Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong xã hội hiện nay, cùng với sự phát triển của văn minh nhân loại, sự gia tăng dân số con người đang từng ngày tàn phá chính môi trường sống của mình, làm ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống, thể chất, giống nòi của mỗi dân tộc và sự phát triển bền vững của xã hội.
Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự ô nhiễm môi trường đã và đang xảy ra cục bộ, từng lúc, từng nơi và đang lan rộng trên khắp mọi miền của đất nước. Chúng ta cần quan tâm hơn nữa về vấn đề tuyên truyền cho mọi người đặc biệt là giáo dục bảo vệ môi trường cho thế hệ trẻ, những mầm non tương lai của đất nước hơn hết là ở bậc học trung học cơ sở, bởi các em ở độ tuổi đang phát triển và định hình về nhân cách là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất, kinh tế nhất trong các biện pháp để thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường và góp phần phát triển đất nước.
Nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội về việc giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh cả nước nói chung và học sinh trung học cơ sở nói riêng có ý nghĩa vô cùng to lớn trong mặt thay đổi nhận thức về con người, góp phần làm cho môi trường xã hội ngày càng xanh – sạch – đẹp. Chính vì lẽ đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo nói chung và Sở Giáo dục và Đào tạo nói riêng đã chỉ đạo cụ thể về công tác giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh thông qua các công văn và chỉ thị sau: Chỉ thị số 02/2005/CT-BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 31 tháng 1 năm 2005 về việc tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa. (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2005). Công văn số 3857/BGDĐT-GDTrH của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 11 tháng 5 năm 2009 về việc tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường các môn học cấp trung học cơ sở (THCS), trung học phổ thông (THPT) cả nước. (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2009). Hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường là một trong những hoạt động đang được quan tâm sâu sắc, vì vậy có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Tác giả Nguyễn Tuấn Anh và Nguyễn Hữu Chung đã có bài viết về “Dạy học tích hợp giáo dục môi trường phần Phi kim, Hoá học 9 ở trường trung học cơ sở”. (Nguyễn Tuấn Anh và Nguyễn Hữu Chung, tháng 3/2021). Theo tác giả Nguyễn Thị Bích Hợp đã có công trình nghiên cứu về “Quản lý hoạt động phối hợp các lực lượng giáo dục học sinh bảo vệ môi trường tại trường Trung học cơ sở Tân Minh, Thường Tín, Hà Nội”. (Nguyễn Thị Bích Hợp, 2020) Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Từ những văn bản hiện hành và các công trình nghiên cứu của một số tác giả nhằm thể chế hóa công tác bảo vệ môi trường, trong đó có công tác giáo dục bảo vệ môi trường. Cho thấy rằng, bảo vệ môi trường là một trong những chủ trương của Đảng và Nhà nước đang quan tâm, góp phần phát triển kinh tế nước nhà. Vì vậy, quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề thiết yếu đối với toàn cầu và đặc biệt là đối với Việt Nam nói chung và tỉnh Bình Dương nói riêng.
Thành phố Thuận An trực thuộc tỉnh Bình Dương thuộc vùng phát triển kinh tế công nghiệp với nhiều khu công nghiệp lớn nhỏ, các khu chợ và khu nhà trọ. Vì vậy, có rất nhiều vấn đề xấu về môi trường đang xảy ra như: Ngày 09/09/2010 trên báo Nhân Dân có bài viết “Hàng vạn người dân ở Bình Dương sống trong ô nhiễm (kỳ 2)” đã cho biết “Cục cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường phát hiện khối lượng sữa Dutch Lady của Công ty Friesland Campina Việt Nam chôn tại bãi rác Xí nghiệp xử lý chất thải Nam Bình Dương chưa tuân thủ quy trình xử lý, chưa đảm bảo đúng quy định pháp luật về bảo vệ môi trường”. (Báo Nhân Dân, 2010)
Ngày 29/07/2019 trên báo Bình Dương đã có bài viết: “TX.Thuận An cần sớm khắc phục tình trạng ô nhiễm ở rạch Sáu tro – Nhà Vuông”. Bài viết có nêu lên tình trạng hiện nay đó là, xuất hiện nhiều rác thải sinh hoạt gây ô nhiễm môi trường và ách tác dòng chảy. (Báo Bình Dương, 2019)
Với sự quan tâm của các cấp chính quyền và nhà trường về hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường đối với các trường Thành phố Thuận An và đặc biệt được sự chú ý đến ở cấp bậc Trung học cơ sở đã đạt nhiều kết quả khả quan. Tuy nhiên, nhiều trường chưa đầu tư hoàn toàn vào hoạt động này nên công tác giáo dục bảo vệ môi trường còn mang tính hình thức, đối phó cho xong việc, việc lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào bài học chưa được phổ biến, chưa mang tính thực tiễn còn qua loa. Thậm chí, ở một số trường khác, hoạt động này chỉ giao toàn quyền cho “Tổng phụ trách Đội” và chưa được sự kết nối với nhà trường, toàn thể giáo viên, học sinh và gia đình. Bên cạnh đó, công tác quản lý giáo dục bảo vệ môi trường chưa được các cấp lãnh đạo quan tâm đúng mức, việc tổ chức thực hiện công tác giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh còn nhiều hạn chế. Nhận thức, thái độ, hành vi của của học sinh về bảo vệ môi trường còn rất thờ ơ và nhiều biểu hiện không phù hợp nhất là học sinh Trung học cơ sở. Mặc dù một số học sinh cũng có nhận thức về môi trường ở mức độ cao nhưng khi tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường thì lại thiếu tính tích cực, tự giác và có thái độ chống đối ngược lại với môi trường. Song song với nhận thức của học sinh thì các nhà quản lý giáo dục cũng chưa chú trọng đến các hoạt động bảo vệ môi trường hợp lý, không có biện pháp quản lý cụ thể, chặt chẽ. Vì vậy, vai trò của hoạt động bảo vệ môi trường chưa phát huy tối ưu.
Hiểu được tầm quan trọng của việc giáo dục bảo vệ môi trường với những lí do nêu trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương”.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Trên cơ sở hệ thống hoá lý luận quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường, đề tài khảo sát và phân tích thực trạng quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường THCS Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Từ đó, đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục tại trường Trung học cơ sở
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
4. Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương đã đạt được những kết quả nhất định tạo niềm tin cho phụ huynh và xã hội, góp phần nâng cao uy tín cho nhà trường. Tuy nhiên, công tác quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương còn nhiều bất cập trong việc chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh. Nếu khảo sát, đánh giá đúng thực trạng và xác định được nguyên nhân thực trạng hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường ở các trường thì có thể đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trung học cơ sở đảm bảo tính cần thiết và khả thi cao.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hoá cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở.
Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
6. Phạm vi nghiên cứu Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu các chức năng quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương (hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát và đánh giá thực trạng và đề xuất các biện pháp quản lý); tập trung vào công tác quản lý của hiệu trưởng.
Về thời gian: Đề tài khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương trong 2 năm học: năm học 2019 – 2020 và năm học 2020 – 2021.
Về địa bàn: Đề tài tập trung khảo sát tại 6 trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An: Trường THCS Thuận Giao, Trường THCS Trần Đại Nghĩa, Trường THCS Bình Chuẩn, Trường THCS Trịnh Hoài Đức, Trường THCS Nguyễn Trường Tộ, Trường THCS Nguyễn Trung Trực.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
7.1.1. Mục đích
Nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.
7.1.2. Nội dung
Các tài liệu về khoa học giáo dục, khoa học quản lý giáo dục và các tài liệu có liên quan đến quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
7.1.3. Cách thức thực hiện
Nghiên cứu và phân tích các nguồn tài liệu về khoa học giáo dục, khoa học quản lý giáo dục và các tài liệu có liên quan đến quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Mục đích: Nhằm thu thập ý kiến về thực trạng và biện pháp quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường THCS Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Nội dung: Khảo sát ý kiến của 12 cán bộ quản lý (CBQL), 140 giáo viên (GV) về thực trạng và biện pháp quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường THCS Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Cách thức thực hiện: Sử dụng 2 loại phiếu hỏi: phiếu 1 hỏi về thực trạng dành cho giáo viên và cán bộ quản lý và phiếu 2 hỏi về biện pháp dành cho cán bộ quản lý và giáo viên.
7.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Mục đích: Nhằm thu thập những thông tin cần thiết xoay quanh vấn đề nghiên cứu.
Nội dung: Phỏng vấn về thực trạng hoạt động quản lý.
Cách thức thực hiện: Xây dựng hệ thống câu hỏi phỏng vấn lấy ý kiến của cán bộ quản lý là Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, các giáo viên về thực trạng hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
7.3. Nhóm phương pháp xử lý thông tin
7.3.1. Mục đích
Sử dụng phương pháp thống kê nhằm xử lý số liệu điều tra, từ đó làm cơ sở đưa ra những nhận định khách quan về thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường và công tác quản hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, sau đó đưa ra nhận xét dựa trên số liệu đó.
7.3.2. Nội dung
Sử dụng chương trình SPSS dùng trong môi trường Windows để xử lý và phân tích thống kê nhằm đánh giá về mặt định lượng, đảm bảo độ tin cậy của các kết quả thu được. Các thông số và phép toán thống kê được sử dụng trong nghiên cứu này là phân tích thống kê mô tả và phân tích thống kê suy luận.
7.3.3. Cách thức thực hiện
- Phân tích thống kê mô tả: các chỉ số sau được sử dụng trong phân tích thống kê mô tả tần số, điểm trung bình cộng (Mean), độ lệch chuẩn (Stđ. Deviation).
- Phân tích thống kê suy luận: so sánh giá trị trung bình (Compare means), kiểm định tương quan Pearson.
7.4. Phương pháp phân tích sản phẩm của hoạt động
Mục đích: Nhằm tổng kết các kinh nghiệm quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Nội dung: Nội dung các bản kế hoạch năm học, báo cáo tổng kết năm học của trường và một số báo cáo liên quan đến đề tài.
Cách thức thực hiện: Tham khảo các bản kế hoạch năm học, báo cáo tổng kết năm học của trường và một số báo cáo liên quan đến đề tài.
8. Đóng góp của nghiên cứu
8.1. Về mặt lý luận
- Đề tài hệ thống hoá lý luận về hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường; đề tài cũng hệ thống hoá và làm rõ lý luận về quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở theo tiếp cận các chức năng quản lý.
8.2. Về mặt thực tiễn
- Phát hiện thực trạng quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương, từ đó giúp các nhà trường có cơ sở và định hướng để đưa ra các biện pháp cải tiến nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo.
- Đề xuất và khảo sát tính cần thiết và khả thi một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương và từ đó có thể áp dụng linh hoạt ở những địa phương khác nếu có điều kiện tương tự.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được cấu trúc trong 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại trường Trung học cơ sở.
- Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Tổng quan nghiên cứu
1.1.1. Nghiên cứu ở nước ngoài
Giáo dục môi trường và nâng cao nhận thức về môi trường cho cộng đồng có ý nghĩa cực kỳ quan trọng bởi lẽ cộng đồng là những người chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi môi trường sống của chính họ, họ vừa là nguyên nhân vừa là những người gánh chịu hậu quả những vấn đề môi trường của địa phương. Khi được nâng cao nhận thức, kiến thức bảo vệ môi trường sẽ góp phần thúc đẩy cộng đồng tham gia bảo vệ môi trường. Trên thế giới từ lâu đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề nâng cao nhận về việc giáo dục bảo vệ môi trường. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
A.M.Lucas (1980) đã kết luận “Nội dung giáo dục môi trường được đặt ra trong yêu cầu nội dung các môn học đặc biệt là môn Khoa học, việc dạy môn khoa học có đóng góp to lớn trong việc tăng cường bảo tồn môi trường sống của chính con người, việc quan tâm xây dựng nội dung môn học đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục môi trường và là cơ sở để phát triển giáo dục môi trường.” (A.M.Lucas, 1980)
HongKong, giáo viên có thái độ và nhận thức về mức độ quan trọng trọng việc giáo dục môi trường cho học sinh thể hiện qua việc chú trọng dạy giáo dục môi trường, sử dụng nhiều phương pháp giảng dạy khác nhau và thường xuyên thực hiện các hoạt động ngoại khoá về giáo dục môi trường. (Andre Chi-chung Ko John Chi-kin Lee, 2003)
Hy Lạp, hoạt động giáo dục môi trường ở cấp trung học được chia thành các khu và một giáo viên sẽ phụ trách quản lý và hỗ trợ hoạt động này ở mỗi khu. Hiệu trưởng tổ chức các lớp tập huấn để đào tạo cho giáo viên về giáo dục môi trường. Trong đó, các chủ đề liên quan đến môi trường được đưa vào chương trình giảng dạy các môn Vật lý, Hoá học, Địa lý. Ngoài ra, các vấn đề xã hội gây ô nhiễm môi trường được đưa vào các buổi hội thảo trong môn Giáo dục Chính trị và Xã hội. Qua đó, có thể thấy rằng vai trò của nền giáo dục ở Hy Lạp là cung cấp các chương trình giáo dục cho học sinh và đào tạo giáo viên về các kiến thức thuộc môi trường. (Maria Goussia-Rizou and Konstadinos Abeliotis, 2003)
Singapore, ngoài các chiến dịch ngăn chặn ô nhiễm môi trường và bảo vệ môi trường thì công tác giáo dục bảo vệ môi trường cũng là một chương trình giáo dục chính thức tại các trường học. Nhằm nâng cao nhận thức về môi trường cho thế hệ trẻ về hậu quả của những hành động sai trái và những biện pháp bảo vệ và cải thiện môi trường sống. Vì vậy, việc giáo dục môi trường cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở thường đưa vào các môn khoa học xã hội, giáo dục công dân, đạo đức. Nhằm giúp học sinh có được kiến thức và hiểu biết về môi trường, nâng cao tinh thần, trách nhiệm đối với môi trường. (Kim Chwee Daniel Tan, Yew-Jin Lee, and Aik-Ling Tan, 2009)
Malaysia, các hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường được phát triển rất sớm nhờ vào sự quan tâm của chính phủ và sự đầu tư ngân sách để thực hiện chương trình giáo dục bảo vệ môi trường. Từ năm 1991, Bộ Giáo dục và Đào tạo Malaysia đã quyết định lồng ghép giáo dục môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân và đưa giáo dục môi trường vào chương trình giảng dạy chính khoá cho học sinh nhằm nâng cao nhận thức của học sinh về môi trường. (Aminrad Z, Zakariya SZBS, Hadi AS, Sakari M, 2012)
Hàn Quốc, Bộ Môi trường đã triển khai chương trình giáo dục môi trường được đưa vào các môn học thông thường và các hoạt động ngoại khoá ở các trường tiểu học và trung học. Chính phủ đã đưa ra chính sách “Green Growth Educarion” vào chương trình giảng dạy của nhà trường có khả năng mang lại kết quả trong tương lai khi thế hệ trẻ ngày nay sẽ trở thành các lãnh đạo tương lai trong xã hội xanh. (Hye-Eun Chu & Yeon-A Son, 2014)
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy vai trò của cô giáo, thầy giáo là hết sức quan trọng trong việc giáo dục bảo vệ môi trường ở tất cả các cấp học được các quốc gia quan tâm đặc biệt.
1.1.2. Nghiên cứu ở trong nước Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Việt Nam, hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề lớn được quan tâm sâu sắc. Để đảm bảo cho con người được sống trong môi trường lành mạnh thì việc giáo dục ý thức bảo vệ môi trường nói chung và hoạt động giáo dục nâng cao nhận thức về môi trường nói riêng cần được hình thành từ lứa tuổi thiếu nhi nhằm giúp con người nắm vững những khái niệm về môi trường sống của bản thân và cộng đồng. Từ đó, biết cách sống tích cực với môi trường nhằm đảm bảo sự phát triển toàn diện. Nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục bảo vệ môi trường ở nước ta đã được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước thể hiện rất rõ trong các văn bản pháp luật của Việt Nam.
Chỉ thị số 02/2005/CT-BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 31 tháng 1 năm 2005 về việc tăng cường công tác giáo dục bảo vệ môi trường trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các cơ sở giáo dục trong cả nước tổ chức triển khai nhiệm vụ giáo dục bảo vệ môi trường và thực hiện tốt các hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường. (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2005)
Công văn số 3857/BGDĐT-GDTrH của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 11 tháng 5 năm 2009 về việc tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường các môn học cấp trung học cơ sở (THCS), trung học phổ thông (THPT) cả nước. Đối với cấp THCS, Thực hiện tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường vào các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân, Vật lý, Sinh học và Công nghệ. Những nội dung bảo vệ môi trường sẽ được lồng ghép vào bài học một cách tự nhiên, gần gũi và phù hợp với học sinh sẽ làm cho bài học trở nên phong phú hơn, gắn liền với thực tế và không làm quá tải bài học. (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2009)
Tác giả Nguyễn Tý nghiên cứu đề tài “Biện pháp quản lý công tác giáo dục môi trường ở các trường THCS trên địa bàn quận Thanh Khê, Thành phố Đà Nẵng”. Đề tài tác giả nghiên cứu là thực trạng quản lý công tác giáo dục môi trường các trường THCS và đề xuất các biện pháp quản lý công tác giáo dục môi trường. (Nguyễn Tý, Biện pháp quản lý công tác giáo dục môi trường ở các trường THCS trên địa bàn quận Thanh Khê, Thành phố Đà Nẵng, 2012)
Tác giả Phan Thị Thu Hoà nghiên cứu về “Biện pháp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh THCS Băng Adrenh thông qua các hoạt động của Đội TNTP Hồ Chí Minh”. (Sáng kiến kinh nghiệm). Đề tài tìm hiểu về thực trạng và nguyên nhân làm ảnh hưởng đến ý thức bảo vệ môi trường của học sinh từ đó tìm ra những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. (Phan Thị Thu Hoà, 2014)
Đồng tác giả Phan Thị Thanh Hội và Lê Thanh Oai nghiên cứu đề tài “Xây dựng chuyên đề dạy học Sinh học 7 tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường” đăng Tạp chí Giáo dục số 370, kì 2, tháng 11/2015. Trong bài viết, tác giả đã đưa ra cách xây dựng chuyên đề dạy học Sinh học 7 tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường và đưa ra một số ví dụ cụ thể. Tác giả nhận định: Việc giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường phổ thông còn nặng về cung cấp kiến thức và lí thuyết nên chưa tạo nhiều điều kiện để học sinh tìm tói, khám phá, trải nghiệm và sáng tạo với các vấn đề về môi trường và bảo vệ môi trường. Vì vậy, cần phải cung cấp thêm cho giáo viên cách thức tổ chức dạy học tích cực nhằm tích hợp GDBVMT có hiệu quả hơn. (Phan Thị Thanh Hội & Lê Thanh Oai, tháng 11/2015) Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Tác giả Bùi Thị Thuỷ nghiên cứu về “Dạy học tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường thông qua phần hoá học hữu cơ lớp 9 ở trường trung học cơ sở”. Đề tài phân tích thực trạng dạy học tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường thông qua phần hoá học hữu cơ lớp 9 nhằm phát triển năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn cho học sinh THCS. Tác giả vận dung lý luận và thực tiễn để đề xuất các biện pháp và thiết kế mẫu một số kế hoạch dạy học tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường vào môn Hoá học cho học sinh lớp 9 và thực nghiệp sư phạm. (Bùi Thị Thuỷ, 2016)
Tác giả Nguyễn Minh Trí có bài viết “Thực trạng hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trung học cơ sở ở Huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang” đăng Tạp chí Giáo dục số 481, kì 1, tháng 7/2020. Từ thực trạng giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh trung học cơ sở ở Huyện Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, tác giả cho rằng: Hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, vì vậy, giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THCS là nhiệm vụ quan trọng và được các cấp lãnh đạo quan tâm, nhằm nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ và hành vi của học sinh trong việc giữ gìn , bảo vệ môi trường góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống. (Nguyễn Minh Trí, tháng 7/2020)
Ngày 02/12/2013 trên Tạp chí Môi trường có bài viết: “Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh”. Bài viết có nêu lên một thực tế là, các trường học trong toàn tỉnh đã tích cực đẩy mạnh các hoạt động giáo dục môi trường gắn liền với phong trào xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực. Trong bài viết, đã đưa ra một số hoạt động trong tiết học cũng như là hoạt động ngoại khoá về giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh và lấy ý kiến nhận xét từ các lãnh đạo Sở, Phòng Giáo dục và Đào tạo. Từ đó, tạo sự đổi mới trong nhận thức của học sinh về môi trường. (Tạp Chí Môi Trường, 2021)
Nhìn qua một số nghiên cứu ở nước ngoài và Việt Nam cho thấy, có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cũng như quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho thấy được tầm quan trọng của công tác này. Các tác giả đã khẳng định, cần quan tâm đến hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh, các biện pháp nâng cao giáo dục bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, công tác quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các Trường THCS ở Thuận An, Bình Dương còn khiêm tốn. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương dưới sự chỉ đạo, điều hành các cấp quản lý nhằm đổi mới nội dung và phương pháp phù hợp với điều kiện dạy và học của học sinh tại các trường THCS trên địa bàn Thuận An, Bình Dương rất cần thiết. Để từ đó nâng cao được nhận thức của giáo viên và học sinh về vấn đề này.
1.2. Một số khái niệm Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
1.2.1. Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường ở trường THCS
1.2.1.1. Quản lý
Trong quá trình hình thành và phát triển của xã hội, những hoạt động chung trong một nhóm hay một tổ chức cần có sự hợp tác với nhau để tồn tại và phát triển cần có sự điều khiển, chỉ đạo thống nhất các hoạt động chung, chính vì vậy “quản lý” xuất hiện.
Ngày nay, thuật ngữ “quản lý” trở nên phổ biến, mọi hoạt động của tổ chức, xã hội đều cần tới quản lý. Quản lý là một hoạt động diễn ra trong mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và liên quan đến mọi người. Quản lý trở thành một khoa học, một nghệ thuật và là một nghề trong xã hội hiện đại – nghề quản lý. Do đó, lý luận về quản lý ngày càng phong phú và phát triển. Chính vì vậy, quản lý được thể hiện ở các cách tiếp cận khác nhau:
Theo Nguyễn Ngọc Quang đã viết: “Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”. (Nguyễn Ngọc Quang, 1989)
Theo Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2014) đã quan niệm rằng: “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. (Nguyễn Quốc Chí & Nguyễn Thị Mỹ Lộc, 2014)
Theo Nguyễn Minh Đạo (1997): “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra” (Nguyễn Minh Đạo, 1997)
Theo Harold Koontz (1993): “Quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động của những người khác” (Harol Koontz, 1993)
Theo Trần Thị Tuyết Mai (2012): “Quản lý là quá trình thực hiện các công việc xây dựng kế hoạch, sắp xếp tổ chức, phân phối nguồn lực, chỉ đạo điều hành và kiểm soát đánh giá… nhằm vận hành tổ chức một cách hiệu quả nhất để đảm bảo đạt được mục tiêu đề ra” (Trần Thị Tuyết Mai, 2012)
Những định nghĩa trên đây tuy khác nhau về cách diễn đạt, về góc độ tiếp cận nhưng đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản của khái niệm quản lý và cách phân loại chức năng quản lý, các định nghĩa trên ta có thể hiểu:
“Quản lý là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý một cách phù hợp nhằm đạt được mục đích của tổ chức đề ra”.
1.2.1.2. Quản lý giáo dục Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Quản lý giáo dục là một bộ phận của quản lý xã hội. Khái niệm quản lí giáo dục (QLGD) được hiểu khá rộng trong nhiều phạm vi, từ vĩ mô đến vi mô cũng có những định nghĩa sau:
Theo Đinh Văn Vang (1996): “QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, nhằm đưa hoạt động giáo dục tới mục tiêu đã định trên cơ sở nhận thức và vận dụng đúng những quy luật khách quan của hệ thống giáo dục quốc dân” (Đinh Văn Vang, 1996)
Theo Phạm Minh Hạc (1986): “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến lên trạng thái mới về chất”. (Phạm Minh Hạc, 1986)
Theo Trần Kiểm (2008): “Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát một cách có hiệu quả nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội”. (Trần Kiểm, 2008)
“QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm tổ chức, điều khiển và quản lý hoạt động giáo dục của những người làm công tác giáo dục (khách thể quản lý) nhằm thực hiện mục tiêu, kế hoạch giáo dục đặt ra.” (Nguyễn Ngọc Quang, 1998)
Như vậy, các nhà nghiên cứu QLGD đều thống nhất quan niệm: QLGD nói chung (quản lý trường học nói riêng) là hệ thống những tác động có mục đích, có khoa học, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất. QLGD cũng thực hiện các chức năng quản lý trong công tác giáo dục, bao gồm lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá các quá trình giáo dục. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Tóm lại, QLGD là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt được kết quả mong muốn (mục tiêu) một cách có hiệu quả nhất.
1.2.1.3. Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh Trung học cơ sở
Căn cứ vào khái niệm quản lý giáo dục và khái niệm hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường đã nêu ở trên, tác giả luận văn rút ra kết luận: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh Trung học cơ sở là sự tác động của Hiệu trưởng lên tất cả các thành tố liên quan tới hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường nhằm giúp hoạt động này đạt được kết quả mong muốn, làm cho tất cả mọi người trong xã hội có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng, tính cấp thiết của hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường. Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường bao gồm việc quản lý mục tiêu, nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học và huy động đồng bộ lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục bảo vệ môi trường, đồng thời biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục. Trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức về môi trường, giúp học sinh có kĩ năng, thái độ, tình cảm và đặc biệt là thói quen bảo vệ môi trường. Để đạt được mục đích đó, hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường phải hướng tới việc mọi lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng đặc biệt của hoạt động này.
1.2.2. Hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường ở trường Trung học cơ sở
1.2.2.1. Môi trường
Môi trường theo nghĩa rộng là bao gồm tất cả những gì có xung quanh một đối tượng mà người ta nói tới và có những mối quan hệ nhất định với nó. Nếu đối tượng đó là một cá thể sinh vật thì môi trường là tất cả những gì trực tiếp và gián tiếp ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, phát triển và sự tồn tại của cá thể đó.
Tùy theo cách tiếp cận mà các tác giả có những định nghĩa khác nhau về môi trường.
Khái niệm về môi trường được Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) sử dụng là khái niệm do tổ chức UNESCO đưa ra vào năm 1981 “Môi trường là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các các yếu tố vật chất do hoạt động con người tạo ra, trong đó con người sinh sống bằng lao động, đã khai thác những tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn những nhu cầu của con người”. (UNESCO, 1981) Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Tác giả Hoàng Phê (2000) đưa ra khái niệm: “Môi trường là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên, xã hội trong đó con người hay một sinh vật tồn tại phát triển trong quan hệ với con người, với sinh vật ấy”. (Hoàng Phê, 2000)
Luật Bảo vệ môi trường (2005) quy định: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên”. Hay: “Môi trường là một khái niệm rất rộng, chỉ toàn bộ các điều kiện vô cơ và hữu cơ có liên quan đến sự tồn tại và phát triển của các cơ thể sống, bao gồm tất cả những gì đang tồn tại khách quan, là toàn bộ thế giới với tất cả các hình thức biểu hiện muôn màu của nó”. Theo một số quan niệm trên thì môi trường không chỉ là môi trường tự nhiên mà còn là môi trường xã hội và có mối quan hệ chặt chẽ với con người, diễn ra xung quanh con người và liên hệ với nhau thông qua các hoạt động của con người. (Quốc Hội, Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam, 2005)
Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam sửa đổi: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật”. (Quốc Hội, Luật bảo vệ môi trường của Việt Nam sửa đổi năm 2014, 2014) Từ Luật Bảo vệ môi trường, ta rút ra được khái niệm về môi trường như sau: Môi trường sống của con người theo nghĩa rộng là bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo có quan hệ mật thiết, chặt chẽ với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên. Với nghĩa hẹp môi trường không xét tới tài nguyên thiên nhiên, nên môi trường sống của con người chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống con người.
Như vậy, “Môi trường” là tất cả những gì có xung quanh chúng ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển.
1.2.2.2. Bảo vệ môi trường
Luật bảo vệ môi trường đã quy định: “Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành”. (Quốc Hội , Luật Bảo vệ môi trường, 2015)
Các nguyên tắc bảo vệ môi trường theo Luật bảo vệ môi trường:
Bảo vệ môi trường phải gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế và bảo đảm tiến bộ xã hội để phát triển bền vững đất nước; bảo vệ môi trường quốc gia phải gắn với bảo vệ môi trường khu vực và toàn cầu.
Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn xã hội, quyền và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân.
Con người tồn tại, hoạt động trong môi trường và con người cũng là nhân tố của môi trường. Do đó, tác giả rút ra khái niệm bảo vệ môi trường bao gồm: Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên để cân bằng sinh thái. Sử dụng tài nguyên một cách tiết kiệm, không lãng phí và có hiệu quả cao dựa trên các quy luật phát triển của tự nhiên.
Cải tạo các nguồn tài nguyên bị cạn kiệt. Mục đích của cải tạo là phục hồi và nâng cao chất lượng của môi trường.
Chống ô nhiễm và suy thoái môi trường. Sử dụng các biện pháp kỹ thuật cao, các quy định xử phạt thật nghiêm để ngăn chặn việc các công ty, nhà máy, xí nghiệp thải trực tiếp chất thải công nghiệp chưa qua xử lý vào môi trường làm ảnh hưởng đến đời sống của quần chúng nhân dân.
Bảo vệ tính đa dạng sinh học và các vốn gen di truyền quý hiếm. Vốn gen di truyền của chúng đã đóng góp vào một nguồn giống quý giá để sản xuất ra lương thực thực phẩm, nguồn thuốc chữa bệnh và nhiều lợi ích khác. Sự tồn tại của chúng sẽ làm cho sự cân bằng sinh thái của môi trường được ổn định
1.2.2.3. Giáo dục môi trường
Một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử phát triển giáo dục môi trường ở Hội nghị Quốc tế (1970) đã thông qua định nghĩa về giáo dục môi trường như sau: “Là quá trình thừa nhận giá trị và làm rõ khái niệm để xây dựng những kỹ năng và thái độ cần thiết giúp hiểu biết và đánh giá đúng môi tương quan giữa con người với nền văn hóa và môi trường lý sinh xung quanh mình. Giáo dục môi trường cũng tạo cơ hội cho viêc thực hành để quyết định và tự hình thành quy tắc ứng xử trước những vấn đề liên quan đến chất lượng môi trường”.
Như vậy, có nhiều định nghĩa về giáo dục môi trường. Từ những khái niệm trên, ta có thể đưa ra khái niệm về giáo dục môi trường như sau: “Giáo dục môi trường là một quá trình thông qua các hoạt động giáo dục nhằm phát triển cộng đồng có nhận thức rõ ràng và quan tâm đến môi trường, nhằm trau dồi thêm kiến thức, kĩ năng và sẵn sàng tìm ra các giải pháp cho những vấn đề xảy ra ở hiện tại và trong tương lai.”
1.2.2.4. Hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường ở trường Trung học cơ sở
Tại Hội nghị Quốc tế về giáo dục bảo vệ môi trường đã nêu ra định nghĩa về hoạt động giáo dục môi trường “là quá trình nhận thức ra giá trị và làm sáng tỏ các quan điểm, phát triển các kỹ năng và thái độ cần thiết để hiểu và đánh giá đúng mối tương quan giữa con người, môi trường văn hóa và môi trường tự nhiên bao quanh. Giáo dục môi trường đòi hỏi thực hành (áp dụng thực tiễn) trong việc ra quyết định và tự xây dựng quy tắc hành vi về các vấn đề liên quan đến chất lượng môi trường”. (Thủ tướng Chính phủ, 1970) Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Bộ Giáo dục và Đào tạo có nêu:“Hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường có mục tiêu sẽ mang lại lợi ích thiết thực cho người học như:
Hiểu biết bản chất các vấn đề về môi trường: tính phức tạp, quan hệ nhiều mặt, nhiều chiều, tính hạn chế của tài nguyên thiên nhiên, quan hệ chặt chẽ giữa môi trường và phát triển, giữa môi trường địa phương, vùng, quốc gia với môi trường khu vực và toàn cầu. Mục tiêu này nhằm trang bị cho các đối tượng được giáo dục các kiến thức môi trường.
Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng các vấn đề môi trường như một nguồn lực để sống, lao động và phát triển, đối với bản thân họ cũng như đối với cộng đồng, quốc gia và quốc tế; từ đó có thái độ, cách ứng xử đúng đắn trước các vấn đề môi trường, xây dựng cho mình quan niệm về ý thức trách nhiệm, về giá trị nhân cách để hình thành các kỹ năng thu thập số liệu và phát triển sự đánh giá thẩm mỹ. Mục tiêu này nhằm định hướng xây dựng thái độ, đối xử thân thiện với môi trường.
Có tri thức, kỹ năng, phương pháp hành động để nâng cao năng lực trong việc lựa chọn phong cách sống thích hợp với việc sử dụng một cách hợp lý và khôn ngoan các nguồn tài nguyên thiên nhiên để họ có thể tham gia có hiệu quả vào việc phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường cụ thể nơi họ sống và làm việc. Đây là mục tiêu khả năng hành động.” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2009)
Từ những minh chứng trên, ta có thể hiểu được: “Hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường là một quá trình thông qua các hoạt động giáo dục chính quy và không chính quy nhằm giúp con người có được sự hiểu biết, kỹ năng và giá trị tạo điều kiện cho họ tham gia vào phát triển một xã hội bền vững về sinh thái.”
Mục đích của hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường ở trường Trung học cơ sở nhằm vận dụng những kiến thức và kỹ năng vào gìn giữ, bảo tồn, sử dụng môi trường theo cách thức bền vững cho cả thế hệ hiện tại và tương lai. Điều này cũng bao hàm cả việc học tập cách sử dụng những công nghệ mới nhằm tăng sản lượng và tránh những thảm họa môi trường, tận dụng các cơ hội và đưa ra những quyết định khôn khéo khi sử dụng tài nguyên.
Từ đó, tác giả luận văn rút ra kết luận định nghĩa về hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường ở trường Trung học cơ sở là một hình thức dạy và học giúp cho người học, đặc biệt là lứa tuổi học sinh có tình yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước, tôn trọng môi trường tự nhiên, có thái độ thân thiện với môi trường, quan tâm thường xuyên đến môi trường sống của cá nhân, gia đình và cộng đồng, biết ủng hộ và tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường, phê phán các hành vi có hại cho môi trường.
1.3. Lý luận về hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
1.3.1. Mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở
Giáo dục bảo vệ môi trường hiệu quả nhất là giáo dục kiến thức về môi trường trong một môi trường cụ thể nhằm hướng đối tượng giáo dục có hành động bảo vệ môi trường. Nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục bảo vệ môi trường trong công tác bảo vệ môi trường, Đảng và Nhà nước đã có những chính sách, những chương trình hành động cụ thể và đã đạt được những thành tựu đáng kể. Các chương trình giáo dục bảo vệ môi trường bao gồm cả chính khóa và ngoại khóa đã được triển khai tới tất cả các cấp học trong hệ thống giáo dục của Việt Nam. Các chiến dịch nâng cao nhận thức cộng đồng và vận động quần chúng cũng như các tổ chức xã hội khác tham gia vào việc bảo vệ môi trường thực hiện hàng năm.
Thủ tướng Chính Phủ (2001) đã phê duyệt đề án: “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân” (Thủ Tướng Chính Phủ, 17/10/2001) với mục tiêu của đề án như sau:
Giáo dục học sinh, sinh viên các cấp học, bậc học, trình độ đào tạo trong hệ thống giáo dục quốc dân có hiểu biết về pháp luật và chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về bảo vệ môi trường; có kiến thức về môi trường để tự giác thực hiện bảo vệ môi trường.
Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy, giáo viên, cán bộ nghiên cứu khoa học công nghệ và cán bộ quản lý về môi trường.
Song, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã gửi công văn về việc tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường các môn học cấp Trung học cơ sở và Trung học phổ thông. (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Công văn số 3857/BGDĐT-GDTrH ngày 11/05/2009, 2009)
Từ mục tiêu trên của đề án và công văn số 3857/BGDĐT-GDTrH, ta có thể hiểu được mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường là:
Về kiến thức: học sinh cần hiểu rõ bản chất của các vấn đề về môi trường, tính phức tạp, mối quan hệ giữa con người với các thành phần môi trường, hạn chế của tài nguyên thiên nhiên đối với con người. Học sinh nắm rõ được nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường và các biện pháp bảo vệ môi trường xung quanh trường, lớp, nhà, khu phố và những nơi công cộng.
Về thái độ: nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề môi trường như một nguồn lực để sinh sống, tình yêu đối với thiên nhiên có ý thức, trách nhiệm đối với môi trường. Từ đó, học sinh có thái độ tích cực, quan tâm và mong muốn được tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường, cải thiện môi trường, biết phê phán những hành vi làm gây ô nhiễm huỷ hoại môi trường sống trên cộng đồng. Có ý thức tuyên truyền vận động mọi người cùng tham gia hoạt động bảo vệ môi trường.
Về khả năng: có tri thức, kỹ năng, phương pháp hành động để nâng cao năng lực trong việc lựa chọn và sử dụng hợp lý, khôn ngoan các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Giúp học sinh có thể tham gia hiệu quả vào việc phòng ngừa và giải quyết các vấn đề môi trường cụ thể là tại trường học và nơi học sinh sinh sống
Về phong trào: Cung cấp cho học sinh có cơ hội và động lực để tham gia bảo vệ môi trường một cách tích cực ở mọi cấp trong công việc xây dựng một môi trường bền vững. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Như vậy, giáo dục bảo vệ môi trường giúp cho cộng đồng hiểu được bản chất phức tạp của hệ thống môi trường thiên nhiên cũng như nhân tạo để từ đó giúp con người có những hành vi đối xử “thân thiện” hơn đối với môi trường. Mục tiêu của giáo dục môi trường cũng nhằm trang bị cho cộng đồng những kĩ năng hành động bảo vệ môi trường một cách hiệu quả hơn.
1.3.2. Nội dung hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở
Thủ tướng Chính Phủ (2001) đã phê duyệt đề án: “Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân” (Thủ Tướng Chính Phủ, 17/10/2001) với hai nội dung về đảm bảo tính giáo dục toàn diện và nội dung đào tạo cán bộ bảo vệ môi trường như sau:
Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường phải bảo đảm tính giáo dục toàn diện: Đối với giáo dục mầm non: cung cấp cho trẻ em hiểu biết ban đầu về môi trường sống của bản thân nói riêng và con người nói chung, biết cách sống tích cực với môi trường, nhằm bảo đảm sự phát triển lành mạnh về cơ thể và trí tuệ. Đối với giáo dục tiểu học: trang bị những kiến thức cơ bản phù hợp với độ tuổi và tâm sinh lý của học sinh về các yếu tố môi trường, vai trò của môi trường đối với con người và tác động của con người đối với môi trường; giáo dục cho học sinh có ý thức trong việc bảo vệ môi trường; phát triển kỹ năng bảo vệ và gìn giữ môi trường.
Đối với giáo dục Trung học cơ sở và trung học phổ thông: trang bị những kiến thức về sinh thái học, mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên; trang bị và phát triển kỹ năng bảo vệ và gìn giữ môi trường, biết ứng xử tích cực với môi trường sống xung quanh.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu trong quá trình học tập, tích hợp và lồng ghép vào nội dung bài học giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở cấp Trung học cơ sở có thêm những hiểu biết về môi trường ở địa phương, quốc gia, khu vực, quốc tế và tiến dần tới khả năng xem xét vấn đề môi trường hiện tại và tương lai, định hướng hành động của cá nhân cho phù hợp với yêu cầu phát triển môi trường, từ đó có thể rút ra được các nội dung giáo dục bảo vệ môi trường ở trường Trung học cơ sở cụ thể như sau: Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Thứ nhất: Những khái niệm cơ bản về môi trường gồm “Môi trường sống của chúng ta; Khái niệm môi trường; Môi trường tự nhiên; Môi trường nhân tạo; Tài nguyên thiên nhiên; Các hệ sinh thái.”
Thứ hai: Mối quan hệ giữa con người và môi trường; Con người là một thành phần của môi trường; Vai trò của môi trường đối với con người và tác động của con người đối với môi trường; Mối quan hệ giữa dân số và môi trường. Công nghiệp, đô thị hóa và vấn đề môi trường.
Thứ ba: Các vấn đề về môi trường như “Sự ô nhiễm và suy thoái môi trường; Ô nhiễm môi trường: ô nhiễm nước, biển, ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất, ô nhiễm tiếng ồn và các vấn đề về chất thải, suy thoái rừng, suy thoái đất và suy giảm đa dạng sinh học.”
Thứ tư: Một số biện pháp bảo vệ môi trường, bao gồm:
“Trồng nhiều cây xanh” giúp cung cấp oxi và hấp thụ khí cacbonic làm giảm ô nhiễm không khí, giảm xói mòn đất và tăng hệ sinh thái. “Sử dụng năng lượng sạch” có thể tái tạo bất cứ khi nào có thể như năng lượng từ gió, ánh nắng mặt trời. “Tiết kiệm điện” nên nhớ rút phích cắm ra khỏi ổ hoặc tắt nguồn tất cả các thiết bị điện khi không sử dụng. “Giảm sử dụng túi nilông” vì các túi ni lông không thể bị phân hủy sinh học nên chúng có thể tồn tại trong môi trường đến hàng trăm năm và để sản xuất ra 100 triệu túi nhựa phải tiêu tốn 12 triệu barrel dầu hỏa.
Thứ năm: Phổ biến những quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, cụ thể là Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020, Luật gồm 14 chương, 171 điều quy định về hoạt động bảo vệ môi trường; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cộng đồng dân cư, hộ gia đình và cá nhân trong hoạt động bảo vệ môi trường.
Thứ sáu: Các hoạt động tham quan trải nghiệm thực tế các cơ sở đạt yêu cầu về bảo vệ môi trường, thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp giáo viên chủ nhiệm lồng ghép tổ chức hướng dẫn các em tham quan thực tế tại các cơ sở sản xuất kinh doanh, hướng dẫn cho các em tìm hiểu về các quy định, quy trình vận hành hệ thống xử lý bảo vệ môi trường, hướng dẫn giải thích các chỉ số, chỉ báo tín hiệu môi trường an toàn, môi trường ô nhiểm trong các cơ sở kinh doanh, sản xuất;
Thứ bảy: Trải nghiệm các hoạt động lao động cộng đồng giữ gìn và bảo vệ môi trường. Phối hợp với các tổ chức trong và ngoài nhà trường tổ chức trải nghiệm địa phương cụ thể một địa phương có đặc điểm về vị trí địa lí, cảnh quan thiên nhiên, kinh tế xã hội, trình độ học sinh, điều kiện cơ sở vật chất ở các nhà trường khác nhau. Những yếu tố này đều được chú ý đến khi tổ chức hoạt động cho học sinh sao cho phù hợp và đảm bảo tính khả thi cho mỗi hoạt động, đặc biệt là việc lấy tư liệu liên quan đến vấn đề môi trường như biến đổi khí hậu, nguồn nước, thiên tai tại địa phương.
Thứ tám: Tuyên truyền, diễn kịch về giáo dục bảo vệ môi trường ở học sinh bậc Trung học cơ sở, cụ thể xây dựng kịch bản tuyên truyền nước sạch và vệ sinh môi trường như sau: Nước sạch và vệ sinh môi trường là nhu cầu thiết yếu của cuộc sống, đã thực sự trở thành vấn đề toàn cầu, thu hút sự quan tâm của toàn nhân loại, đồng thời cũng là vấn đề cấp thiết của nước ta. Môi trường có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và sức khỏe cộng đồng. Nhưng hiện nay môi trường đang bị đe dọa một cách nghiêm trọng do chính bàn tay con người. Vì vậy mỗi chúng ta cần ý thức và hiểu được rằng: bảo vệ môi trường là bảo vệ cuộc sống của chúng ta. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Chương trình giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở được cụ thể hóa thành các nội dung lồng ghép, tích hợp khác nhau ở các môn học nhằm giáo dục toàn diện cho học sinh.
Như vậy, nhà trường cần chủ động trong việc chỉ đạo, hướng dẫn, nắm bắt kịp thời những vấn đề mang tính cấp bách, các mục tiêu và nội dung hoạt động tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của nhà trường để thực hiện sao cho đảm bảo đúng và đủ nội dung chương trình mà không làm quá tải nội dung bài học.
1.3.3. Các hình thức hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở
Hiện nay, hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường ở cấp Trung học cơ sở không được dạy thành một môn học chính mà được tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào các môn học như: Ngữ văn, Địa lý, Lịch sử, Mỹ thuật, Giáo dục công dân, Vật lý, Hoá học.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009) về việc tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường các môn học cấp Trung học cơ sở và Trung học phổ thông ta có thể rút ra được các hình thức giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở trường Trung học cơ sở như sau:
Thứ nhất: Dạy học lồng ghép hoạt động bảo vệ môi trường vào môn học Việc tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường vào môn học được thể hiện các nội dung như sau:
Phân tích những vấn đề môi trường trong môn học nhưng vẫn giữ được đặc trưng của môn học không biến bài học thành bài giáo dục bảo vệ môi trường. Khai thác nội dung một cách chọn lọc, có tính tập trụng nhất định.
Khai thác nội dung thực trạng môi trường đất, nước, không khí làm đề tài để xây dựng thành một bài báo cáo, bài thuyết trình, tuyên truyền mang tính giáo dục môi trường ở trường học mang tính thực tế giúp học sinh tích cực tham gia.
Sử dụng phương tiện dạy học làm nguồn tri thức được vật chất hóa như là điểm tựa để học sinh phân tích, tìm tòi khám phá các kiến thức cần thiết về môi trường.
Xây dựng bài tập xuất phát từ kiến thức môn học, những gắn liền với thực tế địa phương. Bên cạnh đó, học sinh có thể sử dụng các tài liệu tham khảo để tự tìm tòi, học hỏi thêm các kiến thức mới liên quan.
Thứ hai: dạy học các bài học về bảo vệ môi trường.
Ban giám hiệu đưa ra cách hướng dẫn giáo viên trong công tác giảng dạy cần nhấn mạnh nội dung giáo dục bảo vệ môi trường khi dạy các bài học này. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Thứ ba: Báo cáo chuyên đề về giáo dục bảo vệ môi trường do trường tổ chức
Nhà trường thường xuyên tổ chức cho học sinh và giáo viên nghe các báo cáo chuyên đề, tham gia hội thảo do các chuyên gia về môi trường. Bên cạnh đó, hằng tuần Đoàn thanh niên hay học sinh báo cáo trước tập thể nhà trường, trước tập thể lớp nội dung về các hoạt động bảo vệ môi trường đã thực hiện, cách tuyên truyền giáo dục người thân, bạn bè ý thức bảo vệ môi trường.
Thứ tư: Tổ chức tham quan thực tế về bảo vệ môi trường ở trường hoặc địa phương
Khảo sát thực địa tìm hiểu vấn đề bảo vệ môi trường ở địa phương, do phường/thành phố, Đoàn thanh niên, nhà trường tổ chức cho học sinh tham quan giúp học sinh biết được thực trạng, nhận thức sâu vấn đề bảo vệ môi trường.
Thứ năm: Tổ chức các cuộc thi vẽ tranh, sáng tác thơ, văn nghệ, thời trang giấy về đề tài giáo dục bảo vệ môi trường
Tham gia các cuộc thi vẽ tranh, sáng tác thơ, hùng biện, văn nghệ, biểu diễn thời trang giấy về các đề tài giáo dục bảo vệ môi trường tại trường học hoặc địa phương tổ chức. Nghiên cứu về môi trường, tham gia hoạt động “sáng tạo trẻ” chế tạo các đồ dùng liên quan tới bảo vệ môi trường do Phòng Giáo dục và Đào tạo hay nhà trường tổ chức hằng năm.
Thứ sáu: Tổ chức nghiên cứu khoa học về môi trường
Nghiên cứu khoa học về môi trường do giáo viên và học sinh thực hiện. Giáo viên viết sáng kiến kinh nghiệm hoặc nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng. Học sinh và giáo viên viết các bài nghiên cứu về môi trường báo cáo trước hội đồng sư phạm nhà trường.
Thứ bảy: Tham gia các sự kiện về bảo vệ môi trường điển hình như “Giờ Trái Đất”
- Tham gia sự kiện “Giờ trái đất” được diễn ra hằng năm. Thực hiện phong trào “Chống rác thải nhựa”
- Tham gia tuyên truyền, vận động những người xung quanh tham gia bảo vệ môi trường như “Em là phát thanh viên”.
- Thành lập Câu lạc bộ sinh hoạt chủ đề liên quan đến môi trường như: “Hãy chung tay cứu Trái Đất, Xây dựng môi trường Xanh – Sạch – Đẹp, Một ngày em là chiến sĩ.”
1.3.4. Phương pháp hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009) về việc tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường các môn học cấp Trung học cơ sở và Trung học phổ thông được sử dụng các phương pháp dạy của các bài tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường phải góp phần phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh trong học tập.
Từ văn bản trên, có thể hiểu phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường cũng là phương pháp dạy học được lồng ghép vào các bộ môn chịu sự chi phối mang tính đặc trưng riêng của môn học. Vì vậy, ngoài các phương pháp giảng dạy trên lớp, chơi trò chơi, đóng vai, thảo luận, thuyết trình thì còn có nhiều phương pháp khác như: phương pháp dạy học trải nghiệm, phương pháp thí nghiệm, phương pháp dạy học khám phá, phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề, phương pháp dạy học theo dự án, phương pháp nêu gương.
Một số phương pháp hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh Trung học cơ sở tiêu biểu như sau:
Phương pháp dạy học trải nghiệm: Phương pháp này không chỉ giúp học sinh củng cố lại các kiến thức đã học trên lớp, đồng thời đi sâu, tìm hiểu bản chất của những hiện tượng của môi trường tự nhiên, nhân tạo, hiểu mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và môi trường, những vấn đề nảy sinh do các hoạt động của con người gây ra với môi trường, những nguy cơ tiềm ẩn mà con người ngày càng phải trực diện. Có thể triển khai theo hai cách:
Tổ chức cho học sinh đi tham quan học tập ở khu bảo tồn thiên nhiên, các lâm trường, nhà máy xử lý rác thải, khu công nghiệp, danh lam thắng cảnh.
Lập nhóm tìm hiểu tình hình môi trường ở trường học hoặc ở địa phương.
Các nhóm có nhiệm vụ:
- Thứ nhất: Điều tra, tìm hiểu tình hình môi trường ở khu vực khảo sát.
- Thứ hai: Lựa chọn vấn đề khảo sát mang tính nghiên cứu (ví dụ vấn đề ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí)
- Thứ ba: Làm bài thuyết trình, báo cáo kết quả, nêu phương án cải thiện môi trường.
Giáo viên nên áp dụng phương pháp này trong các đợt tham quan, dã ngoại, du lịch do nhà trường tổ chức cho các lớp học sinh. Những buổi tham quan, dã ngoại có kèm mục đích tìm hiểu, khám phá môi trường sẽ làm phong phú thêm nội dung và hoạt động tham quan, rèn luyện hành vi ứng xử với môi trường thực tế. Để phương pháp này trở nên hiệu quả cao, cần có sự chuẩn bị chu đáo về nội dung, không nên chỉ dừng lại ở quan sát, mô tả hiện trạng, đặc điểm mà cần phải làm cho học sinh quan tâm và thấy có trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ, làm đẹp thêm địa điểm tham quan. Có thể nói đây là phương pháp hay nhất trong giáo dục bảo vệ môi trường. Trên cơ sở đó các em nhận thức được vai trò của mình đối với thiên nhiên, giúp các em thấy được những vấn đề cấp bách của môi trường cần được cải thiện. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Phương pháp thí nghiệm: Phương pháp thí nghiệm là sử dụng những dụng cụ tác động đến sự vật, hiện tượng nhằm tái tạo lại những điều đã xảy ra trong thiên nhiên để học sinh có thể quan sát, tìm hiểu. Học sinh cần tiếp thu, trải nghiệm qua các thí nghiệm trong bài học của các môn như: Hóa học, Sinh học, Địa lí, Giáo dục công dân. Học sinh sẽ được hiểu, cảm nhận và có ý thức sâu sắc hơn thông qua các thí nghiệm về những hiện tượng liên quan đến môi trường được học sinh trực tiếp thực hiện.
Phương pháp dạy học khám phá: Ngày nay, học sinh các trường Trung học cơ sở đã có vốn kiến thức tương đối lớn, ngày càng được mở rộng và sâu thêm, điều kiện tìm kiếm các thông tin dễ dàng. Tầm nhìn của các em không còn bó hẹp trong khuôn khổ nhà trường, gia đình. Mặt khác, học phải đi đôi với hành, học sinh cần bồi đắp kiến thức, kỹ năng trên nền tảng học vấn các em đã có. Cần dẫn dắt các em vào những tình huống cần tìm hiểu, cần giải quyết, buộc các em phải vận dụng vốn hiểu biết của mình, tìm kiếm những kiến thức kỹ năng cần thiết nhằm giải quyết vấn đề, từ đó thu nhận thêm kiến thức, kỹ năng mới làm giàu thêm vốn kiến thức của mình.. Giáo viên cần tận dụng đặc điểm này khi thực hiện giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh.
Phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề: Ở mỗi địa phương đều có những vấn đề môi trường bức xúc riêng. Ví dụ như môi trường rừng, môi trường biển và ven bờ, môi trường ở khu công nghiệp… Giáo viên cần khai thác tình hình môi trường địa phương để giáo dục học sinh đảm bảo tính thiết thực và hiệu quả. Bên cạnh đó, phương pháp này đòi hỏi giáo viên phải thu thập số liệu, sự kiện và tìm hiểu về tình hình địa phương. Nhà trường kết hợp với cơ quan địa phương cần tổ chức các hoạt động phù hợp để học sinh có điều kiện tham gia góp phần cải thiện môi trường địa phương.
Những hoạt động thực tiễn mặc dù nhỏ nhưng thiết thực góp phần cải thiện môi trường ở nhà trường và địa phương, đồng thời tác động lên ý thức của học sinh, rèn luyện kỹ năng, thói quen bảo vệ môi trường và giúp các em thấy được giá trị của lao động. Trong quá trình giáo dục cần chú ý rèn luyện kỹ năng bảo vệ môi trường thông qua việc luyện tập xử lý các tình huống môi trường cụ thể. Hình thành cho học sinh khả năng nhận biết và phát hiện các vấn đề môi trường, xây dựng kế hoạch hành động vì môi trường và kỹ năng thực hiện kế hoạch bảo vệ môi trường.
Phương pháp dạy học theo dự án: Với hiện trạng môi trường đang là vấn đề mang tính toàn cầu thì việc giáo dục bảo vệ môi trường bằng những hành động cụ thể qua phương pháp tiên tiến như dạy học theo dự án. Với phương pháp này, học sinh có thể tự lực giải quyết vấn đề và đây sẽ là một trong những phương pháp hiệu quả nhất giúp cho học sinh có những hiểu biết cơ bản về tự nhiên, về môi trường ở địa phương, về môi trường của nước ta. Học sinh nhận thức được mối quan hệ khắng khít, tác động lẫn nhau giữa con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội bao quanh.
Phương pháp nêu gương: Học sinh các trường Trung học cơ sở đã có xem xét, so sánh và bình luận với những hành động của những người trưởng thành trong xã hội. Muốn giáo dục các em có nếp sống văn minh, lịch sự đối với môi trường, trước hết giáo viên và các bậc phụ huynh phải thực hiện đúng các quy định bảo vệ môi trường. Tác động giáo dục từ bạn học cũng rất lớn. Những gương người tốt, việc tốt từ bạn bè sẽ cảm hóa và làm gương tốt cho các em. Giáo viên cần tận dụng các hoạt động tập thể để học sinh thi đua cùng thực hiện tốt các hoạt động bảo vệ môi trường, từ những việc cụ thể như gìn giữ môi trường lớp học, trường học, cộng đồng xanh, sạch, đẹp.
1.3.5. Kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009) về việc tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường các môn học cấp Trung học cơ sở và Trung học phổ thông chỉ đạo việc kiểm tra đánh giá giáo dục bảo vệ môi trường được lồng ghép trong kiểm tra đánh giá của môn học, cần chú ý kiểm tra năng lực vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề về bảo vệ môi trường trong học tập và thực tiễn cuộc sống.
Kiểm tra là một trong bốn chức năng quản lý cơ bản của bất kỳ nhà quản lý bất kỳ cấp học nào. Kiểm tra là xem xét, lượng hóa các thông tin để có các nhận định, phán đoán xem người học đã lĩnh hội được những kiến thức gì, làm được đến đâu, thể hiện hành vi như thế nào. Kiểm tra đánh giá kết quả dạy học là so sánh, đối chiếu, khối lượng kết quả thực tế đạt được ở người học so với kết quả mong đợi đã được xác định ở mục tiêu dạy học.
Nội dung kiểm tra phải đưa ra các yêu cầu đa dạng, đòi hỏi học sinh vận dụng kiến thức vào các tình huống cụ thể để thông qua việc hoàn thành một nhiệm vụ trong bối cảnh thực tế, đồng thời đánh giá được cả kỹ năng nhận thức, quá trình thực hiện cùng với những giá trị, tình cảm của học sinh. Yêu cầu giáo viên sử dụng phối hợp các hình thức, phương pháp kiểm tra đánh giá khác nhau; kết hợp giữa các phương pháp kiểm tra truyền thống (viết, hỏi đáp,…) với các phương pháp kiểm tra đánh giá mới như kiểm tra thực hành, thí nghiệm, đánh giá các sản phẩm của cá nhân, của nhóm, đánh giá ý tưởng sáng tạo… kết hợp giữa trắc nghiệm khách quan và tự luận.
Như vậy, kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục bảo vệ môi trường ở trường Trung học cơ sở là so sánh, đối chiếu, kết quả trên cả ba mặt: Kiến thức, kỹ năng, thái độ kết quả thực tế đạt được ở người học so với kết quả mong đợi đã được xác định ở mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường ở Trung học cơ sở.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu hình thức kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục bảo vệ môi trường ở trường Trung học cơ sở cần lựa chọn và sử dụng linh hoạt, phù hợp. Ta có thể rút ra một số hình thức kiểm tra, đánh giá sau:
- Thứ nhất: Kiểm tra tự luận là cho học sinh viết bài thu hoạch hoặc bài báo cáo về bảo vệ môi trường
- Thứ hai: Kiểm tra trắc nghiệm về các tình huống, các loại chất thải, các câu hỏi liên quan đến bảo vệ môi trường.
- Thứ ba: Kiểm tra kết hợp tự luận và trắc nghiệm
- Thứ tư: Kiểm tra vấn đáp: hỏi học sinh về các vấn đề, các tình huống liên quan đến giáp dục bảo vệ môi trường
- Thứ năm: Tổ chức cho học sinh đánh giá chéo: học sinh trong lớp đánh giá lẫn nhau về ý thức bảo vệ môi trường
- Thứ sáu: Đánh giá sự tiến bộ của học sinh: đánh giá ý thức và các hoạt động tuyên truyền giáo dục bảo vệ môi trường của các em. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
1.4. Lý luận về quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở
1.4.1. Xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở
Trần Kiểm (2004) có nhận định: “Lập kế hoạch bao gồm việc xây dựng tầm nhìn chiến lược, quy hoạch tổng thể các vấn đề quản lý và lập kế hoạch từng thời kỳ. Lập kế hoạch là quá trình thiết lập các mục tiêu, các con đường, các biện pháp, các điều kiện đảm bảo cho hoạt động thực hiện các mục tiêu đó. Kế hoạch là nền tảng của quản lý”.
Xây dựng kế hoạch là một chức năng của quản lý. Xây dựng kế hoạch là quá trình xác lập được mục tiêu và quyết định những biện pháp tốt nhất để thực hiện những mục tiêu đó. Chức năng xây dựng kế hoạch không chỉ dừng ở việc xác định mục tiêu, xây dựng các loại kế hoạch mà phải bao gồm cả quá trình triển khai thực hiện và điều chỉnh kế hoạch. Do đó, việc xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường ở trường Trung học cơ sở là việc làm quan trọng, cần thiết trong công tác quản lý giáo dục.
Ta có thể thấy quá trình xây dựng kế hoạch là một dạng của quá trình đưa ra quyết định và giải quyết vấn đề. Đây là một khung hành động có hệ thống để tiếp cận một nhiệm vụ quan trọng – xác định các mục tiêu và cách thức để đạt được mục tiêu đó. Nó chính là nền tảng của quản lý.
Lập kế hoạch là khâu đầu tiên của quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh ở các trường Trung học cơ sở. Chủ thể quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường là cán bộ quản lý (Hiệu trưởng; Phó Hiệu trưởng) Chủ thể quản lý lập kế hoạch hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường hằng năm phải đầy đủ các nội dung sau:
Bước 1: Khảo sát, đánh giá thực trạng giáo dục bảo vệ môi trường hàng năm của nhà trường
Khảo sát, đánh giá thực trạng nhằm thu thập thông tin, làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch một cách phù hợp với tình hình thực tiễn của nhà trường. Cần đánh giá cụ thể, chi tiết về đội ngũ giáo viên, thực trạng chương trình, nội dung dạy học, thực trạng thực trạng cơ sở vật chất của nhà trường phục vụ giáo dục môi trường ở tại nhà trường. Việc khảo sát và đánh giá chính xác là cơ sở cho việc đặt ra mục tiêu ở những bước tiếp theo được thiết thực, phù hợp với tình hình thực tiễn của nhà trường.
Bước 2: Xác định mục tiêu cụ thể phù hợp với điều kiện của nhà trường.
Trên cơ sở thực trạng được khảo sát và đánh giá, nhà quản lý xác định mục tiêu về giáo dục bảo vệ môi trường một cách phù hợp. Mục tiêu đó bao gồm mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài hạn. Mục tiêu càng chi tiết, cụ thể bao nhiêu thì quá trình triển khai càng dễ thực hiện và đúng định hướng bấy nhiêu. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Bước 3: Xây dựng nội dung cụ thể theo từng học kì
Trên cơ sở các mục tiêu đã xác định, nhà quản lý xây dựng các nội dung cụ thể của giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh. Nội dung này cần đảm bảo nằm trong chương trình giáo dục được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, Phòng Giáo dục và Đào tạo triển khai. Đồng thời, nội dung phải phù hợp với tình hình thực tiễn tại nhà trường với thực trạng đội ngũ giáo viên, học sinh, cơ sở vật chất đã khảo sát trước đó. Ngoài ra, việc xây dựng nội dung cần cụ thể theo từng năm học và cụ thể trong mỗi học kỳ. Có như vậy quá trình triển khai kế hoạch, các lực lượng tham gia sẽ đi đúng định hướng.
Bước 4: Xác định các lực lượng tham gia, điều kiện, kinh phí thực hiện và hỗ trợ
Các lực lượng tham gia, điều kiện và kinh phí thực hiện, hỗ trợ là yếu tố mang tính quyết định đến thành công của việc thực hiện kế hoạch. Cần xác định cụ thể nhiệm vụ của các lực lượng tham gia, các điều kiện để thực hiện kế hoạch và dự trù kinh phí để thực hiện kế hoạch. Việc xác định các vấn đề này càng chi tiết, cụ thể bao nhiêu thì quá trình thực hiện Hiệu trưởng quản lý càng thuận lợi. Giáo dục bảo vệ môi trường được thực hiện thông qua việc tích hợp ở nhiều môn học và hoạt động ngoài giờ lên lớp nên cần có sự phối hợp chặt chẽ của các bộ phận, đoàn thể và các thành viên trong nhà trường. Các chủ thể này trong đơn vị giáo dục nhà trường bao gồm Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, công đoàn và toàn thể các đội ngũ giáo viên, nhân viên nhà trường. Ngoài ra còn có các cơ quan đoàn thể và chính quyền địa phương và sự ủng hộ, giúp đỡ của các chuyên gia, các nhà nghiên cứu, nhà khoa học về môi trường và bảo vệ môi trường.
Nhà trường cần đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường như ánh sáng, không khí, nước sạch và có công trình vệ sinh đạt chuẩn, có thư viện với đầy đủ các tài liệu, tư liệu sách, báo chí, có phòng học, phương tiện công nghệ thông tin phục vụ công tác giáo dục bảo vệ môi trường, có điều kiện về sân chơi, bãi tập, bồn hoa, cây cảnh, góc sinh thái…
Bước 5: Hướng dẫn xây dựng các loại kế hoạch và chương trình hoạt động cụ thể
Sau khi xác định các lực lượng tham gia và chuẩn bị đầy đủ các điều kiện cần thiết cho việc triển khai thực hiện kế hoạch. Nhà quản lý hướng dẫn xây dựng các loại kế hoạch và chương trình hoạt động cụ thể. Đây chính là việc chia nhỏ kế hoạch thành từng bước thực hiện, trong đó những kế hoạch nhỏ làm nền tảng, cơ sở và kết hợp với nhau tạo thành tổng thể kế hoạch chung trong nhà trường. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Bước 6: Công bố, thông báo kế hoạch giáo dục môi trường đến giáo viên và học sinh
Nhà trường thực hiện công bố, thông báo kế hoạch giáo dục môi trường đến toàn thể đội ngũ giáo viên và học sinh nhà trường. Ở bước này, mục tiêu là toàn bộ thông tin, mục tiêu, nội dung, lực lượng tham gia thực hiện kế hoạch phải được công bố đến 100% giáo viên, nhân viên và học sinh nhà trường nắm được, đặc biệt là các lực lượng tham gia vào kế hoạch. Việc thông tin một cách chính thống, đầy đủ và chính xác giúp tác động vào tư duy và nhận thức của các đối tượng rằng nhà trường đang nỗ lực thực hiện kế hoạch giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh, giúp giáo viên và học sinh chuẩn bị tâm thế sẵn sàng tham gia kế hoạch khi có yêu cầu.
Ngoài ra, nhà quản lý cần phải tổ chức các hoạt động liên quan đến chủ đề bảo vệ môi trường: vẽ tranh, trồng cây xanh, kể chuyện, đóng vai, thu gom phế liệu tái chế…Mời các chuyên gia của nhiều lĩnh vực khác nhau tham gia thảo luận về vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường. Từ đó đảm bảo chất lượng và tính khả thi của kế hoạch, đồng thời tạo ra sự cam kết của các bên liên quan trong việc tổ chức thực hiện khi kế hoạch được phê duyệt.
1.4.2. Tổ chức hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở
Trần Kiểm (2004) có nhận định: “Tổ chức là quá trình sắp xếp phân bổ công việc, chia sẻ quyền hành, nguồn lực cho các thành viên để họ có thể hoàn thành các mục tiêu xác định. Tổ chức là công cụ hết sức quan trọng của quản lý”.
Vận dụng lí thuyết này có thể hiểu rằng: Tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh là việc làm tiếp theo sau xây dựng kế hoạch. Trong công tác tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh THCS, phải xuất phát từ quan điểm phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh. Người học là chủ thể của hoạt động nhận thức và rèn luyện đạo đức dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên. Có như vậy thì những chuẩn mực đạo đức của xã hội sẽ trở thành phẩm chất riêng trong nhân cách của các em.
Để việc tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh đạt hiệu quả, giúp việc xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường có tính khả thi thì các thành viên trong nhà trường và các bộ phận cần được hiểu rõ mục tiêu, yêu cầu của kế hoạch hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường; thảo luận biện pháp thực hiện kế hoạch; sắp xếp, bố trí nhân sự, phân công trách nhiệm quản lý một cách cụ thể, huy động cơ sở vật chất kinh tế; định rõ tiến trình, tiến độ thực hiện, thời gian bắt đầu, thời hạn kết thúc.
Từ những phân tích trên, ta có thể rút ra các việc tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục bảo vệ môi trường của Hiệu trưởng các trường Trung học cơ sở gồm các bước sau: Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Bước 1: Lập danh sách các công việc cần hoàn thành để đạt mục tiêu
Để lực lượng tham gia hình dung cụ thể các công việc phải làm, Ban Giám hiệu, tổ trưởng chuyên môn, các bộ phận tham gia giáo dục bảo vệ môi trường liệt kê danh sách những công việc cần hoàn thành. Trong đó nêu rõ cách thức, người chịu trách nhiệm và thời hạn theo đúng tiến độ của kế hoạch đã đề ra. Danh sách được liệt kê càng đầy đủ và chi tiết thì quá trình thực hiện của các thành viên càng thuận lợi, không bị bỏ sót công việc. Từ đó đảm bảo mục tiêu trong từng giai đoạn thực hiện kế hoạch được hoàn thành và mục tiêu tổng thể được hoàn thành.
Bước 2: Phân công nhiệm vụ gồm các lực lượng
Sau khi liệt kê danh sách các công việc, cán bộ quản lý phân công nhiệm vụ đối với từng đối tượng. Cụ thể như sau:
Giáo viên bộ môn lồng ghép vào các môn học: Các giáo viên bộ môn có nhiệm vụ căn cứ chuyên môn ở môn học đang giảng dạy, lập kế hoạch lồng ghép vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường trong các bài học cụ thể. Sau đó xin ý kiến của tổ trưởng chuyên môn, nhà quản lý để thực hiện kế hoạch đó trong tiết dạy của mình. Đồng thời, đề xuất về cơ sở vật chất nếu cần cho tiết dạy để phục vụ công tác bảo vệ môi trường như tiết học ngoại khoá, hoạt động trải nghiệm cho học sinh.
Chi Đoàn và Tổng phụ trách Đội: Đây là hai tổ chức đoàn thể có nhiệm vụ xây dựng các kế hoạch hoạt động đoàn thể của mình về giáo dục bảo vệ môi trường. Nhiệm vụ này được thực hiện định kỳ theo kỳ học, đặc biệt chú trọng ở những ngày lễ, ngày kỷ niệm như: Tháng hành động về nước sạch, tháng hành động về vệ sinh môi trường, giờ Trái Đất, ngày tiêu dùng xanh…
Với hai đối tượng riêng biệt, là học sinh và giáo viên, hai tổ chức đoàn thể thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục thông qua các cuộc thi, các buổi toạ đàm cho phù hợp.
Giáo viên chủ nhiệm: Đội ngũ giáo viên chủ nhiệm có nhiệm vụ động viên, khích lệ học sinh tham gia học tập và các phong trào về giáo dục môi trường do nhà trường tổ chức. Thông qua công tác chủ nhiệm tiến hành đánh giá mặt tích cực và hạn chế của các em học sinh. Đồng thời, có hình thức khen thưởng đối với học sinh tích cực và có biện pháp xử lý đối với những học sinh còn tham gia học tập và phong trào một cách chống chế, hình thức.
Phó Hiệu trưởng và Tổ trưởng chuyên môn: Đội ngũ cán bộ quản lý nói chung và Phó Hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn có nhiệm vụ quản lý, chỉ đạo, kiểm tra và giám sát việc thực hiện kế hoạch theo sự phân công của Hiệu trưởng. Thông qua kiểm tra, giám sát, nắm tình hình, báo cáo Hiệu trưởng. Đồng thời, báo cáo đề xuất điều chỉnh các nội dung trong kế hoạch nếu phát hiện có điểm chưa phù hợp. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Bước 3: Thực hiện công tác phối hợp các công việc giữa các lực lượng tham gia kế hoạch, đặc biệt ở hai đối tượng sau:
Cơ chế phối hợp công việc giữa giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm: trên cơ sở mối quan hệ chặt chẽ và cùng hướng đến mục tiêu giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh, giáo viên bộ môn đóng vai trò thực hiện chính, giáo viên chủ nhiệm đóng vai trò phối hợp với giáo viên bộ môn.
Cơ chế phối hợp công việc giữa giáo viên và cán bộ Đoàn, Đội: Trong cơ chế này, giáo viên đóng vai trò phối hợp khích lệ học sinh, còn cán bộ Đoàn, Đội giữ vai trò thực hiện chính.
Bước 4: Tạo điều kiện cho các thành viên tham gia bồi dưỡng, tập huấn về giáo dục môi trường.
Bồi dưỡng cho giáo viên bộ môn thông qua các lớp tập huấn chuyên môn, phương pháp dạy học tích hợp, lồng ghép và các phương pháp dạy học hiện đại nhằm nâng cao chất lượng bài giảng có sự lồng ghép về giáo dục môi trường.
Bồi dưỡng cho Chi Đoàn và Tổng phụ trách Đội thông qua các lớp về bồi dưỡng cán bộ đoàn thể, đào tạo bồi dưỡng thêm thông qua trao đổi, giao lưu với các đơn vị trường học khác cùng cấp học để có nhiều phong trào thiết thực, khả thi, huy động học sinh tham gia một cách hứng thú, nhiệt tình.
Bồi dưỡng giáo viên chủ nhiệm thông qua các lớp bồi dưỡng công tác chủ nhiệm do cơ quan quản lý giáo dục cấp trên tổ chức.
Bồi dưỡng cho Phó Hiệu trưởng và Tổ trưởng chuyên môn thông qua các lớp bồi dưỡng công tác quản lý do cơ quan quản lý giáo dục cấp trên tổ chức. Những cách bồi dưỡng trên cơ bản do Phòng Giáo dục và Đào tạo tổ chức. Nhà trường có thể bồi dưỡng cho các lực lượng tham gia giáo dục bảo vệ môi trường thông qua việc mời chuyên gia về giáo dục môi trường đến nhà trường trao đổi; bồi dưỡng thông qua các cuộc thi; bồi dưỡng thông qua việc trao đổi toạ đàm chuyên môn trong nhà trường…
1.4.3. Chỉ đạo hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở
Trần Kiểm (2004) có nhận định: “Chỉ đạo là quá trình các chủ thể quản lý điều khiển, hướng dẫn con người trong tổ chức để họ tự nguyện, nhiệt tình, tin tưởng, phấn đấu đạt các mục tiêu quản lý. Chỉ đạo là khâu quan trọng nhất trong quản lý”.
Vận dụng lí thuyết này có thể hiểu: Chỉ đạo là chức năng của quản lý, là cơ sở để phát huy các nguồn lực cho việc thực hiện các mục tiêu quản lý và góp phần tạo nên chất lượng và hiệu quả cao các hoạt động. Sau khi kế hoạch hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh được thiết lập; tổ chức phân công nhiệm vụ, sắp xếp công việc cho từng người, từng bộ phận thì hoạt động tiếp theo cần phải làm đó là chỉ đạo, điều hành công việc của mỗi cá nhân, bộ phận trong nhà trường sao cho hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh vận hành theo đúng kế hoạch, có sự thống nhất, đồng bộ của các thành viên nhà trường, làm cho việc hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh đạt kết quả cao nhất.
Trong quá trình chỉ đạo thực hiện hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh Trung học cơ sở, Hiệu trưởng cần thực hiện các bước sau đây: Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Bước 1: Hướng dẫn thực hiện kế hoạch
Hướng dẫn giáo viên bộ môn thực hiện kế hoạch dạy học lồng ghép:
Tuy có mối liên hệ với nhau nhưng chương trình các môn học trong chương trình giáo dục phổ thông có tính độc lập tương đối, được thiết kế theo mạch kiến thức môn học trên nguyên tắc kiến thức được học trước là cơ sở của những kiến thức được học sau. Vì thế, một số nội dung kiến thức về giáo dục môi trường gây ra sự chồng chéo, quá tải. Không những thế, thời điểm dạy học các kiến thức đó ở các môn học khác nhau, đôi khi thuật ngữ được dùng cũng khác nhau, gây khó khăn cho học sinh. Vì vậy cần hướng dẫn giáo viên rà soát chương trình môn học có liên quan với giáo dục bảo vệ môi trường trong chương trình giáo dục phổ thông hiện hành, tìm ra những kiến thức chung để xây dựng thành các chủ đề dạy học lồng ghép với giáo dục bảo vệ môi trường.
Hướng dẫn Chi Đoàn, Tổng phụ trách Đội tổ chức các hoạt động có liên quan giáo dục bảo vệ môi trường. Căn cứ kế hoạch và nhiệm vụ chương trình năm học, cán bộ quản lý hướng dẫn Bí thư chi Đoàn, Tổng phụ trách Đội tổ chức các hoạt động bảo vệ môi trường về thời gian, kinh phí có thể đảm bảo và gợi ý một số mô hình đoàn thể trong giáo dục bảo vệ môi trường.
Hướng dẫn giáo viên chủ nhiệm tổ chức các hoạt động liên quan đến giáo dục bảo vệ môi trường vào tiết sinh hoạt chủ nhiệm hoặc tiết ngoài giờ lên lớp. Việc hướng dẫn căn cứ vào kế hoạch cũng như chương trình nhiệm vụ năm học của nhà trường. Cán bộ quản lý hướng dẫn giáo viên chủ nhiệm tổ chức thực hiện các nội dung trong phạm vi khối, lớp học.
Hướng dẫn Phó Hiệu trưởng và Tổ trưởng chuyên môn tổ chức báo cáo chuyên đề giáo dục bảo vệ môi trường. Phó Hiệu trưởng và các tổ trưởng chuyên môn ngoài việc giảng dạy còn phụ trách chuyên môn của nhà trường. Bên cạnh đó, họ còn phân công giảng dạy, xếp thời khóa biểu, kiểm tra các chuyên đề, xây dựng chuyên đề, duyệt giáo án toàn trường, kiểm tra điểm số. Do đó, việc hướng dẫn xây dựng báo cáo chuyên đề giáo dục bảo vệ môi trường chủ yếu bao gồm hướng dẫn về các nội dung cần báo cáo mang tính chuyên môn về bảo vệ môi trường, trình bày và hướng dẫn thời điểm thích hợp để báo cáo chuyên đề.
Bước 2. Giám sát và thúc đẩy thực hiện đối với các lực lượng
Giáo viên bộ môn: Tổ trưởng chuyên môn và Phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn đảm nhiệm việc quản lý, kiểm tra, giám sát, đốc thúc các hoạt động của giáo viên bộ môn trong giáo dục bảo vệ môi trường.
Chi Đoàn và Tổng phụ trách Đội: Phó Hiệu trưởng chịu trách nhiệm giám sát và thúc đẩy các hoạt động của bí thư chi Đoàn và các Đoàn viên, Tổng phụ trách Đội.
Giáo viên chủ nhiệm: Tổ trưởng chuyên môn và Phó Hiệu trưởng phụ trách chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát, đốc thúc các hoạt động của giáo viên chủ nhiệm trong giáo dục bảo vệ môi trường.
Phó Hiệu trưởng và tổ trưởng chuyên môn: Hiệu trưởng trực tiếp quản lý, chỉ đạo và giám sát hoạt động của Phó Hiệu trưởng và tổ trưởng chuyên môn.
Bước 3. Động viên, khen thưởng đối với: Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Giáo viên bộ môn: Động viên, khen thưởng về công tác giáo dục bảo vệ môi trường trong dạy học lồng ghép vào các môn học.
Chi Đoàn và Tổng phụ trách Đội: Động viên, khen thưởng trong công tác tổ chức phong trào và xây dựng các mô hình nhà trường có liên quan đến hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường đạt hiệu quả.
Giáo viên chủ nhiệm: Động viên, khen thưởng về việc thực hiện tốt các nhiệm vụ giáo dục bảo vệ môi trường trong các hoạt động của lớp.
Phó Hiệu trưởng và Tổ trưởng chuyên môn: Động viên, khen thưởng về việc tổ chức, chỉ đạo, triển khai các nhiệm vụ giáo dục bảo vệ môi trường được phân công.
1.4.4. Kiểm tra đánh giá hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở
Trần Kiểm (2004) có nhận định: “Kiểm tra chỉ một hoạt động nhằm thẩm định xác định một hành vi của cá nhân hay một tổ chức trong quá trình thực hiện quyết định”
Từ nhận định trên, có thể rút ra được định nghĩa: kiểm tra là quá trình đánh giá và điều chỉnh nhằm đảm bảo cho các hoạt động đạt tới mục tiêu của tổ chức đã đề ra.
Kiểm tra là quá trình xem xét thực tiễn, đánh giá thực trạng, khuyến khích cái tốt, phát hiện những sai phạm và điều chỉnh nhằm đạt tới những mục tiêu đã đặt ra và góp phần đưa toàn bộ hệ thống quản lý lên một trình độ cao hơn.
Kiểm tra, đánh giá phản ánh thực trạng, quá trình và kết quả thực hiện công tác quản lý giáo dục bảo vệ môi trường, nhằm đảm bảo sự thành công của kế hoạch, phát hiện kịp thời những sai sót, tìm ra nguyên nhân và biện pháp sửa chữa kịp thời, đồng thời là căn cứ, cơ sở quan trọng để rút kinh nghiệm, xây dựng cho kế hoạch tiếp theo, dự kiến quyết định những bước phát triển mới.
Các bước tiến hành kiểm tra đánh giá thực hiện giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh Trung học cơ sở cụ thể như sau:
Bước 1: Xác định các hình thức kiểm tra, đánh giá
Kiểm tra, đánh giá để nắm được mức độ học sinh lĩnh hội kiến thức về giáo dục bảo vệ môi trường và vận dụng vào thực tế bảo vệ môi trường.
Cán bộ quản lý kiểm tra, giám sát giáo viên thực hiện các hoạt động về giáo dục bảo vệ môi trường. Kiểm tra và đánh giá các sản phẩm hoạt động, thăm dò dư luận, trưng cầu ý kiến tập thể.
Bước 2: Xác định tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm tra, đánh giá đối với các lực lượng.
Đối với giáo viên bộ môn cần phải đạt được tiêu chí sau: Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Lập được kế hoạch dạy học; biết cách soạn giáo án theo hướng lồng ghép giáo dục và bảo vệ môi trường theo chuyên môn một cách sáng tạo, có hiệu quả. Tổ chức và thực hiện các hoạt động dạy học trên lớp nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo của học sinh trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ở gia đình và nhà trường. Thực hiện thông tin hai chiều trong quản lý chất lượng giáo dục và bảo vệ môi trường.
Đối với các Chi Đoàn và Tổng phụ trách Đội cần phải đạt được tiêu chí sau:
Tham mưu cho Hiệu trưởng các vấn đề thuộc lĩnh vực đoàn thể, các phong trào nhằm phục vụ kế hoạch giáo dục bảo vệ môi trường của nhà trường. Lập kế hoạch, tổ chức, quản lý các phong trào hoạt động cho đội viên, học sinh trong nhà trường theo kế hoạch giáo dục bảo vệ môi trường của nhà trường.
Phối hợp với các tổ chức, cá nhân có liên quan để tổ chức các hoạt động giáo dục và bảo vệ môi trường của nhà trường .
Đối với giáo viên chủ nhiệm cần phải đạt được tiêu chí sau:
Mức độ hoàn thành nhiệm vụ công tác chủ nhiệm của giáo viên theo quy định thể hiện ở các thành tích đạt được và sự tiến bộ của lớp chủ nhiệm. Tham gia đầy đủ các phong trào giáo dục bảo vệ môi trường do nhà trường và đoàn thể tổ chức, sự tiến bộ rõ rệt của lớp.
Có các sáng kiến kinh nghiệm hoặc ý tưởng về giáo dục bảo vệ môi trường cho các em học sinh đã triển khai có hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục học sinh trong công tác chủ nhiệm.
Đạt thành tích về việc giáo dục ý thức và đạo đức học sinh trong quá trình học tập bảo vệ môi trường. Có giải pháp và kết quả trong việc phối hợp cùng cha mẹ học sinh và xã hội tham gia giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh. Sự tín nhiệm của các tổ chức, cá nhân có liên quan trong nhà trường về giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh.
Đối với Phó Hiệu trưởng và tổ trưởng chuyên môn cần phải đạt được tiêu chí sau:
Tư tưởng đổi mới trong lãnh đạo, quản trị nhà trường. Văn bản, biên bản cuộc họp có nội dung chỉ đạo, khuyến khích, hướng dẫn giáo viên, nhân viên trong nhà trường thực hiện đổi mới trong giáo dục bảo vệ môi trường và khuyến khích học sinh chủ động bảo vệ môi trường
Hướng dẫn, hỗ trợ cán bộ quản lý tổ chuyên môn về lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường phát triển chuyên môn, nghiệp vụ, các văn bản chỉ đạo giám sát, đánh giá việc thực hiện kế hoạch phát triển nhà trường thể hiện sự đổi mới, sáng tạo.
Báo cáo tổng kết có đánh giá về hiệu quả của những đổi mới, sáng tạo trong xây dựng kế hoạch, hướng dẫn tổ chức thực hiện và giám sát, đánh giá việc thực hiện kế hoạch giáo dục bảo vệ môi trường ở nhà trường và kế hoạch của tổ chuyên môn, giáo viên, nhân viên. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Ý kiến nhận xét, đánh giá của giáo viên, nhân viên trong nhà trường về công tác giáo dục bảo vệ môi trường.
Bước 3: Tổng kết, rút kinh nghiệm theo học kỳ
Sau mỗi học kỳ, nhà trường tổ chức tổng kết, rút kinh nghiệm về việc thực hiện kế hoạch giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường. Công tác tổng kết được tiến hành từ các tổ chuyên môn, làm cơ sở cho việc tổng kết công tác giáo dục bảo vệ môi trường chung của nhà trường. Thông qua đó, đánh giá những ưu điểm, mặt hạn chế, nguyên nhân của hạn chế và phương án khắc phục ở những giai đoạn tổ chức giáo dục bảo vệ môi trường tiếp theo.
Bước 4: Tuyên dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân thực hiện tốt
Công tác tuyên dương, khen thưởng có vai trò quan trọng trong việc động viên cá nhân, tập thể có thành tích tốt trong việc tham gia giáo dục bảo vệ môi trường. Công tác thi đua khen thưởng phải được tiến hành công khai, minh bạch, đúng quy trình để đảm bảo sự công bằng đối với các cá nhân đã nỗ lực giáo dục bảo vệ môi trường. Cũng thông qua đó, động viên và khích lệ đội ngũ giáo viên và học sinh tích cực hơn nữa trong việc giáo dục bảo vệ môi trường.
Bước 5: Nhắc nhở, kiểm điểm những cá nhân chưa thực hiện tốt
Ngoài khen thưởng cũng cần nghiêm túc nhắc nhở những cá nhân còn chưa có ý thức, bảo thủ hoặc không nhiệt tình tham gia giáo dục bảo vệ môi trường. Trường hợp cá nhân còn có những biểu hiện tiêu cực cần thiết phải kiểm điểm trách nhiệm đối với công tác giáo dục bảo vệ môi trường để không làm cho tinh thần thi đua giáo dục bảo vệ môi trường của giáo viên và học sinh bị ảnh hưởng.
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở
1.5.1. Cơ sở vật chất thiết bị dạy học của nhà trường
Cơ sở vật chất và thiết bị giáo dục là hệ thống các phương tiện vật chất và kỹ thuật khác nhau được sử dụng vào việc giảng dạy, học tập và các hoạt động mang tính giáo dục khác nhau để đạt được mục đích.
Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học có tác động nhất định đến quá trình dạy học. Cơ sở vật chất tốt tạo môi trường thoải mái cho cả người dạy và người học.
Để tiến hành quá trình hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường và phát huy hiệu quả thì cơ sở vật chất, thiết bị dạy học là một nhân tố thiết yếu của quá trình giáo dục.
1.5.2. Kinh phí Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và giao thực hiện để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà trường.
Nguồn tài chính ngoài Ngân sách Nhà nước là tất cả những yếu tố về nguồn vốn tiền tệ. Nhà nước cho phép các trường được huy động trực tiếp trong khuôn khổ thực hiện xã hội hoá nhằm đảm bảo nguồn tài chính cho trường và được sử dụng theo chế độ quy định để thực hiện mục tiêu của nhà trường.
Cùng với ngân sách của Nhà nước, trường cần huy động sự đóng góp của các tổ chức, của gia đình và của cộng đồng thông qua việc ủng hộ kinh phí, hỗ trợ phương tiện hay tham gia tổ chức các hoạt động giáo dục môi trường. Đồng thời cũng nên tạo kinh phí từ hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường của các em để tổ chức những hoạt động giáo dục liên quan.
1.5.3. Thời gian thực hiện hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường
Thời gian thực hiện hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của hoạt động. Thực tế hiện nay thời gian hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường còn ít cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc khó khăn trong việc nâng cao hiệu quả công tác giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh. Bởi trong chương trình dạy học chưa có tiết học, giờ học chuyên biệt mà phải lồng ghép vào công tác giảng dạy ở các môn học. Do lượng kiến thức ở các môn học chính nhiều nên không phải lúc nào giáo viên cũng lồng ghép được vào môn học tự nhiên hay xã hội.
1.5.4. Nhận thức của các lực lượng
Hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường là rất quan trọng góp phần hình thành nhân cách học sinh. Nhận thức của các lực lượng về công tác giáo dục bảo vệ môi trường có vai trò quan trọng trong việc tổ chức giáo dục bảo vệ môi trường cho các em học sinh.
Giáo viên bộ môn chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của giáo dục môi trường
Là người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ giảng dạy do đó giáo viên cần có sự hiểu biết sâu sắc về vai trò hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường để đáp ứng chuẩn mực xã hội đối với con người hiện nay. Khi bản thân giáo viên nhận thức được vai trò và sự cần thiết của hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường trong cuộc sống họ sẽ truyền được nguồn cảm hứng cho học sinh. Giáo viên sẽ chủ động và tích cực trong việc sáng tạo và đổi mới các phương pháp giảng dạy, lồng ghép nội dung giáo dục bảo vệ môi trường vào tiết học. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Sự nhận thức đúng đắn của giáo viên về hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh cũng chính là góp phần tạo nên thành công cho sự nghiệp giáo dục và cũng đóng góp vào thành tích chung của nhà trường và công tác hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường. Nếu giáo viên nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục môi trường một cách chưa đúng đắn, chưa đầy đủ sẽ gây ảnh hưởng đến quá trình giáo dục bảo vệ môi trường cho chính họ nói riêng và kế hoạch về tầm quan trọng của giáo dục bảo vệ môi trường của nhà trường nói chung.
Giáo viên chủ nhiệm chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của giáo dục môi trường
Giáo viên chủ nhiệm có vai trò quan trọng đặc biệt trong việc định hướng và động viên, khích lệ tinh thần của học sinh lớp chủ nhiệm. Do vậy, nhận thức cho giáo viên chủ nhiệm sẽ tác động lớn đến các em học sinh để đạt được hiệu quả trong công tác giáo dục bảo vệ môi trường. Nếu giáo viên chủ nhiệm chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của giáo dục bảo vệ môi trường sẽ khó có thể định hướng cho lớp về tinh thần học tập của học sinh.
Bí thư Chi Đoàn và Tổng phụ trách Đội chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của giáo dục môi trường
Nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của giáo dục bảo vệ môi trường đối với cán bộ đoàn thể ảnh hưởng trực tiếp tới việc huy động và tổ chức các phong trào, phát huy sự nhiệt tình, nhiệt huyết của giáo viên và học sinh nhà trường đối với công tác giáo dục bảo vệ môi trường. Với vai trò là thủ lĩnh của thanh niên, Chi Đoàn và Tổng phụ trách Đội cần nhận thức sâu sắc về giáo dục bảo vệ môi trường cho giới trẻ. Bởi khi tham gia vào tiến trình phát triển kinh tế xã hội văn minh hiện nay, việc làm tốt công tác giáo dục bảo vệ môi trường sẽ là một trong những tiêu chí đánh giá về người thanh niên tri thức, hiện đại, văn minh.
Tổ trưởng chuyên môn chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của giáo dục môi trường
Nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của giáo dục môi trường đối với tổ trưởng chuyên môn có thể ảnh huởng trực tiếp đối với các lực lượng trong nhà trường đặc biệt là giáo viên bộ môn và giáo viên chủ nhiệm. Tổ trưởng chuyên môn đóng vai trò hướng dẫn, thúc đẩy giáo viên thực hiện và truyền tải nhận thức của mình về tầm quan trọng của giáo dục bảo vệ môi trường. Bởi khi thực hiện các hoạt động dạy học và giáo dục học sinh, tổ trưởng bộ môn là người chịu trách nhiệm giám sát và thúc đẩy giáo viên thực hiện để đạt kết quả tốt nhất.
1.5.5. Các văn bản hướng dẫn thực hiện của Phòng Giáo dục và Đào tạo chưa rõ ràng
Văn bản hướng dẫn thực hiện của Phòng GD&ĐT là những văn bản mang tính pháp lý làm căn cứ để các trường thực hiện nhiệm vụ giáo dục bảo vệ môi trường. Căn cứ các văn bản được cấp trên ban hành, từ văn bản về chủ trương đến các kế hoạch, công văn hướng dẫn về thời điểm, phương pháp, hình thức và các vấn đề về kinh phí đảm bảo, trách nhiệm người đứng đầu đều được phổ biến về từng đơn vị nhà trường cụ thể. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Hiện nay trong một số văn bản của Phòng GD&ĐT chưa có chi tiết về nội dung, cơ quan thẩm định, cơ quan quản lý giáo dục bảo vệ môi trường. Vấn đề này đặc biệt nổi bật ở nội dung kinh phí. Thông thường trong các văn bản hướng dẫn đều ghi nguồn kinh phí đảm bảo là ngân sách nhà nước. Tuy nhiên không có hướng dẫn cụ thể về mức chi, mức quyết toán đối với từng nội dung mà các trường thực hiện. Điều đó phần nào gây khó khăn trong khâu quyết toán kinh phí hàng năm của các trường.
1.5.6. Các văn bản hướng dẫn kiểm tra, đánh giá giáo viên về giáo dục môi trường của Phòng Giáo dục và Đào tạo chưa rõ ràng
Ngoài những văn bản hướng dẫn chung về giáo dục bảo vệ môi trường, Phòng GD&ĐT còn ban hành các hướng dẫn kiểm tra, đánh giá giáo viên về giáo dục bảo vệ môi trường. Tuy nhiên hầu hết các hướng dẫn kiểm tra, đánh giá giáo viên đều là một nội dung trong kế hoạch tổng thể, mang tính chất bao quát. Phòng GD&ĐT chưa có văn bản cụ thể và chi tiết mang tính chuyên biệt về các tiêu chí đánh giá cụ thể đối với giáo viên khi tham gia giáo dục bảo vệ môi trường. Nhìn chung tiêu chí đánh giá chưa có tính định lượng mà hầu hết đều là ý kiến đánh giá chủ quan của cán bộ quản lý nhà trường và cán bộ quản lý cấp trên.
Do vậy, công tác kiểm tra, đánh giá còn chưa sát thực tế, chưa thể hiện được bản chất của việc đánh giá giáo viên trong công tác giảng dạy. Đồng thời, khó khăn trong công tác xếp loại, khen thưởng, chấn chỉnh đội ngũ giáo viên các trường.
Tiểu kết chương 1
Cơ sở lý luận cho thấy Quản lý nhà trường vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật đòi hỏi người quản lý phải nắm vững những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý và quản lý giáo dục, vận dụng một cách sáng tạo, linh hoạt trong điều kiện thực tế của nhà trường nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra.
Trong chương 1, đã đưa ra tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về giáo dục bảo vệ môi trường, quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường, phân tích và hệ thống hóa những nội dung lý luận cơ bản như: khái niệm về giáo dục bảo vệ môi trường, nội dung giáo dục bảo vệ môi trường. Lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở đang phát triển mạnh về nhiều mặt: trí tuệ, thể chất, tình cảm,
Vì vậy giáo dục ý thức bảo vệ môi trường ở lứa tuổi này là rất cần thiết để các em có những kiến thức, kĩ năng trong việc thực hiện.
Hoạt động quản lý giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như: cơ sở vật chất, kinh phí, thời gian, nhận thức của các lực lượng, các văn bản hướng dẫn và các văn bản kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường của Phòng Giáo dục và Đào tạo. Bởi vậy, Hiệu trưởng không chỉ nắm vững những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý mà cần đề ra những biện pháp sáng tạo, linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường nhằm nâng cao chất lượng giáo dục bảo vệ môi trường Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Quản lý hoạt động giáo dục nói chung và quản lý hoạt động giáo dục môi trường cho học sinh Trung học cơ sở nói riêng là một hoạt động hết sức quan trọng, góp phần đào tạo một cách toàn diện cho thế hệ trẻ để đạt được kết quả trước mắt và cả lợi ích lâu dài, góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội.
Để tăng cường quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở, cần có những biện pháp đồng bộ, hợp quy luật của chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý trong việc tổ chức thực hiện quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
Tuy nhiên, hoạt động này thông qua dạy học lồng ghép trong các môn học đạt hiệu quả thấp, sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường chưa thường xuyên, chưa hiệu quả. Việc chỉ đạo, tổ chức, kiểm tra, đánh giá chưa chặt chẽ, thường xuyên, hình thức tổ chức chưa phong phú, thiếu các biện pháp quản lý phù hợp.
Để khắc phục tình trạng này, đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý trong đó giữ vai trò then chốt là Hiệu trưởng phải tìm tòi, nghiên cứu tìm ra những thực trạng và tiến hành khảo sát về thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường tại các trường Trung học cơ sở Thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương trong tình hình hiện nay được trình bày tại chương 2 của luận văn. Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng QL hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường

Pingback: Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường