Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số ở các trường THCS ở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

1.1 Cơ sở lý luận

Ở bất kỳ thời đại nào, nguồn lực con người luôn là vấn đề trung tâm, là động lực của sự phát triển xã hội. Trong đó, thế giới quan khoa học và năng lực tư duy của con người là yếu tố cơ bản của sự nghiệp giáo dục, sự nghiệp “trồng người”. Trong lịch sử giáo dục, vấn đề tự học và phát triển năng lực tự học được đề cập và nghiên cứu từ rất sớm, nhưng ở mỗi giai đoạn phát triển khác nhau với điều kiện lịch sử cụ thể mà vấn đề này được các nhà nghiên cứu tiếp cận ở những góc độ, phương diện khác nhau.

Tự học là một xu thế tất yếu, bởi vì quá trình giáo dục thực chất là quá trình biến người học từ khách thể giáo dục thành chủ thể giáo dục (tự giáo dục). Tự học giúp nâng cao kết quả học tập của học sinh và chất lượng giáo dục của nhà trường, là biểu hiện cụ thể của việc đổi mới phương pháp dạy học ở các trường phổ thông.

Tự học là một thuộc tính vốn có của con người, là con đường phát triển nội lực của mỗi cá nhân, mỗi dân tộc, là động lực chính của quá trình giáo dục – đào tạo.

Trong khuyến cáo của UNESCO về “Giáo dục cho thế kỷ XXI” đã nêu 4 trụ cột của giáo dục là: Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để làm người. Trên cơ sở này có những công trình nghiên cứu đã chỉ ra một số năng lực tự học là chìa khóa hoạt động học tập ở người học, những năng lực đó bao gồm: Năng lực sáng tạo, có khả năng thích ứng với những thay đổi; Năng lực hợp tác, có khả năng phối hợp hành động trong tự học, tự lĩnh hội tri thức; Năng lực tự khẳng định mình, tự lập trong tự học và cuộc sống.

Ở các nước, các nhà khoa học, các nhà văn, nhà thơ, chính trị, kỹ thuật… nổi tiếng đã để lại cho nhân loại kho tàng tri thức vô giá. Có được thành quả như vậy chính là nhờ vào tự học. Ở Việt Nam, quan điểm dạy học “lấy học sinh làm trung tâm” cũng được đề cập hàng chục năm nay và đã có những tiến bộ, song vẫn chưa thực sự trở thành tư tưởng dạy học của mỗi giáo viên. Trong xã hội, quá khứ cũng như hiện tại có nhiều tấm gương tự học để thành tài.

Chủ tịch Hồ Chí Minh – Vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc Việt Nam là một tấm gương sáng về tinh thần tự học. Khi nói về công tác huấn luyện cán bộ, Người đã dạy: “Về cách học, phải lấy tự học làm cốt” [36, tr.18]. Vấn đề tự học, tự đào tạo của người học đã được Đảng, Nhà nước, ngành Giáo dục và Đào tạo quan tâm quán triệt sâu sắc từ nhiều năm qua. Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII đã nhấn mạnh việc quan tâm nâng cao chất lượng dạy và học để tạo ra năng lực tự học, năng lực sáng tạo của học sinh và tạo điều kiện cho phong trào tự học, tự đào tạo rộng khắp toàn dân. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2023 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo khẳng định:“Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực” [47, tr.6].

Điều 5 và Điều 28 Luật giáo dục cũng đã ghi rõ là phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của học sinh; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, bồi dưỡng phương pháp tự học…[43].

Những năm qua, sự nghiệp giáo dục phổ thông đã đạt được những kết quả nhất định. Chất lượng giáo dục phổ thông từng bước được cải thiện, góp phần quan trọng vào việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Nhưng, trong thời đại mà khoa học kĩ thuật phát triển nhanh chóng như hiện nay, nhà trường dù tốt đến mấy cũng không thể đáp ứng hết nhu cầu học tập của người học cũng như đòi hỏi ngày càng cao của đời sống xã hội. Vì vậy, bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh là một công việc có vị trí cực kì quan trọng trong các nhà trường. Chỉ có tự học, tự bồi đắp tri thức bằng nhiều con đường, nhiều cách thức khác nhau mỗi học sinh (HS) mới có thể bù đắp được những thiếu khuyết về tri thức khoa học, về đời sống xã hội. Từ đó có được sự tự tin trong cuộc sống, công việc bởi năng lực toàn diện của mình. Để nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội thì vấn đề dạy học, quản lý hoạt động dạy học theo hướng phát huy năng lực tự học, tự đào tạo là một xu hướng quan trọng của dạy học hiện đại để giúp mỗi cá nhân thích ứng trong môi trường luôn mang tính thay đổi, giúp thực hiện hiệu quả mục tiêu dạy học, nâng cao chất lượng dạy học.

Các nhà khoa học cũng đã khẳng định từ những nghiên cứu của mình: Người học muốn đạt kết quả thì phải tự học, tự học phải trở thành nhu cầu của người học. Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số.

Vấn đề quản lý hoạt động tự học (HĐTH) trong các nghiên cứu về lý luận dạy học và quản lý giáo dục đã có một số công trình nghiên cứu và tiếp cận theo hướng quản lý hình thành kỹ năng tự học cho học sinh và nhấn mạnh Hoạt động tự học của HS vừa là yêu cầu, vừa là điều kiện để nâng cao chất lượng dạy học. Đổi mới chương trình và sách giáo khoa (SGK) là một trong những nội dung của Đề án đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam kể từ sau năm 2025. Trong các nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu, đặc biệt quan tâm đến việc đổi mới chương trình theo hướng chuyển từ cách tiếp cận nội dung sang tiếp cận mục tiêu phát triển năng lực. Trong 9 năng lực cụ thể cần hình thành cho HS, năng lực tự học được đặt lên hàng đầu.

1.2. Cơ sở thực tiễn

Thực tiễn tại huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh, hầu hết các trường Trung học cơ sở đều có học sinh dân tộc thiểu số (HD dân tộc thiểu số) tham gia học tập. Bên cạnh mục đích giáo dục đào tạo chung còn có nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục HS là con em đồng bào dân tộc thiểu số huyện Hoành Bồ, tạo nguồn cán bộ cho địa phương các xã miền núi, vùng cao của huyện sau này.

Qua thực tế công tác, tác giả nhận thấy trong ngành GD&ĐT huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh đã có những bước tiến bộ trong việc đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá, nhằm phát triển khả năng tư duy, sáng tạo, kỹ năng thực hành của người học, đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên nhiệt tình tâm huyết, có trách nhiệm, phụ huynh ngày càng quan tâm đầu tư cho con em có điều kiện học tập tốt nhất. Nhận thức rõ tầm quan trọng của Hoạt động tự học và công tác quản lý Hoạt động tự học, trong những năm qua ngành Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) huyện Hoành Bồ luôn quan tâm đến công tác quản lý Hoạt động tự học của HS nói chung, Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở nói riêng và bước đầu đã thu được một số kết quả nhất định.

Trong công tác dạy học ở các trường Trung học cơ sở có Học sinh dân tộc thiểu số, việc tổ chức Hoạt động tự học và quản lý Hoạt động tự học có những đặc trưng và khó khăn riêng. Với những trường nội trú, bán trú, nhiều nội dung sinh hoạt và học tập của HS đều diễn ra trong khuôn viên của nhà trường nên công tác quản lý Hoạt động tự học của HS được tập trung, đảm bảo thời gian tối đa cho Hoạt động tự học. Ở các trường Trung học cơ sở nói chung, Hoạt động tự học và quản lý Hoạt động tự học của HS cũng gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi phải có những biện pháp quản lý Hoạt động tự học của HS một cách hệ thống, hiệu quả với sự phối hợp chặt chẽ từ Ban giám hiệu đến giáo viên (GV), phụ huynh học sinh (PHHS) và các lực lượng khác trong và ngoài nhà trường. Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số.

Vì vậy, bên cạnh kết quả đã đạt được thì thực tế cho thấy việc tự học của HS chưa thực sự được quan tâm đúng mức, công tác quản lý Hoạt động tự học của HS vẫn còn nhiều bất cập, chưa có biện pháp quản lý Hoạt động tự học của HS một cách phù hợp với đặc thù các nhà trường, do đó phần nào ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục của nhà trường. Nguyên nhân chủ yếu là do Học sinh dân tộc thiểu số thường khả năng nhận thức và tiếp thu chậm; năng lực học và tự học còn hạn chế ở nhiều khâu; hiểu và vận dụng chưa hiệu quả trong học tập; khả năng sử dụng tiếng Việt chưa tốt; các em chưa có kỹ năng, phương pháp tự học một cách khoa học, hợp lý. HS chưa có động cơ, mục đích rõ ràng, chưa tự giác học tập. Đặc biệt, với HS là người dân tộc thiểu số, điều kiện kinh tế vùng miền còn gặp nhiều khó khăn, điều kiện học tập còn nghèo nàn thô sơ, các em chưa thật tích cực, chủ động đối với việc học. Với các em, việc cập nhật kiến thức phổ thông cơ bản đã là điều khó khăn, chưa nói đến việc nắm bắt, theo kịp những kiến thức khoa học hiện đại. Việc tự học của các em Học sinh dân tộc thiểu số càng phải rèn luyện tính tích cực chủ động hơn; chỉ có tự học, tự bồi dưỡng thì các em mới có thể bù đắp cho mình những lỗ hổng về kiến thức, để thích ứng với yêu cầu của cuộc sống đang phát triển.

Bên cạnh đó, việc đổi mới phương pháp dạy học của GV còn chậm, người dạy chỉ mới quan tâm nhiều đến việc truyền thụ kiến thức mà chưa chú trọng tới giáo dục, rèn luyện phương pháp tự học cho học sinh, (ví dụ trong mô hình trường học mới (VNEN) nếu gặp phải khó khăn thì học sinh liên lạc với giáo viên và sẽ nhận được sự hỗ trợ cần thiết, tuy nhiên có giáo viên chỉ biết ngồi chờ các em tự học mà chưa hướng dẫn kịp thời); GV chưa chú ý đến việc thiết kế bài tập, bài kiểm tra, đề thi đòi hỏi học sinh phải nghiên cứu, tìm tòi mới có thể hoàn thành được, chưa quan tâm tới đối tượng HS; cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học thiếu, không đồng bộ; một số trường chưa có nhiều kinh nghiệm và biện pháp phù hợp để quản lý hoạt động học tập của HS, đặc biệt là Hoạt động tự học (ngay cả trường phổ thông dân tộc nội trú huyện, việc phân công giáo viên trực và nhiệm vụ của bảo vệ nhà trường cũng bị chồng chéo, trong khi hiệu quả công việc lại không cao, học sinh vẫn chưa tự giác học tập, vẫn trốn ra ngoài chơi game, ăn quà… Phần lớn do công tác quản lý học sinh, quản lý hoạt động tự học của các em chưa tốt, nên hiện nay công tác tuyển sinh trường Phổ thông dân tộc bán trú huyện còn gặp nhiều khó khăn do một số gia đình không yên tâm khi gửi con tại trường).

Đối với 01 trường Phổ thông dân tộc bán trú và 04 trường có học sinh bán trú của huyện, theo lịch sinh hoạt tại trường thì một ngày các em có 04 tiếng dành cho hoạt động tự học tại phòng ở hoặc trên lớp, thực tế có thể có hoặc không có sự giám sát của giáo viên. Ngoài ra, tự học của HS được nhà trường tổ chức thông qua nhiều hoạt động khác nhau ở tập thể cũng như các chương trình ngoại khóa, các phong trào đọc sách, các cuộc thi tìm hiểu… Điều này cho thấy, Hoạt động tự học của HS có nhiều khâu, nhiều bước, được tiến hành thông qua các hoạt động học tập của chính bản thân HS. Đây là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh tri thức khoa học và những kĩ năng, kinh nghiệm bằng hành động của chính mình hướng tới những mục đích nhất định. Quá trình tổ chức dạy học và tổ chức các hoạt động phải làm cho hoạt động của HS chuyển từ trạng thái bị động sang chủ động. HS biết tự sắp xếp, bố trí các công việc sẽ tiến hành trong thời gian tự học, biết huy động các điều kiện, phương tiện cần thiết để hoàn thành từng công việc, biết tự kiểm tra, tự đánh giá kết quả Hoạt động tự học của chính mình. Song, đó mới chỉ dừng lại ở lý thuyết, khi thực hiện vẫn còn nhiều nội dung mang tính hình thức, chưa có chiều sâu, chưa định hướng được cụ thể. Với nhiều hạn chế của đối tượng HS trong khi công tác quản lý chưa thực sự khoa học, chưa có sự đầu tư nghiên cứu, chưa được tuyên truyền phổ biến rộng rãi; GV chưa chú ý nhiều đến việc động viên, hỗ trợ, hướng dẫn HS tự học; phụ huynh chưa quan tâm hoặc nhận thức chưa đầy đủ về vấn đề tự học của con em… thì tự học vẫn chỉ dừng lại ở khẩu hiệu, phát động phong trào, ở những văn bản chỉ đạo hay những báo cáo đánh giá chung.

Việc nghiên cứu hệ thống công tác quản lý Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở ở huyện Hoành Bồ để tìm ra biện pháp quản lý Hoạt động tự học của HS, vận dụng trong công tác quản lý giáo dục của nhà trường có vai trò quan trọng trong việc nâng cao hơn về chất lượng dạy và học của nhà trường.

Xuất phát từ những yêu cầu cả về mặt lý luận và thực tiễn trên, với tư cách là cán bộ phụ trách chuyên môn cấp học của ngành và mong muốn đề xuất những biện pháp quản lý hiệu quả Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh; nhằm nâng cao hơn về chất lượng dạy và học trong các nhà trường, tác giả chọn hướng nghiên cứu: “Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình.

2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số.

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát, đánh giá thực trạng Hoạt động tự học và quản lý Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ; từ đó đề xuất các biện pháp quản lý Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh nhằm nâng cao kết quả tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ nói riêng, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo đối với các trường Trung học cơ sở có Học sinh dân tộc thiểu số trong toàn tỉnh và trên cả nước.

3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

  • HĐTH của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

  • Quản lý Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh.

4. Phạm vi nghiên cứu

  • Các trường Trung học cơ sở của huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh với các số liệu sử dụng từ năm 2021 đến nay.

5. Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi được đặt ra cho nghiên cứu, đó là: Tự học và quản lý Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số đang đặt ra những vấn đề gì? Cần những biện pháp quản lý như thế nào để nâng cao hiệu quả Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh?

6. Giả thuyết khoa học

Tự học là hoạt động quan trọng trong quá trình giáo dục vì thực chất dạy học là dạy để học sinh tự học. Việc tự học của học sinh Trung học cơ sở nói chung, và của huyện Hoành Bồ nói riêng đang bộc lộ nhiều bất cập. Nếu nâng cao nhận thức về tự học và quản lý Hoạt động tự học, áp dụng một số biện pháp quản lý phù hợp từ lập kế hoạch, tổ chức chỉ đạo và kiểm tra đánh giá sẽ góp phần nâng cao chất lượng Hoạt động tự học, chất lượng học tập của HS nói riêng và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nói chung. Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số.

7. Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra như trên, đề tài sẽ tập trung vào các nhiệm vụ sau:

  • Phân tích khái quát, hệ thống hóa các tài liệu khoa học có liên quan, làm sáng tỏ cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu Hoạt động tự học và quản lý Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở.
  • Khảo sát thực trạng Hoạt động tự học và thực trạng quản lý Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh và phân tích nguyên nhân của thực trạng.
  • Đề xuất một số biện pháp quản lý Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn hiện nay.

8. Phương pháp nghiên cứu

8.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

  • Thu thập các tài liệu liên quan, tìm hiểu các khái niệm cơ bản, các thuật ngữ.
  • Nghiên cứu các văn bản, Nghị quyết của Đảng, Chính phủ, Bộ GD và ĐT, các Bộ ngành liên quan, của địa phương về quản lý trường phổ thông nói chung và trường Trung học cơ sở nói riêng;
  • Nghiên cứu các tài liệu, các công trình nghiên cứu về quản lý Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở nhằm xây dựng cơ sở lý luận của vấn đề cần nghiên cứu.

8.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

  • Phương pháp quan sát: Quan sát, dự giờ các hoạt động dạy của GV và hoạt động học tập của HS…
  • Phương pháp điều tra: Khảo nghiệm qua các phiếu điều
  • Thông qua phiếu điều tra khảo sát thực trạng và trưng cầu ý kiến.
  • Thông qua đàm thoại, phỏng vấn GV, HS, Phụ huynh học sinh, các nhà quản lý giáo dục… lấy các thông tin trực tiếp hoặc gián tiếp về vấn đề nghiên cứu.
  • Phương pháp xin ý kiến chuyên gia góp ý về cách xử lý kết quả điều tra, các biện pháp quản lý Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh.
  • Phương pháp tổng kết kinh nghiệm trong quản lý Hoạt động tự học.

8.3. Phương pháp xử lý số liệu Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số.

  • Xử lý số liệu bằng thống kê toán học để thống kê, tổng hợp số liệu thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau giúp cho việc nghiên cứu đạt được hiệu quả cao và đảm bảo độ tin cậy.

9. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

9.1 Về mặt lý luận

Đóng góp về mặt lý luận đối với công tác quản lý Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh; chỉ ra những thành công và mặt hạn chế, cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng một số phương pháp quản lý hiệu quả cho hoạt động này.

9.2. Về mặt thực tiễn

Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao chất lượng dạy học nói chung, công tác quản lý Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh nói riêng; trên cơ sở đó có thể được áp dụng cho công tác quản lý Hoạt động tự học của các trường Trung học cơ sở có Học sinh dân tộc thiểu số trong cả nước.

10. Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Khuyến nghị, Danh mục các tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn có cấu trúc gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về tự học và quản lý Hoạt động tự học của HS ở các trường Trung học cơ sở.
  • Chương 2: Thực trạng Hoạt động tự học và công tác quản lý Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh.
  • Chương 3: Các biện pháp quản lý Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh.

Chương 1 Cơ sở lý luận về tự học và quản lý hoạt động tự học của học sinh ở các trường trung học cơ sở

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Trong lịch sử phát triển của giáo dục, việc tự học có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến chất lượng giáo dục và hình thành nên những con người năng động, sáng tạo. Chính vì vậy, từ trước tới nay, tự học là vấn đề luôn được nhiều tác giả trong và ngoài nước đề cập, quan tâm nghiên cứu cả về lý luận cũng như thực tiễn.

1.1.1. Những nghiên cứu ngoài nước

Trong giáo dục, quan điểm của Khổng Tử, Mạnh Tử hay các nhà sư phạm lỗi lạc thời cận đại như J. A. Komenxki (người Tiệp Khắc), chuyên gia giáo dục của UNESCO Raja Roy Singh (người Ấn Độ) đã khẳng định vai trò của tự học, phản đối lối dạy học áp đặt, giáo điều làm cho học sinh thụ động, không tích cực.

Đến thế kỉ XVIII – XIX, các nhà giáo dục học nổi tiếng như J.J. Rousseau (1712 – 1778), Pestalori (1746 – 1827), Disterever (1790 – 1886), Usinxki (1824 – 1890)… rất quan tâm đến sự phát triển trí tuệ, tính tích cực, độc lập, sáng tạo của người học. Các nhà khoa học giáo dục hướng tới việc phát huy yếu tố tiềm ẩn trong cá nhân con người, nhấn mạnh cách làm cho con người đến với tri thức bằng con đường tự khám phá, tự tìm tòi.

Phát triển tư tưởng của các nhà giáo dục tiền bối, các nhà giáo dục hiện đại đi sâu nghiên cứu khoa học giáo dục cũng đã khẳng định vai trò to lớn của hoạt động tự học như: N.A. Rubakin với tác phẩm“Tự học như thế nào” [44], hay Ronald Gross trong “Học tập đỉnh cao” [16] đã trình bày nhiều vấn đề về các phương pháp tự học, các phương pháp sử dụng sách, hoặc đưa ra quan điểm khẳng định tự học là trình độ phát triển cao nhất trong các dạng học tập của con người… Quan niệm tự học và học tập suốt đời nổi lên trong thời đại ngày nay như một chìa khoá mở cửa đi vào thế kỉ 21 – thế giới của nền kinh tế tri thức.

1.1.2. Những nghiên cứu trong nước Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số.

Từ những năm 60 trở lại đây, tư tưởng về dạy – tự học và tổ chức hoạt động tự học cho người học đã được nhiều tác giả như: Trần Kiều [28], Nguyễn Kỳ [29, 30], Lê Khánh Bằng [1, 2], Nguyễn Văn Đạo [13], Đặng Thành Hưng [21], Lưu Xuân Mới [41]… đề cập một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong các công trình nghiên cứu của mình. Trung tâm nghiên cứu và phát triển tự học ra đời, ngày càng thúc đẩy mạnh mẽ, thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả. Ngày 15/01/1998 tại Hà Nội, trung tâm đã tổ chức thành công Hội thảo khoa học: “Tự học, tự đào tạo, tư tưởng chiến lược của sự phát triển giáo dục Việt Nam”. Hội thảo đã khẳng định vai trò quan trọng của Hoạt động tự học trong mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống.

Người tâm đắc và có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề tự học phải nói đến GS. TS. Nguyễn Cảnh Toàn. Ông có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về tự học đã xuất bản như: “Học và dạy cách học” [52], “Quá trình dạy – tự học” [53] do Nguyễn Cảnh Toàn chủ biên và các tác giả; hay “Tự giáo dục, tự học, tự nghiên cứu” [55]; trong tác phẩm “Luận bàn và kinh nghiệm về tự học” [54], ông đã phân tích một cách sâu sắc các vấn đề xung quanh Hoạt động tự học. Và còn có rất nhiều công trình nghiên cứu khác của ông về vấn đề tự học được đăng trên các báo, tạp chí…

Ngoài ra, còn có nhiều tác phẩm, bài viết khác về vấn đề tự học đã được các tác giả đề cập đến dưới nhiều khía cạnh khác nhau: Nguyễn Hiến Lê: “Tự học – một nhu cầu của thời đại” – Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1992 31]; Phan Trọng Luận: “Tự học – một chìa khóa vàng của giáo dục” – Tạp chí NCGD, số 2/1995 [34]; Nguyễn Dân: “Cần tạo ra năng lực tự học và phong trào tự học” – Báo GD – TĐ chủ nhật, số 41/1997 [10]; Đặng Quốc Bảo: “Tấm gương tự học của Bác” – Báo GD – TĐ, số 5/1998 [3]; Trần Bá Hoành: “Vị trí tự học, tự đào tạo trong quá trình dạy học, giáo dục – đào tạo” – Tạp chí NCGD, số 7/1998 [7].

Thời gian qua, dưới sự hướng dẫn của các thầy, cô giảng viên các trường đại học, trường cán bộ quản lý giáo dục, nhiều luận văn thạc sĩ nghiên cứu về vấn đề tự học đã hoàn thành như: “Quản lý hoạt động tự học của học sinh trung học cơ sở dân tộc thiểu số ở trường phổ thông dân tộc bán trú tỉnh Bắc Giang” của tác giả Lê Thị Huyền, năm 2024 [23],“ “Quản lý hoạt động tự học của học sinh trường phổ thông dân tộc nội trú trung học phổ thông miền Tây tỉnh Yên Bái” của tác giả Phạm Hoài Minh, năm 2024 [39] ; “Biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh các trường Trung học cơ sở huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định” của tác giả Đào Xuân Thành, năm 2019 [50]; “Biện pháp quản lý hoạt động tự học của học sinh trường Trung học cơ sở huyện Đan Phượng, Hà Nội” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Giang, năm 2024 [14].v.v… Trong đó, các tác giả trên cơ sở tìm hiểu lý luận, nghiên cứu thực trạng vấn đề tự học, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả Hoạt động tự học cho người học.

Như vậy, vấn đề tự học, tự nghiên cứu của HS, sinh viên đã được nhiều nhà khoa học, nhiều nhà giáo dục, nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu từ rất lâu trong lịch sử giáo dục ở những góc độ khác nhau.

Tác giả đã tập trung tìm hiểu, nghiên cứu sâu về cơ sở lý luận của Hoạt động tự học, thực trạng và các biện pháp quản lý Hoạt động tự học, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp quản lý nâng cao chất lượng Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh.

1.2 Một số khái niệm cơ bản Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số.

1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục

  • Quản lý

Khi con người với tư cách là những cá nhân riêng lẻ không thể thực hiện để đạt được mục tiêu mà họ đề ra, họ bắt đầu hình thành các tập thể, nhóm, trong đó có sự hợp tác và phân công trách nhiệm, chính sự phân công và hợp tác này làm cho năng suất lao động cao hơn và vì vậy đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý – quản lý ra đời. Quản lý xuất hiện như một hoạt động tất yếu trong quá trình phát triển của xã hội loài người, nó bắt nguồn và gắn chặt với sự phân công và hợp tác lao động.

Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, tùy theo những cách tiếp cận khác nhau. Sau đây xin nêu một số quan niệm chủ yếu:

Theo từ điển Giáo dục học: “Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [15, tr.236].

Nhấn mạnh các chức năng của hoạt động quản lý, tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [8, tr.1]. Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số.

Dựa trên vai trò các nguồn lực trong quản lý, tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [27, tr.8].

Tiếp cận quan điểm hệ thống, tác giả Hà Thế Ngữ lại cho rằng: “Quản lý là dựa vào các quy luật khách quan vốn có của hệ thống để tác động đến hệ thống nhằm chuyển hệ thống đó sang một trạng thái mới” [42].

Những định nghĩa trên đây tuy khác nhau về cách diễn đạt, về góc độ tiếp cận nhưng đều gặp nhau ở nội dung cơ bản của khái niệm quản lý: Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng và khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra.

  • Quản lý giáo dục (QLGD)

Giáo dục là một hiện tượng đặc biệt của loài người, một hiện tượng có mục đích mà chỉ xã hội loài người mới có, các hiện tượng giáo dục được nảy sinh ngay từ khi xã hội loài người xuất hiện và là nhu cầu cấp thiết của sự phát triển xã hội. Nhờ đó, các thế hệ sau chiếm lĩnh được những kinh nghiệm, những tri thức giúp họ có thể tham gia tích cực vào mọi hoạt động trong cuộc sống và những lĩnh vực hoạt động khác, làm cho xã hội loài người luôn tồn tại và phát triển không ngừng. Vì giáo dục là một hiện tượng xã hội, do đó, Quản lý giáo dục được hình thành là một tất yếu khách quan từ quản lý xã hội, hay nói cách khác, Quản lý giáo dục là một loại hình của quản lý xã hội.

Có nhiều quan niệm khác nhau về Quản lý giáo dục. Theo PGS.TS. Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là hoạt động điều hành, phối hợp với các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội…” [4].

Theo tác giả Trần Kiểm:“Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” [27].

Từ các định nghĩa trên có thể hiểu: Quản lý giáo dục là quá trình tác động có ý thức của chủ thể quản lý (các nhà Quản lý giáo dục) đến khách thể quản lý (người quản lý đơn vị cơ sở giáo dục, người dạy, người học, cơ sở vật chất…) nhằm đạt được những mục tiêu giáo dục. Quản lý giáo dục là thực hiện việc quản lý trong lĩnh vực giáo dục.

1.2.2 Khái niệm về tự học Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tự học chính là nỗ lực của bản thân người học, sự làm việc của bản thân người học một cách có kế hoạch trên tinh thần tự động học tập, lại cần phải có môi trường (tập thể để thảo luận) và sự quản lý chỉ đạo giúp vào” [38].

Theo GS. Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp) và có khi còn cả cơ bắp (khi sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, và cả động cơ, tình cảm, các nhân sinh quan, thế giới quan (trung thực khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đố, biết biến khó khăn thành thuận lợi) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [53, tr.60].

Theo GS. Vũ Văn Tảo: “Học cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội tại, trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị con người bằng cách thu nhận, xử lý và điều chỉnh thông tin từ môi trường sống của chủ thể” [49, tr.37].

Trên cơ sở tiếp nhận các quan điểm của các tác giả, chúng ta có thể hiểu rằng: Tự học là quá trình tự giác, tích cực, độc lập chiếm lĩnh tri thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo của chính bản thân người học. Trong quá trình đó, người học thực sự là chủ thể của quá trình nhận thức, nỗ lực huy động các chức năng tâm lý, tiến hành hoạt động nhận thức nhằm đạt được mục tiêu đã định.

1.2.3 Quản lý hoạt động tự học

“Quản lý hoạt động tự học là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong quản lý giáo dục nói chung và quản lý nhà trường nói riêng, là bộ phận cấu thành nên hệ thống quản lý quá trình giáo dục, đào tạo trong nhà trường. Quản lý hoạt động tự học của học sinh bao gồm hai quá trình cơ bản là quản lý hoạt động tự học trong giờ lên lớp và quản lý hoạt động tự học ngoài giờ lên lớp, được tiến hành trên cả hai phương diện ở trường và ở nhà” [23].

Quản lý Hoạt động tự học là sự tác động của chủ thể quản lý đến quá trình tự học của học sinh làm cho học sinh tích cực, chủ động tự chiếm lĩnh tri thức bằng sự cố gắng nỗ lực của chính mình. Quản lý Hoạt động tự học của HS có liên quan chặt chẽ với quá trình tổ chức dạy học của GV.

Như vậy, quản lý hoạt động tự học là một hệ thống các tác động sư phạm có mục đích, phương pháp, kế hoạch của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường đến toàn bộ quá trình tự học của HS nhằm thúc đẩy HS tự giác, tích cực, chủ động tự chiếm lĩnh tri thức bằng sự cố gắng nỗ lực của chính bản thân.

1.3 Vị trí của tự học trong quá trình dạy học Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số.

Tự học là cốt lõi của việc học, hễ có học là có tự học, không ai có thể học hộ người khác. Khi nói đến tự học là nói đến nội lực của người học và ngoại lực của người dạy. Trò học, cốt lõi là tự học cách học, cách tư duy; thầy dạy, cốt lõi là dạy cách học, cách tư duy. Tác động dạy của thầy là vô cùng quan trọng nhưng vẫn chỉ là ngoại lực hỗ trợ cho học sinh tự phát triển, còn tự học mới là nhân tố quan trọng, là nội lực quyết định sự phát triển của HS.

Triết học Mác – Lênin khẳng định “tự học trong quá trình giáo dục là yếu tố quan trọng đóng vai trò nguyên nhân bên trong, động lực thực sự của việc học sinh tự giác học tập” [35]. Trong mối quan hệ với hoạt động dạy học, Hoạt động tự học giúp HS hình thành và phát triển kiến thức, kĩ năng, thái độ liên quan đến chương trình giáo dục Trung học cơ sở cũng như mở rộng về các lĩnh vực tự nhiên, xã hội, nghệ thuật,… theo nhu cầu học tập. Những kiến thức này HS có thể học được trong thực tế cuộc sống hàng ngày, trong gia đình và xã hội.

Tâm lý học cũng chỉ ra rằng sự phát triển của con người phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó giáo dục và hoạt động của cá nhân là quan trọng nhất. Hoạt động của cá nhân là yếu tố đóng vai trò trực tiếp quyết định năng lực và phẩm chất của con người.

Quá trình tự học có thể hiểu là sự chuyển hoá quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục, là sự biến đổi bản thân trở nên có thêm giá trị bằng nỗ lực của chính mình để chiếm lấy giá trị bên ngoài, là một hành trình nội tại được “cắm mốc” bởi kiến thức, PP tư duy và thực hiện tự phê bình để tự hiểu bản thân mình.

Các lý luận trên không có nghĩa là xem nhẹ vai trò, trách nhiệm của GV trong quá trình dạy học mà GV đóng vai trò chủ đạo, kích thích, động viên, dẫn đường cho HS học tập có hiệu quả và đúng cách. Thông qua tự học giúp HS nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và định hướng nghề nghiệp trong tương lai; giúp HS không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập khi còn học trong trường, đồng thời giúp HS rèn luyện nhân cách, hình thành nền nếp làm việc khoa học, rèn luyện ý chí phấn đấu, đức kiên trì, óc phê phán và hứng thú học tập; không ngừng làm phong phú, hoàn thiện thêm vốn hiểu biết của mình, giúp HS có thể chủ động học tập suốt đời, tránh được lạc hậu trước sự “bùng nổ thông tin” trong thời đại hiện nay.

1.4 Các thành tố của quá trình tự học

1.4.1 Mục tiêu của tự học Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số.

Tự học không những giúp học sinh không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả học tập khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà trong tương lai, họ sẽ trở thành người có năng lực, có thói quen và phương pháp tự học suốt đời. Xác định được mục tiêu học tập và tự học là những yếu tố tâm lý có tác dụng thúc đẩy chủ thể vượt qua khó khăn, trở ngại hoạt động học tập. Điều đó sẽ giúp người học giải quyết được các nhiệm vụ học tập một cách chủ động.

Trong Hoạt động tự học của HS, động cơ tự học (ĐCTH) là một yếu tố không thể thiếu, nó có vai trò quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập của HS, đến việc thực hiện mục tiêu của Hoạt động tự học. Động cơ tự học có nguồn gốc bên trong và bên ngoài. Nguồn gốc bên trong là bản thân HS có nhu cầu, ý chí vượt khó, nỗ lực để đạt được nhiệm vụ của Hoạt động tự học một cách tự giác trên cơ sở mục tiêu của Hoạt động tự học. Động cơ tự học có nguồn gốc bên ngoài bao gồm sự động viên, chia sẻ của thầy cô giáo và gia đình; việc đánh giá khách quan, công bằng của thầy cô đối với HS, môi trường và điều kiện cơ cở vật chất của lớp học…

Hay nói cách khác, trong rất nhiều động cơ học tập của HS, có thể khuôn tách thành hai nhóm cơ bản: Các động cơ hứng thú nhận thức và các động cơ trách nhiệm trong học tập.

Thông thường các động cơ hứng thú nhận thức hình thành và đến được với người học một cách tự nhiên khi bài học có nội dung mới lạ, thú vị, bất ngờ, sinh động và chứa nhiều những yếu tố nghịch lý, gợi sự tò mò. Động cơ này sẽ xuất hiện thường xuyên khi GV biết tăng cường tổ chức các trò chơi nhận thức, các cuộc thảo luận hay các biện pháp kích thích tính tự giác tích cực từ người học.

“Động cơ nhiệm vụ và trách nhiệm thì bắt buộc người học phải liên hệ với ý thức về ý nghĩa xã hội của sự học… Từ đó các em mới có ý thức kỉ luật trong học tập, nghiêm túc tự giác thực hiện mọi nhiệm vụ học tập, những yêu cầu từ GV, phụ huynh, tôn trọng mọi chế định của xã hội và sự điều chỉnh của dư luận” [23].

Cả hai động cơ trên không phải là một quá trình hình thành tự phát, cũng chẳng được đem lại từ bên ngoài mà nó hình thành và phát triển một cách tự giác thầm lặng từ bên trong. Do vậy người GV phải tùy đặc điểm môn học, tùy đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của đối tượng để tìm ra những biện pháp thích hợp nhằm khơi dậy hứng thú học tập và năng lực tiềm tàng nơi HS. Và, điều quan trọng hơn là tạo mọi điều kiện để các em hiểu và xác định được mục tiêu học tập của mình.

1.4.2. Phương pháp, phương tiện tự học

Phương pháp là cách thức tổ chức học tập và làm việc theo chiều hướng tích cực. Phương pháp tự học (PPTH) có một ý nghĩa hết sức quan trọng, vì Phương pháp tự học có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả học tập của HS đối với từng bộ môn khác nhau. Có nhiều Phương pháp tự học nhưng về cơ bản có thể kể đến một số phương pháp (PP) mà được nhiều người học sử dụng và đem lại hiệu quả cao, như: PP nghiên cứu sách giáo khoa, tài liệu học tập (ghi nhật ký, trích ghi, tóm tắt,…); PP luyện tập; PP ôn tập; PP thảo luận nhóm; PP quan sát; PP thí nghiệm, thực hành (đối với những môn khoa học tự nhiên – kỹ thuật); PP tự đánh giá. Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số.

Tự học là quá trình rèn luyện nghị lực, ý chí phấn đấu vươn lên, đem lại cho bản thân khả năng hiểu biết, phân tích, cảm thụ và sáng tạo. Học mà không coi trọng Phương pháp tự học thì kết quả không cao. Có Phương pháp tự học tốt sẽ giúp HS thực hiện được mục tiêu học tập. Do đó, Cán bộ quản lý, GV cần tích cực hướng dẫn, bồi dưỡng Phương pháp tự học cho HS. Ngoài Phương pháp tự học thì phương tiện, cơ sở vật chất như: Thiết bị, đồ dùng dạy học, tài liệu tham khảo, phòng chức năng,… cũng ảnh hưởng nhiều đến chất lượng Hoạt động tự học của HS.

1.4.3. Hình thức hoạt động tự học

HĐTH có thể được xem như là hoạt động tự tổ chức để chiếm lĩnh những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau:

Tự học trên lớp (diễn ra dưới sự điều khiển, hướng dẫn, chỉ đạo trực tiếp của thầy và các phương tiện trên lớp): HS là chủ thể nhận thức tích cực với các nội dung: Nghe giảng, ghi chép, đọc SGK theo hướng dẫn của GV, làm bài tập, bài kiểm tra; học thuộc lòng những phần ghi nhớ, kiến thức cơ bản, thảo luận nhóm, hội thảo về phương pháp học tập do HS chủ trì…

Tự học ngoài lớp về chương trình môn học: HS phải tự bố trí, sắp xếp thời gian, có kế hoạch học tập, gồm: Quan sát thực tế, đọc sách và tài liệu tham khảo, làm đề cương cho thảo luận nhóm, thảo luận lớp, thực hiện các bài tập thực hành bộ môn, làm đề cương ôn tập, hoàn thành các bài thu hoạch, tham gia các hoạt động ngoại khóa, hoạt động trải nghiệm…

Tự học các kiến thức mới: HS tự tìm tòi, khai thác các kiến thức mới, hay một vấn đề nào đó của môn học hoàn toàn độc lập, các em tự mua sách báo tham khảo, tự sưu tầm tài liệu, tìm kiếm trên mạng internet… để mở rộng tầm hiểu biết của mình. Đây là hình thức tự học ở mức độ cao thường các em HS khá, giỏi hay thực hiện.

1.4.4 Mối quan hệ giữa hoạt động tự học và hoạt động dạy học Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số.

Đây là mối quan hệ giữa tác động bên ngoài và hoạt động bên trong. Tác động dạy của GV là bên ngoài hỗ trợ cho Hoạt động tự học của HS. Hay nói cách khác Hoạt động dạy học chỉ là ngoại lực, còn tự học là nhân tố quyết định đến bản thân người học – nội lực. Nhưng Hoạt động dạy học có ý nghĩa rất lớn và ảnh trực tiếp đến Hoạt động tự học của HS.

HĐDH là một hoạt động kép gồm hoạt động dạy do thầy đảm nhận và hoạt động học do HS đảm nhận. Hoạt động dạy của thầy giữ vai trò chủ đạo, còn hoạt động học của HS giữ vị trí chủ động. Hoạt động dạy học có 2 chủ thể: GV và HS. Hoạt động dạy học không chỉ là hoạt động truyền thụ kiến thức cho HS mà bao gồm cả công việc tổ chức các hoạt động học tập điều khiển nhận thức của HS; hình thành kỹ năng, hướng dẫn cho HS PP học tập, giáo dục về Động cơ tự học để HS học tập đạt kết quả cao.

HĐDH và Hoạt động tự học là hai yếu tố cấu thành của quá trình dạy học. Hoạt động tự học là một thành phần của Hoạt động dạy học, một yếu tố của dạy học. Nếu chỉ có dạy hoặc chỉ có tự học riêng rẽ, độc lập thì không có quá trình dạy học, các mục tiêu đề ra sẽ không thể thực hiện được. Mối quan hệ giữa Hoạt động dạy học và Hoạt động tự học còn thể hiện ở chỗ kết quả của hoạt động này phụ thuộc vào hoạt động kia và ngược lại.

Trong quá trình dạy học, GV tác động đến HS bằng các biện pháp sư phạm, HS tiếp nhận sự tác động của GV. Nếu GV dạy tốt, có PP tốt sẽ phát huy được khả năng sáng tạo của HS sẽ tạo ra được kết quả học tập tốt. Vai trò chủ thể của HS càng được phát huy, kết quả học tập của HS càng cao thì hiệu quả của quá trình dạy càng cao. Sự thống nhất biện chứng giữa dạy và học đòi hỏi hoạt động dạy học đóng vai trò chủ đạo, tổ chức, hướng dẫn Hoạt động tự học.

HĐDH và Hoạt động tự học là hai hoạt động của hai chủ thể riêng nhưng có mối quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau. Bản chất của quá trình dạy học là quá trình nhận thức độc đáo của HS dưới sự điều khiển, hướng dẫn của GV nhằm giúp HS nắm vững kiến thức.

1.5. Nội dung tự học (NDTH)

Chúng ta thường xác định nội dung cần học, đó là: Kiến thức trong sách giáo khoa; kiến thức qua lời thầy cô giảng; kiến thức trong sách tham khảo; kiến thức trong các bài thực hành, bài tập vận dụng; kiến thức qua các phương tiện thông tin đại chúng, trên mạng internet; kiến thức trong cuộc sống.

NDTH là hệ thống kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, hệ thống kinh nghiệm hoạt động sáng tạo và hệ thống thái độ người học cần hình thành trong Hoạt động tự học. Nội dung tự học rất phong phú bao gồm toàn bộ những vấn đề học tập do cá nhân người học độc lập tiến hành, được thể hiện qua các hành động tự học hàng ngày. Trên cơ sở mục tiêu, yêu cầu đào tạo, nội dung của Hoạt động tự học về cơ bản có hai phần:

Nội dung tự học cơ bản: Đây là những nội dung gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ tự học có tính chất bắt buộc (HS phải hoàn thành) theo chương trình dạy học trên lớp của GV và HS trong các môn học do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định. Xét về cơ bản, nội dung của Hoạt động tự học gồm: kiến thức cơ bản, kiến thức, kỹ năng về nghề nghiệp đang được đào tạo; phương pháp.

Nội dung tự học mở rộng: Đây là những Nội dung tự học diễn ra hàng ngày, có định hướng của GV nhằm giúp HS mở rộng, đào sâu kiến thức. Nội dung tự học mở rộng thể hiện ở việc giải quyết các nhiệm vụ tự học cụ thể; Nội dung tự học mở rộng có phạm vi rộng, người học có thể học được những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo – thông qua sách tham khảo, sách nâng cao, mạng internet,…hoặc học được ngay trong gia đình (bố, mẹ, anh chị em), trong cuộc sống hàng ngày.

NDTH mở rộng có tác động tích cực, bổ sung, làm phong phú hơn cho Nội dung tự học cơ bản; giúp HS củng cố thêm kiến thức cũng như hoàn thiện các kỹ năng, kỹ xảo, đáp ứng nhu cầu học mở rộng, học nâng cao.

1.6. Học sinh Trung học cơ sở Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số.

1.6.1. Khái niệm về học sinh Trung học cơ sở

“Lứa tuổi Trung học cơ sở bao gồm những em có độ tuổi từ 11, 12 tuổi đến 14, 15 tuổi. Đó là những em đang theo học từ lớp 6 đến lớp 9 ở trường Trung học cơ sở” [20, tr.27].

1.6.2 Đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh Trung học cơ sở

Lứa tuổi này gọi là lứa tuổi thiếu niên, nó có một vị trí đặc biệt và tầm quan trọng trong thời kỳ phát triển của trẻ em, vì nó là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi thơ ấu sang tuổi trưởng thành và được phản ánh bằng những tên gọi khác nhau như: “thời kỳ quá độ”, “tuổi khó bảo”, “tuổi khủng hoảng “, “tuổi bất trị”… Đây là lứa tuổi có bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, các em đang tiến sang giai đoạn phát triển cao hơn (người trưởng thành) tạo nên nội dung cơ bản và sự khác biệt trong mọi mặt phát triển: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức. Sự phát triển tâm lý ở lứa tuổi này diễn ra không đồng đều về mọi mặt. “Ở lứa tuổi thiếu niên có sự tồn tại song song “vừa tính trẻ con, vừa tính người lớn”, điều này phụ thuộc vào sự phát triển mạnh mẽ về cơ thể, sự phát dục, điều kiện sống, hoạt động…của các em. Mặt khác, ở những em cùng độ tuổi lại có sự khác biệt về mức độ phát triển các khía cạnh khác nhau của tính người lớn – điều này do hoàn cảnh sống, hoạt động khác nhau của các em tạo nên” [20, tr.28].

  • Hoàn cảnh đó có cả hai mặt: Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số.

Những yếu điểm của hoàn cảnh kìm hãm sự phát triển tính người lớn: trẻ chỉ bận vào việc học tập, không có những nghĩa vụ khác, nhiều bậc cha mẹ có xu thế không để cho trẻ hoạt động, làm những công việc khác nhau của gia đình, của xã hội.

Những yếu tố của hoàn cảnh thúc đẩy sự phát triển tính người lớn: sự gia tăng về thể chất, về giáo dục, nhiều bậc cha mẹ quá bận, gia đình gặp khó khăn trong đời sống, đòi hỏi trẻ phải lao động nhiều để sinh sống. Điều đó đưa đến trẻ sớm có tính độc lập, tự chủ hơn.

Đối với một số em, tri thức sách vở làm cho các em hiểu biết nhiều, nhưng còn nhiều mặt khác nhau trong đời sống thì các em hiểu biết rất ít. Ngược lại, có những em ít quan tâm đến việc học tập ở nhà trường mà chỉ quan tâm đến những vấn đề làm thế nào cho phù hợp với mốt, coi trọng việc giao tiếp với người lớn, với bạn lớn tuổi để bàn bạc, trao đổi với họ về các vấn đề trong cuộc sống, để tỏ ra mình cũng như người lớn. Ở một số em khác không biểu hiện tính người lớn ra bên ngoài, nhưng thực tế đang cố gắng rèn luyện mình có những đức tính của người lớn như: dũng cảm, tự chủ, độc lập …

Trong những giai đoạn phát triển của con người, lứa tuổi thiếu niên có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đây là thời kỳ phát triển phức tạp nhất, và cũng là thời kỳ chuẩn bị quan trọng nhất cho những bước trưởng thành sau này. Thời kỳ thiếu niên quan trọng ở chỗ: trong thời kỳ này những cơ sở, phương hướng chung của sự hình thành quan điểm xã hội và đạo đức của nhân cách được hình thành, chúng sẽ được tiếp tục phát triển trong tuổi thanh niên.

Ở lứa tuổi thiếu niên, sự phát triển cơ thể diễn ra mạnh mẽ nhưng không cân đối. Các em có sự nhảy vọt về chiều cao và sự phát dục. Xương chân và tay chóng dài nhưng cơ phát triển chậm hơn và lồng ngực phát triển chậm, nên đầu tuổi thiếu niên thường có thân hình dài, hơi gầy và ít nhiều không cân đối, làm cho các em lúng túng, vụng về, “lóng ngóng” khi làm việc. Ngoài ra sự phát triển của hệ tim – mạch cũng không cân đối, hệ thần kinh chưa có khả năng chịu đựng được các kích thích mạnh, do đó dẫn đến tình trạng không làm chủ được cảm xúc, không kiềm chế được xúc động mạnh. Các em dễ bị kích động, dễ bực tức, cáu gắt, mất bình tĩnh… Các em phản xạ có điều kiện đối với những tín hiệu trực tiếp được hình thành nhanh hơn những phản xạ có điều kiện đối với những tín hiệu từ ngữ. Do vậy, ngôn ngữ cũng thay đổi. Các em nói chậm hơn, hay “nhát gừng”, “cộc lốc”…

Nói chung lứa tuổi HS Trung học cơ sở có tính tích cực cao, có nhiều dự định trong học tập và trong cuộc sống, nhưng thiếu kiên trì, không có các định hướng rõ rệt. Do đó, phụ huynh và các thầy cô giáo, các nhà giáo dục cần có những biện pháp hợp lý trong việc giáo dục các em để đạt được những hiệu quả tốt nhất.

1.6.3. Đặc điểm học sinh Trung học cơ sở là người dân tộc thiểu số Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số.

“Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [56].

Một đặc điểm cơ bản nhất của HS Trung học cơ sở người dân tộc thiểu số là các em xuất thân từ các vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, chủ yếu là các xã thuộc vùng cao, vùng sâu, vùng xa, các huyện miền núi.

Qua nghiên cứu các tài liệu của tác giả Ngô Quang Sơn [45, 46], Phùng Đức Hải [18], Nguyễn Thị Phương Thảo [51] và một số tác giả khác, chúng tôi rút ra một số đặc điểm tâm lý, đặc điểm nhận thức và Hoạt động tự học của Học sinh dân tộc thiểu số như sau:

Đặc điểm tâm lý trong học tập: Cùng với những đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, các nét tâm lý đặc trưng của Học sinh dân tộc thiểu số có sự khác biệt rất rõ như ý chí rèn luyện, óc quan sát, trí nhớ, tính kiên trì của HS chưa được chuẩn bị chu đáo.

Quá trình chuyển hóa nhiệm vụ yêu cầu học tập cũng như cơ chế hình thành ở bản thân HS diễn ra chậm, quá trình tri giác thường gắn với hành động trực tiếp, đối tượng tri giác chủ yếu là sự vật gần gũi, khả năng tư duy kinh nghiệm của HS chưa cao so với trình độ chung của lứa tuổi, khả năng tư duy lý luận còn rất thấp so với yêu cầu. Những đặc điểm tâm lý của Học sinh dân tộc thiểu số như khả năng ghi nhớ có chủ định chậm được hình thành, khả năng tự điều chỉnh ghi nhớ có ý thức của HS còn yếu, đặc biệt về mặt ngôn ngữ còn gặp khó khăn vì trước khi đi học các em thường dùng tiếng mẹ đẻ. Trong khi đó quá trình nhận thức tiếp thu tri thức ở trường lại diễn ra bằng ngôn ngữ tiếng Việt. Vì ngôn ngữ phổ thông hạn chế, các em thường tự ti trong giao tiếp, ít hòa đồng, khó chia sẻ, nhu cầu về đời sống tinh thần hẹp.

Như vậy ở góc độ nhất định, sự giao thoa ngôn ngữ gây khó khăn trong hoạt động nhận thức khi mà công cụ tư duy bị hạn chế trong học tập, các em không biết lật lại vấn đề, không phát hiện thắc mắc, suy nghĩ sâu sắc về vấn đề học tập. Đa số HS chỉ cố gắng ghi nhớ toàn bộ lời giảng của GV rồi lặp đi lặp lại y nguyên, ngại đào sâu suy nghĩ, tìm dấu hiệu bản chất của nội dung vấn đề (còn học vẹt). Trong lối sống các em không thích sống gò bó, thường có những thói quen chưa tốt như phong cách tác phong chậm chạp, thiếu vệ sinh, chưa ngăn nắp, ảnh hưởng đến công tác đào tạo khi các em học tập tại trường.

Đặc điểm về nhận thức: Đa số Học sinh dân tộc thiểu số chưa nhận thức đầy đủ về ý nghĩa, mục đích của Hoạt động tự học trong việc cá thể hóa hoạt động học tập của bản thân, quen với nếp sống, nếp nghĩ trong sinh hoạt ở cộng đồng người dân tộc, việc đến đâu làm đến đó. Trong học tập nhiều HS cũng nhận thức như vậy, thầy dạy bao nhiêu chữ thì cố gắng học thuộc chừng đó chữ, không có nhu cầu tìm hiểu sâu hoặc phát triển, mở rộng các nội dung được học. Từ nhận thức đơn giản dẫn đến thái độ học tập khiên cưỡng, thiếu sự cầu tiến, coi tự học như việc thực hiện nội quy của nhà trường, chưa có sự tự nguyện, tự giác trong học tập. Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số.

Hoạt động tự học: Một yếu tố quan trọng có tính hệ thống là sự thay đổi phương thức học tập từ cấp tiểu học, GV thường quá sâu sát, chi tiết trong hướng dẫn học tập, HS quen với sự giúp đỡ, chỉ dẫn cụ thể, từ đó chưa tiếp cận được với cách học độc lập với nhiều hình thức học tập đa dạng, cùng với những yêu cầu tự học trong trường Trung học cơ sở. Nhận thức chưa đủ thì thái độ học tập chưa đáp ứng được các yêu cầu thiết yếu cho quá trình tự học, sự say mê và hứng thú học tập, tính kiên trì và tinh thần vượt khó, sự tự chủ và ý chí cầu tiến, khiêm tốn học hỏi và biết tự đánh giá mình.

Các em Học sinh dân tộc thiểu số ngoài học tập thường phải tham gia lao động giúp đỡ gia đình hoặc đi làm thêm những công việc nặng (đi rừng, lên rẫy, cày cấy, chăn trâu, nuôi lợn…), thời gian dành cho học tập ít. Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục và việc duy trì số lượng HS trên lớp. Song, bên cạnh đó, các em có ưu điểm về thể chất và thể lực. Một số HS ham hiểu biết và có ý chí phấn đấu, có tinh thần vượt khó, tích cực trong các hoạt động phong trào, đạt nhiều kết quả cao trong học tập và rèn luyện.

Với Học sinh dân tộc thiểu số, vừa có đặc điểm lứa tuổi, vừa có đặc điểm đặc trưng vùng miền, là những thách thức đặt ra trong mục tiêu của các nhà giáo dục. Chính vì thế, việc củng cố nhận thức học tập và hình thành phương pháp học, tự học được các trường Trung học cơ sở quan tâm và giáo dục cho HS từ đầu cấp học. Phá tan được sức cản, sự trì trệ, tư tưởng ỉ lại trong suy nghĩ về học tập sẽ giúp HS nhận thức được vai trò của tự học. Khó khăn là thế, tuy nhiên, nếu mỗi cán bộ quản lý, mỗi GV nếu nắm vững một số đặc điểm tâm lý cũng như thấu hiểu, sẻ chia và có biện pháp phù hợp đối với HS miền núi, con em đồng bào dân tộc ở vùng sâu, vùng xa thì việc giáo dục sẽ phát huy hiệu quả cao hơn.

1.7 Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số ở trường Trung học cơ sở Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số.

1.7.1 Mục tiêu quản lý hoạt động tự học

Để Hoạt động tự học có hiệu quả, công tác quản lý Hoạt động tự học cần giúp cho HS: Đảm bảo tính khoa học trong quá trình tự học, đảm bảo “học đi đôi với hành”, nâng cao dần đến mức tự giác, tích cực trong quá trình tự học, củng cố kỹ năng, kỹ xảo.

Mục tiêu quản lý Hoạt động tự học là nền tảng, cơ sở để chủ thể quản lý xác định các mục tiêu quản lý khác trong hệ thống mục tiêu quản lý của nhà trường; góp phần nâng cao chất lượng Hoạt động tự học, Hoạt động dạy học, chất lượng giáo dục HS cấp Trung học cơ sở. Vì vậy, để nâng cao chất lượng Hoạt động tự học thì chủ thể quản lý cần xác định được mục tiêu quản lý Hoạt động tự học. Mục tiêu quản lý Hoạt động tự học bao gồm mục tiêu quản lý xây dựng Kế hoạch tự học, mục tiêu quản lý việc xây dựng Nội dung tự học, mục tiêu quản lý Động cơ tự học, mục tiêu quản lý Phương pháp tự học, mục tiêu quản lý xây dựng kế hoạch kiểm tra đánh giá kết quả tự học, mục tiêu quản lý các điều kiện đảm bảo cho Hoạt động tự học.

Tựu chung lại, mục tiêu quản lý Hoạt động tự học của HS là nâng cao kết quả và chất lượng học tập của HS, chất lượng Hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục của nhà trường. Mục tiêu quản lý Hoạt động tự học không phải là cố định mà thường linh hoạt, đảm bảo tính liên tục và tính kế thừa; nội dung phải rõ ràng, cụ thể bằng các chỉ tiêu định lượng, định tính, xác định rõ về mặt thời gian và phát triển hướng đến mục tiêu lâu dài.

1.7.2 Nội dung quản lý hoạt động tự học

Quản lý và tổ chức tốt việc tự học cho HS là một giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cho các nhà trường. Đây là một việc làm mang tính cấp thiết, quyết định chất lượng đào tạo.

Nội dung quản lý hoạt động tự học của HS bao gồm nhiều hoạt động như: Quản lý việc bồi dưỡng Động cơ tự học; xây dựng và thực hiện Kế hoạch tự học; xây dựng Nội dung tự học; bồi dưỡng Phương pháp tự học; xây dựng kế hoạch kiểm tra đánh giá kết quả tự học; các điều kiện đảm bảo cho Hoạt động tự học. Quản lý Hoạt động tự học là quản lý các hoạt động học tập tích cực nhằm nâng cao hiệu quả học tập của HS và hiệu quả đào tạo của nhà trường. Công tác quản lý Hoạt động tự học ở HS là kế hoạch hóa hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của nhà trường nhằm điều khiển các tổ chức trong nhà trường thực hiện việc quản lý, kiểm tra, đôn đốc Hoạt động tự học của HS, phát huy vai trò tích cực chủ động học tập của HS.

  • Quản lý việc bồi dưỡng động cơ tự học Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số.

Mọi hoạt động của con người đều là hoạt động có mục đích, được thúc đẩy bởi động cơ nhất định, và Hoạt động tự học cũng vậy. Động cơ tự học có nguồn gốc bên trong và bên ngoài. Nguồn gốc bên trong là bản thân HS có nhu cầu, ý chí vượt khó, nỗ lực để đạt được nhiệm vụ của mình, Hoạt động tự học một cách tự giác trên cơ sở mục tiêu của Hoạt động tự học. Vì vậy, để bồi dưỡng và phát triển động cơ học tập thì nhà quản lý, thầy cô giáo phải có những biện pháp bồi dưỡng giúp HS có thái độ, động cơ học tập đúng đắn, tích cực. Ví dụ đối với động cơ có nguồn gốc bên trong thì nhà quản lý, thầy cô giáo cần tạo hứng thú, nhu cầu và ý chí học tập cho HS thông qua việc tạo môi trường học tập thân thiện, cởi mở, thông qua các hoạt động hướng nghiệp gắn liền với môn học và thực tiễn cuộc sống.

Với Động cơ tự học có nguồn gốc bên ngoài chủ thể quản lý, GV cần có những biện pháp như: động viên, khuyến khích, chia sẻ; kiểm tra đánh giá công bằng, khách quan; đảm bảo các điều kiện cơ cở vật chất,… để HS có được động cơ học tập, Động cơ tự học tốt nhất.

  • Quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch tự học

Kế hoạch tự học (KHTH) là bảng phân chia nội dung tự học theo thời gian một cách hợp lý dựa trên yêu cầu, nhiệm vụ tự học, khả năng của bản thân và các điều kiện được đảm bảo nhằm hướng tới việc nắm vững kiến thức của từng môn học. Có Kế hoạch tự học, người học sẽ thực hiện nhiệm vụ học tập một cách khoa học, năng động, sáng tạo và hiệu quả hơn.

Căn cứ vào Quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc nội trú của Bộ Giáo dục và Đào tạo (2026) [7]; Điều lệ trường Trung học cơ sở (2021) [6] cũng như điều kiện thực tế của các nhà trường, Hiệu trưởng phân công nhiệm vụ cho phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn dự thảo kế hoạch tổ chức Hoạt động tự học cho HS theo năm học. Kế hoạch này được phổ biến trước Hội đồng giáo dục nhà trường để lấy ý kiến đóng góp, bổ sung. Sau khi kế hoạch được thông qua, Hiệu trưởng nhà trường xem xét, phê duyệt và triển khai đến toàn thể GV trong nhà trường.

Trên cơ sở kế hoạch năm học, kế hoạch Hoạt động tự học, các tổ trưởng chuyên môn lập kế hoạch chi tiết, trình Ban giám hiệu phê duyệt, sau đó triển khai đến các tổ viên để thực hiện. Các GV căn cứ vào kế hoạch của nhà trường, kế hoạch của tổ và nhiệm vụ được giao để xây dựng kế hoạch tổ chức Hoạt động dạy học; chỉ đạo GV hướng dẫn HS lập kế hoạch Hoạt động tự học của bản thân.

Căn cứ vào hệ thống các kế hoạch Hiệu trưởng kiểm tra, giám sát và đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ, chức trách của các thành viên trong nhà trường. Hiệu trưởng là người quản lý, chỉ đạo chung việc xây dựng và thực hiện Kế hoạch tự học để các kế hoạch phải được đảm bảo về mục tiêu, yêu cầu, tính thống nhất cũng như tính khả thi của kế hoạch.

  • Quản lý việc xây dựng nội dung tự học Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số.

Nội dung tự học (NDTH) là hệ thống kiến thức học tập có tính bắt buộc phải hoàn thành và hệ thống kiến thức tự đào sâu, mở rộng các vấn đề, nội dung học tập mà thầy cô giảng trên lớp. Để quản lý Nội dung tự học cho phù hợp mục tiêu, yêu cầu của môn học, Cán bộ quản lý, GV cần hướng dẫn nội dung tự học cho HS.

NDTH cơ bản có hai phần, đó là: Các Nội dung tự học có tính chất bắt buộc do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định và các Nội dung tự học có tính chất mở rộng, nâng cao kiến thức.

  • Quản lý việc bồi dưỡng phương pháp tự học

PPTH là những cách thức mà cá nhân người học sử dụng để tiếp thu, xử lý nội dung học tập trong quá trình nhận thức của mình. Phương pháp tự học có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố của quá trình dạy học, bị chi phối bởi các yếu tố đó, đặc biệt là phương pháp dạy. Với chức năng tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức cho người học, phương pháp dạy học có tác dụng định hướng Phương pháp tự học cho người học.

CBQL, GV hướng dẫn cho HS PP tư duy, Phương pháp tự học, tự nghiên cứu để thích ứng với yêu cầu của xã hội hiện đại. Việc bồi dưỡng Phương pháp tự học cho HS là một vấn đề quan trọng, cần được quan tâm, để việc tự học phù hợp với đổi mới PP giảng dạy.

Tự học phải được xác định bắt đầu từ mục đích, động cơ học tập đúng đắn, qua đó hình thành cách học, phương pháp học… từ đó hình thành kỹ năng tự học. Xây dựng Phương pháp tự học của bản thân theo một kế hoạch hợp lý, là điều kiện đảm bảo giúp cho người học đạt hiệu quả học tập cao hơn. Mỗi HS cần phải xác định và chọn cho mình Phương pháp tự học phù hợp; GV, cha mẹ HS cần phải hướng dẫn và tạo điều kiện đảm bảo để HS xây dựng Kế hoạch tự học và lựa chọn Phương pháp tự học phù hợp.

  • Quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch kiểm tra đánh giá kết quả tự học

Kiểm tra việc xây dựng Kế hoạch tự học của HS hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, học kỳ, năm học và thực hiện Kế hoạch tự học theo những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ học tập nhằm phát hiện những sai lệch giúp HS điều chỉnh Kế hoạch tự học. Kiểm tra đánh giá kết quả tự học là chức năng nhiệm vụ của cán bộ quản lý và GV, qua đó nắm bắt được tình hình giảng dạy của GV và chất lượng học tập của HS. Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số.

Cần giao nhiệm vụ cụ thể cho HS, hướng dẫn chuẩn bị; tổ chức thực hiện trên lớp, ôn tập hệ thống môn học, tự đánh giá kết quả một cách chu đáo.

  • Quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động tự học

Quản lý xây dựng các điều kiện đảm bảo cho Hoạt động tự học của HS bao gồm: Quản lý cơ sở vật chất phục vụ cho việc học tập trên lớp, phòng ở (đối với HS nội trú), thời gian dành cho Hoạt động tự học; SGK, TLTK, thiết bị đồ dùng để thầy và trò cùng tích cực đổi mới Phương pháp dạy học; xây dựng nội quy, quy chế về Hoạt động tự học.

Trong quản lý Hoạt động tự học của HS cần phải phối hợp quản lý chặt chẽ tất cả các nội dung trong mối quan hệ thống nhất. Đồng thời cần phối hợp chặt chẽ các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để quản lý Hoạt động tự học trong và ngoài giờ lên lớp nhằm đảm bảo thời gian tự học của HS.

1.7.3 Biện pháp quản lý hoạt động tự học

  • Theo từ điển Tiếng Việt “Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể” [55, tr.62].
  • Biện pháp quản lý

Trong quản lý giáo dục, biện pháp quản lý là tổ hợp nhiều cách thức tiến hành của chủ thể quản lý “nhà quản lý” nhằm tác động lên đối tượng quản lý (GV, HS) để giải quyết những vấn đề trong công tác quản lý, làm cho hệ vận hành đạt mục tiêu mà chủ thể quản lý đã đề ra phù hợp với quy luật khách quan.

Quản lý còn là tổ hợp của nhiều cách thức tiến hành của chủ thể quản lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý để giải quyết những vấn đề trong công tác quản lý, khi đó người quản lý sử dụng các chức năng quản lý, công cụ quản lý một cách khéo léo đem lại hiệu quả cao nhất cho từng tình huống mà mình quản lý, làm cho quá trình quản lý vận hành đạt mục tiêu mà chủ thể quản lý đã đề ra.

Biện pháp quản lý hoạt động tự học là tổ hợp các phương pháp, các cách thức tiến hành của lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường tác động đến toàn bộ quá trình tự học của HS nhằm thúc đẩy học sinh tự giác, tích cực, chủ động tự chiếm lĩnh tri thức bằng sự cố gắng nỗ lực của chính bản thân HS. Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số.

Để quản lý tốt Hoạt động tự học của HS có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau, nhưng có thể chia thành ba nhóm biện pháp chính:

Biện pháp quản lý có tính chất hành chính, quy chế: Căn cứ điều lệ trường Trung học cơ sở, trường phổ thông có nhiều cấp học; quy chế quản lý giáo dục HS các trường dân tộc nội trú, bán trú; căn cứ quy chế chi tiêu nội bộ của nhà trường, hoàn thiện các biện pháp quản lý phù hợp với điều kiện địa phương, điều kiện nhà trường cũng như đầu tư mua sắm Cơ sở vật chất đáp ứng nhu cầu dạy và học. Xây dựng quy chế phối kết hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường.

Biện pháp quản lý có tính chất đặc thù: Tổ chức và chỉ đạo công tác tuyên truyền, vận động nhằm nâng cao nhận thức cho mọi lực lượng trong và ngoài nhà trường về tự học, tầm quan trọng của tự học và quản lý Hoạt động tự học; Chỉ đạo GV đổi mới Phương pháp dạy học để tạo động cơ, hứng thú thúc đẩy Học sinh dân tộc thiểu số tự học.

Biện pháp quản lý mang tính chất kích thích hoạt động của cá nhân: Tổ chức giúp đỡ HS kỹ năng lập Kế hoạch tự học có kiểm tra, đánh giá. Động viên kịp thời những cá nhân có thành tích cao trong học tập, những tập thể có phong trào tự quản tốt trong học tập để kích thích hứng thú và hình thành ý thức tự học trong HS.

Tiểu kết chương 1 Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số.

Từ những vấn đề lý luận đã đề cập ở trên cho thấy việc tự học của HS là một hình thức học tập quan trọng, trong đó phát huy cao nhất vai trò chủ thể, tính tích cực, độc lập nhận thức của HS. Tự học là hoạt động độc lập, chủ yếu mang tính cá nhân của người học trong quá trình nhận thức, vừa là phương tiện vừa là mục tiêu của Hoạt động dạy học. Tự học có vai trò quan trọng, quyết định đến kết quả học tập của HS, đến sự hình thành và phát triển nhân cách của HS. Muốn có kết quả học tập cao đòi hỏi HS phải có một quá trình rèn luyện thường xuyên các kỹ năng tự học mà GV giữ vai trò quan trọng trong việc định hướng giáo dục, lựa chọn các biện pháp tác động nhằm hình thành ở HS các kỹ năng tự học, giúp HS rèn luyện kỹ năng tự học. Việc rèn luyện kỹ năng tự học của HS được tiến hành trong mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động giảng dạy của GV và hoạt động dạy giữ vai trò định hướng, tổ chức, dẫn dắt và điều chỉnh Hoạt động tự học của HS.

Quản lý Hoạt động tự học thực chất là một hệ thống các tác động sư phạm có mục đích, phương pháp, kế hoạch của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường đến toàn bộ quá trình tự học của HS nhằm thúc đẩy HS tự giác, tích cực, chủ động tự chiếm lĩnh tri thức bằng sự cố gắng nỗ lực của chính bản thân.

Để tăng cường quản lý Hoạt động tự học và tạo điều kiện thuận lợi cho tự học đạt kết quả, đặc biệt với Học sinh dân tộc thiểu số ở các trường Trung học cơ sở, người Cán bộ quản lý cần có các biện pháp quản lý khoa học, khả thi, vận dụng linh hoạt với từng địa phương, vùng miền và đối tượng HS; cần chú trọng tập trung vào việc quản lý kế hoạch tổ chức Hoạt động tự học, thực hiện đổi mới nội dung, Phương pháp dạy học của GV, cải tiến việc kiểm tra đánh giá Hoạt động tự học của HS, tạo môi trường thuận lợi phục vụ cho HS tự học, ứng dụng Công nghệ thông tin, quản lý trang thiết bị, cơ sở vật chất, tài liệu học tập, tham khảo và huy động tối đa các lực lượng cùng tham gia quản lý Hoạt động tự học của HS.

Từ những cơ sở lý luận trên, chúng tôi sẽ khảo sát đối chiếu, so sánh với thực tế Hoạt động tự học và quản lý Hoạt động tự học ở các trường Trung học cơ sở có Học sinh dân tộc thiểu số ở huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh. Nội dung chủ yếu của vấn đề này được thể hiện qua chương 2. Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số

One thought on “Luận văn: Quản lý hoạt động tự học của học sinh dân tộc thiểu số

  1. Pingback: Luận văn: Biện pháp Quản lý tự học của học sinh dân tộc thiểu số

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *