Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam đang trong thời kì hội nhập và toàn cầu hóa đã mang lại nhiều thuận lợi, cơ hội và nhiều thách thức trong đó có công tác giáo dục học sinh (HS). Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng, xã hội hiện đại đang tồn tại hai mặt tốt và xấu; cái xấu len lỏi khắp mọi nơi, thậm chí còn được ngụy trang bởi những cám dỗ của nhiều cảm giác mới lạ, trò chơi nguy hiểm, bề ngoài hào nhoáng, lối sống phóng khoáng buông thả, sự xuống cấp về đạo đức của một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên,… thì việc tổ chức giáo dục giá trị sống (GTS) đã trở thành một trong những vấn đề hết sức quan trọng bởi giáo dục giá trị sống (GDGTS) là “việc tổ chức giáo dục những giá trị cốt lõi của đạo đức con người, giáo dục các chuẩn mực về đạo đức, tạo ra những cơ sở bền vững cho việc phát triển nhân cách của con người”.

Giá trị sống là đòi hỏi khách quan của xã hội. Nếu mỗi cá nhân giải quyết hợp lý những giá trị sống của cá nhân phù hợp với giá trị của dân tộc, của thời đại, thì sẽ tạo ra sự đồng thuận trong hành động của cá nhân với dân tộc và khi ấy mỗi người là một chủ thể của sự phát triển nhân cách, góp phần tích cực vào sự phát triển xã hội. Có thể khẳng định, giá trị sống vừa là mục tiêu, vừa là động lực của quá trình phát triển nhân cách. Để đạt đến mục tiêu giáo dục toàn diện, ngành giáo dục cần quan tâm đến việc giáo dục giá trị sống cho các em học sinh đặc biệt với đối tượng học sinh cấp THCS. Đây là lứa tuổi có những thay đổi lớn với những bước phát triển nhảy vọt về cả thể chất lẫn tinh thần, các em đang đang tách dần khỏi thời thơ ấu để bước sang giai đoạn phát triển cao hơn (người trưởng thành). Sự phát triển về mặt trí tuệ và nhân cách của các em trong giai đoạn này là nền tảng để tạo sự ổn định cho sự trưởng thành của các em. Với những đặc điểm đó, chúng ta thấy đây là lứa tuổi rất dễ chịu sự tác động của yếu tố bên ngoài trong quá trình hình thành và ổn định tâm lý và nhận thức bên trong. Chính vì vậy, trong giai đoạn hiện nay dưới tác động của nền kinh tế thị trường và cơ chế mở cửa và do nhiều nguyên nhân khác, những hành vi lệch chuẩn của thanh thiếu niên có xu hướng ngày càng tăng. Một bộ phận không nhỏ thanh thiếu niên học sinh hiện nay đã chỉ biết đến việc hưởng thụ, không quan tâm, không xác định được vai trò, nghĩa vụ, trách nhiệm của mình đến gia đình, xã hội, đến việc học tập và cuộc sống bản thân. Các em học sinh ở độ tuổi từ 12 đến 15 (cấp THCS) là lứa tuổi có nhiều biểu hiện hành vi đạo đức xa rời lối sống, thuần phong mỹ tục tốt đẹp của dân tộc. Chính vì vậy, nền giáo dục Việt Nam nhận thấy rõ sự cần thiết của việc giáo dục đạo đức, giáo dục giá trị sống để phát triển tâm lực cho học sinh. Phát triển tâm lực là phát triển các phẩm chất đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống, phát triển các tố chất tâm lý, là phát triển tâm hồn, hướng tới cuộc sống tinh thần lạc quan, yêu đời, vui vẻ, sống hoà nhập với cộng đồng và gần gũi với thiên nhiên; tự điều chỉnh cuộc sống cá nhân hướng tới cuộc sống có văn hoá và hạnh phúc. Khai thác, phát triển tâm lực là tạo ra nội lực của sự phát triển nhân cách bền vững và con người là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội, tự nhiên bền vững. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS.

Việc giáo dục giá trị sống cho học sinh nói chung và cho học sinh THCS nói riêng trong nhiều năm nay đã được Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT tỉnh Đắk Nông quan tâm và chỉ đạo việc thực hiện. Tuy nhiên trên thực tế, công tác này trong các nhà trường còn nhiều lúng túng và chưa thực sự có hiệu quả. Trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông, Phòng GD&ĐT huyện đã nhiều năm xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện việc giáo dục giá trị sống đặc biệt quan tâm tới cấp học THCS nhưng nhiều hoạt động còn mang tính hình thức. Giáo viên chưa được đào tạo một cách bài bản về giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống nên thiếu tính chuyên nghiệp. Việc tổ chức hoạt động giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống là có nhưng không đạt được mục tiêu đã đặt ra. Bên cạnh đó, các trường THCS trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông đã bước đầu xây dựng được các kế hoạch tổ chức các hoạt động liên quan đến giáo dục giá trị sống cho học sinh, tổ chức triển khai thực hiện nhưng vẫn còn những hạn chế từ công tác tổ chức, từ nhận thức cũng như tính khả thi của kế hoạch, tính thực tiễn của kế hoạch đề ra.

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông” với hi vọng kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục giá trị sống cũng như chất lượng giáo dục học sinh THCS trên địa bàn huyện Đắk Glong cũng như các địa bàn khác có điều kiện tương tự.

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận và đánh giá thực trạng đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS góp phần nâng cao đạo đức nói riêng, chất lượng toàn diện cho học sinh nói chung.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:

  • Nghiên cứu cơ sở lý luận quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS;
  • Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, Đắk Nông;
  • Đề xuất biện pháp quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS có hiệu quả.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

  • Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS.

3.2. Phạm vi nghiên cứu:

  • Đề tài tập trung khảo sát các nội dung quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.
  • Tiến hành khảo sát lấy ý kiến đánh giá của 60 giáo viên và cán bộ quản lý ở 08 trường THCS huyện Đắk Glong.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1. Phương pháp luận nghiên cứu đề tài

  • Nghiên cứu vấn đề theo nguyên tắc hệ thống Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS.

Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS có mối quan hệ biện chứng với nhiều yếu tố khác trong hoạt động quản lý nhà trường, chúng phụ thuộc lẫn nhau, tác động lẫn nhau. Đặc biệt trong thời kì đổi mới giáo dục hiện nay, vấn đề nghiên cứu chịu nhiều sự tác động của các yếu tố chủ quan và khách quan nên nó được xem xét như là kết quả tác động của nhiều yếu tố. Tuy nhiên, trong từng giai đoạn, từng thời điểm khác nhau, các yếu tố ảnh hưởng cũng khác nhau. Vì vậy, vấn đề nghiên cứu quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông được xem xét trong mối quan hệ về nhiều mặt.

  • Tiếp cận lịch sử

Luận văn nghiên cứu lịch sử phát triển và kinh nghiệm quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS để tìm ra ưu, nhược điểm, vận dụng vào quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.

  • Tiếp cận thực tiễn

Nghiên cứu quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS cần phải xuất phát từ thực tiễn để tìm ra những yếu điểm, hạn chế, khó khăn, thuận lợi và nguyên nhân cần giải quyết nhằm nâng cao chất lượng quản lý và đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS phù hợp với thực tiễn ở các trường THCS ở huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.

  • Tiếp cận mục tiêu

GDGTS cho học sinh THCS nhằm đạt mục tiêu giáo dục đạo đức cho học sinh THCS theo quy định của các cấp giáo dục và của nhà trường. Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS nhằm làm cho hoạt động này đạt được mục tiêu đã đề ra.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây dựng cơ sở thực tiễn của đề tài. Nhóm này có các phương pháp cụ thể sau:

  • Phương pháp thu thập dữ liệu

Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Đề tài thực hiện thu thập các dữ liệu là các báo cáo về kinh tế – xã hội, báo cáo về giáo dục THCS trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông; thu thập và nghiên cứu các thông tin khoa học tại các luận văn, luận án, các đề tài, bài báo nghiên cứu khoa học… để bổ sung các thông tin cần thiết để phân tích thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.

  • Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp
  • Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi

Mục đích: Thực hiện điều tra bằng bảng hỏi nhằm thu thập các dữ liệu khách quan từ các bên liên quan đến quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.

Nội dung khảo sát: Đề tài thực hiện lấy ý kiến về hoạt động giáo dục giá trị sống và quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông; các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS.

Đối tượng khảo sát: Thiết kế mẫu phiếu dành cho hai đối tượng: 12 cán bộ quản lý và 48 giáo viên tại 8 trường THCS trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông nhằm thu thập thông tin cần thiết phục vụ cho việc phân tích và đánh giá thực trạng vấn đề nghiên cứu.

  • Phương pháp chuyên gia

Thông qua ý kiến của các chuyên gia trong quá trình nghiên cứu lý luận, xây dựng bộ phiếu khảo sát thực trạng. Thiết kế một số câu hỏi phỏng vấn sâu đối với một số cán bộ quản lý, giáo viên ở một số trường THCS trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông để làm rõ hơn những kết quả thu được qua phiếu hỏi, đồng thời bổ sung thêm những thông tin cần thiết phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài.

  • Phương pháp thử nghiệm

Đề tài thực hiện thử nghiệm áp dụng các biện pháp tăng cường hiệu quả trong quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh tại 08 trường THCS trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông, để đánh giá được tính cần thiết cũng như tính khả thi của các biện pháp được đề xuất qua đó bảo đảm các biện pháp đề xuất đáp dựng được các nguyên tắc đề ra.

  • Phương pháp phân tích dữ liệu

Đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh… để phân tích lý luận, đánh giá thực trạng quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.

  • Phương pháp xử lý thông tin

Sử dụng phần mềm Excel, toán thống kê, lập bảng, vẽ sơ đồ, … để xử lý số liệu thu thập được.

5. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS.

5.1. Ý nghĩa lý luận

Kết quả nghiên cứu của đề tài đã xây dựng cơ sở lý luận về quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS. Kết quả này sẽ góp phần làm rõ, bổ sung, hoàn thiện lý luận về công tác quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS.

5.2. Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn chỉ ra thực trạng quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh ở các trường THCS và những yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng đó. Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất được một số biện pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS trên địa bàn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông. Kết quả nghiên cứu đề tài sẽ là tài liệu tham khảo bổ ích cho cán bộ quản lý, giáo viên của các trường THCS huyện Đắk Glong nói riêng và cán bộ quản lý, giáo viên các THCS nói chung góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.

6. Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, phần nội dung chính của luận văn được chia làm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS
  • Chương 2: Thực trạng quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.
  • Chương 3: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS trên địa bạn huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1. Tổng quan các nghiên cứu về quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS.

1.1.1. Các nghiên cứu về giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở

Trong cuốn sách: “Giáo dục hệ thống giá trị đạo đức nhân văn” của Hà Nhật Thăng [46] đã đề xuất cụ thể những giá trị cần trang bị cho học sinh, sinh viên. Nắm vững hệ thống giá trị cốt lõi, đó là cơ sở cơ bản của nhân cách, rèn luyện để thế hệ trẻ có những hành vi tương ứng với hệ thống giá trị đạo đức nhân văn cốt lõi, phù hợp với yêu cầu của xã hội, của thời đại. Những kết quả nghiên cứu trên đã được ứng dụng vào việc xây dựng chương trình và thể hiện trong sách giáo khoa ở Tiểu học, THCS, THPT của môn Đạo đức và Giáo dục công dân triển khai từ năm 2000 trên phạm vi cả nước. Đây là những tiền đề đưa công tác giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS vào các nhà trường mạnh mẽ, mang lại hiệu quả tích cực, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Giá trị sống là phải sống với từng giá trị chứ không phải chỉ là nói về các giá trị đó. Cũng như khi dạy học, chúng ta phải quan tâm đến những việc chúng ta làm chứ không phải quan tâm điều chúng ta nói, phải quan tâm đến tâm trạng của đối tượng chứ không chỉ quan tâm đến kết quả của hoạt động.

Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh Thị Kim Thoa, Đặng Hoàng Minh (2016), trong cuốn sách “Giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống cho học sinh trung học cơ sở” [33] đã nghiên cứu rất chi tiết về các giá trị sống gắn với đối tượng học sinh THCS, cuốn sách đã phân tích đặc điểm phát triển tâm lý học sinh trung học cơ sở từ đó đánh giá những yêu cầu cần thiết để thực hiện các hoạt động giáo dục giá trị sống cho đối tượng học sinh này. Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã đề xuất các hình thức, phương pháp thực hiện giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS, qua đó giúp các em hình thành những giá trị sống cơ bản qua đó có thể ứng phó với những biến động của môi trường sống.

Tác giả Phạm Mai Hồng (2024), trong luận văn thạc sĩ “Tích hợp giáo dục giá trị sống cho học sinh qua dạy học truyện ngụ ngôn trong chương trình ngữ văn Trung học cơ sở” [19] bảo vệ tại Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã cho rằng giáo dục giá trị sống là một hoạt động cần thiết trong dạy học Ngữ văn nói chung và dạy học truyện ngụ ngôn nói riêng. Tổ chức tốt hoạt động dạy học các giá trị sống trong nhà trường chính là góp phần gắn lý thuyết với thực hành, kiến thức sách vở với thực tiễn đời sống, giữa nhận thức và hành động của người học. Trong bài viết chúng tôi đề xuất những giá trị sống có thể tích hợp trong dạy học tác phẩm truyện ngụ ngôn trong chương trình Ngữ văn lớp 6, quy trình dạy học giúp học sinh hình thành những giá trị sống thông qua văn bản và phát triển những bài học giá trị sống trong thực tiễn và trở thành định hướng chi phối suy nghĩ, hành động của mỗi học sinh.

Tác giả Bùi Thị Tuyết Nhung (2023), trong luận văn thạc sĩ “Tích hợp giáo dục giá trị sống cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12”, [ 40] bảo vệ tại Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội đã tổng quan được những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu như: Vấn đề dạy học tích hợp trong môn Ngữ văn nói chung và tích hợp giáo dục các giá trị sống qua các truyện ngắn Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 nói riêng. – Khảo sát và đưa ra những nhận xét ban đầu về thực trạng dạy học tích hợp các giá trị sống trong môn Văn cũng như trong dạy các tác phẩm truyện ngắn. – Đề xuất được nội dung tích hợp giáo dục giá trị sống và các biện pháp để tích hợp giáo dục các giá trị sống cho học sinh thông qua dạy học một số tác phẩm truyện ngắn cụ thể trong chương trình Ngữ văn lớp 12. Những đề xuất có thể làm tài liệu tham khảo cho giáo viên khi dạy học nội dung này. Các nội dung trên được trình bày theo trình tự: từ lý luận đến thực tiễn, có phân tích – lý giải – đề xuất các biện pháp cụ thể để tích hợp giáo dục giá trị sống cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam chương trình lớp 12. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS.

  • Bên cạnh đó, một số bài viết khoa học nghiên cứu về giáo dục giá trị sống như:

Tác giả Bùi Thị Tuyết Nhung (2023), trong luận văn thạc sĩ “Tích hợp giáo dục giá trị sống cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12” [ 40] đã tổng quan được những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu như: Vấn đề dạy học tích hợp trong môn Ngữ văn nói chung và tích hợp giáo dục các giá trị sống qua các truyện ngắn Việt Nam trong chương trình Ngữ văn 12 nói riêng. – Khảo sát và đưa ra những nhận xét ban đầu về thực trạng dạy học tích hợp các giá trị sống trong môn Văn cũng như trong dạy các tác phẩm truyện ngắn. – Đề xuất được nội dung tích hợp giáo dục giá trị sống và các biện pháp để tích hợp giáo dục các giá trị sống cho học sinh thông qua dạy học một số tác phẩm truyện ngắn cụ thể trong chương trình Ngữ văn lớp 12. Những đề xuất có thể làm tài liệu tham khảo cho giáo viên khi dạy học nội dung này. Các nội dung trên được trình bày theo trình tự: từ lý luận đến thực tiễn, có phân tích – lý giải – đề xuất các biện pháp cụ thể để tích hợp giáo dục giá trị sống cho học sinh qua dạy học truyện ngắn Việt Nam chương trình lớp 12.

Trong bài giáo dục giá trị sống cho học sinh trong nhà trường THPT, Nguyễn Bội Quỳnh (2023) trình bày: Một số quan niệm về giá trị; Mười hai giá trị sống phổ quát mang tính chung toàn cầu cần giáo dục cho thế hệ trẻ; Giá trị truyền thống trong đời sống tinh thần của dân tộc; Giáo dục giá trị sống cho học sinh trong nhà trường. Theo tác giả, xu thế toàn cầu hoá và cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển như vũ bão hiện nay đã đặt ra nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với nguồn nhân lực có chất lượng cao. Theo đó, giáo dục giá trị sống trong nhà trường phổ thông đóng vai trò đặc biệt quan trọng, tạo nên sự phát triển hài hòa của cá nhân trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

Trong bài Tích hợp giáo dục giá trị sống trong giảng dạy phần công dân với đạo đức, Tác giả Phan Thị Thành (2026) [45] đã khẳng định giá trị sống có ý nghĩa quan trọng đối với việc định hướng hành động cho học sinh. Trong mỗi tiết học trên lớp nói chung và đối với môn Giáo dục công dân nói riêng, học sinh được học tập trong bầu không khí lấy giá trị sống làm nền tảng thông qua việc giáo viên sử dụng sáng tạo các phương pháp dạy học tích cực khi tích hợp các nội dung môn học với giáo dục giá trị sống sẽ giúp bài giảng sẽ hấp dẫn và hứng thú đối với học sinh. Đồng thời, trong các tiết học đó cũng giúp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh; giúp các em tự giác lĩnh hội tri thức, phát triển kĩ năng, năng lực cần thiết và có những lựa chọn, hành động, lí tưởng, ước mơ sống đẹp, sống có ý nghĩa dựa trên nền tảng giá trị sống đẹp.

Việc giáo dục kĩ năng sống sẽ không đạt kết quả nếu chúng ta không quan tâm đến giáo dục giá trị sống. Như chúng ta đã biết, giá trị sống của mỗi cá nhân không thể tự nhiên mà có mà nó được hình thành nhờ vào quá trình tự nhận thức và sự trải nghiệm của mỗi người. Tuy nhiên giai đoạn quan trọng nhất và có ý nghĩa nhất là tuổi vị thành niên (9-10 tuổi đến 17-18 tuổi). Nhà trường giúp người học hình thành và phát triển hệ giá trị của từng người: Tâm lực, trí lực, thể lực – giá trị học thức, giá trị sống, giá trị tay nghề và lương tâm nghề, giá trị đóng góp… giá trị tự khẳng định mình…

1.1.2 Các nghiên cứu về quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS.

Hiện nay có nhiều tác giả đã có những nghiên cứu mang tính hệ thống, những quan điểm, những cách nhìn và những kinh nghiệm trong công tác quản lý giáo dục nói chung và quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh… Mỗi tác giả đi sâu nghiên cứu về một phương diện nào đó, song đều đề cập đến vấn đề quản lý giáo dục, quản lý trường học.

Tác giả Trần Kiểm (2018), trong cuốn sách “Khoa học quản lý giáo dục” [27] đã trình bày một cách hệ thống và sâu sắc về công tác quản lý và quản lý giáo dục, quản lý nhà nước về giáo dục, đổi mới quản lý giáo dục, quản lý và lãnh đạo nhà trường. Về tổng quan và chi tiết về các vấn đề của quản lý giáo dục, tác giả đã cung cấp những tri thức, hình thành những kĩ năng, thái độ, giá trị về quản lý giáo dục và chỉ ra quy trình tiến hành cụ thể trong công tác quản lý giáo dục, từ hoạch định chiến lược đến kế hoạch công tác, quản lý từng lĩnh vực như tổ chức, nhân sự, tài chính và các nguồn lực khác trong nhà trường.

Tác giả Đặng Quốc Bảo và Nguyễn Thành Vinh (2017), trong cuốn “Quản lý nhà trường” [3] đã phân tích các quan điểm về quản lý nói chung và quản lý giáo dục nói riêng với những đặc trưng hoạt động quản lý và các chức năng quản lý. Nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống nói chung, quản lý hoạt động giáo dục kĩ năng sống cho học sinh nói riêng chủ yếu phục vụ cho việc hoạch định chính sách về giáo dục kĩ năng sống. Vì thế, những kết quả nghiên cứu này được thể hiện qua nội dung của những chính sách cụ thể có liên quan đến giáo dục kĩ năng sống cho các đối tượng, trong đó có đối tượng là học sinh THCS.

Tác giả Lục Thị Nga và Nguyễn Thanh Bình (2018), trong cuốn sách “Hiệu trưởng trường trung học với vấn đề giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống và giao tiếp ứng xử trong quản lý” [38] đã phân tích tầm quan trọng của kĩ năng sống trong việc hình thành và phát triển nhân cách học sinh và cho rằng: Nhân cách được hình thành qua hai con đường cơ bản trong nhà trường: con đường dạy học và con đường giáo dục ngoài giờ lên lớp. Bên cạnh việc làm rõ những vấn đề cơ bản về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh, phương pháp dạy học tích hợp kĩ năng sống vào môn Khoa học tác giả đưa ra phương pháp dạy học tích hợp kĩ năng sống vào hoạt động ngoài giờ lên lớp và phân tích ý nghĩa thực tiễn của HĐ giáo dục ngoài giờ lên lớp trong việc rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh và chỉ ra những yếu tố cần thiết, hiệu quả của hoạt động ngoài giờ lên lớp trong việc nâng cao chất lượng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS.

Tác giả Lê Anh Tuấn (2017), trong luận văn thạc sĩ “Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh ở trường trung học phổ thông Huyện Thạch Thất, Hà Nội hiện nay” [47] đã nghiên cứu cơ sở lý luận của việc quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh ở trường phổ thông của hiệu trưởng trường Trung học phổ thông (THPT). Khảo sát, đánh giá thực trạng về giáo dục giá trị sống và quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trong các trường trung học phổ thông ở huyện Thạch Thất, Hà Nội. Xác định các biện pháp quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh của hiệu trưởng trường THPT hiện nay.

Tác giả Phạm Thị Nga (2022), trong luận án tiến sĩ “Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống và kĩ năng sống cho học sinh các trường Trung học cơ sở trong bối cảnh đổi mới giáo dục” [39] với cách tiếp cận chức năng đã đề xuất 6 biện pháp bao quát hết các chức năng quản lý, kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, xuyên suốt mọi hoạt động trong trường (giờ học, ngoài giờ lên lớp, vui chơi , giải trí, sử dụng các hình thức, phương pháp giáo dục…), đồng thời huy động các lực lượng khác cùng tham gia như các đồng chủ thể. Tuy nhiên, Phạm Thị Nga chưa xây dựng được bộ tiêu chí đánh giá về quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống;

Tác giả Dương Thị Hường (2022), trong luận văn thạc sĩ “Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống- kỹ năng sống cho học sinh ở trường trung học phổ thông Triệu Quang Phục, tỉnh Hưng Yên” [21]. Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về giáo dục và quản lý giáo dục giá trị sống- kỹ năng sống; thực tiễn giáo dục giá trị sống – kỹ năng sống và quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống – kỹ năng sống ở trường trung học phổ thông, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống ở trường trung học phổ thông Triệu Quang Phục, tỉnh Hưng Yên, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống- kỹ năng sống ở nhà trường. Các biện pháp này có tính cần thiết và tính khả thi cao. Nếu áp dụng đồng bộ các biện pháp này sẽ nâng cao chất lượng quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống – kỹ năng sống ở trường trung học phổ thông Triệu Quang Phục, tỉnh Hưng Yên.

Bên cạnh đó còn các nghiên cứu như: Nguyễn Thị Hạnh (2024), Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh trường Trung học phổ thông Thanh Oai A thành phố Hà Nội [16]; Nguyễn Thị Phi Nga (2019), Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống cho học sinh trường tiểu học Trần Phú, thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội [37]. Chử Hồng Chính (2022), Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống ở trường THPT huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ [10] …

Để nâng cao chất lượng giáo dục giá trị sống, đã có một số nhà khoa học nghiên cứu về quản lý công tác giáo dục giá trị sống trong các nhà trường. Con số này còn vô cùng ít ỏi, và cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu về những biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông. Đề tài “Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông” là sự kế thừa các nghiên cứu đi trước để làm rõ thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông cũng như ở các huyện khác có điều kiện, hoàn cảnh tương tự trên địa bàn tỉnh Đắk Nông.

1.2. Lý luận về hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS.

1.2.1. Khái niệm hoạt động giáo dục giá trị sống

Theo nghĩa chung nhất như J.H Fichter, nhà xã hội học Mỹ, xác định: “Tất cả những cái gì có ích lợi, đáng ham chuộng, đáng kính phục đối với cá nhân hoặc xã hội đều có một giá trị” [33, tr.46]. Giá trị sống là tất cả những cái gì (vật chất, tinh thần) có ích lợi, đáng ham chuộng, quý giá, quan trọng, có ý nghĩa đối với cuộc sống, khiến mỗi người mong muốn lĩnh hội, thể hiện ra để cuộc sống của mình tốt đẹp hơn và góp phần cải thiện cuộc sống chung.

Trong một khoá tập huấn về giá trị sống tại Đại học quốc gia Hà Nội, bà Trish Summerfield – Giám đốc Trung tâm giáo dục giá trị sống tại Việt Nam đã giới thiệu về 12 giá trị sống mang tính phổ quát nhất của cuộc sống. Đó là: Hoà bình, tôn trọng, hợp tác, đoàn kết, trách nhiệm, khoan dung, khiêm tốn, giản dị, trung thực, yêu thương, tự do và hạnh phúc [33].

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về giá trị sống, nhưng có thể thấy có những điểm chung như sau: giá trị sống là những thứ về tinh thần và giá trị của vật chất giúp con người sống có ý nghĩa.

Giá trị tinh thần: Những giá trị phẩm chất nhân cách, đạo đức bản thân (khoan dung, khiêm tốn, giản dị, trung thực, yêu thương, hạnh phúc); Những giá trị quan hệ liên nhân cách, quan hệ với nhóm, với cộng đồng, … (tôn trọng, hợp tác, đoàn kết, trách nhiệm). Đồng thời cũng quan tâm đến một số giá trị chung (hoà bình, tự do, …).

Giá trị của vật chất: không phải đánh giá giá trị của vật chất (to hay nhỏ, quý hay không quý, nhiều hay ít) mà là giá trị của vật chất đối với sự sống, sự phát triển của con người và xã hội.

Giá trị sống có tính khách quan: cuốn hút con người, làm con người sống, tồn tại, phát triển với tư cách là chủ thể tích cực của tự nhiên, xã hội, của sự phát triển nhân cách.

Giá trị sống không phải là chuẩn mực, giá trị do con người tự đặt ra, mà là do yêu cầu khách quan của cuộc sống quy định cái giá trị, giá trị sống ở các thời kỳ lịch sử khác nhau. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS.

Giá trị sống có ý nghĩa và vai trò quan trọng tạo ra động lực thúc đẩy con người phát triển: tạo ra động cơ cho hành động, hành vi; thúc đẩy ham muốn hướng đến chân, thiện, mỹ; giải quyết tốt những mâu thuẫn của cá nhân với cộng đồng, với tự nhiên, …

Mỗi người là một cá thể riêng biệt vì thế giá trị sống cũng mang tính cá nhân, không phải giá trị sống của mọi người đều giống nhau. Tuy nhiên, theo các tổ chức giáo dục về giá trị sống quốc tế và Việt Nam thì 12 giá trị sống dưới dây có tính chất phổ quát trên toàn thế giới.

Giáo dục (theo nghĩa rộng) là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức, có nội dung và bằng phương pháp khoa học của nhà giáo dục tới người được giáo dục trong các cơ quan giáo dục, nhằm hình thành nhân cách cho họ [30, tr.22].

Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là quá trình hình thành cho người được giáo dục lý tưởng, động cơ tình cảm, niềm tin, những nét tính cách của nhân cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thông qua việc tổ chức cho họ các hoạt động và giao lưu [30, tr.22].

Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của giáo dục là kế thừa quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm đã được tích lũy trong quá trình phát triển của xã hội loài người. Thế hệ đi trước truyền đạt cho thế hệ đi sau, thế hệ đi sau có trách nhiệm lĩnh hội, kế thừa, phát triển và bổ sung những kinh nghiệm đó”.

Từ những khái niệm trên, trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS được hiểu là quá trình giúp các em tiếp thu, lĩnh hội được những giá trị phổ quát của xã hội, biến thành những giá trị đặc trưng của bản thân mỗi học sinh, giúp cho các em có suy nghĩ, thái độ và hành động tích cực, hiệu quả, phù hợp với bản thân và đáp ứng mong đợi của cộng đồng, xã hội.

1.2.2. Hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS.

  • Mục tiêu hoạt động giáo dục giá trị sống

Mục tiêu giáo dục giá trị sống là một quá trình tổ chức tác động có chủ định của các lực lượng giáo dục, trong đó giáo dục nhà trường giữ vai trò chủ đạo để tạo ra sự thống nhất tác động giáo dục, tận dụng những yếu tố tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực tới học sinh nhằm phát huy tính tích cực tự giác rèn luyện, tạo ra động cơ, thái độ đúng đắn trong cuộc sống, học tập và hoạt động xã hội. Từ đó, học sinh sống tốt đẹp hơn, làm việc chất lượng hơn, hiệu quả hơn, đem lại lợi ích trước hết cho học sinh đồng thời cho gia đình, nhà trường và xã hội [33].

Đối với học sinh THCS, nội dung giáo dục giá trị sống cần hệ thống hoá những giá trị sống phổ quát, nhưng mở rộng và nâng nội dung lên một tầm cao đáp ứng yêu cầu của cuộc sống đương đại. Hướng các em vươn tới nhân cách lý tưởng mang những giá trị phổ quát của một thanh niên thời đại, không chỉ của dân tộc mà còn của nhân loại trong một thế giới mở.

Nói tóm lại, mục tiêu của giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS không dừng lại ở việc làm thay đổi nhận thức cho học sinh bằng cách cung cấp thông tin, tri thức mà tập trung vào mục tiêu rèn luyện những kỹ năng sống thiết yếu đồng thời gây dựng niềm tin và hình thành nhân cách sống cao đẹp.

  • Nội dung hoạt động giáo dục giá trị sống

Chương trình giáo dục giá trị sống lần đầu tiên được đưa ra vào năm 1995. Khi đó 186 thành viên trong tổ chức Liên Hợp Quốc đã chọn ra 12 giá trị cốt lõi nhất mang tính chất chung toàn cầu. 12 giá trị sống phổ quát này chủ yếu hướng vào những giá trị tinh thần mà không đề cập đến giá trị tiền bạc, giàu sang, sức khỏe…

Chương trình đã được đưa vào thực hiện ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam với mục tiêu chung nhằm kêu gọi, chia sẻ các giá trị vì một thế giới tươi đẹp hơn. Mỗi giá trị cốt lõi này đều đã có trong mỗi con người bất kể sự khác nhau về quốc tịch, màu da, văn hóa. Khi mọi người cùng vươn tới những giá trị đó, họ sẽ xích lại gần nhau chia sẻ, thông cảm với nhau và cuộc sống của tất cả mọi người trên trái đất đều thống nhất với nhau trong thế giới hòa bình, tôn trọng và hạnh phúc.

  • Nội dung chương trình giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS cũng được xây dựng trên 12 giá trị cốt lõi này. Đó là:

Hòa bình: Hòa bình không đơn giản chỉ là sự vắng bóng của chiến tranh. Hòa bình là khi chúng ta sống hòa thuận và sự đấu đá lẫn nhau. Nếu mỗi người đều cảm thấy bình yên ở trong lòng thì hòa bình sẽ ngự trị khắp nơi trên thế giới. Thanh bình không có nghĩa là vắng bóng sóng gió mà chính là ta vẫn giữ được lòng bình an giữa những biến động, hỗn loạn của cuộc đời. Bình an có được khi mọi tư tưởng, tình cảm và ước muốn của con người đều trong sáng. Những nội dung chính liên quan đến chủ đề hòa bình được giáo dục cho học sinh THCS có thể mang lại cho các em sự khước từ bạo lực để sống khoan dung, độ lượng, chia sẻ với mọi người, quan tâm và tôn trọng lẫn nhau. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS.

Tôn trọng: Tôn trọng trước hết là tự trọng, là biết rằng tự bản thân mình có giá trị. Bẩm sinh con người là vốn quý giá. Một phần của lòng tự trọng là biết về các phẩm chất của mình. Tôn trọng bản thân là hạt giống để sự tự tin lớn lên. Khi biết tôn trọng bản thân, ta mới có thể biết tôn trọng người khác. Nhận biết giá trị của bản thân và trân trọng giá trị của người khác chính là cách thức để ta nhận được sự tôn trọng.

Yêu thương: Tình yêu là giá trị làm cho mối quan hệ giữa con người với con người trở nên tốt đẹp hơn. Tình yêu là nền tảng tạo dựng và nuôi dưỡng các mối quan hệ một cách chân thành và bền vững nhất. Yêu thương có nghĩa là tôi có thể trở thành người tử tế, biết quan tâm và thông hiểu người khác. Yêu thương người khác cũng đồng nghĩa với việc mong muốn những điều tốt đẹp đến với họ. Yêu thương là biết lắng nghe và chia sẻ. Giáo dục giá trị yêu thương cho các em học sinh đặc biệt đối với lứa tuổi THCS (một lứa tuổi đang định hình cái tôi cá nhân rất rõ nét) sẽ giúp các em vượt qua tính vị kỉ, chỉ biết mỗi bản thân mình để đồng cảm, chia sẻ với mọi người xung quanh từ đó định hướng phát triển nhân cách cao đẹp.

Khoan dung: Khoan dung là tôn trọng và chấp nhận sự khác biệt, sự đa dạng giữa người với người thông qua sự hiểu biết lẫn nhau. Khoan dung là sự cởi mở và nhận ra vẻ đẹp của những điều khác biệt đó. Khoan dung đối với những điều không thuận lợi trong cuộc sống là biết cho qua đi, trở nên nhẹ nhàng, thanh thản và tiếp tục tiến lên. Người biết trân trọng những giá trị tốt đẹp ở người khác và nhìn thấy những điều tích cực trong mọi tình huống là người có lòng khoan dung. Hạt giống khoan dung và yêu thương cần được gieo mầm trong mảnh đất tâm hồn của các em học sinh để các em biết động long trắc ẩn và biết tha thứ cho những sai lầm của người khác.

Trung thực: Trung thực có nghĩa là không có sự khác biệt giữa tư tưởng, lời nói với việc làm và khiến cho mọi người gần nhau hơn. Trung thực làm cho cuộc sống trở nên toàn vẹn hơn vì bên trong và bên ngoài chúng ta là một hình ảnh phản chiếu. Khi trung thực con người cảm thấy trong sáng và nhẹ nhàng. Một người trung thực và chân chính thì xứng đáng được tin cậy. Trung thực với bản thân và với mọi người trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng có nghĩa là ta đang gieo niềm tin trong lòng người khác và xứng đáng nhận được sự tin yêu. Khi sống trung thực, một người có thể học và giúp đỡ người khác biết cách trao tặng. Đôi khi lòng tham là gốc rễ của sự thiếu trung thực và sự bất lương. Người sống trung thực sẽ biết thế nào là đủ và không tham lam. Giáo dục cho các em học sinh nói chung và học sinh THCS nói riêng giá trị và cách sống trung thực chính là chúng ta đã cho các em cái nền tảng cho các mối quan hệ tốt đẹp sau này. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS.

Khiêm tốn: Khiêm tốn cho phép bản thân ta trưởng thành với phẩm giá và lòng chính trực mà không cần đến những bằng chứng thể hiện bên ngoài. Khiêm tốn giúp người ta trở nên tuyệt vời hơn trong trái tim người khác. Việc gây ấn tượng, lấn át hoặc hạn chế tự do của người khác nhằm mục đích chứng tỏ bản thân mình sẽ chỉ làm giảm bớt trải nghiệm nội tâm về giá trị, phẩm cách và bình an trong tâm hồn. giáo dục giá trị sống khiêm tốn cho các em học sinh THCS là giáo dục các em cách nói năng dịu dàng, ăn mặc giản dị, không khoác loác, khoe khoang, biết lắng nghe người khác.

Hợp tác:Tinh thần hợp tác tồn tại khi mọi người làm việc cùng nhau vì mục đích chung. Một người biết hợp tác cần biết thể hiện và đóng góp vì sự phát triển của cá nhân và tập thể, biết lắng nghe ý kiến của tập thể. Một người biết hợp tác thì sẽ nhận được sự hợp tác. Người có tinh thần hợp tác là người có tâm hồn trong sáng, luôn mong muốn những điều tốt đẹp đến với mọi người cũng như công việc. Khi hợp tác, ta cần phải biết điều gì là cần thiết. Đôi khi ta cần đưa ra ý tưởng nhưng có lúc ta cần phải gác qua một bên ý tưởng của mình. Lúc này, ta giữ vai trò dẫn dắt, lãnh đạo, nhưng vào lúc khác, ta cần phải đi theo.

Hạnh phúc: Hạnh phúc là trạng thái bình an của tâm hồn con người. Hạnh phúc sẽ mỉm cười khi lòng ta tràn ngập hy vọng và sống có mục đích. Khi tâm hồn bình yên và giàu tình yêu thương, hạnh phúc sẽ tự nhân lên. Khi mong muốn những điều tốt lành đến với mọi người, ta sẽ cảm thấy hạnh phúc tràn ngập con tim. Những lời nói tốt đẹp về mọi người mang lại sự hạnh phúc về nội tâm. Những hành động trong sáng và quên mình sẽ đem đến hạnh phúc. Giá trị cốt lõi của con người là sự bình an. Chừng nào chúng ta chưa trải nghiệm được sự bình an thì chúng ta chưa cảm nhận được thế nào là sự hạnh phúc. giáo dục giá trị sống hạnh phúc cho các em học sinh THCS sẽ giúp các em biết trân trọng những gì mình đang có, hạnh phúc đến từ những điều rất nhỏ bé chứ không phải là những ước vọng cao siêu, huyễn hoặc. Từ sự cảm nhận về hạnh phúc của bản thân sẽ giúp các em biết mang đến hạnh phúc cho người khác.

Trách nhiệm: Nếu chúng ta muốn được hòa bình, chúng ta phải có trách nhiệm sống bình yên. Muốn có một thế giới hài hòa chúng ta phải có trách nhiệm chăm sóc thiên nhiên. Một người được coi là có trách nhiệm khi người đó đồng ý góp phần để gánh vác công việc chung với những thành viên khác. Người có trách nhiệm luôn sẵn lòng đóng góp công sức của mình. Trách nhiệm không phải là điều ràng buộc chúng ta mà nó tạo điều kiện để ta có được những gì ta mong muốn. Người có trách nhiệm là người biết thế nào là công bằng và thấy rằng mỗi người đều nhận được phần của mình. Sống có trách nhiệm là một giá trị vô cùng quan trọng cần giáo dục cho các em học sinh, đây là một phẩm chất không thể thiếu của người công dân. Trách nhiệm với chính bản thân mình, trách nhiệm với gia đình và xã hội. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS.

Giản dị:Giản dị là sống một cách tự nhiên, không giả tạo. Giản dị là biết trân trọng những điều nhỏ bé, bình thường trong cuộc sống. Giản dị là sự trân trọng vẻ đẹp bên trong và nhận ra giá trị của tất cả mọi người, ngay cả những người được xem là xấu xa, tồi tệ. Giản dị giúp chúng ta biết giảm thiểu những chi tiêu không cần thiết. Nó giúp ta nhận ra rằng một khi các nhu cầu cơ bản của chúng ta được đáp ứng, đủ để ta có một cuộc sống thoải mái thì bất kỳ sự thái quá và thừa thãi nào cũng có thể dẫn tới tình trạng hư hỏng và lãng phí.

Tự do: Tất cả mọi người đều có quyền tự do. Trong sự tự do ấy, mỗi người phải có trách nhiệm tôn trọng quyền tự do của những người khác. Tự do có thể bị hiểu lầm là một điều gì đó không có giới hạn, tức là cho phép mình “làm những gì tôi muốn, bất cứ khi nào tôi cần và bất cứ người nào tôi thích”. Cách hiểu này mang tính chất đánh lừa và dễ dẫn người ta đến việc lạm dụng sự lựa chọn.Chúng ta chỉ thật sự cảm thấy tự do khi các quyền được cân bằng với trách nhiệm, sự lựa chọn được cân bằng với lương tâm. Lứa tuổi THCS là lứa tuổi đang có sự biến chuyển mạnh mẽ về tâm sinh lí, các em đang rất mong được thoát khỏi những khuôn khổ và chuẩn mực, đòi hỏi sự tự do cho bản thân. Giáo dục giá trị Tự do cho các em học sinh THCS sẽ giúp các em có nhận thức đúng đắn về sự tự do, tránh sự tác động xấu dẫn đến những hành vi tiêu cực vì chưa nhận thức được giới hạn của sự tự do.

Đoàn kết: Đoàn kết là sự hòa thuận. Đoàn kết được tồn tại nhờ việc chấp nhận và hiểu rõ giá trị của mỗi người, cũng như biết đánh giá đúng sự đóng góp của họ đối với tập thể. Đoàn kết giúp cho những nhiệm vụ khó khăn trở nên dễ dàng. Đoàn kết mang đến tinh thần hợp tác, nâng cao lòng nhiệt tình và làm cho bầu không khí trở nên ấm áp.Chỉ cần một biểu hiện của sự thiếu tôn trọng cũng có thể khiến cho mối đoàn kết bị đổ vỡ. Việc ngắt lời, gây cản trở người khác, đưa ra những lời phê bình, chỉ trích liên tục và thiếu tính xây dựng… sẽ ảnh hưởng không tốt đến các mối quan hệ. Đoàn kết là nền tảng của sự phát triển bền vững. Có đoàn kết mới có dân chủ. Trong xu thế hội nhập hiện nay của thế giới, đoàn kết lại càng trở nên có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Chúng ta phải biết đoàn kết để tạo nên sức mạnh tổng hợp, cùng hướng tới một sự phát triển bền vững.Cần giáo dục giá trị Đoàn kết cho học sinh để các em hiểu được ý nghĩa của tinh thần đoàn kết và tự biết xây dựng cho mình tinh thần đoàn kết trong tập thể. Biết đoàn kết là các em đã biết yêu thương, chia sẻ, cảm thông và tôn trọng người khác.

  • Phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục giá trị sống Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS.

Phương pháp giáo dục giá trị sống là cách thức hoạt động chung giữa giáo viên, tập thể học sinh và từng học sinh lĩnh hội được những giá trị sống. giáo dục giá trị sống cần trải qua một quá trình vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật cao. Từ những năm 90 của thế kỷ XX, người ta đã bàn luận rất nhiều về hai khái niệm giá trị sống và Kỹ năng sống khi giáo dục nhân cách cho các em học sinh. Nhưng phương pháp giáo dục như thế nào thì lại là một vấn đề còn rất chung chung, trừu tượng. Nhận thức tầm quan trọng của việc giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống, ngày 31/5/2018 Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ban hành Kế hoạch số 444/KH-BGDĐT về việc tập huấn các cán bộ cốt cán trong nhà trường về phương pháp giáo dục giá trị sống và kỹ năng sống. Thực hiện kế hoạch trên Bộ GD&ĐT đã phối hợp với tổ chức Hợp tác phát triển và hỗ trợ kỹ thuật vùng Fla măng, Vương quốc Bỉ (VVOB Việt Nam) triển khai công tác tập huấn nâng cao năng lực giáo dục giá trị sống và Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho đội ngũ cán bộ cốt cán tại các trường THPT và THCS. Trong đó có bàn luận sâu sắc về phương pháp giáo dục giá trị sống với một khung lý thuyết như sau [7]:

  • Xây dựng bầu không khí dựa trên nền tảng các giá trị để tất cả mọi người đều được cảm nhận tình yêu thương, thấy mình có giá trị, được tôn trọng và an toàn.

Việc tạo nên bầu không khí dựa trên các giá trị trong bước chuẩn bị môi trường học tập là điều rất cần thiết để khám phá và phát huy tối đa các giá trị tích cực. Một môi trường giáo dục lấy người học là trung tâm, trong đó các mối quan hệ dựa trên lòng tin cậy, quan tâm và tôn trọng sẽ khơi dậy động cơ tốt đẹp, sự sáng tạo tự nhiên và gia tăng sự hiểu biết, đồng cảm. Người dạy và người học có cơ hội phát huy tối đa tiềm năng của mình trong một môi trường học tập có sự khuyến khích, ủng hộ, quan tâm và sáng tạo. Mọi hình thức kiểm soát bằng cách đe dọa, trừng phạt, gây sợ hãi, xấu hổ chỉ khiến học viên cảm thấy không phù hợp, tổng thương, ngại ngùng và bất an.

Thấu hiểu các yếu tố hỗ trợ, khám phá các giá trị: Mỗi hoạt động giá trị sống bắt đầu với 3 yếu tố hỗ trợ việc khám phá các giá trị bao gồm:

  • Tiếp nhận thông tin: Đây là cách dạy giá trị theo kiểu truyền thống. Sách vở, chuyện kể, các nguồn thông tin có thể trở thành trợ thủ đắc lực trong việc khám phá các giá trị
  • Suy ngẫm: Các hoạt động tưởng tượng và suy ngẫm đòi hỏi học viên phải đưa ra ý tưởng của riêng mình.
  • Khám phá các giá trị qua thực tiễn cuộc sống. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS.

Tổ chức thảo luận: Việc tạo một không gian thảo luận cởi mở, tôn trọng lẫn nhau là điều rất quan trọng và cần thiết. Một không gian như vậy giúp việc chia sẻ trở nên dễ dàng và thoải mái hơn. Việc bày tỏ những cảm giác, cảm nhận sau mỗi câu hỏi có thể làm sáng tỏ quan điểm cá nhân và dễ tìm được sự đồng cảm hơn. Thảo luận trong một môi trường mang tính hỗ trợ có thể giúp hàn gắn, chữa lành vết thương rất hiệu quả.Quá trình thảo luận còn có thể giúp chấp nhận điều tiêu cực, từ đó tạo bầu không khí cởi mở để tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến những tiêu cực này. Khi tất cả được thực hiện với sự tôn trọng chân thành, học sinh sẽ dần tháo bỏ được “hàng rào phòng thủ” để biện minh cho những tiêu cực của mình. Một khi những giá trị tích cực được khám phá, các em học sinh sẽ cảm thấy bản thân mình có giá trị, dần dần thấy tự do và có ý chí mạnh mẽ để hành động khác đi.

Khám phá các ý tưởng là hoạt động tự suy ngẫm hoặc lên kế hoạch cho nhóm về những hoạt động nghệ thuật, viết nhật ký hoặc kịch. Các hoạt động giá trị có thể khơi dậy niềm thích thú thật sự ở học viên, cổ vũ cho quá trình “học thật” và thúc đẩy chuyển hóa động cơ thành hành động cụ thể. Phương pháp này có thể giúp giáo viên hiểu và hỗ trợ học sinh:Thể hiện hiểu biết và cảm nhận về giá trị một cách sáng tạo; Phát triển các kỹ năng: kỹ năng xã hội và cảm xúc bản thân, kỹ năng giao tiếp; Phát triển mối quan hệ xã hội, môi trường và thế giới.

Đưa các giá trị vào cuộc sống: thầy cô giáo hướng dẫn học sinh ứng dụng các hành vi dựa trên nền tảng giá trị với gia đình, xã hội và môi trường. Học sinh được yêu cầu lập những kế hoạch để làm mẫu các giá trị khác nhau trong lớp học, trường hoặc cộng đồng.Học sinh được khuyến khích chia sẻ những vở kịch và bản nhạc của mình cho bạn đồng trang lứa và cho những học sinh nhỏ tuổi hơn. Chính việc cảm thấy bản thân có khả năng tạo nên sự khác biệt sẽ xây dựng lòng tự tin và cam kết sống với các giá trị.

  • Hình thức tổ chức giáo dục giá trị sống

GDGTS thông qua hoạt động dạy học. Một trong những hình thức quan trọng nhất để giáo dục giá trị sống cho học sinh là đưa việc giáo dục các giá trị sống vào các môn học. Nhà trường là một tổ chức giáo dục chuyên nghiệp có nội cung chương trình, có phương tiện và phương pháp hiện đại, do một đội ngũ các nhà sư phạm đã được đào tạo bài bản thực hiện. Nhà trường là môi trường giáo dục thuận lợi, có tập thể học sinh cùng nhau học tập, rèn luyện và tu dưỡng. Trong nhà trường, học sinh được tiếp thu những khái niệm đạo đức, văn hóa, thẩm mỹ, những quy tắc, chuẩn mực xã hội thông qua các môn học. Dạy học là hình thức giáo dục chủ động, có hiệu quả, giúp thế hệ trẻ hiểu và đưa các giá trị sống vào thực tế.

GDGTS thông qua sinh hoạt động tập thể: tổ chức cho học sinh sinh hoạt tập thể là hoạt động giáo dục quan trọng của nhà trường. Tập thể là một tập hợp nhiều cá nhân cùng hoạt động theo một mục đích tốt đẹp. Trong cuộc sống tập thể, các cá nhân cùng nhau hoạt động, tinh thần đoàn kết, tinh thần thân ái, tinh thần hợp tác cộng đồng được hình thành, bản thân học sinh cũng ý thức được những giá trị sống cơ bản đồng thời biết cách đưa những giá trị sống ấy vào cuộc sống sinh hoạt tập thể, hình thành phẩm chất nhân cách tốt phù hợp với cộng đồng. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS.

  • Các lực lượng tham gia vào giáo dục giá trị sống cho học sinh

Lực lượng giáo dục là những người tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc giáo dục học sinh. Lực lượng giáo dục gồm có Lực lượng giáo dục trong nhà trường (Ban Giám hiệu, giáo viên, nhân viên, Tổng phụ trách Đội, Bí thư chi đoàn) và Lực lượng giáo dục ngoài nhà trường (gia đình và xã hội). Các Lực lượng giáo dục này tạo nên 3 môi trường giáo dục lớn, có ảnh hưởng đến việc giáo dục học sinh, đó là Nhà trường – Gia đình – Xã hội.

Ý nghĩa sâu sắc của việc phối hợp các Lực lượng giáo dục đã được Bác Hồ chỉ ra từ lâu: “Giáo dục trong nhà trường chỉ là một phần, còn cần có sự giáo dục ngoài xã hội và trong gia đình để giúp cho việc giáo dục trong nhà trường được tốt hơn. Giáo dục trong nhà trường dù tốt đến mấy, nhưng thiếu giáo dục trong gia đình và ngoài xã hội thì kết quả cũng không hoàn toàn” (Trích bài nói tại Hội nghị cán bộ Đảng trong ngành giáo dục tháng 6/1957).

Bản chất của việc kết hợp là đạt được sự thống nhất về các yêu cầu giáo dục cũng như các hành động giáo dục của tất cả những người lớn, khiến cho nhân cách của trẻ được phát triển đúng đắn, đầy đủ và vững chắc” [4; tr 210].

Như vậy, sự phối hợp giữa các Lực lượng giáo dục là một nguyên tắc quan trọng tạo ra sự thống nhất thực hiện mục tiêu giáo dục; sự liên tục về mặt thời gian, không gian; sự thống nhất và toàn vẹn của quá trình giáo dục giá trị sống cho học sinh.

1.3. Lý luận về quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS.

1.3.1. Quản lý

  • Khái niệm

Tuy có nhiều cách diễn đạt khái niệm quản lý khác nhau nhưng chúng đều có một điểm chung thống nhất như sau: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng phù hợp quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm khai thác và tận dụng hiệu quả những tiềm năng và cơ hội của đối tượng quản lý để đạt được mục tiêu quản lý. Trong một môi trường luôn biến động, chủ thể quản lý tác động bằng các chế định xã hội, tổ chức về nhân lực, tài lực và vật lực, phẩm chất và uy tín, chế độ chính sách, đường lối chủ trương trong các phương pháp quản lý và công cụ quản lý để đạt mục tiêu quản lý”.

  • Chức năng quản lý

Chức năng kế hoạch hóa: Là một chức năng quản lý. Nó xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức để đạt được mục tiêu, mục đích đó. Có ba nội dung chủ yếu của chức năng kế hoạch hóa: Xác định, hình thành mục tiêu đối với tổ chức, xác định và bảo đảm về các nguồn lực của tổ chức để đạt được các mục tiêu này, Quyết định xem những hoạt động nào là cần thiết để đạt được các mục tiêu đó.

Chức năng tổ chức: Khi người quản lý đã lập xong kế hoạch, họ cần phải chuyển hóa những ý tưởng khá trừu tượng ấy thành hiện thực. Một tổ chức lành mạnh sẽ có ý nghĩa quyết định đối với sự chuyển hóa như thế. Xét về mặt chức năng quản lý, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người quản lý có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực. Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người quản lý sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả và có kết quả [27].

Chức năng lãnh đạo: Sau khi kế hoạch hóa đã được xác lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có người đứng ra lãnh đao, dẫn dắt tổ chức. Qua trình lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu tổ chức. Lãnh đạo không chỉ bắt đầu việc lập kế hoạch và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó thấm vào, ảnh hưởng quyết định tới chức năng kế hoạch hóa và tổ chức.

Chức năng kiểm tra: Kiểm tra là một chức năng quản lý, thong qua đó một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi giám sát các thành quả hoạt động và tiến hành những hoạt động sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết. Một kết quả hoạt động phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không tương ứng thì phải tiến hành những hành động điều chỉnh, uốn nắn. Đó cũng là quá trình tự điều chỉnh. [27, tr.12 -13] Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS.

1.3.2. Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống

  • Khái niệm quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống

Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống là một hoạt động mang tính chất phối hợp bao gồm tất cả các quy trình của hoạt động quản lý: Quản lý giáo dục giá trị sống nói chung, của hiệu trưởng nói riêng là một hoạt động tổ chức tạo ra sự thống nhất giữa chủ thể quản lý (hiệu trưởng) với các khách thể quản lý, bao gồm các lực lượng tham gia giáo dục giá trị sống như học sinh, giáo viên trong nhà trường và các lực lượng xã hội ngoài nhà trường, đoàn thể xã hội để đạt tới việc thực hiện có hiệu quả giáo dục giá trị sống cho học sinh.

  • Chức năng quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống Thứ nhất, lập kế hoạch cho hoạt động giáo dục giá trị sống

Việc xây dựng kế hoạch là một công đoạn không thể thiếu được trong quản lý bất kỳ một công tác nào của hiệu trưởng; có xây dựng kế hoạch, người hiệu trưởng mới xác định được mục tiêu sẽ đạt đến, các biện pháp thực hiện, thời gian tiến hành và hoàn thành, chỉ tiêu cần đạt, … Tránh trường hợp được chăng hay chớ, tới đâu hay tới đó. Để việc xây dựng kế hoạch giáo dục được tốt, người hiệu trưởng phải dựa trên cơ sở tình hình cụ thể của học sinh, của đội ngũ giáo viên trường mình trong năm học, của địa phương mà trường đóng để định ra nội dung, yêu cầu, biện pháp cho thích hợp. Việc nắm tình hình thực tế đội ngũ giáo viên và học sinh phải bao gồm tình hình có tính chất thường xuyên, lâu dài, phổ biến và tình hình có tính chất thời sự, tình hình cá biệt, có thể ảnh hưởng tiêu cực ít nhiều đối với tập thể học sinh trường.

  • Thứ hai, tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục giá trị sống

Bằng nhiều hình thức và nhiều biện pháp, người hiệu trưởng cần làm cho tập thể sư phạm của nhà trường nhận thức được rằng giáo dục giá trị sống cho học sinh là công tác cấp thiết, cần tiến hành thường xuyên, liên tục, ở mọi lúc, mọi nơi; trong tất cả các hoạt động đều có thể và phải thực hiện yêu cầu này. Một giờ dạy trên lớp không chỉ đơn thuần là truyền thụ kiến thức khoa học cho học sinh mà còn là rèn các thao tác, kỹ năng học tập, ứng xử, giáo dục cho các em những hành vi, cử chỉ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan đúng đắn… như: trong một giờ tập thể dục không chỉ yêu cầu học sinh biết kỹ thuật động tác mà còn yêu cầu các em phải rèn luyện được ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tập thể, thao tác linh hoạt để rèn luyện phát triển thể chất tự bảo vệ bản thân tránh được bệnh tật… Với những bài dạy thuộc các môn khoa học xã hội có khả năng rất phong phú trong việc giáo dục những nhận thức chính trị đúng đắn, những tình cảm đạo đức tốt như: tình yêu quê hương đất nước, yêu lao động, lòng tự hào dân tộc, lòng căm ghét bọn cướp nước, bán nước, ăn bám,… Hoạt động lao động, hoạt động học tập ngoại khóa, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, hoạt động đoàn thể, xã hội và sinh hoạt tập thể,… là những hoạt động có nhiều thuận lợi để giáo dục, rèn luyện học sinh các giá trị sống và các kỹ năng sống trong thực tế, có tác dụng trực tiếp đến việc giáo dục tư tưởng, giáo dục nhận thức, thái độ cho học sinh. Thông qua những hoạt động này sẽ rèn luyện cho các em những thao tác, kỹ năng, thói quen, hành vi tốt. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS.

  • Thứ ba, chỉ đạo thực hoạt động giáo dục giá trị sống

Trên cơ sở kế hoạch giáo dục giá trị sống cho học sinh, các chủ thể quản lý chỉ đạo thực hiện các hoạt động liên quan như đổi mới chương trình, nội dung dạy học, hình thức, phương pháp giáo dục giá trị sống cho học sinh. Công tác giáo dục cho học sinh là công việc và trách nhiệm của mỗi giáo viên, của toàn bộ các thành viên trong nhà trường chứ không phải là của riêng giáo viên chủ nhiệm hay một vài giáo viên nào. Do đó, để làm tròn trách nhiệm này thì trước hết mỗi thầy cô giáo phải là người thể hiện tốt những mẩu mực về nhân cách, về các kỹ năng nhất là kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng giao tiếp ứng xử,…

  • Thứ tư, kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục giá trị sống

Việc kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục giá trị sống góp phần đánh giá chất lượng giáo dục chung trong nhà trường, qua kiểm tra đánh giá CBQL nhà trường đánh giá mức độ thực hiện của đội ngũ giáo viên, mức độ hưởng ứng tham gia của học sinh, quá trình thực hiện trong nhà trường diễn ra có đảm bảo kế hoạch hay không, đó là cơ sở để CBQL nhà trường xây dựng chiến lược giáo dục về mục tiêu, nội dung, đội ngũ, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động. Để việc đánh giá đạt mục tiêu đề ra, CBQL cần phải bám sát vào những nội dung đánh giá, các mức đánh giá, sử dụng các hình thức đánh giá phù hợp và tuân theo một quy trình đánh giá khoa học.

  • Chủ thể và đối tượng quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống

Chủ thể quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống là hiệu trưởng các nhà trường. Các chủ thể có thể chỉ đạo triển khai các hoạt động giáo dục giá trị sống hoặc tổ chức thực hiện, kiểm tra quá trình thực hiện giáo dục giá trị sống cho học sinh.

Đối tượng quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở là: hoạt động giáo dục giá trị sống.

  • Vai trò quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS.

Bất kỳ hoạt động nào đều cần có sự quản lý nhằm định hướng, giám sát quá trình thực hiện. Đối với hoạt động giáo dục giá trị sống thì quản lý có vai trò sau:

Thứ nhất, đinh hướng thực hiện các hoạt động giáo dục giá trị sống cho các đối tượng liên quan, chủ thể quản lý sẽ căn cứ vào chiến lược, định hướng chung của đơn vị qua đó định hướng hoạt động giáo dục giá trị sống theo hướng đích, mục đích đề ra.

Thứ hai, tổ chức và huy động các nguồn lực thực hiện hoạt động giáo dục giá trị sống. Bất kỳ hoạt động nào đều cần có một đội ngũ quản lý, có một bộ máy cần thiết để thực hiện các mục tiêu của quản lý, đồng thời thống qua đây cũng huy động các nguồn lực cần thiết để triển khai các nội dung quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống.

Thứ ba, giám sát hoạt động giáo dục giá trị sống, cũng giống như các hoạt động khác chủ thể quản lý sẽ giám sát quá trình thực hiện giáo dục giá trị sống qua đó kịp thời phát hiện những tồn tại cần khắc phục đồng thời phát huy những điểm mạnh đã được thực hiện.

1.3.3. Một số đặc điểm tâm lý học sinh trung học cơ sở

  • Thứ nhất, đặc điểm về mặt nhận thức

Do yêu cầu của học tập và những yêu cầu khách quan từ phía cuộc sống ở tuổi thiếu niên trẻ bắt đầu phát triển các loại tư duy một cách có hệ thống và mạnh mẽ: tư duy lý luận, tư duy phân tích, tư duy hình thức bắt đầu phát triển từ lúc 11, 12 tuổi và được hoàn thiện vào lúc 17, 18 tuổi. Nhờ những điều này mà các em đã bắt đầu biết suy luận, phán đoán vấn đề một cách lôgíc, chặt chẽ… Sự phát triển về nhận thức và phát triển trí tuệ của thiếu niên không đồng đều. Ví dụ khi bắt chước một ai đó thay vì học hỏi những cái hay, cái đẹp của người khác thì các em lại bê nguyên si người đó vào trong chính con người mình từ đó dẫn đến những trào lưu “rập khuôn hình mẫu”. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS.

  • Thứ hai, đặc điểm về mặt tình cảm

Về sự hình thành tình cảm, đời sống tình cảm của học sinh THCS phong phú, đa dạng và phức tạp hơn so với lứa tuổi trước đó. Tình cảm của học sinh THCS sâu sắc và phức tạp hơn các em học sinh tiểu học. Đặc điểm nổi bật ở lứa tuổi này là dễ xúc động, vui buồn chuyển hóa dễ dàng, tình cảm còn mang tính chất bồng bột, hăng say… Điều này do ảnh hưởng của sự phát dục và thay đổi một số cơ quan nội tạng gây nên. Nhiều khi còn do hoạt động thần kinh không cân bằng, hưng phấn mạnh hơn ức chế đã làm cho các em không tự kiềm chế nổi. Trong tình bạn khác giới các em vừa hồn nhiên, vô tư nhưng lại vừa có vẻ “thận trọng”, “kín đáo” … Nhìn chung, những xúc cảm của các em là trong sáng, là động lực thúc đẩy các em tự hoàn thiện mình. Nhưng không phải tất cả thiếu niên đều có những rung cảm như vậy. Một số em bị cuốn hút vào con đường “yêu đương”. Nhiều khi các em cũng không hiểu rõ tình cảm của mình và có ảnh hưởng nhất định đến kết quả học tập nói riêng và cuộc sống của các em nói chung.

  • Thứ ba, đặc điểm nhân cách, đạo đức

Nhân cách của lứa tuổi này có những sự biến đổi đáng kể. Các em đang trong quá trình hình thành những vấn đề lớn của nhân cách như: ý thức, tự ý thức, … Thiếu niên đã có thể tự ý thức về những phẩm chất đạo đức, tính cách và khả năng của mình. Do sự phát triển mạnh mẽ của cơ thể, đặc biệt do sự phát triển của các mối quan hệ xã hội và sự giao tiếp trong tập thể mà ở các em đã biểu hiện nhu cầu tự đánh giá, nhu cầu so sánh mình với người khác. Về cách thức, ban đầu các em còn dựa vào đánh giá của những người gần gũi và có uy tín với mình. Dần dần các em hình thành khuynh hướng độc lập phân tích và đánh giá bản thân. Nhưng khả năng tự đánh giá của thiếu niên còn hạn chế, chưa đủ khách quan… Từ đây sẽ nảy sinh những xung đột không cần thiết giữa các em với chính mình, với nhóm bạn bè và đặc biệt là người lớn.

1.3.4. Quan điểm, chủ trương và chính sách đối với giáo dục giá trị sống cho học sinh Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS.

Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đặc biệt quan tâm, chăm lo, phát triển giáo dục và đào tạo, mong muốn đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục, tận dụng cơ hội phát triển đất nước trong giai đoạn “cơ cấu dân số vàng” và hội nhập quốc tế mạnh mẽ phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học.

Nghị Quyết 29 của Ban Chấp Hành TW khoá XI về Đổi mới căn bản toàn diện giáo dục Việt Nam cũng nhấn mạnh tới việc “chuyển từ nhà trường chủ yếu truyền đạt kiến thức sang nhà trường chủ yếu rèn luyện phẩm chất, năng lực”. Đây cũng là một thách thức đối với nhà quản lí các cơ sở giáo dục Việt Nam, trong đó có các trường THCS. Vấn đề giáo dục GTS&KNS lại được nổi lên như một vấn đề có tính thời sự sâu sắc [16]. Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể triển khai Nghị Quyết TW 29, các Nghị quyết của Quốc hội, mà bộ GDĐT công bố 5 – 8 – 2021 là yếu tố đặc biệt quan trọng tác động mạnh mẽ tới hoạt động giáo dục và quản lí hoạt động giáo dục GTS&KNS cho học sinh THCS.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư 04/2020/TT-BGDĐT ngày 28 tháng 02 năm 2020 ban hành quy định quản lý hoạt động giáo dục kỹ năng sống và hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Đặc biệt, Thông tư 32/2024/TT-BGDĐT ngày 26 tháng 12 năm 2024 ban hành Chương trình giáo dục phổ thông đã quy định rõ nội dung về giáo dục giá trị sống, hướng dẫn triển khai thực hiện.

Bối cảnh đổi mới giáo dục càng khẳng định vai trò của hoạt động giáo dục GTS&KNS. Nếu cốt lõi của đổi mới giáo dục là “chuyển từ nhà trường kiến thức sang nhà trường phẩm chất, năng lực, lấy việc rèn luyện phẩm chất, năng lực cho người học làm gốc, lấy người học làm trung tâm của quá trình rèn luyện phẩm chất, năng lực..”, thì hoạt động giáo dục GTS&KNS được xem là hạt nhân cơ bản của mọi hoạt động trong nhà trường, nội khoá cũng như hoạt động NGLL.

Trong bối cảnh đó vai trò của nhà quản lí càng được nhấn mạnh. Từ việc giúp giáo viên đổi mới tư duy về quá trình dạy học, đổi mới việc xác định mục tiêu dạy học, tổ chức các hoạt động học tập trên lớp, ở nhà… đổi mới các hình thức kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học. Nhà quản lí phải có kế hoạch chi tiết, tổ chức khoa học, có các biện pháp động viên khích lệ giáo viên…và quan trọng hơn phải rất quyết tâm và kiên trì mới có thể thực hiện thành công công cuộc đổi mới giáo dục nước nhà.

1.3.5. Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở

  • Khái niệm quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS

Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS nói chung, của hiệu trưởng nói riêng là một hoạt động tổ chức tạo ra sự thống nhất giữa chủ thể quản lý (hiệu trưởng) với các khách thể quản lý, bao gồm các lực lượng tham gia giáo dục giá trị sống như học sinh THCS, giáo viên trong nhà trường và các lực lượng xã hội ngoài nhà trường, đoàn thể xã hội để đạt tới việc thực hiện có hiệu quả giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS.

Do vậy “Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS là quá trình tác động của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhờ việc thực hiện các nội dung quản lý: mục tiêu giáo dục giá trị sống, nội dung giáo dục giá trị sống, phương pháp giáo dục giá trị sống, phương tiện giáo dục giá trị sống, hình thức tổ chức giáo dục giá trị sống, kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục giá trị sống nhằm hình thành và phát triển những giá trị sống cần thiết, phù hợp với lứa tuổi học sinh THCS và điều kiện, hoàn cảnh kinh tế – văn hóa – xã hội nhất định”.

  • Mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS

Mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh THPT là quản lý các hoạt động giáo dục trong nhà trường kể cả hoạt động dạy học nhằm thay đổi nhận thức và hành vi của học sinh từ thói quen thụ động, có thể gây rủi ro, mang lại hậu quả tiêu cực thành những hành vi mang tính xây dựng, tích cực, có hiệu quả để nâng cao chất lượng giáo dục và chất lượng cuộc sống.

Mục tiêu quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh THPT là hướng tới quản lý các hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục giúp học sinh hình thành các khả năng tâm lý xã hội, để học sinh nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc, biết tiếp thu những giá trị tinh hoa văn hóa của nhân loại, củng cố mở rộng kiến thức đã học với đời sống thực tiễn, củng cố các kỹ năng, hình thành và phát triển các năng lực chủ yếu(Năng lực tự hoàn thiện, năng lực thích ứng, năng lực giao tiếp ứng xử, năng lực tổ chức, quản lý, hợp tác và cạnh tranh, năng lực hoạt động chính trị xã hội… giải quyết tốt các vấn đề của cuộc sống, biết chịu trách nhiệm về hành vi của bản thân.

  • Chức năng quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS
  • Lập kế hoạch cho hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS

Xác định các căn cứ pháp lý và căn cứ thực tiễn cho việc lập kế hoạch giáo dục giá trị sống đảm bảo kế hoạch được xây dựng dựa trên những căn cứ chắc chắn làm cơ sở cho quá trình tổ chức thực hiện. Xác định thực trạng nhiệm vụ giáo dục giá trị sống của nhà trường: Về nội dung đang thực hiện, cách thức thực hiện, cơ sở lý luận, kiến thức của đội ngũ giáo viên về vấn đề giáo dục giá trị sống các cơ sở vật chất cần thiết (máy vi tính, máy chiếu, bảng biểu, kết nối Internet). Xác định các nội dung nhiệm vụ cần thực hiện để làm tốt công tác giáo dục giá trị sống cho học sinh. Với mỗi nhiệm vụ xác định chính xác đối tượng tham gia thực hiện, công việc cần thực hiện, các điều kiện về tài liệu, cơ sở vật chất, cần thiết để thực hiện công việc đó cũng như tiến độ thời gian cần thiết để hoàn thành công việc. Dự kiến trước các chi phí vật chất phát sinh trong quá trình thực hiện kế hoạch đối với nhà trường, các cá nhân chịu trách nhiệm thực hiện và cả đối với tập thể, cá nhân học sinh. Xác định nguồn kinh phí huy động. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS.

Thiết lập hệ thống chuẩn để kiểm tra đánh giá hoạt động, các quy định, quy chế cần thiết để đảm bảo kế hoạch được thực hiện một cách nghiêm túc và hiệu quả. Như vậy, trong mỗi kế hoạch giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS phải làm rõ: Cơ hội và thách thức tác động đến kế hoạch (từ bối cảnh xã hội); Phân loại kế hoạch (Kế hoạch dài hạn, trung hạn hay ngắn hạn); Nội dung kế hoạch (Tiêu đề, chủ đề, kỹ năng…); Mục tiêu giáo dục (đích đến của kỹ năng về khoa học giáo dục, về tính nhu cầu, tính cập nhật, tính ứng dụng…); Cách thức tổ chức thực hiện (quy trình, hình thức tổ chức, thi đua, kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm, duy trì, thúc đẩy…); Đối tượng tham gia (đối tượng giáo dục, lực lượng giáo dục, lực lượng hỗ trợ, kinh phí, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị…); Định lượng về chất lượng, khối lượng, số lượng, thời gian, không gian…; Phân công, phân nhiệm, hợp tác…; Tham mưu, dự trù, đề xuất… Xây dựng kế hoạch hoạt động là một bộ phận quan trọng trong nội dung quản lý họa động giáo dục giá trị sống. Kế hoạch được lập cho một thời kỳ ngắn chính là sự sắp xếp công việc cụ thể cho một thời gian nhất định: tuần, tháng, học kỳ, năm học. Kế hoạch hoạt động giáo dục giá trị sống là trình tự những nội dung hoạt động, hình thức tổ chức hoạt động được bố trí, sắp xếp theo thứ tự thời gian của năm học. Xây dựng kế hoạch trước hết xuất phát từ kế hoạch thực hiện chương trình giáo dục trải nghiệm theo quy định. Từ đó xác đinh khung thời gian, các nguồn lực tham gia và các kĩ năng sống cho học sinh được thực hiện thông qua hoạt động trải nghiệm.

Quản lý về kế hoạch hoạt động giáo dục giá trị sống bao gồm: quản lý việc xây dựng kế hoạch hoạt động thường xuyên, kế hoạch hoạt động theo chủ điểm, kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất cũng như các điều kiện thực hiện, kế hoạch phối hợp với các lực lượng giáo dục, kế hoạch kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động giá trị sống. Các loại kế hoạch này được thể hiện kế hoạch năm học và kế hoạch theo từng học kì và từng tháng gắn với chủ đề, chủ điểm năm học và từng hoạt động dưới cờ theo từng tuần và buổi sinh hạt gắn với giáo viên chủ nhiệm từng khối lớp. Các kế hoạch trong nhà trường thống nhất với nhau từ mục tiêu giáo dục, tuần tự thời gian và hướng tới hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh THCS. Theo nội dung chương trình phổ thông mới ở cấp THCS xác định là một môn học chính khóa. Do đó kế hoạch hoạt động môn học được lồng ghép vào kế hoạch dạy học và kết hợp với kế hoạch giáo dục của trường. Để quá trình giáo dục giá trị sống cho học sinh đạt hiệu quả, nhà trường cần xây dựng phương hướng chỉ đạo theo kế hoạch tổng thể thống nhất, nhằm huy động và phát huy tối đa khả năng của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường để tạo nên sức mạnh tổng thể trong quá trình giáo dục giá trị sống. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS.

  • Tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS

Tổ chức thực hiện kế hoạch tức là đưa kế hoạt vào thực tế. Nhà quản lý căn cứ vào kế hoạch đã được phê duyệt để tiếp nhận các nguồn lực (con người, kinh phí, vật chất…) để bố trí, sắp xếp một cách hợp lí giữa con người với công việc, đảm bảo mỗi người mỗi việc phù hợp với khả năng trình độ của họ đảm bảo đạt được mục tiêu đã đề ra trong kế hoạch. Bên cạch đó còn phải sử dụng các phương tiện, thiết bị hỗ trợ một cách hiệu quả tránh lãng phí. Tổ chức giáo dục giá trị sống cho học sinh theo các nội dung và hình thức thực hiện; Tổ chức các chuyên đề, hội thảo, chia sẻ kinh nghiệm… nhằm bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ giáo dục giá trị sống cho cán bộ quản lý, giáo viên. Sắp xếp, bố trí, phân công nhiệm vụ giáo dục giá trị sống phù hợp với năng lực, sở trường của cán bộ, giáo viên nhà trường. Hướng dẫn cán bộ, giáo viên, nhân viên thực hiện các hoạt động theo kế hoạch nhà trường.

  • Chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS

Khi chỉ đạo thực thực hiện kế hoạch cán bộ quản lý phải đảm bảo quá trình chỉ đạo thực hiện đi đúng hướng để đạt tới mục tiêu đã định. Bám sát kế hoạch và mục tiêu của kế hoạch đã đề ra. Đồng thời phải luôn giám sát quá trình thực hiện nhiệm vụ của các giáo viên và các lực lượng có liên quan để đảm bảo rằng công tác giáo dục giá trị sống cho học sinh đang được thực hiện đúng kế hoạch, hướng tới các mục tiêu đã xác định trước.

Chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ giáo dục giá trị sống cho đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên nhà trường. Động viên, khích lệ đội ngũ tham gia hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh. Khuyến khích tinh thần tự học, sáng kiến kinh nghiệm và các ý kiến đóng góp của đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý về hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh. Theo dõi, giám sát, điều chỉnh sai sót trong quá trình tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh.

  • Kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS

Việc kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục giá trị sống thông qua hoạt động trải nghiệm góp phần đánh giá chất lượng giáo dục chung trong nhà trường, qua kiểm tra đánh giá nhà quản lý đánh giá mức độ thực hiện của đội ngũ giáo viên, mức độ hưởng ứng tham gia của học sinh, quá trình thực hiện trong nhà trường diễn ra có đảm bảo kế hoạch hay không, đó là cơ sở để nhà quản lý xây dựng chiến lược giáo dục về mục tiêu, nội dung, đội ngũ, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động.

Cán bộ quản lý nhà trường cần thực hiện việc kiểm tra – đánh giá hoạt động giáo dục giá trị sống thường xuyên và liên tục, trong đó cần xây dựng các tiêu chí, tiêu chuẩn, hình thức đánh giá giáo dục giá trị sống.

Tiêu chuẩn đánh giá: Nhà quản lý phải xây dựng các tiêu chuẩn để làm căn cứ đánh giá các hoạt động, tiêu chuẩn được xây dựng trên cơ sở thực tế của nhà trường, có sự bàn bạc kỹ lưỡng của các tổ chức trong nhà trường, tiêu chuẩn phải phù hợp không nên quá khó hoặc quá rẽ sẽ làm ảnh hưởng đến việc thi đua hoặc điều chỉnh hoạt động ở những giai đoạn sau.

Về loại hình đánh giá: Việc quản lý đánh giá thực hiện chương trình hoạt động giáo dục giá trị sống có những cách đánh giá theo chủ thể, các hình thức bao gồm: tự đánh giá, đánh giá từ bên ngoài. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS.

Về nội dung đánh giá: Thực hiện đánh giá các nội dung từ việc lập kế hoạch thực hiện chương trình giáo dục giá trị sống đến nội dung các hoạt động, sự chuẩn bị cơ sở vật chất, cách thức tiến hành hoạt động, đánh giá kết quả hoạt động.

Về phương pháp đánh giá: Đánh giá việc thực hiện hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh thông qua phương pháp điều tra, phương pháp quan sát, phương pháp phỏng vấn, kết quả đánh giá được lượng hóa qua các bảng thống kê tỷ lệ phần trăm, qua sự chuyển biến về nhận thức và hành vi của các em trong hoạt động lao động và học tập, quan hệ hàng ngày.

Kiểm tra, đánh giá để có kết quả và thông tin điều chỉnh dạy hoạt động trải nghiệm là cần thiết. Nhưng để kiểm tra, đánh giá phản ánh đúng thực trạng và khách quan quản lý cần chú trong quan tâm đến hoạt động này. Nhà trường cần xây dựng tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá, quy định thời gian đánh giá hoạt động trải nghiệm. Xác định được phương pháp và cách kiểm tra. Sau kiểm ta cần tổng kết đánh giá, xếp loại từ đó khen, chê kịp thời và có những điều chỉnh hợp lý nhằm thực hiện tốt những mục tiêu đề ra.

Để đánh giá việc thực hiện chương trình giáo dục giá trị sống thông qua hoạt động trải nghiệm, nhà quản lý cần phải bám sát mục tiêu giáo dục cho từng lớp học trong cấp THCS. Sử dụng các hình thức đánh giá phù hợp và tuân theo một quy trình đánh giá khoa học. Các hình thức và phương pháp đánh giá phải toàn diện và hướng vào phát triển năng lực người học. Việc đánh giá thực hiện chương trình giáo dục giá trị sống cho học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm nên theo cách phân loại chủ thể đánh giá, đó là tự đánh giá và đánh giá từ bên ngoài, trong đánh giá cần phát huy tự đánh giá của học sinh TH ở các hoạt động trải nghiệm.

Tự đánh giá: Là hoạt động đánh giá của chủ thể đánh giá đối với chính bản thân mình, tổ chức của mình trên cơ sở đối chiếu với hệ chuẩn được xác định từ trước. Mỗi giáo viên chủ nhiệm, tổng phụ trách Đội, ban giám hiệu thực hiện tự đánh giá đối với việc thực hiện chương trình hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh. Hoạt động tự đánh giá giúp chủ thể nhận thức rõ về bản thân, về tổ chức của mình, giúp tự khắc phục những điểm yếu, điều chỉnh các hoạt động theo chuẩn. Tự đánh giá cũng giúp chủ thể có tinh thần trách nhiệm hơn đối với công việc của bản thân và nhờ vậy hoạt động của tổ chức có chất lượng và hiệu quả hơn.

Đánh giá từ bên ngoài: được tiến hành bởi các cơ quan quản lý cấp trên hoặc từ một tổ chức đánh giá độc lập trên cơ sở một bộ chuẩn đã được xác định từ trước. Với việc đánh giá việc thực hiện chương trình hoạt động giáo dục giá trị sống có thể sử dụng đánh giá của phụ huynh học sinh, các lực lượng cán bộ chính quyền địa phương, Ban Giám hiệu, đánh giá Tổng phụ trách Đội, giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn và ngược lại. Kết quả đánh giá được sử dụng để điều chỉnh hoạt động của nhà trường về việc thực hiện chương trình hoạt động giáo dục giá trị sống. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS.

Đối tượng đánh giá: Tiến hành kiểm tra đánh giá việc thực hiện chương trình hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh thông qua hoạt động trải nghiệm.

Nội dung đánh giá: Thực hiện đánh giá các nội dung từ việc lập kế hoạch thực hiện chương trình giáo dục giá trị sống đến nội dung các hoạt động, sự chuẩn bị cơ sở vật chất, cách thức tiến hành hoạt động, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh…

Phương pháp đánh giá: Sử dụng cả 2 phương pháp đánh giá theo định lượng và đánh giá theo định tính. Đánh giá việc thực hiện chương trình hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh thông qua phương pháp điều tra, phương pháp quan sát, phương pháp phỏng vấn… kết quả đánh giá được lượng hóa qua các bảng thống kê, tỷ lệ phần trăm, biểu đồ…

1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở

1.4.1. Năng lực của cán bộ quản lý, đội ngũ giáo viên

Giáo dục nhà trường phải thực sự là hạt nhân, đảm bảo thống nhất về mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục để nhằm đạt được hiệu quả giáo dục cao. Năng lực của cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng công tác giáo dục. Để công tác quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS có hiệu quả thì chất lượng thực hiện các chức năng quản lý có vai trò quan trọng. Nếu hiệu trưởng làm tốt các chức năng quản lý trong giáo dục giá trị sống (lập kế hoạch cụ thể, tổ chức phân công hợp lý, chỉ đạo sát sao việc thực hiện, kiểm tra, đánh giá đúng…) thì công tác quản lý sẽ đạt hiệu quả cao. Ngược lại, nếu hiệu trưởng làm không tốt các chức năng quản lý thì công tác quản lý khó có thể đạt hiệu quả cao.

Bên cạnh đó, chất lượng đội ngũ giáo viên cũng là một yếu tố quan trọng quyết định chất lượng giáo dục. Thực tế, trong các nhà trường sư phạm mới quan tâm chú trọng nhiều đến đào tạo giáo viên về chuyên môn. Do vậy, khi ra trường công tác thường giáo viên ít có kinh nghiệm và kiến thức trong công tác giáo dục giá trị sống. Những kiến thức và kinh nghiệm giáo dục giá trị sống thường chỉ được hình thành qua thực tiễn công tác của bản thân mỗi giáo viên.

1.4.2. Nhận thức của giáo viên, học sinh và xã hội

Hiện nay, có một số tổ chức xã hội, cán bộ quản lý ở một số ban ngành, một bộ phận không nhỏ người lớn tuổi, trong đó có cả thầy giáo, cô giáo đứng ngoài cuộc trách cứ thế hệ trẻ hư hỏng, phê phán nhà trường để đạo đức lối sống của trẻ em xuống cấp. Họ chưa biết tự hỏi: “Mình đã và sẽ làm gì để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ?”. Vì lẽ đó, tuyên truyền, giáo dục ý thức trách nhiệm cho mọi người trong việc giáo dục thế hệ trẻ và giáo dục hoàn thiện nhân cách cho mọi người là một giải pháp quan trọng tạo ra hoạt động thống nhất.

1.4.3. Sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS.

Nhà trường cần phối hợp với Ban đại diện cha mẹ học sinh, các tổ chức đoàn thể xã hội và cá nhân nhằm: Tạo mối quan hệ gắn kết giữa nhà trường, gia đình và xã hội để thống nhất quan điểm, nội dung, phương pháp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội; huy động mọi lực lượng của cộng đồng chăm lo sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh, góp phần xây dựng cơ sở vật chất nhà trường. Bên cạnh đó, nhà trường phải làm sao xứng đáng là trung tâm giáo dục của địa phương phải làm sao để địa phương đồng tình ủng hộ, kết hợp với nhà trường nhằm mục đích chung là: giáo dục con em nên người.

1.4.4. Tác động của xã hội đối với giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học cơ sở

Truyền thống yêu nước, lòng nhân ái, ý thức cộng đồng đã phản ánh một cách chân thực những đặc điểm về chính trị, kinh tế, xã hội của dân tộc ta trong suốt chiều dài lịch sử dựng và giữ nước. Do điều kiện xã hội đã thay đổi, mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng đã có những sắc thái mới, bản thân những giá trị này đã được bổ sung thêm những nội dung mới. Tổng kết việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII, Đảng ta nhận định “các giá trị văn hoá ngày càng thể hiện rõ hơn vai trò tích cực và khả năng tác động mạnh vào các lĩnh vực của đời sống. Những nét mới trong chuẩn mực văn hoá và trong nhân cách con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá từng bước được hình thành” thì “những thành tựu tiến bộ đạt được trong lĩnh vực văn hoá còn chưa tương xứng và chưa vững chắc, chưa đủ để tác động có hiệu quả đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực tư tưởng đạo đức lối sống”.

1.4.5. Ảnh hưởng của gia đình và môi trường sống

Gia đình là nơi nuôi dưỡng và dạy dỗ đầu tiên của mỗi con người. Gia đình cũng là điểm tựa tạo nên sức mạnh tinh thần, tình cảm và cả vật chất cho mỗi người con trong gia đình đó. Bên cạnh gia đình thì môi trường sống xung quanh như mối quan hệ với bạn bè và hàng xóm, làng giềng cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới học sinh, cần có sự đồng nhất giữa hệ thống giá trị của gia đình và xã hội thì nhân cách học sinh phát triển thuận lợi. Cần xác định những giá trị sống phổ quát phù hợp với mong đợi của nhà trường và xã hội thì đó sẽ là thuận lợi lớn cho phát triển giá trị sống của học sinh THCS.

Tiểu kết chương 1

Trong công cuộc đổi mới đất nước ta hiện nay, đòi hỏi phải coi trọng nhân tố con người, coi trọng cả đức – trí – thể – mỹ – nghề nghiệp. Trong sự phát triển tâm lực – trí lực – thể lực thì tâm lực đóng vai trò nền tảng, bệ phóng cho sự phát triển của trí lực và thể lực và đảm bảo cho một sự phát triển bền vững. Trên đây là các cơ sở lý luận được xây dựng từ góc độ lý luận quản lý giáo dục và góc độ lý luận giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS. Các khái niệm và các khái quát hóa lý luận đã cố gắng hình thành một khung lý thuyết đảm bảo cho việc khảo sát và phân tích thực trạng quản lý công tác giáo dục giá trị sống ở các trường THCS trong một huyện đảm bảo một cơ sở lý luận khoa học cho việc đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS huyện Đắk Glong, tỉnh Đắk Nông. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng giáo dục giá trị sống cho học sinh THCS

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống học sinh THCS […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537