Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hoạt động các ngân hàng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tên đề tài: Tác Động Của Cấu Trúc Vốn Đến Hiệu Quả Hoạt Động Của Các Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Niêm Yết Trên Thị Trường Chứng Khoán Việt Nam
Tóm tắt:
Qua quá trình thực hiện luận văn tác giả tổng hợp được những nội dung chính như sau:
Thứ nhất: Nghiên cứu đã nêu được vấn đề, mục tiêu và những câu hỏi mà nghiên cứu này cần đạt được. Đồng thời nghiên cứu đã xác định được phương pháp tổng quát để thực hiện phân tích.
Thứ hai: Nghiên cứu này đã hệ thống hóa được cơ sở lý thuyết liên quan đến ngân hàng thương mại và các vấn đề liên quan đến cấu trúc vốn của các NHTM Việt Nam. Đồng thời, nghiên cứu đã khảo lược các công trình nghiên cứu trước đây và tiến hành lập được mô hình hồi quy gồm các yếu tố sau: Quy mô ngân hàng, Tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản, Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu, Tỷ lệ tổng vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, Tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản, Tốc độ tăng trưởng GDP và Tỷ lệ lạm phát. Trong đó ngoại trừ Tốc độ tăng trưởng GDP không có ý nghĩa thống kê tác động, còn lại các yếu tố đền có tác động đến hiệu quả hoạt động tại các NHTM Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy Quy mô ngân hàng, Tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản và Tốc độ tăng trưởng GDP có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động. Còn các yếu tố Tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản, Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu, Tỷ lệ tổng vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản và Tỷ lệ lạm phát tác động tiêu cực.
Thứ ba: Dựa vào kết quả nghiên cứu so sánh với các nghiên cứu trước và dựa vào mức độ tác động của các yếu tố đưa ra những gợi ý chính sách cho từng yếu tố để các NHTM Việt Nam nâng cao hiệu quả hoạt động trong tương lai.
Thứ tư: Dựa vào quá trình và kết quả nghiên cứu thì nhận thấy các hạn chế của nghiên cứu và từ đó định hình cho những hướng nghiên cứu mới cho thời gian sắp tới.
Từ khóa: Hiệu quả hoạt động, Quy mô ngân hàng, Tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản, Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu, Tỷ lệ tổng vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, Tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản, Tốc độ tăng trưởng GDP và Tỷ lệ lạm phát.
ABSTRACT
Thesis title: Factors affecting credit growth in joint-stock commercial banks in Vietnam
Abstract: Luận văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hoạt động các ngân hàng.
Through the process of writing this thesis, the author has summarized the following main contents:
Firstly: The research has stated the problem, objectives and questions that this research needs to achieve. At the same time, the study has identified a general method to perform the analysis.
Second: This study has systematized the theoretical basis related to commercial banks and issues related to capital structure of Vietnamese commercial banks. At the same time, the study has examined previous studies and conducted a regression model including the following factors: Bank size, Debt to total assets ratio, Debt to capital ratio Ownership, Total Ownership to Total Assets, Deposits to Total Assets, GDP Growth Rate, and Distributed Utilization Rate. In which, except for GDP growth rate which has no statistically significant impact, the remaining compensatory factors have an impact on operational efficiency at Vietnamese banks. The research results show that the size of goods, the ratio of deposits to total assets and the GDP growth rate have a positive impact on the performance. The remaining factors Debt-to-total assets ratio, Debt-to-equity ratio, Total debt-to-total assets ratio and Utilization ratio have a negative impact.
Thirdly: Based on the research results compared with previous studies and based on the impact of the factors, we provide policy suggestions for each factor for Vietnamese commercial banks to improve their operational efficiency in the future.
Fourth: Based on the research process and results, the limitations of the research are recognized and thereby shape new research directions for the coming time.
Keywords: Operating efficiency, Bank size, Total debt to total assets ratio, Total debt to equity ratio, Total equity to total assets ratio, Deposit to total assets ratio, GDP Growth Rate and Inflation Rate.
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngân hàng đang là những chủ thể tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, góp phần không nhỏ vào quá trình hội nhập và phát triển của đất nước. Một hệ thống ngân hàng hoạt động thông suốt và hiệu quả sẽ giúp nền kinh tế phát triển bền vững. Ngược lại, một ngân hàng yếu kém, nguy cơ thua lỗ, phá sản sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến hệ thống ngân hàng, từ đó ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế. Luận văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hoạt động các ngân hàng.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, các ngân hàng đang phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt không chỉ đến từ các ngân hàng trong nước mà còn đến từ các ngân hàng nước ngoài. Chính vì vậy, các ngân hàng cần phải nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh mới có thể tồn tại và phát triển bền vững, đồng thời việc nghiên cứu để tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng là cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Hiện có rất nhiều yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng, bao gồm các yếu tố bên trong như quy mô, cấu trúc vốn, mức độ thanh khoản, rủi ro tín dụng, v.v. và các yếu tố bên ngoài, bao gồm các yếu tố đặc trưng ngành và các yếu tố kinh tế vĩ mô, như mức độ tập trung thị trường, tăng trưởng GDP, lạm phát (Athanasoglou, 2008). Trong những yếu tố nêu trên, cấu trúc vốn của ngân hàng được xem là một yếu tố quan trọng và có tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Một cấu trúc vốn bất hợp lý sẽ dẫn tới kết quả kinh doanh kém hiệu quả của ngân hàng, từ đó có thể gây ảnh hưởng xấu đến toàn hệ thống ngân hàng và sự bất ổn của nền kinh tế. Chính vì vậy, một cấu trúc vốn an toàn, hiệu quả, phù hợp với tình hình thực tế của các ngân hàng được xem là một trong những yếu tố quan trọng để nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Tác động của cấu trúc vốn lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng hiện tồn tại nhiều quan điểm trái chiều. Berger và Patti (2006) cho rằng cấu trúc vốn có tác động ngược chiều đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng, trong khi Bandt và cộng sự (2014) ủng hộ quan điểm cấu trúc vốn có tác động cùng chiều lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Hoffmann (2010) lại tìm thấy mối quan hệ không đơn điệu giữa cấu trúc vốn với hiệu quả hoạt động của ngân hàng, cụ thể tồn tại một ngưỡng tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn, mà nếu dưới mức ngưỡng này, cấu trúc vốn có tác động ngược chiều đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng và ngược lại, nếu trên mức ngưỡng này, cấu trúc vốn có tác động cùng chiều. Tại Việt Nam, Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013) tìm thấy cấu trúc vốn có tác động cùng chiều đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng, trong khi Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015) cho rằng tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa hai yếu tố trên. Việc nghiên cứu trên cùng đối tượng là các ngân hàng TMCP niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam nhưng lại cho kết quả khác nhau đòi hỏi thêm nghiên cứu bổ sung nhằm kiểm định lại tác động của cấu trúc vốn lên hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Quá trình hội nhập và cạnh tranh trên quy mô toàn cầu hiện nay làm cho số lượng các NHTMCP tại Việt Nam đã gia tăng nhanh chóng. Sự tăng trưởng nhanh về số lượng của hệ thống NHTMCP trong thời gian qua, cùng với sự phát triển của khối các NHTM nước ngoài làm cho mức độ cạnh tranh đối với các NHTMCP Việt Nam ngày càng trở nên khốc liệt hơn. Các ngân hàng có khả năng cạnh tranh thấp và không có khả năng cạnh tranh sẽ được thay thế bằng các ngân hàng có hoạt động hiệu hơn. Trước những thách thức lớn của thị trường, các NHTMCP Việt Nam đã có nhiều động thái cũng như nỗ lực trong việc khai thác các nguồn lực khác của thị trường để phát triển hoạt động của ngành và từng ngân hàng. Một trong những nguồn lực đó là nguồn lực tài chính từ bên ngoài ngân hàng. Thực tế cho thấy, mỗi một NHTMCP đều có chiến lược và mức độ khai thác các nguồn lực tài chính bên ngoài khác nhau và dẫn đến những kết quả khác nhau, thậm chí nguợc chiều nhau. Có ngân hàng thì khai thác có hiệu quả, bảo toàn được nguồn vốn chủ sở hữu và ngày càng phát triển, ngược lại có ngân hàng hoạt động thua lỗ và ngày càng mất dần vốn chủ sở hữu. Như vậy, việc đưa ra một quyết định tài chính và lựa chọn một cấu trúc vốn hợp lý là cần thiết cho sự phát triển của các NHTMCP trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều biến động.
Từ thực tiễn nêu trên, vấn đề nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thật sự cần thiết nhằm giúp cho các nhà quản trị ngân hàng hướng đến một cấu trúc vốn hợp lý hơn. Một cấu trúc vốn hợp lý sẽ đảm bảo cho việc huy động và sử dụng vốn của các ngân hàng có hiệu quả cao hơn, từ đó góp phần làm gia tăng sức cạnh tranh của ngân hàng nhiều hơn. Chính vì điều này, tác giả đã chọn đề tài “Tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm luận văn thạc sỹ.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1. Mục tiêu tổng quát Luận văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hoạt động các ngân hàng.
Nguyên cứu tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các NHTMCP niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Từ đó, đề xuất các gợi ý chính sách nâng cao hiệu quả hoạt động cho NHTMCP trên cơ sở quyết định cấu trúc vốn.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Để thực hiện được mục tiêu tổng quát nêu trên, các mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận văn bao gồm:
Thứ nhất, xây dựng mô hình tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của NHTMCP niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Thứ hai, đo lường mức độ tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của NHTMCP niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Thứ ba, đề xuất các gợi ý chính sách lựa chọn trúc vốn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTMCP niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới.
1.3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Để đáp ứng được các mục tiêu cụ thể nêu trên thì tác giả đã đặt ra các câu hỏi nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, cấu trúc vốn ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả hoạt động của các NHTMCP niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam?
Thứ hai, mức độ tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của NHTMCP niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam như thế nào ?
Thứ ba, những gợi ý chính sách nào được đề xuất nhằm lựa chọn cấu trúc vốn để nâng cao hiệu quả hoạt động của các NHTMCP niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới ?
1.4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các NHTMCP niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Phạm vi về không gian và thời gian nghiên cứu: Luận văn sử dụng số liệu của 16 NHTMCP đang niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn từ năm 2016 – 2020. Nguyên nhân tác giả sử dụng số ngân hàng TMCP niêm yết này là vì số ngân hàng này có số liệu trên BCTC rõ ràng đầy đủ trong giai đoạn này. Mặt khác, giai đoạn này là giai đoạn mà các ngân hàng phải chịu khủng hoảng tài chính năm 2018 và đại dịch Covid – 19 nên có rất nhiều sự thay đổi.
1.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Luận văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hoạt động các ngân hàng.
Tác giả sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá dựa vào tài liệu và các nghiên cứu trước về tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các NHTMCP nhằm đề xuất mô hình nghiên cứu tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các NHTMCP niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Bên cạnh đó nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng phân tích hồi quy đa biến trên cơ sở dữ liệu bảng cân đối để đánh giá mức độ tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các NHTMCP niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Để phân tích dữ liệu bảng, luận văn sử dụng ba phương pháp ước lượng khác nhau bao gồm: mô hình bình phương bé nhất Pooled OLS, mô hình tác động cố định FEM (Fix Effects Model) và mô hình tác động ngẫu nhiên REM (Random Effects Model). Để lựa chọn phương pháp hồi quy nào nào phù hợp nhất trong ba phương pháp nêu trên là kiểm định F-test và kiểm định Breusch-Pagan lagrangian (Breuch và Pagan, 1979). Kiểm định F-test để lựa chọn giữa mô hình Pooled OLS và mô hình FEM. Kiểm định Breusch-Pagan lagrangian để lựa chọn mô hình Pooled OLS và mô hình REM. Để lựa chọn mô hình FEM hay REM sử dụng kiểm định Hausman.
Sau khi lựa chọn mô hình phù hợp, sẽ tiến hạnh kiểm định hiện tượng tự tương quan và hiện tượng phương sai của sai số thay đổi, nếu có hiện tượng tượng tự tương quan và/hoặc hiện tượng phương sai của sai số thay đổi thì nghiên cứu sẽ sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (Feasible Generalized Least Squares – FGLS) để khắc phục hiện tượng tượng tự tương quan và/hoặc hiện tượng phương sai của sai số thay đổi và so sánh các kết quả từ các mô hình.
1.6. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Về mặt khoa học: Đề tài này đã tổng hợp các lý thuyết liên quan đến cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại cùng như mối quan hệ của hai vấn đề nay. Đồng thời, hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trên thế giới và tại Việt Nam. Đề xuất mô hình nghiên cứu về sự ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng tại Việt Nam.
Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu cho thấy sự ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.Từ đó, đề xuất các gợi ý chính sách liên quan đến cấu trúc vốn nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam..
1.7. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Luận văn bao gồm 5 chương:
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu Luận văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hoạt động các ngân hàng.
Trong chương này, tác giả sẽ trình bày khái quát về đề tài nghiên cứu. Bao gồm: sự cần thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài, và những điểm mới, đóng góp của đề tài.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tình hình nghiên cứu
Trong chương này, tác giả sẽ trình bày các có sở lý luận có liên quan được sử dụng làm nền tảng cho bài nghiên cứu. Bao gồm: cơ sở lý luận về cấu trúc vốn, cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động kinh doanh, các mô hình lý thuyết về cấu trúc vốn và các mô hình nghiên cứu về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động kinh doanh hiện có làm nền tảng cho đề xuất mô hình nghiên cứu của đề tài.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên cơ sở lý luận được đề cập trong chương 2, trong chương này, tác giả đề xuất giả thiết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu. Đồng thời, tác giả cũng trình bày quy trình và phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng trong bài nghiên cứu. Đồng thời, chương này cũng nêu lên các vấn đề liên quan đến dữ liệu nghiên cứu như: Cách thức thu thập dữ liệu, phương pháp phân tích dữ liệu và các vấn đề liên quan đến mẫu nghiên cứu.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Dựa trên nội dung của các chương trước, tác giả tiến hành thu thập dữ liệu, tính toán và phân tích dữ liệu, và trình bày kết quả nghiên cứu trong nội dung chương 4. Cụ thể, trong chương này, tác giả sẽ tiến hành thống kê mô tả tình hình mẫu nghiên cứu. Tiếp theo, tác giả tiến hành phân tích tương quan, kiểm định giả thuyết, phân tích hồi quy theo mô hình nghiên cứu đã được đề xuất trước đó.
Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách
Trong chương này, tác giả sẽ đưa ra các kết luận về vấn đề nghiên cứu, và đề xuất đối với các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt nam dựa trên mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động. Cuối cùng, tác giả cũng nêu ra một số hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo.
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 Luận văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hoạt động các ngân hàng.
Tóm lại, nội dung chương 1 đã trình bày chi tiết và rõ ràng về sự cần thiết của đề tài nghiên cứu, theo đó tác giả khẳng định đề tài nghiên cứu có ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn. Đồng thời, tác giả đã tiến hành phân tích tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, nêu rõ mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, trình bày các phương pháp nghiên cứu cơ bản được sử dụng cho đề tài. Chương này cũng đã đưa ra được những ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn của đề tài, và cuối cùng là trình bày kết cấu nghiên cứu của đề tài bao gồm 5 chương và mục tiêu chi tiết của từng chương nghiên cứu.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1. TỔNG QUAN VỀ CẤU TRÚC VỐN
2.1.1. Khái niệm về cấu trúc vốn
Cấu trúc vốn là thuật ngữ tài chính nhằm mô tả nguồn gốc và phương pháp hình thành nên nguồn vốn để doanh nghiệp có thể sử dụng mua sắm tài sản, phương tiện vật chất và hoạt động kinh doanh. Các nhà nghiên cứu định nghĩa cấu trúc vốn là sự kết hợp giữa nợ (debt) và vốn cổ phần (equity) trong tổng nguồn vốn dài hạn mà doanh nghiệp có thể huy động được để tài trợ cho các dự án đầu tư. Ngoài ra, theo Nguyễn Minh Kiều, cấu trúc vốn của doanh nghiệp còn được định nghĩa như là sự kết hợp giữa nợ và vốn cổ phần trong tổng nguồn vốn dài hạn mà doanh nghiệp có thể huy động được để tài trợ cho các hoạt động đầu tư và kinh doanh. Theo các chuyên gia phân tích tài chính, trong thị trường hoàn hảo, cấu trúc vốn không ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp.tuy nhiên, thị trường hoàn hảo chỉ là một khái niệm rất lý tưởng nên trên thực tế có mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và giá trị doanh nghiệp. Chính vì mối liên quan này, thuật ngữ đòn bẩy nợ (hay đòn bẩy tài chính) cũng hàm ý cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Rajan và Zingales (1995) cho rằng định nghĩa về cấu trúc vốn phụ thuộc vào mục tiêu phân tích. Có hai vấn đề thường quan tâm khi đo lường cấu trúc vốn:
Thứ nhất, việc xác định giá trị của tài sản và các khoản nợ phải trả khi xem xét cấu trúc vốn thì giá trị thị trường hay giá trị sổ sách sẽ sử dụng?có hai trường phái đối lập về vấn đề này. Theo lối sử dụng giá trị sổ sách (lấy sổ sách kế toán), chi phí cơ bản của các khoản vay là chi phí kỳ vọng của sự kiệt quệ về tài chính trong trường hợp phá sản. Sự kiệt quệ tài chính ảnh hưởng đến chi phí vốn trung bình, tác động kéo theo đến một cấu trúc vốn tối ưu. Theo đó, giá trị của một doanh nghiệp bị kiệt quệ sẽ gần với giá trị sổ sách. Nếu việc phá sản xảy ra, việc đo lượng trách nhiệm đối với các chủ nợ theo giá trị sổ sách kế toán là chính xác nhất. Giá trị sổ sách còn phù hợp khi xác định cấu trúc vốn đối với các công ty không yết giá hay các doanh nghiệp nhỏ. Nếu sử dụng giá sổ sách, giá trị nợ và tài sản được sử dụng trên bảng cân đối kế toán. Kiểu đo lường này được sử dụng trong nhiều nghiên cứu khác nhau. Luận văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hoạt động các ngân hàng.
Theo trường phái giá trị thị trường, người ta cho rằng giá trị thị trường xác định được giá trị thực của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp có giá trị vốn chủ sở hữu âm trên sổ kế toán nhưng lại có giá thị trường dương. Điều này có thể xảy ra nếu hoạt động kinh doanh trước đây thua lỗ làm vốn chủ sở hữu có giá trị âm, nhưng giá thị trường dương phản ánh các dòng tiền kỳ vọng tương lai của doanh nghiệp đó. Vì thế, nhiều nghiên cứu sử dụng cả giá trị thị trường và giá trị sổ sách để đo lượng cấu trúc vốn.
Thứ hai, loại nợ nào để xác định cấu trúc vốn? Có cần thiết đo lường cấu trúc vốn theo từng loại nợ không? Nếu các dự đoán lý thuyết chủ yếu quan tâm ảnh hưởng của các yếu tố đối với cấu trúc vốn ở góc độ chung thì các nghiên cứu thực nghiệm thường đo lường cấu trúc vốn theo các khoản nợ vay ngắn hạn và dài hạn. Bennette và Donnelly (1993) cho rằng nếu các doanh nghiệp có các chính sách tài trợ riêng biệt với các khoản nợ vay ngắn hạn thì ở các doanh nghiệp đó thực sự có sự tương tác giữa mức nợ vay ngắn hạn và dài hạn. Michaelas và cộng sự (1999) cho rằng nếu các yếu tố ảnh hưởng đến nợ ngắn hạn khác với các yếu tố ảnh hưởng đến nợ dài hạn thì cần thiết sử dụng cả nợ vay ngắn và nợ dài để đo lường cấu trúc vốn. Đây là quan điểm được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm: Nợ vay hay toàn bộ nợ phải trả cũng là vấn đề cần xem xét khi đo lường cấu trúc vốn. Bởi vì, trong nợ phải trả còn có các khoản tín dụng thương mại và các nguồn vốn tạm thời khác mà những nguồn vốn này cũng góp phần không nhỏ trong các khoản tài trợ ở doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ.
Tóm lại, chúng ta có thể đưa ra một vài chỉ tiêu phản ánh cấu trúc vốn của doanh nghiệp, bao gồm: Tỷ lệ nợ phải trả/ tổng tài sản; tỷ lệ nợ ngắn hạn/tổng tài sản; tỷ lệ nợ phải trả/ vốn chủ sở hữu; tỷ lệ nợ dài hạn/ vốn thường xuyên.
2.1.2. Vai trò của cấu trúc vốn đối với doanh nghiệp và nhà đầu tư. Luận văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hoạt động các ngân hàng.
2.1.2.1. Đối với doanh nghiệp
Một cấu trúc vốn phù hợp là quyết định quan trọng với mọi doanh nghiệp không chỉ bởi nhu cầu tối đa lợi ích thu được từ các cá nhân và tổ chức liên quan tới doanh nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp mà còn bởi tác động của quyết định này tới năng lực kinh doanh của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh. Theo Goyal (2013), quyết định về cấu trúc vốn có ý nghĩa quan trọng đối với giá trị của doanh nghiệp và chi phí vốn. Một cấu trúc vốn yếu kém có thể dẫn tới chi phí vốn tăng lên làm giảm giá trị hiện tại thuần cả doanh nghiệp (NPV) từ đó các dự án đầu tư của doanh nghiệp không thể chấp nhận được.
2.1.2.2. Đối với nhà đầu tư, người cho vay
Tỉ lệ nguồn hình thành trong cấu trúc vốn sẽ làm thay đổi nhận thức của giới đầu tư về mức rủi ro của một doanh nghiệp. Chẳng hạn một doanh nghiệp có quá ít vốn chủ sở hữu và quá nhiều vốn vay thì rủi ro thường sẽ cao hơn nhiều do giới kinh doanh đánh giá về sức ép chi trả các trách nhiệm tài chính có thể có tác động tiêu cực lên các quyết định quản lý của Ban giám đốc và tình trạng tài chính công ty. Nếu tỷ lệ vay nợ của doanh nghiệp quá nhiều dẫn tới mức độ rủi ro phá sản doanh nghiệp cao. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, việc doanh nghiệp có số nợ vay tăng lên nhưng chi phí lãi vay lại giảm đi cho thấy doanh nghiệp đi vay nợ với lãi suất ưu đãi những cũng có thể cho thấy tình trạng thiếu minh bách trong tài chính của doanh nghiệp. Đối với người cho vay, trong trường hợp doanh nghiệp đi vay quá nhiều và phải trả nợ nhiều, điều này làm gia tăng khả năng phá sản của doanh nghiệp. Các chủ nợ sẽ nhìn vào thực trạng này của doanh nghiệp để quyết định có nên tiếp tục cho con nợ vay hay không, bởi nếu tiếp tục cho vay thì sẽ đến lúc nào đó, giá trị thị trường của tổng nợ sẽ vượt quá giá trị thị trường của tổng tài sản hay cho dù có bán hến tài sản đi thì doanh nghiệp cũng không trả hết nợ và chủ nợ là người sẽ gánh chịu rủi ro này.
2.1.3. Thành phần của cấu trúc vốn
Nói đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp là nói đến 2 thành tố chính, đó là vốn chủ sở hữu và nợ.
2.1.3.1. Vốn chủ sở hữu Luận văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hoạt động các ngân hàng.
Khái niệm vốn chủ sở hữu: Theo Rajan và Zingales (1995) vốn chủ sở hữu là các nguồn vốn thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp và các thành viên trong công ty liên doanh hoặc các cổ đông trong các công ty cổ phần. Có 3 nguồn tạo nên vốn chủ sở hữu: số tiền góp vốn của các nhà đầu tư, tổng số tiền tạo ra từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (lợi nhuận chưa phân phối) và chênh lệch đánh giá lại tài sản.Vốn chủ sở hữu bao gồm: vốn kinh doanh (vốn góp và lợi nhuận chưa chia), chênh lệch đánh giá lại tài sản, các quỹ của doanh nghiệp như: quỹ phát triển, quỹ dự trữ, quỹ khen thưởng phúc lợi…
Huy động vốn chủ sở hữu: Các doanh nghiệp có thể huy động vốn chủ sở hữu bằng nhiều cách: vốn góp ban đầu, tăng vốn góp, phát hành cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu thường hay giữ lại lợi nhuận.
Vốn góp ban đầu: Là một lượng vốn góp ban đầu nhất định do các cổ đông hay chủ sở hữu góp vào các doanh nghiệp khi mới thành lập. Tùy vào hình thức sở hữu của doanh nghiệp sẽ quyết định tính chất và hình thức tạo vốn của bản thân doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp Nhà nước, vốn góp ban đầu chính là vốn đầu tư của Nhà nước – chủ sở hữu vào doanh nghiệp. Quy mô của vốn góp ban đầu vào doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: đặc điểm ngành nghề kinh doanh, quy định của pháp luật ở mỗi thời kỳ…
Lợi nhuận không chia: Cổ tức sẽ được chia cho các cổ đông vào cuối năm tài chính từ lợi nhuận sau thuế. Tuy nhiên, trong một số trường hợp để tăng vốn chủ sở hữu các cổ đông sẽ đồng ý cho doanh nghiệp giữ lại lợi nhuận để tái đầu tư mà không nhận hoặc nhận một phần cổ tức. Đây là nguồn vốn rất chủ động, doanh nghiệp không bị rang buộc từ bên ngoài,tăng khả năng tự chủ về tài chính của doanh nghiệp và dễ dàng hơn trong các quan hệ tín dụng tại các ngân hang hay tổ chức tín dụng khác từ đó tạo cơ hội cho công ty thu được lợi nhuận cao hơn trong các giai đoạn phát triển sau này.
Phát hành cổ phiếu: Cổ phiếu bao gồm cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu thường. Phát hành cổ phiếu để huy động vốn là một nguồn tài chính dài hạn rất quan trọng của doanh nghiệp vì có thể huy động vốn nhanh và nguồn vốn huy động lớn.
2.1.3.2. Nợ
Khái niệm nợ: Các nhà nghiên cứu tài chính định nghĩa nợ như là các khoản mục phải trả dài hạn với sự phân biệt phải trả tài chính (phải trả người bán dài hạn), vay và nợ dài hạn (trái phiếu và trái phiếu chuyển đổi) và phải trả hoạt động (thuế thu nhập phải trả được hoãn lại, dự phòng trợ cấp mất việc làm và các khoản dự phòng phải trả dài hạn khác, quỹ lương hưu chưa đến thời hạn trả). Tuy cả 2 loại nợ đều giúp doanh nghiệp tạo ra dòng tiền trong tương lai nhưng loại nợ phải trả hoạt động không làm cho doanh nghiệp tốn chi phí cho các khoản vốn chiếm dụng hợp pháp này.Với mục tiêu hướng cho doanh doanh nghiệp có cấu trúc vốn tối ưu thì khái niệm nợ sẽ chỉ bao gồm các khoản phải trả có phát sinh chi phí, nó được coi là nợ tài chính của doanh nghiệp. Luận văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hoạt động các ngân hàng.
Huy động nợ: Doanh nghiệp có thể huy động nợ dài hạn qua các trung gian tài chính như ngân hàng, các công ty hay phát hành trái phiếu.
Vay dài hạn ngân hàng: Doanh nghiệp sẽ giảm được một phần rủi ro khi vay vốn dài hạn từ ngân hàng, nhưng doanh nghiệp phải trả chi phí lãi vay cho ngân hàng. Các khoản vay dài hạn này thường được doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho các dự án dài hạn của mình.
Phát hành trái phiếu dài hạn: Trái phiếu rất phong phú và đang dạng, được phân loại theo nhiều hình thức khác nhau: theo phương thức trả lãi (trái phiếu trả lãi một lần và trái phiếu Coupon); theo lãi suất (trái phiếu có lãi suất thả nổi và trái phiếu có lãi suất cố định). Phát hành trái phiếu dài hạn là một phương thức huy động vốn dài hạn khá linh hoạt, nhất là đối với các doanh nghiệp uy tín trên thị trường.
Thuê tài sản: Đây là hình thức tài trợ của các công ty cho thuê đối với doanh nghiệp bằng tài sản. Hình thức này dành cho có nhu cầu mở rộng sản xuất kinh doanh hay đầu tư mua sắm máy móc, công ty cho thuê sẽ mua tài sản cố định rồi cho doanh nghiệp thuê lại.
2.1.4. Chỉ tiêu đo lường cấu trúc vốn của doanh nghiệp Luận văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hoạt động các ngân hàng.
Theo Stephen và cộng sự (2003) để đánh giá và đo lường cấu trúc tài chính của doanh nghiệp, các nghiên cứu trước đây thường căn cứ vào các thước đo đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp, gồm: Hệ số nợ; Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu; Hệ số tự tài trợ.
2.1.4.1. Hệ số nợ
Hệ số nợ thể hiện mức độ sử dụng các nguồn vốn vay của doanh nghiệp, cho biết tài sản của doanh nghiệp được đầu tư bởi bao nhiêu phần từ vốn vay. Hệ số này giúp đánh giá về tình trạng tài chính, bao gồm khả năng đảm bảo trả nợ, rủi ro của doanh nghiệp (Firer và cộng sự, 2004). Hệ số nợ phụ thuộc nhiều vào ngành nghề kinh doanh, lĩnh vực mà doanh nghiệp hoạt động, có thể được đo lường như sau:
- Hệ số nợ tổng quát (D/C) = Tổng nợ phải trả/Tổng tài sản.
- Hệ số nợ ngắn hạn (SD/C) = Nợ ngắn hạn/Tổng tài sản.
- Hệ số nợ dài hạn (LD/C) = Nợ dài hạn/Tổng tài sản.
Thông thường, nếu hệ số nợ tổng quát lớn hơn 50%, có nghĩa là tài sản của doanh nghiệp được tài trợ bởi các khoản nợ nhiều hơn, còn ngược lại nếu hệ số nợ tổng quát nhỏ hơn 50% thì tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bởi nguồn vốn chủ sở hữu. Về nguyên tắc, hệ số này càng nhỏ thì doanh nghiệp càng ít gặp khó khăn tài chính hơn vì doanh nghiệp ít phụ thuộc vào nợ vay để tài trợ cho hoạt động kinh doanh. Hệ số nợ phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh và lĩnh vực mà doanh nghiệp hoạt động.
2.1.4.2. Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu
Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu cho biết tỷ lệ giữa hai nguồn vốn cơ bản (vốn nợ và vốn chủ sở hữu) mà doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho hoạt động của mình. Hai nguồn vốn này có những đặc tính riêng biệt và mối quan hệ giữa chúng được sử dụng rộng rãi để đánh giá cấu trúc tài chính của doanh nghiệp (Macguigan và cộng sự, 2006). Hệ số này được tính như sau:
- Hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu (D/E) = Tổng nợ phải trả/Vốn chủ sở hữu.
Hệ số này càng lớn thì nguồn vốn vay (nợ phải trả) càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Thông thường, hệ số này lớn hơn 1, có nghĩa là nợ vay chiếm tỷ trọng lớn hơn vốn chủ sở hữu, và ngược lại.
2.1.4.3. Hệ số tự tài trợ Luận văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hoạt động các ngân hàng.
Hệ số tự tài trợ phản ánh tỷ lệ vốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn của doanh nghiệp. Hệ số này có giá trị càng lớn nghĩa là mức độ tự chủ tài chính bằng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp càng cao do đó rủi ro của doanh nghiệp càng thấp (Stephen và cộng sự, 2003). Hệ số này được tính theo công thức sau:
- Hệ số tự tài trợ (E/C) = Vốn chủ sở hữu/Tổng nguồn vốn.
Hệ số E/C có giá trị càng lớn thì mức độ tự chủ về mặt tài chính và khả năng bù đắp tổn thất bằng vốn chủ sở hữu càng cao, do đó rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp càng thấp. Nếu hệ số này lớn hơn 50% tức là nguồn vốn của doanh nghiệp phần lớn được tài trợ từ nguồn vốn thực góp của các cổ đông.
Các chỉ tiêu đo lường chi tiêu tài chính của doanh nghiệp sẽ có các giá trị khác nhau khi giá trị nguồn vốn của doanh nghiệp được đo lường căn cứ vào giá trị sổ sách (giá trị kế toán) hoặc giá trị thị trường. Titman và Wessels (1988) cho rằng, giữa giá trị sổ sách và giá trị thị trường của nguồn vốn có sự khác biệt đáng kể, vì vậy việc lựa chọn giá trị sổ sách hay giá trị thị trường của nguồn vốn có ảnh hưởng nhất định đến các chỉ tiêu đo lường chi tiêu tài chính. Tuy nhiên, do việc xác định giá trị thị trường của nguồn vốn nợ tương đối khó khăn nên hầu hết các nghiên cứu về chi tiêu tài chính doanh nghiệp chỉ đo lường nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp theo giá trị thị trường, còn nguồn vốn nợ được xác định căn cứ vào giá trị sổ sách kế toán.
2.2. CÁC LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CẤU TRÚC VỐN VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG Luận văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hoạt động các ngân hàng.
2.2.1. Lý thuyết của Modigliani và Miller (MM)
Để chứng minh một lý thuyết khả thi, Modilligani và Miller (MM) đã đưa ra một số những giả định đơn giản hoá rất phổ biến trong lý thuyết về tài chính: họ giả định là thị trường vốn là hoàn hảo, vì vậy sẽ không có các chi phí giao dịch và tỷ lệ vay giống như tỷ lệ cho vay và bằng với tỷ lệ vay miễn phí, giá trị của một doanh nghiệp không phụ thuộc vào lượng cổ phần được phát hành mà chỉ phụ thuộc vào lượng tài sản của doanh nghiệp đó.
Theo mệnh đề Modigliani và Miller 1, bất kỳ lựa chọn tài chính như thế nào, dù là sử dụng vốn chủ sở hữu hay lựa chọn nợ ngắn hạn hoặc dài hạn thì giá trị của doanh nghiệp cũng không thay đổi.
Bảng 2.1: Bảng cân đối trong mệnh đề Modigliani và Miller 1
| Tài sản | Nguồn vốn |
| Tài sản công ty và các cơ hội phát triển | Nợ ngắn và dài hạn (D) |
| Vốn chủ sở hữu (E) | |
| Giá trị công ty (V |
Nguồn:Modigliani và Miller (1958)
Cả 2 mệnh đề của Modigliani và Miller (1958) đều giả định rằng, thị trường vốn là cạnh tranh hoàn hảo, không có sự tồn tại của thuế, không có chi phí giao dịch cũng như không có chi phí phá sản.Đây là một điều rất phi thực tế.Tuy nhiên, lý thuyết của Modigliani và Miller là lý thuyết đầu tiên về cấu trúc vốn của doanh nghiệp và đây củng là nền tảng cơ sở để các nhà nghiên cứu phát triển các lý thuyết sau này.
2.2.2. Lý thuyết cân bằng (Trade-off Theory) Luận văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hoạt động các ngân hàng.
Dựa trên các lý thuyết của Modigliani và Miller (1958), lý thuyết cân bằng là một bước phát triển về lý luận của Miller khi ông đã xem xét đến các tác động của thuế, chi phí phá sản và các chi phí trung gian khi giải thích cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Dựa trên lý thuyết này, các công ty sẽ có những mục tiêu khác nhau về tỷ số nợ và nguồn vốn sao cho tối đa hóa được lợi ích của doanh nghiệp.Cụ thể hơn, sẽ tồn tại một điểm kết hợp tối ưu của các công ty khi họ cố gắng hướng đến việc gia tăng sử dụng nợ.
Việc gia tăng sử dụng nợ sẽ làm tăng chi phí vốn bình quân gia quyền (WACC). Ở những thời kỳ ban đầu, có những lợi ích từ việc chi trả thuế được gọi là lá chắn thuế. Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp sẽ trả ít thuế hơn lượng họ phải trả bằng việc vay thêm nhiều nợ.Tuy nhiên, khi có quá nhiều nợ, doanh nghiệp sẽ đối mặt với rủi ro về việc hoản trả trong tương lai.Khi không có khả năng chi trả, doanh nghiệp sẽ phá ýl. Bởi thế, theo lý thuyết cân bằng, điểm kết hợp tối ưu được xác định là điểm cao nhất của đường cong minh họa như trong sơ đồ sau:
Hình 2.1: Điểm kết hợp tối ưu theo lý thuyết cân bằng
2.2.3. Lý thuyết trật tự phân hạng (Pecking Order Theory)
Lý thuyết trật tự phân hạng (POT) giả định rằng chi phí tài chính gia tăng cùng với thông tin bất cân xứng. Tài chinh doanh nghiệp gồm có 3 nguồn: nguồn vốn nội tại bên trong doanh nghiệp (lợi nhuận giữ lại), vay (nợ) và vốn phát hành cổ phiếu. Theo lý thuyết POT, nguồn tài chính được phân hạng trước hết ưu tiên các nguồn vốn nội tại bên trong doanh nghiệp, vay nợ thứ hai và ưu tiên cuối cùng là phát hành cổ phiếu (Myers và Majluf, 1984). Do đó, lý thuyết này cho rằng các công ty tuân theo một hệ thống phân cấp. Cụ thể là, doanh nghiệp sẽ tập trung vào vốn nội bộ để đầu tư vào các khoản đầu tư mới và chi trả cổ tức. Theo đó, doanh nghiệp sẽ tài trợ cho các dự án sử dụng lợi nhuận giữ lại nếu có thể (Myers, 1984). Nếu không đủ số tiền thu nhập được giữ lại thì tổ chức sẽ tài trợ cho dự án bằng nợ. Kết quả là, doanh nghiệp sẽ không sử dụng vốn chủ sở hữu để bù đắp khoản thâm hụt của mình. Nhìn chung, thực tế đã chứng minh rằng các nhà quản lý doanh nghiệp sẽ luôn có đầy đủ thông tin về doanh nghiệp của mình hơn các nhà đầu tư bên ngoài và bất kỳ hành động nào của họ cũng sẽ ảnh hưởng đến tình hình chung của doanh nghiệp. Do đó, tùy thuộc vào từng tình huống cụ thể, các doanh nghiệp sẽ có những quyết định khác nhau về cấu trúc vốn để gia tăng nguồn vốn cho các dự án mới của doanh nghiệp.
2.2.4. Lý thuyết chi phí trung gian (Agency Cost Theory) Luận văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hoạt động các ngân hàng.
Lý thuyết Chi phí trung gian (ACT), trong đó chi phí phản ánh các chi phí phát sinh trong mối liên hệ giữa người đứng đầu(người quản lý của công ty) và các bên trung gian (cổ đông bên ngoài và chủ nợ). Lý thuyết giả định rằng một cơ cấu vốn tối ưu có thể được xác định bằng cách giảm thiểu chi phí phát sinh từ các xung đột giữa các bên liên quan (Jensen và Meckling, 1976). Nó đóng một vai trò quan trọng trong việc quyết định tài chính do xung đột có thể tồn tại giữa nhà quản lý, cổ đông và chủ nợ. Nếu các công ty đang gặp khó khăn về tài chính, cổ đông sẽ đẩy mạnh quản lý để đưa ra các quyết định để lấy vốn từ các chủ nợ cho chủ sở hữu.Các chủ nợ, trong trường hợp này, sẽ yêu cầu lợi tức cao hơn cho quỹ của họ nếu có tiềm năng cho việc chuyển đổi tài chính. Nợ và các khoản thanh toán lãi vay đi kèm có thể làm giảm xung đột trung gian giữa cổ đông và người quản lý.
2.3. CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN THEO CÁC HỌC THUYẾT VỀ CẤU TRÚC VỐN
Tượng tự như khái niệm về cấu trúc vốn, các yếu tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp cũng nhận được rất nhiều sự quan tâm của học giả. Tuy nhiên, các nghiên cứu thực nghiệm đôi khi lại có những ý kiến trái ngược nhau về sự ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố. Sau đây là một số yếu tố chủ đạo ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của doanh nghiệp.
2.3.1. Tỷ suất sinh lời
Theo các nhà nghiên cứu thì tỷ suất sinh lời càng cao, khả năng công ty chịu rủi ro phá sản càng thấp chính vì thế tỷ suất sinh lời có một mối quan hệ chặt chẽ với đòn bẩy tài chính Điều này sẽ làm cho các doanh nghiệp ưu tiên cao hơn vào nguồn vốn vay, dẫn đến sự gia tăng của đòn bẩy tài chính. Bên cạnh đó, theo lý thuyết sự cân bằng, do lợi ích từ lá chắn thuế, công ty sẽ đi vay nhiều hơn và được khuyến khích để vay nhiều hơn. Tuy nhiên, theo như lý thuyết trật tự phân hạng, doanh nghiệp lại tăng cường việc sử dụng nguồn vốn bên trong trong khi sử dụng vay nợ và phát hành cổ phiếu lại được ưu tiên sau cùng.
Khi so sánh với các công ty làm ăn không hiệu quả, các doanh nghiệp làm ăn có lãi sẽ có được nguồn tiền nhiều hơn, chính vì thế họ sẽ tận dụng sử dụng triệt để lượng vốn nội tại này. Cùng với quan điểm đó, Titman và Wessel (1988) cho rằng khi các yếu tố khác không đổi, doanh nghiệp có tỷ suất sinh lời cao sẽ có tỷ lệ đòn bẩy tài chính thấp hơn. Do đó, tùy vào từng trường hợp cụ thể sẽ có những kết quả khác nhau về tình hình hoạt động của các doanh nghiệp. Rajan và Zingales (1995) chỉ ra rằng, trong khi các công ty tại Mỹ, Canada và Nhật Bản có sự tác động ngược chiều giữa tỷ suất sinh lời và đòn bẩy tài chính, thì đối với các công ty Đức lại có mối quan hệ cùng chiều giữa 2 biến trên.
2.3.2. Quy mô doanh nghiệp Luận văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hoạt động các ngân hàng.
Lý thuyết cân bằng đưa ra mối quan hệ cùng chiều giữa đòn bẩy tài chính và quy mô doanh nghiệp bởi vì theo Titman và Welssels (1988) công ty có quy mô lớn và đa dạng hóa danh mục hoạt động sẽ có rủi ro phá sản thấp hơn khi so sánh với những công ty nhỏ hơn rõ ràng là các công ty có quy mô lớn sẽ có lợi thế khi cộng tác hoạt động với các tổ chức tài chính khi so sánh với các công ty có quy mô nhỏ hơn. Bên cạnh đó, theo như Ozkan (2000), các doanh nghiệp nhỏ dễ bị ảnh hưởng hơn trước những biến động kinh tế như: khủng hoảng kinh tế hay sự đi xuống của toàn bộ nền kinh tế, dẫn tới rủi ro phá sản tăng lên. Mặt khác, theo quan điểm của lý thuyết trật tự phân hạng, quy mô doanh nghiệp tác động ngược chiều với đòn bẩy tài chính. Lý do là doanh nghiệp quy mô lớn sẽ có sự dư thừa về vốn nhàn rỗi cao hơn và tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với doanh nghiệp nhỏ. Bởi thế, sẽ dễ dàng cho các doanh nghiệp quy mô lớn sử dụng các nguồn vốn tự có bên trong thay cho các khoản vay. Do đó, đòn bẩy tài chính ở các doanh nghiệp này sẽ thấp hơn.
2.3.3. Tài sản hữu hình
Tài sản hữu hình đặc trưng cho khả năng sẵn sang thế chấp của một công ty trước những khoản vay.Nó là một yếu tố quan trọng trong chính sách tín dụng của các ngân hàng và càng quan trọng hơn đối với các khoản cho vay dài hạn. Bởi vì theo thuyết chi phí trung gian,sự bất đối xứng trong thông tin dẫn đến vấn đề định giá sai vốn chủ sở hữu, khi tài sản thế chấp được sử dụng, chi phí trung gian liên quan đến các khoản nợ sẽ thấp hơn.
Theo lý thuyết cân bằng cũng như các nghiên cứu của Titman và Wessels (1988); Myers (1984), có một mối liên hệ giữa tài sản hữu hình và đòn bẩy tài chính bởi thực tế rằng, công ty có nhiều tài sản thế chấp sẽ có tỷ lệ thấp trong vấn đề thông tin bất cân xứng. Khi Huang (2006) đưa ra kết quả nghịch chiều giữa tài sản hữu hình và đòn bẩy tài chính thì Bennett và Donnelly (1993) lại khẳng định tài sản hữu hình có mối liên hệ thuận chiều với đòn bẩy tài chính và đòn bẩy ngắn hạn, tuy nhiên mối liên hệ với đòn bẩy dài hạn là không rõ ràng.
2.3.4. Tốc độ tăng trưởng
Theo lý thuyết cân bằng và lý thuyết trung gian, do các chi phí phá sản, doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao thì đòn bẩy tài chính có xu hướng giảm xuống. Điểm quan trọng ở đây đó là với tốc độ phát triển cao, doanh nghiệp sẽ phát hành nhiều cổ phần thay vì đi vay nợ để giảm thiểu việc chia sẻ quyền lợi giữa cổ đông và các chủ nợ. Theo như Myers (1984), tốc độ tăng trưởng cao đồng nghĩa với chi phí phá sản cao hơn. Bên cạnh đó, Titman và Wessels (1988) cũng khẳng định chi phí trung gian cao hơn với các ngành tăng trưởng nhanh do sự đa dạng về lựa chọn phương án đầu tư trong tương lai. Tuy nhiên, một vài nhà nghiên cứu chỉ ra rằng tốc độ tăng trưởng cao dẫn tới đòn bẩy tài chính tăng lên. Minh chứng bằng việc các công ty có tốc độ tăng trưởng cao được cho là các công ty có sức khỏe tốt trên thị trường vốn vay và dễ dàng tiếp cận đến nguồn vốn vay.
2.3.5. Thuế suất doanh nghiệp Luận văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hoạt động các ngân hàng.
Theo các nhà nghiên cứu,khi đối mặt với mức thuế suất doanh nghiệp cao, doanh nghiệp sẽ có xu hướng vay nợ nhiều hơn để tận dụng lợi thế của lá chắn thuế chính vì thế thuế suất đóng vai trò quan trọng trong việc xác định cấu trúc vốn của một doanh nghiệp. Với lý thuyết của Modigliani và Miller (1958), thuế suất doanh nghiệp có tác động thuận chiều tới đòn bẩy tài chính. Theo đó, Mackie – Mason (1990) đưa ra kết luận rằng, đánh giá tác động của thuế suất doanh nghiệp mà không đánh giá tác động của lá chắn thuế sẽ dẫn đến các kết quả sai lệch trong nghiên cứu bởi vì tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu là kết quả mất mát từ những nguồn thuế được tạo ra sau mỗi năm. Theo lập luận đó, nghiên cứu của tác giả chủ yếu chỉ ra rằng tác động của thuế suất doanh nghiệp bao gồm sự tồn tại của lá chắn thuế và thuế đầu tư.
2.3.6. Lá chắn thuế phi nợ
Theo lý thuyết cân bằng, lá chắn thuế phi nợ có tác động ngược chiều với đòn bẩy tài chính. Khi lá chắn thuế phi nợtăng lên, khả năng thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp sẽ là âm. Chính vì thế, sẽ là hợp lý cho doanh nghiệp với số lượng lớn của lá chắn thuế phi nợ cắt giảm việc vay nợ của mình. Ý kiến này trùng khớp với quan điểm của De Angelo và Masulis (1980) và Titman và Wessels (1988), lợi ích của việc sử dụng nợ sẽ dần dần bị thay thế bởi việc giảm trừ thuế và khấu hao. Bởi vì, lá chắn thuế cao khi so sánh với dòng tiền dự kiến trong tương lai, doanh nghiệp sẽ có xu hướng sử dụng đòn bẩy trong cấu trúc vốn.Tuy nhiên, nghiên cứu của Bradley và cộng sự (1984); Wald (1999) lại đưa ra kết quả thuận chiều giữa lá chắn thuế phi nợ và đòn bẩy tài chính.
Bảng 2.2: Bảng tóm tắt sự ảnh hưởng của các yếu tố đến cấu trúc vốn trên quan điểm các lý thuyết khác nhau
2.4. TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Luận văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hoạt động các ngân hàng.
2.4.1. Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh
Theo Nguyễn Khắc Minh (2004) trong hoạt động của ngân hàng thương mại (NHTM), theo lý thuyết hệ thống thì hiệu quả có thể được hiểu ở hai khía cạnh như sau: (i) Khả năng biến đổi các đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lời hoặc giảm thiếu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác. (ii) Xác suất hoạt động an toàn của ngân hàng. Sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng thương mại quan hệ chặt chẽ với sự ổn định và phát triển của nền kinh tế vì ngân hàng thương mại là tổ chức trung gian tài chính kết nối khu vực tiết kiệm với khu vực đầu tư của nền kinh tế. Do đó sự biến động của nó sẽ ảnh hưởng rất mạnh đến các ngành kinh tế quốc dân khác. Theo Breusch (1979) thì về bản chất ngân hàng thương mại cũng có thể được coi như một tập đoàn kinh doanh và hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với mức độ rủi ro cho phép. Tuy nhiên, khả năng sinh lời là mục tiêu được các ngân hàng quan tâm hơn cả vì thu nhập cao sẽ giúp các ngân hàng có thể bảo toàn vốn, tăng khả năng mở rộng thị phần, thu hút vốn đầu tư và khả năng sinh lời cũng chính là yếu tố mà các NHTM đo lường cho HQKD của họ.
Dựa trên các tóm tắt về khái niệm của hiệu quả thì phát triển khái niệm của hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại đó chính là mức độ hiệu quả của ngân hàng thương mại sử dụng các yếu tố đầu vào dựa trên việc sẽ trả chi phí cho các yếu tố này và sau đó thu được nguồn lợi từ các sản phẩm đầu ra của mình (Nguyễn Đăng Dờn, 2010). Theo Nguyễn Khắc Minh (2004) thì để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại có thể được chia làm hai nhóm đó là hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối:
2.4.2. Chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Luận văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hoạt động các ngân hàng.
Hiện nay có nhiều chỉ tiêu tài chính để đánh giá mức độ hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM, tuy nhiên theo Trần Huy Hoàng (2019) nhóm chỉ tiêu khả năng sinh lời thường được sử dụng một cách phổ biến để đo lường HQKD của NHTM. Khả năng sinh lời được xem là một trong những chỉ tiêu phản ảnh tổng hợp tình hình kinh doanh cũng như khả năng tạo ra lợi nhuận và xem xét đến các yếu tố rủi ro đối với ngân hàng vì vậy thông qua chỉ tiêu này ngân hàng có thể đánh giá HQKD của mình một cách tổng quát. Khóa luận sử dụng hai chỉ tiêu phổ biến để đo lường khả năng sinh lời là ROA; ROE để nghiên cứu.
Tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản (ROA): Tỷ lệ này được tính bằng tỷ số phần trăm của lợi nhuận sau thuế chi cho tổng tài sản bình quân của doanh nghiệp, đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng tài sản của một ngân hàng nó thể hiện được hiệu quả quản lý cũng như ngân hàng đã sử dụng tài sản của mình để có thể tạo ra được bao nhiêu lợi nhuận, tỷ số ROA càng cao thì chứng minh khả năng sinh lời của ngân hàng càng cao. Nhưng có một số trường hợp ROA cao không hẳn từ việc doanh nghiệp khai thác hiệu quả sử dụng tài sản mà có thể do việc đầu tư thiếu hụt vào tài sản là cho giá trị tài sản giảm xuống gây ra những ảnh hưởng đến hoạt động lâu dài sau này của ngân hàng.
- ROA = (Lợi nhuận sau thuế/Tổng tài sản bình quân) * 100%
Tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu (ROE): ROE là tỷ số tài chính đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng vốn cổ phần. Tỷ số này được tính bằng cách lấy lợi nhuận ròng chia cho vốn chủ sở hữu bình quân trong kì. Tỷ số này cho thấy quy mô lợi nhuận sau thuế được tạo ra từ mỗi đồng vốn đầu tư của các chủ sở hữu, từ đó phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của chủ sở hữu của ngân hàng hay lợi nhuận của các cổ đông được nhận được khi đầu tư vào ngân hàng. Tỷ lệ này càng cao thì sức hấp dẫn cho các nhà đầu tư vì nó chứng minh được việc ngân hàng sử dụng hiệu quả đồng vốn của cổ đông đầu tư. Tuy nhiên, ROE càng cao không hẳn do ngân hàng đã sử dụng hiệu quả vốn chủ sở hữu mà do việc ngân hàng giảm tỷ trọng vốn chủ sở hữu và tăng tỷ trọng vốn vay khiến cho mẫu số của tỷ số ROE nó giảm xuống thì ROE sẽ tăng lên nhưng việc làm này sẽ khiến cho ngân hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro như rủi ro thanh toán, rủi ro vỡ nợ hay rủi ro phá sản cũng tăng theo nếu mất kiểm soát.
- ROE = (Lợi nhuận sau thuế/Vốn chủ sở hữu bình quân) * 100%
2.5. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ QUAN HỆ GIỮA CẤU TRÚC VỐN VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Luận văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hoạt động các ngân hàng.
2.5.1. Các nghiên cứu nước ngoài
Niresh (2012) nghiên cứu tại 10 ngân hàng Srilanka được niêm yết trong từ năm 2002 đến 2009 tìm ra sự ảnh hưởng của quyết định sử dụng vốn đến lợi nhuận. Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng cùng với mô hình hồi quy đa biến Pooled OLS và GMM. Biến phụ thuộc là lợi nhuận được đo bằng các chỉ số lợi nhuận ròng NP, lợi nhuận trên vốn sử dụng ROCE, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE, lãi suất biên ròng (NIM). Còn biến độc lập đại diện cho quyết định sử dụng vốn của mô hình được tính bằng tỷ số Nợ/Vốn chủ sở hữu (D/E) và chỉ số Nợ/Tổng quỹ (D/TF). Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy Tổng nợ là nhân tố chính, chiếm 50,5% tỷ trọng trong việc tạo nên lợi nhuận ròng trong lĩnh vực ngân hàng. Điều này có nghĩa là khi ngân hàng sử dụng nhiều nợ thì lợi nhuận có xu hướng giảm, hơn nữa việc gia tăng sử dụng tỷ lệ nợ đồng thời cũng gia tăng rủi ro của ngân hàng. Vì thế, các ngân hàng cần quan tâm nhiều hơn đến các nguồn tài trợ từ bên ngoài nếu muốn gia tăng lợi nhuận.
Goyal (2013) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và lợi nhuận của các ngân hàng Ấn Độ dựa trên mẫu là 19 ngân hàng được niêm yết trên sàn chứng khoán quốc gia từ 2008 – 2012. Tác giả sử dụng mô hình hồi quy bội, trong mô hình có 3 biến độc lập đại diện cho quyết định sử dụng cấu trúc vốn của ngân hàng đó là nợ dài hạn/ vốn CSH (LTDC), nợ ngắn hạn/vốn CSH (STDC) và tổng nợ/ vốn CSH (TDC). Còn các biến phụ thuộc được sử dụng để đo lường hiệu quả hoạt động kinh doanh là ROA, ROE và EPS, cuối cùng là hai biến kiểm soát là quy mô ngân hàng (SIZE) và tăng trưởng tài sản (AG). Kết quả của bài nghiên cứu đó là STD ảnh hưởng cùng chiều mạnh mẽ với các biến ROA, ROE và EPS . LTDC có mối quan hệ ngược chiều với những biến phụ thuộc. Biến SIZE lại cho thấy mối liên kết khả quan với ROA và EPS nhưng ngược lại với ROE, trong khi biến AG cho thấy mối quan hệ thuận chiều với tất cả các biến ROA, ROE và EPS. Từ những kết quả đó, tác giả đưa ra có mối quan hệ tương quan thuận giữa nợ ngắn hạn và lợi nhuận của các ngân hàng. Có thể hiểu rằng, các ngân hàng có xu hướng sử dụng nhiều nợ ngắn hạn hơn là nợ dài hạn thì hiệu quả lợi nhuận có xu hướng gia tăng.
Trujillo và Ponce (2013) trong bài nghiên cứu các nhân tố tác động đến lợi nhuận của ngân hàng, sử dụng dữ liệu là các ngân hàng Tây Ban Nha giai đoạn 1999 – 2009. Bài nghiên cứu sử dụng mô hình S-GMM với các biến phụ thuộc là tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE), biến độc lập gồm cấu trúc vốn đại diện bằng tổng nợ/vốn chủ sở hữu và nợ/tổng tài sản, tỷ lệ cho vay, quy mô ngân hàng, chất lượng tài sản, tỷ lệ dự phòng tín dụng trên tổng nợ, … Bài nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa cấu trúc vốn với tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản nhưng lại thấy mối quan hệ ngược chiều giữa cấu trúc vốn với tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu của ngân hàng.
Kayed và cộng sự (2014) trong bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn với hiệu quả hoạt động của các ngân hàng Hồi giáo, sử dụng mẫu quan sát là 85 ngân hàng Hồi giáo tại 19 quốc gia, giai đoạn 2003 – 2008. Bài nghiên cứu áp dụng mô hình FGLS, với biến phụ thuộc gồm tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần (ROE), tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROA), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM). Các biến độc lập gồm cấu trúc vốn được biểu diễn thông qua tỷ lệ Nợ/Vốn chủ sở hữu; tỷ lệ cho vay; quy mô ngân hàng; chi phí cố định/tổng tài sản, tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát. Trong đó kết quả nghiên cứu cho thấy cấu trúc vốn, chi phí cố định/tổng tài sản và tỷ lệ lạm phát các tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động tại các ngân hàng, ngược lại, tỷ lệ cho vay, quy mô ngân hàng và tốc độ tăng trưởng kinh tế có tác động tích cực. Luận văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hoạt động các ngân hàng.
Akhtar và cộng sự (2016) nghiên cứu về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng tại Pakistan. Bài nghiên cứu lấy số liệu từ báo cáo tài chính của các ngân hàng ở Pakistan trong vòng 10 năm từ 2005 đến 2015, đồng thời sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và mô hình SGMM. Kết quả cho thấy có mối quan hệ cùng chiều giữa biến phụ thuộc là hiệu quả hoạt động doanh nghiệp được đo lường bằng khả năng sinh lời (PROF) với tài sản hữu hình (TANG), tính thanh khoản (LIQ), lãi suất (IR), tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRW). Tuy nhiên, đại diện của cấu trúc vốn là nợ trên vốn chủ sở hữu (D/E) quan hệ ngược chiều với hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Quayyum và Noreen (2019) trong nghiên cứu về tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại tại Pakistan, nhóm tác giả sử dụng số liệu thứ cấp của các ngân hàng thương mại được niêm yết trên sàn chứng khoán của quốc gia này từ năm 2006 – 2016, đồng thời sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và mô hình Pooled OLS, mô hình tác động cố định FEM để khẳng định kết quả nghiên cứu. Trong đó biến phụ thuộc là là ROA, cấu trúc vốn được đại diện bở các chỉ tiêu nợ/vốn chủ sở hữu, vốn chủ sở hữu/tổng tài sản, nợ/tổng tài sản và biến kiểm soát là quy mô ngân hàng. Kết quả cho thấy nợ/vốn chủ sở hữu và nợ/tổng tài sản tương quan âm với hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, quy mô ngân hàng tương quan dương. Tuy nhiên, vốn chủ sở hữu/tổng tài sản không có ý nghĩa thống kê về sự tác động đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.
Jadah và cộng sự (2020) trong nghiên cứu về tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại tại Iraq, nhóm tác giả sử dụng số liệu thứ cấp của 18 ngân hàng thương mại của quốc gia này từ năm 2009 – 2018, đồng thời sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng và mô hình Pooled OLS. Trong đó cấu trúc vốn được đại diện bở các chỉ tiêu nợ/vốn chủ sở hữu, vốn chủ sở hữu/tổng tài sản, nợ phải trả/tổng tài sản, nợ ngắn hạn/tổng tài sản, nợ dài hạn/tổng tài sản và biến kiểm soát là quy mô ngân hàng, tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát. Trong đó, vốn chủ sở hữu/tổng tài sản; quy mô ngân hàng tương quan dương với ROA. Các biến nợ/vốn chủ sở hữu, nợ phải trả/tổng tài sản, nợ ngắn hạn/tổng tài sản, nợ dài hạn/tổng tài sản tương quan âm với ROA. Hai biến tốc độ tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát không có ý nghĩa thống kê với ROA.
2.5.2. Các nghiên cứu trong nước Luận văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hoạt động các ngân hàng.
Trịnh Quốc Trung và Nguyễn Văn Sang (2013) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam, sử dụng mô hình hồi quy Tobit dựa trên số liệu của 39 ngân hàng TMCP Việt Nam giai đoạn 2005 – 2012. Trong bài nghiên cứu này, các tác giả lựa chọn các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng bao gồm cấu trúc vốn (tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản), các biến kiểm soát bao gồm: loại hình ngân hàng, tổng chi phí trên tổng doanh thu, tỷ lệ tiền gửi trên số tiền cho vay, thị phần ngân hàng, tỷ lệ vốn cho vay so với tổng tài sản. Trong khi sử dụng tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) làm biến đại diện cho hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cấu trúc vốn có ảnh hưởng tích cực lên ROA nhưng lại ảnh hưởng tiêu cực lên ROE. Các tác giả kết luận rằng, tỷ lệ vốn hoá càng cao thì lợi nhuận trên tổng tài sản càng cao, nhưng lại làm lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu giảm.
Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2014) khi nghiên cứu về các yếu tố tác động đến khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Việt Nam đã sử dụng số liệu thu thập từ báo cáo tài chính của 22 NHTM Việt Nam giai đoạn 2007 – 2013. Bài nghiên cứu áp dụng phương pháp S-GMM, với biến phụ thuộc là tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE) và biến độc lập là cấu trúc vốn bao gồm tỷ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản, tỷ lệ cho vay/tổng tài sản, chất lượng tài sản (tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ), cấu trúc tài trợ (tỷ lệ tiền gửi khách hàng/tổng nợ phải trả), hiệu quả hoạt động (tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập hoạt động), quy mô ngân hàng, đa dạng hoá thu nhập, tăng trưởng kinh tế và lạm phát. Kết quả nghiên cứu cho thấy cấu trúc vốn, tỷ lệ lạm phát có mối tương quan âm đối với khả năng sinh lời của ngân hàng. Các biến kiểm soát quy mô ngân hàng, đa dạng hoá thu nhập, tăng trưởng kinh tế có tương quan dương với ROE, ROA.
Đặng Ngọc Hùng và cộng sự (2019) nghiên cứu về tác động của cấu trúc vốn, tốc độ tăng trưởng kinh tế, quy mô doanh nghiệp đến lợi nhuận của các công ty niêm yết tại sàn chứng khoán Việt Nam, tác giả đã sử dụng số liệu thứ cấp của 214 công ty niêm yết từ năm 2012 – 2016 và phương pháp nghiên cứu định lượng cùng mô hình SGMM. Tác giả sử dụng hai biến ROA, ROE đại diện cho khả năng sinh lời của các doanh nghiệp. Biến đại diện cho cấu trúc vốn là đòn bẩy tài chính (tỷ lệ nợ/tổng tài sản). Các biến kiểm soát bao gồm quy mô doanh nghiệp, tăng trưởng kinh tế. Kết quả nghiên cứu cho thấy đòn bẩy tài chính tác động tiêu cực đến lợi nhuận doanh nghiệp. Ngược lại các biến kiểm soát có tác động tích cực.
Nguyễn Văn Chiến (2020) nghiên cứu về tác động của cấu trúc vốn đến lợi nhuận của các công ty tại Việt Nam, tác giả đã sử dụng số liệu thứ cấp của 48.673 công ty từ năm 2008 – 2016 và phương pháp nghiên cứu định lượng cùng mô hình tác độ cố định, mô hình SGMM. Tác giả sử dụng hai biến ROA, ROE đại diện cho khả năng sinh lời của các doanh nghiệp. Biến đại diện cho cấu trúc vốn là đòn bẩy tài chính (tỷ lệ nợ trên tổng tài sản). Các biến kiểm soát bao gồm quy mô doanh nghiệp, vốn nhân lực. Kết quả nghiên cứu cho thấy đòn bẩy tài chính tác động tiêu cực đến lợi nhuận doanh nghiệp. Ngược lại các biến kiểm soát có tác động tích cực. Luận văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hoạt động các ngân hàng.
Bảng 2.3: Tóm tắt các nghiên cứu liên quan
2.5.3. Khoảng trống nghiên cứu
Dựa trên việc tổng hợp khung lý thuyết liên quan cấu trúc vốn, hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng và lược khảo các nghiên cứu liên quan thì tác giả nhận thấy các khoảng trống nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, về phạm vi nghiên cứu theo thời gian thì các nghiên cứu được lược khảo thì số liệu của các công ty hoặc ngân hàng chỉ được thu thập từ năm 2018 trở về trước đó và chưa có cập nhật đến những năm gần đây như 2020, 2021 vì trong những năm gần đây đại dịch Covid 19 diễn ra các chủ thể trong nền kinh tế đều bị tác động, do đó, các chỉ tiêu đo lường cho cấu trúc vốn và hiệu quả kinh doanh hoặc các yếu tố vĩ mô tác động sẽ có những ảnh hưởng lớn.
Thứ hai, đối sánh với các lý thuyết cổ điển về cấu trúc vốn và các nghiên cứu được lược khảo thì tác giả nhận thấy các yếu tố vĩ mô như tăng trưởng GDP và tỷ lệ lạm phát chưa được tập trung nghiên cứu. Vào thời điểm hiện tại thì hai yếu tố này rất qua trọng cho hoạt động và cấu trúc vốn của các tổ chức nguyên nhân là do:
Tăng trưởng kinh tế (GDP) là một biểu hiện cho các cơ hội đầu tư mới của doanh nghiệp, nó là thước đo cơ hội phát triển của các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Khi tốc độ tăng trưởng kinh tế lớn thì các doanh nghiệp muốn đầu tư nhiều hơn để tăng lợi nhuận, vì vậy làm tăng tỷ lệ nợ trong doanh nghiệp. Luận văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hoạt động các ngân hàng.
Tỷ lệ lạm phát thể hiện khả năng quản lý của Chính phủ đối với nền kinh tế, nó cũng biểu hiện sự ổn định của đồng nội tệ, những quốc gia có tỷ lệ lạm phát cao đồng nghĩa với việc quốc gia đó đang có sự bất ổn lớn. Khi tỷ lệ lạm phát tăng cao thì việc cấp tín dụng của người cho vay gặp rủi ro cao hơn, họ có xu hướng hạn chế cho vay ra bên ngoài, doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn hơn trong việc huy động nguồn vốn vay. Do đó, tỷ lệ lạm phát tăng làm tỷ lệ sử dụng nợ của doanh nghiệp giảm.
Thứ ba, tổng quan tình hình nghiên cứu trình bày trên cho thấy, các nghiên cứu về ảnh hưởng cấu trúc vốn đến hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp trên thế giới rất phong phú và đa dạng, và các nghiên cứu được thực hiện trong nhiều ngành nghề khác nhau. Tuy nhiên, các nghiên cứu về ảnh hưởng cấu trúc vốn đến hiệu quả kinh doanh tại Việt Nam còn rất hạn chế, chỉ mới dừng lại ở các công ty, doanh nghiệp nói chung. Hầu như chưa có nghiên cứu đi sâu phân tích về ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, đặc biệt là các ngân hàng thương mại cổ phần.
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Nội dung chương 2 đã trình bày các cơ sở lý luận quan trọng và làm nền tảng cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu. Cụ thể, nội dung chương đã trình bày các cơ sở lý luận về cấu trúc vốn và cơ sở lý luận về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Đồng thời, chương 2 cũng đã trình bày ngắn gọn một số lý thuyết trên về mối quan hệ giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, cũng như lược khảo nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và tại Việt Nam về sự ảnh hưởng của cấu trúc vốn đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Theo đó, hầu hết các nghiên cứu đều sử dụng các chỉ tiêu ROA và ROE để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, sử dụng các chỉ tiêu tổng nợ trên tổng tài sản (TDTA), tổng nợ ngắn hạn trên tổng tài sản (STDTA), Tổng nợ dài hạn trên tổng tài sản (LTDTA), và tổng nợ trên vốn chủ sở hữu (TDTC) để đo lượng cấu trúc vốn của doanh nghiệp. Ngoài ra, các nghiên cứu còn sử dụng một số chỉ tiêu khác như quy mô doanh nghiệp (SIZE), tốc độ tăng trưởng tài sản (AG) để làm biến kiểm soát. Các kết quả này được sử dụng làm cơ sở cho việc xây dựng các giả thuyết và mô hình nghiên cứu sẽ được trình bày trong chương tiếp theo. Luận văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hoạt động các ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC của cấu trúc vốn đến hoạt động các ngân hàng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: Tác động của cấu trúc vốn đến hoạt động các ngân hàng […]