Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản trị cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của trường THCS Khúc Xuyên, thành phố Bắc Ninh theo hướng tiếp cận năng lực của học sinh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

Hiện nay, giáo dục Việt Nam đang nỗ lực đổi mới phương pháp giáo dục và đào tạo với nhiều mô hình, biện pháp khác nhau nhằm nâng cao tính tích cực trong dạy học và học một cách toàn diện, dạy làm sao để giúp người học hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động. Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ IX đã chỉ rõ: “Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội một cách bền vững …”. Và hơn nữa trong Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam, Đảng ta lại tiếp tục có những chỉ đạo: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội. Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước.”

Như vậy, theo Nghị quyết của Đảng, Nhà nước đã, đang và sẽ tăng cường đầu tư cho các trường học, các cơ sở giáo dục, bởi vì yêu cầu cấp bách về chất lượng giáo dục đào tạo không cho phép kéo dài tình trạng trường lớp, thư viện nghèo nàn, thiếu thiết bị giáo dục tối thiểu mà phải bằng mọi cách xây dựng và tăng cường cơ sở vật chất, thư viện, thiết bị giáo dục trong trường học trở thành một hệ thống hữu hiệu, một yếu tố chủ yếu nhằm đổi mới phương pháp dạy học, đưa việc dạy và học lên một tầm chất lượng mới, đáp ứng đòi hỏi trước mắt và lâu dài của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Trường THCS Khúc Xuyên nằm trên địa bàn phường Khúc Xuyên – là phường có qui mô dân số nhỏ nhất thành phố Bắc Ninh, tuy nhiên được sự quan tâm của các cấp chính quyền và phòng giáo dục đào tạo thành phố Bắc Ninh, trường THCS Khúc Xuyên đã được xây dựng, cải tạo, trang bị mới hoàn toàn về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học trong những năm gần đây. Từ đó tạo động lực dạy – học của giáo viên và học sinh trong trường. Chất lượng đào tạo và hiệu quả quản lý các nguồn lực trong đào tạo trong Nhà trường có mối liên hệ chặt chẽ. Khó có thể kỳ vọng vào sự bền vững của chất lượng đào tạo, nếu Nhà trường không quan tâm đúng mức đến việc nâng cao hiệu quả quản lý các nguồn lực. Quản trị cơ sở vật chất, thiết bị dạy học (CSVC, TBDH) là lĩnh vực quản trị nguồn lực quan trọng trong hoạt động của Nhà trường. Đầu tư xây dựng phòng học, thư viện, phòng thí nghiệm… với trang thiết bị ngày càng hiện đại luôn cần đến những luôn cần đến những giải pháp quản trị CSVC, TBDH hữu hiệu để hiệu quả phục vụ đào tạo tương xứng với chi phí đầu tư, từ đó mang lại hiệu quả cao trong giáo dục. Bên cạnh các kết quả đạt được, trong công tác quản trị CSVC, TBDH của Nhà trường còn bộc lộ nhiều hạn chế như hiệu quả sử dụng chưa cao, chưa phát huy hết vai trò, giá trị của thiết bị dạy học, đội ngũ giáo viên còn ngại sử dụng, cán bộ quản lí chưa thống nhất cao về hiệu quả sử dụng theo hướng tiếp cận năng lực của học sinh,… từ đó dẫn tới kiến thức của học sinh chưa được khắc sâu, kĩ năng sử dụng, thao tác các thiết bị học còn lúng túng. Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

Do vậy muốn nâng cao chất lượng dạy-học trong trường THCS Khúc Xuyên, Tác giả nhận thấy công tác quản trị CSVC, TBDH có ý nghĩa rất quan trọng quyết định tới hình thành năng lực của học sinh. Từ đó Tác giả chọn đề tài “Quản trị cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của trường THCS Khúc Xuyên, thành phố Bắc Ninh theo hướng tiếp cận năng lực của học sinh”.

2. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu lí luận và thực tiễn về quản trị cơ sở vật chất từ đó đề xuất giải pháp quản trị CSVC, TBDH ở trường THCS Khúc Xuyên, thành phố Bắc Ninh theo hướng tiếp cận năng lực của học sinh.

3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

  • Khách thể nghiên cứu: CSVC, TBDH tiếp cận năng lực học
  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản trị CSVC, TBDH ở trường THCS Khúc Xuyên, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

4. Giả thuyết khoa học

Hiện nay, quản trị cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục ở trường THCS Khúc Xuyên mặc dù đã đạt được kết quả đáng khích lệ nhưng so với yêu cầu đổi mới giáo dục thì hoạt động này chưa được chú ý đúng mức, hiệu quả chưa cao, chưa đáp ứng kịp thời của đổi mới phương pháp dạy học ở trường thcs hiện nay. Nếu nghiên cứu và đề xuất các biện pháp quản trị CSVC, TBDH phù hợp như: Tô chức quán triệt nhận thức về vai trò, tầm quan trọng của quản trị cơ sở vật chất, thiết bị dạy học cho cán bộ, giáo viên, học sinh; Tăng cường trang bị, cung ứng cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục; Đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ khai thác sử dụng hiệu quả cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục cho đội ngũ giáo viên, nhân viên; … thì sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục theo hướng tiếp cận năng lực của học sinh, đáp ứng được nhu cầu đổi mới giáo dục mà Đảng và nhà nước ta đang tiến hành.

5. Câu hỏi nghiên cứu Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

  • Thực trạng quản lý CSVC, TBDH tại trường THCS Khúc Xuyên, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh đáp ứng yêu cầu dạy học theo hướng tiếp cận năng lực của học sinh như thế nào?
  • Cần có những biện pháp nào để quản trị CSVC, TBDH tại trường THCS Khúc Xuyên, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh theo hướng đáp ứng yêu cầu dạy học theo hướng tiếp cận năng lực của học sinh?

6. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Hệ thống hóa vấn đề lí luận và thực tiễn về quản trị CSVC, TBDH ở trường THCS trong bối cảnh hiện nay.
  • Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng quản trị CSVC, TBDH ở trường THCS Khúc Xuyên, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh theo hướng tiếp cận năng lực của học sinh.
  • Đề xuất một số biện pháp quản trị CSVC, TBDH ở trường THCS Khúc Xuyên, thành phố Bắc Ninh, Tỉnh Bắc Ninh.

7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

  • Thời gian khảo sát:

Thời gian khảo sát thực hiện trong năm 2025 (từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2025)

  • Giới hạn về khách thể nghiên cứu:
  • Cán bộ quản lý, giáo viên của Nhà trường, giáo viên hợp đồng: 20 người
  • Nhân viên vụ việc (văn phòng, bảo vệ, vệ sinh): 5 người.
  • Học sinh: 80 học sinh

8. Phương pháp nghiên cứu

Kết hợp các nhóm nghiên cứu sau:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Tìm hiểu và nghiên cứu trong các văn kiện của Đảng, văn bản chỉ đạo của Chính phủ, của UBND tỉnh Bắc Ninh, của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của Sở Giáo dục và Đào tạo Bắc Ninh; nghiên cứu trên sách, báo chí, tạp chí, đề tài, luận văn, luận án và các tài liệu chuyên môn liên quan đến quản trị thiết bị giáo dục.

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động quản trị của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trường THCS Khúc Xuyên, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi với các đối tượng được điều tra.

Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn đối với Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng phụ trách cơ sở vật chất của Nhà trường về nội dung nghiên cứu.

  • Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học.

Ngoài các phương pháp trên tác giả còn sử dụng các phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học để xử lý kết quả nghiên cứu.

9. Những đóng góp của đề tài

Đề tài đưa ra các biện pháp quản trị, sử dụng hiệu quả CSVC, TBDH tại trường THCS Khúc Xuyên, thành phố Bắc Ninh từ đó góp phần nâng cao năng lực tự học tập của học sinh trong thời đại mới.

10. Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày trong 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở trường THCS theo hướng tiếp cận năng lực của học sinh;
  • Chương 2: Thực trạng quản trị cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở trường THCS Khúc Xuyên, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh;
  • Chương 3: Giải pháp tăng cường quản trị cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở trường THCS Khúc Xuyên, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ CƠ SỞ VẬT CHẤT, THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƯỚNG TIẾP CẬN NĂNG LỰC CỦA HỌC SINH

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Trực quan trong dạy học là một trong những nguyên tắc lý luận dạy học, được nghiên cứu xuyên suốt qua các thời kỳ triết học: Trực quan trong triết học cổ đại, trực quan trong triết học siêu hình cận đại, trực quan trong triết học biện chứng duy tâm và trong triết học duy vật biện chứng.

Trong quá trình dạy học, CSVC, TBDH là công cụ lao động sư phạm của giáo viên và học sinh, yếu tố không thể thiếu được trong quá trình dạy học. Với tư cách là công cụ lao động sư phạm của giáo viên và học sinh, khi chúng ta sử dụng đúng quy trình, phù hợp với đặc trưng của từng bộ môn, CSVC, TBDH đóng vai trò cung cấp nguồn thông tin cho học sinh trong học tập, tạo ra nhiều khả năng để giáo viên trình bày nội dung bài học một cách sâu sắc, thuận lợi, hình thành được ở học sinh những phương pháp học tập tích cực, chủ động, sáng tạo.

Cùng với sự phát triển của các tư tưởng trong lĩnh vực tâm lý học, giáo dục học, lý thuyết về dạy học trực quan đã có những bước tiến mới nhận thức được vai trò quan trọng của phương tiện dạy học trực quan. Tính trực quan trong dạy học đóng vai trò minh họa trong bài giảng của giáo viên, giúp học sinh không chỉ nhận biết được hiện tượng mà còn nắm rõ được bản chất của hiện tượng. Chính vì vậy, công tác quản trị cơ sở vật chất trường học nói chung và công tác quản trị CSVC, TBDH nói riêng đã được nhiều nhà trường và địa phương quan tâm. Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

Việt Nam, có câu tục ngữ cho rằng: “Trăm nghe không bằng một thấy” Chủ tịch Hồ Chí Minh, Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới đã nói: “Học phải đi đôi với hành”. CSVC, TBDH là một trong những điều kiện cơ sở vật chất không thể thiếu trong mỗi nhà trường, mỗi cơ sở giáo dục, đã được Đảng, Nhà nước đưa vào thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”. CSVC, TBDH là công cụ lao động của giáo viên, là phương tiện giúp học sinh dễ hiểu các khái niệm, dễ lĩnh hội kiến thức, giúp học sinh hình thành những kỹ năng thói quen cần thiết, bước đầu luyện tập thực hành, lao động, ứng dụng trong đời sống. Nghị quyết hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần II, khóa VIII chỉ rõ: “Tất cả các trường phổ thông đều có các thiết bị tối thiểu để thực hiện các thí nghiệm trong chương trình. Sớm chấm dứt tình trạng dạy chay, học chay nhằm nâng cao chất lượng dạy và học” [1].

Tuy nhiên, trong thực tế công tác sử dụng CSVC, TBDH của đội đội ngũ nhà giáo chưa đạt được kết quả như mong muốn do nhận thức về vai trò quan trọng của quản trị CSVC, TBDH, kỹ năng sử dụng còn hạn chế, CSVC, TBDH kém chất lượng, thiếu đồng bộ, công tác quản trị thiếu các biện pháp có hiệu quả. Chính vì vậy mà đã có nhiều đề tài nghiên cứu đến công tác quản trị, sử dụng CSVC, TBDH nhằm tìm ra những biện pháp quản trị như:

Đề tài: “Nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học ở trường phổ thông” của tác giả Trần Quốc Đắc, nghiên cứu việc nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học ở các bộ môn theo chương trình SGK. Đề tài cấp Bộ “Các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học phục vụ triển khai chương trình sách giáo khoa tiểu học và trung học cơ sở” của tác giả Trần Đức Vượng chủ trì đã đưa ra những biện pháp sử dụng thiết bị có hiệu quả [11].

Trong cuốn “Quản lý giáo dục – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” do tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc làm chủ biên có phần nghiên cứu về: “Quản lý tài chính và cơ sở vật chất- thiết bị giáo dục” đã chỉ ra cách phân loại và các nguyên tắc quản lý cơ sở vật chất- thiết bị giáo dục ở trường phổ thông [17].

Năm 2019, Trong cuốn tài liệu dùng cho học viên cao học chuyên ngành quản lý giáo dục của tác giả Phạm Văn Thuần đã đề cập đến quản lý CSVC, TBDH, đưa ra những vấn đề chung về CSVC, TBDH và nội dung quản lý CSVC, TBDH.

Luận án tiến sỹ của nghiên cứu sinh Lê Đình Sơn “Quản lý cơ sở vật chất phục vụ đào tạo của trường đại học theo quan điểm quản lý chất lượng tổng thể (TQM)” [19].

Luận văn thạc sĩ “Quản lý thiết bị dạy học ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa đáp ứng yêu cầu dạy học tích hợp” của Tác giả Đỗ Ngọc Tân đã đề cập đến các vấn đề quản lý thiết bị dạy học của các trường THCS trên địa bàn gồm các nội dung: nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về tác dụng của thiết bị dạy học; quản lý thiết bị dạy học. Luận văn cũng chỉ ra những mặt đạt được, những điểm còn hạn chế và đưa ra hệ thống các biện pháp quản lý thiết bị dạy học tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Nha Trang [20].

Tuy nhiên, việc nghiên cứu về quản trị CSVC, TBDH ở các trường THCS theo hướng tiếp cận năng lực của học sinh còn rất ít đề tài đề cập đến, đặc biệt ở trường THCS Khúc Xuyên chưa có một tác giả nào nghiên cứu đề tài này. Từ đó, tác giả nghiên cứu đề tài: “Quản trị cơ sở vật chất và thiết bị dạy học ở trường THCS Khúc Xuyên thành phố Bắc Ninh tỉnh Bắc Ninh theo hướng tiếp cận năng lực của học sinh” nhằm nghiên cứu thực trạng và đề xuất các biện pháp quản trị CSVC, TBDH theo hướng tiếp cận năng lực của học sinh, góp phần nâng cao chất lượng dạy học cũng như đáp ứng mục tiêu phát triển năng lực của học sinh trong thời đại hiện nay là đề tài mới, không trùng lặp với bất kỳ một đề tài nào.

1.2. Một số khái niệm cơ bản Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

1.2.1. Quản trị, quản trị nhà trường

  • Khái niệm quản trị

Quản trị là thuật ngữ có nhiều cách định nghĩa khác nhau tuỳ từng tác giả nghiên cứu. Chẳng hạn, James H.Donnelly, James L.Gibson trong giáo trình “Quản trị học căn bản” đã cho rằng “Quản trị là một quá trình do một hoặc nhiều người thực hiện, nhằm phối hợp những hoạt động của những người khác để đạt được những kết quả mà một người hành động riêng rẽ không thể nào đạt được [22].

Lý thuyết hành vi lại định nghĩa “Quản trị là hoàn thành công việc thông qua con người”.

Harold Kootz và Cyril O’Donnell: “Quản trị là thiết lập và duy trì một môi trường mà các cá nhân làm việc với nhau trong từng nhóm có thể hoạt động hữu hiệu và có kết quả” [13].

Robert Albanese: “Quản trị là một quá trình kĩ thuật và xã hội nhằm sử dụng các nguồn, tác động tới hoạt động của con người và tạo điều kiện thay đổi để đạt được mục tiêu của tổ chức” [13].

Stonner và Rabbins: “Quản trị là một tiến trình bao gồm các việc hoạch định, tổ chức quản trị con người và kiểm tra các hoạt động trong một đơn vị một cách có hệ thống nhằm hoàn thành mục tiêu của đơn vị đó…” [13].

Có người lại cho quản trị là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra các nguồn lực và hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục đích của tổ chức với kết quả và hiệu quả cao trong điều kiện môi trường luôn biến động.

Nói một cách tổng quát, quản trị là hoạt động cần thiết phải thực hiện khi con người kết hợp với nhau trong các tổ chức nhằm đạt được những mục tiêu chung. Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

  • Các năng lực quản trị

Năng lực là sự tổng hoà của kiến thức, kĩ năng, hành vi và thái độ của mỗi con người góp phần tạo nên tính hiệu quả trong công việc.

Năng lực quản trị là tập hợp các kiến thức, kĩ năng, hành vi và thái độ mà một quản trị viên cần có để tạo ra hiệu quả trong các hoạt động quản trị khác nhau ở các tổ chức khác nhau. 6 năng lực quản trị chủ yếu [10]:

Sơ đồ 1.1. Năng lực của quản trị

  • Năng lực truyền thông

Năng lực truyền thông là khả năng truyền đạt và trao đổi một cách hiệu quả thông tin làm sao để mình và người khác có thể hiểu rõ. Bao gồm các khía cạnh:

  • Truyền thông không chính thức:

Khuyến khích truyền thông 2 chiều thông qua đặt câu hỏi để có thông tin phản hồi, lắng nghe và thiết lập những cuộc trò chuyện thân mật.

  • Hiểu được tình cảm của người khác.
  • Thiết lập mối quan hệ cá nhân mạnh mẽ với mọi người. Truyền thông chính thức:
  • Thông báo các hoạt động và các sự kiện liên quan đến mọi người giúp họ cập nhật các sự kiện, hoạt động.
  • Tạo khả năng thiết phục, trình bày ấn tượng trước công chúng và kiểm soát được vấn đề.
  • Viết rõ ràng, súc tích và hiệu quả, sử dụng các nguồn dữ liệu trên máy tính.
  • Thương lượng: Thay mặt nhóm để đàm phán một cách hiệu quả về vai trò và nguồn lực.
  • Rèn luyện kỹ năng phát triển tốt mối quan hệ với cấp trên, công bằng đối với thuộc cấp.

Năng lực hoạch định và điều hành Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

Năng lực hoạch định và điều hành bao gồm việc quyết định những nhiệm vụ cần phải thực hiện, xác định rõ xem chúng có thể được thực hiện, phân bổ các nguồn lực để thực hiện các nhiệm vụ đó và giám sát toàn bộ tiến trình để đoán chắc rằng chúng đang được thực hiện tốt.

  • Các khía cạnh của năng lực hoạch định và điều hành: Thu thập, phân tích thông tin và giải quyết vấn đề.
  • Kiểm soát và sử dụng thông tin. Đưa ra quyết định kịp thời
  • Tính toán những rủi ro và tiên liệu kết quả. Hoạch định và tổ chức thực hiện các dự án:
  • Phát triển các kế hoạch và tiến độ để đạt được các mục tiêu
  • Phân tích các ưu tiên trong thực hiện nhiệm vụ và phân quyền để chịu trách nhiệm.
  • Xác định, tổ chức và phân bổ các nguồn lực cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ.

Quản lí thời gian:

Kiểm soát các vấn đề chung và các dự án theo thời gian. Giám sát công việc theo tiến độ hoặc thay đổi tiến độ nếu cần. Thực hiện công việc một cách hiệu quả dưới áp lực thời gian. Lập ngân sách và quản trị tài chính:

  • Hiểu rõ ngân sách, các dòng chu chuyển tiền mặt, các báo cáo tài chính và biết sử dụng chúng để ra quyết định.
  • Ghi chép đầy đủ và chính xác các sổ sách tài chính.
  • Phát thảo các nguyên tắc tổng quát về ngân sách và làm việc với mọi người trên những nguyên tắc này.

Năng lực làm việc nhóm

Thiết kế nhóm:

  • Thiết lập mục tiêu rõ ràng. Cấu trúc thành viên của nhóm một cách hợp lí.
  • Xác định trách nhiệm chung cho cả nhóm và ấn định nhiệm vụ cho từng thành viên của nhóm một cách thích hợp.
  • Tạo ra môi trường mang tính hỗ trợ:
  • Tạo môi trường mà trong đó sự hợp tác hiệu quả luôn được đánh giá kịp, khích lệ, khen thưởng.
  • Hỗ trợ nhóm trong việc xác định và sử dụng các nguồn lực cần thiết để hoàn thành mục tiêu.
  • Quản trị sự năng động của nhóm:
  • Hiểu rõ những điểm mạnh yếu của từng thành viên.
  • Xử lí tốt các mâu thuẫn và bất đồng để nâng cao hiệu quả. Chia sẻ sự tin cậy đối với mọi người.

Năng lực hành động chiến lược Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

Năng lực hành động chiến lược là hiểu rõ sứ mệnh tổng quát và các giá trị của tổ chức và đoán chắc rằng các hoạt động của mình và của những thuộc cấp được phân định rõ ràng. Bao gồm:

  • Hiểu rõ ngành mà tổ chức hoạt động:
  • Biết được hành động của các đối thủ cạnh tranh và các đối tác chiến lược.
  • Có thể phân tích được xu hướng chung xảy ra trong ngành và tác động của chúng trong tương lai.
  • Hiểu biết tổ chức: Hiểu rõ sự quan tâm của giới hữu quan. Nắm vững các năng lực khác biệt trong tổ chức.
  • Thực hiện các hành động chiến lược: Phân định các ưu tiên và đưa ra các quyết định sứ mệnh của tổ chức và các mục tiêu chiến lược.
  • Nhận thức rõ thách thức quản trị của từng phương án chiến lược và khắc phục chúng.
  • Thiết lập các chiến thuật và các mục tiêu tác nghiệp giúp cho việc thực hiện chiến lược dễ dàng.

Năng lực nhận thức toàn cầu

Việc thực hiện các công việc của quản trị trong một tổ chức thông qua việc phối hợp sử dụng các nguồn lực nhân sự, tài chính, thông tin và nguyên liệu từ nhiều quốc gia và đáp ứng nhu cầu thị trường với sự đa dạng về văn hoá đòi hỏi các nhà quản trị phải có năng lực nhận thức toàn cầu.

Các khía cạnh của năng lực nhận thức toàn cầu:

  • Có kiến thức hiểu biết về văn hóa: Hiểu biết và cập nhật các sự kiện chính trị, xã hội và kinh tế trên toàn cầu.
  • Nhận thức rõ tác động của các sự kiện quốc tế đến tổ chức. Hiểu, đọc và nói thông thạo hơn một ngôn ngữ khác.
  • Nhạy cảm và khả năng hoà nhập văn hoá:
  • Nhạy cảm đối với xử sự văn hóa riêng biệt và có khả năng thích nghi.
  • Điều chỉnh hành vi giao tiếp với những nền văn hoá khác nhau của các quốc gia.

Năng lực tự quản Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

  • Con người phải có trách nhiệm đối với cuộc sống của mình bên trong cũng như bên ngoài công việc.

Các khía cạnh của năng lực tự quản như:

  • Cư xử trung thực và đạo đức: Sẵn lòng thừa nhận những sai lầm. Chịu trách nhiệm về các hành động của mình.
  • Có cá tính và nghị lực: Làm việc chăm chỉ để hoàn thành công việc. Bền chí để đương đầu với những trở ngại, biết cách vươn lên từ thất bại. Cân bằng giữa yêu cầu của công việc và cuộc sống:
  • Thiết lập sự cân bằng giữa công việc và các khía cạnh của cuộc sống sao cho không có vấn đề nào của cuộc sống bị sao lãng.
  • Có khả năng tự chăm sóc mình.
  • Biết xử lí và thiết lập các mục tiêu liên quan giữa công việc và cuộc sống. Khả năng tự nhận thức và phát triển.
  • Có những mục đích nghề nghiệp và cá nhân rõ ràng.
  • Sử dụng những điểm mạnh để tạo lợi thế và tìm cách cải thiện điểm yếu.
  • Biết phân tích và học hỏi từ những kinh nghiệm trong công việc và cuộc sống.

Khái niệm quản trị trường học

Căn cứ theo quy định tại Khoản 8 Điều 3 Thông tư 14/2024/TT- BGD&ĐT Quy định về chuẩn hiệu trưởng cơ sở giáo dục phổ thông do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, có hiệu lực từ 04/9/2024, Quản trị nhà trường được quy định như sau:

“Quản trị nhà trường là quá trình xây dựng các định hướng, quy định, kế hoạch hoạt động trong nhà trường; tổ chức hoạt động dạy học, giáo dục học sinh thông qua huy động, sử dụng các nguồn lực, giám sát, đánh giá trên cơ sở tự chủ, có trách nhiệm giải trình để phát triển nhà trường theo sứ mạng, tầm nhìn và mục tiêu giáo dục của nhà trường[7].

  • Khái niệm quản trị Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

Nội dung CSVC, TBDH mở rộng đến đâu thì hoạt động quản trị cũng phải mở rộng tương ứng. Thực tế chỉ ra CSVC, TBDH chỉ phát huy tác dụng tốt trong dạy học khi được quản trị tốt. Do đó phải đi đôi với việc đầu tư, trang bị thì điều quan trọng hơn là phải chú trọng đến công tác quản trị CSVC, TBDH trong nhà trường. Do CSVC, TBDH là một lĩnh vực vừa mang đặc tính kinh tế – giáo dục vừa mang đặc tính khoa học – giáo dục nên việc quản lý một mặt phải tuân thủ các yêu cầu chung về quản lý kinh tế, khoa học, mặt khác, cần tuân thủ các yêu cầu quản lý chuyên ngành giáo dục. Do vậy có thể nói quản trị CSVC, TBDH là một trọng những công việc của cán bộ quản lý và là đối tượng quản lý quan trọng trong nhà trường.

CSVC, TBDH trong nhà trường là yếu tố quan trọng bảo đảm yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo, NCKH, bao gồm hệ thống khuôn viên, phòng học, phòng học đa năng trang bị đầy đủ máy móc; hệ thống phòng thí nghiệm ở một số khoa thực nghiệm được đầu tư máy móc hiện đại đáp ứng yêu cầu học tập và nghiên cứu khoa học của học sinh, cán bộ; thư viện hiện đại, xưởng thực hành, phòng rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, cơ sở thực tập sư phạm, sân vận động, nhà thi đấu đa năng, v.v… phục vụ thiết thực cho hoạt động dạy và học.

Quản trị CSVC, TBDH là việc lựa chọn, đưa ra, tổ chức thực hiện các quyết định có liên quan đến cơ sở vật chất, thiết bị dạy học học nhằm phục vụ cho mục tiêu hoạt động của nhà trường [11].

1.2.2. Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học trường THCS Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

Các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân của nước ta hiện nay, khi được nói đến là phải đề cập đến CSVC, TBDH. CSVC, TBDH là những hệ thống các phương tiện vật chất và kỹ thuật khác nhau được sử dụng để phục vụ việc GD&ĐT toàn diện học sinh trong nhà trường hoặc cơ sở giáo dục. Đó là những đồ vật, những của cải vật chất và khung cảnh sư phạm tự nhiên xung quanh nhà trường [3].

  • Có thể hiểu khái niệm trên theo hai góc độ:

Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của xã hội, được nhà trường sử dụng vào mục tiêu đào tạo bao gồm: các trang thiết bị và công cụ của nhà máy xí nghiệp, nhà văn hóa, nhà truyền thống, câu lạc bộ, sân bãi thể dục thể thao của địa phương.. nhà trường không trực tiếp quản lý và sử dụng, nhưng có thể mượn hoặc thuê để phục vụ cho mục tiêu giáo dục.

Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của nhà trường đó là các khối công trình, nhà cửa, sân chơi, thư viện, thiết bị giáo dục và các trang thiết bị khác… được trang bị riêng cho nhà trường, và chia ra làm 3 bộ phận: trường sở, thiết bị giáo dục và thư viện. Các bộ phận náy nhà trường trực tiếp quản lý và sử dụng.

Như vậy, theo quan điểm của tác giả, khái niệm về CSVC, TBDH được định nghĩa như sau: “Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học là một phần của cơ sở vật chất nhà trường, gồm toàn bộ những thiết bị, dụng cụ, phương tiện được sử dụng trong dạy và học nhằm nâng cao chất lượng của quá trình dạy và học”.

Ngoài các điều kiện về: Tổ chức và quản lý nhà trường; cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên; đánh giá kết quả giáo dục, xã hội hóa giáo dục thì các điều kiện về CSVC, thiết bị phải đảm báo các yêu cầu sau:

Diện tích khuôn viên và các yêu cầu về xanh, sạch, đẹp, thoáng mát bảo đảm quy định; có cổng, biển tên trường, tường hoặc hàng rào bao quanh theo quy định; có sân chơi, bãi tập, chỗ thực hành ngoài trời theo quy định.

Số lượng, quy cách, chất lượng và thiết bị của phòng học bảo đảm theo quy định tối thiểu của Điều lệ trường phổ thông; kích thước, vật liệu, kết cấu, kiểu dáng, màu sắc của bàn ghế học sinh bảo đảm quy định của Bộ GD&ĐT, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Xây dựng, Bộ Y tế; kích thước, màu sắc, cách treo bảng trong lớp học bảo đảm quy định về vệ sinh trường học của Bộ Y tế.

Khối phục vụ học tập, khối hành chính quản trị và phòng học bộ môn (đối với cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông) đạt tiêu chuẩn tối thiểu theo quy định. Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

Thư viện đạt tiêu chuẩn thư viện trường phổ thông theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; có các tủ sách lớp học, hoạt động của thư viện có tác dụng phát triển văn hoá đọc, khuyến khích và đáp ứng nhu cầu đọc, nghiên cứu, dạy học của cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh; bổ sung sách, báo và tài liệu tham khảo hằng năm đáp ứng yêu cầu dạy học theo chương trình mới.

Thiết bị dạy học tối thiểu phục vụ giảng dạy, học tập và việc sử dụng thiết bị dạy học trong các giờ lên lớp và tự làm một số đồ dùng dạy học của giáo viên bảo đảm quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; kiểm kê, sửa chữa, nâng cấp, bổ sung đồ dùng và thiết bị dạy học hằng năm đáp ứng yêu cầu dạy học theo chương trình mới.

1.2.3. Dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh

  • Năng lực là một phạm trù từng được bàn đến trong mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội.

Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực. Theo từ điển tiếng Việt “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó. Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”.

Đứng về góc độ tâm lý học, năng lực trở thành đối tượng nghiên cứu chuyên sâu từ thế kỷ XIX, trong các công trình thực nghiệm của F.Ganton năng lực có những biểu hiện như tính nhạy bén, chắc chắn, sâu sắc và dễ dàng trong quá trình lĩnh hội một hoạt động mới nào đó. Người có năng lực là người đạt hiệu suất và chất lượng hoạt động cao trong các hoàn cảnh khách quan và chủ quan như nhau. Năng lực gắn bó chặt chẽ với tính định hướng chung của nhân cách [21].

Từ điển tâm lý học đưa ra khái niệm, năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định.

Theo Cosmovici thì: “năng lực là tổ hợp đặc điểm của cá nhân, giải thích sự khác biệt giữa người này với người khác ở khả năng đạt được những kiến thức và hành vi nhất định”. Còn A.N.Leonchiev cho rằng: “năng lực là đặc điểm cá nhân quy định việc thực hiện thành công một hoạt động nhất định” [21]. Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

Nhà tâm lý học A.Rudich đưa ra quan niệm về năng lực như sau: năng lực đó là tính chất tâm sinh lý của con người chi phối quá trình tiếp thu các kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo cũng như hiệu quả thực hiện một hoạt động nhất định. Năng lực của con người không chỉ là kết quả của sự phát triển và giáo dục mà còn là kết quả hoạt động của các đặc điểm bẩm sinh hay còn gọi là năng khiếu. Năng lực đó là năng khiếu đã được phát triển, có năng khiếu chưa có nghĩa là nhất thiết sẽ biến thành năng lực. Muốn vậy phải có môi trường xung quanh tương ứng và phải có sự giáo dục có chủ đích [21].

Trong các giáo trình tâm lý học các tác giả cũng đã đưa ra khá nhiều quan niệm về năng lực. Trong đó đa số đều quan niệm năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động có kết quả tốt. Năng lực vừa là tiền đề vừa là kết quả của hoạt động, năng lực vừa là điều kiện cho hoạt động đạt kết quả nhưng đồng thời năng lực cũng phát triển ngay trong chính hoạt động ấy. Theo quan điểm của Tâm lý học Mác xít, năng lực của con người luôn gắn liền với hoạt động của chính họ.

Như vậy, khi nói đến năng lực thì không phải là một thuộc tính tâm lý duy nhất nào đó (ví dụ như khả năng tri giác, trí nhớ…) mà là sự tổng hợp các thuộc tính tâm lý cá nhân (sự tổng hợp này không phải phép cộng của các thuộc tính mà là sự thống nhất hữu cơ, giữa các thuộc tính tâm lý này diễn ra mối quan hệ tương tác qua lại theo một hệ thống nhất định và trong đó một thuộc tính nổi lên với tư cách chủ đạo và những thuộc tính khác giữ vai trò phụ thuộc) đáp ứng được những yêu cầu hoạt động và đảm bảo hoạt động đó đạt được kết quả mong muốn [21].

  • Tóm lại, dựa trên quan niệm của nhiều tác giả đưa ra ở trên có thể định nghĩa như sau:

Năng lực là khả năng thực hiện thành công hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… năng lực của cá nhân được đánh giá qua phương thức và khả năng hoạt động của cá nhân đó khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống”.

Như vậy, năng lực không mang tính chung chung mà khi nói đến năng lực, bao giờ người ta cũng nói về một lĩnh vực cụ thể nào đó như năng lực toán học của hoạt động học tập hay nghiên cứu toán học, năng lực hoạt động chính trị của hoạt động chính trị, năng lực dạy học của hoạt động giảng dạy… Năng lực của học sinh là một cấu trúc động, có tính mở, đa thành tố, đa tầng bậc, hàm chứa trong nó không chỉ là kiến thức, kỹ năng mà cả niềm tin, giá trị, trách nhiệm xã hội… thể hiện ở tính sẵn sàng hành động của các em trong môi trường học tập phổ thông và những điều kiện thực tế đang thay đổi của xã hội.

Hiện nay giáo dục các bậc học nói chung, bậc học trung học cơ sở nói riêng được thực hiện theo hướng tiếp cận năng lực học sinh. Nếu như trước đây giáo dục theo cách tiếp cận nội dung thì dạy cho học sinh biết cái gì; Còn chương trình hướng đến năng lực cho học sinh là học sinh làm được gì trên cơ sở các em biết. Như vậy năng lực là đích, là đầu ra của giáo dục. Với cách tiếp cận như vậy nó sẽ chi phối các yếu tố của chương trình như mục tiêu- tức là dạy để làm gì; nội dung dạy học – tức dạy cái gì; phương pháp và hình thức tổ chức dạy học – tức là học bằng cách nào; và cuối cùng là thi, kiểm tra, đánh giá và chất lượng giáo dục. Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

Đối với cấp học trung học cơ sở đã được Bộ giáo dục và Đào tạo đề xuất 6 phẩm chất cần hình thành cho học sinh: Yêu gia đình, quê hương đất nước; Nhân ái khoan dung; Trung thực, tự trọng, chí công, vô tư; Tự lập, tự tin, tự chủ; Có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước, nhân loại; Nghĩa vụ công dân. Cùng với đó là đề xuất hình thành 9 năng lực cho học sinh. 9 năng lực đó cụ thể là: Tự học; Giải quyết vấn đề; Sáng tạo; Tự quản lý; Giao tiếp; Hợp tác; Sử dụng CNTT; Sử dụng ngôn ngữ; Tính toán [18].

Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng chú trọng phát triển năng lực học sinh; thì cần phải vận dụng dạy học theo tình huống, dạy học sinh định hướng hành động, tăng cường sử dụng phương tiện dạy học và công nghệ thông tin hợp lý. Bên cạnh đó, việc kiểm tra, đánh giá cũng phải chú trọng vào năng lực của người học (tư duy sáng tạo, vận dụng giải quyết những vấn đề trong cuộc sống), với các phương pháp được áp dụng như: Quan sát, phỏng vấn sâu, hội thảo, nhật ký người học, hồ sơ học tập, bài tập lớn, đánh giá thực hành, học sinh tự đánh giá lẫn nhau. “Muốn làm được điều này bên cạnh việc nâng cao nhận thức giáo viên, tập huấn cho giáo viên; thiết kế lại chương trình đào tạo chú trọng mục tiêu hình thành năng lực cho người học và phối hợp với đổi mới kiểm tra phương pháp dạy và học” thì việc tập trung đầu tư CSVC, TBDH cho giáo dục theo hướng chuẩn hóa, kiên cố hóa, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.

Một trong những định hướng cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học.

Đổi mới PPDH cần được thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc học sinh được học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học. Để đảm bảo được điều đó, giáo viên trong các trường cần đã nghiên cứu chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất. Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

1.2.4. Quản trị cơ sở vật chất trường THCS theo hướng tiếp cận năng lực của học sinh

Quản trị CSVC, TBDH theo hướng tiếp cận năng lực học sinh là việc lựa chọn, đưa ra, tổ chức thực hiện các quyết định từ việc mua sắm, sử dụng, bảo quản bảo dưỡng, kiểm tra thực hiện đối với cơ sở vật chất, thiết bị dạy học nhằm phục vụ cho mục tiêu dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh của nhà trường.

Để thực hiện đổi mới chương trình giáo dục một cách căn bản và toàn diện, ngoài yếu tố giáo viên thì CSVC, TBDH là một yếu tố rất quan trọng.

Một trong những biện pháp để xây dựng cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục là cần phải đánh giá được thực trạng cơ sở vật chất hiện có của các trường. Trên cơ sở đó xác định nhu cầu xây mới, sửa chữa, cải tạo với mục tiêu ưu tiên cho các hạng mục công trình: Phòng học, thư viện, nhà vệ sinh, nhà ăn, phòng ở cho học sinh nội trú, học sinh bán trú.

Bộ GD&ĐT cần sớm ban hành danh mục thiết bị dạy học sớm; đồng thời thành lập các hệ thống quy chuẩn các phòng chức năng để các trường có kế hoạch bổ sung. Trên cơ sở đó, Sở GD&ĐT tại các địa phương cần có đề án riêng về CSVC, TBDH học trình HĐND, UBND, làm căn cứ cho các quận huyện, nhà trường tổ chức thực hiện theo lộ trình đổi mới.

Về phía các trường, cần căn cứ vào đề án CSVC, TBDH để lên kế hoạch mua sắm, sử dụng và bảo dưỡng, duy tu CSVC, TBDH theo đúng quy định.

1.3. Một số lý luận về quản trị cơ sở vật chất, thiết bị dạy học trường THCS theo tiếp cận năng lực của học sinh Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

1.3.1. Phân loại cơ sở vật chất, thiết bị dạy học

  • Trường học

Trường học là nơi tổ chức việc giảng dạy và giáo dục học sinh. Do đòi hỏi của quá trình phát triển giáo dục, đặc biệt do yêu cầu của việc thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, đổi mới các phương pháp dạy học, trường học cũng có những thay đổi nhất định để phù hợp với các yêu cầu mới như việc xây dựng các phòng thí nghiệm, thực hành, bộ môn [9].

  • Thư viện

Sách: Là loại CSVC trọng yếu, là phương tiện cần thiết phục vụ cho việc học tập và giảng dạy của nhà trường đồng thời là nguồn tri thức quan trọng của học sinh và giáo viên.

Thư viện: Tổ chức có nhiệm vụ sưu tầm, tàng chữ, bảo quản, giới thiệu, phổ biến, cho mượn tất cả các loại ấn phẩm, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người đến đọc sách báo, tìm kiếm thông tin cần thiết cho học tập, công tác và đời sống.

Thư viện trường học là bộ phận không thể thiếu được đối với hoạt động dạy học, nó đảm bảo cung cấp cho học sinh và giáo viên các sách giáo khoa và tài liệu tham khảo, các tác phẩm văn học nghệ thuật và báo chí các loại để đọc thêm, mở rộng kiến thức [9].

  • Thiết bị dạy học

Thiết bị dạy học bao gồm các thiết bị dùng chung, các thiết bị trực quan, thực nghiệm, và các thiết bị kỹ thuật (các phương tiện nghe- nhìn). Thiết bị dạy học các bộ môn được sử dụng thường xuyên, trực tiếp tham gia vào quá trình giảng dạy và học tập, gắn liền với nội dung và phương pháp trong từng tiết học nên được xem là bộ phận quan trọng góp phần đổi mới nội dung và phương pháp dạy học [9].

1.3.2. Vị trí, vai trò cơ sở vật chất, thiết bị dạy học theo hướng hướng tiếp cận năng lực học sinh Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

  • Vị trí của cơ sở vật chất, thiết bị dạy học

Vị trí của CSVC, TBDH trong hoạt động đào tạo của các trường thể hiện qua các dấu hiệu:

Là công cụ lao động của giáo viên. Với sự phát triển nhanh chóng của tri thức, khoa học và công nghệ, để truyền tải một khối lượng kiến thức lớn đến người học, để trang bị những kỹ năng cần thiết cho học sinh, người dạy cần có các thiết bị kỹ thuật hỗ trợ (tài liệu tham khảo, thiết bị, các phần mềm dạy học, thí nghiệm …). Thiết bị hiện đại có thể giúp người học tham gia hiệu quả cùng người dạy vào các hoạt động sáng tạo.

Là công cụ nhận thức của học sinh. Thiết bị thí nghiệm, thực hành, mạng máy tính, phần mềm hỗ trợ, thiết bị nghe nhìn, dụng cụ thể thao, phòng học bộ môn, tài liệu, thông .. có vai trò như công cụ “nối dài” các giác quan của người học, làm cho hoạt động nhận thức khoa học hiệu quả hơn, sâu sắc, bền vững hơn, giúp trang bị cho họ những kỹ năng cần thiết cho công việc và để có thể học tập suốt đời, tiếp tục phát triển năng lực sau đào tạo.

Là công cụ hiện thực hóa nội dung, mục tiêu dạy học. Giảng đường, phòng học là điều kiện tối thiểu để tổ chức lớp học. Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, bài giảng của người thầy chỉ có thể đóng vai trò định hướng, gợi mở cho sự tìm tòi, nghiên cứu tiếp theo của học sinh. Thư viện, phòng thí nghiệm, phòng thực hành, mạng thông tin… là công cụ không thể thiếu để hiện thực hóa nội dung, chương trình, mục tiêu đào tạo.

Là phương tiện vật chất hóa phương pháp dạy học. Sự xuất hiện của máy móc, dây chuyền sản xuất hiện đại làm cho quy trình sản xuất được tổ chức khoa học và hiệu quả hơn. Mạng internet, các phần mềm thí nghiệm hay máy tính bảng xuất hiện gần đây là những ví dụ cụ thể về vai trò vật chất hóa phương pháp dạy học của trang thiết bị. Các phòng bộ môn với trang thiết bị hiện đại, thiết bị thí nghiệm với các phần mềm hỗ trợ theo công nghệ mới góp phần không nhỏ thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học. Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

Ngoài ra, CSVC, TBDH còn là điều kiện hạ tầng cần thiết để đa dạng hóa hình thức dạy học. Ngày nay, người học có thể tham gia các khóa ĐT bằng nhiều hình thức học tập: trực tiếp, qua mạng, qua các phương tiện nghe nhìn. Học sinh có thể học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên ở cách xa nửa vòng trái đất, có thể truy cập, tìm kiếm tài liệu, thông tin của các thư viện ở các quốc gia xa xôi. Hình thức dạy học phong phú, đa dạng giúp nâng cao đáng kể hiệu quả giáo dục của các quốc gia. Nhưng tất cả điều đó chỉ thực hiện được nếu các trường có hạ tầng CSVC, TBDH hiện đại.

  • Vai trò cơ sở vật chất, thiết bị dạy học theo hướng hướng tiếp cận năng lực học sinh

Quá trình dạy học được cấu thành bởi các thành tố có liên quan chặt chẽ và tương tác với nhau. Các thành tố đó là: mục tiêu, nội dung, phương pháp, giáo viên, học sinh và phương tiện. Các yếu tố cơ bản này giúp thực hiện quá trình giáo dục và dạy học. Sơ đồ dưới đây thể hiện các thành tố cấu thành quá trình dạy học và mối quan hệ giữa chúng.

  • Sơ đồ 1.2. Mối quan hệ giữa các yếu tố cơ bản trong quá trình dạy học

Mối quan hệ giữa các thành tố cấu thành quá trình giáo dục và dạy học trong đó CSVC, TBDH là một thành tố không thể tách rời.

Theo sơ đồ trên, các cặp thành tố tương ứng đều có mối quan hệ tương hỗ hai chiều. Việc điều khiển tối ưu các mối quan hệ của các thanh tố có thể được coi là một nghệ thuật về mặt quản lý sư phạm.

CSVC, TBDH có mặt trong quá trình nêu trên có vai trò như các thành tố khác và không thể thiếu được một thành tố nào, nó góp phần quan trọng nâng cao chất lượng dạy và học. CSVC, TBDH là một bộ phận, một thành tố không thể thiếu trong quá trình dạy học và nó có vai trò lớn trong quá trình dạy học. Có thể kể ra như sau:

  • Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học nâng cao năng lực nhận thức và rèn kỹ năng của học sinh

Vần đề này Lênin đã diễn tả khái quát như sau:“Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan”.

Trực quan sinh động nói ở đây đó là sự phản ánh trực tiếp thực tại khách thể bằng các giác quan và diễn ra dưới những hình thức cơ bản kế tiếp nhau: cảm giác, tri giác và biểu tượng và từ đó nâng cao năng lực nhận thức của học sinh. Nhờ có CSVC, TBDH mà từ tư duy trừu tượng với những hình thức kế tiếp nhau như: khái niệm, phán đoán và suy luận làm cho học sinh dễ dàng hơn trong nhận thức. Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

CSVC, TBDH là công cụ nhận thức của học sinh, là sự cụ thể hóa nội dung dạy học và rèn luyện kỹ năng nó có thể trở thành nguồn tri thức quan trọng cho người học, nó có vai trò là đối tượng của nhận thức và rèn luyện kỹ năng.

CSVC, TBDH học là công cụ hoạt động học, là điều kiện chiếm lĩnh kiến thức kỹ năng, kỹ xảo một cách dễ dàng. Nó không chỉ tham gia xây dựng biểu tượng phương thức hành động mà còn tham gia kiểm tra, kiểm soát, đánh giá quá trình và kết quả hoạt động, vì thế người học có thể điều chỉnh hoạt động cho phù hợp. Nhờ nó mà hoạt động học trở nên đa dạng và hấp dẫn hơn tạo sự say mê, hứng thú, giúp cho người học nhớ lâu các kiến thức, khắc sâu trong trí nhớ người học.

Thực hiện chức năng trực quan hóa hoạt động nhận thức của người học. Để thay thế cho các sự vật hiện tượng và các quá trình xảy ra trong thực hiện mà người dạy cũng như người học không thể tiếp cận trực tiếp. Ngoài ra, nó còn giúp người học làm quen các yếu tố các mối quan hệ bên trong, bên ngoài của đối tượng học tập. Có thể hiểu sâu sắc nội dung vấn đề đồng thời còn biết cách tiến hành nghiên cứu tìm hiểu chuyên môn mà mình yêu thích.

Chúng ta biết rằng, nhận thức là sự phản ánh thực tiễn trong bộ não con người, con người nhận thức được thế giới bên ngoài là nhờ hệ thống tín hiệu thứ nhất và thứ hai mà hệ thống tín hiệu thứ nhất là cơ sở. Người ta không thể hiểu được dùng ngôn ngữ để mô tả khái niệm, một hiện tượng nếu không có biểu tượng ban đầu nào đó. Trong quá trình nhận thức thế giới vĩ mô, vai trò của CSVC, TBDH vô cùng quan trọng, với các cơ quan cảm giác thông thường lúc này ta không thể quan sát được các hiện tượng thực tiễn mà phải dùng công cụ để cho phép con người đi sâu vào thế giới vật chất nằm sau giới hạn tri giác của các giác quan. Do đó nhờ công cụ con người có khả năng phát hiện ra một số tính chất của vật chất lớn hơn nhiều so với khi không sử dụng nó. Sự nghiên cứu lịch sử khoa học hiện đại cũng cho thấy rằng, mỗi lần có những công cụ mới lại có những tiến bộ mới trong quá trình nhận thức thế giới, vì vậy có thể nói rằng: “Việc nhận thức thế giới vi mô luôn gắn với công cụ, hay cụ thể hơn việc nhận thức thế giới của học sinh với CSVC, TBDH”.

Trong quá trình làm việc với các CSVC, TBDH, các kiến thức lý thuyết mà học sinh tiếp thu ở trên lớp thường ở dạng tĩnh và cô lập với kiến thức khác, sẽ tác động tương hỗ làm cho chúng trở nên sinh động, làm lộ rõ bản chất và khả năng của chúng, tạo nên ra hứng thú cho học sinh vì tiếp xúc với thực tiễn, tư duy của học sinh luôn được đặt trước những tình huống mới, mỗi học sinh phải tìm tòi, suy nghĩ phát triển trí sáng tạo. Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

Qua làm việc với các CSVC, TBDH, tính kiên trì, cẩn thận, chính xác, kỷ luật được rèn luyện, đó là những phẩm chất rất cần thiết đối với người lao động và phải được hình thành qua một quá trình rèn luyện lâu dài, bằng những hoạt động thực hành đa dạng.

  • Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học cụ thể hóa phương pháp đào tạo, làm tăng năng suất lao động của giáo viên và học sinh

CSVC, TBDH là công cụ lao động của giáo viên và học sinh, cụ thể hóa phương pháp đào tạo. Góp phần tích cực vào giải phóng sức lao động của thầy trò tạo điều kiện cho hoạt động dạy học diễn ra hợp lý, đúng quy luật. Nó cung cấp cho người học thông tin chính xác chắc chắn về các quá trình diễn ra phức tạp và trừu tượng mà bình thường bằng ngôn ngữ người dạy diễn đạt rất khó khăn. Nó kích thích, tích cực hóa các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp…làm cho tư duy trừu tượng phát triển mạnh mẽ hơn. Lao động của người dạy sẽ được giảm nhẹ, từ đó họ có thời gian phân tích các vấn đề trong bài dạy và huy động người học trực tiếp tham gia phát hiện và lĩnh hội các tri thức mới. Người học giảm thiểu sự đầu tư sức lực và thời gian khi tiếp cận lĩnh hội tri thức mới.

Sống trong xã hội hiện đại con người phải tư duy và hoạt động chính xác, khoa học, nhanh chóng, điều đó không thể có được khi sử dụng trong nhà trường những phương tiện thô sơ hoặc dạy chay, từ việc dạy học bằng truyền đạt một chiều. Khi nhà trường được đầu tư trang bị CSVC, TBDH, những phương pháp làm việc của thầy và trò sẽ thay đổi, phong cách tư duy và hành động do đó cũng được hiện đại hóa. CSVC, TBDH đóng vai trò quan trọng trong việc năng suất lao động không ngừng tăng lên. Việc sử dụng các CSVC, TBDH hiện đại vào nhà trường sẽ cho phép giới thiệu những kiến thức chính xác cho nhiều học sinh hơn. Điều đó cho phép rút ngắn thời gian học.

Các thiết bị hiện đại mở ra khả năng to lớn cho công tác dạy học. Chúng không chỉ cho phép thông báo kiến thức đồng thời cho số lớn học sinh mà còn có thể điều khiển tối ưu hóa quá trình học tập của học. Đó là điều vô cùng quan trọng và là một trong những đặc điểm của nhà trường hiện đại [4]. Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

  • Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học góp phần nâng cao chất lượng dạy học, hiệu quả

CSVC, TBDH là nguồn thông tin thể hiện nội dung dạy học gây cảm xúc và tạo biểu tượng về đối tượng học tập: Cấu tạo sự vật, hình dáng, kích thước, cắt bổ bên trong, mối liên hệ các yếu tố của sự vật, sự biến đổi phát triển của sự vật hiện tượng.

Một nền giáo dục tiên tiến đòi hỏi mục tiêu đào tạo phải luôn bắt kịp mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, đôi khi nó còn phải đi trước một bước để định hướng lại cho quá trình phát triển kinh tế, xã hội. Yêu cầu này đặt ra cho mọi nền kinh tế GD phải thường xuyên cải tiến nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo. Yêu cầu cải tiến nội dung, phương pháp đào tạo chỉ có thể thực hiện được khi có CSVC, TBDH đủ mạnh theo sự tiến bộ của nội dung và phương pháp đào tạo.

Không có sự tương hợp nhau về nội dung và phương pháp đào tạo với CSVC, TBDH thì sớm muộn việc thực hiện mục tiêu đào tạo sẽ bị kìm hãm, quá trình đào tạo sẽ bị phá vỡ sự cân đối toàn vẹn và nền giáo dục sẽ bị suy thoái. Khi có nội dung và phương pháp đào tạo tiên tiến mà CSVC, TBDH lạc hậu, trình độ giáo viên còn bất cập, thái độ giáo viên còn chưa hăng say, nhiệt tình với việc sử dụng CSVC, TBDH trong công tác giảng dạy thì đều dẫn tới sự suy giảm chất lượng và hiệu quả đào tạo.

Ngoài ra, CSVC, TBDH còn tạo ra môi trường sinh động mà trong đó người học đóng vai trò là chủ thể được hoạt động thực sự với CSVC, TBDH tạo ra sự lôi cuốn, hấp dẫn đối với cả người học và người dạy, phát huy tối đa tính tích cực của hoạt động nhận thức [4].

Ngày nay, khoa học kỹ thuật và công nghệ cho phép mở ra những khả năng sư phạm không giới hạn cho con người trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Một lần nữa khẳng định mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ, nếu không chú ý tới đầu tư CSVC, TBDH đúng mức thì việc thực hiện phương pháp dạy học, nội dung dạy học để đạt được mục tiêu đào tạo sẽ gặp nhiều khó khăn.

Như vậy, xây dựng cơ sở vật chất giáo dục là cấp thiết hiện nay, tuy nhiên làm thế nào để CSVC, TBDH có mối liên lạc chặt chẽ với giáo viên, với học sinh, với nội dung, phương pháp dạy và học theo định hướng mục tiêu đào tạo đã vạch sẵn là nhờ công tác quản lý CSVC, TBDH. Động thái của CSVC, TBDH trong nhà trường là sự phát triển của nó trong mối quan hệ thầy- trò cũng là đối tượng quản lý giáo dục, quản lý nhà trường.

1.3.3. Yêu cầu chung khi sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học theo hướng phát triển năng lực của học sinh Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

Tất cả CSVC, TBDH của một cơ sở giáo dục phải được sắp đặt khoa học, dễ sử dụng và có các phương tiện bảo quản, vật che phủ, phương tiện chống ẩm, chống mối mọt, dụng cụ phòng cháy chữa cháy. Tùy diện tích, quy mô mà bố trí diện tích phòng và địa điểm thích hợp, đảm bảo cho giáo viên và học sinh thao tác đi lại thuận tiện và an toàn sử dụng. Các thí nghiệm độc hại, có tiếng ồn phải được bố trí và xử lý theo tiêu chuẩn quy định để đảm bảo an toàn lao động và vệ sinh môi trường.

Thiết bị dạy học phải được sử dụng có hiệu quả cao nhất đáp ứng yêu cầu về nội dụng và phương pháp được quy định trong chương trình giáo dục.

Thiết bị dạy học phải được làm sạch và bảo quản sau khi sử dụng, định kỳ bảo dưỡng, bổ sung phụ tùng, linh kiện điện tử vật tư tiêu hao.

Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học cần được trang bị đồng bộ (đồng bộ giữa phương thức tổ chức dạy học, chương tình, sách giáo khoa và thiết bị dạy học, trang bị và điều kiện sử dụng, trang bị và bảo quản giữa các thiết bị với nhau…)

Hàng năm phải tiến hành kiểm kê theo đúng quy định của Nhà nước về quản lý tài sản [4].

1.4. Nội dung quản trị cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở trường THCS theo hướng tiếp cận năng lực học sinh

1.4.1. Bản chất của quản trị cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở trường THCS theo hướng tiếp cận năng lực của học sinh

Bản chất của quản trị CSVC, TBDH ở trường THCS theo hướng tiếp cận năng lực của học sinh là thực hiện các chức năng của quản trị đối với CSVC, TBDH ở trường THCS theo hướng tiếp cận năng lực của học sinh. Cụ thể như sau:

  • Một, Lập kế hoạch Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

Là chức năng đầu tiên trong tiến trình quản trị, bao gồm: việc xác định mục tiêu hoạt động, xây dựng chiến lược tổng thể để đạt mục tiêu, và thiết lập một hệ thống các kế hoạch để phối hợp các hoạt động.

Hoạch định liên quan đến dự báo và tiên liệu tương lai, những mục tiêu cần đạt được và những phương thức để đạt được mục tiêu đó. Nếu không lập kế hoạch thận trọng và đúng đắn thì dễ dẫn đến thất bại trong quản trị. Có nhiều công ty không hoạt động được hay chỉ hoạt động với một phần công suất do không có hoạch định hoặc hoạch định kém.

  • Hai, tổ chức thực hiện kế hoạch

Đây là chức năng thiết kế cơ cấu, tổ chức công việc và tổ chức nhân sự cho một tổ chức. Công việc này bao gồm: xác định những việc phải làm, người nào phải làm, phối hợp hoạt động ra sao, bộ phận nào được hình thành, quan hệ giữa các bộ phận được thiết lập thế nào và hệ thống quyền hành trong tổ chức đó được thiết lập ra sao? Tổ chức đúng đắn sẽ tạo nên môi trường nội bộ thuận lợi thúc đẩy hoạt động đạt mục tiêu, tổ chức kém thì công ty sẽ thất bại, dù hoạch định tốt.

  • Ba, lãnh đạo, chỉ đạo công tác thực hiện

Một tổ chức bao giờ cũng gồm nhiều người, mỗi một cá nhân có cá tính riêng, hoàn cảnh riêng và vị trí khác nhau. Nhiệm vụ của lãnh đạo là phải biết động cơ và hành vi của những người dưới quyền, biết cách động viên, điều khiển, lãnh đạo những người khác, chọn lọc những phong cách lãnh đạo phù hợp với những đối tượng và hoàn cảnh cùng sở trường của người lãnh đạo, nhằm giải quyết các xung đột giữa các thành phần, thắng được sức ỳ của các thành viên trước những thay đổi. Lãnh đạo xuất sắc có khả năng đưa công ty đến thành công dù kế hoạch và tổ chức chưa thật tốt, nhưng sẽ chắc chắn thất bại nếu lãnh đạo kém.

  • Năm, kiểm tra việc thực hiện Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

Sau khi đã đề ra những mục tiêu, xác định những kế hoạch, vạch rõ việc xếp đặt cơ cấu, tuyển dụng, huấn luyện và động viên nhân sự, công việc còn lại vẫn còn có thể thất bại nếu không kiểm tra. Công tác kiểm tra bao gồm việc xác định thành quả, so sánh thành quả thực tế với thành quả đã được xác định và tiến hành các biện pháp sửa chữa nếu có sai lệch, nhằm bảo đảm tổ chức đang trên đường đi đúng hướng để hoàn thành mục tiêu.

Những chức năng trên đây là phổ biến đối với mọi nhà quản trị, dù cho đó là tổng giám đốc một công ty lớn, hiệu trưởng một trường học, trưởng phòng trong cơ quan, hay chỉ là tổ trưởng một tổ công nhân trong xí nghiệp.

Dĩ nhiên, phổ biến không có nghĩa là đồng nhất. Vì mỗi tổ chức đều có những đặc điểm về môi trường, xã hội, ngành nghề, quy trình công nghệ riêng

v.v. nên các hoạt động quản trị cũng có những hoạt động khác nhau. Nhưng những cái khác nhau đó chỉ là khác nhau về mức độ phức tạp, phương pháp thực hiện, chứ không khác nhau về bản chất. Sự khác biệt này sẽ được chỉ ra ở phần sau, khi chúng ta xem xét các cấp bậc quản trị.

1.4.2. Nội dung quản trị cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở trường THCS theo hướng tiếp cận năng lực của học sinh

  • Lập kế hoạch quản trị cơ sở vật chất, thiết bị dạy học

Lập kế hoạch quản trị CSVC, TBDH là đưa ra kế hoạch về quản trị CSVC, TBDH trong đó chỉ rõ các mục tiêu, bước đi, biện pháp thực hiện và bảo đảm các nguồn lực để đạt tới các mục tiêu của tổ chức.

  • Nội dung lập kế hoạch gồm:

Khảo sát, đánh giá hiện trạng CSVC, TBDH tại Nhà trường, xác định nguồn lực về tài chính từ đó xây dựng kế hoạch mua sắm CSVC, TBDH đúng theo những văn bản của Nhà nước quy định.

Trong nguồn vốn cố định mà ngành giáo dục quản lý hoặc bộ ngành liên quan đến công tác giáo dục quản lý, nguồn vốn cho nhân tố CSVC, TBDH có ý nghĩa kinh tế quan trọng. Xét về mặt kinh tế sư phạm trong công tác quản lý giáo dục đối với CSVC, TBDH, việc đầu tư mua sắm CSVC, TBDH trong mỗi nhà trường cần tập trung vào các vấn đề sau:

Mỗi nhà trường căn cứ vào kế hoạch dạy học phải có phương án đầu tư CSVC, TBDH, phương án này phải tính đến năng lực kinh tế tài chính mà nhà trường được cung ứng theo định mức đề ra.

Việc đầu tư mua sắm CSVC, TBDH phải xem xét về giá thành, chất lượng và hiệu quả sử dụng. Không thể mua về các thiết bị rẻ tiền mà không có hiệu quả sư phạm hoặc có hiệu quả sư phạm mà không tương ứng với dự toán chi tiêu của trường (tức là quá đắt, quá sức với nguồn tài chính của nhà trường). Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

Phải có kế hoạch xây dựng, trang bị trước mắt và lâu dài cho nhà trường bằng các nguồn lực khác nhau: ngân sách nhà nước, xã hội hóa, giáo viên và học sinh tự làm. Phải giải quyết được tính cấp thiết và tính kế thừa cho vận hành và phát triển.

Cập nhật thông tin về nội dung, chương trình và kế hoạch dạy học, đồng thời cập nhật các thông tin về CSVC, TBDH mới để thường xuyên có kế hoạch bổ sung theo hướng chuẩn hóa và hiện đại hóa.

Lập kế hoạch sử dụng CSVC, TBDH cho từng giai đoạn nhằm đạt hiệu quả và hợp lý nhất. Sau khi mua sắm CSVC, TBDH cần phải xây dựng cả kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên trách về công tác CSVC, TBDH.

Sử dụng hiệu quả CSVC, TBDH là một hoạt động hết sức cần thiết và hữu ích của mọi chủ thể trực tiếp là các giáo viên, các cán bộ phụ trách các phòng chức năng và khách thể là các yếu tố vật chất: phòng thí nghiệm thực hành, CSVC, TBDH phục vụ cho công tác dạy và học.

Lựa chọn, cử cán bộ phụ trách các phòng chức năng và giáo viên đi học tập, tập huấn, dự các lớp các bồi dưỡng nghiệp vụ và kỹ năng sử dụng CSVC, TBDH. Mời chuyên gia đến trường bồi dưỡng, tập huấn cho cán bộ giáo viên về kỹ năng sử dụng CSVC, TBDH. Đặc biệt là đối với thiết bị hiện đại, mới lạ, cấu tạo phức tạp, quy trình sử dụng nghiêm ngặt cần tập huấn nghiêm túc cho tất cả đội ngũ về tính năng và tác dụng của các CSVC, TBDH, đồng thời hướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất và tập dượt thành thạo trước khi đưa vào sử dụng.

Quản trị sử dụng CSVC, TBDH trong nhà trường có hiệu quả, ngoài yếu tố con người, người quản lý cần phải thể chế hóa bằng các văn bản. Chính vì vậy người quản lý phải biết dựa vào các các văn bản pháp quy: quyết định, quy chế, quy định,… để bắt buộc mọi thành viên trong nhà trường tuân theo ý đồ quản lý của mình.

Lập kế hoạch bảo quản CSVC, TBDH: Giúp cho việc nâng cao tuổi thọ của CSVC, TBDH, chuẩn bị phục vụ cho công tác giảng dạy được tốt hơn. Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

Duy trì và bảo quản CSVC, TBDH là khâu quan trọng trong việc quản lý CSVC, TBDH nhằm nâng cao tuổi thọ của thiết bị và giảm chi phí trong đầu tư mua sắm thiết bị. Muốn duy trì và bảo quản CSVC, TBDH có hiệu quả cần tập trung vào các vấn đề sau:

Bảo quản theo chế độ quản lý tài sản của nhà nước: thực hiện chế độ trách nhiệm theo quy chế quản lý tài sản, thực hiện chế độ kiểm kê, kiểm tra, …

Bảo quản theo chế độ đối với dụng cụ, vật tư khoa học, kỹ thuật: cần quan tâm đến ảnh hưởng của thời tiết, khí hậu, môi trường cất giữ, …

Xây dựng các quy định, quy chế, quy trình quản lý, sử dụng, và bảo quản CSVC, TBDH nhằm đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu đã đặt ra là nâng cao chất lượng đào tạo và đạt hiệu quả sử dụng.

Thực hiện đúng quy trình và phương pháp bảo quản theo hướng dẫn của nhà sản xuất và tuân thủ những quy định chung về bảo quản.

Hướng dẫn các thao tác sử dụng đúng quy trình vận hành và thời gian sử dụng của mỗi loại CSVC, TBDH cho người sử dụng để tránh hỏng hóc và mất an toàn. Thường xuyên bảo dưỡng (lau chùi, tra dầu mỡ, sấy nóng, hút bụi v.v…).

  • Tổ chức thực hiện quản trị cơ sở vật chất, thiết bị dạy học

Tổ chức là quá trình triển khai các kế hoạch, là hoạt động quản trị nhằm thiết lập một hệ thống các vị trí cho mỗi cá nhân và bộ phận sao cho các cá nhân và bộ phận đó có thể phối hợp với nhau một cách tốt nhất để thực hiện mục tiêu chiến lược của tổ chức. Để tổ chức thực hiện quản trị CSVC, TBDH cần phải: Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

  • Phân công các bộ phận, cá nhân thực hiện việc mua sắm CSVC, TBDH theo kế hoạch đã được xây dựng từ trước; tránh việc mua sắm một cách tùy tiện và lãng phí. Tổ chức thực hiện việc mua sắm CSVC, TBDH theo đúng kế hoạch đã đề ra.
  • Công khai các CSVC, TBDH hiện có trong Nhà trường đến toàn thể cán bộ, giáo viên và học sinh được biết. Bố trí cán bộ chuyên trách hỗ trợ giáo viên, học sinh khi lên lớp.
  • Tổ chức các lớp bồi dưỡng về phương pháp, kỹ năng sử dụng đối với cán bộ, giáo viên và học sinh.
  • Mỗi CSVC, TBDH cần phải được thuyết minh, hướng dẫn trước khi sử dụng.
  • Phân công, phân nhiệm rõ ràng, cụ thể, bố trí cán bộ phụ trách trực tiếp phù hợp với quy mô của Nhà trường.
  • Tổ chức việc bảo trì, bảo dưỡng thường xuyên, định kỳ hoặc không theo định kỳ theo quy định của từng loại CSVC, TBDH.
  • Bố trí đội ngũ cán bộ bảo quản, chỉ đạo quản trị CSVC, TBDH học đúng chuyên môn và tổ chức triển khai kế hoạch tập huấn đội ngũ bảo quản CSVC, TBDH định kỳ và thường xuyên.
  • Chỉ đạo quản trị cơ sở vật chất, thiết bị dạy học

Chỉ đạo quản trị CSVC, TBDH là thực hiện trách nhiệm quản trị CSVC, TBDH một cách thuận lợi nhất, đạt hiệu quả cao nhất, cụ thể:

  • Chỉ đạo việc sắp xếp, ghi chép các loại CSVC, TBDH sau khi mua sắm.
  • Chỉ đạo các đơn vị, GV lập kế hoạch sử dụng CSVC,
  • Chỉ đạo việc sửa chữa, bảo trì CSVC, TBDH kịp thời khi có hư hỏng hay bị lỗi trong quá trình sử dụng và theo định kỳ.
  • Chỉ đạo việc thực hiện kiểm kê, đánh giá định kỳ về chất lượng CSVC, TBDH có kế hoạch đầu tư mua sắm kịp thời.

Kiểm tra việc quản trị cơ sở vật chất, thiết bị dạy học

Kiểm tra là quá trình xem xét các hoạt động nhằm đạt mục đích làm cho các hoạt động đạt hiệu quả tốt và phải đảm bảo việc đánh giá, phát hiện và điều chỉnh để phù hợp với điều kiện thực tế của Nhà trường, cụ thể:

  • Đối chiếu với kế hoạch về số lượng, chất lượng, chủng loại của CSVC, TBDH lắp đặt và chạy thử để kiểm tra việc mua sắm CSVC, TBDH.
  • Thông qua kế hoạch sử dụng và hiệu quả sử dụng các CSVC, TBDH của giáo viên, học sinh từ sổ nhật ký sử dụng, sổ mượn trả CSVC, TBDH để kiểm tra.
  • Tổ chức kiểm tra việc bảo trì, bảo dưỡng thông việc lập hồ sơ, báo cáo của cán bộ phụ trách CSVC, TBDH.

Dựa vào kết quả kiểm tra, người quản lý đưa ra những quyết định điều chỉnh cho phù hợp, như là: khuyến khích, động viên hoặc đưa ra hình thức xử lý đối với những đơn vị, cá nhân thực hiện tốt hoặc chưa tốt. Bên cạnh đó, phải tiến hành kiểm kê CSVC, TBDH hàng năm đúng theo quy định của Nhà nước về quản lý tài sản.

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản trị cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở trường THCS theo hướng tiếp cận năng lực học sinh Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

1.5.1. Ban lãnh đạo nhà trường

Tầm nhìn và định hướng phát triển CSVC, TBDH và quản lý phát triển CSVC, TBDH của các nhà quản lý trong các trường có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giáo dục của nhà trường đặc biệt trong bối cảnh đổi mới giáo dục và sự phát triển của cuộc cách mạng công nghệ 4.0; Các cấp ủy đảng nhất là Chi bộ nhà trường, Hội đồng trường cần phải có chủ trương đúng đắn và đặt một trong những nhiệm vụ trọng tâm lãnh đạo của Chi bộ, Hội đồng vào đầu tư, phát triển CSVC, TBDH. Trong nghị quyết lãnh đạo của mình, Chi bộ, Hội đồng cần xác định đúng mục tiêu, yêu cầu đối với phát triển CSVC, TBDH ở nhà trường, có chủ trương về định hướng đầu tư, phát triển CSVC, TBDH.

Các cấp ủy đảng cũng cần xác định trách nhiệm của đội ngũ cán bộ chủ chốt nhất là ban giám hiệu trong việc quản lý phát triển CSVC, TBDH; đặt ra yêu cầu đối với các tập thể sư phạm, các giáo viên trong quản lý, khai thác, sử dụng CSVC, TBDH. Căn cứ vào Nghị quyết lãnh đạo, căn cứ vào thực tiễn cấp ủy đảng cần kiểm tra, đánh giá kết quả, chỉ rõ những thành công và hạn chế, chỉ ra những nguyên nhân và biện pháp đẩy mạnh đầu tư, sử dụng và khai thác CSVC, TBDH.

1.5.2. Sự hiểu biết, ý thức trách nhiệm của cán bộ, giáo viên, nhân viên

Việc nhận đúng về tầm quan trọng của CSVC, TBDH trong đổi mới giáo dục, trong việc thực hiện quản lý phát triển CSVC, TBDH của đội ngũ giáo viên thể hiện năng lực chuyên môn nghiệp vụ, hiểu biết về phương tiện và cách sử dụng CSVC, TBDH sẽ là yếu tố tích cực ảnh hưởng đến phát CSVC, TBDH và quản lý phát triển CSVC, TBDH trong các nhà trường. Nhận thức đúng về yêu cầu quản lý phát triển CSVC, TBDH sẽ nâng cao thức trách nhiệm của giáo viên, học sinh trong việc quản lý, khai thác, sử dụng, bảo trì CSVC, TBDH. Bên cạnh đó, quá trình quản lý phát triển CSVC, TBDH không thể thiếu vai trò của các tổ chuyên môn, nhất là đối với những nội dung liên quan đến phẩm chất, năng lực chuyên môn nghề nghiệp, năng lực sư phạm điều đó quyết định đến năng lực sử dụng phương tiện dạy học một cách phù hợp, đúng lúc, đúng chỗ, phát huy tối đa tác dụng của CSVC, TBDH trong giảng dạy và học tập. Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

Năng lực chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ giáo viên có ảnh hưởng trực tiếp đến việc sử dụng CSVC, TBDH nói chung và phương tiện dạy học nói riêng. Xét theo góc độ của khoa học giáo dục, với quan điểm trong dạy học “lấy người học làm trung tâm”. CSVC, TBDH trong các nhà trường chỉ có chất lượng tốt và đem lại hiệu quả thật sự nếu mỗi giáo viên, học sinh ý thức một cách đầy đủ, có trách nhiệm trong quản lý, bảo quản CSVC, TBDH, tạo thói quen và phong cách của giáo viên về hoạt động này, có quyết tâm, có kế hoạch cụ thể và chủ động tạo ra những điều kiện của cá nhân trong việc tham gia quản lý, sử dụng một cách có ý thức mới đem lại kết quả thiết thực.

Nhận thức về vai trò của CSVC, TBDH trong đội ngũ CBQL, giáo viên, nhân viên và học sinh là chưa cao.

Công tác phối kết hợp giữa nhà sản xuất, cung ứng thiết bị và nhà trường là chưa tốt, chưa thường xuyên. Các nhà sản xuất chỉ tập trung vào khâu cung cấp và chưa chú trọng đến khâu chuyển giao công nghệ, vận hành, cách duy tu sửa chữa.

Ngoài ra, thói quen cố hữu của một số cán bộ quản lý, giáo viên có tuổi là ngại sử dụng, ứng dụng thiết bị hiện đại vào giảng dạy mà quen với dạy chay, đọc chép cũng là một hạn chế lớn đối với công tác quản trị CSVC, TBDH của các Trường.

Tiểu kết chương 1 Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

Ở chương 1, Tác giả đã làm rõ được một số nội dung về cơ sở lý luận về quản trị cơ sở vật chất – thiết bị dạy học ở trường THCS theo hướng tiếp cận năng lực học sinh.

Một về tổng quan tình hình nghiên cứu, nêu được vai trò của CSVC, TBDH đối với hoạt động giáo dục, trình bày được một số đề tài của một số tác giả về công tác quản lý, quản trị, nâng cao hiệu quả sử dụng CSVC, TBDH tại một số trường như các tác giả Trần Quốc Đắc, Trần Đức Vượng, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Phạm Văn Thuần, Lê Đình Sơn. Tuy nhiên việc nghiên cứu về quản trị CSVC, TBDH ở các trường THCS theo hướng tiếp cận năng lực của học sinh còn rất ít đề tài đề cập đến, đặc biệt ở trường THCS Khúc Xuyên chưa có một tác giả nào nghiên cứu đề tài này.

Để đi sâu tìm hiểu công tác quản trị quản trị cơ sở vật chất – thiết bị dạy học ở trường THCS theo hướng tiếp cận năng lực học sinh, tác giả nêu hiểu biết đối với các khái niệm như: quản trị, quản trị trường học, CSVC, TBDH trường THCS, Dạy học theo hướng tiếp cận năng lực học sinh, Quản trị cơ sở vật chất trường THCS theo hướng tiếp cận năng lực của học sinh. Đồng thời trình bày Phân loại CSVC, TBDH; Vị trí, vai trò CSVC, TBDH theo hướng hướng tiếp cận năng lực học sinh, Yêu cầu chung khi sử dụng CSVC, TBDH theo hướng phát triển năng lực của học sinh. Trên cơ sở đó, tác giả trình bày nội dung về công tác quản trị CSVC, TBDH trường THCS theo tiếp cận năng lực của học sinh gồm: Lập kế hoạch quản trị CSVC, TBDH, Tổ chức thực hiện quản trị CSVC, TBDH, Chỉ đạo quản trị CSVC, TBDH, Kiểm tra việc quản trị CSVC, TBDH.

Công tác quản lý CSVC, TBDH ở trường THCS theo hướng tiếp cận năng lực học sinh chịu sự ảnh hưởng một số yếu tố như: Ban lãnh đạo nhà trường; Sự hiểu biết, ý thức trách nhiệm của cán bộ, giáo viên, nhân viên;

Từ những vấn đề được trình bày nêu trên, Tác giả nhận thấy cơ sở lý luận được nêu lên là cần thiết. Cơ sở lý luận là tiền đề để tác giả tìm hiểu nội dung công tác quản trị Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học ở Trườn THCS Khúc Xuyên, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh theo hướng tiếp cận năng lực học sinh trong chương 2. Luận văn: Quản trị cơ sở vật chất thiết bị dạy học ở trường THCS.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng cơ sở vật chất thiết bị dạy học trường THCS

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537