Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề ở trường Cao đẳng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề tại trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1 Khái quát chung về trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hải Phòng.
2.1.1 Lịch sử hình thành phát triển
- Tên giao dịch: TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ CÔNG NGHIỆP HẢI PHÒNG
- Địa chỉ: Số 187 Đại lộ Tôn Đức Thắng, xã An Đồng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng
Trường Công nghiệp Hải Phòng được thành lập năm 1961, trực thuộc Sở Công nghiệp Hải Phòng. Nhiệm vụ của nhà trường là bồi dưỡng và đào tạo công nhân, cán bộ kỹ thuật, cán bộ quản lý cho thành phố Hải Phòng và các tỉnh miền bắc, có trụ sở tại phố Quang Trung (nay là phố trần Hưng Đạo), khu học tập và nhà nội trú tại phố Ngô Quyền, (nay là phố Tô Hiệu).
Đầu năm 1964 sơ tán về thôn Hà Nhuận, xã An Hòa, huyện An Hải (nay là huyện An Dương), thành phố Hải Phòng. Chuyển hướng đào tạo xã viên cơ khí nông nghiệp.
Đầu năm 1966 tách ra thành hai trường:
Trường Công nhân kỹ thuật, đóng tại Tứ Kỳ, Hải Dương, Đào tạo Công nhân bậc 3/7 các nghề Điện, Nguội, rèn, gò, hàn, máy nổ.
Trường Trung học Công nghiệp, thuộc bộ Công nghiệp, đóng tại Kinh Môn, Hải Dương, năm 1969 chuyển về Hải An, Hải Phòng. Đào tạo kỹ thuật viên trung cấp công nghiệp cho các tỉnh miền Duyên hải, đào tạo giáo viên nghề cho Quảng Ninh.
Năm 1970 sát nhập hai trường trở lại, đổi tên thành trường Kỹ thuật Công nghiệp, đóng tại huyện Hải An, thành phố Hải Phòng (Đại lộ Tôn Đức Thắng). Năm 1976 đổi tên thành trường Công nhân Cơ điện Hải Phòng
Năm 1994 sát nhập thêm hai trường Thủ công nghiệp Hải Phòng và trường Kỹ thuật và nghiệp vụ Truyền thanh, truyền hình Hải Phòng vào trường Công nhân Cơ điện Hải Phòng, đổi tên thành trường Kỹ thuật và nghiệp vụ Công nghiệp Hải Phòng.
Năm 1996 đổi tên thành trường Đào tạo nghề Công nghiệp Hải Phòng. Năm 1998 đổi tên thành trường Trung học Công nghiệp Hải Phòng
Năm 2007 được nâng cấp thành Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hải Phòng.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức. Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề ở trường Cao đẳng.
Công tác quản lý của trường thực hiện theo chế độ thủ trưởng và dựa vào qui chế dân chủ cơ sở, đảm bảo quyền tự chủ và chịu trách nhiệm của các khoa chuyên môn, các phòng chức năng trong trường.
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của trường CĐN Công nghiệp Hải Phòng
Chức năng nhiệm vụ của các khoa, phòng ban.
- Phòng Đào tạo:
Tham mưu giúp Hiệu trưởng quản lý việc cấp phát văn bằng, chứng chỉ dạy nghề; tổ chức, triển khai thực hiện công tác đào tạo, bao gồm kế hoạch, chương trình, học liệu, tổ chức giảng dạy và chất lượng giảng dạy theo quy chế đào tạo của cấp trên và quy định của Trường đã ban hành.
- Nghiên cứu, xây dựng quy hoạch và kế hoạch công tác đào tạo, bồi dưỡng.
- Chỉ đạo và tổ chức thực hiện các quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng.
- Chỉ đạo, tổ chức thực hiện hoạt động nghiệp vụ sư phạm trong Nhà trường.
- Chịu trách nhiệm trước pháp luật về quy chế đào tạo và cấp phát văn bằng chứng chỉ, công tác ATLĐ.
Phòng Tổ chức – hành chính:
- Tham mưu giúp việc cho Hiệu trưởng quản lý và tổ chức thực hiện công tác tổ chức hành chính, công tác cán bộ, lao động tiền lương, công tác đầu tư XD, công tác bảo vệ tự vệ và công tác văn phòng.
- Giúp Hiệu trưởng tổ chức thực hiện các chế độ chính sách đối với cán bộ, giáo viên, công nhân viên (CBCC) và HSSV.
Phòng công tác học sinh sinh viên:
- Tham mưu đề xuất giúp Hiệu trưởng trong công tác chỉ đạo, kiểm tra và thực hiện công tác giáo dục chính trị tư tưởng, công tác quản lý giáo dục và rèn luyện Học sinh sinh viên (HSSV).
- Tham mưu giúp Hiệu trưởng xây dựng và tổ chức thực hiện các nội quy, quy định trong khu nội trú, trong các hoạt động VHTDTT, vệ sinh môi trường, hoạt động phục vụ ăn ở của HSSV.
Phòng Kế toán: Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề ở trường Cao đẳng.
- Là phòng chức năng giúp Hiệu trưởng quản lý toàn bộ công tác tài chính kế toán của nhà trường, quản lý theo dõi tài sản, quản lý các nguồn vốn.
Trung tâm Đào tạo & Giới thiệu việc làm:
- Tổ chức thực hiện công tác thực tập; các hoạt động dịch vụ việc làm và dạy nghề theo quy định của pháp luật.
- Liên hệ thực tập cho HSSV và tổ chức giới thiệu, tư vấn việc làm cho học sinh ra tốt nghiệp ra trường.
- Tư vấn về việc làm, học nghề, chính sách có liên quan đến quan hệ lao động theo quy định của pháp luật lao động.
- Giới thiệu việc làm cho người lao động; cung ứng và tuyển lao động theo yêu cầu của người sử dụng lao động.
- Thu thập, phân tích và cung ứng thông tin về thị trường lao động, bao gồm: nhu cầu tuyển dụng lao động, nhu cầu việc làm, tiêu chuẩn lao động, tiền lương, tiền công trên địa bàn hoạt động của vùng và cả nước.
- Phối hợp tổ chức dạy nghề theo quy định pháp luật và dạy ngoại ngữ giao tiếp, giáo dục định hướng cho lao động đi xuất khẩu lao động.
- Phối hợp tham gia tổ chức hoạt động sàn giao dịch việc làm.
Các khoa chuyên môn:
- Xây dựng kế hoạch chương trình đào tạo giảng dạy trên cơ sở chương trình khung theo quy định các nghề đào tạo của Khoa.
- Xây dựng quy hoạch phát triển ngành nghề đào tạo thuộc Khoa.
- Xây dựng chương trình đào tạo bồi dưỡng đội ngũ của Khoa.
- Giảng dạy lý thuyết chuyên môn và thực hành nghề các nghề thuộc Khoa và các môn học có liên quan khi được phân công.
- Trực tiếp quản lý toàn bộ CBVC, HSSV đang theo học các ngành nghề của Khoa trên cơ sở nội quy, quy định của Nhà trường, Nhà nước và Pháp luật.
- Quản lý toàn bộ hoạt động của Khoa theo phân cấp quản lý.
- Thực hiện quá trình đào tạo, đào tạo kết hợp với sản xuất và sản xuất thực nghiệm, ứng dụng công nghệ vào các hoạt động giáo dục đào tạo theo mục tiêu chương trình.
- Tổ chức các hoạt động nghiên cứu khoa học trong phạm vi của Khoa. Tham gia giải quyết những vấn đề về kinh tế và các hoạt động khác theo sự phân công của Hiệu trưởng.
- Tổ chức biên soạn đề cương, giáo trình các môn học của những ngành nghề mà Khoa phụ trách trên cơ sở thẩm định của Hội đồng đào tạo.
- Tổ chức kiểm tra theo dõi, đánh giá kết quả và quản lý chất lượng đào tạo giáo dục theo kế hoạch.
- Tổ chức cho CBVC, HSSV tham gia các hoạt động xã hội theo định hướng chung của Nhà trường.
- Tổ chức thực hiện toàn bộ chương trình bảo quản bảo dưỡng sửa chữa các thiết bị trong phạm vi Khoa và toàn trường nếu có phân công của Hiệu trưởng. Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề ở trường Cao đẳng.
- Chịu trách nhiệm về công tác đảm bảo an toàn lao động trong quá trình giảng dạy, học tập của CBGV và HSSV; Công tác an toàn tài sản của đơn vị được giao quản lý.
2.1.3 Đội ngũ cán bộ, giáo viên, viên chức.
Đội ngũ cán bộ, viên chức, giáo viên là một trong những yếu tố hết sức quan trọng, quyết định trong công tác nâng cao chất lượng đào tạo. Nhà trường đã triển khai thực hiện công tác bồi dưỡng đội ngũ cả về lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ đến nay đội ngũ cơ bản đáp ứng yêu cầu theo quy định của tổng cục dạy nghề.
Việc tuyển dụng cán bộ giáo viên nhà trường đã thực hiện đảm bảo đúng quy định, đúng đối tượng trên cơ sở nhu cầu của nhà trường và khả năng đáp ứng về năng lực, trình độ. Công tác quản lý, sử dụng cán bộ giáo viên được nhà trường thực hiện theo đúng pháp lệnh cán bộ công chức, hàng năm có rà soát, đánh giá, phân loại, trên cơ sở đó có kế hoạch luân chuyển, bồi dưỡng đội ngũ.
Hàng năm các giáo viên được đào tạo ngắn hạn nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng, xây dựng chương trình, ngoại ngữ…. của các chương trình dự án đào tạo giáo viên dạy nghề của AFD, JICA tại Đại học Bách Khoa Hà Nội, Đại học Công nghiệp Hà Nội, Đại học sư phạm kỹ thuật Hưng Yên, Đại học Sư phạm kỹ thuật Nam Định.
Công tác bổ nhiệm CB, bố trí GV giảng dạy trên cơ sở nhu cầu từng năm học, từng thời điểm và được thực hiện theo đúng quy trình đảm bảo việc bổ nhiệm CB và bố trí GV giảng dạy theo đúng năng lực, trình độ.
Hiện nay, nhà trường có 136 cán bộ, giáo viên, nhân viên trong đó có 92 giáo viên cơ hữu, 16 giáo viên kiêm chức.
Bảng 2.1: Danh sách cán bộ nhân viên của trường
2.2 Thực trạng chất lượng đào tạo tại trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hải Phòng. Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề ở trường Cao đẳng.
Để đánh giá thực trạng chất lượng đào tạo của Nhà trường, đề tài sử dụng bộ tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục nghề nghiệp do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội ban hành năm 2025.
2.2.1 Đánh giá chất lượng đầu ra:
2.2.1.1 Đánh giá chất lượng đầu ra:
Nhìn chung kết quả đào tạo thường xuyên của nhà trường duy trì ở mức ổn định. Tỷ lệ HSSV đạt mức khá, giỏi cao (trung bình khoảng 30%), còn lại chủ yếu là mức trung bình (khoảng 65%). Bên cạnh đó, tỷ lệ học sinh đạt loại yếu trong kỳ thi tốt nghiệp, rèn luyện cũng như kết quả học tập chung có xu hướng tăng, nhà trường cần có các biện pháp kịp thời nhằm kiểm soát tình hình này.
Bảng 2.2: Kết quả học tập – thi tốt nghiệp – rèn luyện
Tuy nhiên, kết quả này chủ yếu là do nhà trường tự đánh giá căn cứ vào các mục tiêu kiến thức đề ra trong các kỳ thi. Khi HSSV tốt nghiệp hệ trung cấp sẽ tương đương thợ bậc 2, tốt nghiệp hệ cao đẳng tương đương thợ bậc 3. Nhà trường chưa tổ chức thi tay nghề theo bậc thợ cho học sinh sinh viên. Do đó, mặc dù sinh viên có thể đạt lực học giỏi nhưng khi tuyển dụng vẫn không đạt yêu cầu của của doanh nghiệp. Đây là một trong những hạn chế của Nhà trường trong công tác đánh giá năng lực của học sinh thông qua các các kỳ thi viết mà không căn cứ vào các kỳ thi tay nghề. Chính cách đánh giá này đã không khuyến khích được công tác thực hành nghề của sinh viên, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đào tạo của nhà trường.
Để làm rõ vấn đề này, tác giả đã sử dụng cách tiếp cận theo hai phía (bên cung cấp – bên sử dụng). Phương pháp này dùng để đánh giá CLĐTN từ phía cung cấp dịch vụ đào tạo bao gồm: Cán bộ địa phương (15 người), Cán bộ quản lý của trường (31 người), giáo viên (85 người) và phía sử dụng dịch vụ đào tạo bao gồm: HSSV đang học (123 người), HSSV đã tốt nghiệp (43 người) và cán bộ doanh nghiệp (35 người).
Các chỉ tiêu đánh giá đều được chia thành 4 mức:
- Mức 1: Rất phù hợp;
- Mức 2: Phù hợp;
- Mức 3: Chưa phù hợp;
- Mức 4: Không phù hợp;
Sau khi thu thập, tổng hợp, xử lí và phân tích các số liệu từ các bảng hỏi khảo sát, thu được kết quả như sau:
Bảng 2.3: Năng lực học viên tốt nghiệp
Từ bảng 2.3 cho thấy hầu hết CBQL, GV đánh giá SV tốt nghiệp có khả năng áp dụng được kiến thức, kĩ năng đã học để nâng cao được năng suất lao động và chất lượng sản phẩm; nhiều CBQL, GV và cán bộ doanh nghiệp đánh giá SV tốt nghiệp có khả năng học tiếp để nâng cao kiến thức, kĩ năng nghề. Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề ở trường Cao đẳng.
Tuy nhiên, cũng có nhiều CBQL, GV và cán bộ địa phương đánh giá SV tốt nghiệp ít có khả năng tự mở được cơ sở sản xuất, kinh doanh và dịch vụ.
Bảng 2.3 cho thấy chưa có sự đồng nhất trong đánh giá về kiến thức, kĩ năng, tính kỉ luật và tác phong của SV tốt nghiệp đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp, người sử dụng lao động.
- Biểu đồ 2.1: Khả năng đáp ứng về kiến thức và kĩ năng nghề của sinh viên
Từ biểu đồ 2.1 cho thấy nhiều CBQL và GV cho rằng kiến thức, kĩ năng của SV đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp và người sử dụng lao động. Trong khi đó nhiều cán bộ doanh nghiệp và sinh viên đã tốt nghiệp cho rằng hầu hết các sinh viên chưa đáp ứng yêu cầu này.
Nguyên nhân của sự khác biệt trong đánh giá này là do chuẩn đầu ra của trường và chuẩn đầu vào của doanh nghiệp chưa phù hợp. Nhà trường tự xây dựng mục tiêu chương trình đào tạo, trên cơ sở đó đề ra chuẩn kiến thức và kĩ năng nghề. Thực tế cho thấy trong quá trình đào tạo, nhà trường chỉ căn cứ vào các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ đã đề ra để đánh giá. Kết quả học tập của sinh viên luôn đạt từ trung bình trở lên nên CBQL, GV cho rằng kiến thức, kĩ năng của SV đáp ứng yêu cầu doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo quan điểm của người sử dụng lao động thì chất lượng sản phẩm đầu ra của nhà trường chưa đáp ứng yêu cầu của công việc.
- Biểu đồ 2.2: Mức độ đáp ứng về tính kỉ luật và tác phong của học viên
Biểu đồ 2.2 cho thấy đa số CBQL và GV đều cho rằng tính kỉ luật và tác phong của SV đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp. Trong khi đó nhiều SV tốt nghiệp và cán bộ doanh nghiệp không đồng ý với đánh giá này.
Nguyên nhân của sự khác biệt này là do sự kì vọng của GV và CBQL về sinh viên. Nhận xét này dựa trên sự quan sát trật tự của lớp học hoặc thông qua báo cáo của bộ phận đào tạo. Tuy nhiên, trên thực tế, tính kỷ luật và tác phong công nghiệp của sinh chưa đáp ứng được đòi hỏi của các công việc được giao.
2.2.1.2 Hiệu quả đào tạo của trường cao đẳng nghề.
- Bảng 2.4: Hiệu quả đào tạo
Qua bảng 2.4 cho thấy đa số CBQL, GV và cán bộ địa phương đánh giá công tác ĐTN của nhà trường đã góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu lao động và phát triển nhân lực ở địa phương.
Tuy nhiên, cũng có nhiều CBQL, GV và cán bộ doanh nghiệp đánh giá ĐTN chưa thật sự đáp ứng nhu cầu tuyển dụng nhân lực có chất lượng cho các doanh nghiệp; CBQL và GV cũng đã công nhận rằng nhà trường chưa thật sự trở thành nơi thu hút CBQL, GV vào làm việc.
2.2.2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng đầu vào: Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề ở trường Cao đẳng.
2.2.2.1 Mục tiêu và nhiệm vụ:
Trải qua 55 năm kinh nghiệm trong công tác quản lý, đào tạo nghề, Nhà trường đã xác định các mục tiêu, nhiệm rõ ràng, theo từng giai đoạn phát triển, từng năm học, được công bố bằng nhiều hình thức trên các phương tiện thông tin, tài liệu giới thiệu về trường và trên website của trường với đầy đủ các quyết định thành lập và có văn bản xác định mục tiêu. Mọi hoạt động của Nhà trường được thực hiện thông qua Quy chế tổ chức và hoạt động của trường, được phổ biến trong Hội nghị cán bộ-công chức hằng năm.
Tuy nhiên, mục tiêu và nhiệm vụ của Nhà trường chưa được cập nhật thông tin kịp thời trên website của trường. Nhà trường chưa có kế hoạch khảo sát, lấy ý kiến, phân tích đánh giá kết hợp nhiều kênh thông tin làm cơ sở khoa học cho việc điều chỉnh mục tiêu, nhiệm vụ. Mục tiêu đào tạo chưa được cụ thể hóa thành chuẩn đầu ra của các chương trình nghề đào tạo. Trong thời gian tới, nhà trường nên giao trách nhiệm cho các phòng khoa, tổ bộ môn tham gia vào các hoạt động gắn kết, lựa chọn doanh nghiệp đúng chuyên ngành cho học sinh thực tập, giới thiệu việc làm cùng như lấy ý kiến phản hồi từ doanh nghiệp về mục tiêu và chương trình đào tạo, tài liệu giảng dạy… Bên cạnh đó, nhà trường cần nghiên cứu bổ sung qui định về chế độ cho giáo viên đi thực tế cùng với học sinh – sinh viên; qui định sự phối hợp giữa nhà trường với doanh nghiệp trong quá trình đào tạo thực hành của học sinh – sinh viên tại doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện cho giáo viên tiếp cận công nghệ mới; nâng cao chất lượng đào tạo đồng thời cung cấp thông tin tốt cho việc điều chỉnh mục tiêu và nhiệm vụ của nhà trường.
2.2.2.2 Chương trình đào tạo:
Hiện nay, nhà trường có tương đối đầy đủ chương trình các nghề đang đào tạo và các chương trình này được công khai rộng rãi đến các SV. Các chương trình đào tạo được chia thành 3 cấp độ: Sơ cấp nghề, TCN và CĐN cho 14 ngành nghề khối công nghiệp phù hợp như: Nghề Hàn; Nghề cắt gọt; Nghề điện công nghiệp; Kế toán doanh nghiệp; Kỹ thuật sửa chữa, lắp ráp máy tính; Quản trị cơ sở dữ liệu; Kỹ thuật máy lạnh và điều hoà không khí; Công nghệ ô tô; Điện tử công nghiệp; Quản lý kinh doanh điện; Quản trị mạng máy tính; Nguội sửa chữa máy công cụ; Quản trị doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong đó, một số chương trình đào tạo của các nghề đang dạy đã được cụ thể hóa thành các mô đun.
Tuy nhiên, nhà trường chưa làm tốt việc phối hợp với chuyên gia kĩ thuật doanh nghiệp để xây dựng chương trình và công tác cập nhật, bổ sung, điều chỉnh chương trình cho các nghề đào tạo chưa được quan tâm đúng mức. Chưa xây dựng được các chuẩn đầu ra của trường, của ngành và của môn học.
Về số lượng giáo trình, tương đối ổn định qua các năm, số lượng đầu sách khá phong phú.
- Bảng 2.5: Số lượng giáo trình Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề ở trường Cao đẳng.
Tuy nhiên, lượng giáo trình này tương đối cũ, xuất bản từ 3 – 7 năm về trước, chưa được cập nhật thường xuyên, nhất là các tài liệu giảng dạy theo công nghệ tiên tiến hiện nay. Trong thời gian tới, Nhà trường nên bổ sung những tài liệu giảng dạy phù hợp với công nghệ hiện nay nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường
2.2.2.3 Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên:
Thực hiện công tác bồi dưỡng đào tạo, xây dựng đội ngũ CBQL, đội ngũ GV đảm bảo phù hợp với yêu cầu phát triển của trường. Nhà trường đã xây dựng qui hoạch GV, CBQL nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo. Ngoài ra nhà trường còn thực hiện việc qui hoạch đào tạo GV nhằm tăng cường năng lực đội ngũ GV như: cho GV học sau đại học, bồi dưỡng trình độ tin học, ngoại ngữ cho giáo viên.
- Bảng 2.6: Đội ngũ cán bộ quản lí và giáo viên
Về tổng thể, quy mô của đội ngũ giáo viên, CBQL có xu hướng giảm dần. Đội ngũ CBQL, giáo viên chủ yếu ở trình độ đại học, cao đẳng; số giáo viên dạy có khả năng dạy tích hợp (cả lý thuyết và thực hành) đạt tỷ lệ khá cao (55 – 65%). Tuy nhiên số giáo viên đạt tay nghề bậc cao khá khiêm tốn, chỉ khoảng 12 – 13% trong tổng số giáo viên. Bên cạnh đó, các ngành đào tạo nghề mang tính thực hành (điện, hàn, ô tô…) thì thiếu giáo viên, các ngành kinh tế, quản trị cơ sở dữ liệu, công nghệ thông tin… mặc dù không tuyển sinh được nhưng lượng giáo viên lại khá đông. Nhà trường cần rà soát lại nhu cầu đào tạo để có các biện pháp thích hợp về nhân sự, đặc biệt là đội ngũ giáo viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường.
Đầu mỗi năm học các CBQL – GV trong trường đều đăng ký thi đua để phấn đấu thực hiện nhiệm vụ trong năm. Hàng năm nhà trường đều tổ chức hội giảng GV dạy giỏi cấp khoa, cấp trường, nhằm nâng cao nghiệp vụ chuyên môn. Qua đó đánh giá phân loại GV để bồi dưỡng kịp thời về nghiệp vụ chuyên môn.
Hiện nay 100% số CBQL và GV đạt chuẩn về bằng cấp chuyên môn; nhà trường đã chú trọng đến công tác bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm và trình độ tin học, ngoại ngữ. Đội ngũ GV đã chú trọng giảng dạy thực hành và phát huy kinh nghiệm sẵn có của SV.
- Bảng 2.7: Trình độ tin học, ngoại ngữ, chứng chỉ nghề
Trên thực tế tất cả các GV tham gia dạy nghề đều có bằng cấp sư phạm và chuyên môn nghề tương ứng đạt chuẩn theo qui định. Tuy nhiên, đối với nhiều giáo viên, đặc biệt là giáo viên trẻ, tuy có bằng cấp cao nhưng mức độ thành thạo tay nghề, kinh nghiệm giảng dạy còn nhiều hạn chế, đặc biệt là các môn học tích hợp. Trong khi đó, trình độ học vấn của sinh viên thấp nên đòi hỏi GV phải dạy thực hành nhiều và phải dạy theo lối “cầm tay chỉ việc”. Như vậy có thể thấy một số GV đạt chuẩn về sư phạm và chuyên môn nhưng chưa thật sự thành thạo kĩ năng nghề.
Về ngoại ngữ hầu hết các GV thường xuyên sử dụng tiếng Anh để tra cứu, dịch tài liệu. Tuy nhiên tiếng Anh giao tiếp ít nhiều còn hạn chế do ít có điều kiện tiếp xúc với người nước ngoài. Về tin học 100% GV đều sử dụng được tin học để soạn thảo văn bản, soạn giáo trình, giáo án và trình chiếu bài giảng, truy cập mạng tra cứu internet, thiết kế bài giảng điện tử để giờ giảng được sinh động hơn. Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề ở trường Cao đẳng.
Bên cạnh công tác đào tạo chính trong nhà trường, các hoạt động phục vụ cho đào tạo cũng góp phần quan trọng trong sự phát triển nhà trường. Nhà trường có đủ số lượng đội ngũ kỹ thuật viên, nhân viên có trình độ chuyên môn và năng lực phù hợp với vị trí công tác. Nhân viên phòng kế hoạch – tài vụ, phòng tổ chức hành chính, nhân viên tổ cơ điện, y tế, bảo vệ,… đều có trình độ chuyên môn đúng yêu cầu
2.2.2.4 Cơ sở vật chất:
Trường cao đẳng nghề Công nghiệp Hải Phòng được xây dựng trên khuôn viên 4.16 hecta với diện tích xây dựng là 13.250 m2 bao gồm: Khu Giảng đường, Xưởng thực hành Khoa Điện – Điện tử, Khoa cơ khí, Khoa Công nghệ thông tin, Khoa sư phạm kỹ thuật, Thư viện, Ký túc xá, Nhà thi đấu thể thao.
Ngoài các phòng thực hành truyền thống, nhà trường đã xây dựng các xưởng thực hành công nghệ cao như: Phòng thực hành hàn TIG – MIG – MAG, phòng thực hành cắt gọt kim loại trên các máy gia công CNC, trạm tổ hợp gia công CNC, Phòng thực hành điều khiển tự động hóa với các dây chuyền sản xuất tự động linh hoạt lập trình PLC, phòng thí nghiệm máy điện, truyền động điện, điện tử vi điều khiển, Vi xử lý, điều khiển Robot …
- Bảng 2.8: Cơ sở vật chất
Nhìn chung, cở sở vật chất của Nhà trường không có sự biến động. Nhà trường có đầy đủ các khối công trình thuận tiện cho hoạt động của nhà trường. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật của nhà trường đảm bảo được các hoạt động dạy nghề, thực hành, thực nghiệm trong nhà trường. Có đầy đủ các hệ thống điện, hệ thống cấp thoát nước, đường nội bộ, các xưởng đều có hệ thống thông gió, hệ thống phòng cháy chữa cháy được các cơ quan chức năng hàng năm kiểm tra đánh giá đảm bảo tốt các điều kiện kỹ thuật. Hệ thống đường nội bộ được bê tông hóa đảm bảo việc phòng cháy chữa cháy, vận chuyển thiết bị đến nhà xưởng an toàn, đường dẫn từ nhà làm việc tới phòng học lý thuyết, hội trường, thư viện, xưởng thực hành được che mát kiên cố.
Về thư viện: Thư viện của Trường được bố trí chung trong dãy phòng học lý thuyết, có 2 phòng đọc sách và 1 phòng đọc điện tử, có 1 nhân viên thư viện chuyên trách. Hàng ngày, trong giờ hành chính các em học sinh-sinh viên và CB-CNV-GV đến thư viện để đọc sách, tra cứu văn bản, hoặc tìm tài liệu để soạn giáo án và soạn giáo trình môn học.
Các em học sinh-sinh viên khi đến thư viện đọc sách-mượn sách phải xuất trình thẻ thư viện hoặc thẻ học sinh-sinh viên. Sử dụng thư viện điện tử đúng mục đích học tập, được nhân viên phòng máy tính thường xuyên quản lý hoạt động thư viện.
Ngoài ra thư viện còn là nơi để các em HS-SV nhận thư liên lạc từ gia đình gởi đến, và còn là nơi để đọc các loại báo, tạp chí. Công tác quản lý thư viện được tin học hoá, hàng năm Trường có bổ sung tập giáo trình do Nhà trường tự biên soạn. Tuy nhiên, các sách chuyên ngành Nhà trường đã mua tích lũy nhiều năm trước đây, nên đa số các sách chuyên môn của nhà trường đều được xuất bản cách đây từ 3 năm đến 7 năm về trước. Trang thiết bị tại thư viện còn thiếu, các hoạt động trong thư viện chủ yếu là tra cứu mục lục, đọc tại chỗ và mượn sách về nhà; thư viện chưa hoạt động vào các buổi tối trong tuần.
Hệ thống thiết bị máy tính luôn hoạt động bình thường, nhờ có sự hỗ trợ của giáo viên và học sinh học nghề sửa chữa và lắp ráp máy tính tại trường. Nhà trường cũng đã triển khai 5s tại khoa Cơ khí, điện – điện tử, CNTT.
2.2.2.5 Quản lý tài chính: Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề ở trường Cao đẳng.
Về công tác quản lý tài chính kế toán của trường được thực hiện theo đúng qui định của Nhà Nước và qui chế chi tiêu nội bộ của nhà Trường. Nguồn kinh phí bao gồm kinh phí Ngân Sách nhà nước cấp, học phí của học sinh, các khoản thu từ hoạt động liên kết đào tạo… luôn được sử dụng ưu tiên cho các hoạt động phục vụ đào tạo và nâng cao thu nhập cho cán bộ giáo viên – công nhân viên. Các nguồn thu từ dịch vụ dùng chi cho hoạt động thường xuyên, mua sắm, sửa chữa ký túc xá và khấu hao cơ sở vật chất dùng cho hoạt động dịch vụ. Các kế hoạch, dự toán ngân sách hàng năm được lập dựa vào nhu cầu thực tế thông qua tình hình sử dụng kinh phí các năm trước cân đối cho phù hợp, đúng mục đích và mục tiêu phát triển của Nhà trường.
- Công tác lập kế hoạch tài chính của nhà Trường đạt chuẩn theo hướng dẫn, đáp ứng được yêu cầu về quản lý tài chính.
- Công tác quản lý tài chính đảm bảo đúng quy định của nhà nước, đảm bảo tính minh bạch và công khai.
Bảng 2.9: Báo cáo thu chi
Qua bảng 2.9 cho thấy, Kế hoạch tài chính của Trường phụ thuộc vào định mức Ngân sách nhà nước cấp cho đào tạo. Tuy nhiên, kinh phí đào tạo từ Ngân sách cấp còn hạn hẹp.
Trên cơ sở nguồn thu học phí và nguồn ngân sách cấp hàng năm, thông qua quy chế chi tiêu nội bộ kiểm soát các nguồn chi một cách tiết kiệm để tăng thu nhập cho CBGVCNV. Tăng cường phát triển các hoạt động dịch vụ tạo nguồn thu đảm bảo các dịch vụ cho người học nghề. Kinh phí đào tạo từ Ngân sách cấp hàng năm tính theo số học sinh – sinh viên chính quy còn theo định mức cũ (từ năm 1998), nên kinh phí hoạt động còn hạn hẹp. Bên cạnh đó, tuy được duyệt 70 biên chế CBGV-CNV nhưng chưa được cấp kinh phí hoạt động hàng năm cho số biên chế được phê duyệt.
2.2.3 Các tiêu chí phản ánh quá trình đào tạo
2.2.3.1 Tổ chức và quản lí:
Cơ cấu tổ chức bộ máy của trường hoạt động theo Điều lệ trường, nhà trường có Hội đồng trường. Ngoài ra nhà trường đã thành lập một số hội đồng tư vấn nhằm phục vụ cho nhu cầu hoạt động và phát triển trường như: Hội đồng thi đua khen thưởng, Hội đồng tuyển sinh, Hội đồng khoa học, … Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề ở trường Cao đẳng.
Cơ cấu các phòng, khoa chức năng phù hợp với cơ cấu ngành nghề và quy mô đào tạo của nhà trường, hiện tại trường có 5 phòng chức năng (Phòng Đào tạo, Phòng Quản lý HSSV; Phòng Tổ chức – Hành chính; Phòng Kế toán; Phòng quản trị đời sống) phục vụ hoạt động đào tạo, 6 khoa chuyên môn (Khoa Cơ Bản; khoa Điện – Điện tử ; khoa Kinh tế; khoa Cơ khí; Khoa Công nghệ thông tin; Khoa Sư phạm kỹ thuật) và Trung tâm đào tạo và xúc tiến việc làm.
Các trưởng Phòng, Khoa, Tổ bộ môn quyết định các hoạt động tại đơn vị do mình phụ trách và chịu trách nhiệm về hiệu quả hoạt động của đơn vị đảm bảo đúng với chủ trương của lãnh đạo nhà trường, đúng pháp luật; có mối quan hệ phối hợp để giải quyết những công việc mang tính chất liên quan đến nhiều đơn vị trong trường do đó công việc được giải quyết đúng tiến độ và hiệu quả. Đây chính là sự thể hiện công tác phối hợp tốt trong công việc và xây dựng được quy trình làm việc chặt chẽ giữa các đơn vị trong trường.
2.2.3.2 Hoạt động tuyển sinh:
Nhà trường đã xây dựng quy chế tuyển sinh nhằm phục vụ công tác tuyển sinh. Phương thức và tiêu chí tuyển sinh được cụ thể hóa trong kế hoạch và thông báo tuyển sinh của trường hàng năm.
Nhà trường thông báo tuyển sinh rộng rãi trên Pano tại trường, gửi đến các cơ sở liên kết, các Trung tâm dạy nghề cấp huyện, các trường THPT nhằm cung cấp thông tin đến tận nơi cho người học.
Tuy nhiên, do nhận thức của gia đình, người học về lựa chọn ngành nghề, nên đã ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đầu vào (trình độ học sinh không đồng đều). Trường cũng đã cố gắng tổ chức tốt khâu tư vấn nghề, tuy nhiên việc chọn nghề là quyết định bởi người học do vậy có nghề đào tạo ra chưa được tuyển dụng, một số ngành nghề nhu cầu tuyển dụng lớn nhưng lại khó thu hút thí sinh.
- Bảng 2.10: Kết quả tuyển sinh và quy mô đào tạo
Về tổng thể, số lượng tuyển sinh của trường hàng năm rất thấp và có xu hướng giảm dần. Thậm chí có một số ngành (Quản trị doanh nghiệp, quản trị mạng…) không tuyển sinh được sinh viên. Một số nghề chỉ tuyển sinh được rất ít nhưng vẫn phải đào tạo để giữ nghề. Chỉ có ngành Điện công nghiệp, điện tử công nghiệp, hàn, kỹ thuật ô tô, kỹ thuật máy lạnh là đủ lượng học sinh để mở lớp. Điều này cho thấy các doanh nghiệp và người lao động đã và đang chú trọng hơn đến các ngành mang tính thực hành nghề nhiều hơn. Do đó, Nhà trường cần quan tâm đến sự thay đổi nhu cầu lao động theo cơ cấu ngành nghề để điều chỉnh cho phù hợp với nhu cầu của thị trường lao động.
2.2.3.3 Hoạt động dạy học Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề ở trường Cao đẳng.
Nhà trường đã thực hiện đa dạng hóa các phương thức tổ chức đào tạo, với phương thức dạy nghề dài hạn tập trung, ngắn hạn, đào tạo theo địa chỉ ở các doanh nghiệp để đáp ứng yêu cầu của người học, người sử dụng lao động.
Trong quá trình đào tạo nhà trường cũng đã quan hệ với các doanh nghiệp cho học sinh tham quan công nghệ sản xuất, gửi HSSV đi thực tập tốt nghiệp đúng chuyên ngành đào tạo tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, qua đó các doanh nghiệp có thể nhận HSSV vào làm việc sau khi ra trường. Trong quá trình thực tập, các giáo viên ngoài việc kiểm tra quá trình thực tập của học sinh, còn tiếp cận công nghệ sản xuất hiện đại, cách thức quản lý để có những đề xuất điều chỉnh, cập nhật, thay đổi nội dung chương trình, bổ sung môn học, trang bị kỹ năng mềm cho học sinh.
Các doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng lao động đến liên hệ nhà trường để thông báo tuyển dụng, phòng đào tạo kết hợp với phòng Công tác HSSV để giới thiệu các HSSV đúng chuyên ngành cho doanh nghiệp.
Định kỳ, trường đã tổ chức thu thập ý kiến của các doanh nghiệp nhận học sinh thực tập tốt nghiệp, các giáo viên hướng dẫn thực tập tiếp xúc trực tiếp cơ sở sản xuất của các doanh nghiệp, ghi nhận ý kiến đánh giá chất lượng giảng dạy, thông qua phiếu khảo sát để đánh giá cán bộ quản lý, giáo viên, người học về chất lượng của các phương thức đào tạo.
Thông qua mối quan hệ các doanh nghiệp, hội cựu học sinh trường, các trung tâm giới thiệu việc làm, người sử dụng lao động, là điều kiện thuận lợi thực hiện đa dạng hóa các phương thức đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu người học, người sử dụng lao động.
Bên cạnh đó nhà trường tổ chức đối thoại trực tiếp với học sinh, sinh viên. Thông qua đối thoại nhà trường nắm bắt được các luồng thông tin hữu ích giúp nhà trường điều chỉnh hoạt động dạy và học, các dịch vụ phục vụ người học ngày một tốt hơn.
Tuy nhiên, một số nghề như quản trị kinh doanh, công nghệ thông tin… còn hạn chế trong công tác phối hợp cùng với doanh nghiệp trong đào tạo cũng như giải quyết việc làm cho học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp. Việc thu thập ý kiến đánh giá của cán bộ, giáo viên, người học về chất lượng của các phương thức đào tạo so với mục tiêu đề ra chưa được quan tâm thỏa đáng, chưa có giải pháp cụ thể nhằm khắc phục những hạn chế trong công tác đào tạo. Trong những năm tới, nhà trường cần tăng cường hơn nữa công tác phối hợp doanh nghiệp trong đào tạo nghề. Định kỳ lấy ý kiến của các doanh nghiệp, cán bộ quản lý, giáo viên, HSSV tốt nghiệp ra trường về phương thức đào tạo của nhà trường ứng với thực tế sản xuất.
Để đảm bảo kế hoạch đào tạo được thực hiện đúng tiến độ, chất lượng và hiệu quả, Phòng đào tạo và các khoa, tổ bộ môn chịu trách nhiệm theo dõi tiến độ giảng dạy, giám sát kế hoạch và nội dung giảng dạy theo đúng chương trình đào tạo của từng nghề. Việc kiểm tra giám sát được thực hiện định kỳ hằng tháng và đột xuất qua các biện pháp như: kiểm tra kế hoạch giáo viên, lịch trình giảng dạy, giáo án, giáo trình, sổ gọi tên lên lớp, dự giờ giáo viên…
Tuy nhiên, trình độ đầu vào của học sinh còn nhiều hạn chế nên ít nhiều cũng ảnh hưởng đến công tác dạy và học của nhà trường. Bên cạnh đó, công tác giám sát giảng dạy thực hiện chưa nghiêm túc.
2.2.3.4 Công tác đánh giá kết quả học tập của học viên: Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề ở trường Cao đẳng.
Đánh giá đúng, chính xác kết quả học tập của học sinh có ý nghĩa quyết định đến việc phân loại học sinh và xác định chất lượng giảng dạy của giáo viên, trên cơ sở đó thực hiện việc điều chỉnh phương pháp giảng dạy cho phù hợp với trình độ HSSV.
Trong đề cương chi tiết của mỗi môn học, mô đun và trong quy chế qui định thi, kiểm tra và công nhận tốt của trường thể hiện rất rõ nét việc đánh giá coi trọng quá trình; cụ thể trong quá trình học của SV – HS nếu không được đánh giá định kỳ thì không đủ điều kiện kiểm tra kết thúc môn học, mô đun. Qua đó các giáo viên thực hiện đúng theo quy chế đã đề ra, đánh giá kết quả học tập của HSSV theo hướng coi trọng quá trình, đảm bảo số bài kiểm tra định kỳ, và phản hồi kịp thời cho HSSV.
Quy trình tổ chức kiểm tra kết thúc môn học, mô đun, thi tốt nghiệp được nhà trường thực hiện nghiêm túc, khách quan từ việc tổ chức kiểm tra, thi (ra đề thi, coi thi, chấm thi, tổng hợp và thông báo kết quả. Các bài thi viết: các giáo viên xây dựng ngân hàng đề thi, giao cho phòng đào tạo bốc thăm 2 – 5 đề để tổ chức thi. Mỗi phòng thi có hai giám thị coi thi. Bài thi được rọc phách, do 2 giáo viên chấm độc lập. Bài thi vấn đáp do 2 giáo viên hỏi thi. Các bài thi thực hành đều có mã hóa sản phẩm, có biên bản chấm thi do 2 giáo viên chấm.
Tóm lại: Quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập của người học thể hiện tính nghiêm túc, công bằng. Các phương pháp kiểm tra đánh giá phù hợp với đặc thù môn học, phương thức, hình thức và mục tiêu đào tạo. Tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo hướng coi trọng quá trình học. Kịp thời phản ánh kết quả học tập cho người học và chất lượng giảng dạy của giáo viên. Đề thi, kiểm tra được sử dụng từ ngân hàng đề thi của nhà trường. Tuy nhiên, hiện nay nhà trường đánh giá căn cứ vào các mục tiêu kiến thức đề ra trong các kỳ thi, chưa tổ chức thi tay nghề theo bậc thợ cho học sinh sinh viên. Do đó, mặc dù sinh viên có thể đạt lực học giỏi nhưng khi tuyển dụng vẫn không đạt yêu cầu của của doanh nghiệp. Trong thời gian tới, nhà trường nên kết hợp công tác đánh giá học sinh trên cả hai phương diện: Thi kết thúc học phần và thi tay nghề nhằm khuyến khích giáo viên và học sinh chú trọng vào công tác thực hành nghề, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường.
2.2.3.5 Mối liên kết với doanh nghiệp:
Để HSSV yên tâm trong việc học tập và tìm kiếm việc làm phù hợp với ngành nghề đào tạo sau khi tốt nghiệp nhà trường thường xuyên cung cấp các thông tin về nghề nghiệp, thị trường lao động và việc làm cho HSSV thông qua việc niêm yết các thông tin tuyển dụng của các doanh nghiệp xin tuyển dụng, đưa các thông tin nhu cầu lao động của doanh nghiệp về các khoa chuyên ngành để các khoa cùng thông tin đến HSSV. Nhà trường luôn giữ mối quan hệ tốt với các công ty như: công ty TNHH Canon, công ty Yayaki (Nhật Bản), công ty TNHH Toyota Boshoku Hải Phòng… giải quyết cho học sinh, sinh viên thực tập (vận dụng giữa lý thuyết và thực hành) giúp các em làm quen với kỷ luật lao động và rèn luyện tay nghề. Tổ chức hội thảo đại diện khu công nghiệp nomura, tràng Duệ, Vsip… Dự án hợp tác với tổ chức Jica, thành phố KitaKyushu(KiTa) Nhật Bản.
Hàng năm nhà trường đều tổ chức các buổi tư cho HSSV chuẩn bị tốt nghiệp nhằm trợ giúp giới thiệu việc làm cho người học sau khi tốt nghiệp. Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề ở trường Cao đẳng.
Nhà trường thực hiện công tác lần theo dấu vết HSSV để theo dõi và nắm bắt được tình hình HSSV sau khi tốt nghiệp ra trường để từ đó định hướng điều chỉnh các ngành nghề đào tạo cũng như trợ giúp giới thiệu việc làm cho HSSV.
Ngoài ra trong các đợt thực tập cuối khoá của HSSV, các khoa đều có giới thiệu cho HSSV đến các doanh nghiệp để thực tập đồng thời thông qua đó các doanh nghiệp có thể nhận HSSV sau khi ra trường.
Tuy nhiên, Nhà trường chưa tổ chức ngày hội việc làm cho sinh viên, chưa tổ chức cho HSSV tham gia sàn giao dịch việc làm do Trung tâm giới thiệu việc làm tổ chức. Công tác kết hợp với các doanh nghiệp, trung tâm giới thiệu việc làm, tổ chức các buổi gặp mặt với HSSV chuẩn bị ra trường để tạo điều kiện để HSSV tiếp xúc với các nhà tuyển dụng cũng chưa được quan tâm thỏa đáng.
Tóm lại: Nhà trường đảm bảo việc cung cấp, cập nhật thông tin việc làm, thị trường lao động, giới thiệu việc làm cho người học. Tuy nhiên công tác tổ chức hội chợ việc làm, tổ chức cho HSSV tham gia sàn giao dịch việc làm chưa được quan tâm thỏa đáng. Trong thời gian tới, Nhà trường cần tăng cường hơn nữa mối quan hệ giữa nhà trường với doanh nghiệp trong việc nắm bắt nhu cầu ngành nghề, giải quyết việc làm cho HSSV sau tốt nghiệp.
2.2.3.6 Hợp tác quốc tế và nghiên cứu khoa học
Nhà trường đã ký dự án hợp tác với tổ chức Jica, thành phố KitaKyushu(KiTa) Nhật Bản. Các giáo viên của trường được cử đi học, tập huấn trong và ngoài nước. Kết quả các hoạt động hợp tác quốc tế giúp trường, cán bộ quản lý, giáo viên nâng cao năng lực chuyên môn trong thời gian đến, nhận được sự chuyển giao công nghệ mới, trang thiết bị hiện đại phù hợp với xu thế phát triển khoa học công nghệ hiện nay và đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp, người sử dụng lao động. Tuy có sự ký kết với các tổ chức quốc tế nhưng chưa mang lại hiệu quả về nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị cho trường. Trong thời gian đến trường tiếp tục thúc đẩy triển khai thực hiện dự án nhằm mang lại lợi ích kinh tế và nâng cao chất lượng cho đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý.
Về công tác nghiên cứu khoa học đã được nhà trường quan tâm đúng mức. Nhà trường đã xây dựng cơ chế quản lý và chủ trương khuyến khích tạo điều kiện thuận lợi về thời gian, kinh phí, đồng thời xây dựng qui chế khen thưởng cho cho cán bộ, giáo viên học tập nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, hiện nay Nhà trường đã có các công trình nghiên cứu khoa học, sáng kiến kinh nghiệm nhưng chưa có đề tài NCKH cấp Bộ.
2.2.4 Tiêu chí về vận hành và tự đánh giá: Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề ở trường Cao đẳng.
Hệ thống thanh tra của trường gồm: Ban Thanh tra nhân dân, thanh tra đào tạo. Hàng năm Ban thanh tra nhân dân xây dựng kế hoạch thanh tra giám sát, tiến hành phối hợp với các đơn vị chức năng để xử lý, giải quyết các công việc liên quan, có tổng kết định kỳ, đánh giá và báo cáo BGH. Ban thanh tra nhân dân thực hiện việc kiểm tra giám sát các hoạt động của nhà trường như chỉ tiêu thi đua của các Phòng, Khoa đăng ký từ đầu năm học, thực hiện chế độ chính sách…
Thông qua thực hiện kế hoạch đề ra, việc kiểm tra định kỳ và thường xuyên, đột xuất các bộ phận thanh tra, giám sát của nhà trường báo cáo lãnh đạo nhà trường để có hướng xử lý giải quyết kịp thời nhằm giải đáp thắc mắc của CBGV và học sinh trong nhà trường trong các cuộc họp giao ban và sinh hoạt chào cờ hàng tuần, chỉ đạo các hoạt động cho phù hợp với nghị quyết đã đề ra, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của nhà trường.
Đội ngũ cán bộ thanh tra của nhà trường đã được tham gia các lớp tập huấn về công tác thanh tra đào tạo nghề và là cộng tác viên thanh tra tổng cục dạy nghề. Nên việc thanh tra, kiểm tra hoạt động dạy nghề của nhà trường được lên kế hoạch hàng năm. Qua thanh tra, kiểm tra đánh giá đã giúp cho đội ngũ viên chức giáo viên ý thức được trách nhiệm thực hiện công việc chuyên môn, nghiệp vụ của mình và qua đó đã đề ra và thực hiện tốt các giải pháp cải tiến, nâng cao hiệu quả đào tạo. Nhà trường nên tiếp tục cải tiến phương pháp và nội dung thanh tra, tăng cường công tác bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ thanh tra trong nhà trường.
Về công tác tự đánh giá chất lượng đào tạo: Hiện nay nhà trường mới chỉ thực hiện công tác tự kiểm định chất lượng đào tạo (kiểm định bên trong), chưa có hệ thống đánh giá ngoài. Trong thời gian tới, Nhà trường nên thực hiện kiểm định ngoài để đánh giá chất lượng đào tạo cũng như quá trình quản lý của Nhà trường nhằm đánh giá kịp thời, chính xác chất lượng đào tạo, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp kịp thời góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường.
2.3 Đánh giá về chất lượng đào tạo nghề của trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hải Phòng Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề ở trường Cao đẳng.
2.3.1 Kết quả đạt được
Về chất lượng đầu ra
Sinh viên tốt nghiệp có khả năng áp dụng được kiến thức, kĩ năng đã học để nâng cao được năng suất lao động và chất lượng sản phẩm.
Về chất lượng đầu vào
Về mục tiêu, nhiệm vụ: Nhà trường đã xác định các mục tiêu, nhiệm rõ ràng, theo từng giai đoạn phát triển, từng năm học, được công bố bằng nhiều hình thức trên các phương tiện thông tin, tài liệu giới thiệu về trường và trên website của trường.
Về chương trình đào tạo: Nhà trường có tương đối đầy đủ chương trình các nghề đang đào tạo và các chương trình này được công khai rộng rãi đến các SV.
Về đội ngũ cán bộ quản lí và giáo viên: Hiện nay 100% số CBQL và GV đạt chuẩn về bằng cấp chuyên môn, hàng năm đã xây dựng kế hoạch đào tạo bồi dưỡng CBGV, luôn tạo điều kiện về thời gian cũng như kinh phí cho CBGV đi học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ.
Về thiết bị, vật tư dạy nghề: Cơ sở vật chất, thiết bị dạy nghề đã cung ứng kịp thời, đầy đủ phục vụ giảng dạy.
Về Quản lí tài chính: Nhà trường có nguồn thu tài chính đáp ứng nhu cầu để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ dạy nghề và thực hiện tốt việc lập báo cáo tài chính, lưu trữ hồ sơ, sổ sách chứng từ kế toán và công khai, minh bạch về tài chính theo qui định.
Chất lượng quá trình đào tạo
Về công tác tổ chức và quản lí: Cơ cấu các phòng, khoa chức năng phù hợp với cơ cấu ngành nghề và quy mô đào tạo của nhà trường.
Về kết quả tuyển sinh: Nhà trường đã xây dựng quy chế tuyển sinh, phương thức và tiêu chí tuyển sinh được cụ thể hóa trong kế hoạch và thông báo tuyển sinh của trường.
Về hoạt động dạy học: Nhà trường đã đa dạng hóa các hình thức đào tạo, thực hiện liên kết với các doanh nghiệp trong công tác đào tạo. Nhà trường đã thu thập ý kiến đánh giá của cán bộ, giáo viên, người học về chất lượng của các phương thức đào tạo so với mục tiêu đề ra.
Về mối liên kết với các doanh nghiệp: Nhà trường đã chủ động kí kết hợp đồng đào tạo và cung ứng lao động cho doanh nghiệp.
Một số qui trình cần thiết để quản lí hệ thống chất lượng đào tạo
Đối với các qui chế chi tiêu nội bộ, qui trình đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá CBQL, GV và qui trình kiểm tra, thi tốt nghiệp, cấp chứng chỉ nghề của nhà trường được sự đánh giá là tương đối hoàn chỉnh.
Vận hành và tự đánh giá hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo Nhà trường đã bố trí cán bộ đào tạo kiêm nhiệm công tác ĐBCL. Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác đào tạo của Nhà trường cũng còn nhiều hạn chế.
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế ảnh hưởng tới CLĐT.Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề ở trường Cao đẳng.
Hạn chế:
- Về chất lượng đầu ra
Chất lượng và hiệu quả đào tạo của trường chưa thật sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Hầu hết các cán bộ kỹ thuật của doanh nghiệp, người trực tiếp sử dụng các SV tốt nghiệp cho rằng kiến thức, kĩ năng, tính kỉ luật và tác phong của SV tốt nghiệp chưa thật sự đáp ứng yêu cầu của công việc.
Đối với khách hàng bên trong, nhà trường chưa thật sự trở thành nơi thu hút CBQL, GV vào làm việc.
- Về chất lượng đầu vào
Về mục tiêu, nhiệm vụ: Mục tiêu đào tạo chưa được cụ thể hóa thành chuẩn đầu ra của các chương trình nghề đào tạo.
Về chương trình đào tạo: Mặc dù Nhà trường áp dụng chương trình khung có sẵn của các trường nghề, nhưng khi thực hiện hay bị “cắt giảm”. Vì thế, có những kiến thức kĩ năng cần thiết cho thực tế bị loại bỏ, tạo ra sự chênh nhau giữa chuẩn kĩ năng và mục tiêu được thiết kế trong chương trình đào tạo.
Bên cạnh đó, Nhà tường chưa xây dựng được các chuẩn đầu ra của trường, của ngành và của môn học.
Về đội ngũ cán bộ quản lí và giáo viên: Số giáo viên đạt tay nghề bậc cao (bậc 6 – 7) khá khiêm tốn, chỉ khoảng 12 – 13% trong tổng số giáo viên.
Về thiết bị, vật tư dạy nghề: Các sách chuyên ngành khá cũ, chưa thường xuyên cập nhật các đầu sách mới; chủng loại của các thiết bị dạy nghề này chưa phù hợp với việc thực hành kĩ năng nghề theo yêu cầu của doanh nghiệp và thực tiễn sản xuất.
- Chất lượng quá trình đào tạo
Về công tác tổ chức và quản lí: Chưa thực hiện đánh giá chất lượng CBQL, GV định kì theo hiệu quả công việc,
Về kết quả tuyển sinh: Số lượng tuyển sinh của trường thấp và có xu hướng giảm dần; thậm chí có một số ngành không tuyển được học sinh. Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề ở trường Cao đẳng.
Về hoạt động dạy học: Công tác thu thập, phân tích ý kiến đánh giá của cán bộ, giáo viên, người học về CLĐT chưa được quan tâm đúng mức; chưa tổ chức thi tay nghề theo bậc thợ cho học sinh sinh viên.
Về mối liên kết với các doanh nghiệp: Nhà trường chưa làm tốt việc mời cán bộ kĩ thuật doanh nghiệp tham gia công tác xây dựng đề cương, tham gia giảng dạy, chấm thi tốt nghiệp và hướng dẫn sinh viên thực hành.
Một số qui trình cần thiết để quản lí hệ thống chất lượng đào tạo
- Công tác phối hợp giải quyết việc làm cho SV tốt nghiệp và theo dấu SV sau tốt nghiệp chưa được quan tâm thỏa đáng.
Vận hành và tự đánh giá hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo
- Công tác chỉ đạo kiểm tra, đánh giá công việc chưa bám sát theo các tiêu chí, chỉ số, chưa thật sự tuân theo qui trình, thủ tục đã ban hành.
- Nhìn chung chất lượng và hiệu quả đào tạo ở nhà trường còn nhiều hạn chế, chưa thật sự đáp ứng nhu cầu của khách hàng
Các nguyên nhân khách quan ảnh hưởng đến CLĐT của Nhà trường
- Cơ chế chính sách giải quyết việc làm cho học viên còn nhiều bất cập:
Nhà nước chưa có có lộ trình bắt buộc các doanh nghiệp phối hợp với các trường nghề trong đào tạo cung ứng lao động, đào tạo lại hoặc bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho công nhân;
- Chất lượng đầu vào của HSSV còn hạn chế:
Đa số học sinh có trình độ học vấn thấp, điều kiện kinh tế khó khăn. Ngoài ra, tâm lí của các sinh viên là chỉ học những nghề nào có thu nhập ngay. Điều này làm hạn chế đến số lượng và chất lượng đầu vào của SV ở nhà trường.
Các nguyên nhân chủ quan ảnh hưởng đến CLĐT của Nhà trường
- Chưa cụ thể hóa các mục tiêu đào tạo thành chuẩn đầu ra của các chương trình nghề đào tạo:
Thực chất của chuẩn đầu ra chính là mục tiêu đào tạo được định hướng theo nhu cầu của khách hàng.
Khi xây dựng mục tiêu đào tạo, nhà trường chưa khảo sát kĩ thực trạng nhu cầu học nghề, việc làm của người lao động và thế mạnh về phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương. Lãnh đạo nhà trường vẫn còn nặng tư tưởng: “Dạy những gì mình có, chưa dạy những gì mà khách hàng cần”. Nghề đào tạo chỉ dừng lại ở nhu cầu của người học nghề mà chưa thực gắn với việc giải quyết việc làm cho SV sau tốt nghiệp.
Nhà trường chưa quan tâm đến ý kiến phản hồi từ phía doanh nghiệp, bên cạnh đó nhà trường chưa phân biệt rõ sự giống và khác nhau giữa mục tiêu đào tạo và chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo.
Từ sự dễ dãi trong xét tuyển đầu vào đã dẫn đến dễ dãi trong rèn luyện vì sợ SV bỏ học. Mặt khác, Nhà trường chủ yếu tập trung dạy kiến thức và kĩ năng nghề, không chú tâm rèn luyện tính kỉ luật và tác phong cho SV. Các nguyên nhân này cũng đã góp phần làm cho phẩm chất và năng lực của SV tốt nghiệp chưa thật thật sự phù hợp với “chuẩn đầu ra” đã xác định và đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp và thực tiễn sản xuất. Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề ở trường Cao đẳng.
- Chất lượng đội ngũ giáo viên còn hạn chế:
Do đội ngũ GV cơ hữu ở nhà trường chưa được thường xuyên bồi dưỡng và tham quan thực tập sản xuất tại doanh nghiệp để nâng cao kĩ năng nghề. Trong khi đó, nhà trường chưa thu hút được đội ngũ cán bộ kĩ thuật của doanh nghiệp tham gia giảng dạy thực hành. Chính vì thế, đội ngũ GV tuy đủ chuẩn về chuyên môn, nhưng chưa thành thạo kĩ năng nghề. Với chất lượng đầu vào của SV thấp, chỉ thích hợp với phương thức giảng dạy theo kiểu “cầm tay chỉ việc”, nên với đội ngũ GV chưa thật sự thành thạo kĩ năng nghề thì rất khó đào tạo ra được các SV có các kĩ năng nghề cơ bản để đáp ứng ngay yêu cầu sử dụng của doanh nghiệp và đòi hỏi của thực tiễn sản xuất. Do vậy hầu hết SV sau khi tốt nghiệp phải đào tạo lại.
- Chưa thật sự quan tâm đúng mức công tác giám sát giảng dạy:
Qui trình kiểm tra, giám sát giảng dạy còn sơ sài, chưa cụ thể được trách nhiệm của từng bộ phận, cá nhân, chưa có tiêu chí, chỉ số đánh giá cụ thể, nên khó thực hiện và đánh giá kết quả thực hiện công việc theo qui trình. Việc kiểm tra, giám sát giảng dạy chỉ dừng lại ở việc kiểm tra sĩ số lớp học và việc chấp hành lịch giảng dạy của GV, mà chưa quan tâm đến nội dung, phương pháp và chất lượng giảng dạy của GV và nguyện vọng của SV dẫn đến hạn chế chất lượng dạy học ở nhà trường.
- Chưa đánh giá chính xác kết quả học tập của học viên:
Nhà trường chưa thực hiện công tác đánh giá sinh viên dựa theo tay nghề bậc thợ; chưa chủ động mời cán bộ kĩ thuật doanh nghiệp tham gia hội đồng thi chấm thi tốt nghiệp.
- Mối liên hệ với các doanh nghiệp còn lỏng lẻo:
Qui trình phối hợp giải quyết việc làm cho SV tốt nghiệp và qui trình theo dấu SV sau tốt nghiệp còn khá sơ sài. Biểu hiện cụ thể là chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà trường với doanh nghiệp để giải quyết việc làm tại chỗ cho SV, chưa tổ chức tốt ngày hội việc làm theo định kì.
- Các qui trình quản lí chưa hoàn chỉnh, chưa thường xuyên tự kiểm tra, đánh giá hệ thống đảm bảo chất lượng đào tạo:
Nhà trường chưa ban hành được qui trình xây dựng, bổ sung chỉnh sửa chương trình, qui trình kiểm tra, giám sát giảng dạy và qui trình phối hợp giải quyết việc làm cho SV tốt nghiệp, qui trình theo dấu SV sau tốt nghiệp.
Các bộ phòng ban, khoa chưa thực sự quan tâm đến công tác góp ý cho các qui trình, thủ tục đó, vì tâm lí họ nghĩ cái gì liên quan tới họ thì mới góp ý còn không thì thôi.
Một số phòng ban đã xây dựng qui trình và mô tả công việc của từng bô phận, cá nhân, nhưng chưa xây dựng được các tiêu chí, chỉ số cụ thể cho các bản mô tả công việc đó, nên khó đánh giá hiệu quả công việc của CBQL, GV theo qui trình.
Việc chỉ đạo kiểm tra, đánh giá công việc của các bộ phận và cá nhân chưa bám sát theo các tiêu chí, chỉ số và chưa thật sự tuân theo qui trình, thủ tục.
Mặt khác, các qui trình, thủ tục chưa rõ ràng hoặc chưa thống nhất, nên CBQL, GV chưa thật sự hiểu và thực hiện đúng các qui trình và thủ tục do Nhà trường ban hành. Một số CBQL và GV tuy có làm theo qui trình, nhưng chủ quan bỏ sót một số bước trong qui trình. Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề ở trường Cao đẳng.
Nhà trường có cán bộ kiêm nhiệm về ĐBCL, nhưng chưa phát huy hết trách nhiệm để duy trì và cũng cố hệ thống ĐBCL. Chính vì thế sau khi kết thúc kiểm định chất lượng, nhà trường vẫn trở về với cung cách quản lí hành chính – tập trung.
Kết luận chương 2
Nâng cao chất lượng đào tạo là vấn đề cấp thiết, đồng thời cũng là thách thức lớn đối với nhà trường, cũng như yêu cầu về cấp bách về nhân lực có chất lượng của các doanh nghiệp. Qua khảo sát bằng phiếu hỏi ý kiến kết hợp với phỏng vấn CBQL, GV, SV đang học, SV tốt nghiệp, cán bộ doanh nghiệp và cán bộ địa phương có sử dụng SV tốt nghiệp về thực trạng chất lượng đào tạo của Nhà trường có các ưu điểm nổi bật như:
Sinh viên tốt nghiệp có khả năng áp dụng được kiến thức, kĩ năng đã học để nâng cao được năng suất lao động và chất lượng sản phẩm; Mục tiêu, nhiệm vụ của nhà trường tương đối phù hợp với kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, thể hiện thành mục tiêu cụ thể trong các chương trình nghề đào tạo và đã được cụ thể hóa thành các mô đun giảng dạy; Số lượng thiết bị dạy nghề đáp ứng tối thiểu yêu cầu thực hành; Tổ chức các lớp nghề là phù hợp; Nhà trường đã chủ động kí kết hợp đồng đào tạo và cung ứng lao động cho doanh nghiệp và đã thiết lập chuẩn và qui trình cho một số nội dung đào tạo.
- Tồn tại:
Khởi đầu từ việc chưa làm tốt việc phối hợp với cán bộ kĩ thuật doanh nghiệp trong việc cập nhật, bổ sung, điều chỉnh chương trình và đánh giá kết quả học tập của SV, nên mục tiêu của các chương trình nghề đào tạo chưa được cụ thể hóa thành chuẩn đầu ra, hoặc nếu có thì các chuẩn đầu ra này chưa thật sự phù hợp với yêu cầu sử dụng lao động của địa phương và doanh nghiệp.
Các nhân tố đầu vào còn nhiều bất cập: Số lượng tuyển sinh thấp, chất lượng đầu vào cùa SV còn hạn chế, đội ngũ GV chưa thật sự thành thạo kĩ năng nghề.
Đối với quá trình đào tạo: Chưa ban hành các qui trình quản lí cho các lĩnh vực QLCL, cùng với việc chỉ đạo kiểm tra, đánh giá công việc chưa bám sát theo các tiêu chí, chỉ số, chưa thật sự tuân theo qui trình, thủ tục đã đề ra. Chính vì thế, các bộ phận, bộ môn chưa có sự phối hợp đồng bộ để thực hiện có hiệu quả các hoạt động QLCL.
Những tồn tại nêu trên đã góp phần làm cho sản phẩm đào tạo ở nhà trường chưa thật sự đáp ứng nhu cầu nhân lực có chất lượng cho các doanh nghiệp và khả năng ổn định việc làm tại chỗ cho SV sau tốt nghiệp còn gặp nhiều khó khăn. Các tồn tại này xuất phát từ những nguyên nhân sau:
Về mặt khách quan:
- Cơ chế chính sách giải quyết việc làm cho SV còn nhiều bất cập;
- Chất lượng đầu vào của học sinh sinh viên còn hạn chế.
Về mặt chủ quan:
- Chưa tiếp cận nhu cầu khách hàng để cụ thể hóa các mục tiêu đào tạo thành chuẩn đầu ra của các chương trình nghề đào tạo; Luận văn: Thực trạng chất lượng đào tạo nghề ở trường Cao đẳng.
- Chưa thật sự quan tâm đúng mức đến công tác giám sát giảng dạy;
- Chưa đánh giá sinh viên thông qua thi tay nghề bậc thợ;
- Chưa thiết lập, duy trì và cũng cố mối quan hệ với doanh nghiệp trong giải quyết việc làm cho SV sau tốt nghiệp;
- Các qui trình quản lí chưa hoàn chỉnh, chưa thường xuyên tự kiểm tra, đánh giá hệ thống ĐBCL đào tạo.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp chất lượng đào tạo ở trường Cao đẳng nghề

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

