Luận văn: Tác động hóa thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: ác động hóa thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Tên đề tài: Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.

Nội dung luận văn: Nghiên cứu này tập trung vào tóm tắt các lý luận nền tảng về đa dạng hóa thu nhập tại các NHTM từ đó đem lại nhiều nguồn thu, ngoài ra là tóm tắt các lý luận liên quan đến rủi ro của ngân hàng và tại luận văn này thì rủi ro phá sản được xem là trọng tâm vì nó là rủi ro lớn nhất, nguy hiểm nhất cho hệ thống NHTM. Đồng thời, thông qua lược khảo các nghiên cứu liên quan xác định các khoảng trống nghiên cứu. Tại luận văn này rủi ro của NHTM được đại diện bởi hệ số Z – Score. Từ đó mục tiêu nghiên cứu thứ nhất được giải quyết là xác định Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro tại các NHTM. Đồng thời, xem xét kèm theo các biến kiểm soát có tác động đến rủi ro tại các NHTM là quy mô ngân hàng; tỷ lệ vốn chủ sở hữu; tỷ lệ cho vay trên tiền gửi; tỷ lệ nợ xấu; tăng trưởng tín dụng; GDP; lạm phát; cấu trúc sở hữu của Nhà nước; đại dịch Covid 19. Sau đó, với việc thu thập dữ liệu thứ cấp của 24 NHTM Việt Nam từ 2011 – 2023 và thiết kế dạng bảng, xử lý hồi quy đa biến thì mục tiêu nghiên cứu thứ hai được hoàn thành. Kết quả nghiên cứu cho thấy đa dạng hóa thu nhập tác động tích cực đến hệ số Z – Score có nghĩa là làm giảm đi rủi ro phá sản tại các NHTM. Đồng thời, các biến kiểm soát tác động tích cực đến Z – Score hay làm giảm rủi ro phá sản tại các ngân hàng Việt Nam đó là quy mô, tỷ lệ cho vay trên tiền gửi, tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ lạm phát, đại dịch Covid 19. Ngược lại, biến số tác động tiêu cực đến Z – Score hay làm tăng rủi ro của các NHTM tại Việt Nam đó là tỷ lệ nợ xấu, sở hữu Nhà nước. Ngoài ra, tỷ lệ VCSH và GDP không có ý nghĩa thống kê tác động đến Z – Score hay rủi ro phá sản của các NHTM Việt Nam. Từ các kết quả nói trên thì luận văn đã tiến hành đề xuất các hàm ý liên quan đến việc tăng đa dạng hóa thu nhập để phân tán rủi ro cho các ngân hàng. Đồng thời, các hoạt động khác liên quan đến công tác quản lý của ngân hàng liên quan đến tăng trưởng quy mô, tín dụng, kiểm soát rủi ro nợ xấu.

Từ khóa: Z – Score, đa dạng hóa thu nhập, quy mô ngân hàng, vốn chủ sở hữu, nợ xấu, vĩ mô.

ABSTRACT Luận văn: Tác động hóa thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.

Title: The impact of income diversification on risks of Vietnamese joint stock commercial banks.

Content: This study focuses on summarizing the fundamental theories on diversification at commercial banks, thereby bringing in many sources of income, in addition to summarizing the theories related to bank risks and in this thesis, bankruptcy risk is considered the focus because it is the biggest and most dangerous risk for the commercial banking system. At the same time, through a review of related studies, research gaps are identified. In this thesis, the risk of commercial banks is represented by the Z-Score coefficient. From there, the first research objective is resolved to determine the impact of income diversification on risks at commercial banks. At the same time, considering the accompanying control variables that affect risks at commercial banks, which are bank size; equity ratio; loan-to-deposit ratio; bad debt ratio; credit growth; GDP; inflation; State ownership structure; Covid 19 pandemic. Then, with the collection of secondary data of 24 Vietnamese commercial banks from 2011 – 2023 and the panel design, multivariate regression processing, the second research objective was completed. The research results show that income diversification has a positive impact on the Z-Score coefficient, which means reducing the risk of bankruptcy at commercial banks. At the same time, the control variables that have a positive impact on Z-Score or reduce the risk of bankruptcy at Vietnamese banks are scale, loan-to-deposit ratio, credit growth, inflation rate, and Covid 19 pandemic. On the contrary, the variables that have a negative impact on Z-Score or increase the risk of commercial banks in Vietnam are the bad debt ratio and state ownership. In addition, the equity ratio and GDP have no statistical significance in affecting Z-Score or the risk of bankruptcy of Vietnamese commercial banks. From the above results, the thesis has proposed implications related to increasing income diversification to spread risks for banks. At the same time, other activities related to bank management are related to growth in scale, credit, and bad debt risk control.

Keywords: Z-Score, income diversification, bank scale, equity, bad debt, macro.

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

1.1. Lý do chọn đề tài của luận văn

Hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) được xem như mạch máu chính của nền kinh tế, bởi đặc điểm chính của ngành ngân hàng là kinh doanh về lĩnh vực tiền tệ, trực tiếp phân phối và sử dụng vốn, đồng thời làm trung gian thanh toán tạo điều kiện cho luồng vốn luân chuyển góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Hay nói cách khác, các NHTM đóng vai trò rất lớn trong việc sử dụng các nguồn lực tài chính để đáp ứng các nhu cầu tín dụng, đầu tư hay sử dụng dịch vụ cho các đối tượng hay thành phần trong nền kinh tế. Ngoài ra, các NHTM được xem là kênh hữu hiệu thực thi chính sách tiền tệ nhằm mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội. Tuy nhiên, bản chất của hoạt động ngân hàng luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro như: rủi ro thanh khoản, rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng hay thậm chí dẫn đến rủi ro phá sản. Luận văn: Tác động hóa thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.

Giai đoạn từ năm 2020 – 2023, tại các NHTM Việt Nam thì hoạt động cho vay tăng trưởng liên tục, tuy nhiên cũng là giai đoạn mà các ngân hàng gặp nhiều rủi ro phải đối mặt, đặc biệt đó là tình hình nợ quá hạn và nợ xấu. So với các giai đoạn trước đây thì giai đoạn này các NHTM Việt Nam đang cố ra sức hết mức để ngăn chặn tình trạng này. Nguyên nhân ban đầu được xác định là do ảnh hưởng vô cùng nặng nề của đại dịch Covid 19 từ 2020 – 2022 và kéo dài sau đó. Vì vậy mà các đối tượng trong nền kinh tế bị suy giảm trầm trọng tình hình kinh doanh nên việc thu nợ, thu phí giao dịch của ngân hàng giảm sút. Trong quý I năm 2020 theo thống kê thì NHTM Việt Nam đã tiến hành tái cơ cấu các khoản nợ cho 12.000 khách hàng với dư nợ lên đến 13,5 nghìn tỷ đồng. Đến tháng 06/2020 thì tại các NHTM như VPB, STB, LPB, ACB,… thì mức nợ xấu tăng từ 5% đến 7%, điều này cho thấy chất lượng tín dụng có dấu hiệu suy giảm nặng nề. Vào năm 2021, với những diễn biến xấu của đại dịch Covid 19 thì tình hình kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng có những chiều hướng suy giảm. Các NHTM Việt Nam bắt đầu phải đối mặt với tình hình nợ xấu leo thang, phân loại nợ và bắt đầu việc trích lập dự phòng RRTD để xử lý các khoản nợ xấu mất khả năng chi trả từ khách hàng (chiếm 80% thị phần tổng tài sản). Tỷ lệ dự phòng RRTD của năm 2021 gấp 1,5 lần so với năm 2020, nợ xấu nội bảng cùng với các khoản nợ nghiêm trọng được chuyển cho VAMC (Công ty quản lý tài sản Việt Nam), song song đó là các khoản nợ có nguy cơ chuyển thành nợ xấu với mức 6,31% trên tổng dư nợ của hệ thống. Đến năm 2022, nợ xấu nội bảng được duy trì với mức dưới 2% trên tổng dư nợ nhưng đến tháng 02/2023 thì lại tăng lên đến 2,91%, mức này cao hơn so với cùng kỳ năm 2021 là 1,49% và năm 2022 là dưới 2%. Với tình hình nợ xấu leo thang thì lợi nhuận của các NHTM giảm sâu từ 40% – 90% từ năm 2020 – 2023. Đặc biệt tính đến tháng 06/2023 có những NHTM lợi nhuận giảm hơn 90% so với cùng kỳ năm 2022, nguyên nhân đến từ việc các NHTM buộc phải trích lập dự phòng RRTD để xử lý các khoản nợ trong tương lai, đặc biệt là thực hiện nghĩa vụ thanh toán gốc và lãi cho các khách hàng gửi tiền vào ngân hàng. Với tình hình chung từ hoạt động tín dụng, có thể thấy RRTD gây ra những hậu quả rất lớn cho ngân hàng nói riêng và hệ thống nền kinh tế nói chung, vì vậy nếu tình trạng này kéo dài thì các khoản nợ, huy động, lãi thanh toán, suy giảm vốn tự có của ngân hàng sẽ đe dọa nghiệm trọng đến tình hình kinh doanh cũng như ổn định.

Trước tình trạng đó thì Chính phủ và NHNN Việt Nam phải có những biện pháp cụ thể để ngăn chặn, trong đó là chủ trương tái cơ cấu hệ thống NHTM, với quyết định số 689/QD-TTg vào 8/6/2022 về việc cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu trong giai đoạn 2021 – 2025. Thì quyết định này với nền tảng của kết quả đạt được tại chủ trương cơ cấu năm 2011 – 2015 với mục tiêu giảm thiểu số lượng các tổ chức tín dụng hoạt động không hiệu quả, quản lý các ngân hàng yếu kém nhằm ngăn chặn sự sụp đổ của hệ thống và phát triển tín dụng theo hướng tăng trưởng, ổn định. Đặc biệt, chủ trương này nhấn mạnh việc các NHTM cần hoạt động lành mạnh, công khai, hiệu quả, minh bạch, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế để nâng cao sức cạnh tranh với các tổ chức và NHTM nước ngoài cũng như trong khu vực. Do đó, nhằm giải quyết được khó khăn này và gia tăng lợi nhuận cho các NHTM, đặc biệt giảm đi sự ảnh hưởng chi phối của hoạt động tín dụng truyền thống thì đa dạng hóa các hoạt động kinh doanh của ngân hàng được xem là giải pháp tối ưu. Đa dạng hóa thu nhập (ĐDHTN) của ngân hàng liên quan đến các hoạt động của ngân hàng để đạt được thu nhập không chỉ từ các nguồn lãi thông thường, mà còn từ các nguồn phi lãi suất, chẳng hạn như như các dịch vụ tài chính do ngân hàng cung cấp cho khách hàng của mình, ví dụ: phí chuyển khoản và giao dịch, tín dụng, ngân hàng điện tử … (Syahyunan và cộng sự, 2017). Hay nói cách khách ĐDHTN nói chung làm giảm rủi ro thất bại cho vay. Mối quan hệ tác động của ĐDHTN đến lợi nhuận và rủi ro của ngân hàng là thực sự cần thiết đối với các nhà quản lý hay những nhà đầu tư, vì hoạt động này thực sự góp phần rất lớn tạo ra giá trị thực cho ngân hàng từ nguồn lợi đến danh tiếng (Buyuran & Ekşi, 2021). Luận văn: Tác động hóa thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.

Đối với sự tác động của ĐDHTN đến lợi nhuận hay rủi ro của các NHTM thì tính đến thời điểm hiện nay các công trình nghiên cứu đã xuất hiện nhiều và các kết quả cũng có nét tương đồng, gắn với bối cảnh phát triển của mỗi quốc gia hay đặc thù của nền kinh tế. Đa phần, các nghiên cứu đều chỉ ra được khi các NHTM có ĐDHTN gia tăng thì sẽ làm cho rủi ro của các ngân hàng giảm xuống (Sharma và Anand, 2018; Moudud và cộng sự, 2020; Buyuran và Ekşi, 202; Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai, 2015; Lâm Thanh Phi Quỳnh và cộng sự, 2019). Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa tập trung vào sự xuất hiện của đại dịch Covid 19 hay cấu trúc sở hữu của Nhà nước đến rủi ro của các NHTM, nên tại luận văn này sẽ tiến hành xem xét về hai vấn đề này.

Do đó, xuất phát từ thực tiễn và tình hình chung của các nghiên cứu thì tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp, nhằm xác định sự tác động của ĐDHTN đến rủi ro và đề xuất các hàm ý để gia tăng hoạt động đa dạng hóa cũng như giảm thiểu rủi ro cho các NHTM Việt Nam.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

1.2.1. Mục tiêu tổng quát của luận văn

Mục tiêu tổng quát của luận văn này là xác định và đo lường sự tác động của ĐDHTN đến rủi ro của các NHTM Việt Nam. Đề xuất các hàm ý quản trị cho các NHTM Việt Nam hướng tới việc gia tăng ĐDHTN nhằm hạn chế rủi ro trong tương lai.

1.2.2. Mục tiêu cụ thể của luận văn

Các mục tiêu cụ thể được chi tiết hóa từ mục tiêu tổng quát như sau:

  • Thứ nhất, xác định ĐDHTN có tác động đến rủi ro của các NHTM Việt Nam.
  • Thứ hai, đánh giá sự tác động của ĐDHTN đến rủi ro của các NHTM Việt Nam.
  • Thứ ba, đề xuất các hàm ý quản trị cho các NHTM nhằm hạn chế rủi ro trong tương lai thông qua ĐDHTN và các hoạt động khác.

1.3. Câu hỏi nghiên cứu của luận văn Luận văn: Tác động hóa thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.

Nhằm hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu cụ thể thì các câu hỏi nghiên cứu sau cần được trả lời:

  • Thứ nhất, ĐDHTN tác động đến rủi ro của các NHTM Việt Nam như thế nào?
  • Thứ hai, mức độ tác động của ĐDHTN đến rủi ro của các NHTM Việt Nam như thế nào?
  • Thứ ba, các hàm ý quản trị nào được đề xuất cho các NHTM nhằm hạn chế rủi ro trong tương lai thông qua ĐDHTN và các hoạt động khác trong tương lai?

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu: Tác động của ĐDHTN đến rủi ro của các NHTM Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: 24 NHTM tại Việt Nam, số lượng ngân hàng này không bao gồm các ngân hàng thu thập dữ liệu không có các ngân hàng 100% sở hữu của nước ngoài hay văn phòng đại diện tại Việt Nam. Ngoài ra, số lượng 24 ngân hàng được lựa chọn vì số liệu của các NHTM này được niêm yết đầy đủ từ năm 2011 đến nay, đồng thời chiếm trên 80% giá trị của tài sản lẫn thị phần ngân hàng tại Việt Nam nên vẫn đảm bảo được tính đại diện cho mẫu tổng thể.

Về thời gian: Luận văn sử dụng dữ liệu của các NHTM Việt Nam từ năm 2011 đến năm 2023. Khoảng thời gian này NHTM Việt Nam đang trong quá trình tái cấu trúc theo quy định của NHNN từ 2014 – 2015. Đồng thời, nền kinh tế Việt Nam có các biến động liên quan đến khủng hoảng tài chính năm 2018 và sự xuất hiện đại dịch Covid 2020 – 2021.

1.5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn

Hai phương pháp chính được sử dụng tại luận văn này đó là định tính và định lượng. Trong đó, nghiên cứu định tính được tiến hành thông qua việc tóm tắt các lý thuyết nền tảng, lược khảo các nghiên cứu liên quan và kết quả là xác định các khoảng trống nghiên cứu tạo điều kiện đề xuất mô hình nghiên cứu với bối cảnh các NHTM Việt Nam. Ngoài ra thông qua việc đánh giá tình hình chỉ số Z –  Score bình quân của 24 NHTM Việt Nam từ năm 2011 – 2023 để đánh giá tình hình chung về rủi ro.

Tuy nhiên, phương pháp nghiên cứu định lượng vẫn là phương pháp chính của luận văn này nhằm xác định và đo lường sự tác động của ĐDHTN đến rủi ro của các NHTM Việt Nam. Trong đó phương pháp này được tiến hành với việc thu thập dữ liệu và thiết kế dưới dạng bảng, thông qua hồi quy đa biến với các mô hình Pooled OLS, FEM, REM và FGLS để kết luận và thảo luận kết quả nghiên cứu. Từ đó, tạo cơ sở để đề xuất các hàm ý cho các NHTM nhằm tăng cường ĐDHTN để hạn chế rủi ro của các NHTM Việt Nam trong tương lai. Luận văn: Tác động hóa thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.

1.6. Đóng góp của luận văn

Luận văn này cung cấp kết quả thực nghiệm về sự tác động của ĐDHTN cũng như các biến kiểm soát đến rủi ro tại các NHTM Việt Nam giai đoạn 2011 – 2023. Từ đó, tạo cơ sở để đề xuất với nhà quản trị ngân hàng có những chiến lược hay chính sách để nâng cao hoạt động đa dạng hóa này nhằm hạn chế được nhiều rủi ro hơn trong các giai đoạn sau. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng sẽ đo lường sự tác động của các biến kiểm soát thuộc nội tại ngân hàng như quy mô ngân hàng, tỷ lệ VCSH, tăng trưởng tín dụng hay tiền gửi, thanh khoản, an toàn vốn,… các biến vĩ mô như tăng trưởng kinh tế và lạm phát. Cuối cùng, luận văn này cũng sẽ kết luận sự khác biệt giữa rủi ro ngân hàng khi có xuất hiện đại dịch Covid 19 so với các thời gian khác khi không xuất hiện.

1.7. Kết cấu luận văn

Nhằm giải quyết được các mục tiêu và hoàn thành được các câu hỏi nghiên cứu thì luận văn được thiết kế với kết cấu 5 chương. Trong đó tên chương và nội dung chủ đạo của từng chương như sau:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Nội dung chính của chương này tập trung vào trình bày lý do lựa chọn đề tài. Từ đó, xác định các mục tiêu, câu hỏi và đối tượng nghiên cứu. Đồng thời, trình bày tổng quát về phương pháp nghiên cứu và các đóng góp chính của luận văn về mặt lý luận cũng như thực tiễn của nó. Cuối cùng trình bày kết cấu và nội dung dự kiến của mỗi chương cần được hoàn thành.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tình hình nghiên cứu

Nội dung chính của chương là tóm tắt, luận giải các lý thuyết nền tảng liên quan đến đối tượng nghiên cứu đó là đa dạng hóa thu nhập tác động đến rủi ro của ngân hàng. Tổng hợp các nghiên cứu liên quan và xác định khoảng trống, từ đó có cơ sở để đề xuất mô hình và giả thuyết nghiên cứu tại chương 3 phù hợp với NHTM Việt Nam giai đoạn 2011 – 2023.

Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu

Nội dung chính của chương này là lập luận về lựa chọn mô hình và giả thuyết nghiên cứu. Trong đó tập trung vào sự tác động của ĐDHTN và các biến số khác đến rủi ro của ngân hàng. Ngoài ra, trình bày về phương pháp nghiên cứu bao gồm cách thức lẫy mẫu, thu thập số liệu và các phương pháp tính toán xử lý số liệu liên quan.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Luận văn: Tác động hóa thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.

Nội dung chính của chương này là tập trung vào việc trình bày kết quả xử lý số liệu từ các NHTM Việt Nam giai đoạn 2011 – 2023. Thông qua, thống kê mô tả mẫu nghiên cứu, phân tích tương quan, hồi quy đa biến và kiểm định tương ứng từ mô hình hồi quy được chọn. Từ kết quả khắc phục các hiện tượng sẽ tiến hành kết luận giả thuyết nghiên cứu và thảo luận kết quả này.

Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị

Nội dung chính của chương này là tập trung vào kết luận các kết quả đạt được của nghiên cứu. Từ kết quả hồi quy tiến hành đề xuất các hàm ý quản trị tương ứng với các biến số trong mô hình nghiên cứu nhằm giúp cho các NHTM Việt Nam gia tăng ĐDHTN nhằm hạn chế rủi ro trong tương lai.

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Chương này tập trung vào trình bày lý do lựa chọn đề tài thông qua đánh giá tình hình chung về vấn đề kinh doanh của hệ thống NHTM Việt Nam, tình hình về các nghiên cứu liên quan. Từ đó, xác định các mục tiêu, câu hỏi và đối tượng nghiên cứu. Đồng thời, trình bày tổng quát về phương pháp nghiên cứu và các đóng góp chính của luận văn về mặt lý luận cũng như thực tiễn của nó. Cuối cùng trình bày kết cấu và nội dung dự kiến của mỗi chương cần được hoàn thành.

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1. Đa dạng hóa thu nhập

2.1.1. Khái niệm đa dạng hóa thu nhập tại ngân hàng thương mại

Markowitz (1952) cho rằng một nhà đầu tư đang tập trung vào một ngành hay lĩnh vực nào đó mà đang gặp khó khăn, trong khi các ngành hay lĩnh vực khác lại có xu hướng tăng trưởng, thì việc đa dạng hóa danh mục kinh doanh hay đầu tư là việc mà nhà đầu tư nên làm để có thêm lợi nhuận hoặc giảm tính tập trung của rủi ro.

Do đó, khi mở rộng với khía cạnh tại các NHTM thì trong HĐKD thì tín dụng đem lại nguồn lợi lớn nhất từ lãi vay (Nguyễn Văn Tiến, 2015). Ngoài ra, Rose và Hudgins (2008) cho rằng ĐDHTN là hoạt động mà các NHTM tiến hành gia tăng thu nhập thông qua thực hiện các HĐKD với các sản phẩm dịch vụ mới, tăng thêm ngoài các sản phẩm, dịch vụ truyền thống đang được cung cấp tại tổ chức. Vì vậy, trong HĐKD thì các NHTM sẽ có hai khoản thu chính đó là từ các khoản lãi và các khoản ngoài lãi.

Trong đó thu nhập từ lãi là các khoản thu từ HĐKD truyền thống của ngân hàng, phát sinh từ chênh lệch lãi suất tiền gửi và cho vay mà ngân hàng thỏa thuận với khách hàng. Ngoài ra, thu nhập từ lãi của ngân hàng còn đến từ việc ngân hàng đầu tư vào các chứng khoán nợ như mua trái phiếu của Chính phủ hay các tổ chức kinh doanh khác. Đồng thời, các hoạt động thu phí bảo lãnh từ khách hàng. Luận văn: Tác động hóa thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.

Đối với thu nhập ngoài lãi thì chủ yếu đến từ các nguồn thu khác của ngân hàng, như thu từ cung cấp dịch vụ “thanh toán quốc tế, phí sử dụng các loại thẻ, phí giao dịch tiền, thu nhập từ các hoạt động đầu tư như góp vốn cổ phần hay thành lập các công ty con, góp vốn liên doanh. Ngoài ra thu nhập ngoài lãi còn đến từ các hoạt động thanh lý tài sản, mua bán nợ hay cho thuê tài sản (các hoạt động này thường không diễn ra thường xuyên tại NHTM).

Elsas và cộng sự (2010) “cho rằng ĐDHTN là hoạt động tái cơ cấu các HĐKD truyền thống của ngân hàng như tín dụng sang hình thức thu phí giao dịch. Trong đó các hoạt động thu phí luôn có sự ổn định tạo điều kiện cho các NHTM phát triển các kênh kinh doanh như đầu tư, bảo hiểm,… nhằm gia tăng tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trên tổng thu nhập của ngân hàng.

Tóm lại, tại luận văn này thì ĐDHTN là hoạt động tái cơ cấu của các NHTM, trong đó ưu tiên việc mở rộng nguồn thu nhập của ngân hàng, ngoài nguồn lớn nhất là tín dụng và hạn chế sự ảnh hưởng của nó đến HĐKD của ngân hàng. Mục đích chính của việc ĐDHTN là làm gia tăng thu nhập của cho các NHTM từ lãi lẫn ngoài lãi.

2.1.2. Các chỉ tiêu đo lường đa dạng hóa thu nhập tại ngân hàng thương mại

Tại NHTM thì ĐDHTN hiện đang được đo lường thông qua hai cách đó là tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trên tổng thu nhập của ngân hàng và chỉ số Herfindahl – Hirshman (HHI)

2.1.2.1. Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trên tổng thu nhập của ngân hàng

Lepetit và cộng sự (2008) đã chỉ ra rằng thu nhập tại các NHTM bao gồm từ nguồn lãi và thu từ ngoài lãi. Trong đó thu nhập từ lãi chủ yếu đến từ lãi tiền gửi gửi vào các ngân hàng hay TCTD khác, lãi từ hoạt động cho vay. Thu nhập ngoài lãi thì chủ yếu phát sinh từ các nghiệp vụ thanh toán ngoại hối, thu phí dịch vụ, đầu tư chứng khoản, góp vốn,…Stiroh (2004b), Lepetit và cộng sự (2008); Batten và Võ Xuân Vinh (2016) cho rằng các hoạt động đem lại thu nhập ngoài lãi được xem là các hoạt động nhằm thay đổi và hạn chế sự ảnh hưởng lớn của các HĐKD truyền thống của ngân hàng, đặc biệt là tín dụng. Các hoạt động này là sự nỗ lực của ngân hàng trong việc cung cấp thêm các dịch vụ hay sản phẩm nhằm thu được nhiều nguồn thu nhập hơn.

  • Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi = Thu nhập ngoài lãi ổng thu nhập

2.1.2.2. Chỉ số Herfindahl – Hirshman (HHI) Luận văn: Tác động hóa thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.

Asif “và Akhter (2019) đã chỉ ra rằng chỉ số HHI được các doanh nghiệp nói chung và các NHTM sử dụng khi cần nhận biết mức độ cạnh tranh của thị trường có đa dạng hay mang tính tập trung cao, HHI thường được các đối thủ cạnh tranh đánh giá về mức độ độc quyền hay có sự độc quyền nhóm trong hoạt động mua bán, sát nhập của các doanh nghiệp. Chỉ số HHI được đo lường như sau:  HHI =

Nếu các khoản thu nhập đều dương hay lớn hơn 0 thì chỉ số HHI nằm trong sẽ thuộc miền giá trị từ 0,5 đến 1. Nếu HHI là 0,5 thì doanh nghiệp sẽ đa dạng hóa hoàn toàn, nhưng nếu bằng 1 thì đa dạng hóa thấp. Điều này nếu mở rộng cho bối cảnh các NHTM thì nếu mức độ tập trung thu nhập càng cao thì ĐDHTN càng thấp. Ngoài ra, HHI tạo nên tính thuận tiện khi giải thích chỉ số ĐDHTN, nhưng chỉ số DIV được dùng để tính chỉ số ĐDHTN lại còn bao hàm được cả HHI “(Stiroh và Rumble, 2006; Chiorazzo và cộng sự, 2008). Hệ số DIV được tính thông qua chỉ số HHI như sau: DIV = 1 – HHI = 1 –

  • Hệ số HHI “nằm trong khoảng từ 0,5 đến 1 do đó hệ số DIV này sẽ nằm từ 0 đến 0,5.

Khi đó nếu DIV bằng 0 thì có nghĩa là các NHTM có thu nhập chỉ từ 1 nguồn nên hoạt động đa dạng hóa thấp, nhưng nếu càng tiến” về gần bằng 0,5 thì đa dạng hóa lại càng cao hay nói cách khác thu nhập của các ngân hàng có càng nhiều nguồn. Vì vậy, tại luận văn này thì hệ số DIV sẽ được dùng để phản ánh cho hoạt động ĐDHTN vì nó bao hàm cả hệ số HHI. Vì hệ số này càng cao thì mức đa dạng hóa của ngân hàng càng cao, đồng thời miền biến thiên của hệ số này từ 0 đến 0,5 nên khi nó đạt được mức 0,5 sẽ làm đa dạng hóa cực đại, ngược lại nó xa 0,5 hoặc có thể âm làm cho mức đa dạng hóa càng giảm. Do đó, khác với HHI chỉ nhận giá trị dương thì DIV có nhận mức âm để đo lường được mức độ tăng hay giảm của thu nhập từ đa dạng hóa sinh ra. Vì vậy, để mang tính phổ quát cho ĐDHTN thì luận văn này sẽ sử dụng hệ số DIV để đo lường, nhằm phản ánh mức tỷ lệ của thu nhập ngoài lãi và từ lãi trên tổng thu nhập.

2.2. Rủi ro tại các ngân hàng thương mại Luận văn: Tác động hóa thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.

2.2.1. Khái niệm rủi ro tại các ngân hàng thương mại

Mehr và Cammack (1961) cho rằng rủi ro là sự không chắc chắn về những tổn thất có thể gặp trong tương lai. William và Prather (2010) thì cho rằng rủi ro là những biến cố không chắc chắn xảy ra và có thể ảnh hưởng tới các kết quả so với kỳ vọng.

Nguyễn Minh Kiều (2012) cho rằng rủi ro là một sự không chắc chắn hay mô tả cho một tính trạng bất ổn. Nhưng không phải bất cứ sự bất trắc nào cũng được xem là rủi ro, những tình huống bất ổn hoặc không chắc chắn có thể tiên liệu được khả năng và xác suất xảy ra thì được xem là bất trắc chứ không phải rủi ro. Hay nói cách khác, rủi ro là những bất trắc không thể đo lường được bằng xác suất hoặc rủi ro là một tập hợp con của bất trắc.

Do đó, khi áp dụng khái niệm này với ngành ngân hàng thì Fitch (1997) cho rằng rủi ro được xem là những sự việc xảy ra ngoài ý muốn và ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh, nó gắn liền với sự suy giảm lợi nhuận hay hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.

Rose (1999) cho rằng rủi ro tại ngân hàng chủ yếu gồm bốn loại chính là rủi ro tín dụng, lãi suất, tỷ giá và thanh khoản. Với đặc thù là tổ chức kinh doanh tiền tệ thì rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng luôn xuất hiện tại mọi nghiệp vụ và có thể xảy ra bất cứ lúc nào, đặc biệt là những tình huống mà ngân hàng không lường trước được. Do đó, nếu rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng xảy ra với tần suất và quy mô lớn thì dễ dàng gây ra các hiệu ứng xấu kéo theo trên thị trường như chứng khoán, bất động sản, thương mại,… suy giảm theo.

Bessis (2011) cũng cho rằng rủi ro đối với ngân hàng là những biến cố không được mong đợi khi chúng xuất hiện sẽ làm tổn thất tài sản, giảm sút thu nhập thực tế so với những gì mà ngân hàng kỳ vọng, điều này làm cho ngân hàng phải tiêu tốn thêm một khoản chi phí để hoàn thành được công việc hoặc sẽ phải chịu thua thiệt hoàn toàn.

Tóm lại, tại luận văn này thì rủi ro tại các NHTM được xem là các tình huống bất trắc, nằm ngoài ý muốn mà các NHTM không thể tính toán hay đo lường một cách chính xác sự xuất hiện của nó, rủi ro này gắn liền với sự suy giảm về lợi nhuận hay hiệu quả trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

2.2.2. Rủi ro phá sản của ngân hàng thương mại Luận văn: Tác động hóa thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.

Beaver (1966) cho rằng rủi ro cao nhất của môt doanh nghiệp đó chính là dấu hiệu của sự phá sản. Khi đó doanh nghiệp không thể thanh toán được các khoản nợ đến hạn như nợ vay ngân hàng, trái phiếu. Ngoài ra là các khoản cổ tức của cổ phiếu thông thường và ưu đãi không thể thanh toán cho các cổ đông.

Shaffer (2012) cho rằng rủi ro xấu nhất của các ngân hàng đó chính là gặp rủi ro phá sản hay nguy cơ thất bại khi tập hợp các rủi ro cùng một lúc, tăng giảm rủi ro này bằng cách điều chỉnh các nhân tố rủi ro trong ngân hàng như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản hay rủi ro hoạt động. Trong đó, rủi ro tín dụng là khả năng NHTM khó hay không thể thu hồi được gốc và lãi của khoản cấp tín dụng. Thanh khoản bị yếu kém là tình huống mà ngân hàng bị suy giảm khả năng trả các khoản nợ, nguyên nhân đến từ việc kinh doanh thua lỗ hay các khoản cho vay kém chất lượng. Rủi ro hoạt động là tình huống mà ngân hàng gặp những khó khăn trong quá trình vận hành bộ máy kinh doanh hay con người dẫn đến những thiệt hại nghiêm trọng.

Phạm Tiến Đạt (2013) khi không đủ VCSH để bù đắp cho sự sụt giảm đột ngột giá trị tài sản từ hậu quả đến từ nhiều loại rủi ro khác, nguyên nhân đến từ năng lực quản lý yếu kém, các khoản vay không thu hồi được, các hoạt động đầu tư thiếu hiệu quả hay thua lỗ, suy thoái kinh tế… chính vì vậy các nguy cơ về thanh toán xuất hiện và rủi ro của sự vỡ nợ xuất hiện, đến từ nhiều nguyên nhân.

Tóm lại, rủi ro được đề cập trong luận văn này tại các NHTM chính là tình trạng xấu nhất hay đó chính là rủi ro phá sản (vỡ nợ). Đây được xem là trạng tháng mà các NHTM đối diện với việc làm các thủ tục đến các cơ quan chức năng để xin được phá sản hay bị các cơ quan có thẩm quyền kiểm soát hoạt động, hay buộc sát nhập theo chỉ thị của NHNN. Rủi ro phá sản của NHTM xuất phát từ nhiều nguyên nhân hay từ sự kéo theo của các rủi ro hoạt động khác. Nhưng điểm chung là nó khiến cho các NHTM rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính, không đủ VCSH để bù đắp các khoản thanh toán, sau đó khi mất đi sức thanh toán này thì tài sản bắt đầu âm và mất hẳn khả năng chi trả.

2.2.3. Chỉ tiêu đo lường rủi ro phá sản tại các ngân hàng thương mại

Beaver (1966) cho rằng rủi ro cao nhất của một doanh nghiệp đó chính là dấu hiệu của sự phá sản. Khi đó doanh nghiệp không thể thanh toán được các khoản nợ đến hạn như nợ vay ngân hàng, trái phiếu. Ngoài ra là các khoản cổ tức của cổ phiếu thông thường và ưu đãi không thể thanh toán cho các cổ đông. Chính vì vậy, tại luận văn này thì rủi ro của ngân hàng được đề cập cũng chính là rủi ro phá sản. Shaffer (2012) cho rằng các ngân hàng gặp rủi ro phá sản hay nguy cơ thất bại khi tập hợp các rủi ro cùng một lúc, tăng giảm rủi ro này bằng cách điều chỉnh các nhân tố rủi ro trong ngân hàng như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản hay rủi ro hoạt động. Luận văn: Tác động hóa thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.

Do đó, Beaver (1966) đã tiến hành phân loại hai nhóm doanh nghiệp phá sản và không bị phá sản và phân tích 6 chỉ số tài chính đó là tỷ lệ dòng tiền trên tổng nợ, tỷ suất sinh lời ROA, tỷ lệ nợ trên tài sản, tỷ lệ vốn lưu động trên tài sản, tỷ lệ thanh toán hiện hành, khoản phi tín dụng, kết quả các chỉ số này giữa hai nhóm doanh nghiệp có sự khác biệt.

Kế thừa kết quả này thì Altman (1968) đã đưa ra hệ số Z – Score là sự kết hợp của 5 chỉ số tài chính khác nhau với các trọng số không giống nhau, hệ số này thường được ứng với các doanh nghiệp có sự cổ phần hóa. Tuy nhiên, Alhman (1968) cũng cho rằng hệ số Z – Score của mình không áp dụng cho các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực tài chính ngân hàng vì mức độ nhạy cảm và rủi ro hệ thống rất cao. Do đó, để vận dụng chỉ số này cho ngành tài chính ngân hàng thì Hannan và Hanweck (1988) đã kế thừa của Alhman (1968) tuy nhiên tập trung nhiều hơn và hai vấn đề chính là tỷ suất ROA và VCSH của ngân hàng nhằm xác định chỉ số rủi ro RI đây cũng được xem là Z – Score, nhằm tính xác suất vỡ nợ của ngân hàng. Chỉ số đó có công thức như sau:

Với ROAi là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản bình quân hàng năm i và E(ROAi) là bình quân ROA của các ngân hàng trong giai đoạn mình nghiên cứu; CAPi là tỷ lệ VCSH trên tổng tài sản năm i;  σROA là độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lời ROAi trong giai đoạn nghiên cứu.

Hệ số “Z – Score của NHTM được hiểu là sẽ đưa về một biến với cùng phân phối, độ lệch chuẩn (σ là 1 và mean là 0). Dù tại mỗi ngân hàng có ROAi và CAPi không tương đồng nhau nhưng khi đưa các biến về cùng độ lệch chuẩn và phân phối” thì hệ số Z – Score có thể giúp ta so sánh với các ngân hàng với nhau. Mặt khác, hệ số này có ý nghĩa với các biến cố về lợi nhuận đặc biệt khi lợi nhuận âm, có thể được hấp thụ bởi vốn nên ngân hàng tránh được sự kiệt quệ về tài chính. Hay nói cách khác hệ số Z -Score của Hannan và Hanweck (1988) cho thấy khả năng tiếp nhận thiệt hại của VCSH ngân hàng.

Hannan và Hanweck (1988) “cho rằng khi (ROA + E/A) ≤ 0 thì ngân hàng sẽ lâm vào tình trạng khánh kiệt tài chính và rủi ro vỡ nợ cao. Bởi vì VCSH của ngân hàng được xem là tấm đệm hấp thụ cú sốc từ việc lợi nhuận của ngân hàng bắt đầu đi về âm, giúp ngân hàng tiếp tục được hoạt động. Tuy nhiên tình trạng thua lỗ nếu không cải thiện hoặc mức độ thua lỗ lớn mà dẫn đến việc âm vốn chủ sở hữu của ngân hàng (E < lợi nhuận bị âm) thì điều này đồng nghĩa chỉ tiêu ROA + E/A sẽ giảm dần, đến khi (ROA + E/A) bị âm tức là ngân hàng đã đứng bên bờ vực vỡ nợ. Z – Score cho biết số độ lệch chuẩn so với giá trị trung bình, giá trị này mang ý nghĩa cảnh báo khi tỷ suất ROA của một ngân hàng giảm xuống dưới giá trị kỳ vọng mà tại đó ta có thể xem xét trước khi VCSH cạn kiệt và ngân hàng lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả. Do đó, chỉ số Z – Score được tính toán cho một ngân hàng càng cao nghĩa là nó càng cao hơn mức trung bình thì có thể nói tình hình tài chính càng an toàn, ngược lại chỉ số Z – Score càng thấp thì rủi ro phá sản của ngân hàng càng cao.

Xác suất phá sản của ngân hàng là nghịch đảo với công thức hệ số nguy cơ phá sản Z – Score. Cũng theo Hannan và Hanweck (1988), với Z > 0, xác suất vỡ nợ NHTM: P( ROA ≤ -E/A) ≤ Z – 2. Như vậy, xác suất vỡ nợ của một ngân hàng (i) tại thời điểm (t) là Pit = Zit – 2 (với Z > 0). Pit càng cao thì xác suất vỡ nợ NHTM tại thời điểm t càng cao. Rủi ro vỡ nợ NHTM được đo lường ở đây bắt nguồn từ khả năng sinh lời và hấp thụ các biến cố từ lợi nhuận của vốn chủ sở hữu. Nói cách khác, khi lợi nhuận kém và không cải thiện đi lên và/hoặc vốn chủ sở hữu không đủ để chịu nổi những cú sốc thì rủi ro vỡ nợ càng tăng, điều này làm Pit tăng.

Đồng thời, qua tính toán thực nghiệm thì Hannan và Hanweck (1988) đồng tình với kết quả của Hatlman (1968) khi cho rằng hệ số Z – Score lớn hơn 2,6 thì ngân hàng có HĐKD lành mạnh, hệ số nằm trong khoảng từ 1,1 đến thấp hơn 2,6 là không rõ ràng và dưới 1,1 là ngân hàng đang có nguy cơ phá sản cao.

2.3. Tác động của đa dạng hóa thu nhập đến rủi ro của các ngân hàng thương mại Luận văn: Tác động hóa thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.

Dựa trên ba lý thuyết nền tảng về trung gian tài chính, danh mục đầu tư và kinh tế theo quy mô thì tác động của ĐDHTN đối với rủi ro tại các NHTM được trình bày như sau:

2.3.1. Lý thuyết trung gian tài chính

Diamond (1984) cho rằng trong các trung gian tài chính thì NHTM là một điển hình cho việc ĐDHTN từ các danh mục khi cho vay sẽ làm giảm thiểu được việc bất cân xứng hay các chi phí giám sát của ngân hàng. Hay nói cách khác, các NHTM thực hiện việc trung gian giữa huy động các khoản tiền gửi sau đó tiến hành cho vay đến các khách hàng thiếu vốn trên thị trường, từ đó buộc các NHTM phải có trách nhiệm giám sát các khoản vay đó. Nếu theo dõi và giám sát kém hiệu quả thì các khoản vay có xu hướng sẽ kém chất lượng, có nghĩa là khả năng thu hồi gốc và lãi kém đi và đây được xem là khoản vay không hiệu quả.

Mặt khác, Diamond (1984) còn chỉ ra rằng tại các NHTM khi tiến hành cho các doanh nghiệp với những dự án độc lập vay tăng lên, thì việc mất cân xứng truyền thông thông tin sẽ hạn chế hay các chi phí giám sát cũng giảm xuống. Nói cách khác ngân hàng khắc phục việc thiếu thông tin khách hàng hay giám sát tốt hơn, giảm được các mức phí trung gian tài chính thấp hơn. Do đó, lý thuyết trung gian tài chính đã chỉ ra rằng, nếu các NHTM rải các khoản vay của họ cho các doanh nghiệp khác nhau, dự án độc lập khác nhau không có sự tương quan thì ngân hàng sẽ giảm được các rủi ro.

Vì vậy, với luận văn này thì ta có thể hiểu các NHTM độc lập trong việc cho vay đối với các doanh nghiệp hay dự án đầu tư sẽ giảm được sự liên kết giữa các đối tượng, tránh được các rủi ro cấu kết và đưa sai về mặt thông tin. Hay nói cách khác, khi NHTM không tập trung vào một khía cạnh kinh doanh nào đó, mà chia nhỏ ra thành nhiều phần khác nhau sẽ giúp cho ngân hàng đa dạng hóa được hoạt động của mình, hạn chế được các rủi ro từ một phía và tận dụng được các nguồn lực tốt hơn.

2.3.2. Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại Luận văn: Tác động hóa thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.

Lý thuyết này được Markowitz (1952) đặt nền móng và chủ yếu tập trung vào việc các khoản đầu tư trên một danh mục sẽ được thu nhập cao nhất dựa trên mức rủi ro có thể lường trước và chấp nhận được. Đồng thời, Markowitz (1952) cũng chỉ ra rằng trong hoạt động đầu tư thì các doanh nghiệp hay các nhà đầu tư cá nhân nên chọn một sự tối ưu cho cả hai mục dựa trên những tính toán và khả năng chấp nhận rủi ro. Mặt khác, lý thuyết danh mục đầu tư được ứng dụng cho các cá nhân đầu tư không thích rủi ro có thể xây dựng được một danh sách hay danh mục đầu tư vào để tối đa hóa lợi ích với mức rủi ro là không có. Đặc biệt, lý thuyết cho rằng không nên xem xét một cách cá thể các đặc điểm rủi ro hay lợi ích từ bất cứ khoản đầu tư nào, mà nên xem xét sự ảnh hưởng của nó đến cả danh mục đầu tư về cả mặt lợi ích lẫn rủi ro. Vì vậy, một nhà đầu tư sẽ mong muốn xây dựng một danh mục đầu tư gồm nhiều loại tài sản có thể mang lại lợi nhuận với mức độ rủi ro mong muốn thấp hơn, tuy nhiên điều này hoàn toàn không dễ dàng. Nên thay vào đó, các nhà đầu tư sẽ bắt đầu tính toán lợi ích mong muốn của mình sau đó sẽ tiến hành thiết kế một danh mục đầu tư với mức rủi ro thấp nhất nhưng vẫn tạo được lợi ích cao nhất.

Nếu áp dụng cho bối cảnh của các NHTM thì Atemnkeng và Nzongang (2006) cho rằng một danh mục đầu tư có sự đa dạng hóa với các loại tài sản sẽ do chiến lược hành động của tổ chức, đồng thời tỷ lệ lợi tức được hưởng và rủi ro của danh mục liên quan trực tiếp đến quyền sở hữu của các loại tài sản đó. Điều này có nghĩa là đa dạng hóa danh mục đầu tư hay chính là việc mà các ngân hàng đa dạng các hoạt động kinh doanh của mình, nó thuộc thẩm quyền quyết định của ban giám đốc. Việc giảm thiểu được rủi ro của ngân hàng được xét đến từ việc nguồn thu tăng thêm nhưng sẽ phụ thuộc vào tài sản và các khoản nợ hay chi phí mà ngân hàng phải trả, nó tương ứng với các loại tài sản mà ngân hàng đang nắm giữ.

Mặt khác, khi xét về HĐKD của ngân hàng thì đa dạng hóa danh mục đầu tư hay đa dạng hóa các nguồn thu nhập chính là việc mà các ngân hàng muốn chia nhỏ rủi ro và tăng hiệu quả trong HĐKD của mình. Hay nói cách khác, mỗi sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng cung cấp được xem là một khoản đầu tư với thu nhập độc lập không có tương quan nhau khi rủi ro xảy ra. Do đó, hoạt động đa dạng hóa sẽ tác động đến thu nhập tổng thể của ngân hàng, đồng thời điều chỉnh mức rủi ro tổng thể của tổ chức. Mặt khác, việc đa dạng hóa các khoản thu nhập cũng xuất phát từ các rủi ro của các nhân tố ảnh hưởng đến đa dạng hóa như rủi ro tín dụng, phá sản hay thanh khoản.

2.3.3. Lý thuyết tính kinh tế theo quy mô

Panzar và Willig (1977) cho rằng nếu các đơn vị kinh doanh tiến hành mở rộng các sản phẩm dịch vụ cung cấp thì chi phí sản xuất trung bình sẽ giảm xuống. Điều này có nghĩa là khi các đơn vị kinh doanh thực hiện việc mở rộng hay đa dạng hóa lĩnh vực kinh doanh của mình, thì các nguồn lực của doanh nghiệp sẽ được biến đổi và tận dụng, hạn chế được sự lãng phí (Markides và Williamson, 1994). Nếu nhiều lĩnh vực kinh doanh cùng được thực hiện dựa trên nguồn lực sẵn có thì tổng chi phí sẽ có thể được hạn chế từ đó làm cho lợi nhuận tăng lên hay tính hiệu quả sử dụng nguồn lực tạo ra thu nhập cũng được đánh giá tốt hơn. Luận văn: Tác động hóa thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.

Với NHTM là đơn vị kinh doanh cung cấp với đầu ra sản phẩm là các sản phẩm tài chính thì khi các NHTM tiến hành đa dạng hóa các loại sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khách hàng, thì vẫn với đội ngũ nhân lực, công nghệ, vật chất hay hệ thống thông tin đó vẫn được tận dụng để vận hành. Từ đó, tiết kiệm được chi phí, hiệu quả cũng tăng lên và rủi ro được kiểm soát tốt hơn. Nhưng Klein và Saidenberg (1998) cho rằng khi các NHTM tiến hành hoạt động đa dạng hóa sẽ làm cho các lĩnh vực chuyên môn vốn là thế mạnh của ngân hàng sẽ bị pha loãng về khả năng quản trị cũng như phạm vi hoạt động. Mặt khác, khi đa dạng hóa các lĩnh vực kinh doanh thì NHTM cũng sẽ gia tăng các loại chi phí đại diện ví dụ như thuê thêm chuyên gia, bổ sung nhân lực để quản lý hay vận hành những mảng mới chưa có kinh nghiệm (Deng và Elyasiani, 2008). Ngoài ra, quy mô đa dạng hóa của ngân hàng càng lớn thì rủi ro cũng sẽ tăng theo, do lúc này các ngân hàng sẽ tiến hành các mảng tự doanh hay các hạng mục đầu tư mạo hiểm như bảo hiểm, bất động sản, chứng khoán,… từ đó làm cho rủi ro của hệ thống tăng lên theo. Mặc dù các thu nhập ngoài lãi như dịch vụ gửi tiền, ủy thác,… thì không làm tăng rủi ro.

Tóm lại, dựa trên ba lý thuyết liên quan thì tại các NHTM thì hoạt động ĐDHTN sẽ tác động làm giảm thiểu đi rủi ro cho các NHTM hay hạn chế tối đa nguy cơ phá sản của các ngân hàng, thậm chí gia tăng lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh. Hay nói cách khác, khi các NHTM tiến hành ĐDHTN thì sự ảnh hưởng quá lớn từ những hoạt động kinh doanh truyền thống sẽ bị hạn chế, rủi ro đến từ một phía sẽ được chia nhỏ ra. Mặt khác, hoạt động ĐDHTN tại các NHTM là sự tận dụng triệt để các nguồn lực có thể khai thác nhằm tiết kiệm chi phí nhưng vẫn tạo ra lợi ích thêm cho ngân hàng (Markides và Williamson, 1994). Mặt khác, các hoạt động phi truyền thống hay ĐDHTN sẽ làm cho ngân hàng tiếp cận được nhiều khách hàng hơn và thu thập được nhiều thông tin từ họ, do đó sẽ làm hạn chế được bất cân xứng thông tin và làm giảm đi rủi ro. Đồng thời, khi ĐDHTN thì các nguồn thu độc lập tránh được tương quan tổng thể nên rủi ro trong hệ thống cũng giảm xuống theo. Cuối cùng, ĐDHTN tại các NHTM sẽ tăng cường hoạt động bán chéo với các khách hàng, tận dụng tốt hơn mối quan hệ với họ để gia tăng thị phần, tăng tính cạnh tranh với các ngân hàng khác và tăng sự sáng tạo trong việc cung cấp sản phẩm hay dịch vụ tài chính tại các ngân hàng. Do đó, hạn chế được sự ảnh hưởng lớn từ RRTD, có thêm các nguồn thu nên giải quyết được áp lực thanh toán cho ngân hàng nếu tín dụng có rủi ro xảy ra (Acharya và cộng sự, 2006; Lepetit và cộng sự, 2008).

2.4. Tình hình nghiên cứu Luận văn: Tác động hóa thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.

2.4.1. Các nghiên cứu nước ngoài

Tại Nam Phi, khi nghiên cứu về tác động của ĐDHTN, quy mô ngân hàng và khủng hoảng tài chính toàn cầu đến hoạt động kinh doanh của NHTM, thì Moudud và cộng sự (2020) đã thu thập số liệu 45 NHTM từ năm 2004 – 2015. Công trình này tập trung vào định lượng với các mô hình hồi quy đa biến theo phương pháp GMM. Khi phản ảnh cho rủi ro của ngân hàng thì nhóm tác giả sử dụng hệ số Z – Score. Kết quả nghiên cứu cho thấy ĐDHTN tác động tích cực đến hệ số Z – Score, có nghĩa là hoạt động ĐDHTN làm giảm đi rủi ro tại các ngân hàng, ngoài ra nhóm tác giả cho rằng các ngân hàng có quy mô càng lớn thì càng nhận được nhiều lợi ích từ hoạt động ĐDHTN đem lại. Ngoài ra, các nhân tố như quy mô ngân hàng tác động tích cực đến hệ số Z – Score có nghĩa là làm giảm đi rủi ro của ngân hàng, do có năng lực tài chính để chống đỡ những bất trắc xảy ra với ngân hàng. Nhưng tỷ lệ nợ xấu lại tác động tiêu cực đến Z – Score, hay nợ xấu làm gia tăng rủi ro vỡ nợ trong ngân hàng.

Tại Thổ Nhĩ Kỳ, khi nghiên cứu về tác động của ĐDHTN đến hiệu quả kinh doanh và rủi ro vỡ nợ của các NHTM thì Buyuran và Ekşi (2021) đã thu thập số liệu của 17 NHTM niêm yết từ năm 2010 – 2017. Công trình này tập trung vào định lượng với các mô hình hồi quy đa biến theo phương pháp GMM. Tại nghiên cứu này, khi phản ảnh cho rủi ro, hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thì nhóm tác giả sử dụng hệ số Z – Score, ROA. Kết quả nghiên cứu cho thấy, ĐDHTN tác động tích cực đến hệ số Z – Score, ROA, điều này có nghĩa là khi các NHTM tăng ĐDHTN sẽ làm giảm rủi ro vỡ nợ và tăng hiệu quả kinh doanh cho ngân hàng. Ngoài ra, nhóm tác giả cũng xem xét sự tác động của các biến kiểm soát, trong đó tỷ lệ VCSH, quy mô ngân hàng tác động tích cực đến Z – Score, ROA. Nhưng tăng trưởng tiền gửi, nợ xấu khi tác động đến Z – Score, ROA thì lại là tiêu cực.

Tại khu vực Châu Á Thái Bình Dương, khi ĐDHTN và rủi ro phá sản của các NHTM, thì Wang và Lin (2021) thu thập số liệu của 14 NHTM từ năm 2011 – 2016 thiết kế theo dạng bảng. Công trình này tập trung vào định lượng với các mô hình hồi quy đa biến theo phương pháp GMM hệ thống. Với rủi ro phá sản thì nhóm tác giả sử dụng hệ số Z – Score. Kết quả nghiên cứu cho thấy ĐDHTN tác động tích cực đến hệ số Z – Score, điều này có nghĩa là khi các NHTM tăng ĐDHTN sẽ làm giảm rủi ro vỡ nợ cho ngân hàng. Các biến kiểm soát cũng được xem xét đến sự tác động đến hệ số rủi ro phá sản của ngân hàng, trong đó thu nhập lãi cận biên, GDP có tác động tích cực hay đồng nghĩa là ảnh hưởng làm giảm rủi ro của ngân hàng. Nhưng quy mô tài sản, nợ xấu lại tác động tiêu cực đến Z – Score hay có nghĩa các biến số này tăng lên sẽ tác động tích cực đến rủi ro phá sản của ngân hàng. Luận văn: Tác động hóa thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.

Tại các NHTM được thu thập từ Tổng công ty Bảo hiểm tiền gửi Liên bang (FDIC) và Ngân hàng Thế giới, khi nghiên cứu về tác động của đa dạng hóa thu nhập và sự rủi ro, ổn định của các NHTM, thì Abbas và Ali (2021) thu thập số liệu của NHTM từ năm 2002 – 2019. Công trình này tập trung vào định lượng với các mô hình hồi quy đa biến theo phương pháp GMM hệ thống. Trong nghiên cứu này để đại diện cho rủi ro phá sản thì nhóm tác giả sử dụng hệ số Z – Score. Kết quả nghiên cứu cho thấy ĐDHTN tác động tích cực đến hệ số Z – Score, điều này có nghĩa là khi các NHTM tăng ĐDHTN sẽ làm giảm rủi ro vỡ nợ cho ngân hàng. Song song đó các kết luận liên quan đến tỷ lệ VCSH, tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ lạm phát tác động tích cực đến Z – Score đồng nghĩa với việc các nhân tố này tác động làm giảm rủi ro của ngân hàng. Nhưng đa dạng hóa quỹ đầu tư, đa dạng hóa tài sản, tỷ lệ thanh khoản, tỷ lệ chi phí hoạt động, loại hình kinh doanh tác động tiêu cực đến Z – Score đồng nghĩa với việc các nhân tố này tác động làm tăng rủi ro của ngân hàng.

Tại Rwanda, khi nghiên cứu về tình trạng kiệt quệ tài chính của các NHTM niêm yết, thì Ntawumenyumunsi và Maringa (2022) đã thu thập số liệu các NHTM từ năm 2015 – 2016. Công trình này tập trung vào định lượng với các mô hình hồi quy đa biến theo phương pháp OLS để kết luận. Trong nghiên cứu này để đại diện cho kiệt quệ tài chính thì nhóm tác giả đã sử dụng hệ số Z – Score. Kết quả nghiên cứu cho thấy ĐDHTN tác động tích cực đến hệ số Z – Score, điều này có nghĩa là khi các NHTM tăng ĐDHTN sẽ làm giảm tình trạng kiệt quệ cho ngân hàng. Mặt khác, tỷ lệ VCSH, tăng trưởng doanh thu tác động tích cực đến Z – Score đồng nghĩa với việc các nhân tố này tác động làm giảm rủi ro của ngân hàng. Nhưng tỷ lệ nợ phải trả tác động tiêu cực đến Z – Score đồng nghĩa với việc các nhân tố này tác động làm tăng rủi ro của ngân hàng.

Tại Ethiopia, khi nghiên cứu về tình trạng ổn định tài chính của các NHTM, thì Adem (2023) sử dụng số liệu của các NHTM từ 45 quốc gia thuộc Châu Phi từ năm 2000 – 2017. Công trình này tập trung vào định lượng với các mô hình hồi quy đa biến theo phương pháp GMM hệ thống. Trong nghiên cứu này thì tác giả sử dụng Z – Score đại diện cho sự ổn định tài chính hay rủi ro của ngân hàng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng hoạt động ĐDHTN tác động tích cực đến Z – Score hay làm gia tăng ổn định tài chính của ngân hàng, tuy nhiên khi ĐDHTN quá tùy tiện thì nó lại đi theo chiều hướng ngược lại. Mặt khác, quy mô hoạt động, tính thanh khoản, hệ số an toàn vốn, lợi nhuận, tăng trưởng kinh tế tác động tích cực đến hệ số Z – Score, có nghĩa là khi các nhân tố này tăng cao thì sự ổn định gia tăng và rủi ro ngân hàng giảm xuống. Nhưng tỷ lệ lạm phát lại tác động tiêu cực đến hệ số Z – Score.

2.4.2. Các nghiên cứu trong nước Luận văn: Tác động hóa thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.

Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015) khi nghiên cứu về lợi nhuận và rủi ro của các NHTM Việt Nam khi thực hiện đa dạng hóa nguồn thu từ các hoạt động phi truyền thống, thì dữ liệu của 37 NHTM từ năm 2006 – 2013 được sử dụng.  Công trình này tập trung vào định lượng với các mô hình hồi quy đa biến theo phương pháp Pooled OLS, FEM, REM và GMM. Trong đó, để đại diện chi lợi nhuận và rủi ro hai chỉ tiêu đó là ROA, Z – Score được sử dụng. Thực nghiệm kết quả cho thấy ĐDHTN càng cao thì lợi nhuận của các NHTM Việt Nam cũng gia tăng, tuy nhiên rủi ro cũng tăng theo vì việc đa dạng hóa này làm cho việc kinh doanh của ngân hàng có sự phân tán thiếu tập trung và các chi phí liên quan đến đầu tư để đa dạng hóa cũng tăng theo. Ngoài ra, các NHTM quy mô nhỏ không đủ sức cạnh tranh trong việc đa dạng hóa so với các NHTM quy mô lớn, nên kém hiệu quả trong hoạt động dẫn đến rủi ro cao hơn.

Lâm Thanh Phi Quỳnh và cộng sự (2019) khi nghiên cứu về tác động giữa ĐDHTN, đa dạng hóa tài sản đến lợi nhuận và rủi ro phá sản của các NHTMCP Việt Nam, thì dữ liệu thứ cấp 32 NHTMCP từ năm 2000 – 2017 được thu thập. Công trình này tập trung vào định lượng với các mô hình hồi quy đa biến theo phương pháp Pooled OLS, FEM, REM và GMM. Trong đó, để đại diện chi lợi nhuận và rủi ro thì hai chỉ tiêu đó là ROA, Z – Score được sử dụng. Thực nghiệm kết quả cho thấy ĐDHTN, quy mô tài sản, tăng trưởng tài sản tác động tích cực đến ROA, Z – Score. Hay nói cách khác ĐDHTN, quy mô tài sản và tăng trưởng tài sản làm gia tăng lợi nhuận nhưng lại làm giảm đi rủi ro cho các NHTMCP. Tuy nhiên, tỷ lệ VCSH, tỷ lệ tiền gửi, thanh khoản lại tác động tiêu cực đến ROA, Z – Score có nghĩa là các nhân tố này sẽ làm giảm lợi nhuận nhưng lại làm tăng rủi ro tại các NHTMCP Việt Nam.

Phạm Gia Quyên và cộng sự (2021) khi nghiên cứu về ĐDHTN tác động đến ngân hàng thì dữ liệu 29 NHTM từ năm 2005 – 2018 được sử dụng. Công trình này tập trung vào định lượng với các mô hình hồi quy đa biến theo phương pháp GMM. Trong đó, để đại diện rủi ro của ngân hàng thì Z – Score được chọn làm đại diện. Thực nghiệp cho thấy sự tác động của ĐDHTN làm giảm đi rủi ro của các ngân hàng. Tuy nhiên, các biến kiểm soát như sở hữu Nhà nước hay các NHTM có quy mô lớn thì tận dụng được lợi thế để hạn chế được rủi ro.

Phạm Thủy Tú và cộng sự (2021) trong nghiên cứu về sự ổn định của ngân hàng thì  số liệu 30 NHTM từ năm 2010 – 2018 được sử dụng. Công trình này tập trung vào định lượng với các mô hình hồi quy đa biến theo phương pháp GMM hệ thống để kết luận. Nhóm tác giả đã chỉ ra rằng sự ổn định của ngân hàng phụ thuộc vào mức độ rủi ro của tổ chức, do đó sử dụng Z – Score để đại diện. Thực nghiệm kết quả cho thấy tỷ lệ VCSH, quy mô, tỷ lệ cho vay, GDP và tỷ lệ lạm phát có ảnh hưởng tích cực đến Z – Score đồng nghĩa với việc các nhân tố này ảnh hưởng làm giảm rủi ro hay tăng sự ổn định của ngân hàng. Ngược lại, thị phần huy động vốn, đa dạng hóa thu nhập, giá trị thị trường của cổ phiếu, sở hữu Nhà nước ảnh hưởng tiêu cực đến Z – Score hay làm gia tăng rủi ro giảm sự ổn định cho hệ thống NHTM.

Lê Thanh Tâm và cộng sự (2022) khi nghiên cứu về tác động của ĐDHTN đến rủi ro trong HĐKD của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn Covid 19 thì 30 NHTM từ năm 2012 – 2020 được thu thập. Công trình này tập trung vào định lượng với các mô hình hồi quy đa biến theo theo phương pháp FEM và FGLS để kết luận. Để đại diện cho rủi ro của thì chỉ tiêu Z – Score, RROA, RROE được sử dụng. Kết quả nghiên cứu cho thấy ĐDHTN tác động tích cực đến Z – Score, RROA, RROE, hay nói cách khác ĐDHTN làm giảm đi mức độ rủi ro trong HĐKD của các NHTM. Mặt khác các biến kiểm soát như tỷ lệ VCSH, tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, tăng trưởng kinh tế, đại dịch Covid 19 tác động tích cực đến Z – Score, RROA, RROE, hay nói cách khác các biến số này tăng lên làm giảm đi mức độ rủi ro trong HĐKD của các NHTM. Nhưng tăng trưởng tiền gửi tăng lên thì lại làm tăng mức độ rủi ro trong HĐKD của các NHTM Việt Nam. Luận văn: Tác động hóa thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.

Bảng 2.1: Tóm tắt các nghiên cứu được lược khảo

2.4.3. Khoảng trống nghiên cứu

Nhìn chung thì đa phần các tác giả đều lập luận rằng hoạt động ĐDHTN sẽ tác động tích cực đến hệ số Z – Score, hay nói cách khác đa dạng hóa giúp cho các ngân hàng chia nhỏ rủi ro và làm giảm đi nguy cơ phá sản. Nhưng vẫn có hai lập luận của Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015); Phạm Thủy Tú và cộng sự (2021) thì lại cho rằng ĐDHTN lại làm gia tăng nguy cơ phá sản tại các NHTM, vì khi ĐDHTN sẽ yêu cầu các NHTM phải có mức độ đầu tư nhiều hơn vào các nguồn lực hay tận dụng nguồn sẵn có, nhưng nếu việc đa dạng hóa không hiệu quả thì chi phí hoạt động gia tăng nhiều hơn, thậm chí làm giảm đi sức cạnh tranh. Điều này làm giảm đi sự hiệu quả trong kinh doanh và còn gia tăng rủi ro phá sản cho ngân hàng nhiều hơn. Vì vậy, trong luận văn này cần phải xem xét về tác động này trong giai đoạn 2011 – 2023 để có kết luận cập nhật hơn.

Mặt khác, các nghiên cứu cũng tập trung phân tích thêm về mức độ tác động của các biến kiểm soát thuộc nội tại ngân hàng như quy mô ngân hàng, tỷ lệ VCSH, tăng trưởng tín dụng hay tiền gửi, thanh khoản, an toàn vốn,… các biến vĩ mô như tăng trưởng kinh tế và lạm phát. Tuy nhiên, Adem (2023) và Phạm Thủy Tú và cộng sự (2021) lại có kết luận trái ngược nhau về sự tác động của lạm phát đến Z – Score. Nếu Adem (2023) cho rằng lạm phát làm tăng nguy cơ rủi ro của ngân hàng thì Phạm Thủy Tú và cộng sự (2021) lại kết luận ngược lại. Do đó, tạo ra khoảng trống cần luận văn này xác định lại với giai đoạn 2011 – 2023 của hệ thống NHTM Việt Nam. Luận văn: Tác động hóa thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.

Cuối cùng, đối sánh với thực tế thì đại dịch Covid 19 đem lại những tác động xấu rất nhiều cho nền kinh tế thế giới lẫn Việt Nam nói riêng, thậm chí sự tác động tiêu cực này lan rộng đến tất cả các ngành nghề trong thị trường. Do đó, ngân hàng cũng không thể tránh khỏi vì vậy nguy cơ gặp những rủi ro như tín dụng, thanh khoản,… và đe dọa đến nguy cơ vỡ nợ. Tuy nhiên, Lê Thanh Tâm và cộng sự (2022) kết luận ngược lại, đại dịch Covid lại hạn chế rủi ro phá sản cho các NHTM Việt Nam. Do đó, tạo ra khoảng trống cần xác định lại với hệ thống NHTM Việt Nam.

TÓM TẮT CHƯƠNG 2

Tại chương này thì luận văn tóm tắt và luận giải các nét đặc trưng về lý thuyết rủi ro của các NHTM, trong đó nhấn mạnh với rủi ro phá sản là rủi ro cao nhất trong hoạt động của các NHTM và lựa chọn Z – Score là chỉ tiêu phản ánh cho rủi ro này. Mặt khác, lập luận thông qua các lý thuyết về sự tác động của ĐDHTN đến hệ số Z – Score của ngân hàng, để tạo sự chắc chắn thì với các lược khảo nghiên cứu luận văn nhận ra nét tương đồng giữa thực nghiệm và lý thuyết. Tuy nhiên, luận văn cũng xác định các khoảng trống từ các công trình để tạo điều kiện đề xuất với bối cảnh các NHTM Việt Nam về mô hình và giả thuyết nghiên cứu phù hợp tại chương 3. Luận văn: Tác động hóa thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: PPNC Tác động thu nhập đến rủi ro tại các ngân hàng

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537