Luận văn: Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech Tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT LUẬN VĂN

  • Luận văn: THÚC ĐẨY TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN THÔNG QUA FINTECH TẠI VIỆT NAM

Tài chính toàn diện là ưu tiên toàn cầu nhằm xây dựng hệ thống phục vụ mọi tầng lớp thông qua các dịch vụ phù hợp, thuận tiện và chi phí cho cá nhân và doanh nghiệp, từ đó hỗ trợ phát triển quốc gia. Ở Việt Nam, Quyết định số 149/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 22 tháng 01 năm 2020 nêu chỉ tiêu “Ít nhất 80% người trưởng thành có tài khoản giao dịch tại ngân hàng”. Fintech được xem là động lực then chốt để đạt mục tiêu này.

Nghiên cứu đánh giá mối quan hệ giữa Fintech và tài chính toàn diện tại Việt Nam. Sử dụng bộ dữ liệu Global Findex 2024 cho Việt Nam, tác giả ước lượng mô hình Probit liên hệ tài chính toàn diện với các biến Fintech gồm: Sở hữu tài khoản tiền di động, thanh toán hóa đơn tiện ích bằng điện thoại, nhận các khoản chi trả qua điện thoại, và sở hữu điện thoại di động, cùng các đặc điểm cơ bản khác.

Kết quả cho thấy các biến Fintech gồm sở hữu tài khoản tiền di động, thanh toán hóa đơn bằng điện thoại và nhận chi trả qua điện thoại đều có tác động dương và có ý nghĩa thống kê. Trình độ học vấn và thu nhập cũng làm tăng xác suất được bao hàm, nhóm học vấn cao và nhóm thu nhập cao có tác động mạnh hơn. Biến tuổi và bình phương tuổi đều có ý nghĩa thống kê. Luận văn từ đó đưa ra kiến nghị chính sách nhằm thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech. Những đóng góp này giúp cung cấp cái nhìn tổng quan cho sự phát triển Fintech trong tương lai. Ngân hàng nhà nước Việt Nam và Chính phủ cần ban hành chính sách tạo thuận lợi để thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech.

Từ khóa: Fintech, tài chính toàn diện, Việt Nam, Sở hữu tài khoản tiền di động, Ngân hàng Thế giới.

CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU

Chương 1 trình bày đề tài nghiên cứu, xác định câu hỏi nghiên cứu, nêu rõ mục tiêu, phạm vi và phương pháp; đồng thời khái quát vấn đề nghiên cứu và cấu trúc của luận văn.

1.1 ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Luận văn: Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech.

Tài chính toàn diện ngày càng quan trọng trong thời đại số, tăng cường khả năng tiếp cận nguồn tài chính chính thức đối với các hộ gia đình còn thiếu dịch vụ và doanh nghiệp vừa và nhỏ, vừa mang lại lợi ích cho tài chính công và hệ thống ngân hàng, thúc đẩy hoạt động kinh tế và củng cố yêu cầu đẩy nhanh tài chính toàn diện. Nhiều bằng chứng (Karlan và các cộng sự, 2016; Demirgüç‑Kunt và các cộng sự, 2017) cho thấy tài chính toàn diện giúp người dân gửi tiết kiệm, vay vốn và thực hiện giao dịch thuận tiện hơn. Nhờ đó, các hộ gia đình, các nhân trước đây bị bỏ sót có thể tiếp cận dịch vụ để cải thiện cuộc sống. Fintech đóng vai trò trung tâm khi cắt giảm chi phí và mở rộng khả năng chi trả.

Bên cạnh đó, cung cấp dịch vụ tài chính rộng hơn hỗ trợ doanh nhân và chủ doanh nghiệp vừa và nhỏ mở rộng kinh doanh, vốn được phân bổ hiệu quả hơn, nguồn cung tín dụng gia tăng và mức độ tài chính toàn diện sâu rộng hơn. Fintech đồng thời tạo điều kiện cho mô hình kinh doanh mới, gia tăng cạnh tranh và giảm chi phí tiếp cận dịch vụ tài chính; cung cấp công cụ và hạ tầng để ghép nối cung – cầu hiệu quả, củng cố giám sát – quản lý rủi ro (Ozili, 2018). Tuy nhiên, tác động có thể mang tính nghịch chiều với một số nhóm dễ tổn thương; vai trò của học vấn, kỹ năng số, nghề nghiệp và bối cảnh địa phương có thể tạo rào cản cho người đến sau (Ryu, 2018).

Các nền kinh tế phát triển như Hoa Kỳ, Vương quốc Anh và Úc liên tục hoàn thiện chiến lược tài chính toàn diện; công nghệ cao được tích hợp vào dịch vụ tài chính nhằm mở rộng tiếp cận quản trị rủi ro, đầu tư và tín dụng (Chou, 2019; How và các cộng sự, 2020; Ozili, 2020). Một số quốc gia châu Phi đã đạt tiến bộ đáng kể và xây dựng hạ tầng hỗ trợ ngân hàng nước ngoài và dịch vụ đổi mới. Tại Việt Nam, số hóa thanh toán mới được triển khai gần đây. Dù độ phủ điện thoại di động cao, tỷ lệ người trưởng thành có tài khoản tại tổ chức tài chính còn khiêm tốn so với trung bình thế giới (Ngân hàng Thế giới, 2018).

Từ năm 2016, Chính phủ triển khai Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt theo Quyết định 2545/QĐ‑TTg với mục tiêu thúc đẩy thanh toán điện tử trong thương mại điện tử, nâng tỷ lệ chấp nhận thanh toán không tiền mặt trong các dịch vụ tiện ích; ưu tiên phương tiện hiện đại cho cả khu vực nông thôn và đô thị, và nâng tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên có tài khoản tại tổ chức tín dụng. Các mục tiêu này chưa đạt trọn vẹn. Vì vậy, việc đánh giá tác động của Fintech tới tài chính toàn diện ở Việt Nam có ý nghĩa thực tiễn cao. Luận văn khai thác dữ liệu sơ cấp của Cơ sở dữ liệu Global Findex 2024 về tài chính toàn diện thực tiễn tại Việt Nam để kiểm định mối quan hệ này.

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu tổng quát

Nghiên cứu này phân tích thực nghiệm tác động của fintech đối với tài chính toàn diện ở cấp độ cá nhân tại Việt Nam, sử dụng dữ liệu vi mô từ cơ sở dữ liệu Global Findex năm 2024. Cụ thể, nghiên cứu nhằm xem xét vai trò của fintech trong việc nâng cao tài chính toàn diện. Các kết quả nghiên cứu được kỳ vọng cung cấp hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy tài chính toàn diện phù hợp với các mục tiêu phát triển bền vững. Luận văn: Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech.

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

  • Phân tích tác động của fintech đối với tài chính toàn diện tại Việt Nam dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan.
  • Xác định các yếu tố fintech có tác động mạnh nhất đến tài chính toàn diện.
  • Đề xuất các khuyến nghị chính sách nhằm củng cố tài chính toàn diện thông qua tác động đáng kể của fintech tại Việt Nam.

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Sau khi xác định các mục tiêu nghiên cứu như trên, luận văn đề ra một số câu hỏi nghiên cứu như sau:

  • Fintech có thúc đẩy tài chính toàn diện tại Việt Nam một cách có ý nghĩa thống kê dựa trên cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm hay không?
  • Những yếu tố fintech nào có tác động thực nghiệm mạnh nhất đến tài chính toàn diện?
  • Từ các kết quả thực nghiệm, có thể rút ra những khuyến nghị chính sách nào cho Việt Nam?

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu là Fintech tác động đến tài chính toàn diện và các yếu tố của Fintech tác động đến tài chính toàn diện.

Phạm vi nghiên cứu bao gồm khảo sát 1000 quan sát tại Việt Nam của Ngân hàng Thế giới năm 2024, Cơ sở dữ liệu Global Findex 2024 về tài chính toàn diện mới nhất.

1.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Luận văn: Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech.

1.5.1 Phương pháp hồi quy

Luận văn sử dụng mô hình định lượng Probit ước lượng trên phần mềm Stata 17 để kiểm định giả thuyết, dựa vào dữ liệu sơ cấp. Các biến Fintech gồm sở hữu tài khoản tiền di động, thanh toán hóa đơn bằng điện thoại, nhận chi trả qua điện thoại và sở hữu điện thoại, kèm các biến kiểm soát nhân khẩu, xã hội.

1.5.2 Dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu được khai thác từ Cơ sở dữ liệu Global Findex 2024 về tài chính toàn diện tại Việt Nam do Nhóm Nghiên cứu Phát triển và Đơn vị Tài chính & Phát triển Khu vực Tư nhân của Ngân hàng Thế giới biên soạn. Các chỉ báo được xây dựng từ phản hồi khảo sát của gần 150.000 người trưởng thành tại 144 nền kinh tế, đại diện cho hơn 97% dân số thế giới. Mẫu Việt Nam gồm 1.000 quan sát với thông tin về độ tuổi, trình độ học vấn, giới tính, thu nhập hộ gia đình, mức độ sử dụng dịch vụ tài chính và các chỉ báo liên quan.

Các đợt khảo sát được sử dụng để kiểm định các nhân tố quyết định tiềm năng của tài chính toàn diện và để xem xét khoảng cách loại trừ tài chính, qua đó cung cấp bằng chứng phục vụ hoạch định chính sách thúc đẩy tài chính toàn diện tại Việt Nam.

Ngoài ra, dữ liệu sơ cấp của Việt Nam từ bộ dữ liệu được dùng để định lượng mức đóng góp của các yếu tố cụ thể đối với tài chính toàn diện.

1.6 ĐÓNG GÓP CỦA NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này các yếu tố Fintech ảnh hưởng đến tài chính toàn diện tại Việt Nam và đánh giá mức độ tác động của chúng. Phân tích dựa trên các khung lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước về tác động của từng yếu tố đến tài chính toàn diện, kết hợp với 1.000 quan sát cho Việt Nam năm 2024. Trên cơ sở kết quả thực nghiệm, luận văn đề xuất các khuyến nghị nhằm cải thiện tài chính toàn diện ở Việt Nam, đồng thời gợi ý các hướng nghiên cứu tiếp theo để khắc phục những hạn chế còn lại của nghiên cứu. Luận văn: Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech.

1.7 BỐ CỤC NGHIÊN CỨU

Loại trừ phụ lục, mục lục và tài liệu tham khảo, nghiên cứu được trình bày trong năm chương:

Chương 1: Giới thiệu

Tóm lược bối cảnh nghiên cứu, mục tiêu, phạm vi và đối tượng; mô tả ngắn gọn phương pháp; nêu các đóng góp và cấu trúc tổng thể của nghiên cứu.

Chương 2: Tổng quan nghiên cứu

Tổng hợp các nghiên cứu trước về Fintech và tài chính toàn diện, những khái niệm, thực nghiệm và khoảng trống nghiên cứu liên quan đến bối cảnh Việt Nam.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Mô tả cách tiếp cận định lượng, gồm đặc tả mô hình, định nghĩa biến, nguồn dữ liệu và ước lượng hồi quy. Xem xét từng yếu tố trong mô hình và giải thích cách sử dụng để đánh giá ảnh hưởng đến tài chính toàn diện.

Chương 4: Kết quả thực nghiệm và thảo luận

Trình bày các kết quả thực nghiệm cho Việt Nam và phân tích cách các yếu tố đã chọn trong mô hình tác động tới tài chính toàn diện.

Chương 5: Khuyến nghị và kết luận

Đề xuất khuyến nghị chính sách nhằm hỗ trợ phát triển tài chính toàn diện ở Việt Nam; kết luận bằng cách tóm lược các đóng góp và nêu những hạn chế gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo.

CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Chương 2 định nghĩa khái niệm về Fintech và tài chính toàn diện, thực hiện tổng quan nghiên cứu, và tổng hợp các phát hiện trước đó nhằm định hướng đặc tả mô hình và phương pháp nghiên cứu.

2.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐO LƯỜNG

2.1.1 Khái niệm Fintech Luận văn: Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech.

Fintech, viết tắt của công nghệ tài chính, lần đầu tiên xuất hiện vào năm 2014 trong các báo cáo ngành của các công ty tư vấn toàn cầu (Lai và Samers, 2021). Qua thời gian, fintech đã thu hút sự quan tâm đáng kể nhờ tốc độ phát triển nhanh chóng và tác động sâu rộng đến nhiều khía cạnh của đời sống. Thuật ngữ fintech thường được sử dụng thay thế cho “tài chính internet” và “tài chính số”, đặc biệt tại Trung Quốc, nơi thuật ngữ “tài chính internet” phổ biến hơn (Hua và Huang, 2021). Một số nghiên cứu khác đề cập đến fintech dưới các khái niệm như công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), tiền di động, thanh toán di động và ngân hàng di động (Lagna và Ravishankar, 2022). Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện nhằm phân tích tác động của fintech đối với bao trùm tài chính, đặc biệt trong bối cảnh ICT4D (Công nghệ Thông tin và Truyền thông vì Phát triển).

Fintech thường được hiểu là sự ra đời của các dịch vụ tài chính đổi mới dựa trên công nghệ do các công ty khởi nghiệp cung cấp, bao gồm gọi vốn cộng đồng (crowdfunding), cho vay ngang hàng (peer-to-peer – P2P) và các công nghệ số nền tảng như blockchain và trí tuệ nhân tạo (Bollinger và Yao, 2018). Mặc dù fintech bao hàm phổ ứng dụng và phân loại rộng (Bollinger và Yao, 2018), khái niệm này nhìn chung có thể được cấu thành từ ba thành tố chính: công nghệ, dịch vụ tài chính và sự liên kết giữa hai yếu tố này (Lai và Samers, 2021). Palmié và cộng sự (2020) phác thảo tiến trình phát triển của fintech qua ba làn sóng riêng biệt: (1) thanh toán điện tử; (2) blockchain và tiền mã hóa; (3) trí tuệ nhân tạo và các ứng dụng của nó trong các lĩnh vực như cho vay số, tài chính cá nhân, ngân hàng trực tuyến và di động, cho vay ngang hàng, quản lý đầu tư, thanh toán, gọi vốn cộng đồng, insurtech và regtech.

Gần đây, một hình thức gọi vốn cộng đồng mới – gọi vốn cộng đồng vì mục tiêu xã hội (prosocial crowdfunding) – đã xuất hiện. Các tổ chức tài chính vi mô có thể huy động vốn từ các nhà cho vay vì mục tiêu xã hội thông qua các nền tảng như Kiva, Zidisha và Milaap. Jancenelle và Javalgi (2018) cho rằng loại hình gọi vốn này có thể tác động tích cực đến bao trùm tài chính. Bên cạnh đó, tiền di động (mobile money) ngày càng trở nên phổ biến trên toàn cầu, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển có hệ thống ngân hàng và thị trường vốn kém phát triển, cùng mức độ bao trùm kinh tế thấp. Các nghiên cứu (Pelletier và cộng sự, 2020; Senyo và cộng sự, 2020; Senyo và Osabutey, 2020) nhấn mạnh vai trò quan trọng của tiền di động trong việc thúc đẩy bao trùm tài chính tại các khu vực này. Việc áp dụng rộng rãi tiền di động được lý giải bởi các yếu tố như giảm chi phí, tính thuận tiện (Dong và cộng sự, 2018) và sự thành công của các hệ thống như M-Pesa tại Kenya (Duncombe và Boateng, 2009; Lashitew và cộng sự, 2019; Oborn và cộng sự, 2019; Lagna và Ravishankar, 2022; Lai và Samers, 2021).

2.1.2 Đo lường Fintech Luận văn: Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech.

Fintech có thể được đo lường theo nhiều cách tùy thuộc câu hỏi nghiên cứu và bối cảnh quốc gia (xem Bảng 2.1). Nền kinh tế phát triển, ví dụ New Zealand, Shiau và cộng sự (2020) đánh giá các ứng dụng Blockchain giúp giảm chi phí trên mỗi giao dịch về mặt chất lượng. Nghiên cứu ở Hoa Kỳ, Chou (2019) xem xét kênh cho vay ứng dụng Trí tuê nhận tạo (AI) nhằm mở rộng tài chính toàn diện. Cách tiếp cận tương tự được How và cộng sự (2020) áp dụng cho quốc gia Úc khi nghiên cứu các ứng dụng dựa trên Trí tuê nhận tạo (AI). Ở những thị trường có tốc độ mở rộng Fintech nhanh như Trung Quốc, các nghiên cứu thường tập trung vào các nhóm sản phẩm cụ thể, cho vay, quỹ thị trường tiền tệ, và thanh toán trực tuyến như các cơ chế thu hẹp khoảng cách tiếp cận và hỗ trợ phát triển nông thôn. Tương tự, Tsai và Peng (2017) đo lường Fintech thông qua các đổi mới như tài trợ chuỗi cung ứng trực tuyến, qua đó mở rộng tiếp cận cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa còn thiếu dịch vụ.

Tại các nền kinh tế đang phát triển như Kenya, Ghana, Uganda và Ấn Độ, các nhà nghiên cứu thường sử dụng các chỉ báo hành vi để đại diện cho Fintech, phản ánh tiền di động và thanh toán số (bao gồm gửi và nhận tiền). Ở Nairobi, Kim (2020) định nghĩa Fintech là tiền di động, một hệ thống chuyển tiền dựa trên SMS, thiết kế nhằm đơn giản hóa và giảm chi phí dịch vụ ngân hàng với đăng ký miễn phí. Mbiti và Weil (2016) sử dụng ngân hàng số ở Kenya, nhấn mạnh chức năng chuyển tiền. Tại Ghana, Abayaa và cộng sự (2020) kết hợp sở hữu tài khoản tiền di động với đặc điểm cá nhân; Akomea Frimpong và cộng sự (2019) nghiên cứu Fintech thông qua mức độ sử dụng tiền di động. Ở Uganda, Bongomin và Ntayi (2020) đo lường việc chấp nhận và sử dụng tiền di động bằng bảng hỏi. Với Tây và Nam Á, Fintech thường được phản ánh bằng cường độ tiếp cận ngân hàng di động, bao gồm việc cá nhân có duy trì tài khoản ngân hàng di động riêng hay không. Trong nghiên cứu xuyên quốc gia, Asongu và cộng sự (2019) đại diện Fintech bằng việc sử dụng điện thoại di động để trả hóa đơn cũng như gửi và nhận tiền, và liên hệ các hành vi này với giảm nghèo và bất bình đẳng.

Các biến công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) cũng được dùng như chỉ báo bổ trợ khi nghiên cứu các kết quả xã hội gắn với tài chính toàn diện. Asongu và Odhiambo (2019) sử dụng mật độ thuê bao di động, tỷ lệ thâm nhập Internet và số thuê bao băng rộng cố định ở châu Phi để xem xét vai trò của chúng trong việc thu hẹp khoảng cách việc làm của phụ nữ và nâng cao mức độ toàn diện. Nagpal và cộng sự (2020) coi Fintech là dịch vụ tài chính số, được đo bằng số thuê bao di động và tỷ lệ thâm nhập Internet, những thước đo thiên về ICT giúp giải thích mô hình toàn diện giữa các quốc gia. Tchamyou và cộng sự (2018) tương tự áp dụng các chỉ báo ICT để phân tích bất bình đẳng thu nhập và phát triển tài chính tại 48 nền kinh tế châu Phi.

Tổng thể, tiền di động và thanh toán số vẫn là các thước đo Fintech được sử dụng thường xuyên nhất trong bối cảnh các quốc gia thu nhập thấp và đang phát triển. Luận văn: Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech.

  • Bảng 2.1. Đo lường Fintech trong các nghiên cứu

Kế thừa các nghiên cứu trước, nghiên cứu này phát triển một thước đo Fintech bao quát hơn cho Việt Nam bằng cách xây dựng một bộ các biến đo lường (xem Bảng 2.2).

  • Bảng 2.2 Đơn vị đo lường Fintech

2.1.3 Khái niệm tài chính toàn diện

Tài chính toàn diện được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, như việc sử dụng các dịch vụ tài chính chính thức (Allen và các cộng sự, 2016), một trạng thái kinh tế trong đó cá nhân và doanh nghiệp có thể tiếp cận các dịch vụ tài chính thiết yếu (Amidžić và cộng sự, 2014), hoặc một quá trình bảo đảm khả năng tiếp cận, sự sẵn có và việc sử dụng các dịch vụ tài chính đối với mọi thành viên trong xã hội (Sarma và Pais, 2011). Tài chính toàn diện có thể được đo lường ở cấp độ cá nhân và cấp độ quốc gia. Ở cấp độ cá nhân, thước đo phổ biến và bao quát nhất là quyền sở hữu tài khoản, tức việc một cá nhân có tài khoản ngân hàng hay không (Allen và các cộng sự, 2016; Demirgüç-Kunt và cộng sự, 2017, 2020). Tương tự, quyền sở hữu tài khoản cũng được sử dụng như một biến đại diện cho tài chính toàn diện ở cấp độ quốc gia, với các nghiên cứu đo lường số lượng tài khoản ngân hàng trên mỗi 100 người trưởng thành (Beck và các cộng sự, 2007; Honohan, 2008).

Tài chính toàn diện là việc cá nhân và doanh nghiệp có thể tiếp cận và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ tài chính với chi phí họ có thể chi trả. Điều này mở rộng cơ hội tiếp cận cho các nhóm thu nhập thấp và dễ bị tổn thương, hỗ trợ sinh kế, tạo thuận lợi cho dòng vốn đầu tư và huy động tiết kiệm, qua đó đóng góp vào tăng trưởng kinh tế.

Ngân hàng Thế giới định nghĩa tài chính toàn diện là khả năng người dân và doanh nghiệp tiếp cận các sản phẩm, dịch vụ tài chính hữu ích với chi phí hợp lý (bao gồm thanh toán và kiều hối, tiết kiệm, tín dụng và bảo hiểm), được cung ứng theo cách bảo vệ người tiêu dùng và có thể duy trì bền vững theo thời gian. Việc đánh giá tài chính toàn diện thường dựa trên ba trụ cột: (i) tiếp cận dịch vụ tài chính, (ii) sử dụng các dịch vụ đó, và (iii) chất lượng sản phẩm cũng như cách thức cung ứng. Sở hữu tài khoản và khả năng thực hiện giao dịch cơ bản được xem là bước khởi đầu của toàn diện hóa, vì tài khoản giao dịch cho phép người dùng lưu trữ giá trị an toàn và gửi hoặc nhận thanh toán. Khái niệm này có tính đa chiều và nhấn mạnh chất lượng dịch vụ. Trên thực tế, tài chính toàn diện hàm ý dịch vụ giá cả phải chăng, được sử dụng thường xuyên, và thiết kế xoay quanh nhu cầu người dùng. Nó cũng bao gồm việc nâng cao hiểu biết tài chính và bảo vệ người tiêu dùng hiệu quả, không chỉ đơn thuần là mở rộng nguồn cung tín dụng. Vì sao tài chính toàn diện quan trọng:

Đối với cá nhân: Người dân cần các phương thức thuận tiện, an toàn để tích lũy, nắm giữ và chuyển giao giá trị. Toàn diện giúp hộ gia đình tiết kiệm cho hưu trí, ứng phó cú sốc, và lập kế hoạch cho chi tiêu định kỳ như giáo dục hay tiền thuê nhà.

Đối với doanh nhân và SME: Chủ doanh nghiệp nhỏ có ý tưởng và động lực nhưng cần dịch vụ, thị trường và vốn để tăng trưởng. Kết nối các doanh nghiệp này với hệ thống chính thức là bước then chốt hướng tới thị trường tài chính sâu và kết nối tốt hơn. Luận văn: Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech.

Đối với định chế tài chính: Ngân hàng tìm kiếm tăng trưởng tương lai trong những thị trường rộng hơn và bao trùm hơn. Phục vụ các phân khúc chưa được đáp ứng thúc đẩy thiết kế sản phẩm và cách thức cung ứng vươn tới nhiều khu vực của nền kinh tế.

Đối với Chính phủ: Khi công dân gắn kết với tài chính chính thức, vận tốc lưu chuyển tiền tệ và hoạt động kinh tế tổng thể tăng lên, truyền dẫn chính sách tiền tệ cải thiện. Khu vực phi chính thức nhỏ lại cũng giúp tăng minh bạch thông qua an ninh tốt hơn và giám sát, quản lý hiệu quả hơn.

2.1.4 Đo lường tài chính toàn diện

Thay vì dựa vào một thước đo đơn lẻ, một số nghiên cứu đã xây dựng các chỉ số tổng hợp nhằm đo lường những khía cạnh khác nhau của tài chính toàn diện. Chẳng hạn, Sarma (2008) đã phát triển một chỉ số gồm ba chiều dựa trên mức độ thâm nhập ngân hàng, khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng và mức độ sử dụng hệ thống ngân hàng.

Amidžić và cộng sự (2014) xây dựng một chỉ số tài chính toàn diện tổng hợp bao gồm phạm vi tiếp cận (mức độ bao phủ theo địa lý và nhân khẩu học), mức độ sử dụng (tiền gửi và cho vay) và chất lượng (yêu cầu công bố thông tin, cơ chế giải quyết tranh chấp và chi phí sử dụng). Chỉ số do Park và Mercado (2018) xây dựng bao gồm năm thước đo: số máy rút tiền tự động (ATM) trên 100.000 người trưởng thành, số chi nhánh ngân hàng thương mại trên 100.000 người trưởng thành, số người vay vốn từ ngân hàng thương mại trên 1.000 người trưởng thành, số người gửi tiền tại ngân hàng thương mại trên 1.000 người trưởng thành và tỷ lệ tín dụng nội địa trên GDP.

Tài chính toàn diện có thể được đo lường từ phía cầu hoặc phía cung. Cách tiếp cận đại diện ở phía cầu là Demirgüç-Kunt và Klapper (2012), nền tảng cho Cơ sở dữ liệu Global Findex (Ngân hàng Thế giới, 2017). Trong khuôn khổ này, mức độ toàn diện tại khoảng 140 nền kinh tế được tóm lược bằng các chỉ báo như sở hữu tài khoản và mức sử dụng các dịch vụ thanh toán, tiết kiệm, tín dụng. Các chỉ báo này chủ yếu phản ánh khả năng tiếp cận tài chính hơn là toàn bộ khái niệm tài chính toàn diện, do chúng dựa trên thông tin hộ gia đình tự báo cáo về mức sử dụng và tiếp cận.

Ở phía cung, nghiên cứu thường dựa trên các chỉ báo định lượng, ví dụ mật độ chi nhánh và số lượng nhà cung cấp. Amidžić và cộng sự (2014) đưa ra bằng chứng cho 35 quốc gia giai đoạn 2009–2012. Chỉ số của họ kết hợp số lượng máy ATM và chi nhánh ngân hàng trên mỗi 1.000 km² với số người dùng tài khoản tiết kiệm và người dùng sản phẩm tín dụng trên mỗi 1.000 người trưởng thành. Dù vậy, tài chính toàn diện vượt ra ngoài bất kỳ chỉ báo đơn lẻ nào, ngay cả khi các thước đo này là những tiêu chí quan trọng trong dịch vụ tài chính. Luận văn: Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech.

Để lấp khoảng trống này, Cámara và Tuesta (2014) tổng hợp thông tin về tài chính toàn diện bằng phương pháp gán trọng số có cơ sở thống kê và kết hợp dữ liệu từ cả phía cầu và phía cung. Tác giả cho rằng có ba chiều cạnh xác định chỉ số tài chính toàn diện, gồm mức sử dụng, rào cản và khả năng tiếp cận, đồng thời tính toán chỉ số cho 137 quốc gia vào các năm 2011 và 2014. Tương tự, Sarma (2012) xây dựng chỉ số tài chính toàn diện bằng cách kết hợp nhiều chỉ báo của khu vực ngân hàng để phản ánh các khía cạnh của hệ thống tài chính bao trùm như khả năng tiếp cận, mức độ sẵn có và mức sử dụng dịch vụ ngân hàng. Đáng chú ý, Park và Mercado (2018) phát triển và kết hợp các điểm mạnh trong chỉ số của Sarma (2012) cùng bằng chứng của Cámara và Tuesta (2014) để xây dựng IFI cho 151 quốc gia vào các năm 2011 và 2014.

Trong nghiên cứu này, tài chính toàn diện được đo bằng biến sở hữu tài khoản nhằm phù hợp với bối cảnh Việt Nam, vì tài khoản giao dịch được thừa nhận rộng rãi là điểm khởi đầu của toàn diện hóa (Ngân hàng Thế giới, 2017). Sở hữu tài khoản mở cánh cửa tham gia thị trường tài chính, còn tiết kiệm và tín dụng giúp mở rộng và củng cố mức độ tham gia. Tuy nhiên, sở hữu tài khoản và mức sử dụng tài khoản là hai khái niệm khác nhau, và trên thực tế ưu tiên chính sách trước mắt đối với các quốc gia muốn mở rộng toàn diện là nâng tỷ lệ sở hữu tài khoản. Ở Việt Nam, Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 đặt mục tiêu thúc đẩy tài chính toàn diện bằng cách tăng tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên có tài khoản tại tổ chức tài chính lên ít nhất 80%. Phù hợp với các nghiên cứu trước (Demirgüç-Kunt và Klapper, 2012; Cámara và Tuesta, 2014), nghiên cứu này “vận hành hóa” tài chính toàn diện bằng thước đo sở hữu tài khoản tại tổ chức tài chính.

2.2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Luận văn: Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech.

2.2.1 Khung lý thuyết

Lý thuyết tiếp cận năng lực (capability approach) do Amartya Sen (1980) phát triển giải thích tác động của fintech đối với phát triển. Lý thuyết này nhấn mạnh vai trò của các giá trị chuẩn tắc trong việc bảo đảm khả năng tiếp cận và tính phải chăng của công nghệ, đồng thời nuôi dưỡng tự do và năng lực sáng tạo của cá nhân. Lý thuyết Công nghệ Thích hợp (Appropriate Technology Theory), được phát triển bởi E. F. Schumacher cùng các học giả khác, cung cấp một khuôn khổ khái niệm giải thích cách xã hội suy nghĩ và hành động trong quá trình phát triển. Khái niệm công nghệ thích hợp đóng vai trò nền tảng và phương pháp luận cho việc lựa chọn công nghệ, gắn chặt với sự tiến bộ của cá nhân và qua đó là sự phát triển của xã hội (ICT4D; Pal và cộng sự, 2020; Schumacher, 1973). Điện thoại di động thường được xem là công nghệ giúp mở rộng tự do và năng lực của con người tại các quốc gia đang phát triển (Ahamed & Mallick, 2019; Hatakka & De, 2011). Các lý thuyết kinh tế về cung – cầu, cũng như các mô hình lý thuyết liên quan đến việc kết hợp (bundling) sản phẩm, công nghệ và dịch vụ, nhấn mạnh năng lực của fintech trong việc bổ trợ cho các đổi mới trong lĩnh vực tài chính (Dong và các cộng sự, 2022).

Một số lý thuyết có thể được sử dụng để giải thích hành vi cá nhân đối với fintech. Mô hình Chấp nhận Công nghệ (Technology Acceptance Model – TAM), do Fred Davis (1989) phát triển, là một trong những lý thuyết phổ biến nhất (xem tổng quan tại Senyo & Osabutey, 2020). TAM cho rằng hai yếu tố cốt lõi ảnh hưởng đến việc chấp nhận công nghệ của người dùng tiềm năng là nhận thức về tính hữu ích và nhận thức về tính dễ sử dụng; do đó, trọng tâm của mô hình nằm ở nhận thức của người dùng. Lý thuyết Hành động Hợp lý (Theory of Reasoned Action) của Bagozzi (1982) và Fishbein (1980) cho rằng người dùng cuối đánh giá một cách hợp lý các hệ quả tiềm năng trước khi chấp nhận công nghệ mới. Lý thuyết này giúp lý giải vì sao những cá nhân có trình độ học vấn cao hơn, hiểu biết tài chính tốt hơn, thu nhập cao hơn và cư trú tại khu vực đô thị có xu hướng tiếp cận dịch vụ tài chính thông qua fintech nhiều hơn. Cuối cùng, Lý thuyết Hành vi Dự định (Theory of Planned Behavior) của Icek Ajzen (1991) cho thấy ý định của cá nhân là yếu tố thúc đẩy việc sử dụng fintech, và các ý định này được định hình bởi thái độ, chuẩn mực xã hội và nhận thức về kiểm soát hành vi.

Lý thuyết Hợp nhất về Chấp nhận và Sử dụng Công nghệ (Unified Theory of Acceptance and Use of Technology – UTAUT), do Viswanath Venkatesh và cộng sự (2003) phát triển, tổng hợp tám mô hình lý thuyết nhằm giải thích việc chấp nhận và sử dụng công nghệ. Mô hình này đã được áp dụng rộng rãi để lý giải việc sử dụng ICT trong nhiều lĩnh vực, bao gồm ngân hàng di động (Zhou và các cộng sự, 2010), thanh toán di động (Yang và các cộng sự, 2012), chính phủ điện tử (Wang & Shih, 2009), công nghệ điện thoại di động (Zhou, 2011), ngân hàng trực tuyến (Riffai và các cộng sự, 2012) và hệ thống thông tin y tế (Kijsanayotin và cộng sự, 2009).

Liên quan đến tài chính toàn diện và fintech, các lý thuyết sản xuất cho rằng công nghệ thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, trong khi các lý thuyết thể chế cho rằng chủ nghĩa tự do mới (neoliberalism) góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện. Lập luận đặt ra là thị trường tài chính phát triển thông qua chuyển đổi thể chế và thúc đẩy các cơ chế thị trường. Sự trỗi dậy của fintech được xem là động lực cải thiện thị trường tài chính cho người dân tại các quốc gia đang phát triển, những nhóm vốn phải đối mặt với nhiều rào cản trong lịch sử (Bernards, 2019). Quan điểm này tương đồng với các chính sách và trụ cột về tài chính toàn diện do World Bank thúc đẩy.

2.2.2 Fintech và tài chính toàn diện Luận văn: Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech.

Các nghiên cứu trước tập trung làm rõ các nhóm yếu tố dẫn tới khác biệt về mức độ tài chính toàn diện giữa các quốc gia. Những yếu tố trọng yếu gồm giáo dục và trình độ phát triển kinh tế, mức độ phát triển thị trường tài chính, phát triển xã hội và chất lượng thể chế. Rojas-Suarez và Amado (2014) chỉ ra bốn nhóm trở ngại giải thích mức độ tài chính toàn diện tuyệt đối, trong đó thiếu hụt thể chế và bất bình đẳng thu nhập là những rào cản quan trọng nhất đứng sau khoảng cách tài chính toàn diện. Tương tự, Park và Mercado (2015, 2018) xác định rằng trình độ phát triển kinh tế là một nhân tố then chốt ảnh hưởng đến tài chính toàn diện. Bằng chứng thực nghiệm đánh giá tác động của Fintech lên tài chính toàn diện vẫn còn hạn chế. Do đó cần có thêm nghiên cứu lý thuyết cũng như bằng chứng thực nghiệm về tác động của Fintech đối với tài chính toàn diện. Theo AFI (2018), tiến bộ gần đây của công nghệ di động cho phép Fintech thu hẹp khoảng cách sở hữu tài khoản chính thức theo thu nhập và học vấn, đồng thời vượt qua các rào cản đối với toàn diện. Theo Ngân hàng Thế giới (2018), đổi mới công nghệ trong Fintech đã xuất hiện như một cơ chế vượt qua những rào cản cản trở khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính. Hơn nữa, Fintech, cụ thể là dịch vụ tài chính di động, có thể thúc đẩy tài chính toàn diện, tạo thêm điều kiện để nhóm chưa có tài khoản tham gia hệ thống tài chính (GPFI, 2018). Chỉ với điện thoại di động, cá nhân có thể thụ hưởng dịch vụ tài chính thông qua Fintech (Demirgüç-Kunt và các cộng sự, 2018). Thiết bị di động là kênh then chốt cho các giải pháp Fintech mở rộng toàn diện, và nếu thiếu các công cụ này, việc đi sâu toàn diện vẫn là thách thức. Luận văn: Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech.

Fintech được trình bày như động lực chính của tài chính toàn diện trong Arner và các cộng sự (2020). Các tác giả gợi ý rằng để khai thác tối đa tiềm năng của Fintech nhằm thúc đẩy tài chính toàn diện, cần tập trung vào trụ cột II. “Tiền di động là yếu tố có tiềm năng lớn nhất đối với tài chính toàn diện” nói chung và cũng là trọng tâm của nghiên cứu này. Phần lớn nghiên cứu cho thấy tiền di động là động lực chủ chốt của tài chính toàn diện (xem Senyo và Osabutey, 2020; Jakhiya và các cộng sự, 2020; Li và các cộng sự, 2020). Tổng hợp lại, nghiên cứu này tập trung vào tiền di động, một hình thức đổi mới Fintech giúp thúc đẩy tài chính toàn diện. Ngoại trừ một vài ngoại lệ như Peruta (2018), đa số công trình ghi nhận Fintech là động lực quan trọng của tài chính toàn diện (Jack và Suri, 2011; Mbiti và Weil, 2011; Ghosh, 2016; Gosavi, 2018; Tchamyou và các cộng sự, 2019). Đặc biệt tại các nước đang phát triển như Kenya, thông qua M-PESA, một hệ thống ngân hàng di động do Safaricom vận hành, Jack và Suri (2011) cho thấy Fintech luôn được một bộ phận đáng kể nhóm thu nhập thấp sử dụng, nhanh chóng mở rộng độ bao phủ tới các nhóm này và hiện được dùng bởi các hộ gia đình với đặc điểm kinh tế, nhân khẩu và học vấn đa dạng. Việc phổ cập tiền di động là tiền đề của tài chính toàn diện. Mbiti và Weil (2011) chỉ ra Fintech dẫn đến giảm đáng kể mức phí và giá dịch vụ, qua đó giúp nhóm chưa có tài khoản tiếp cận dịch vụ tài chính và gián tiếp nâng cao mức độ toàn diện. Ngoài ra, các tác giả còn nhận thấy người dùng Fintech thường xuyên có xu hướng sống ở đô thị, có học vấn, đã có tài khoản ngân hàng và có điều kiện kinh tế tốt hơn. Ghosh (2016) cho thấy điện thoại di động tác động đáng kể đến tài chính toàn diện, đặc biệt là hành vi vay mượn.

Có bằng chứng về mối liên hệ chặt chẽ giữa mức độ thâm nhập điện thoại di động và tài chính toàn diện cả giữa và trong các quốc gia (ví dụ Andrianaivo và Kpodar, 2012; Ghosh, 2016). Sử dụng dữ liệu bảng cho 44 nền kinh tế châu Phi giai đoạn 2008–2017, Andrianaivo và Kpodar (2012) xem xét tác động tăng trưởng của mở rộng điện thoại di động và vai trò trung gian của tài chính toàn diện. Kết quả cho thấy phát triển di động thúc đẩy tăng trưởng đáng kể, một phần thông qua việc nâng cao mức độ toàn diện.

Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng mức độ sử dụng tiền di động tương quan dương với tài chính toàn diện ở cấp hộ gia đình và doanh nghiệp. Ở cấp hộ gia đình, người sở hữu tài khoản tiền di động có khả năng cao hơn giữ tài khoản chính thức, chuyển nhận kiều hối thường xuyên hơn và tích lũy tiết kiệm lớn hơn (Morawczynski, 2009; Ouma và các cộng sự, 2017). Nghiên cứu gần đây của Ouma và các cộng sự (2017) cho thấy các đổi mới tài chính như sự sẵn có và việc sử dụng điện thoại di động để cung cấp dịch vụ tài chính khuyến khích tiết kiệm ở cấp hộ và làm tăng số tiền tiết kiệm. Morawczynski (2009) cũng cho thấy Fintech giúp phụ nữ tiết kiệm hiệu quả hơn trước những can thiệp tài chính từ bạn đời nam giới và ngược lại. Theo bằng chứng thực nghiệm tại Ấn Độ, đa số người dùng Fintech nâng cao khả năng tiết kiệm sau khi sử dụng tiền di động, trái với thói quen giữ tiền mặt trước đó. Gosavi (2018) chứng minh Fintech tác động tích cực đến tài chính toàn diện của doanh nghiệp nhỏ và vừa bằng cách nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng ngân hàng.

Kế thừa các kết quả trước và các cách đo lường Fintech đã được nghiên cứu, tác giả xây dựng một góc nhìn bao quát hơn về việc thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech, cụ thể là sử dụng tiền di động, đồng thời đặt nền tảng cho bộ chỉ báo Fintech. Cụ thể: Luận văn: Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech.

Tiền di động như tài khoản chính thức: Được phân loại là tài khoản chính thức nếu truy cập qua điện thoại và không cần quan hệ ngân hàng. Các dịch vụ như vậy được GSMA thúc đẩy cho nhóm chưa có tài khoản (Senyo và Osabutey, 2020; Jakhiya và các cộng sự, 2020; Li và các cộng sự, 2020).

Thanh toán hóa đơn bằng điện thoại: Phù hợp với Asongu và Odhiambo (2018) và Asongu và Nwachukwu (2018), Fintech được đo bằng việc sử dụng điện thoại di động để thanh toán hóa đơn. Asongu và các cộng sự (2019) cho thấy thanh toán số có tác động trực tiếp và gián tiếp đến tài chính toàn diện trong nghiên cứu tại Bắc Uganda.

Bên cạnh đó, Senyo và Osabutey (2020) ghi nhận đổi mới Fintech, đặc biệt là sử dụng tiền di động, đóng vai trò chủ chốt trong việc đào sâu mức độ toàn diện.

Sở hữu điện thoại di động: Chỉ báo này đo bằng tình trạng sở hữu điện thoại di động. Nagpal và các cộng sự (2020) cho thấy sở hữu điện thoại di động tương quan dương với các chỉ báo tài chính toàn diện tại các nền kinh tế BRICS. Tương tự, Kpodar (2020) chỉ ra mức độ thâm nhập điện thoại di động có tác động đáng kể đến tài chính toàn diện.

2.2.3 Tài chính toàn diện và các đặc điểm cơ bản khác Luận văn: Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech.

Phần lớn các nghiên cứu ở cấp độ cá nhân sử dụng cơ sở dữ liệu World Bank Global Findex (Global Findex). Chẳng hạn, Demirgüç-Kunt, Klapper và Randall (2013) đã xem xét sự khác biệt trong tài chính toàn diện giữa người Hồi giáo và không theo Hồi giáo dựa trên dữ liệu Global Findex 2011, bao phủ hơn 150.000 cá nhân tại 148 quốc gia. Kết quả cho thấy người Hồi giáo có khả năng sở hữu tài khoản thấp hơn tại khu vực châu Phi Hạ Sahara. Chi phí, khoảng cách và yêu cầu giấy tờ được xác định là các rào cản đối với việc sở hữu tài khoản ở cả hai nhóm. Trong một nghiên cứu tiếp theo, Demirgüç-Kunt, Klapper và Singer (2013) chứng minh rằng giới tính là một ràng buộc khác đối với tài chính toàn diện tại 98 quốc gia đang phát triển, trong đó phụ nữ có khả năng cao hơn rơi vào tình trạng bị loại trừ tài chính. Allen và cộng sự (2016) sử dụng Global Findex 2011 kết hợp với các đặc điểm cấp quốc gia để nghiên cứu các yếu tố quyết định tài chính toàn diện tại 123 quốc gia với hơn 124.000 cá nhân. Kết luận cho thấy tình trạng nghèo, giới tính nữ, độ tuổi trẻ và cư trú tại khu vực nông thôn là những nguyên nhân dẫn đến loại trừ tài chính.

Hiệu quả của các chính sách thúc đẩy tài chính toàn diện cũng phụ thuộc vào các đặc điểm cá nhân. Baber (2019) đã sử dụng các bộ dữ liệu Global Findex các năm 2011, 2014 và 2017 để so sánh mức độ tài chính toàn diện của 10 quốc gia áp dụng tài chính Hồi giáo hoặc tài chính truyền thống. Nghiên cứu xác nhận rằng các quốc gia áp dụng tài chính Hồi giáo có mức độ bao trùm và trao quyền tài chính cao hơn so với các quốc gia dựa vào tài chính truyền thống. Xu (2020) kết hợp dữ liệu Global Findex 2014 với Wave 6 của World Values Survey nhằm phân tích mối tương quan giữa niềm tin xã hội và tài chính toàn diện. Kết quả cho thấy niềm tin đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển quá trình tài chính toàn diện. So sánh mức độ tài chính toàn diện trên phạm vi toàn cầu, Wang và Guan (2017) sử dụng Global Findex 2011 và chỉ ra rằng các quốc gia phát triển (châu Âu và Bắc Mỹ) có mức độ tài chính toàn diện cao hơn so với các quốc gia kém phát triển tại châu Phi và châu Á. Các tác giả cho rằng thu nhập, trình độ học vấn và mức độ sử dụng thiết bị truyền thông là những yếu tố chính giải thích sự khác biệt này.

Nhiều nghiên cứu về tài chính toàn diện tập trung vào châu Phi và châu Á. Chẳng hạn, Akudugu (2013) đã sử dụng cơ sở dữ liệu Global Findex năm 2011 để phân tích trường hợp Ghana. Kết quả cho thấy độ tuổi, trình độ học vấn, nhóm tài sản, khoảng cách đến các tổ chức tài chính, tình trạng thiếu giấy tờ, thiếu niềm tin vào các tổ chức tài chính chính thức, nghèo tiền tệ và mạng lưới xã hội là những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến loại trừ tài chính. Soumaré và cộng sự (2016) phân tích khu vực Trung và Tây Phi và ghi nhận các kết quả tương tự. Cụ thể, giới tính, học vấn, độ tuổi, thu nhập, khu vực cư trú, tình trạng việc làm, tình trạng hôn nhân, quy mô hộ gia đình và mức độ tin cậy vào các tổ chức tài chính là những yếu tố chính dẫn đến loại trừ tài chính. Zins và Weill (2016) sử dụng cơ sở dữ liệu Global Findex năm 2014 và chỉ ra rằng giới tính, thu nhập, trình độ học vấn và độ tuổi có tác động thúc đẩy đáng kể đến tài chính toàn diện tại 37 quốc gia châu Phi. Luận văn: Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech.

Tại châu Á, tài chính toàn diện cũng là một chủ đề mang tính thời sự. Fungáčová và Weill (2015) đã sử dụng dữ liệu Global Findex năm 2011 để phân tích đặc điểm tài chính toàn diện của Trung Quốc so với các quốc gia BRICs, và chỉ ra rằng tình hình tại Trung Quốc khả quan hơn nhờ tỷ lệ sở hữu tài khoản chính thức và mức tiết kiệm cao. Nghiên cứu này cũng phát hiện rằng thu nhập, trình độ học vấn, giới tính và độ tuổi là những yếu tố chủ yếu quyết định tài chính toàn diện tại Trung Quốc. Các biến số này tiếp tục duy trì ý nghĩa thống kê trong các nghiên cứu khác tập trung vào các quốc gia châu Á, chẳng hạn Son và cộng sự (2019) đối với trường hợp Việt Nam, cũng như Esquivias và cộng sự (2021) đối với Việt Nam, Indonesia và Philippines.

Một số nghiên cứu tiếp cận theo hướng khác trong việc tạo lập dữ liệu, sử dụng các khảo sát thiết kế riêng để thu thập dữ liệu ở cấp độ cá nhân. Chẳng hạn, Tambunlertchai (2018) sử dụng dữ liệu từ 5.100 cá nhân tại Myanmar, đại diện cho toàn bộ quốc gia. Tác giả phát hiện rằng thu nhập, trình độ học vấn và quản lý ngân sách là các yếu tố quyết định tài chính toàn diện tại Myanmar. Amoah và cộng sự (2020) thu thập dữ liệu sơ cấp từ 733 hộ gia đình tại Ghana và kết luận rằng tiền di động có thể góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện. Sayed và Shusha (2019) xem xét khía cạnh cung bằng cách khảo sát 470 nhà quản lý ngân hàng tại Ai Cập; kết quả cho thấy các ngân hàng cần đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ tài chính nhằm thúc đẩy tài chính toàn diện. Koomson và cộng sự (2020), cùng với Hasan và cộng sự (2021), sử dụng dữ liệu khảo sát thu thập lần lượt tại Ghana và Bangladesh, cho thấy hiểu biết tài chính góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện.

Theo Cơ sở dữ liệu Global Findex 2024 về tài chính toàn diện (Ngân hàng Thế giới, 2024), các đặc điểm cá nhân ảnh hưởng đến sở hữu tài khoản, vốn là bước đi đầu tiên hướng tới tài chính toàn diện, bao gồm giới tính, trình độ học vấn, độ tuổi và thu nhập.

Demirgüç-Kunt và Klapper (2013) đánh giá khả năng tiếp cận tài chính cá nhân tại 98 quốc gia đang phát triển dựa trên Global Findex 2017 (xem Bảng 2.3). Kết quả cho thấy tồn tại khoảng cách giới đáng kể trong sở hữu tài khoản, tiết kiệm và tín dụng chính thức. Phụ nữ đối mặt nhiều rào cản hơn trong tín dụng chính thức, như hạn chế về hiểu biết tài chính, ít kinh nghiệm kinh doanh và khó khăn trong việc cung cấp tài sản bảo đảm. Ngoài ra, thu nhập là yếu tố chủ đạo chi phối khả năng tiếp cận tài chính toàn diện. Chi phí liên quan đến việc duy trì tài khoản trở thành rào cản đáng kể đối với người thu nhập thấp, khiến nhiều người, đặc biệt là nhóm thu nhập thấp, không sử dụng dịch vụ do chi phí không phù hợp khả năng chi trả.

Allen và cộng sự (2016) sử dụng Global Findex 2012 để phân tích các đặc điểm cá nhân và đặc điểm cấp quốc gia ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tài chính toàn diện. Kết quả cho thấy thu nhập và trình độ học vấn tác động đáng kể. Xác suất sở hữu tài khoản tại tổ chức tài chính và khả năng tiết kiệm chính thức cao hơn ở những người có thu nhập cao hơn, trình độ học vấn cao hơn, lớn tuổi hơn, sống ở đô thị, có việc làm, đã kết hôn hoặc ly thân. Hoạt động vay mượn chính thức gia tăng ở nhóm nam giới lớn tuổi, có học vấn, giàu và đã kết hôn. Luận văn: Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech.

  • Bảng 2.3 Tóm tắt tài liệu về các yếu tố quyết định tài chính toàn diện

Dựa trên tổng quan tài liệu, nghiên cứu lựa chọn các chỉ báo đặc điểm cá nhân như sau:

Tuổi: Nghiên cứu trước cho thấy người trưởng thành có nhu cầu về sản phẩm tài chính cao hơn so với nhóm rất trẻ. Khi bước vào giai đoạn già hóa, người cao tuổi gặp khó khăn trong tiếp cận dịch vụ như hạn chế di chuyển, suy giảm thể chất, suy giảm nhận thức và giảm hiểu biết tài chính (MacLeod và các cộng sự, 2017). Khoảng cách tới các định chế truyền thống và tốc độ thay đổi của ngân hàng số càng cản trở khả năng tiếp cận. Bằng chứng cho thấy một bộ phận người cao tuổi ít linh hoạt trong quản lý tài chính hoặc khó ghi nhớ mật khẩu và mã PIN (Bleijenberg và các cộng sự, 2017). Tại Việt Nam, sở thích nắm giữ tiền mặt và tài sản hữu hình như vàng, trang sức phổ biến ở người cao tuổi và gắn với rủi ro phụ thuộc và loại trừ xã hội. Vì các lý do này, tuổi có thể trở thành ràng buộc đối với tài chính toàn diện sau một ngưỡng nhất định.

Giới tính: Theo Demirgüç-Kunt và Klapper (2012), chênh lệch giới trong sở hữu tài khoản tồn tại ở các nước đang phát triển, bất kể thu nhập, học vấn, tuổi hay vùng miền. Phân biệt đối xử pháp lý đối với phụ nữ tại nơi làm việc và trong gia đình cùng với các chuẩn mực giới hạn chế như bạo lực gia đình và căng thẳng hôn nhân tạo ra rào cản đối với sở hữu tài khoản ngân hàng và việc sử dụng sản phẩm tiết kiệm, tín dụng (Demirgüç-Kunt và các cộng sự, 2013). Các rào cản khác gồm hạn chế về di chuyển, thể chất và năng lực tài chính. Hệ quả là trong nhiều hệ thống ngân hàng, nam giới có khả năng sở hữu tài khoản cao hơn nữ giới. Khoảng cách giới vẫn là vấn đề nổi bật của tài chính toàn diện, đặc biệt tại các nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam.

Thu nhập: Sinha và Subramanian (2007) đề xuất mối liên hệ chặt chẽ giữa thu nhập và mức độ toàn diện. Hộ thu nhập thấp ít có khả năng sở hữu tài khoản chính thức do động cơ tiết kiệm chính thức hạn chế và không đủ điều kiện cho một số sản phẩm. Demirgüç-Kunt và Klapper (2013) ghi nhận tại nhiều quốc gia, tài khoản bị xem là tốn kém do phí và chi phí giao dịch cao, gánh nặng này rơi nhiều nhất vào nhóm thu nhập thấp.

Học vấn: Tài liệu nhất quán cho thấy trình độ học vấn cao hơn gắn với mức độ toàn diện lớn hơn (Akudugu, 2013; Cámara và Tuesta, 2015; Fungáčová và Weill, 2014; Allen và các cộng sự, 2012). Atkinson và Messy (2013) nhấn mạnh vai trò của hiểu biết tài chính trong mối liên hệ này. Trình độ học vấn thấp đi kèm hiểu biết tài chính yếu và hạn chế về điều kiện tham gia các sản phẩm chính thức, qua đó kìm hãm mức độ tham gia vào các dịch vụ tài chính.

  • Tóm tắt Chương 2:

Để hiểu các khái niệm và cơ sở lý thuyết của chủ đề nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến tài chính toàn diện, Chương 2 trình bày tổng quan về lý thuyết được áp dụng trong đề tài và làm rõ các khái niệm về các yếu tố sẽ được nghiên cứu.

Ngoài ra, Chương 2 nêu các định nghĩa và lựa chọn các nghiên cứu trước để định hướng nghiên cứu phù hợp. Luận văn: Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: PPNC Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech

One thought on “Luận văn: Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech

  1. Pingback: Luận văn: KQNC Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua Fintech

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *