Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Tác động của cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tiêu đề: “Tác động của cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam.”
Luận văn phân tích ảnh hưởng của các thành phần cấu trúc sở hữu vốn gồm sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài và sở hữu của giám đốc điều hành (CEO) đến tỷ suất sinh lời của các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu bảng của 20 NHTMCP tại Việt Nam từ 2012 đến năm 2023. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong bài luận là phương pháp kinh tế lượng FGLS, SGMM. Mô hình nghiên cứu đo lường thông qua”biến phụ thuộc là tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Các biến độc lập và biến kiểm soát trong mô hình gồm biến tỷ lệ sở hữu của nhà nước (GOV), tỷ lệ sở hữu của nước ngoài (FOR), tỷ lệ sở hữu của giám đốc điều hành (CEO), tỷ lệ lạm phát (INF), quy mô ngân hàng (SIZE), tỷ lệ nợ xấu (NPL) và tốc độ tăng trưởng (GDP).
Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ sở hữu nhà nước, tỷ lệ sở hữu của Giám đốc điều hành, tỷ lệ nợ xấu và tỷ lệ lạm phát có tác động ngược chiều đến tỷ suất sinh lời ROA và ROE. Biến sở hữu nước ngoài có tác động tích cực đến tỷ suất sinh lời ROA nhưng không có tác động đáng kể đến ROE khi gia tăng tỷ lệ sở hữu. Biến quy mô ngân hàng có mối tương quan tích cực đến ROE nhưng không có ảnh hưởng đến ROA, biến tốc độ tăng trưởng quốc gia GDP có ảnh hưởng tích cực đến cả hai chỉ số ROA và ROE của các ngân hàng. Từ đó, luận văn đưa ra những hàm ý chính sách để nâng cao khả năng sinh lời của các NHTMCP tại Việt Nam.
Từ khóa: Cấu trúc sở hữu, sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài, sở hữu của Giám đốc điều hành CEO, tỷ suất sinh lời.
ABSTRACT
Thesis: “The impact of capital ownership structure on the rate of return of joint stock commercial banks in Vietnam”
The thesis analyzes the impact of capital ownership structure including state ownership, foreign ownership and ownership of the chief executive officer (CEO) on the rate of return of joint stock commercial banks in Vietnam. The research data is panel data collected from 20 Vietnamese joint stock commercial banks from 2012 to 2023. The research method used in the thesis is the econometric method FGLS, SGMM. The research model is measured through the dependent variable of return on total assets (ROA) and return on equity (ROE). The independent variables and control variables in the model include the state ownership ratio (GOV), foreign ownership ratio (FOR), CEO ownership ratio (CEO), bank size (SIZE), non-performing loan ratio (NPL), growth rate (GDP) and inflation rate (INF). The research results show that the state ownership ratio, CEO ownership ratio, non-performing loan ratio and inflation rate have negative impacts on ROA and ROE. The foreign ownership variable has a positive impact on ROA”but has no significant impact on ROE when the ownership ratio increases. The bank size variable has a positive impact on ROE but has no impact on ROA, the national GDP growth rate variable has a positive effect on ROA and ROE of banks. From the results of the empirical study, the thesis proposes policy implications to improve the rate of return of commercial banks in Vietnam. Luận văn: Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.
Keywords: Ownership structure, state ownership, foreign ownership, CEO ownership, rate of return.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Đặt vấn đề
Ngân hàng thương mại đóng vai trò quan trọng là trung gian tài chính cung cấp vốn cho nền kinh tế, ngành ngân hàng phát triển và bền vững sẽ hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và giúp một quốc gia chống chọi với những cú sốc kinh tế tiêu cực như khủng hoảng kinh tế toàn cầu và góp phần vào sự ổn định của hệ thống tài chính. Trong bối cảnh hiện nay, tình hình địa chính trị trên thế giới diễn biến phức tạp, suy thoái kinh tế, hệ quả của dịch Covid 19, tiêu dùng toàn cầu giảm, người dân trong nước mất niềm tin vào trái phiếu doanh nghiệp, doanh nghiệp khó huy động vốn để kinh doanh, tăng áp lực lên kênh huy động vốn từ ngân hàng. Đồng thời, ngân hàng cũng đối diện với thách thức nợ xấu tăng cao, ngân hàng mất vốn nên yêu cầu ngân hàng bù đắp vốn để đảm bảo an toàn hoạt động và phát triển kinh doanh…Việc nghiên cứu, tìm ra các giải pháp đáp ứng yêu cầu về vốn và nâng cao hiệu suất tài chính là mối quan tâm hàng đầu của các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà quản trị ngân hàng. Qua nhiều công trình nghiên cứu khoa học, một trong các yếu tố tác động đến lợi nhuận của các ngân hàng là cấu trúc sở hữu vốn. Do đó, tác giả thực hiện nghiên cứu này để có thêm một cơ sở thực nghiệm xem xét và phân tích xu hướng tác động của yếu tố cấu trúc sở hữu vốn gồm sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài và sở hữu của giám đốc điều hành CEO tới tỷ suất sinh lời của các NHTMCP tại Việt Nam.
1.2 Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển hệ thống các ngân hàng thương mại là vấn đề thiết yếu góp phần tăng trưởng nền kinh tế quốc gia. Khi hội nhập, bên cạnh cơ hội các ngân hàng được hỗ trợ về tài chính, công nghệ, kỹ thuật, quản trị thì các ngân hàng trong nước cũng đối mặt với thách thức là tìm giải pháp để tận dụng hiệu quả các ưu thế và gia tăng lợi nhuận kinh doanh trước áp lực cạnh tranh từ các ngân hàng sở hữu nước ngoài. Các nhà khoa học trên thế giới và tại Việt Nam đã cung cấp nhiều bằng chứng thực nghiệm cho thấy cấu trúc sở hữu có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh, các thành phần sở hữu khác nhau sẽ có những tác động khác như các nghiên cứu của Jensen và Meckling (1976), Sara và Mona (2017), Lâm Chí Dũng và Võ Hoàng Diễm Trinh (2023), Nguyễn Thanh Phong và Nguyễn Quang Tuân (2019), Dzung Viet Nguyen và cộng sự (2023)… tuy nhiên các nghiên cứu này còn chưa đồng nhất về kết quả. Một số nghiên cứu cho rằng sở hữu nước ngoài có tác động tích cực đến lợi nhuận ngân hàng nhờ được hỗ trợ về tài chính, công nghệ, quản trị rủi ro, quan hệ đối tác nước ngoài. Sở hữu nhà nước có ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận ngân hàng do tình trạng bất cân xứng thông tin, chi phí đại diện, ưu tiên mục tiêu an sinh xã hội, chính trị. Sở hữu của giám đốc điều hành CEO được cho là có tác động tích cực đến lợi nhuận do lợi ích của CEO gắn liền với lợi ích của ngân hàng. Tuy nhiên cũng có nghiên cứu cho thấy kết quả ngược lại, sở hữu nước ngoài có tác động tiêu cực đến lợi nhuận do sự thiếu hiểu biết về nước sở tại, ưu tiên mục tiêu mở rộng thị phần, chi phí vận hành chưa tối ưu; sở hữu nhà nước có tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh do thương hiệu mạnh, uy tín, mạng lưới rộng lớn; sở hữu của CEO có ảnh hưởng tiêu cực đến suất sinh lời khi CEO sở hữu tỷ lệ cổ phần lớn có thể lạm quyền, thao túng hoạt động vì tư lợi riêng. Do đó, tác giả thực hiện đề tài này nhằm có thêm một cơ sở thực nghiệm về thực trạng tại Việt Nam trong bối cảnh hiện nay để các nhà quản trị ngân hàng tham khảo để quản lý cấu trúc cổ đông nhằm tối ưu hoá lợi nhuận hoạt động kinh doanh. Luận văn: Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.
Ngoài ra, một số nghiên cứu về tác động của cấu trúc sở hữu còn có các điểm hạn chế như quy mô dữ liệu nhỏ, thời gian ngắn và chưa cập nhật, phương pháp thực hiện chưa xét đến yếu tố nội sinh để cho kết quả vững nhất như Trần Quốc Thịnh (2018), Nguyễn Thị Minh Huệ và Đặng Tùng Lâm (2017). Đồng thời, hiện nay cũng chưa có nhiều nghiên cứu xem xét đến yếu tố tác động là sở hữu là giám đốc điều hành CEO đến tỷ suất sinh lời của các NHTM Việt Nam như Lâm Chí Dũng và Võ Hoàng Diễm Trinh (2023), Nguyễn Thanh Phong và Nguyễn Quang Tuân (2019) hoặc chỉ phân tích một hình thức sở hữu mà chưa phân tích cùng lúc nhiều yếu tố sở hữu khác nhau như Nguyễn Thị Minh Huệ và Đặng Tùng Lâm (2017), Phạm Quốc Việt và cộng sự (2019). Do đó, tác giả thực hiện nghiên cứu này với dữ liệu được thu thập tương đối đầy đủ, cập nhật và có phương pháp nghiên cứu đáng tin cậy để từ đó nhằm có thêm căn cứ khoa học trong bối cảnh kinh tế hiện nay để các nhà quản trị ngân hàng tham khảo cho việc hoàn thiện cấu trúc sở hữu của các ngân hàng nhằm gia tăng hiệu quả sinh lời.
Trải qua hai giai đoạn tái cơ cấu 2011 – 2015, 2016 – 2020 đạt được một số kết quả thành công, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục phê duyệt quyết định số 689/QĐ-TTg “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 – 2025” với mục tiêu xử lý nợ xấu, tạo ra một hệ thống ngân hàng lành mạnh theo chuẩn quốc tế với cấu trúc sở hữu đa dạng, công nghệ tiên tiến. Các ngân hàng trong quá trình thực hiện tái cấu trúc, chuyển sang đa sở hữu nên việc nghiên cứu về cấu trúc sở hữu tối ưu và ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu đến tỷ suất sinh lời trong giai đoạn tái cơ cấu hiện nay là rất cần thiết. Ngoài ra, vấn đề nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay vẫn chưa thực sự được giải quyết triệt để, ảnh hưởng đến lợi nhuận và tăng áp lực lên các ngân hàng trong việc đảm bảo duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu và bộ đếm vốn giúp tạo nền tảng cho các ngân hàng tăng trưởng bền vững. Việc tái cấu trúc hệ thống ngân hàng gắn liền với việc các ngân hàng cần tuân thủ các chuẩn mực an toàn vốn của thông lệ Basel II và hướng tới Basel III, trong đó, sở hữu vốn là yếu tố nền tảng để các NHTM đạt được các tiêu chuẩn quản trị rủi ro quốc tế. Để giải quyết nợ xấu và những thách thức về vốn tại các ngân hàng, việc điều chỉnh cấu trúc sở hữu vốn theo hướng giảm tỷ lệ sở hữu nhà nước, tăng tỷ lệ sở hữu nước ngoài để bổ sung vốn, cải thiện chất lượng tài sản, nâng cao năng lực quản trị rủi ro là một giải pháp cần xem xét nghiên cứu. Do đó, tác giả thực hiện nghiên cứu đề tài về cấu trúc sở hữu vốn của các NHTM để các nhà kinh tế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền, ban quản trị ngân hàng có thêm cơ sở khoa học để đẩy mạnh thực hiện Quyết định 689 của Thủ tướng chính phủ.
Với những lý do trên, tác giả nhận thấy việc nghiên cứu ảnh hưởng của các thành phần cấu trúc sở hữu vốn khác nhau đến tỷ suất sinh lời các NHTM Việt Nam và đưa ra các hàm ý chính sách quản trị để nâng cao tỷ suất sinh lời của các NHTM là thực tiễn và cần thiết trong thời điểm hiện nay. Do đó tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài “Tác động của cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời của các NHTM Việt Nam”
1.3 Mục tiêu của đề tài Luận văn: Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.
1.3.1 Mục tiêu tổng quát
Bài nghiên cứu nhằm mục tiêu xem xét, phân tích cấu trúc sở hữu vốn có ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam hay không và đánh giá mức độ ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu. Từ cơ sở thực nghiệm, nghiên cứu đề xuất các hàm ý chính sách nhằm nâng cao tỷ suất sinh lời của các NHTMCP Việt Nam.
1.3.2 Mục tiêu cụ thể
Từ mục tiêu tổng quát, các mục tiêu cụ thể của nghiên cứu như sau:
- Phân tích các thành phần cấu trúc sở hữu gồm sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài và sở hữu của CEO có ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lời của các NHTMCP tại Việt Nam hay không, đánh giá mức độ ảnh hưởng của sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài và sở hữu của CEO đến tỷ suất sinh lời thông qua hai chỉ số đo lường là ROA và ROE.
- Từ kết quả phân tích, nghiên cứu đưa ra các đề xuất, hàm ý chính sách về cấu trúc sở hữu để nâng cao tỷ suất sinh lời của các NHTMCP Việt Nam.
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả đặt các câu hỏi sau:
- Khi kiểm soát đồng thời các yếu tố gồm quy mô ngân hàng, tỷ lệ nợ xấu, tốc độ tăng trưởng và lạm phát thì:
- Sở hữu của nhà nước có tác động ra sao đến tỷ suất sinh lời ROA và ROE của các NHTMCP Việt Nam?
- Sở hữu nước ngoài có mối quan hệ như thế nào với hiệu quả sinh lời ROA và ROE của các NHTMCP Việt Nam?
- Sở hữu của CEO có ảnh hưởng như thế nào đến suất sinh lời ROA và ROE của các NHTMCP Việt Nam?
- Những đề xuất, hàm ý chính sách nào cần được đưa ra để nâng cao tỷ suất sinh lời của các NHTMCP Việt Nam?
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.5.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của các thành phần cấu trúc sở hữu gồm sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài, sở hữu của giám đốc điều hành CEO đến tỷ suất sinh lời của các NHTMCP tại Việt Nam.
1.5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Luận văn: Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp của 20 ngân hàng thương mại cổ phần tiêu biểu và chiếm thị phần lớn tại Việt Nam. Tác giả chọn các NHTMCP này để dữ liệu có đặc điểm tương đồng và đồng bộ. Danh sách cụ thể các ngân hàng tại Phụ lục 01.
- Về thời gian
Thời gian thực hiện thu thập dữ liệu nghiên cứu là từ năm 2012 đến năm 2023, hệ thống ngân hàng trong thời gian này diễn ra hai quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng nên có nhiều sự thay đổi trong cấu trúc sở hữu như cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, mua bán, sáp nhập các tổ chức tín dụng yếu kém, sửa đổi, bổ sung các quy định về sở hữu cổ phần.
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu mối tương quan của cấu trúc sở hữu vốn và tỷ suất sinh lời của các NHTMCP Việt Nam, tác giả dựa vào kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học quốc tế và trong nước về mối quan hệ của cấu trúc sở hữu vốn và tỷ suất sinh lời của các ngân hàng để tìm ra khoảng trống nghiên cứu, sau đó xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động gồm biến phụ thuộc, biến độc lập, biến kiểm soát và đưa ra giả thuyết cho đề tài. Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng trên cơ sở kiểm định các mô hình hồi quy:
Phương pháp nghiên cứu định lượng: là phương pháp thu thập thông tin và dữ liệu dưới dạng số học và giải quyết quan hệ trong lý thuyết và nghiên cứu theo quan điểm diễn dịch. Mục tiêu của nghiên cứu định lượng là lượng hoá mối quan hệ giữa các nhân tố (các biến) thông qua việc áp dụng các công cụ phân tích thống kê. Kết quả của mô hình nghiên cứu được xác định bằng phương pháp sau:
Phương pháp thống kê mô tả: để đánh giá về đặc điểm, xu hướng chung của dữ liệu, tác giả thực hiện thống kê mô tả khái quát bộ dữ liệu như giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn. Nếu kết quả mô tả bất thường, không hợp lý thì tác giả kiểm tra lại số liệu thu thập được hoặc quá trình xử lý số liệu có phát hiện sai sót không thì điều chỉnh trước khi thực hiện các bước hồi quy mô hình.
Phân tích tương quan giữa các biến: để ban đầu xác định mối liên hệ giữa các biến trong mô hình, trường hợp phát hiện có biến mắc hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng thì loại biến này ra khỏi mô hình trước khi thực hiện các mô hình hồi quy.
Hồi quy mô hình dữ liệu bảng: để đánh giá chiều hướng và mức độ tác động của cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời của các NHTM, tác giả thực hiện các mô hình ước lượng là mô hình bình phương tối thiểu (OLS), mô hình tác động cố định (FEM), mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) trên phần mềm Stata 17. Tác giả sau đó thực hiện các kiểm định F-Test, Breuch Pagan và Hausman test để lựa chọn mô hình thích hợp nhất trong ba mô hình. Khi đã chọn được mô hình ước lượng phù hợp nhất (OLS/FEM/REM) thì tác giả kiểm định mô hình được chọn có tồn tại khuyết tật mô hình như phương sai sai số thay đổi hay không bằng kiểm định Breusch and Pagan Lagrangian. Nếu có tồn tại khuyết tật, tác giả sử dụng phương pháp hồi quy bình phương bé nhất tổng quát khả thi (FGLS) để khắc phục. Tuy nhiên mô hình FGLS có thể bị nội sinh do ảnh hưởng của biến trễ, các biến công cụ nên tác giả tiếp tục kiểm định nội sinh bằng kiểm định Ivregress hồi quy hai giai đoạn. Trường hợp mô hình tồn tại hiện tượng nội sinh, tác giả sử dụng phương pháp ước lượng mô men tổng quát hệ thống (SGMM) để khắc phục hiện tượng nội sinh. Sau khi có kết quả vững nhất, tác giả sẽ đưa ra kết luận về mối quan hệ tương quan giữa các biến trong mô hình, liên hệ thực tế và đưa ra các đề xuất, hàm ý chính sách. Luận văn: Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.
Dữ liệu nghiên cứu được tác giả thu thập từ hai website uy tín về cung cấp dữ liệu là Fin Pro và Vietstock và các yếu tố vĩ mô được lấy từ website ngân hàng thế giới World Bank. Các kết quả phân tích dữ liệu được thực hiện qua phần mềm Stata 17.
1.7 Đóng góp của đề tài nghiên cứu
- Về mặt khoa học: Góp phần cung cấp thêm một bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời của các ngân hàng thương mại cổ phần.
- Về mặt thực tiễn: cung cấp cơ sở dữ liệu trong việc điều hành chính sách, đảm bảo sự ổn định, phát triển bền vững của các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt
1.8 Kết cấu khái quát của đề tài nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu tác động của cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời của các NHTMCP tại Việt Nam, nội dung chính của luận văn gồm có 5 chương:
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Chương 1 nêu tổng quan về vấn đề nghiên cứu gồm tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu tổng quát, mục tiêu nghiên cứu cụ thể và câu hỏi nghiên cứu tương ứng. Chương này còn trình bày đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và đóng góp thực tiễn của đề tài và cuối chương trình bày kết cấu khái quát các chương trong bài.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
Chương 2 tác giả thực hiện khảo lược cơ sở lý thuyết về cấu trúc sở hữu vốn, tỷ suất sinh lời và các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và tại Việt Nam về mối quan hệ tương quan của cấu trúc sở hữu vốn đến hiệu quả tài chính, suất sinh lời của các ngân hàng thương mại. Từ đó chương này sẽ trình bày khoảng trống của các nghiên cứu trước đó.
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong chương 3, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu của đề tài gồm các biến và giải thích các biến và đưa ra giả thuyết nghiên cứu. Chương này cũng mô tả khái quát và chi tiết các bước của quy trình nghiên cứu đề tài, sau đó mô tả mẫu nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu. Phần cuối chương sẽ trình bày chi tiết về phương pháp nghiên cứu.
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN Luận văn: Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.
Chương 4 sẽ trình bày và thảo luận kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời của các NHTMCP Việt Nam thông qua phân tích thống kê mô tả, phân tích tương quan và phân tích hồi quy dữ liệu bảng với các phương pháp ước lượng khác nhau. Từ đó, tác giả thực hiện các kiểm định cần thiết nhằm lựa chọn kết quả hồi quy phù hợp nhất. Sau khi kiểm định mô hình hồi quy như đa cộng tuyến, phương sai sai số thay đổi và tự tương quan, nếu mô hình tồn tại hiện tượng nội sinh thì tác giả thực hiện phương pháp ước lượng khắc phục nội sinh để đưa ra kết quả vững nhất.
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN, GỢI Ý VÀ KHUYẾN NGHỊ
Tác giả kết luận về mối quan hệ của cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời của các NHTMCP tại Việt Nam, qua đó trả lời các câu hỏi nghiên cứu và thực hiện mục tiêu nghiên cứu đề ra. Từ đó, chương này sẽ đưa ra các gợi ý, khuyến nghị về chính sách cấu trúc sở hữu vốn nhằm gia tăng tỷ suất sinh lời của các NHTMCP Việt Nam. Ngoài ra, chương này cũng trình bày những hạn chế của nghiên cứu và đưa ra gợi ý hướng nghiên cứu của đề tài tiếp theo trong tương lai.
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Cấu trúc sở hữu vốn tối ưu để nâng cao tỷ suất sinh lời của ngân hàng là vấn đề cấp thiết và thực tiễn mà các cơ quan quản lý nhà nước, các nhà quản trị ngân hàng, các nhà khoa học kinh tế quan tâm. Căn cứ vào cơ sở lý thuyết và lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm và bằng chứng thực tiễn, đề tài khẳng định ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu. Bài luận giải quyết mục tiêu nghiên cứu tổng quát, mục tiêu nghiên cứu cụ thể thông qua các câu hỏi nghiên cứu tương ứng. Bên cạnh đó, đề tài cũng chỉ ra đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu gồm thời gian nghiên cứu và không gian nghiên cứu. Sau khi khẳng định ý nghĩa khoa học và đóng góp thực tiễn của đề tài, chương 1 còn cung cấp thêm thông tin khái quát cấu trúc đề tài bao gồm 5 chương nội dung chính.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
2.1 Cơ sở lý thuyết về cấu trúc sở hữu và tỷ suất sinh lời của NHTM
2.1.1. Khái niệm cấu trúc sở hữu
Theo Manna, Sahu và Gupta (2016), cấu trúc sở hữu vốn được hiểu là tỷ lệ cổ phần do các bên khác nhau nắm giữ trong vốn chủ sở hữu của công ty. Các cổ đông khác nhau sẽ có quyền lực ảnh hưởng khác nhau và điều này có ảnh hưởng quan trọng đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp do nó tác động đến việc ra quyết định của các nhà quản lý. Theo Wahl (2006), cơ cấu sở hữu được xác định bởi việc phân bổ vốn chủ sở hữu liên quan đến quyền biểu quyết và vốn và còn bởi danh tính của các chủ sở hữu vốn chủ sở hữu.
Cấu trúc sở hữu được phân loại theo theo nhiều tiêu chí khác nhau như: mức độ tập trung sở hữu (sở hữu tập trung, sở hữu phân tán), theo đối tượng sở hữu (sở hữu tổ chức, sở hữu của tư nhân, sở hữu nội bộ như ban quản lý, CEO, hội đồng quản trị), theo đặc trưng của cổ đông (sở hữu gia đình, sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài, sở hữu của nhà đầu tư trong nước)…
Ngân hàng thương mại tại Việt Nam có nhiều loại hình cấu trúc sở hữu vốn khác nhau gồm ngân hàng thương mại Nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng thương mại 100% vốn nước ngoài, ngân hàng liên doanh. Tỷ lệ cổ phần sở hữu của các cá nhân, tổ chức, nhà đầu tư nước ngoài chịu sự kiểm soát của quy định pháp luật, luật các Tổ chức tín dụng theo từng thời kỳ.
2.1.2 Khái niệm tỷ suất sinh lời của NHTM
Tỷ suất sinh lời là thước đo khả năng sinh lời, khả năng kiếm được lợi nhuận của một ngân hàng, là tỷ lệ giữa lợi nhuận và chỉ tiêu cần đánh giá khả năng sinh lời như doanh thu, vốn chủ sở hữu, tổng tài sản. Tỷ suất sinh lời là một trong những số liệu quan trọng nhất để đo lường, đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Tỷ suất sinh lời càng cao càng thể hiện ngân hàng hoạt động hiệu quả và ngược lại. Và các chỉ số phổ biến thường được dùng để đo lường là tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất lợi nhuận ròng (NIM)…
2.1.3 Các chỉ tiêu đo lường tỷ suất sinh lời Luận văn: Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.
- Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA)
ROA là chỉ tiêu thường dùng để đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng, phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản của ngân hàng để tạo ra lợi nhuận, đồng thời phản ánh khả năng quản lý, sử dụng nguồn lực của ngân hàng để tạo ra lợi nhuận.
Ưu điểm: ROA phản ánh được năng lực quản lý, hiệu quả sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận kinh doanh của mỗi ngân hàng. Do ROA không xét đến cấu trúc vốn (nợ/vốn chủ sở hữu) nên có thể sử dụng để so sánh tương đối giữa các ngân hàng có vốn chủ sở hữu khác nhau.
Nhược điểm: ROA không thể hiện mức độ sử dụng đòn bẩy tài chính nên chưa thấy được rủi ro tiềm ẩn nếu tài sản đến từ nợ vay nhiều, ảnh hưởng đến khả năng sinh lời bền vững lâu dài của ngân hàng. Giá trị ROA của các ngân hàng nhỏ nên khó thấy được khoảng cách khác biệt để phân tích, so sánh.
- Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE)
ROE là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng.
Ưu điểm: ROE phản ánh được hiệu quả đầu tư, sử dụng vốn của ban điều hành, qua tỷ lệ này các cổ đông xem xét có tiếp tục đầu tư vốn vào ngân hàng hay không. Từ đó, vốn sở hữu của ngân hàng có thể biến động làm thay đổi cấu trúc sở hữu vốn.
Nhược điểm: ROE cao có thể bao gồm nguyên nhân cấu trúc vốn có nợ vay nhiều, vốn từ chủ sở hữu ít nên không đảm bảo là hiệu quả hoạt động và khó so sánh khả năng sinh lời giữa những ngân hàng có cấu trúc vốn khác nhau.
2.2 Lý thuyết nền có liên quan Luận văn: Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.
2.2.1 Lý thuyết về tác động của sở hữu nhà nước đến tỷ suất sinh lời
Theo lý thuyết chi phí đại diện (Agency Theory) của Jensen & Meckling (1976), cấu trúc sở hữu có tác động đến khả năng sinh lời của ngân hàng thông qua chi phí đại diện phát sinh từ mâu thuẫn về lợi ích khác nhau giữa chủ sở hữu (Principal) và người đại diện (Agent). Sở hữu nhà nước chịu tác động lớn hơn của vấn đề người đại diện do “Hệ quả của tình trạng thông tin bất đối xứng và chi phí đại diện trong trường hợp này sẽ cao hơn.” (Lâm Chí Dũng và Võ Hoàng Diễm Trinh, 2023). Mặt khác, sở hữu nhà nước có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng tại Việt Nam do có ưu thế về mạng lưới rộng khắp, kinh nghiệm lâu đời, có lợi thế về cơ sở vật chất, thương hiệu, uy tín, các mối quan hệ với các doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn lớn (Lâm Chí Dũng và Võ Hoàng Diễm Trinh, 2023).
Theo lý thuyết về phúc lợi xã hội, các doanh nghiệp nhà nước có xu hướng tối đa hóa các mục tiêu xã hội hơn là mục tiêu lợi nhuận. Vì các mục tiêu xã hội ít đo lường được nên ban quản lý ít nỗ lực hơn, chuyển hướng sang những mục tiêu cá nhân của họ.
Lý thuyết cấu trúc hiệu quả cho rằng các ngân hàng có hiệu quả hoạt động, vận hành tốt hơn (chi phí thấp, quản trị tốt) sẽ có lợi nhuận cao hơn. Cụ thể, ngân hàng sở hữu nước ngoài có công nghệ vượt trội, kinh nghiệm quản trị tốt, năng suất cao nên cung cấp sản phẩm với giá tốt hơn, từ đó giành được thị phần lớn và đạt hiệu quả kinh doanh tốt hơn. Ngược lại, các ngân hàng sở hữu nhà nước có thể ưu tiên mục tiêu an sinh, xã hội nên chưa tối ưu lợi nhuận kinh doanh nên đạt kết quả kinh doanh thấp hơn.
Đồng thời, theo lý thuyết chính trị, các chính trị gia sẽ theo đuổi mục tiêu cá nhân, kinh tế, chính trị riêng của họ. Mục tiêu chính của các chính trị gia là duy trì sự ủng hộ của cử tri. Do đó các doanh nghiệp nhà nước tạo việc làm cho những người ủng hộ chính trị và chuyển hướng nguồn lực cho bạn bè, người ủng hộ. Theo quan điểm này các chính trị gia thành lập các ngân hàng nhà nước không phải để phân bổ vốn cho các mục đích hiệu quả về mặt kinh tế mà là để tối đa hóa các mục tiêu cá nhân của họ (Sapienza, 2002).
Theo lý thuyết Quyền lực thị trường (Market Power Hypothesis) cho rằng các ngân hàng thương mại có sở hữu nhà nước chi phối có quy mô lớn, được ưu tiên về chính sách, có quyền lực thị trường cao hơn (định giá thấp hơn, lãi suất huy động thấp hơn) và đạt được suất sinh lời cao hơn những ngân hàng nhỏ, có sở hữu phân tán. Quyền lực thị trường là việc một doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp có khả năng quyết định giá cả hoặc ảnh hưởng đến các điều kiện giao dịch trên thị trường mà không bị tác động bởi yếu tố cạnh tranh. Theo Khánh (2025) “Những ngân hàng có quy mô lớn hơn, có lợi thế chiếm được thị phần lớn hơn, dẫn đến thị trường ngày càng tập trung hơn và kiếm được lợi nhuận cao hơn.”
Theo nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phong và Nguyễn Quang Tuân (2019), hình thức sở hữu nhà nước làm tăng chi phí đại diện, làm giảm lợi nhuận kinh doanh do yếu tố bất cân xứng thông tin. Các cổ đông nhà nước được đại diện bởi một vài cá nhân và các cá nhân này chỉ điều hành chứ không thực sở hữu cổ phần nên ít nỗ lực trong việc tạo ra hiệu quả kinh doanh.
2.2.2 Lý thuyết về tác động của sở hữu nước ngoài đến tỷ suất sinh lời Luận văn: Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.
Giả thuyết Lợi thế toàn cầu (Globlal Advantage Hypothesis) cho rằng các ngân hàng nước ngoài có thể có chiến lược hoạt động tốt hơn, kỹ thuật tiên tiến hơn, kỹ năng quản lý rủi ro và đa dạng hóa vượt trội (Berger, DeYoung, Genay và Udell, 2000).
Sở hữu nước ngoài được nhiều nghiên cứu cho rằng có mối quan hệ hiệu ứng tích cực đến lợi nhuận hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Theo Lâm Chí Dũng và Võ Hoàng Diễm Trinh (2023), các NHTM có sở hữu nước ngoài sẽ có ưu thế về quan hệ với đối tác nước ngoài, khoa học và công nghệ, quy trình, khả năng quản lí, tiếp thị chuyên nghiệp, khả năng tiếp cận các nguồn tài chính và nguồn nhân lực chất lượng cao. Ngoài ra, các ngân hàng này còn yêu cầu cao trong hoạt động giám sát như báo cáo và kiểm toán nhiều hơn, góp phần giảm tình trạng thông tin bất đối xứng.
Các nghiên cứu về các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển cho thấy ngân hàng có vốn sở hữu nước ngoài có kết quả hoạt động tốt hơn như lợi nhuận cao hơn, chi phí hoạt động thấp hơn các loại hình ngân hàng khác hoặc các ngân hàng trong nước như Dewi và Nugraha (2018), Claessens và cộng sự (2001), Barako và cộng sự (2007), Uwalomwa and Olamide (2012). Một số nguyên nhân như quản lý rủi ro thận trọng hơn, tập trung cao độ vào lợi nhuận để tối đa hóa khả năng tạo ra tài sản cho cổ đông.
Yếu tố sở hữu nước ngoài cũng được ghi nhận có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động kinh doanh như nghiên cứu của Deyoung và Nolle (1996), nguyên nhân sự khác biệt này do nghiên cứu được thực hiện tại quốc gia có môi trường kinh tế phát triển là Hoa Kỳ, một số nguyên nhân dẫn đến lợi nhuận thấp so với ngân hàng trong nước như chi phí đầu vào biến đổi cao hơn hay chi phí vận hành cao hơn, sự thiếu hiểu biết tương đối về môi trường kinh tế của nước sở tại, ưu tiên mục tiêu tối đa hóa thị phần thay vì tối đa hóa lợi nhuận kinh doanh như các ngân hàng trong nước.
2.2.3 Lý thuyết về tác động của sở hữu của Giám đốc điều hành CEO đến tỷ suất sinh lời
Giám đốc điều hành CEO có thể được coi là là người đại diện điển hình của ban quản lý từ góc độ chịu trách nhiệm cao nhất và chịu trách nhiệm cuối cùng cho hiệu suất của ngân hàng. CEO cũng là người có quyền lực cao nhất có thể tác động đến hiệu suất ngân hàng (Griffith và cộng sự, 2002).
Theo lý thuyết chi phí đại diện (Agency Theory), để ngăn cản, hạn chế người quản lý thực hiện những hành vi rủi ro, tư lợi gây ảnh hướng đến lợi ích của cổ đông, bên cạnh cơ chế lương thưởng, theo quan điểm của Jensen và Meckling (1976), tăng tỷ lệ sở hữu cổ phần của người quản lý thì sẽ làm tăng hiệu suất hoạt động của doanh nghiệp vì khi đó, lợi ích của người quản lý sẽ gắn liền với lợi ích của cổ đông sở hữu, người quản lý sẽ có động lực để tối đa hóa giá trị của công ty vì họ được chia sẻ lợi nhuận từ hoạt động này, do đó làm giảm xung đột lợi ích.
Theo Dzung và cộng sự (2019), sở hữu của cổ đông là giám đốc điều hành CEO có ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận hoạt động của doanh thông qua việc CEO sở hữu cổ phần đủ lớn thì có thể lạm dụng chức quyền của mình để đưa ra các quyết định quản trị, điều hành phục vụ cho lợi ích riêng của mình và bất chấp quyết định đó hy sinh lợi ích của các cổ đông và các bên liên quan quan trọng khác. Những hoạt động này có hại cho sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp. Khi sở hữu một tỷ lệ cổ phần nhất định, các nhà điều hành có thể can thiệp vào các quyết định của Hội đồng quản trị và các chủ sở hữu, điều này thì các giám đốc điều hành có lợi thể hơn do sự bất cân xứng thông tin. Đội ngũ quản lý quen thuộc với các hoạt động kinh doanh hằng ngày và hiểu rõ tất cả các vấn đề nội bộ. Ngoài ra, các nhà quản lý có thể giữ vị trí của họ lâu hơn vì quyền sở hữu cổ phần có thể cản trở việc bổ nhiệm người kế nhiệm trong bất kỳ hoàn cảnh nào nếu không có sự chấp thuận của họ. Nghiên cứu của Griffith và cộng sự (2002) cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tỷ lệ sở hữu của CEO và hiệu suất hoạt động của ngân hàng là mối quan hệ tác động ngược chiều hoặc phi tuyến tính.
2.3 Tổng quan các nghiên cứu trên thế giới Luận văn: Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.
Nghiên cứu của Dewi và Nugraha (2018) kiểm định sự tương quan cấu trúc sở hữu và khả năng sinh lời của NHTM truyền thống ở Indonesia từ 2013-2017. Nghiên cứu kết luận cho thấy sở hữu nước ngoài có tác động tích cực đáng kể đến khả năng sinh lời của ngân hàng được đo lường bằng ROA và ROE. Sở hữu nhà nước có tác động tích cực nhưng không đáng kể đến ROA và có ảnh hưởng tiêu cực đến ROE.
Nghiên cứu của Sara và Mona (2017) thực hiện kiểm định từ dữ liệu bảng của 137 NHTM trên 12 quốc gia trong khu vực MENA giai đoạn 2010 – 2014 bằng phương pháp thẻ điểm cân bằng BSC (balanced scorecard method). Kết quả hồi quy cho thấy sở hữu của chính phủ có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng được đo bằng chỉ số BSC, ngược với lý thuyết phúc lợi xã hội và lý thuyết chính trị. Sở hữu nước ngoài tương tự cũng có tương quan thuận chiều đến lợi nhuận hoạt động ngân hàng, phù hợp với lý thuyết lợi thế toàn cầu.
Nghiên cứu của Abdul và Reja (2015) nghiên cứu về tác động của các loại hình cấu trúc sở hữu khác nhau đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng nội địa và nước ngoài tại Malaysia từ 2000 – 2011. Nghiên cứu thực hiện kiểm tra trên năm loại cấu trúc sở hữu như sở hữu nội bộ, sở hữu gia đình, chính phủ, tổ chức và nước ngoài. Kết quả cho thấy sở hữu nhà nước có tác động ngược chiều đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng (được do bằng ROA và ROE), sở hữu nước ngoài có ảnh hưởng không đáng kể đến hiệu quả hoạt động các ngân hàng.
Nghiên cứu của Barako và cộng sự (2007) xem xét mối liên hệ giữa đặc điểm cấu trúc sở hữu và hiệu suất ngân hàng dựa trên dữ liệu gồm tất cả các tổ chức tài chính và tài chính phi ngân hàng ở Kenya theo danh mục ngân hàng và tổ chức tài chính phi ngân hàng của vụ tổ chức tài chính, ngân hàng trung ương Kenya từ năm 2000 đến 2004. Tác giả thực hiện hồi quy OLS đo lường hiệu suất ngân hàng thông qua biến phụ thuộc là ROA và NPL. Kết quả thực nghiệm cho thấy cấu trúc sở hữu của các ngân hàng có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu suất tài chính. Cụ thể, sở hữu của chính phủ có tác động tiêu cực và có ý nghĩa đến hiệu suất ngân hàng, sở hữu nước ngoài có tác động tích cực mạnh mẽ đến hiệu suất ngân hàng.
Nghiên cứu của Uwalomwa và Olamide (2012) nghiên cứu về tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp ở Nigeria dựa trên dữ liệu của 31 công ty trên sàn giao dịch chứng khoán Nigeria từ 2006 – 2010. Tác giả sử dụng hồi quy đa biến trong mô hình có biến phụ thuộc là ROA, kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố sở hữu nước ngoài có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty ở Nigeria.
Nghiên cứu của Robin, Salimb và Bloch (2018) về hiệu suất kinh tế của các ngân hàng thương mại tại Bangladesh thời kỳ hậu cải cách. Dựa trên kết quả hồi quy dữ liệu bảng từ 12 NHTM lớn ở Bangladesh từ 1983 – 2012, nghiên cứu kết luận sở hữu nhà nước có tác động ngược chiều đến lợi nhuận của các ngân hàng được đo lường bằng ROA, ROE và NIM.
Griffith và cộng sự (2002) thực hiện nghiên cứu gồm 100 công ty mẹ sở hữu ngân hàng lớn nhất tại Hoa Kỳ từ năm 1995 – 1999 và áp dụng ba thước đo khác nhau về hiệu suất ngân hàng để phân tích mối liên hệ giữa hiệu suất ngân hàng và sở hữu của CEO. Ba thước đo hiệu suất ngân hàng được sử dụng là “chỉ số Tobin’s q”, EVA và MVA. Thông qua 2 chỉ số Q Tobin và MVA, tồn tại mối qua hệ nghịch chiều giữa sở hữu của CEO và hiệu suất của ngân hàng. Khi sử dụng chỉ số EVA, tồn tại mối quan hệ phi tuyến tính tích cực giữa sở hữu của CEO và hiệu suất của ngân hàng. Sở hữu sẽ tăng khi sở hữu của CEO đạt đến tỷ lệ khoảng 12%, sau đó giảm đến khi đạt 67%. Mối quan hệ giữa sở hữu và ngân hàng là mối quan hệ phi tuyến tính.
2.4 Tổng quan các nghiên cứu tại Việt Nam
Nghiên cứu của Lâm Chí Dũng và Võ Hoàng Diễm Trinh (2023) nghiên cứu mẫu của 26 NHTM Việt Nam từ 2007 -2021 để phân tích tác động của cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời và rủi ro của các NHTM Việt Nam dựa trên dữ liệu bảng không cân bằng. Thông qua biến phụ thuộc là tỷ suất sinh lời là ROA và ROE, cấu trúc sở hữu nhà nước và cấu trúc sở hữu nước ngoài có xu hướng tác động thuận chiều đến khả năng sinh lời của các NHTM Việt Nam. Những khuyến nghị cũng được đề xuất để áp dụng vào môi trường thực tiễn tại Việt Nam. Luận văn: Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.
Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Phong và Nguyễn Quang Tuân (2019) thu thập dữ liệu của 30 NHTM Việt Nam từ năm 2002 – 2017 và sử dụng hồi quy OLS, FEM, REM, GLS để đánh giá mối quan hệ giữa cấu trúc sở hữu và kết quả hoạt động của các ngân hàng tại Việt Nam. Kết luận được đưa ra là sở hữu nhà nước có mối quan hệ ngược chiều với hiệu quả hoạt động của các ngân hàng đo lường qua biến ROA, ngược lại sở hữu nước ngoài có mối tương quan tích cực với hiệu quả hoạt động của các ngân hàng qua ROA.
Nghiên cứu của Trần Quốc Thịnh (2018) kiểm định trên 30 NHTM từ năm 2012-2017. Tác giả thực hiện kiểm định OLS, mô hình nghiên cứu có biến phụ thuộc đo lường hiệu quả kinh tế là ROE. Nghiên cứu phát hiện rằng tỷ lệ sở hữu của các cổ đông nhà nước có tác động ngược chiều đến hiệu quả kinh tế, ngược lại sở hữu của các cổ đông nước ngoài thì có ảnh hưởng tích cực. Bài nghiên cứu cũng đề xuất cần tạo điều kiện để tăng cổ đông đầu tư nước ngoài bằng việc điều chỉnh quy định về giới hạn tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài. Việc tận dụng nguồn lực tài chính từ nước ngoài góp phần nâng cao tính tự chủ tài chính, giảm áp lực trả lãi và gốc khoản vay, nâng cao năng lực quản trị công ty từ kinh nghiệm quản lý của các đối tác nước ngoài.
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Huệ và Đặng Tùng Lâm (2017) về mối quan hệ của cấu trúc sở hữu và kết quả hoạt động của các công ty trên 2 sàn giao dịch chứng khoán Việt Nam từ 2007 – 2014 chỉ ra rằng sở hữu nhà nước có tác động ngược chiều đến hiệu quả hoạt động của công ty, trong khi đó, sở hữu nước ngoài cho kết quả ngược lại có mối liên hệ thuận chiều với khả năng sinh lời của các công ty.
Nghiên cứu của Dương Trọng Đoàn và Nguyễn Hữu Huân (2019) nghiên cứu về mối quan hệ của sở hữu nhà nước và hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Dữ liệu gồm 20 ngân hàng thương mại chiếm 80% thị phần tại Việt Nam. Nghiên cứu áp dụng mô hình dữ liệu bảng OLS, FEM, REM, bao gồm các biến phụ thuộc gồm tỷ lệ thu nhập lãi cận biên NIM,hiệu quả kỹ thuật CRS_TE, hiệu quả quy mô SCALE,..nghiên cứu kết luận rằng sở hữu nhà nước có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả kỹ thuật, điều này do được ưu đãi về vốn giá rẻ và khách hàng đến từ các doanh nghiệp nhà nước, lợi thế này giúp nâng cao tính cạnh tranh và hiệu quả hoạt động các ngân hàng. Bên cạnh đó, sở hữu nhà nước không đạt hiệu quả quy mô, lý giải cho điều này là quản lý tổ chức chưa tốt. Các ngân hàng nhà nước cũng trích lập dự phòng nhiều nên cũng làm giảm lợi nhuận và vốn để kinh doanh. Luận văn: Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.
Nghiên cứu của Phan Bùi Gia Thủy, Trần Đức Tài và Trần Thị Tú Anh (2017) thực hiện dựa trên 120 công ty trên sàn HOSE từ năm 2009-2015 đánh giá mối quan hệ của yếu tố tỷ lệ sở hữu cổ phiếu nắm giữ của CEO và khả năng sinh lời được đo bằng chỉ số ROA. Nghiên cứu kết luận rằng mối quan hệ này là phi tuyến tính, cụ thể khi tỷ lệ sở hữu đạt đến 30,18% thì khả năng sinh lời giảm, khi tỷ lệ sở hữu trên mức tỷ lệ này thì khả năng sinh lời tăng lên.
Nghiên cứu về vai trò của giám đốc điều hành trong các doanh nghiệp tăng trưởng nhanh của Phạm Quốc Việt và cộng sự (2019) với bộ dữ liệu gồm 241 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm 2008 đến năm 2017 để kiểm định vai trò của Tổng giám đốc điều hành (CEO) ảnh hưởng như thế nào để suất sinh lời của doanh nghiệp. Ước lượng GMM đo lường tốc độ tăng trưởng kép 4 năm là biến phụ thuộc và cho kết quả có mối quan hệ tương quan âm giữa tỷ lệ sở hữu của Giám đốc điều hành với khả năng tăng trưởng của công ty.
Nghiên cứu của Vu Manh Chien và cộng sự (2017) nghiên cứu mối quan hệ của cấu trúc sở hữu và hiệu suất tài chính của doanh nghiệp trong nền kinh tế chuyển đổi Việt Nam. Mẫu nghiên cứu là 557 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam từ năm niêm yết đến năm 2014 để kiểm định cấu trúc sở hữu đến khả năng sinh lời của doanh nghiệp. Kết quả hồi quy cho thấy, tỷ lệ sở hữu của Giám đốc điều hành CEO có mối quan hệ tích cực đến hiệu quả hoạt động được đo lường bằng chỉ số ROA và không có tác ảnh hưởng đến ROE.
Nghiên cứu của Dzung Viet Nguyen và cộng sự (2023) nghiên cứu dữ liệu của 248 công ty được niêm yết trên sàn HOSE gồm 1240 quan sát từ 2016 – 2020 để xem xét sự tác động của các thuộc tính của giám đốc điều hành CEO đến hiệu quả hoạt động của công ty như giới tính, trình độ học vấn, tuổi, quốc tịch, tỷ lệ sở hữu….Tác giả sử dụng phương pháp GMM hệ thống để ước lượng và kiểm định các mô hình dữ liệu bảng động. Kết quả cho thấy, biến tỷ lệ sở hữu của CEO có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của các công ty, sở hữu của CEO thấp hơn sẽ nâng cao hiệu suất hoạt động của công ty.
- Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài nghiên cứu
2.5 Nhận xét các nghiên cứu trước và khoảng trống nghiên cứu Luận văn: Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.
Thứ nhất, để áp dụng vào thực tế tại Việt Nam, các bài nghiên cứu về mối liên hệ của cấu trúc sở hữu đến suất sinh lời của ngân hàng thương mại còn nhiều kết luận chưa nhất quán về ảnh hưởng của các thành phần cấu trúc sở hữu nên chưa áp dụng được, trong đó có những quốc gia có nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, có thể do sự khác biệt về chính trị, thời gian thực hiện…Đồng thời, có nghiên cứu thực hiện tại quốc gia có nền kinh tế phát triển nên cũng chưa đảm bảo tính đúng đắn khi áp dụng tại Việt Nam như Griffith và cộng sự (2002). Một số nghiên cứu có thời gian thu thập dữ liệu nghiên cứu ngắn (5 – 7 năm) và cũng chưa xét đến yếu tố nội sinh như Nguyễn Thị Minh Huệ và Đặng Tùng Lâm (2017), Trần Quốc Thịnh (2018) để cho kết quả vững nhất hoặc chỉ phân tích một hình thức sở hữu mà chưa phân tích cùng lúc nhiều yếu tố sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài và sở hữu của CEO đến suất sinh lời của các NHTMCP Việt Nam Nguyễn Thị Minh Huệ và Đặng Tùng Lâm(2017), Phạm Quốc Việt và cộng sự (2019).
Thứ hai, chưa có nhiều nghiên cứu khoa học tại các quốc gia đang phát triển và tại Việt Nam về tác động của sở hữu của CEO đến khả năng sinh lời của ngân hàng Lâm Chí Dũng và Võ Hoàng Diễm Trinh (2023), Trần Quốc Thịnh (2018) trong khi đó, thành công hay thất bại của một doanh nghiệp không thể thiếu vai trò của tổng giám đốc, là người điều hành cao nhất. Do đó tác giả thực hiện luận văn này để xem xét mối quan hệ của thành phần sở hữu là giám đốc điều hành CEO đến khả năng sinh lời của các ngân hàng.
Thứ ba, các nghiên cứu tại Việt Nam thực hiện trong các khoảng thời gian khác nhau nhưng chưa có nhiều nghiên cứu thực hiện trong khoảng thời gian sau giai đoạn Covid 19, thời kỳ kinh tế toàn cầu và Việt Nam trải qua nhiều biến động, khó khăn, nợ xấu tăng cao ảnh hưởng nhất định đến hoạt động và kết quả kinh doanh của các ngân hàng. Giai đoạn này các ngân hàng có nhiều thay đổi cấu trúc sở hữu do trải qua hai quá quá trình tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Đồng thời đây cũng là giai đoạn đang diễn ra quá trình tái cơ cấu hệ thống từ 2021 – 2025 nên xác định xu hướng tác động và cấu trúc sở hữu tối ưu trong giai đoạn này nhằm góp phần đẩy nhanh hoặc điều chỉnh kịp thời về chính sách sở hữu như đẩy nhanh quá trình thoái vốn của các ngân hàng thương mại nhà nước về tỷ lệ sở hữu 51% trong giao đoạn 2021 – 2025 theo quyết định 986 của Thủ tướng chính phủ. Do đó, luận văn đã thực hiện thu thập dữ liệu từ năm 2012 đến năm 2023 để nghiên cứu mối quan hệ của cấu trúc sở hữu và tỷ suất sinh lời của các NHTMCP Việt Nam. Qua đó, cung cấp thêm một nghiên cứu khoa học về cấu trúc sở hữu với thời gian nghiên cứu dài hơn và được cập nhật hơn một số nghiên cứu trước.
- TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Chương này trình bày cơ sở lý thuyết về tỷ suất sinh lời của NHTM cũng như tác động của sở hữu nhà nước, sở hữu nước ngoài, sở hữu của giám đốc điều hành CEO lên tỷ suất sinh lời của các ngân hàng. Đa số lý thuyết và các nghiên cứu trước đây cho thấy sở hữu nhà nước có mối quan hệ ngược chiều với tỷ suất sinh lời của ngân hàng. Ngược lại, sở hữu nước ngoài có mối quan hệ tương quan thuận chiều với khả năng sinh lời của ngân hàng. Và tỷ lệ sở hữu của giám đốc điều hành CEO có mối liên hệ ngược chiều hoặc phi tuyến tính đến hiệu quả sinh lời của NHTM. Luận văn: Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời

Pingback: Luận văn: KQNC Tác động cấu trúc sở hữu vốn đến tỷ suất sinh lời