Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc thiểu số tại Hà Nội hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với các nguồn lực kinh tế, tài nguyên thiên nhiên, quốc phòng an ninh… Văn hóa với hạt nhân cơ bản là phẩm chất, trí tuệ và những giá trị sáng tạo được tích lũy từ hàng ngàn thế hệ của con người, cũng được xem là một nguồn lực nội sinh quan trọng. Nó quyết định đến sự phát triển bền vững của đất nước. Một dân tộc nếu để mai một truyền thống văn hóa, sẽ khó giữ được bản sắc của dân tộc mình. Văn hóa suy thoái sẽ gây trở ngại trực tiếp đến tiến trình xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia đó.
Việt Nam là một quốc gia thống nhất đa dân tộc, với nền văn hóa nhiều màu sắc của 54 dân tộc anh em. Các dân tộc cùng nhau chung sống từ lâu đời, có chung một sứ mệnh lịch sử, cùng chung một sự nghiệp, cho nên đã nảy sinh một cách khách quan những mối quan hệ về các mặt trong đời sống xã hội, tạo nên nền văn hóa chung thống nhất từ sự đa dạng các sắc thái, bản sắc của nhiều tộc người. Năm 1961, trong bài trả lời phỏng vấn báo Nhân đạo thường trú tại Hà Nội, trước câu hỏi của phóng viên về nguyên nhân làm nên sức mạnh kỳ diệu của nhân dân trong chín năm kháng chiến chống Pháp, để bảo vệ chính quyền non trẻ cũng như khí thế mãnh liệt của dân tộc Việt Nam trong công cuộc xây dựng đất nước sau khi hòa bình lập lại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Nhân dân nước chúng tôi có ý chí phi thường là do lòng tự trọng muốn sống làm người chứ không chịu làm nô lệ. Điều này cũng đúng với những nhà tri thức nước chúng tôi thiết tha với nền văn hóa dân tộc,… Có lẽ phải để lên hàng đầu những cố gắng của chúng tôi nhằm phát triển văn hóa,… Nền văn hóa nảy nở hiện thời là điều kiện cho nhân dân chúng tôi tiến bộ” [17, tr. 190]. Những khẳng định đó của Người đã nói lên vai trò quan trọng của văn hóa trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, cũng như trong công cuộc hòa bình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sứ mệnh lịch sử hiện nay là xây dựng nền kinh tế phát triển mạnh mẽ và nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Do vậy, đòi hỏi chúng ta phải biết kế thừa vốn văn hóa cổ truyền tốt đẹp, biết chủ động tiếp nhận tinh hoa văn hóa nhân loại, kết hợp hài hòa giá trị văn hóa của các dân tộc trong nền văn hóa chung thống nhất, tạo điều kiện để các dân tộc phát triển. Đây cũng là nội dung quan trọng trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước hiện nay. Luận văn: Quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc thiểu số tại Hà Nội.
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chính sách liên quan đến công tác bảo tồn văn hóa dân tộc thiểu số, có tác dụng tích cực đối với việc kế thừa, phát triển truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc thiểu số, đồng thời thúc đẩy bình đẳng, đoàn kết, tiến bộ toàn dân tộc. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, các cấp chính quyền và người dân bản địa đã gặp không ít khó khăn trong việc cân bằng giữa phát triển kinh tế với bảo tồn văn hóa, giữ gìn sự phong phú, đa dạng của văn hóa dân tộc.
Trong số các quận, huyện, thị xã của Hà Nội, Ba Vì – một huyện nằm ở tận cùng phía Tây Bắc của Hà Nội, là nơi có nhiều người dân tộc thiểu số nhất với hơn 22 nghìn người sinh sống ở 7 xã miền núi. Đời sống, nếp sinh hoạt, phong tục tập quán … của họ mang những sắc thái riêng, tạo nên sức hấp dẫn và sự phong phú cho văn hóa Thủ đô. Thế nhưng, cùng với sự bùng nổ của tiến bộ khoa học kỹ thuật, sự phát triển đa dạng của các phương tiện nghe nhìn, sự phát triển của nền kinh tế thị trường… đã ảnh hưởng làm thay đổi phương thức sản xuất, nếp sống, phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện. Sự giao lưu văn hóa giữa các vùng miền, lãnh thổ ngày càng mở rộng, đặt văn hóa các dân tộc thiểu số ở Ba Vì đứng trước một thách thức lớn, đó là sự mai một những giá trị văn hóa truyền thống tiểu biểu. Nếu không có giải pháp gìn giữ và phát huy thì sẽ có nguy cơ mai một thậm chí mất hẳn. Hơn nữa, hiện nay, sự quản lý của nhà nước, chính sách của các cấp chính quyền đối với lĩnh vực văn hóa các dân tộc thiểu số còn rất hạn chế. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả xin chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học của mình.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về văn hóa dân tộc thiểu số đã trở thành đề tài thu hút sự quan tâm nghiên cứu của Đảng, Nhà nước, các nhà nghiên cứu lý luận và hoạt động thực tiễn thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Mỗi công trình có những góc độ tiếp cận, phạm vi và cấp độ nghiên cứu khác nhau. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu sau:
Thứ nhất, nhóm các giáo trình về văn hóa, cung cấp cơ sở lý luận, những kiến thức tổng quan về văn hóa, văn hóa các dân tộc Việt Nam, như: Luận văn: Quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc thiểu số tại Hà Nội.
- Trần Ngọc Thêm (1996), Giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục;
- Giáo trình Lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng (2000), Nxb Chính trị Quốc gia;
- Vũ Ngọc Khánh, Giáo trình Văn hóa dân gian người Việt (2007), Nxb Quân đội nhân dân
- Trần Quốc Vượng (2010), Giáo trình Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục;
Các cuốn giáo trình này cung cấp cho người đọc hiểu một cách khái quát về đặc điểm, cũng như những nét độc đáo về văn hóa Việt Nam thông qua các phong tục, tín ngưỡng, lễ hội truyền thống của dân tộc Việt Nam.
Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu về văn hóa các dân tộc Việt Nam có thể kể đến các công trình sau:
- Lê Ngọc Thắng, Lê Bá Nam (1994), Bản sắc văn hóa các dân tộc ở Việt Nam, Nxb Văn hóa dân tộc;
- Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần nghiên cứu văn hóa, tộc người, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội;
- Nguyễn Văn Huy (1998), Bức tranh văn hóa các dân tộc Việt Nam, Nxb Giáo dục;
- Trường Lưu (2003), Toàn cầu hóa về vấn đề bảo tồn văn hóa dân tộc, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội;
- Hoàng Vinh (2007), Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tộc, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội;
- Trần Ngọc Bình (2008), Văn hóa các dân tộc Việt Nam, Nxb Thanh niên;
- Ngô Trọng Báu (2012), Phong tục tập quán và lễ hội của người Việt, Nxb Văn hóa Thông tin.
Các công trình nghiên cứu này giúp cho độc giả hiểu nhiều hơn về một nền văn hóa có truyền thống lâu đời, bền vững, gồm những tinh hoa được chắt lọc qua suốt chiều dài lịch sử, được biểu hiện thông qua phong tục, tập quán, lễ hội, tín ngưỡng. Từ đó, nâng cao nhận thức, góp phần giữ gìn và phát huy nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Ngoài ra, còn có một số đề tài thạc sỹ chuyên ngành chính sách công và quản lý công nghiên cứu về vấn đề giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số như:
- Phạm Thái An (2012), Chính sách văn hóa đối với các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Lào Cai.
- Vũ Ngọc Lan (2014), Quản lý nhà nước về bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên;
- Hoàng Việt Hà (2015), Quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trên địa bàn huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.
Các công trình nghiên cứu trên đã hệ thống một cách khoa học, sâu sắc về các vấn đề văn hóa, văn hóa các dân tộc thiểu số, các vấn đề về bảo tồn và phát huy văn hóa dân tộc thiểu số. Đây là nguồn tài liệu quý giá, giúp tác giả tìm hiểu và nghiên cứu ở nhiều góc độ lý luận và thực tiễn khác nhau. Qua đó, có sự kế thừa, tổng hợp, phát triển các nội dung quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số gắn với đặc thù và tình hình phát triển kinh tế – xã hội riêng trên địa bàn huyện Ba Vì. Tuy nhiên chưa có công trình nào đề cập trực tiếp đến hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, do đó việc lựa chọn đề tài này hoàn toàn không trùng lặp với bất cứ công trình nào đã được công bố.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn: Quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc thiểu số tại Hà Nội.
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì.
- Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Các dân tộc thiểu số sống quần cư ở vùng ven chân núi Tản gồm 7 xã miền núi của huyện Ba Vì gồm các xã: Ba Trại, Ba Vì, Tản Lĩnh, Minh Quang, Khánh Thượng, Vân Hòa, Yên Bài. Do đó, không gian nghiên cứu cũng tập trung vào địa bàn 7 xã này.
Về thời gian: Ba Vì trước đây là huyện thuộc tỉnh Hà Tây, kể từ ngày 01/8/2008 khi địa giới hành chính thủ đô Hà Nội được mở rộng, Ba Vì trở thành huyện thuộc Hà Nội. Do đó, trong công tác quản lý nhà nước nói chung, quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số nói riêng có những thay đổi nhất định. Do đó, Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số ở Ba Vì kể từ tháng 8/2008 đến nay (2017).
Về nội dung: Nghiên cứu tổ chức bộ máy việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện; việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chính sách của Nhà nước về bảo tồn và phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số; việc tổ chức hoạt động tuyên truyền, quảng bá sản phẩm văn hóa các dân tộc thiểu số; việc huy động các nguồn lực xã hội tham gia vào việc bảo tồn, phát huy văn hóa các dân tộc thiểu số.
4. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Luận văn hướng tới mục đích làm rõ công tác quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì giai đoạn từ năm 2008 đến nay. Trên cơ sở đó, kiến nghị một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước đối với công tác này trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận văn: Quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc thiểu số tại Hà Nội.
Một là, xây dựng khung lý luận cơ bản về văn hóa, dân tộc thiểu số, quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số làm cơ sở triển khai đề tài luận văn…
Hai là, trình bày, phân tích thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn 7 xã miền núi thuộc huyện Ba Vì. Tiếp đó, nghiên cứu, đánh giá các mặt đạt được, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng đó.
Ba là đề xuất các phương hướng, kiến nghị một số giải pháp, biện pháp nhằm cải thiện hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì trong thời gian tới.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận nghiên cứu: Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác- Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam, pháp luật của Nhà nước, lý luận về quản lý nhà nước trên lĩnh vực văn hóa.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cụ thể, bao gồm: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, khảo sát, đánh giá, điều tra xã hội học, quan sát thực tiễn, nghiên cứu tài liệu…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận:
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần hệ thống hóa lý luận về văn hóa, lý luận về dân tộc thiểu số, lý luận về văn hóa dân tộc thiểu số, lý luận về vấn đề bảo tồn, quản lý, phát huy văn hóa dân tộc thiểu số…
Luận văn là sự vận dụng lý luận nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa vào một trường hợp cụ thể là: các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì.
- Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ bổ sung, gợi mở, góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì. Luận văn: Quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc thiểu số tại Hà Nội.
Luận văn đưa ra các giải pháp, kiến nghị, giúp cho các cơ quan chức năng làm tốt công tác quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số của huyện Ba Vì nói riêng, cả nước nói chung.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy ở các khóa đào tạo và các chương trình bồi dưỡng cho cán bộ văn hóa.
7. Kết cấu của luận văn
Luận văn được kết cấu thành 4 phần, cụ thể: Phần mở đầu, nội dung chính, kết luận và tài liệu tham khảo. Trong đó, phần nội dung chính của Luận văn được chia thành 3 chương, bao gồm:
- Chương 1. Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số ở cấp huyện
- Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì
- Chương 3. Một số giải pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Ba Vì trong thời gian tới.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở CẤP HUYỆN
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1.1. Khái niệm văn hóa và văn hóa các dân tộc thiểu số
1.1.1.1. Khái niệm văn hóa
Thuật ngữ “văn hóa” bắt nguồn từ từ “Cultura” trong tiếng Latinh, có nghĩa là sự cày cấy, vun trồng. Theo sự phát triển của lịch sử về mọi mặt, ngày càng có nhiều cách tiếp cận, cách quan niệm khác nhau về thuật ngữ này. Mỗi nghiên cứu, phụ thuộc vào mục đích riêng, cách tiếp cận riêng mà đưa ra những khái niệm khác nhau, phản ánh các giác độ khác nhau của thuật ngữ văn hóa. Bản chất của “văn hóa”, do đó, hết sức đa dạng, các khái niệm về văn hóa chỉ mang tính tương đối, và mỗi khái niệm chỉ phù hợp với một hoặc một số trường hợp xác định, cụ thể.
Ở nghĩa bao hàm nhất, rộng lớn nhất, văn hoá được hiểu là những giá trị do con người sáng tạo, bắt đầu từ khi hình thành xã hội loài người. Luận văn: Quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc thiểu số tại Hà Nội.
Ở phương Đông, thuật ngữ văn hoá đã xuất hiện từ rất sớm. Trong Chu Dịch, quẻ Bi đã có từ văn và từ hoá: Xem dáng vẻ con người, lấy đó mà giáo hoá thiên hạ (Quan hồ nhân văn dĩ hoá thành thiên hạ). Người được coi là sử dụng thuật ngữ văn hoá sớm nhất là Lưu Hướng (sống khoảng giai đoạn từ năm 77 TCN đến năm thứ 6 TCN), thời Tây Hán. Ông sử dụng thuật ngữ này với nghĩa như một phương thức giáo hoá con người – văn trị giáo hoá. Văn hoá ở đây được dùng đối lập với vũ lực (phàm dấy việc võ là vì không phục tùng, dùng văn hoá mà không sửa đổi, sau đó mới thêm chém giết).
Ở phương Tây, để chỉ đối tượng mà chúng ta nghiên cứu, người Pháp, người Nga có từ “kuitura”. Những chữ này lại có chung gốc Latinh là chữ “cultus animi” là trồng trọt tinh thần. Vậy chữ “cultus” là văn hoá với hai khía cạnh: trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục đào tạo cá thể hay cộng đồng để họ không còn là con vật tự nhiên, và họ có những phẩm chất tốt đẹp.
Trong “Tuyên bố về những chính sách văn hoá”, UNESCO (1982) xác định: “Trong ý nghĩa rộng nhất, văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt, tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội. Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng. Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hoá làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hoá mà chúng ta xét đoán được những giá trị và thực thi những sự lựa chọn. Chính nhờ văn hoá mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân” [24, tr.169].
Ở Việt Nam, cũng đã có một số nhà nghiên cứu đưa ra các cách hiểu khác nhau về khái niệm văn hóa, có thể kể đến như:
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, giải thích từ “Văn hóa” với 5 góc độ: Tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử. Nói một cách tổng quát là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống và tinh thần. Nói khái quát về tri thức, trình độ cao trong sinh hoạt xã hội là biểu diện cao về văn minh. Trong trình độ chuyên môn khái niệm văn hóa dùng để chỉ nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử được xác định trên cơ sở một tổng thể di vật lưu lại được có những đặc điểm giống nhau [18, tr. 358].
Theo Đại từ điển tiếng Việt: “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử” [25, tr.345].
Trong cuốn Xã hội học văn hóa, tác giả Đoàn Văn Chúc cho rằng: “Văn hóa – vô sở bất tại: Văn hóa – không nơi nào không có! Điều này cho thấy tất cả những sáng tạo của con người trên nền của thế giới tự nhiên là văn hóa; nơi nào có con người nơi đó có văn hóa” [6, tr.46]. Luận văn: Quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc thiểu số tại Hà Nội.
Trong cuốn Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [21, tr.45].
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, khái niệm văn hoá được hiểu theo cả ba nghĩa rộng, hẹp và rất hẹp:
Theo nghĩa rộng: “Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [17, tr.5].
Theo nghĩa hẹp, văn hoá là những giá trị tinh thần. Người viết: “Trong công cuộc kiến thiết nước nhà, có bốn vấn đề cần chú ý đến, cũng phải coi là quan trọng ngang nhau: chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá. Nhưng văn hoá là một kiến trúc thượng tầng (báo Cứu quốc, tháng 8- 1945)” [17, tr.2].
Theo nghĩa rất hẹp, văn hoá đơn giản chỉ là trình độ học vấn của con người được đánh giá bằng trình độ học vấn phổ thông, thể hiện ỏ việc Hồ Chí Minh yêu cầu mọi người “phải đi học văn hóa”, “xóa mù chữ”…
Đặc biệt, năm 1943 Hồ Chí Minh viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoại hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [17, tr.27]. Đây có thể coi là định nghĩa văn hóa của Hồ Chí Minh, và đây cũng là lần duy nhất, không thấy Hồ Chí Minh trở lại định nghĩa văn hóa này.
Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra và được con người thừa nhận, bao gồm trong đó là Chân – Thiện – Mỹ. Luận văn: Quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc thiểu số tại Hà Nội.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Quản lý nhà nước về công tác lưu trữ tại tỉnh Phú Yên

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: Quản lý nhà nước về văn hóa dân tộc thiểu số tại Hà Nội […]