Luận văn: Thực trạng cho thuê tài chính tại công ty tài chính

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng cho thuê tài chính tại công ty tài chính hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng về phát triển hoạt động cho thuê tài chính tại công ty trách nhiệm hữu hạn cho thuê tài chính Quốc Tế Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty trách nhiệm hữu hạn cho thuê tài chính Quốc Tế Việt Nam

2.1.1. Lịch sử hình thành

Công ty TNHH Cho Thuê Tài Chính Quốc Tế Việt Nam (VILC) là công ty Cho thuê tài chính đầu tiên tại Việt Nam, thành lập từ năm 1996 và bắt đầu hoạt động từ năm 1997.

Trải qua nhiều lần thay đổi cổ đông và tăng VCSH, hiện công ty có hai cổ đông là Công ty tài chính KDB thuộc Tập đoàn tài chính KDB, Hàn Quốc chiếm 80% Vốn điều lệ và Công ty Cho thuê tài chính Mizuho (Mizuho Leasing) thuộc Ngân hàng Miuzuho, Nhật Bản. Từ số vốn điều lệ ban đầu là 5 triệu USD, trải qua nhiều lần thay đổi, hiện tại Vốn điều lệ của VILC là 580 tỷ đồng tương đương khoảng 22,7 triệu USD.

Trụ sở chính của công ty đặt tại P.902, tầng 9, tòa nhà Centec, số 72-74 Nguyễn Thị Minh Khai, phường Võ Thị Sáu, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Công ty có một văn phòng đại diện tại tòa nhà Charmvit, số 117 Trần Duy Hưng, quận Cầu Giấy, Hà Nội.

2.1.2. Chức năng nhiệm vụ và hoạt động chính

Cho thuê tài chính là hoạt động cấp tín dụng trung – dài hạn trên cơ sở hợp đồng thuê tài chính. Trong đó bên cho thuê là công ty Cho thuê tài chính sẽ mua, sở hữu tài sản thuê tài chính (máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất, phương tiện vận tải, các hệ thống điện năng lượng mặt trời, các hệ thống phòng cháy chữa cháy…) và cho bên (công ty, cá nhân) thuê lại trong một khoảng thời gian nhất định. Sau khi kết thúc thời gian thuê, bên cho thuê sẽ chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản lại cho bên thuê theo giá thỏa thuận. Ngoài hoạt động Cho thuê tài chính đã nêu, công ty Cho thuê tài chính còn có chức năng cho vay bổ sung vốn lưu động, nhận tiền gửi, phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu…để huy động vốn. Tuy nhiên, tương tự như các công ty Cho thuê tài chính khác, hoạt động của VILC chỉ tập trung chủ yếu vào mảng cho thuê tài chính đối với khách hàng công ty (không cho thuê tài chính đối với khách hàng cá nhân) và một phần nhỏ là cho vay bổ sung vốn lưu động, nhận tiền gửi của tổ chức. Phân khúc khách hàng VILC nhắm đến là các tập đoàn, công ty lớn, công ty FDI với doanh thu hàng năm khoảng từ bốn trăm tỷ đồng trở lên. Một số khách hàng tiêu biểu có thể kể đến như Tập đoàn Thành Thành Công, Tập đoàn Đèo Cả, Tập đoàn Hanwha (Hàn Quốc), Nutifood…

Về nguồn vốn hoạt động, tương tự như các công ty Cho thuê tài chính khác do không có chức năng trung gian thanh toán như các ngân hàng và việc huy động vốn thông qua nhận tiền gửi có kỳ hạn, phát hành trái phiếu còn gặp rất nhiều khó khăn do không có bộ phận chuyên môn phụ trách và vai trò, hoạt động của một công ty Cho thuê tài chính nhìn chung vẫn còn khá mới mẻ trên thị trường nên VILC gần như dựa hoàn toàn vào vốn vay tại thị trường 2 (vốn vay liên ngân hàng) để hoạt động.

2.1.3. Cơ cấu tổ chức Luận văn: Thực trạng cho thuê tài chính tại công ty tài chính.

Cơ cấu bộ máy của VILC được hình thành dựa trên tiêu chí tối giản hóa các thủ tục nội bộ và đặt khách hàng làm trọng tâm. Các phòng ban được thành lập tinh gọn qua đó nâng cao tối đa tốc độ xử lý, đáp ứng nhanh các nhu cầu của khách hàng và cũng tiết giảm tối đa chi phí hoạt động. Về cơ bản, bộ máy được chia làm hai khối vận hành và kinh doanh với tổng số nhân sự là 68 người.

Ban Giám đốc cũng chính là Ủy ban phê duyệt tín dụng sẽ bao gồm một Tổng giám đốc người Hàn Quốc cũng là đại diện pháp luật của công ty và hai phó Tổng giám đốc người Hàn Quốc và Nhật Bản. Bên dưới là khối vận hành bao gồm: Phòng hợp đồng thực hiện soạn thảo hợp đồng, kiểm soát hồ sơ chứng từ phục vụ giải ngân. Phòng pháp chế thực hiện kiểm tra các hợp đồng, văn bản ký với khách hàng. Phòng kế toán và phòng nhân sự.

Khối kinh doanh sẽ bao gồm ba phòng kinh doanh, phòng kinh doanh 1 và phòng kinh doanh 2 đặt tại trụ sở công ty và phòng kinh doanh 3 cũng chính là văn phòng Hà Nội.

Phòng Tái thẩm định sẽ hoạt động độc lập báo cáo trực tiếp đến Ban tổng giảm đốc để đảm bảo tính khách quan và kiểm soát tốt rủi ro tín dụng đối với từng hồ sơ.

2.1.4. Tình hình hoạt động kinh doanh của công ty trách nhiệm hữu hạn cho thuê tài chính Quốc Tế Việt Nam giai đoạn từ năm 2023 – 2025

Để phân tích hoạt động kinh doanh của VILC từ năm 2023 – 2025 sẽ tập trung vào ba tiêu chí chính là doanh thu hoạt động, chi phí hoạt động và lợi nhuận sau thuế chung của VILC.

  • Bảng 2.1: Kết quả tình hình kinh doanh của VILC giai đoạn từ năm 2023 – 2025

Dựa trên Bảng 2.1 trình bày kết quả tình hình kinh doanh của VILC giai đoạn từ năm 2023 đến 2025, có thể thấy một bức tranh tăng trưởng tích cực về doanh thu và lợi nhuận, mặc dù chi phí hoạt động cũng có xu hướng tăng theo.

Cụ thể, doanh thu hoạt động của VILC đã cho thấy sự tăng trưởng đáng kể qua từng năm. Từ 161.703 tỷ đồng vào năm 2023, doanh thu đã tăng lên 222.515 tỷ đồng vào năm 2024, đạt mức tăng trưởng ấn tượng 37,6% so với năm trước. Tiếp nối đà này, năm 2025, doanh thu tiếp tục tăng lên 272.897 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng là 22,6% so với năm 2024. Điều này cho thấy khả năng mở rộng thị trường và hiệu quả kinh doanh ngày càng được cải thiện của VILC.

Song song với sự tăng trưởng về doanh thu, chi phí hoạt động của công ty cũng có xu hướng tăng lên nhưng với tốc độ thấp hơn. Năm 2023, chi phí hoạt động là 56.153 tỷ đồng, tăng lên 59.278 tỷ đồng vào năm 2024 (tăng 5,6%) và đạt 64.589 tỷ đồng vào năm 2025 (tăng 9,0%). Mặc dù chi phí tăng, tỷ lệ tăng trưởng chi phí thấp hơn đáng kể so với tỷ lệ tăng trưởng doanh thu, cho thấy VILC đã kiểm soát tương đối tốt các khoản chi phí của mình.

Nhờ vào sự tăng trưởng mạnh mẽ của doanh thu và việc kiểm soát chi phí hiệu quả, lợi nhuận sau thuế của VILC đã có những bước nhảy vọt đáng ghi nhận. Từ 80.841 tỷ đồng vào năm 2023, lợi nhuận sau thuế đã tăng vọt lên 110.330 tỷ đồng vào năm 2024, ghi nhận mức tăng trưởng 36,5%. Đến năm 2025, con số này tiếp tục tăng lên 141.147 tỷ đồng, với mức tăng trưởng 27,9% so với năm 2024. Điều này phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh tổng thể và khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững của VILC trong giai đoạn này. Tóm lại, các chỉ số cho thấy VILC đã có một giai đoạn kinh doanh thành công với tốc độ tăng trưởng ổn định và bền vững về cả doanh thu và lợi nhuận.

2.2. Thực trạng phát triển hoạt động cho thuê tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn cho thuê tài chính Quốc Tế Việt Nam giai đoạn từ năm 2023 – 2025 Luận văn: Thực trạng cho thuê tài chính tại công ty tài chính.

2.2.1. Tăng trưởng dư nợ cho thuê tài chính

Dư nợ Cho thuê tài chính của VILC trong giai đoạn 2023 – 2025 sẽ được phân tích dựa trên hai tiêu chí đó là dư nợ Cho thuê tài chính và số lượng hợp đồng kí kết.

  • Bảng 2.2: Tăng trưởng dư nợ Cho thuê tài chính của VILC giai đoạn từ năm 2023 – 2025

Dựa trên Bảng 2.2 thể hiện tình hình tăng trưởng dư nợ Cho thuê tài chính và số lượng hợp đồng Cho thuê tài chính của VILC trong giai đoạn từ năm 2023 đến 2025, có thể thấy một xu hướng tăng trưởng liên tục ở cả hai chỉ tiêu, phản ánh sự mở rộng của hoạt động cho thuê tài chính của công ty. Cụ thể, về tổng dư nợ Cho thuê tài chính, VILC đã ghi nhận mức tăng trưởng đáng kể. Từ 2.648 tỷ đồng vào năm 2023, dư nợ Cho thuê tài chính đã tăng lên 3.609 tỷ đồng vào năm 2024, đạt mức tăng trưởng cao 36,3% so với năm trước. Tiếp đà này, đến năm 2025, tổng dư nợ tiếp tục tăng lên 4.084 tỷ đồng, tuy nhiên tốc độ tăng trưởng đã chậm lại, đạt 13,2% so với năm 2024. Điều này cho thấy VILC đã mở rộng quy mô hoạt động cho thuê tài chính một cách mạnh mẽ trong giai đoạn này, đặc biệt là từ năm 2023 sang 2024.

Về số lượng hợp đồng Cho thuê tài chính, VILC cũng cho thấy sự gia tăng đều đặn. Năm 2023, công ty có 3.897 hợp đồng, tăng lên 4.023 hợp đồng vào năm 2024, với mức tăng trưởng khiêm tốn 3,2%. Đến năm 2025, số lượng hợp đồng tiếp tục tăng lên 4.255, với tốc độ tăng trưởng cao hơn một chút là 5,8% so với năm 2024. Mặc dù tốc độ tăng trưởng về số lượng hợp đồng không cao bằng tốc độ tăng trưởng dư nợ, điều này có thể ngụ ý rằng giá trị trung bình của mỗi hợp đồng cho thuê tài chính có xu hướng tăng lên, hoặc công ty đã ký kết được nhiều hợp đồng có giá trị lớn hơn trong giai đoạn này.

Tóm lại, kết quả này cho thấy VILC đang trên đà phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực cho thuê tài chính, thể hiện qua sự tăng trưởng cả về tổng dư nợ và số lượng hợp đồng. Đặc biệt, sự tăng trưởng vượt trội của dư nợ so với số lượng hợp đồng cho thấy công ty có thể đang tập trung vào các hợp đồng có giá trị cao, góp phần vào sự mở rộng quy mô và hiệu quả hoạt động.

2.2.2. Cơ cấu tăng trưởng cho thuê tài chính theo tài sản cho thuê Luận văn: Thực trạng cho thuê tài chính tại công ty tài chính.

2.2.2.1. Theo thành phần kinh tế

Dư nợ Cho thuê tài chính tại VILC theo thành phần kinh tế cũng biến động trong giai đoạn 2023 – 2025, đặc biệt đối với công ty cổ phần, công ty TNHH. Cụ thể như sau:

  • Bảng 2.3: Dư nợ Cho thuê tài chính của VILC theo thành phần kinh tế giai đoạn từ năm 2023 – 2025

Dựa trên Bảng 2.3 về dư nợ Cho thuê tài chính của VILC theo thành phần kinh tế giai đoạn 2023-2025, có thể thấy rõ sự dịch chuyển trong cơ cấu khách hàng vay, với trọng tâm ngày càng chuyển dịch sang nhóm công ty cổ phần.

Cụ thể, công ty cổ phần luôn là nhóm khách hàng chiếm tỷ trọng lớn nhất và có xu hướng tăng mạnh qua các năm. Trong năm 2024 so với năm 2023, dư nợ của nhóm này tăng mạnh mẽ 46,5%. Tiếp đà tăng trưởng, trong năm 2025 so với năm 2024, dư nợ của công ty cổ phần tiếp tục tăng 7,5%. Sự tăng trưởng mạnh mẽ cả về giá trị tuyệt đối và tỷ trọng cho thấy VILC đang tập trung mạnh vào phân khúc khách hàng này hoặc nhóm công ty cổ phần có nhu cầu lớn về Cho thuê tài chính. Ngược lại, dư nợ của công ty TNHH lại có xu hướng giảm về tỷ trọng, dù giá trị tuyệt đối có lúc tăng. Trong năm 2024 so với năm 2023, dư nợ nhóm này tăng 23,3%. Tuy nhiên, trong năm 2025 so với năm 2024, dư nợ của công ty TNHH lại giảm đáng kể 9,5%. Điều này có thể cho thấy sự thay đổi trong chiến lược cho vay của VILC, giảm bớt tập trung vào công ty TNHH để ưu tiên các đối tượng khác, hoặc do nhu cầu vay của nhóm này giảm.

Đối với nhóm công ty tư nhân, trong năm 2024 so với năm 2023, dư nợ tăng 14,4%. Tuy nhiên, trong năm 2025 so với năm 2024, dư nợ lại giảm mạnh 16,1%. Điều này có thể cho thấy sự thận trọng của VILC trong việc cấp tín dụng cho các công ty tư nhân, vốn thường có rủi ro cao hơn trong bối cảnh kinh tế không chắc chắn. Các nhóm khác như công ty 100% vốn nước ngoài, liên doanh đa thành phần, cá nhân và hộ gia đình, kinh doanh tư nhân khác, công ty nhà nước, liên doanh với kinh tế nhà nước, và hoạt động khoa học và công nghệ đều cho thấy sự biến động mạnh hoặc xu hướng giảm trong tốc độ tăng trưởng. Đặc biệt, nhóm cá nhân và hộ gia đình có mức giảm sâu nhất, với – 62,1% trong năm 2024 so với năm 2023 và -72,2% trong năm 2025 so với năm 2024, cho thấy VILC gần như không còn tập trung vào phân khúc này. Sự thay đổi này có thể là kết quả của việc đánh giá lại rủi ro tín dụng đối với từng phân khúc khách hàng. Luận văn: Thực trạng cho thuê tài chính tại công ty tài chính.

Tóm lại, cơ cấu dư nợ Cho thuê tài chính của VILC đang có sự dịch chuyển rõ rệt, với sự ưu tiên và tăng trưởng mạnh mẽ của dư nợ từ các công ty cổ phần, đồng thời thu hẹp hoặc giảm tỷ trọng ở các nhóm khách hàng khác. Sự thay đổi này có thể nhằm tối ưu hóa hiệu quả kinh doanh, giảm thiểu rủi ro trong bối cảnh kinh tế có nhiều biến động, và tập trung nguồn lực vào các lĩnh vực có tiềm năng sinh lời cao hơn và bền vững hơn trong dài hạn.

  • Bảng 2.4: Tốc độ tăng trưởng dư nợ Cho thuê tài chính của VILC theo thành phần kinh tế giai đoạn từ năm 2023 – 2025

Dựa trên Bảng 2.4 về tốc độ tăng trưởng dư nợ Cho thuê tài chính của VILC theo thành phần kinh tế giai đoạn 2023 – 2025, có thể nhận định về những thay đổi đáng kể trong chiến lược và hiệu quả hoạt động của VILC đối với từng phân khúc khách hàng, phản ánh sự biến động của thị trường và định hướng phát triển của công ty. Trước hết, nhóm công ty cổ phần tiếp tục là động lực tăng trưởng chính của VILC, mặc dù tốc độ tăng trưởng có phần chậm lại. Năm 2024, dư nợ từ nhóm này tăng mạnh mẽ 46,5% so với năm 2023, thể hiện sự mở rộng đáng kể hoặc tập trung nguồn lực vào phân khúc này. Tuy nhiên, năm 2025, tốc độ tăng trưởng giảm xuống còn 7,5% so với năm 2024. Sự sụt giảm tốc độ tăng trưởng này có thể là dấu hiệu của sự bão hòa của thị trường hoặc VILC đã đạt đến một ngưỡng nhất định trong việc khai thác nhóm khách hàng này. Điều này cũng có thể phản ánh môi trường kinh doanh chung của các công ty cổ phần trong nước, có thể đối mặt với những thách thức mới khiến nhu cầu vay vốn giảm hoặc các kênh huy động vốn khác trở nên cạnh tranh hơn. Ngược lại, nhóm công ty TNHH cho thấy một sự đảo chiều rõ rệt. Năm 2024, dư nợ từ nhóm này tăng 23,3% so với năm 2023, cho thấy VILC vẫn duy trì sự phát triển ở phân khúc này. Tuy nhiên, năm 2025, dư nợ lại giảm 9,5% so với năm 2024. Đây là một điểm đáng lưu ý, có thể do VILC đã thay đổi chiến lược tập trung, giảm bớt ưu tiên cho nhóm công ty TNHH để tập trung vào các công ty cổ phần có quy mô lớn hơn và tiềm năng sinh lời cao hơn. Ngoài ra, sự suy giảm này cũng có thể phản ánh những khó khăn mà các công ty TNHH đang phải đối mặt trong môi trường kinh tế hiện tại, khiến nhu cầu đầu tư và vay vốn giảm sút.

Tương tự, các nhóm công ty tư nhân và công ty 100% vốn nước ngoài đều chứng kiến sự tăng trưởng trong trong năm 2024 so với năm 2023 (14,4% và 15,2% tương ứng), nhưng lại suy giảm đáng kể trong giai đoạn năm 2025 so với năm 2024 (-16,1% và – 15,5% tương ứng). Điều này có thể cho thấy sự thận trọng của VILC trong việc cấp tín dụng cho các công ty tư nhân, vốn thường có rủi ro cao hơn trong bối cảnh kinh tế không chắc chắn. Đối với các công ty có vốn nước ngoài, sự sụt giảm này có thể liên quan đến việc họ tự chủ về nguồn vốn hoặc tìm kiếm các kênh tài trợ quốc tế với chi phí thấp hơn, hoặc có sự dịch chuyển đầu tư từ Việt Nam sang các quốc gia khác. Các nhóm khách hàng như cá nhân và hộ gia đình, kinh doanh tư nhân khác, liên doanh đa thành phần, công ty nhà nước, liên doanh với kinh tế nhà nước và Hoạt động khoa học và công nghệ đều ghi nhận mức sụt giảm mạnh mẽ, thậm chí âm rất sâu hoặc không có tăng trưởng trong năm năm 2025. Đặc biệt, nhóm cá nhân và hộ gia đình giảm tới 62,1% trong năm 2024 và tiếp tục giảm 72,2% trong năm 2025, cho thấy VILC gần như không còn tập trung vào phân khúc này hoặc đã rút hẳn khỏi mảng cho vay cá nhân. Sự thay đổi này có thể là kết quả của việc đánh giá lại rủi ro tín dụng đối với từng phân khúc khách hàng, trong đó VILC có thể nhận thấy rủi ro ở các nhóm này cao hơn hoặc lợi nhuận không tương xứng với nguồn lực bỏ ra. Việc không có dư nợ ở một số nhóm trong năm 2025 (Công ty nhà nước, hoạt động khoa học và công nghệ) cũng chứng tỏ VILC đã loại bỏ hoàn toàn các phân khúc này ra khỏi danh mục cho vay của mình.

Tóm lại, dữ liệu cho thấy VILC đang thực hiện một chiến lược tái cấu trúc danh mục cho vay, tập trung mạnh mẽ vào các công ty cổ phần với quy mô lớn hơn, đồng thời thu hẹp hoặc rút lui khỏi các phân khúc khách hàng nhỏ hơn hoặc có rủi ro cao hơn. Sự thay đổi này có thể nhằm tối ưu hóa hiệu quả kinh doanh, giảm thiểu rủi ro trong bối cảnh kinh tế có nhiều biến động, và tập trung nguồn lực vào các lĩnh vực có tiềm năng sinh lời cao hơn và bền vững hơn trong dài hạn. Đây là một chiến lược phù hợp với xu hướng các tổ chức tài chính lớn thường ưu tiên các công ty có quy mô và cơ cấu quản trị rõ ràng.

2.2.2.2. Theo ngành nghề máy móc thiết bị Luận văn: Thực trạng cho thuê tài chính tại công ty tài chính.

Đối với dư nợ cho thuê vào các loại tài sản, trong giai đoạn 2023 – 2025, tỷ trọng cho thuê theo từng loại tài sản cũng có sự thay đổi mạnh mẽ như sau:

  • Bảng 2.5: Dư nợ Cho thuê tài chính của VILC theo máy móc thiết bị hoạt động giai đoạn từ năm 2023 – 2025

Dựa trên Bảng 2.5 về dư nợ Cho thuê tài chính của VILC theo máy móc thiết bị hoạt động trong giai đoạn 2023 – 2025, có thể thấy rõ sự dịch chuyển chiến lược đáng kể trong việc phân bổ danh mục cho thuê tài chính, tập trung mạnh mẽ vào một số loại tài sản chủ lực và giảm dần tỷ trọng ở các loại khác.

Máy móc thiết bị công tác nổi lên là phân khúc chiếm tỷ trọng áp đảo và có xu hướng tăng trưởng mạnh mẽ nhất. Cụ thể, từ 1.626,1 tỷ đồng (chiếm 61,41%) vào năm 2023, dư nợ cho thuê loại tài sản này đã tăng lên 2.171,9 tỷ đồng (60,18%) vào năm 2024 và đặc biệt bứt phá lên 2.966,2 tỷ đồng (72,63%) vào năm 2025. Sự tăng trưởng vượt trội cả về giá trị tuyệt đối và tỷ trọng của máy móc thiết bị công tác cho thấy VILC đang nhận định đây là lĩnh vực có nhu cầu lớn và tiềm năng phát triển cao. Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và tự động hóa các quy trình sản xuất, nhu cầu về máy móc thiết bị công tác của các công ty là rất lớn. Việc VILC tập trung vào phân khúc này phản ánh sự nhạy bén với xu hướng thị trường và khả năng đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư máy móc của các công ty, từ đó tối ưu hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro.

Ngược lại, phương tiện vận tải là phân khúc có sự sụt giảm mạnh về tỷ trọng, mặc dù giá trị tuyệt đối có lúc tăng. Từ 920,7 tỷ đồng (chiếm 34,77%) vào năm 2023, dư nợ cho thuê phương tiện vận tải tăng lên 1.330,6 tỷ đồng (36,87%) vào năm 2024. Tuy nhiên, đến năm 2025, giá trị tuyệt đối giảm xuống còn 1.032,4 tỷ đồng và tỷ trọng giảm đáng kể xuống 25,28%. Sự sụt giảm tỷ trọng này có thể do một số yếu tố. Thứ nhất, thị trường phương tiện vận tải, đặc biệt là xe ô tô, có thể đã chứng kiến sự cạnh tranh gay gắt từ các hình thức tài chính khác như vay ngân hàng truyền thống hoặc các công ty tài chính tiêu dùng. Thứ hai, bản thân ngành vận tải có thể gặp khó khăn trong một số giai đoạn, ảnh hưởng đến nhu cầu đầu tư mới. Thứ ba, VILC có thể đã đánh giá lại rủi ro liên quan đến cho thuê phương tiện vận tải và quyết định giảm bớt tỷ trọng để tập trung vào các tài sản có tính chuyên biệt và giá trị cao hơn, ít biến động hơn. Đối với máy móc thiết bị động lực, tỷ trọng và giá trị dư nợ cũng có xu hướng giảm dần qua các năm. Từ 84,5 tỷ đồng (3,19%) vào năm 2023, giảm xuống 83,4 tỷ đồng (2,31%) vào năm 2024, và tiếp tục giảm còn 69,4 tỷ đồng (1,70%) vào năm 2025. Điều này có thể phản ánh sự thay đổi trong cấu trúc đầu tư của các ngành sử dụng máy móc thiết bị động lực, hoặc sự dịch chuyển nhu cầu sang các loại thiết bị mới hiệu quả hơn, ít phụ thuộc vào các thiết bị động lực truyền thống. Luận văn: Thực trạng cho thuê tài chính tại công ty tài chính.

Cuối cùng, dụng cụ đo lường thí nghiệm chiếm một tỷ trọng rất nhỏ và có xu hướng giảm nhẹ. Từ 16,9 tỷ đồng (0,64%) vào năm 2023, tăng nhẹ lên 22,7 tỷ đồng (0,63%) vào năm 2024, sau đó giảm xuống 15,5 tỷ đồng (0,38%) vào năm 2025. Với tỷ trọng nhỏ, sự biến động của phân khúc này ít ảnh hưởng đến tổng thể danh mục của VILC, nhưng cũng cho thấy VILC không ưu tiên phát triển mảng này.

  • Bảng 2.6: Tăng trưởng dư nợ Cho thuê tài chính của VILC theo máy móc thiết bị giai đoạn từ năm 2023 – 2025

Dựa trên Bảng 2.6 về tốc độ tăng trưởng dư nợ Cho thuê tài chính của VILC theo thành phần ngành nghề hoạt động trong giai đoạn từ năm 2023 – 2025, có thể nhận thấy sự dịch chuyển đáng kể trong chiến lược đầu tư và phân bổ nguồn lực của VILC vào các loại tài sản khác nhau, phản ánh sự thay đổi trong nhu cầu thị trường và định hướng rủi ro công ty.

Phương tiện vận tải là loại tài sản nổi bật với tốc độ tăng trưởng dương liên tục trong cả hai giai đoạn, mặc dù tốc độ có sự điều chỉnh. Trong năm 2024 so với năm 2023, dư nợ cho thuê phương tiện vận tải tăng mạnh 44,5%. Tuy nhiên, sang năm 2025 so với năm 2024, tốc độ tăng trưởng giảm đáng kể xuống còn 6,0%. Mức tăng trưởng dương nhưng chậm lại này có thể cho thấy thị trường phương tiện vận tải đã đạt đến một điểm bão hòa nhất định, hoặc VILC đã thận trọng hơn trong việc mở rộng tín dụng vào phân khúc này do những lo ngại về rủi ro hoặc sự cạnh tranh gia tăng.

Ngược lại, máy móc thiết bị công tác và dụng cụ đo lường thí nghiệm đều cho thấy xu hướng tăng trưởng tích cực trong năm 2024 so với năm 2023, sau đó lại chứng kiến sự sụt giảm trong năm 2025 so với năm 2024. Cụ thể, máy móc thiết bị công tác tăng 33,6% trong năm 2024 nhưng giảm 2,0% trong năm 2025. Tương tự, dụng cụ đo lường thí nghiệm tăng 34,2% trong năm 2024 nhưng giảm 1,6% trong năm 2025. Tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ trong năm 2024 cho thấy VILC đã đẩy mạnh đầu tư vào các loại tài sản này. Tuy nhiên, sự sụt giảm nhẹ trong năm 2025, dù không đáng kể, có thể là dấu hiệu của việc các công ty đã hoàn tất chu kỳ đầu tư lớn, hoặc sự điều chỉnh danh mục của VILC để tối ưu hóa hiệu quả và rủi ro.

Đáng chú ý nhất là máy móc thiết bị động lực, vốn đã có mức giảm nhẹ -1,3% trong năm 2024 so với năm 2023, nhưng lại tiếp tục sụt giảm mạnh tới -27,6% trong năm 2025 so với năm 2024. Sự sụt giảm liên tục và đáng kể này cho thấy VILC đang giảm bớt đáng kể dư nợ vào loại tài sản này. Nguyên nhân có thể do nhu cầu thị trường về máy móc thiết bị động lực đã suy giảm hoặc VILC đã đánh giá lại rủi ro tín dụng của phân khúc này và quyết định giảm bớt tỷ trọng.

Tóm lại, phân tích tốc độ tăng trưởng dư nợ Cho thuê tài chính của VILC theo loại tài sản cho thấy một chiến lược năng động và linh hoạt. Công ty đã tận dụng cơ hội tăng trưởng mạnh mẽ ở phân khúc phương tiện vận tải và máy móc thiết bị công tác trong giai đoạn 2024. Tuy nhiên, đến giai đoạn 2025, VILC có vẻ đã điều chỉnh lại, duy trì tăng trưởng ở phương tiện vận tải nhưng với tốc độ chậm hơn, và giảm nhẹ ở máy móc thiết bị công tác và dụng cụ đo lường thí nghiệm. Đặc biệt, việc giảm mạnh dư nợ đối với máy móc thiết bị động lực cho thấy VILC đang chủ động tái cấu trúc danh mục, loại bỏ hoặc giảm thiểu các tài sản có rủi ro cao hoặc ít tiềm năng tăng trưởng, nhằm tối ưu hóa danh mục cho thuê tài chính và thích ứng với bối cảnh thị trường đang thay đổi. Luận văn: Thực trạng cho thuê tài chính tại công ty tài chính.

Ngoài ra, với nhóm tài sản cho thuê liên quan đến máy móc thiết bị công tác thì có sự phân tích sâu liên quan đến các loại ngành nghề cụ thể sau:

  • Hình 2.1: Tỷ trọng dư nợ Cho thuê tài chính của VILC theo máy móc thiết bị công tác giai đoạn từ năm 2023 – 2025

Dựa trên hình 2.1 trình bày tỷ trọng dư nợ Cho thuê tài chính của VILC theo từng ngành nghề sử dụng máy móc thiết bị công tác trong giai đoạn 2023 – 2025, có thể nhận thấy rõ ràng VILC đang tập trung nguồn lực vào một số ngành chủ lực, phản ánh sự nhạy bén với xu hướng phát triển kinh tế và nhu cầu đầu tư của các ngành này.

Ngành máy móc sản xuất vật liệu xây dựng tiếp tục là trụ cột chính trong danh mục cho thuê tài chính của VILC, chiếm tỷ trọng áp đảo qua các năm. Cụ thể, tỷ trọng của ngành này đạt 65,5% vào năm 2023, tăng nhẹ lên 67,8% vào năm 2024, sau đó giảm xuống 62,5% vào năm 2025. Sự thống trị của ngành này cho thấy VILC nhận định rõ tiềm năng lớn từ nhu cầu đầu tư máy móc cho các nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng. Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh đầu tư công, phát triển hạ tầng và đô thị hóa, nhu cầu về xi măng, sắt thép, gạch ngói, và các vật liệu xây dựng khác luôn ở mức cao. Điều này đòi hỏi các công ty trong ngành phải liên tục đầu tư, nâng cấp máy móc thiết bị để tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, tạo ra cơ hội lớn cho các công ty Cho thuê tài chính như VILC. Tuy nhiên, sự sụt giảm nhẹ tỷ trọng vào năm 2025 có thể là dấu hiệu của sự dịch chuyển trong chiến lược, hoặc sự cạnh tranh gia tăng, hay thậm chí là một phần của chu kỳ đầu tư trong ngành này.

Các ngành liên quan đến xây dựng cũng cho thấy xu hướng tăng trưởng về tỷ trọng. Máy móc ngành xây dựng có tỷ trọng tăng từ 8,8% (năm 2023) lên 10,0% (năm 2025), và Máy công cụ cũng tăng từ 6,4% (năm 2023) lên 7,9% (năm 2025). Sự gia tăng tỷ trọng của hai ngành này, đặc biệt là máy móc ngành xây dựng, là hoàn toàn phù hợp với bối cảnh thực tế. Các dự án xây dựng hạ tầng, khu đô thị mới đang được triển khai mạnh mẽ trên cả nước, dẫn đến nhu cầu lớn về máy móc, thiết bị phục vụ thi công như máy xúc, máy ủi, cần cẩu, v.v. VILC đã nắm bắt tốt cơ hội này để mở rộng danh mục cho thuê.

Ngược lại, các ngành như máy móc sản xuất lương thực, thực phẩm, Máy móc ngành sản xuất nhựa và da, và Máy móc nông nghiệp và lâm nghiệp đều chiếm tỷ trọng tương đối nhỏ và có xu hướng biến động hoặc giảm. Máy móc sản xuất lương thực, thực phẩm giảm tỷ trọng từ 10,8% (năm 2023) xuống còn 5,6% (năm 2025). Sự sụt giảm này có thể do ngành thực phẩm đã có một giai đoạn đầu tư mạnh mẽ trước đó hoặc các công ty trong ngành tìm kiếm các kênh tài chính khác. Máy móc ngành sản xuất nhựa và da dao động từ 3,7% lên 8,9%, cho thấy một sự không ổn định trong mức độ tập trung. Máy móc nông nghiệp và lâm nghiệp duy trì tỷ trọng rất thấp, dao động quanh 4-5%, cho thấy VILC có thể chưa thực sự khai thác sâu vào tiềm năng của ngành nông nghiệp, hoặc các công ty nông nghiệp có nhu cầu về máy móc với giá trị nhỏ hơn hoặc ưu tiên các hình thức tài chính khác.

Tóm lại, hình ảnh này khắc họa một chiến lược tập trung rõ nét của VILC vào các ngành công nghiệp nặng và xây dựng, đặc biệt là sản xuất vật liệu xây dựng và máy móc ngành xây dựng. Đây là những ngành có nhu cầu vốn lớn và ổn định, phù hợp với mô hình kinh doanh của công ty tài chính cho thuê. Việc giảm tỷ trọng ở một số ngành khác có thể là kết quả của việc đánh giá lại rủi ro, hiệu quả đầu tư, hoặc sự dịch chuyển trong nhu cầu thị trường, cho thấy một chiến lược phân bổ nguồn lực có chọn lọc và linh hoạt của VILC nhằm tối ưu hóa danh mục cho thuê tài chính.

2.2.3. Doanh thu hoạt động cho thuê tài chính Luận văn: Thực trạng cho thuê tài chính tại công ty tài chính.

Doanh thu Cho thuê tài chính tại VILC có sự chuyển biến sâu sắc trong giai đoạn 2023 – 2025.

  • Bảng 2.7: Tăng trưởng doanh thu từ Cho thuê tài chính của VILC giai đoạn từ năm 2023 – 2025

Bảng 2.7 cung cấp cái nhìn chi tiết về tốc độ tăng trưởng doanh thu từ hoạt động cho thuê tài chính (CTTC) của VILC, đồng thời cho phép đánh giá mức độ phụ thuộc và hiệu quả của hoạt động cốt lõi này trong tổng thể doanh thu của công ty. Trước hết, doanh thu Cho thuê tài chính của VILC đã duy trì mức tăng trưởng dương và đáng kể trong suốt giai đoạn nghiên cứu. Cụ thể, trong năm 2024 so với năm 2023, doanh thu Cho thuê tài chính tăng trưởng ấn tượng 39,0%, từ 150.881 tỷ đồng lên 209.740 tỷ đồng. Đà tăng trưởng này tiếp tục được duy trì, mặc dù có sự giảm tốc nhẹ, trong năm 2025 so với năm 2024, với mức tăng 23,2%, đạt 258.412 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng hai chữ số liên tục này cho thấy VILC đã rất thành công trong việc mở rộng quy mô hoạt động cho thuê tài chính, một dấu hiệu tích cực về khả năng khai thác thị trường và đáp ứng nhu cầu vốn cho công ty dưới hình thức này.

Đi sâu vào các thành phần cấu thành doanh thu Cho thuê tài chính cả gốc Cho thuê tài chính thu hồi định kỳ và lãi Cho thuê tài chính phát sinh đều có tốc độ tăng trưởng tương đồng với tổng doanh thu Cho thuê tài chính. Cụ thể, cả hai chỉ tiêu này đều tăng 39,0% trong năm 2024 so với 2023 và 23,2% trong năm 2025 so với 2024. VILC đang thu hồi các khoản gốc và lãi cho thuê một cách đồng bộ và hiệu quả. Sự tăng trưởng ổn định của hai thành phần này phản ánh chất lượng danh mục cho thuê và khả năng quản lý hợp đồng của VILC, đảm bảo dòng tiền được tạo ra một cách bền vững từ hoạt động cốt lõi.

Đặc biệt, các khoản phí liên quan cũng cho thấy tốc độ tăng trưởng tích cực, với 39,4% trong năm 2024 so với 2023 và 30,3% trong năm 2025 so với 2024. Mặc dù chiếm tỷ trọng nhỏ hơn đáng kể so với gốc và lãi, sự tăng trưởng này cho thấy VILC có thể đang đa dạng hóa các dịch vụ liên quan đến Cho thuê tài chính hoặc áp dụng các loại phí hợp lý khác, góp phần bổ sung vào tổng doanh thu từ hoạt động này. Luận văn: Thực trạng cho thuê tài chính tại công ty tài chính.

Tỷ trọng doanh thu Cho thuê tài chính trên tổng doanh thu hoạt động. Tỷ trọng này duy trì ở mức cực kỳ cao và ổn định, từ 93,3% năm 2023, lên 94,3% năm 2024, và đạt 94,7% năm 2025. Điều này cho thấy hoạt động Cho thuê tài chính không chỉ là cốt lõi mà còn là gần như toàn bộ nguồn thu chính của VILC. Việc doanh thu Cho thuê tài chính chiếm tỷ trọng lớn và có xu hướng tăng nhẹ qua các năm (chỉ số tăng 1,0% trong 2024/2023 và 0,5% trong 2025/2024) củng cố nhận định về tính chuyên biệt của VILC trong lĩnh vực này. Trong bối cảnh thực tế của một công ty cho thuê tài chính, sự tập trung này là điều hợp lý, cho phép công ty tối ưu hóa nguồn lực và chuyên môn hóa sâu vào một lĩnh vực cụ thể. Tuy nhiên, việc phụ thuộc gần như hoàn toàn vào một nguồn doanh thu cũng tiềm ẩn rủi ro nếu thị trường Cho thuê tài chính gặp biến động bất lợi hoặc cạnh tranh gia tăng. Sự tăng trưởng mạnh mẽ của doanh thu Cho thuê tài chính của VILC phản ánh nhu cầu cao về tài chính cho đầu tư máy móc thiết bị và phương tiện sản xuất của các công ty Việt Nam. Trong giai đoạn 2023-2025, nền kinh tế Việt Nam đã trải qua quá trình phục hồi và tiếp tục đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Các công ty, đặc biệt là công ty vừa và nhỏ, thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn dài hạn từ ngân hàng truyền thống để đầu tư tài sản cố định. Cho thuê tài chính trở thành một giải pháp tài chính linh hoạt và hiệu quả, cho phép công ty có được tài sản cần thiết mà không phải bỏ ra số vốn lớn ban đầu, từ đó giữ được dòng tiền cho các hoạt động kinh doanh khác. VILC đã thành công trong việc nắm bắt và đáp ứng nhu cầu này.

Tóm lại, công ty đã và đang duy trì tốc độ tăng trưởng doanh thu mạnh mẽ từ hoạt động cốt lõi này, với các thành phần doanh thu chính đều tăng trưởng đồng bộ. Tỷ trọng áp đảo của doanh thu Cho thuê tài chính trong tổng doanh thu hoạt động cho thấy sự chuyên biệt hóa cao của VILC, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì sự ổn định và phát triển của thị trường cho thuê tài chính đối với tương lai của công ty.

2.2.4. Lợi nhuận từ hoạt động cho thuê tài chính

Lợi nhuận hoạt động Cho thuê tài chính giai đoạn 2023 – 2025 có những biến động như sau:

  • Bảng 2.8: Tăng trưởng lợi nhuận từ Cho thuê tài chính của VILC giai đoạn từ năm 2023 – 2025

Bảng 2.8 cho thấy hiệu quả sinh lời của hoạt động Cho thuê tài chính của VILC, từ doanh thu Cho thuê tài chính đến lợi nhuận sau thuế, đồng thời làm nổi bật các yếu tố chi phí quan trọng ảnh hưởng đến kết quả cuối cùng trong giai đoạn 2023-2025. Đầu tiên, về tổng quan doanh thu Cho thuê tài chính của VILC cho thấy sự tăng trưởng mạnh mẽ, với mức 39,0% trong năm 2024 so với 2023, và tiếp tục 23,2% trong năm 2025 so với 2024. Đây là nền tảng vững chắc cho sự tăng trưởng lợi nhuận, phản ánh khả năng mở rộng quy mô hoạt động cho thuê của công ty. Nguyên nhân tăng trưởng doanh thu đến từ việc doanh nghiệp ngày càng khó tiếp cận vốn vay trung dài hạn ngân hàng. Nguyên nhân tăng lợi nhuận do VILC giảm chi phí hoạt động (tinh giảm nhân sự cấp thấp). Luận văn: Thực trạng cho thuê tài chính tại công ty tài chính.

  • Hình 2.2: Tình hình doanh thu hoạt động và doanh từ Cho thuê tài chính của VILC giai đoạn từ năm 2023 – 2025

Chi phí hoạt động cho thấy sự kiểm soát tương đối tốt của VILC. Mặc dù tăng 5,6% trong năm 2024 so với 2023, tốc độ tăng này thấp hơn đáng kể so với tốc độ tăng doanh thu, giúp cải thiện biên lợi nhuận. Đáng chú ý hơn, trong năm 2025 so với 2024, chi phí hoạt động chỉ tăng 4,8%, cho thấy hiệu quả quản lý chi phí ngày càng được nâng cao trong bối cảnh doanh thu vẫn tăng trưởng. Điều này có thể xuất phát từ việc tối ưu hóa quy trình, quản lý hiệu quả nguồn lực, hoặc khai thác lợi thế quy mô khi hoạt động kinh doanh mở rộng. Tuy nhiên, điểm nổi bật và đáng quan ngại nhất trong cơ cấu chi phí là sự gia tăng đột biến của chi phí trích lập DPRR. Chi phí này đã tăng vọt 494,4% trong năm 2024 so với 2023, từ 4.329 tỷ đồng lên 25.730 tỷ đồng. Mặc dù tốc độ tăng có chậm lại trong năm 2025 so với 2024 (26,2%), nhưng giá trị tuyệt đối vẫn tiếp tục tăng lên 32.478 tỷ đồng. Sự gia tăng mạnh mẽ của chi phí trích lập DPRR có thể là dấu hiệu cho thấy VILC đang phải đối mặt với rủi ro tín dụng ngày càng cao trong danh mục cho thuê của mình, hoặc công ty đang chủ động tăng cường trích lập để đảm bảo an toàn tài chính theo các quy định nghiêm ngặt hơn về quản lý rủi ro. Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô có thể còn nhiều thách thức, việc các công ty gặp khó khăn trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ là hoàn toàn có thể xảy ra, và việc trích lập DPRR là một biện pháp bắt buộc để phản ánh đúng chất lượng tài sản và đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính.

Mặc dù chi phí trích lập DPRR tăng mạnh, Lợi nhuận trước thuế hoạt động Cho thuê tài chính vẫn đạt mức tăng trưởng ấn tượng 38,0% trong năm 2024 so với 2023 và 31,3% trong năm 2025 so với 2024. Điều này cho thấy hoạt động kinh doanh cốt lõi của VILC vẫn tạo ra lợi nhuận rất tốt, đủ sức bù đắp chi phí hoạt động và một phần lớn chi phí trích lập DPRR gia tăng.

Cuối cùng, thuế thu nhập Công ty (TNDN) cho Cho thuê tài chính cũng tăng đáng kể, với 72,5% trong năm 2024 so với 2023 và 20,8% trong năm 2025 so với 2024. Tỷ lệ tăng trưởng thuế cao hơn lợi nhuận trước thuế trong năm 2024 có thể ngụ ý rằng VILC đã không còn được hưởng các ưu đãi thuế trước đó, hoặc cơ cấu lợi nhuận đã dịch chuyển sang các nguồn chịu thuế suất cao hơn. Lợi nhuận sau thuế hoạt động Cho thuê tài chính vẫn duy trì đà tăng trưởng dương và mạnh mẽ: 29,4% trong năm 2024 so với 2023 và 34,8% trong năm 2025 so với 2024. Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận sau thuế cao hơn tốc độ tăng trưởng doanh thu trong năm 2025 (34,8% so với 23,2%) là một tín hiệu tích cực, cho thấy VILC đã quản lý chi phí hiệu quả hơn trong năm này, bù đắp được chi phí trích lập DPRR gia tăng.

Tóm lại, VILC đã có một giai đoạn kinh doanh hiệu quả và sinh lời bền vững từ hoạt động Cho thuê tài chính. Mặc dù phải đối mặt với áp lực gia tăng từ chi phí trích lập DPRR – một yếu tố phản ánh rủi ro tín dụng trong môi trường kinh doanh – VILC vẫn chứng tỏ khả năng quản lý chi phí hoạt động tốt và duy trì được đà tăng trưởng lợi nhuận đáng kể. Điều này cho thấy khả năng thích nghi và quản lý rủi ro của VILC, giúp công ty đạt được kết quả tài chính tích cực trong bối cảnh thị trường cho thuê tài chính đầy biến động.

2.2.5. Tỷ lệ nợ xấu từ hoạt động cho thuê tài chính Luận văn: Thực trạng cho thuê tài chính tại công ty tài chính.

Nợ xấu từ hoạt động Cho thuê tài chính được xác định là nợ nhóm 3,4,5. Đây là tiêu chí đánh giá chất lượng Cho thuê tài chính và cơ sở định hướng xây dựng việc phát triển dư nợ này trong tương lai của VILC.

Nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn): Giá trị dư nợ nhóm 3 có sự biến động. Sau khi tăng từ 8,1 tỷ đồng (năm 2023) lên 11,9 tỷ đồng (năm 2024), nợ nhóm 3 đã giảm xuống 8,9 tỷ đồng vào năm 2025. Tỷ trọng nợ nhóm 3 trên tổng dư nợ cũng giảm từ 0,55% (năm 2024) xuống 0,30% (năm 2025).

Nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ): Giá trị dư nợ nhóm 4 tăng đều từ 4,1 tỷ đồng (năm 2023) lên 5,4 tỷ đồng (năm 2024) và 7,4 tỷ đồng (năm 2025). Tuy nhiên, tỷ trọng trên tổng dư nợ lại giữ nguyên ở mức 0,25% trong cả ba năm. Điều này cho thấy mặc dù giá trị tuyệt đối của nợ nghi ngờ có tăng, nhưng nó tăng đồng đều với sự mở rộng tổng dư nợ, không tạo ra áp lực tỷ trọng.

Nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn): Đây là nhóm nợ cần đặc biệt quan tâm. Dư nợ nhóm 5 giảm mạnh từ 5,7 tỷ đồng (năm 2023) xuống 2,2 tỷ đồng (năm 2024), và tiếp tục giảm xuống 4,4 tỷ đồng vào năm 2025. Tỷ trọng nợ nhóm 5 trên tổng dư nợ cũng giảm đáng kể từ 0,35% (năm 2023) xuống 0,10% (năm 2024) và 0,15% (năm 2025).

Tổng hợp lại, Tổng nợ xấu nhóm 3+4+5 của VILC cho thấy một bức tranh phức tạp. Về giá trị tuyệt đối, tổng nợ xấu có giảm nhẹ trong năm 2024 (17,4 tỷ đồng so với 17,9 tỷ đồng năm 2023) nhưng lại tăng lên 20,8 tỷ đồng vào năm 2025. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là tỷ trọng tổng nợ xấu trên tổng dư nợ Cho thuê tài chính. Tỷ trọng này đã giảm từ 1,10% (năm 2023) xuống 0,80% (năm 2024) và tiếp tục giảm còn 0,70% (năm 2025).

Mức giảm tỷ trọng tổng nợ xấu, đặc biệt là nợ nhóm 5, trong bối cảnh tổng dư nợ tăng trưởng mạnh, là một tín hiệu rất tích cực về chất lượng quản trị rủi ro của VILC. Điều này cho thấy mặc dù chi phí trích lập DPRR tăng cao, đó có thể là kết quả của việc VILC chủ động tăng cường trích lập dự phòng (có thể theo quy định chặt chẽ hơn hoặc đánh giá rủi ro thận trọng hơn) ngay cả khi tỷ lệ nợ xấu thực tế đang được kiểm soát tốt và có xu hướng giảm tương đối. Việc này giúp củng cố bộ đệm tài chính, đảm bảo VILC có đủ nguồn lực để đối phó với những rủi ro bất ngờ trong tương lai mà không ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận. Trong môi trường kinh tế đầy biến động như hiện nay, việc một công ty tài chính duy trì được tỷ lệ nợ xấu thấp và có xu hướng giảm là một lợi thế cạnh tranh quan trọng, khẳng định năng lực thẩm định tín dụng và thu hồi nợ hiệu quả.

  • Hình 2.3: Tăng trưởng nợ xấu từ Cho thuê tài chính của VILC giai đoạn từ năm 2023 – 2025

Nợ nhóm 3 của VILC cho thấy sự biến động tích cực trong giai đoạn gần đây. Trong năm 2024 so với năm 2023, nợ nhóm 3 tăng đáng kể 46,9%. Sự gia tăng này có thể phản ánh việc một số khoản nợ từ nhóm tốt hơn đã bắt đầu có dấu hiệu suy yếu và chuyển sang nhóm dưới tiêu chuẩn do những tác động của môi trường kinh tế hoặc khó khăn nội tại của khách hàng. Tuy nhiên, một tín hiệu rất tích cực xuất hiện trong năm 2025 so với năm 2024, khi nợ nhóm 3 giảm tới -25,5%. Mức giảm mạnh này cho thấy VILC đã rất hiệu quả trong việc xử lý, thu hồi, hoặc tái cơ cấu các khoản nợ dưới tiêu chuẩn, ngăn chặn chúng chuyển sang các nhóm nợ xấu hơn. Điều này khẳng định năng lực của VILC trong việc kiểm soát sớm rủi ro tín dụng và chủ động cải thiện chất lượng danh mục cho vay. Luận văn: Thực trạng cho thuê tài chính tại công ty tài chính.

Nợ nhóm 4 của VILC cho thấy một xu hướng tăng liên tục. Trong năm 2024 so với năm 2023, nợ nhóm 4 tăng 33,6%. Tiếp đó, trong năm 2025 so với năm 2024, nợ nhóm 4 tiếp tục tăng 36,6%. Mặc dù tốc độ tăng trưởng này là đáng kể, cần phải xem xét nó trong bối cảnh tổng dư nợ cho thuê tài chính của VILC cũng đang tăng trưởng. Nếu tốc độ tăng của nợ nhóm 4 tương đương hoặc thấp hơn tốc độ tăng trưởng tổng dư nợ, thì tỷ lệ nợ nhóm 4 trên tổng dư nợ có thể vẫn được kiểm soát. Tuy nhiên, việc tăng trưởng liên tục của nợ nhóm 4 cảnh báo VILC cần tiếp tục theo dõi sát sao, vì đây là những khoản nợ có nguy cơ chuyển sang nợ có khả năng mất vốn nếu không có biện pháp xử lý kịp thời.

Nợ nhóm 5 là chỉ báo quan trọng nhất về chất lượng tài sản và rủi ro mất vốn thực sự. VILC đã cho thấy một sự cải thiện ngoạn mục ở nhóm này trong giai đoạn đầu, nhưng lại có diễn biến phức tạp trong giai đoạn sau. Trong năm 2024 so với năm 2023, nợ nhóm 5 giảm mạnh tới -61,8%. Mức giảm đột biến này là một thành công lớn, cho thấy VILC đã có những biện pháp quyết liệt và hiệu quả trong việc thu hồi hoặc xử lý các khoản nợ khó đòi nhất, giúp giảm thiểu tổn thất tiềm năng. Tuy nhiên, trong năm 2025 so với năm 2024, nợ nhóm 5 lại tăng vọt 104,9%. Sự gia tăng đột biến này là một tín hiệu đáng báo động và cần được VILC phân tích kỹ lưỡng. Nó có thể xuất phát từ việc một số khoản nợ nghi ngờ (nhóm 4) đã chuyển sang nhóm 5 do không thể thu hồi, hoặc do phát sinh các khoản nợ mới có rủi ro cao.

Phân tích tốc độ biến động của các nhóm nợ xấu cho thấy VILC đang phải đối mặt với những thách thức trong việc duy trì chất lượng tài sản, đặc biệt là sự gia tăng trở lại của nợ nhóm 5 trong năm 2025. Mặc dù công ty đã cho thấy khả năng xử lý hiệu quả nợ nhóm 3 và giảm đáng kể nợ nhóm 5 trong năm 2024, sự gia tăng của nợ nhóm 4 liên tục và nợ nhóm 5 bật tăng trở lại trong năm 2025 đòi hỏi sự chú ý đặc biệt. Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô có thể còn bất ổn, áp lực lên khả năng trả nợ của công ty vẫn hiện hữu. VILC cần tiếp tục tăng cường công tác thẩm định tín dụng, giám sát chặt chẽ chất lượng danh mục cho vay, và triển khai các biện pháp thu hồi nợ, tái cơ cấu nợ một cách quyết liệt để kiểm soát và giảm thiểu rủi ro nợ xấu, đặc biệt là nợ có khả năng mất vốn, nhằm đảm bảo sự ổn định và bền vững của hoạt động cho thuê tài chính trong tương lai.

2.3 Đánh giá thực trạng phát triển hoạt động cho thuê tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn cho thuê tài chính Quốc Tế Việt Nam giai đoạn từ năm 2023 – 2025 Luận văn: Thực trạng cho thuê tài chính tại công ty tài chính.

2.3.1. Những điểm đạt được

Hoạt động cho thuê tài chính của VILC trong giai đoạn 2023-2025 nổi bật với một số điểm mạnh then chốt, khẳng định vị thế và hiệu quả của công ty.

Thứ nhất, tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận mạnh mẽ và bền vững là minh chứng rõ ràng cho hiệu quả kinh doanh của VILC. Doanh thu hoạt động và lợi nhuận sau thuế đều duy trì tốc độ tăng trưởng hai chữ số qua các năm (ví dụ: doanh thu hoạt động tăng 37,6% năm 2024/2023 và 22,6% năm 2025/2024; lợi nhuận sau thuế tăng 36,5% năm 2024/2023 và 27,9% năm 2025/2024). Điều này cho thấy khả năng của VILC trong việc mở rộng quy mô hoạt động và chuyển hóa tăng trưởng doanh thu thành lợi nhuận thực tế một cách hiệu quả.

Thứ hai, hoạt động Cho thuê tài chính là nguồn lực cốt lõi và ổn định, chiếm tỷ trọng áp đảo trên 93% tổng doanh thu hoạt động và có xu hướng tăng nhẹ qua các năm. Sự tập trung này cho phép VILC phát huy tối đa chuyên môn hóa, tối ưu hóa quy trình và nguồn lực, tạo ra lợi thế cạnh tranh trong thị trường ngách của mình.

Thứ ba, khả năng kiểm soát chi phí hoạt động tốt góp phần quan trọng vào việc cải thiện biên lợi nhuận. Tốc độ tăng chi phí hoạt động luôn thấp hơn đáng kể so với tốc độ tăng doanh thu (ví dụ: chi phí hoạt động tăng 5,6% năm 2024/2023 so với doanh thu tăng 37,6%). Điều này thể hiện VILC có năng lực quản lý nội bộ hiệu quả, tối ưu hóa các khoản mục chi phí liên quan đến vận hành.

Thứ tư, chất lượng danh mục cho thuê được kiểm soát tốt với tỷ lệ nợ xấu giảm. Mặc dù tổng dư nợ Cho thuê tài chính tăng trưởng mạnh (từ 2.648 tỷ đồng lên 4.084 tỷ đồng), tỷ trọng tổng nợ xấu (nhóm 3+4+5) trên tổng dư nợ lại có xu hướng giảm liên tục từ 1,10% (năm 2023) xuống 0,70% (năm 2025). Đặc biệt, tỷ trọng nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) duy trì ở mức rất thấp (0,15% năm 2025) sau khi giảm mạnh từ 0,35% (năm 2023). Điều này cho thấy VILC có quy trình thẩm định tín dụng chặt chẽ và khả năng thu hồi, xử lý nợ hiệu quả, giảm thiểu rủi ro tín dụng trong danh mục cho thuê.

Cuối cùng, chiến lược tập trung vào các phân khúc khách hàng và tài sản chiến lược phù hợp với xu hướng thị trường. VILC đã ưu tiên các công ty cổ phần và tài sản là máy móc thiết bị công tác (chiếm trên 60% dư nợ và có tốc độ tăng trưởng cao), phù hợp với định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhu cầu đầu tư cơ sở hạ tầng của Việt Nam. Điều này giúp công ty khai thác hiệu quả các phân khúc thị trường có nhu cầu lớn và ổn định, mang lại hiệu quả kinh doanh cao.

2.3.2. Những điểm hạn chế Luận văn: Thực trạng cho thuê tài chính tại công ty tài chính.

Bên cạnh những điểm mạnh đáng kể, VILC cũng bộc lộ một số hạn chế cần được xem xét để phát triển bền vững hơn.

Thứ nhất, sự phụ thuộc quá lớn vào hoạt động Cho thuê tài chính có thể tạo ra rủi ro tập trung. Với tỷ trọng doanh thu Cho thuê tài chính chiếm hơn 94% tổng doanh thu hoạt động, VILC sẽ rất dễ bị tổn thương nếu thị trường cho thuê tài chính gặp khó khăn lớn hoặc chính sách vĩ mô thay đổi theo hướng bất lợi. Điều này hạn chế khả năng đa dạng hóa nguồn doanh thu và phân tán rủi ro.

Thứ hai, tốc độ tăng trưởng dư nợ có xu hướng chậm lại trong năm 2025, từ 36,3% (2024/2023) xuống 13,2% (2025/2024). Mặc dù vẫn là mức tăng trưởng dương, sự giảm tốc này có thể báo hiệu một giai đoạn bão hòa của thị trường hoặc sự cạnh tranh ngày càng gay gắt từ các định chế tài chính khác, khiến việc mở rộng quy mô trở nên khó khăn hơn.

Thứ ba, sự gia tăng đáng kể của chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng (DPRR) là một yếu tố cần được quan tâm. Mặc dù tỷ lệ nợ xấu thực tế giảm, chi phí DPRR lại tăng vọt 494,4% năm 2024/2023 và 26,2% năm 2025/2024. Điều này có thể cho thấy sự thận trọng của VILC trong việc đối phó với rủi ro tiềm ẩn, nhưng đồng thời cũng tác động đáng kể đến lợi nhuận cuối cùng nếu không được quản lý chặt chẽ.

Thứ tư, sự biến động và giảm sút ở một số phân khúc khách hàng và loại tài sản. Dư nợ từ công ty TNHH và công ty tư nhân có xu hướng giảm trong năm 2025, và các nhóm như cá nhân/hộ gia đình, công ty nhà nước gần như bị loại bỏ khỏi danh mục. Tương tự, dư nợ cho thuê máy móc thiết bị động lực giảm mạnh (-27,6% năm 2025/2024). Sự thu hẹp ở một số phân khúc có thể bỏ lỡ các cơ hội thị trường tiềm năng hoặc làm giảm khả năng đa dạng hóa danh mục cho thuê.

Cuối cùng, sự gia tăng của nợ nhóm 5 trong năm 2025 so với 2024 (104,9%) là một tín hiệu cảnh báo cần được VILC đặc biệt lưu ý. Mặc dù tỷ trọng nợ nhóm 5 trên tổng dư nợ vẫn thấp, nhưng tốc độ tăng trưởng đột biến này cho thấy có những khoản nợ đã chuyển sang trạng thái rủi ro cao nhất, đòi hỏi các biện pháp xử lý kịp thời để tránh tổn thất.

2.3.3. Những nguyên nhân tạo ra hạn chế Luận văn: Thực trạng cho thuê tài chính tại công ty tài chính.

Nguyên nhân của hạn chế về sự phụ thuộc cao vào một hoạt động kinh doanh cốt lõi: Sự phụ thuộc gần như tuyệt đối của VILC vào hoạt động cho thuê tài chính (CTTC), với tỷ trọng doanh thu Cho thuê tài chính chiếm hơn 94% tổng doanh thu hoạt động, có thể xuất phát từ định hướng chiến lược chuyên biệt hóa cao độ của công ty ngay từ khi thành lập. Là một công ty cho thuê tài chính theo giấy phép, VILC tập trung vào thế mạnh cốt lõi là cung cấp giải pháp tài chính cho việc thuê mua tài sản cố định. Điều này giúp VILC tối ưu hóa nguồn lực, xây dựng năng lực chuyên môn sâu và hệ thống vận hành hiệu quả trong lĩnh vực này, tạo ra lợi thế cạnh tranh ban đầu. Tuy nhiên, nguyên nhân sâu xa hơn cho việc thiếu đa dạng hóa nguồn doanh thu có thể là do khuôn khổ pháp lý và quy định hiện hành đối với công ty cho thuê tài chính còn hạn chế các hoạt động tài chính khác so với ngân hàng thương mại, khiến việc mở rộng sang các dịch vụ như cho vay thông thường, bảo lãnh, hay các dịch vụ tư vấn tài chính trở nên khó khăn. Ngoài ra, hạn chế về năng lực phát triển sản phẩm mới và hệ thống công nghệ để hỗ trợ các loại hình dịch vụ tài chính đa dạng hơn cũng là một yếu tố. VILC có thể đã ưu tiên duy trì hiệu quả với mô hình hiện tại mà chưa đặt ưu tiên cao cho việc nghiên cứu và triển khai các nguồn doanh thu bổ sung, tiềm ẩn rủi ro khi thị trường cốt lõi gặp biến động.

Nguyên nhân của hạn chế về tốc độ tăng trưởng tổng dư nợ chậm lại: Sự giảm tốc trong tăng trưởng tổng dư nợ của VILC trong năm 2025 (từ 36,3% năm 2024/2023 xuống 13,2% năm 2025/2024) có thể bắt nguồn từ nhiều yếu tố kết hợp. Thứ nhất, nguyên nhân từ phía thị trường và nhu cầu đầu tư: Sau một giai đoạn phục hồi mạnh mẽ hậu đại dịch, nhu cầu đầu tư máy móc thiết bị, đặc biệt trong một số ngành, có thể đã chững lại hoặc các doanh nghiệp đã hoàn tất chu kỳ đầu tư lớn, dẫn đến nguồn cầu giảm. Thứ hai, cạnh tranh gia tăng từ các định chế tài chính khác: Thị trường cho thuê tài chính đang ngày càng có sự tham gia của nhiều ngân hàng thương mại lớn và các công ty tài chính khác. Với nguồn vốn dồi dào và mạng lưới rộng khắp, các đối thủ này có thể cung cấp các sản phẩm tín dụng cạnh tranh hơn về lãi suất hoặc điều kiện cho vay, tạo áp lực lên thị phần và biên lợi nhuận của VILC, khiến việc mở rộng quy mô trở nên khó khăn hơn. Thứ ba, chính sách quản lý rủi ro thận trọng hơn của VILC: Để đảm bảo chất lượng danh mục cho vay và tuân thủ các quy định quản lý rủi ro ngày càng chặt chẽ, VILC có thể đã áp dụng các tiêu chí thẩm định khách hàng và dự án nghiêm ngặt hơn. Việc này dẫn đến việc từ chối nhiều hồ sơ hoặc quá trình giải ngân chậm hơn, ảnh hưởng trực tiếp đến tốc độ tăng trưởng dư nợ. Thứ tư, hạn chế về nguồn vốn huy động hoặc chi phí vốn tăng lên cũng có thể là nguyên nhân khiến VILC phải điều chỉnh tốc độ mở rộng tín dụng để duy trì hiệu quả, khi chi phí huy động vốn trên thị trường tăng cao. Luận văn: Thực trạng cho thuê tài chính tại công ty tài chính.

Nguyên nhân của hạn chế về sự gia tăng đáng kể của chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng (DPRR): Việc chi phí trích lập DPRR tăng vọt (494,4% năm 2024/2023 và 26,2% năm 2025/2024), mặc dù tỷ lệ nợ xấu có xu hướng giảm tương đối, cho thấy một số nguyên nhân chính. Thứ nhất, thay đổi trong quy định và chuẩn mực kế toán: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các cơ quan quản lý có thể đã ban hành các quy định chặt chẽ hơn về trích lập dự phòng, đặc biệt là việc áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế như IFRS 9 đòi hỏi việc dự phòng dựa trên rủi ro tổn thất kỳ vọng (expected credit loss – ECL) thay vì tổn thất đã phát sinh. Điều này buộc VILC phải tăng mức trích lập để đảm bảo tuân thủ, ngay cả khi nợ chưa thực sự chuyển nhóm xấu. Thứ hai, đánh giá rủi ro thận trọng hơn từ phía VILC: Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu và trong nước còn nhiều biến động và khó lường, VILC có thể đã chủ động đánh giá lại rủi ro danh mục cho vay một cách thận trọng hơn. Việc tăng cường trích lập dự phòng là một biện pháp để tạo “bộ đệm” tài chính, phòng ngừa các cú sốc bất ngờ về chất lượng tín dụng trong tương lai, cho thấy sự chủ động trong quản lý rủi ro. Thứ ba, sự thay đổi trong cấu trúc danh mục cho vay: Mặc dù tổng tỷ lệ nợ xấu giảm, nhưng nếu VILC đang cho vay các khoản có giá trị lớn hơn hoặc cho các khách hàng được đánh giá là tiềm ẩn rủi ro cao hơn (mặc dù vẫn được xếp hạng tốt), điều này có thể yêu cầu mức dự phòng cao hơn cho mỗi khoản vay theo các quy định hiện hành, làm tăng tổng chi phí dự phòng.

Nguyên nhân của hạn chế về sự biến động và thu hẹp ở một số phân khúc khách hàng và loại tài sản: Nguyên nhân dẫn đến sự thu hẹp ở một số phân khúc khách hàng (công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân, cá nhân/hộ gia đình) và loại tài sản (máy móc thiết bị động lực) là đa chiều và mang tính chiến lược. Thứ nhất, đánh giá lại rủi ro tín dụng và hiệu quả: VILC có thể đã nhận thấy rủi ro tín dụng tăng lên hoặc hiệu quả sinh lời giảm sút ở các phân khúc này, đặc biệt đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc cá nhân trong môi trường kinh tế khó khăn và biến động. Điều này dẫn đến việc thắt chặt tiêu chuẩn cho vay hoặc quyết định rút lui khỏi các phân khúc kém hấp dẫn hơn. Thứ hai, sự cạnh tranh không hiệu quả: VILC có thể không có lợi thế cạnh tranh rõ rệt về sản phẩm, dịch vụ hoặc chi phí đối với các phân khúc này so với các định chế tài chính khác (ví dụ, ngân hàng địa phương phục vụ doanh nghiệp nhỏ tốt hơn, hoặc công ty tài chính tiêu dùng chuyên biệt). Thứ ba, thay đổi trong nhu cầu thị trường: Nhu cầu về máy móc thiết bị động lực (như động cơ, máy phát điện) có thể đã giảm do xu hướng chuyển đổi công nghệ sang các loại máy móc mới hiệu quả hơn hoặc thay đổi trong cơ cấu sản xuất của khách hàng. Thứ tư, VILC tập trung nguồn lực vào các phân khúc chủ lực: Nhằm tối ưu hóa hiệu quả và phát huy thế mạnh cốt lõi, VILC có thể đã chủ động tái cấu trúc danh mục, rút vốn khỏi các phân khúc ít hiệu quả hoặc rủi ro cao để dồn lực cho các lĩnh vực cốt lõi có tiềm năng tăng trưởng cao hơn và phù hợp với năng lực của mình, chẳng hạn như máy móc sản xuất vật liệu xây dựng và máy móc ngành xây dựng. Luận văn: Thực trạng cho thuê tài chính tại công ty tài chính.

Nguyên nhân của hạn chế về sự gia tăng đột biến của nợ nhóm 5 trong năm 2025: Sự bật tăng mạnh mẽ của nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) trong năm 2025 so với 2024 (104,9%), sau một giai đoạn giảm sâu, là một tín hiệu đáng lo ngại và có thể do nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, sự chuyển nhóm từ nợ xấu tiềm ẩn hoặc nợ nhóm dưới: Một số khoản nợ từ nhóm 3 hoặc nhóm 4 (dưới tiêu chuẩn, nghi ngờ) có thể đã chuyển sang nhóm 5 do khách hàng không còn khả năng khắc phục tình hình tài chính hoặc các biện pháp thu hồi nợ trước đó không mang lại hiệu quả bền vững. Điều này thường xảy ra khi tình hình kinh doanh của doanh nghiệp khách hàng tiếp tục xấu đi. Thứ hai, phát sinh các khoản nợ mới có rủi ro cao hoặc bị ảnh hưởng nặng nề từ các cú sốc: Mặc dù có chiến lược thận trọng, nhưng vẫn có khả năng VILC đã giải ngân cho một số khoản vay mới mà chất lượng tài sản nhanh chóng suy giảm, hoặc các doanh nghiệp lớn gặp phải các cú sốc nghiêm trọng (ví dụ: chuỗi cung ứng đứt gãy, biến động giá nguyên vật liệu, khó khăn thị trường đầu ra) khiến họ mất khả năng trả nợ. Thứ ba, hiệu quả xử lý nợ chưa bền vững: Mặc dù VILC đã có những biện pháp quyết liệt để giảm nợ nhóm 5 trong năm 2024, việc bật tăng trở lại cho thấy các giải pháp này có thể chưa mang lại hiệu quả bền vững cho toàn bộ danh mục, hoặc có sự chậm trễ trong việc nhận diện và phân loại lại nợ theo đúng chất lượng thực tế. Thứ tư, tác động từ môi trường kinh tế vĩ mô: Các yếu tố vĩ mô tiêu cực kéo dài hoặc diễn biến bất ngờ (ví dụ: lãi suất cao kéo dài, lạm phát, suy giảm tổng cầu) có thể đẩy nhanh quá trình suy yếu của các doanh nghiệp, khiến nhiều khoản nợ từ các nhóm thấp hơn nhanh chóng chuyển sang nợ có khả năng mất vốn.

  • TÓM TẮT CHƯƠNG 2

Chương 2 phân tích thực trạng hoạt động cho thuê tài chính của VILC giai đoạn 2023-2025. VILC đạt tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận ấn tượng, với Cho thuê tài chính là hoạt động cốt lõi và kiểm soát chi phí tốt. Công ty mở rộng quy mô dư nợ, tập trung vào công ty cổ phần và máy móc thiết bị công tác. Dù chi phí dự phòng tăng cao, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ giảm, cho thấy quản trị rủi ro hiệu quả. Tuy nhiên, VILC vẫn đối mặt với rủi ro tập trung, tốc độ tăng trưởng dư nợ chậm lại, và sự biến động nợ nhóm 5, cần đa dạng hóa hoạt động để phát triển bền vững. Luận văn: Thực trạng cho thuê tài chính tại công ty tài chính.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Giải pháp cho thuê tài chính tại công ty tài chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *