo dục đạo đức trong từng tháng, từng đợt và cả năm học 69% dựa trên kế hoạch của hiệu trưởng, song qua trao đổi với GV trong trường có thể thấy việc xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức của giáo viên chỉ mang tính hình thức để BGH phê duyệt rồi để đấy mà chưa thực sự được triển khai có hiệu quả nên mới chỉ có 25% ý kiến cho rằng đã làm tốt.
Đặc biệt, có thể thấy, hầu hết việc xây dựng mục tiêu, xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức chưa có sự tham gia của các lực lượng xã hội, của Ban đại diện cha mẹ học sinh. Nếu không có sự tham gia ngay từ đầu của các lực lượng xã hội, của Ban đại diện cha mẹ học sinh vào việc xây dựng mục tiêu, kế hoạch giáo dục đạo đức thì việc phối hợp Nhà trường – gia đình – Xã hội trong công tác giáo dục chắc chắn sẽ rất khó khăn.
Từ kết quả trên có thể cho thấy công tác xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh của nhà trường còn bộc lộ những tồn tại trong công tác xây dựng làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cho học sinh, trong đó ảnh hưởng nhiều nhất chính là không có sự tham gia của các lực lượng xã hội, của Ban đại diện cha mẹ HS ngay từ khâu xác định mục tiêu, lập kế hoạch.
Kết quả khảo sát cho thấy có 3 tiêu chí đánh giá hiệu quả việc thực hiện xây dựng kế hoạch đạt điểm trung bình: Tiêu chí Có kế hoạch theo từng thời gian: Tuần, tháng, kì, năm, từng đợt thi đua xếp vị trí thứ 1 với điểm trung bình là 2.3 và được giáo viên đánh giá mức độ đạt 30% khá, 70% trung bình.Tiêu chí các kế hoạch đảm bảo khoa học xếp thứ 2 với điểm trung bình là 2.2. Tiêu chí các kế hoạch mang tính thực tiễn, khả thi xếp thứ 3 với điểm trung bình là 2.16.
Tiêu chí các kế hoạch đảm bảo tính hiệu quả được giáo viên đánh giá thực hiện kém nhất, xếp thứ 5 với điểm trung bình là 1.36. Kết quả trên thể hiện công tác xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức trong trường chưa thực sự được quan tâm, còn mang tính hình thức; các kế hoạch có tính khả thi và hiệu quả không cao.
2.3.2. Việc triển khai kế hoạch giáo dục đạo đức Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học.
Để khảo sát về việc thực hiện và triển khai các hình thức giáo dục đạo đức cho học sinh, tác giả tiến hành khảo sát ý kiến của các giáo viên về mức độ sử dụng các hình thức giáo dục đạo đức học sinh: “Theo thầy, cô việc giáo dục đạo đức được nhà trường thực hiện thông qua các hình thức dưới đây đạt được kết quả ở ức độ nào?”. Tính theo giá trị trung bình, kết quả đánh giá được trình bày ở bảng 2.6.
Qua số liệu khảo sát cho thấy về cơ bản các hình thức giáo dục đạo đức theo ý kiến các giáo viên là ở mức độ khá, trong đó các hình thức như (Hoạt động nhân đạo, uống nước nhớ nguồn; Qua gương người tốt việc tốt, gương học sinh nghèo vượt khó; Qua các hoạt động thể dục thể thao) được nhà trường thực hiện tốt nhất và đều xếp vị trí thứ nhất. Bên cạnh đó các hình thức giáo dục giới tính; giáo dục truyền thống, qua giờ chào cờ; tuyên truyền các cuộc vận động, nhà trường thực hiện chưa đạt hiệu quả như mong muốn.
Để giải quyết vấn đề trên trường TH Mai Động cần quan tâm đổi mới hơn nữa các hình thức giáo dục đạo đức làm cho hoạt động giáo dục đạo đức có nhiều hình thức phong phú và đạt hiệu quả tốt nhất. Trong các năm học qua nhà trường cũng đã tổ chức các buổi giao lưu văn nghệ, tổ chức hoạt động ngoại khóa sôi nổi (như chương trình chiến sĩ nhỏ điện biên, ngày hội đọc sách…) . Tuy nhiên nội dung chưa bám sát đối tượng, hiệu quả chưa cao và nhu cầu mong muốn về các hình thức hoạt động.
Để tìm hiểu về hình thức GDĐĐ ngoài giờ lên lớp cho học sinh chúng tôi đã đặt câu hỏi: “E hãy cho biết kiến của ình về các hoạt động ngoài giờ bên ớ do nhà trường và Đội thiếu niên tiền hong tổ chức”. Kết quả thu được trình bày ở bảng 2.7.
Qua bảng số liệu trên cho thấy học sinh thích việc tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề (xếp thứ 1).Thông qua các hoạt động này giáo dục cho các em tinh thần ham học hỏi, đam mê khám phá kiến thức, học sinh có điều kiện trao đổi, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ trong học tập. Thực tế, hoạt động sinh hoạt chuyên đề chưa được duy trì thường xuyên, nhà trường chỉ tổ chức vài chuyên đề trong năm, mặc dù nhiều em thích hoạt động này. Việc tổ chức các chuyến tham quan di tích lịch sử, các bảo tàng, nơi sinh của các Anh hùng dân tộc và việc tổ chức các câu lạc bộ được các em thích xếp hạng thứ 2. Nhà trường cũng thường xuyên tổ chức các hình thức trên các chủ điểm lớn trong năm. Tuy nhiên việc tổ chức chưa đa dạng về hình thức, vì hạn chế do khó khăn trong việc quản lý HS, không thể tổ chức cho các em tham gia những địa danh ý nghĩa và mang tính giáo dục cao ở khoảng cách xa so với địa điểm trường. Việc tổ chức các chuyến tham quan di tích lịch sử, các bảo tàng, nơi sinh của các Anh hùng dân tộc chưa được hiệu quả cao vì số lượng HS quá đông, không thu hút được các em suốt buổi thuyết trình. Sau buổi tham quan kiến thức chưa đọng sâu trong các em mà chỉ mang tính khái quát.
Các hoạt động từ thiện là các hoạt động thực tiễn mà thông qua đó có thể giáo dục cho học sinh những đức tính tốt đẹp như lòng nhân ái, nhân đạo, uống nước nhớ nguồn, phát huy truyền thống đạo lý tốt đẹp của dân tộc( xếp thứ 3), cho thấy còn nhiều học sinh chưa hứng thú khi tham gia hoạt động này. Nhà trường có tổ chức nhưng thường chỉ bằng hình thức vận động ủng hộ bằng tiền, ít có điều kiện cho học sinh đi thực tế. Nhà trường chỉ tổ chức cho một bộ phận nhỏ đại diện giáo viên và học sinh đến thăm, chúc tết các gia đình chính sách nhân dịp các ngày lễ, tết hàng năm.
Tổ chức các phong trào thi đấu TDTT, giao lưu văn nghệ, …Các hoạt động lao động, trực nhật, trang trí lớp học. Thông qua lao động công ích sẽ giúp trẻ gắn với đời sống xã hội, góp phần cho trẻ hiểu thêm về giá trị lao động, từ đó giúp trẻ lao động lành mạnh…, đa số các em học sinh thích các hoạt động này Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học.
Qua khảo sát và tìm hiểu thực tế tác giả có kết luận: nhà trường tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh chưa thật sự có sức hấp dẫn đối với các em. Nguyên nhân do mức độ đầu tư cho các hoạt động chưa nhiều, nội dung, hình thức tổ chức chưa phong phú nên chưa thu hút đông đảo học sinh tham gia.
Từ thực tế trên đặt ra vấn đề đối với nhà trường phải sử dụng phong phú và có hiệu quả các hình thức giáo dục đạo đức cho các em học sinh. Đặc biệt nhà trường cần phải quan tâm nhiều hơn nữa đến việc đổi mới hình thức giáo dục đạo đức thông qua các hoạt động kinh tế, văn hóa xã hội, cần cho học sinh trực tiếp tham gia những hoạt động có ý nghĩa tốt đẹp cho xã hội, mang lại lợi ích cho cộng đồng và cần tăng cường cơ sở vật chất, kinh phí để tổ chức các hình thức giáo dục phong phú.
Mức độ triển khai kế hoạch giáo dục đạo đức:
Đánh giá của cán bộ quản lý (Hiệu trưởng, Ph hiệu trưởng, Bí thư đoàn thanh niên, Chủ tịch công đoàn, Bí thư chi bộ) và giáo viên về mức độ triển khai kế hoạch quản lý giáo dục đạo đức học sinh của trường tác giả đặt ra câu hỏi: “Xin thầy, cô vui lòng cho biết kế hoạch quản giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường thầy, cô được triển khai ở ức độ nào”
Kết quả thu được có 45% số cán bộ quản lý và giáo viên cho rằng việc triển khai kế hoạch quản lý giáo dục đạo đức học sinh của trường là kịp thời, đầy đủ, chính xác, phù hợp đối tượng học sinh. Có 55% ý kiến cho rằng chưa kịp thời.
2.3.3. Tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức
Mức độ thực hiện các biện há giáo dục đạo đức: Để tìm hiểu về các biện pháp GDĐĐ học sinh tác giả khảo sát các em học sinh về mức độ thực hiện biện pháp giáo dục đạo đức mà nhà trường đã thực hiện: “Nhà trường đã sử dụng biện há nào dưới đây trong việc giáo dục đạo đức cho học sinh?”. Tính theo giá trị trung bình, kết quả được trình bày tại bảng 2.8.
Kết quả sau khảo sát cho thấy: Biện pháp phát động thi đua xếp thứ 1; Phát huy vai trò tự quản của tập thể học sinh xếp thứ 2; Nhắc nhở, động viên xếp thứ 3; Kỷ luật xếp thứ 4, và được nhà trường triển khai thường xuyên nhất. Mặc dù được triển khai nhiều nhất nhưng các biện pháp phát huy vai trò của lớp học sinh, nhắc nhở động viên đã không đem lại hiệu quả cao nhất, trong khi sử dụng biện pháp kỉ luật làm cho hoạt động giáo dục đạo đức nặng về tính kỉ luật không phát huy tính tự giác của học sinh, khi sử dụng nhiều biện pháp phát huy vai trò tự quản thì năng lực và trình độ của giáo viên chủ nhiệm không đều, điều đó cũng không đem lại hiệu quả cao trong giáo dục đạo đức. Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học.
Một số biên pháp ít được sử dụng như ( i chuyện đạo đức, khen thưởng, tạo tình huống để học sinh giải quyết).
Giải quyết vấn đề trên cần phải phối hợp tốt và đồng bộ các biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh để có kết quả tốt nhất.
Hiệu quả thực hiện giáo dục đạo đức cho học sinh: Để làm rõ hơn về thực trạng thực hiện các biện pháp giáo dục đạo đức học sinh, tác giả tiến hành khảo sát giáo viên của trường TH Mai Động về mức độ thực hiện các biện pháp của các nhà trường về việc thực hiện các biện pháp giáo dục đạo đức học sinh: “Các biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh dưới đây ở
Kết quả khảo sát cho thấy 65,3 % ý kiến được hỏi cho rằng hiệu quả các biện pháp trên được nhà trường thực hiện tốt. Trong đó có các biện pháp thực hiện tốt (Sự gương mẫu của giáo viên xế thứ 1; Xây dựng t thể học sinh t quản xế thứ 2; Phát huy tinh thần trách nhiệm của giáo viên chủ nhiệ xế thứ 3; Đẩy ạnh hong trào văn nghệ, thể dục thể thao xế thứ 4). Có 24,4% kiến cho rằng các biện pháp trên thực hiện bình thường. Có 10,3% ý kiến cho rằng các biện pháp trên thực hiện chưa tốt, điển hình các biện pháp ( nhắc nhở trong giờ chào cờ, giờ sinh hoạt xế thứ 12; Đề ra nội quy định kì bổ sung cho hù hợ xế thứ 11; Kỷ u t nghiê học sinh vi hạ đạo đức xế thứ 10; Cải tiến các hình thức giáo dục đạo đức học sinh xế thứ 9). Như vậy một số biện pháp theo ý kiến của các giáo viên cũng sẽ làm cho hiệu quả công tác giáo dục đạo đức học sinh không cao.
Vấn đề đặt ra bên cạnh những biện pháp đã làm tốt thì biện pháp làm chưa tốt cần phải được điều chỉnh và bổ sung cho phù hợp với điều kiện nhà trường và xu thế chung của xã hội.
Quản lý việc phối hợp các chượng giáo dục trong nhà trường:
Để tìm hiểu thực trạng huy động các lực lượng tham gia công tác giáo dục đạo đức cho học sinh TH tác giả sử dụng phiếu điều tra CBQL, giáo viên và phụ huynh học sinh và thu được kết quả:
Kết quả thu được sau khảo sát cho ta thấy: 100% ý kiến được hỏi đều cho rằng lực lượng cần thiết tham gia giáo dục đạo đức học sinh là nhà trường và gia đình. Sự trùng hợp về ý kiến của phụ huynh và cán bộ giáo viên cho thấy nhận thức về trách nhiệm tham gia của họ trong công tác giáo dục đạo đức học sinh, đây là một điều kiện thuận lợi để tổ chức, phối hợp khi giáo dục đạo đức cho học sinh.
Tuy nhiên, số ý kiến cho rằng không cần sự tham gia của: các tổ chức xã hội (GV là 25% và phụ huynh là 37,9%); Cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương (GV là 16% và phụ huynh là 34,7%); Các cơ quan ban ngành (GV là 19% và Phụ huynh là 32,7%) cho thấy sự tham gia nhưng chưa tích cực của các lực lượng này.
Từ kết quả trên có thể cho thấy công tác triển khai kế hoạch giáo dục đạo đức cho học sinh ở trường tiểu học Mai Động còn bộc lộ những tồn tại, những tồn tại trong công tác phối hợp giữa các lực lượng chưa tích cực làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả công tác giáo dục đạo đức cho học sinh
Sự phối hợp trong công tác giáo dục đạo đức học sinh Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học.
Để nắm được thực trạng phối hợp các lực lượng trong công tác giáo dục đạo đức học sinh, tác giả đã gặp phụ huynh HS và nêu ra câu hỏi: “Qua vị Kết quả ở bảng 2.12 cho thấy Phụ huynh thường xuyên phối hợp với GVCN 77,9% do đặc thù ở tiểu học, GVCN trực tiếp quản lý, đảm nhận giảng dạy phần lớn các môn học chính và sâu sát với học sinh cả ngày. Khi con mắc khuyết điểm, phụ huynh thường ngại phối hợp với ban giám hiệu, với chính quyền địa phương do mức độ vi phạm của học sinh tiểu học còn ít và không quá nghiêm trọng. Sự kết hợp với Ban phụ huynh là cao hơn so với Ban giám hiệu và Chính quyền địa phương (38,9%).
Kết quả trên đây cho thấy, mặc dù nhà trường đã chú ý đến công tác phối hợp giữa các lực lượng giáo dục, song sự phối hợp này còn chưa thường xuyên, chưa bài bản và chưa có cơ chế phối hợp và quy định trách nhiệm cụ thể do đó chưa phát huy được sức mạnh vốn có của các lực lượng này trong công tác giáo dục đạo đức học sinh.
Để tìm hiểu thực trạng sử dụng các biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh của hiệu trưởng chúng tôi sử dụng phiếu điều tra giáo viên và cán bộ quản lý “Xin thầy, cô vui òng cho biết thực trạng sử dụng các biện há quản nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh của các hiệu trưởng?”
Tính theo tỷ lệ %, kết quả đánh giá được trình bày ở bảng 2.12.
Kết quả khảo sát cho thấy nhà trường cũng đã thường xuyên triển khai các biện pháp trên trong quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh. Trong đó công tác chỉ đạo hoạt động của giáo viên chủ nhiệm được nhà trường áp dụng thường xuyên nhất xếp vị trí thứ 1, việc giáo dục đạo đức thông qua hoạt động của giáo viên chủ nhiệm là rất quan trọng vì giáo viên chủ nhiệm, đặc biệt là cấp tiểu học thì GV TH là người gắn bó, tiếp xúc với lớp và học sinh và là người hiểu các em nhất, việc chỉ đạo thường xuyên hoạt động của giáo viên chủ nhiệm cũng đã đem lại hiệu quả trong công tác giáo dục đạo đức học sinh. Hoạt động ngoại khoá có thể coi như một trong các hình thức để đánh giá học sinh theo quan điểm phát triển toàn diện, nhà trường cũng thường xuyên chỉ đạo và được đánh giá ở vị trí thứ 2, một trong những biện pháp được hiệu trưởng nhà trường quan tâm và sử dụng nhiều là nâng cao ý thức trách nhiệm cho cán bộ, giáo viên về giáo dục đạo đức, quản lí giáo dục đạo đức được đánh giá ở vị trí thứ 3, Tuy nhiên việc áp dụng các biện pháp không đồng đều có biện pháp có trên 50% ý kiến được hỏi cho rằng thi thoảng và chưa làm như (Công tác chỉ đạo hoạt động giáo dục đạo đức học sinh và công tác thi đua, khen thưởng, kỷ luật, xử lý vi phạm kịp thời chưa được nhà trường quan tâm đúng mức là một trong những hạn chế của nhà trường trong hoạt động giáo dục đạo đức học sinh.
Từ kết quả trên cho thấy trong chỉ đạo các biện pháp giáo dục đạo đức cần phải tiến hành đồng bộ các biện pháp mới đem lại kết quả mong muốn. Vấn đề đặt ra việc đề xuất các biện pháp phải phù hợp với điều kiện thực tế và đối tượng học sinh.
2.3.4. Kiểm tra, đánh giá giáo dục đạo đức. Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học.
Công tác kiểm tra giúp nhà quản lý có thể đánh giá được tiến độ thực hiện kế hoạch, tìm ra những ưu điểm cũng như những hạn chế, yếu kém trong quá trình thực hiện để có những biện pháp điều chỉnh kịp thời. Bên cạnh đó, kiểm tra, đánh giá còn là cơ sở để khen thưởng hợp lý, có tác dụng khích lệ tinh thần nhằm mang lại hiệu quả cao trong công việc. Để tìm hiểu vấn đề này tác giả đã khảo sát lấy ý kiến của cán bộ quản lý và giáo viên về mức độ kiểm tra công tác giáo dục đạo đức cho học sinh của lãnh đạo trường TH Mai Động: “Xin thầy, cô vui òng cho biết kiến của ình về các nội dung kiểm tra của hiệu trưởng trong bảng dưới đây”. Tính theo giá trị trung bình, kết quả đánh gía thể hiện trên bảng 2.13.
Kết quả trên cho thấy việc kiểm tra hoạt động giáo dục đạo đức của giáo viên chủ nhiệm, kiểm tra hoạt động giáo dục đạo đức của GV tổng phụ trách, kiểm tra hoạt động tự quản của học sinh, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch giáo dục đạo đức trong từng tuần, kiểm tra công tác giáo dục học sinh cá biệt được tiến hành thường xuyên hơn. Việc kiểm tra các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của các bộ phận được phân công, kiểm tra hoạt động giáo dục đạo đức của giáo viên bộ môn chưa được chú trọng thường xuyên. Hiệu trưởng các trường cần tăng cường chỉ đạo dự giờ thăm lớp, kiểm tra hồ sơ giáo án đột xuất, định kỳ, tổ chức hội thảo rút kinh nghiệm nhằm nâng cao ý thức trách nhiệm, năng lực thực hiện nhiệm vụ giáo dục đạo đức thông qua hoạt động giảng dạy và các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp cho đội ngũ giáo viên. Để tìm hiểu về mức độ tiến hành sơ kết, tổng kết, công tác giáo dục đạo đức học sinh của lãnh đạo các nhà trường, tác giả lấy ý kiến của cán bộ giáo viên về vấn đề này: “Xin thầy, cô vui òng cho biết kiến của ình về ức độ lãnh đạo nhà trường tiến hành s kết, tổng kết, đánh giá khen thưởng công tác giáo dục đạo đức cho học sinh theo tuần, theo tháng, theo nă học”.
Bảng 2.14 cho thấy việc sơ kết học kỳ, tổng kết năm học, khen thưởng cuối học kỳ, cuối mỗi đợt, khen thưởng cuối năm học được nhà trường chú ý thường xuyên hơn. Việc sơ kết tuần, sơ kết tháng được thực hiện tương đối thường xuyên. Việc khen thưởng mỗi đợt rất ít khi được thực hiện, chưa được quan tâm đúng mức. Việc khen thưởng cho GVCN giỏi và cá nhân tiêu biểu trong hoạt động giáo dục đạo đức thường được lồng vào khen thưởng với các danh hiệu thi đua như lao động tiên tiến, chiến sĩ thi đua cơ sở…, từ kết quả khảo sát và qua tìm hiểu thực tế tác giả có kết luận: Việc kiểm tra, đánh giá khen thưởng trong công tác giáo dục đạo đức còn một số nhất định do chưa có ban hành quy định tiêu chuẩn đánh giá cụ thể, công tác kiểm tra chưa thường xuyên và chế độ khen thưởng chưa được quan tâm đúng mức do hạn chế nguồn kinh phí.
2.4. Đánh giá chung về giáo dục đạo đức và quản lý hoạt động giáo dục đạo đức học sinh ở trường TH Mai Động quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học.
Từ những kết quả nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh trường Tiểu học Mai Động, tác giả nhận thấy có những ưu điểm và hạn chế sau:
2.4.1. Ưu điểm
Ban giám hiệu của trường TH Mai Động đã có nhận thức đúng đắn về vai trò, tầm quan trọng cũng như trách nhiệm của công tác quản lí giáo dục đạo đức học sinh. Hiệu trưởng đã quán triệt tốt các chỉ thị, các văn bản hướng dẫn của các cấp, các ngành đến đội ngũ giáo viên, học sinh ngay từ đầu năm học. Trong quá trình giáo dục toàn diện hiệu trưởng đã có chỉ tiêu, kế hoạch, biện pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh trong giai đoạn hiện nay.
Về phía giáo viên, bên cạnh nâng cao nhận thức cho giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn và các đoàn thể trong trường tiếp tục triển khai kế hoạch giáo dục đạo đức học sinh thường kì từ cán bộ đến các lực lượng để họ quán triệt tốt nội dung, chương trình, chỉ đạo học sinh tham gia hoạt động do nhà trường đề ra một cách có hiệu quả.
Sự phong phú của các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp: Tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn, giao lưu, thi tìm hiểu, tham quan… thật sự đã trở thành hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh có hiệu quả. Sự chỉ đạo và phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng này trong việc nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức học sinh.
Về phía học sinh, đại đa số các em là học sinh ngoan, lễ phép có nhận thức đúng đắn về chuẩn mực đạo đức nên đã có những thái độ, hành vi đạo đức đúng đắn. Các em đã tự vươn lên để khẳng định mình trong học tập, rèn luyện và tu dưỡng. Những biểu hiện về đạo đức như: lễ phép, chăm ngoan, có lối sống ý thức kỷ luật tốt, ham học hỏi, có hoài bão và ước mơ cao đẹp đã được thể hiện ở nhiều học sinh. Chính vì lẽ đó nhiều em đã không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện để hoàn thiện phẩm chất và nhân cách, biết coi trọng những giá trị tinh thần, giá trị đạo đức nhất là giá trị đạo đức truyền thống, không bị cám dỗ trước những tác động xấu, giữ được kỉ cương, nền nếp.
2.4.2. Hạn chế Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học.
Bên cạnh đó vẫn còn một số hạn chế cần sớm khắc phục: Một bộ phận nhỏ học sinh chưa có ý thức phấn đấu rèn luyện, nên vi phạm nội quy nhà trường; có học sinh vi phạm một vài lần, có học sinh vi phạm có hệ thống. Một số học sinh vi phạm khuyết điểm có khi bao che cho nhau, thiếu thành khẩn. Số lượng học sinh chậm tiến về đạo đức năm nào cũng có và bắt buộc phải rèn luyện lại trong hè.
Công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh còn có một số hạn chế sau:
- Công tác kiểm tra, đánh giá về hoạt động giáo dục đạo đức chưa thường xuyên, thậm chí một số bộ phận còn chưa thực hiện.
- Xây dựng kế hoạch chưa sát thực tế còn chung chung. Việc tổ chức thực hiện kế hoạch không được sâu sát, ít kiểm tra đánh giá.
- Nội dung giáo dục đạo đức chưa toàn diện còn nghèo nàn chưa đáp ứng được yêu cầu của giáo dục đạo đức trong tình hình mới, việc thực hiện chưa đạt hiệu quả cao. Các biện pháp, phương pháp tổ chức giáo dục đạo đức chưa phát huy tính tích cực của học sinh.
- Sự phối hợp 3 môi trường: Nhà trường, gia đình và xã hội trong công tác giáo dục đạo đức chưa có hiệu quả cao.
Việc đánh giá, kiểm tra, khen thưởng kỉ luật về công tác giáo dục đạo đức học sinh vẫn còn chưa hiệu quả, chưa kịp thời nên chưa khuyến khích được các lực lượng giáo dục tham gia quản lí giáo dục đạo đức cho học sinh .
2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế
Để hiểu rõ hơn về nguyên nhân dẫn đến chất lượng giáo dục đạo đức học sinh còn tồn tại như đã phân tích, tác giả tiến hành khảo sát cán bộ quản lý(Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, Bí thư đoàn thanh niên, Chủ tịch công đoàn, Bí thư chi bộ, Khối trưởng, Tổng phụ trách) của trường TH Mai Động với câu hỏi: “Theo Thầy/Cô trong các nguyên nhân hạn chế về chất lượng giáo dục đạo đức của học sinh sau đây, nguyên nhân nào là chủ yếu”. Tính theo giá trị trung bình, kết quả đánh giá được trình bày ở bảng 2.15.
Thông qua kết quả khảo sát ở trên có thể thấy được các nguyên nhân chính ảnh hưởng đến chất lượng rèn luyện đạo đức của học sinh như sau: Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học.
Theo kết quả khảo sát cho thấy có một số nguyên nhân có mức độ ảnh hưởng lớn nhất đến việc giáo dục đạo đức cho học sinh đó là: Do công tác quản lý chưa hiệu quả (xế vị trí thứ 1). Nguyên nhân này xuất phát từ nhà trường trước sự biến động của xã hội nhưng chưa đổi mới phương pháp quản lý và nội dung giáo dục đạo đức cho học sinh. Điều đó làm cho học sinh chưa thực sự hiểu giá trị về đạo đức.
Do thiếu sự quan tâm của gia đình xếp vị trí thứ 2. Học sinh tiểu học đang trong giai đoạn đầu hình thành và phát triền nhân cách. Bất cứ hoạt động nào của các em cũng có thể gây ảnh hưởng đến việc giáo dục đạo đức cho các em. Gia đình có tác động rất lớn đến các em chính vì vậy nếu thiếu đi sự quan tâm của gia đình, các em dễ hình thành nên những hành vi tiêu cực, không phù hợp và không được điều chỉnh kịp thời.
Phẩm chất, lối sống của thầy, cô, cha mẹ, bạn bè xếp vị trí thứ 3. Những phẩm chất, lối sống của những người xung quanh đã tác động không nhỏ đến suy nghĩ và hành động của các em học sinh, đặc biệt là hs tiểu học.
Do không có chuẩn đánh giá giáo dục đạo đức học sinh nên việc tổ chức triển khai thiếu đồng bộ. Hoạt động giáo dục đạo đức không mang tính pháp quy cao như hoạt động dạy học, nên trong thực tế giáo dục đạo đức chưa được đặt ngang hàng với giáo dục trí tuệ.
Một bộ phận phụ huynh chưa quan tâm phối hợp với nhà trường để giáo dục con em. Tư tưởng ” trăm sự nhờ thầy” còn khá phổ biến trong phụ huynh. Còn có những phụ huynh chăm lo làm ăn hơn chăm sóc con cái. Tâm lý ” bao cấp” trong giáo dục còn ảnh hưởng lớn đến tư tưởng phụ huynh, quan niệm về xã hội hóa giáo dục chưa được nhận thức đầy đủ.
Sự phối hợp của các lực lượng giáo dục đạo đức trong và ngoài nhà trường chưa nhịp nhàng, chưa hiệu quả, nhiều khi còn bị xem nhẹ vì thế chưa phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội tham gia giáo dục đạo đức cho học sinh, có lúc nhà trường mất đi tính chủ động.
Nguyên nhân của những hạn chế nêu trên đã làm ảnh hưởng rất lớn đến công tác quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh. Việc tìm ra một số giải pháp để nâng cao hiệu quả quản lý công tác giáo dục đạo đức cho học sinh là một vấn đề hết sức cấp thiết trong giai đoạn hiện nay ở các trường TH.
Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học.
Trong những năm qua, trường TH Mai Động quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội đã có nhiều cố gắng trong công tác giáo dục đạo đức học sinh. Kết quả giáo dục đạo đức được thể hiện: đa số học sinh có đạo đức tốt, chăm ngoan, lễ phép có ý thức tu dưỡng đạo đức. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có một số học sinh sống chưa kỷ luật, thiếu tính tự giác, sa sút về mặt đạo đức, có những biểu hiện và hành vi vi phạm đạo đức làm ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục đạo đức nói riêng và chất lượng đào tạo nói chung của nhà trường. Việc quan tâm giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục đạo đức học sinh là rất cấp thiết.
Bên cạnh đó, thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức trong nhà trường còn nhiều hạn chế. Công tác tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá ở một số lĩnh vực chưa mang lại hiệu quả cao. Hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục chưa phong phú, thiếu các giải pháp quản lý phù hợp. Luận văn: Thực trạng giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học.
Những tồn tại yếu kém trong việc giáo dục đạo đức có nguyên nhân chủ quan và nguyên nhân khách quan. Để khắc phục tình trạng này nhà quản lí cần có sự chuyển biến thực sự về nhận thức trong công tác quản lí hoạt động giáo dục đạo đức học sinh và rất cần có sự đổi mới căn bản về quản lí hoạt động giáo dục đạo đức trong các nhà trường. Từ đó các nhà quản lí phải sớm tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng quản lí giáo dục đạo đức học sinh hơn nữa góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho học sinh nói riêng và chất lượng giáo dục toàn diện nói chung.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp giáo dục đạo đức cho học sinh Tiểu học
