Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở Trường trung học phổ thông Hiền Đa huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ theo yêu cầu đổi mới giáo dục dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Giáo dục hướng nghiệp có mục đích là hình thành khả năng tự chủ trong việc lựa chọn nghề của học sinh trên cơ sở của sự phù hợp giữa năng lực, hứng thú, sở thích cá nhân với nhu cầu sử dụng lao động trong các lĩnh vực của xã hội. Điều này góp phần nâng cao hiệu quả lao động xã hội và làm tốt công tác phân luồng học sinh sau mỗi bậc học. Riêng đối với bậc trung học phổ thông, hoạt động giáo dục hướng nghiệp nhằm mục đích giúp cho học sinh có được ý thức như là một chủ thể trong sự lựa chọn nghề nghiệp, có định hướng khi chọn nghề dựa trên cơ sở hiểu biết khoa học về nghề nghiệp, về nhu cầu thị trường lao động cũng như năng lực, sở trường, sức khỏe của bản thân. Nhờ giáo dục hướng nghiệp và quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp, nhà trường góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện học sinh, trong đó có nội dung giáo dục cho học sinh tạo hứng thú và động cơ nghề nghiệp đúng đắn, có lý tưởng nghề nghiệp trong sáng, có thái độ đúng đắn đối với lao động. Với ý nghĩa quan trọng ấy, hướng nghiệp chính là một bộ phận cấu thành nên hệ thống giáo dục. Chính sự làm quen và tiếp xúc với nghề, quá trình tiếp cận kỹ thuật và công nghệ sản xuất, “thử sức” với lao động nghề nghiệp… do giáo dục hướng nghiệp mang đến còn giúp học sinh rèn luyện sự sáng tạo, khéo tay, tư duy kỹ thuật, tư duy kinh tế. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học.

Nghị quyết số 29- NQ/TW của Ban chấp hành trung ương Đảng về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đã chỉ rõ “Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn. Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời. Hoàn thành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau năm 2015. Bảo đảm học sinh trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng” [2]. Giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận của chương trình giáo dục phổ thông. Mục tiêu chương trình giáo dục phổ thông mới ở cấp THPT “Chương trình giáo dục trung học phổ thông giúp học sinh tiếp tục phát triển những phẩm chất, năng lực cần thiết đối với người lao động, ý thức và nhân cách công dân, khả năng tự học và ý thức học tập suốt đời, khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học lên, học nghề hoặc tham gia vào cuộc sống lao động, khả năng thích ứng với những đổi thay trong bối cảnh toàn cầu hoá và cách mạng công nghiệp mới”. Theo quy định trong chương trình giáo dục phổ thông năm 2018, giáo dục hướng nghiệp là một hoạt động giáo dục bắt buộc đối với học sinh THPT. Hoạt động này cần phải được quản lý tốt để phát triển ở học sinh năng lực hướng nghiệp, để có khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với bản thân và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, đất nước.

Hiện nay các trường THPT trên địa bàn tỉnh Phú Thọ nói chung, Trường THPT Hiền Đa nói riêng, công tác giáo dục hướng nghiệp dần được chú trọng theo hướng tiếp cận với chương trình giáo dục phổ thông mới. Tuy vậy, việc tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp vào chương trình vẫn chưa phong phú về hình thức, nội dung chưa có sự thống nhất giữa các cơ sở giáo dục. Công tác quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp vẫn chủ yếu là chỉ đạo việc giới thiệu các ngành nghề hiện có trong xã hội và hoạt động tư vấn, định hướng nghề nghiệp cho học sinh lớp 12.

Xuất phát từ việc học tập, nghiên cứu lý luận về khoa học quản lý giáo dục, đúc rút kinh nghiệm từ thực tiễn công tác hoạt động giáo dục nói chung và hoạt động giáo dục hướng nghiệp nói riêng, tác giả lựa chọn đề tài: “Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở Trường trung học phổ thông Hiền Đa huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ theo yêu cầu đổi mới giáo dục” làm luận văn tốt nghiệp.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Quản Lý Giáo Dục

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp, tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở Trường THPT Hiền Đa từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động giáo dục hướng nghiệp góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh ở Trường THPT Hiền Đa huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học.

3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

Hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT

3.2. Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở Trường THPT Hiền Đa huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ.

4. Câu hỏi nghiên cứu

Có thể giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT như thế nào để đạt được các mục tiêu giáo dục hướng nghiệp? Hoạt động giáo dục hướng nghiệp và quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở Trường THPT Hiền Đa hiện nay có những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức nào? Có những vấn đề gì cần phải giải quyết và có thể giải quyết các vấn đề đó bằng các biện pháp quản lý nào?

5. Giả thuyết khoa học

Bối cảnh đổi mới giáo dục đặt ra những yêu cầu mới đối với giáo dục hướng nghiệp cho học sinh và quản lý GDHN ở các trường THPT. Nếu xác định nội dung quản lý GDHN theo tiếp cận quản lý các khâu thiết kế hoạt động GDHN, triển khai hoạt động GDHN, kiểm tra đánh giá kết quả GDHN sẽ có đủ cơ sở để đánh giá rõ thực trạng quản lý GDHN ở trường THPT Hiền Đa, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ và đề xuất được các biện pháp quản lý GDHN cho học sinh phù hợp với thực tế của trường THPT Hiền Đa đảm bảo tính khả thi, góp phần nâng cao chất lượng GDHN và góp phần thực hiện phân luồng học sinh sau trung học trên địa bàn

6. Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT.

6.2. Tìm hiểu và đánh giá thực trạng giáo dục hướng nghiệp và quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở Trường THPT Hiền Đa huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học.

6.3. Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở Trường THPT Hiền Đa huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ.

7. Giới hạn phạm vi nghiên cứu

  • Phạm vi nội dung nghiên cứu: Tác giả nghiên cứu biện pháp quản lý của cán bộ quản lý trường THPT.
  • Các dữ liệu về thực trạng giáo dục hướng nghiệp và quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh được lấy trong thời gian 3 năm học gần đây.
  • Khách thể khảo sát đề tìm hiểu thực trạng, tác giả xin ý kiến của 03 cán bộ quản lý, 50 giáo viên, 250 học sinh, 50 phụ huynh học sinh.

8. Phương pháp nghiên cứu

8.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Hồi cứu, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các tài liệu khoa học và các văn bản pháp quy về giáo dục, quản lý giáo dục, quản lý hoạt động giáo dục, giáo dục hướng nghiệp và quản lý giáo dục hướng nghiệp để xây dựng khung lý thuyết của vấn đề nghiên cứu.

8.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

  • Sử dụng phiếu hỏi để điều tra các khách thể nghiên cứu nhằm tìm hiểu thực trạng về hoạt động giáo dục hướng nghiệp và quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở Trường THPT Hiền Đa huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ.
  • Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Thông qua tìm hiểu, tác giả tổng kết những kinh nghiệm về hoạt động giáo dục hướng nghiệp và quản lý hoạt động hướng nghiệp ở các trường THPT.
  • Phương pháp phỏng vấn: Tác giả phỏng vấn các khách thể nghiên cứu về hoạt động giáo dục hướng nghiệp và quản lý hoạt động hướng nghiệp ở Trường THPT Hiền Đa để làm rõ một số nội dung nghiên cứu của luận văn.

8.3. Nhóm phương pháp xử lý số liệu Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học.

Tác giả sử dụng phương pháp thống kê toán học bằng phần mềm Excel để xử lý số liệu điều tra và biểu đạt các kết quả nghiên cứu bằng biểu đồ.

9. Những đóng góp của đề tài

  • Luận văn góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về giáo dục hướng nghiệp và quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho HS ở trường THPT.
  • Luận văn khắc họa thực trạng về hoạt động giáo dục hướng nghiệp và quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho HS ở Trường THPT Hiền Đa huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ.
  • Luận văn đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho HS ở Trường THPT Hiền Đa huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ trong bối cảnh đổi mới GD.
  • Luận văn là tài liệu tham khảo cho cán bộ quản lý các trường THPT khác có điều kiện tương đồng với Trường THPT Hiền Đa huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ và là tài liệu tham khảo trong công tác giảng dạy, bồi dưỡng cán bộ quản lý trường THPT.

10. Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục kết quả nghiên cứu luận văn được trình bày trong 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông.
  • Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở Trường THPT Hiền Đa huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ.
  • Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Trường THPT Hiền Đa huyện Cẩm Khê tỉnh Phú Thọ.

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1. Tổng quan các nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp và quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học.

1.1.1. Những nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp cho học sinh

Hiện nay khi nền kinh tế phát triển ngày càng cao thì yêu cầu người lao động phải có trình độ chuyên môn vững và có một nghề nhất định. Một quốc gia phát triển thì nền kinh tế phát triển và đòi hỏi nguồn nhân lực có chất lượng, chính vì vậy vai trò của GDHN trong định hướng và phân hóa lao động một cách hợp lý là vô cùng cần thiết và quan trọng.

Suốt thế kỉ 20 và đầu thập kỉ thế kỉ 21, giáo dục hướng nghiệp phát triển rộng rãi trong môi trường giáo dục. Ngoài bối cảnh đặc thù của mỗi quốc gia, GDHN ở hầu hết các nước đều xuất hiện các vấn đề cần làm rõ chung cả lí luận và thực tiễn nhằm tìm ra con đường khả thi và hiệu quả cho hoạt động GDHN.

Năm 1937, Keller và Viteles đưa ra cái nhìn tổng quát về hướng nghiệp, có sự so sánh giữa các quốc gia ở Châu Âu, châu Á. Ở một số quốc gia, các thuật ngữ như “hướng dẫn nghề – vocational guidance”, “tư vấn nghề – vocational counselling”, “thông tin, tư vấn và hướng dẫn – information, advice ad guidance” đều chỉ các hoạt động tư vấn và HN [14].

Chủ tịch Ủy ban quốc tế về giáo dục của UNESCO, Jacques Delors khi phân tích những trụ cột của giáo dục toàn cầu đã viết: “Học để biết, học để làm việc, học để làm người và học để chung sống với nhau”. Kết quả của giáo dục phải được thể hiện rõ ở thế hệ trẻ năng lực “sống – làm việc – phát triển”. Theo tác giả vấn đề học nghề phổ thông là một căn bản không thể thiếu được, tác giả đã nhấn mạnh: HS sẽ có cơ hội phát triển năng lực của mình bằng cách tham gia các hoạt động nghề nghiệp song song với việc học, hỗ trợ cho việc học.

Trên thế giới hầu hết các nước đều bố trí hệ thống giáo dục kĩ thuật và dạy nghề (vocational and technical education and training – TVET) bên cạnh hệ phổ thông và đại học (tertiary). UNESCO dùng cụm từ technical and vocational education–TVE để chỉ hệ thống này. Một số nước, ví dụ như Anh chỉ gọi là vocational education and training – VET; nước Đức có một hệ thống đào tạo nghề và trung cấp chuyên nghiệp (Berufs – und Fachulausbildung) về mặt trình độ một bộ phận được xếp vào bậc trung học tương đương với trung học phổ thông từ lớp 9 đến lớp 13, một bộ phận cao hơn vào bậc sau trung học.

Tác giả Quang Dương ở Viện nghiên cứu GD-ĐT phía Nam, Thành phố Hồ Chí Minh, với đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm tâm lý HS phổ thông trung học tại thành phố Hồ Chí Minh và bước đầu xây dựng bộ trắc nghiệm HN và chọn nghề”. Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng tâm lý chọn nghề của HS lúc này chủ yếu chạy đua vào các trường ĐH và đa phần chọn nghề theo cảm tính [dẫn theo 25]. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học.

Tác giả Lê Vân Anh với nghiên cứu “vấn đề phân luồng HS ở nước ta” đã đề cập nội dung phân luồng HS trên phạm vi cả nước và ở một số quốc gia trên thế giới gắn với thực tiễn phân luồng HS ở nước ta; đặc biệt có nhiều giải pháp về nhận thức xã hội có liên quan đến phân luồng HS sau THCS, tính liên thông… [dẫn theo 30]

Tác giả Hà Thế Truyền, với đề tài “Một số biện pháp thực hiện GDHN- dạy nghề góp phần thực hiện tốt việc phân luồng trong đào tạo” có nội dung HS sau THCS đi vào các luồng: vào THPT, vào TCCN, vào các trường dạy nghề dài hạn, học nghề ngắn hạn, học tại các trung tâm GDNN-GDTX, tham gia vào thị trường lao động. Đề tài nghiên cứu về các giải pháp phân luồng học sinh, công tác HN nâng cao nhận thức xã hội, đa dạng hóa các loại hình trường lớp, điều tiết phân luồng học sinh bằng các chính sách đãi ngộ, chính sách sử dụng sau đào tạo trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp. Đề tài này đã nêu được một số vấn đề chung về thực trạng phân luồng học sinh sau THCS ở nước ta [dẫn theo 30].

Tác giả Nguyễn Như Ất trong tài liệu “Vấn đề phương pháp luận xây dựng nội dung GDHN trong trường phổ thông Việt Nam” đã nghiên cứu xác định lại cơ sở triết học của giáo dục Việt Nam nói chung, trong đó có GDHN [1].

Tác giả Phan Thị Tố Oanh khi nghiên cứu đề tài: “Vấn đề hướng nghiệp cho HS qua các môn văn hóa cơ bản ở trường THPT các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long” đã phân tích vai trò của môn văn hóa cơ bản có tầm quan trọng đặc biệt đối với việc phát triển toàn diện nhân cách con người và tiềm năng của nó trong GDHN cho HS trường phổ thông. Đồng thời, tác giả cũng đưa ra một số biện pháp hướng nghiệp qua dạy học các môn văn hóa cơ bản [dẫn theo 36].

Tác giả Phạm Văn Khanh khi nghiên cứu đề tài: “GDHN trong dạy học các môn khoa học tự nhiên ở trường THPT khu vực Trung Nam Bộ” đã đề xuất một hệ thống biện pháp bồi dưỡng, chuyển giao quy trình GDHN cho giáo viên, nhằm nâng cao chất lượng hiệu quả GDHN cho HS trong dạy học môn khoa học tự nhiên ở các trường THPT khu vực Trung Nam bộ [dẫn theo 27].

Tác giả Trịnh Văn Cường đã nghiên cứu luận án với đề tài “Giáo dục hướng nghiệp cho HS trong dạy học môn Công nghệ ở trường trung học phổ thông”. Trong luận án, tác giả đã phân tích làm rõ tiềm năng, ưu thế của môn Công nghệ trong việc giáo dục hướng nghiệp cho HS trung học phổ thông và đã xác định cụ thể các nội dung giáo dục hướng nghiệp có thể tích hợp, lồng ghép trong môn Công nghệ; Xác định các nguyên tắc tích hợp giáo dục hướng nghiệp cho HS trong dạy học môn Công nghệ; Quá trình GDHN (đối tượng, nguồn lực, mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức và kết quả) GDHN cho HS trong dạy học môn Công nghệ ở trường trung học phổ thông cũng như mối liên hệ các thành tố cấu trúc của quá trình GDHN cho HS trong dạy học môn Công nghệ nhằm đạt được mục tiêu GDHN; Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến GDHN. Phát hiện và đánh giá thực trạng giáo dục hướng nghiệp cho HS trong dạy học môn Công nghệ ở các trường trung học phổ thông vùng Đông Bắc Việt Nam và xác định được nguyên nhân, hệ quả của thực trạng trên. Theo đó đề xuất 07 biện pháp nhằm thực hiện giáo dục hướng nghiệp cho HS trong dạy học môn Công nghệ ở trường trung học phổ thông. Hướng nghiên cứu giáo dục hướng nghiệp tích hợp với dạy học môn học hay hoạt động giáo dục khác ở trường THPT là hướng triển khai phù hợp với yêu cầu thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới [14]. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học.

Nhìn chung GDHN ở Việt Nam một số năm vừa qua đã từng bước được củng cố và phát triển về quy mô và cơ cấu đào tạo. Tuy nhiên, so với yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp CNH – HĐH đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường và xu thế toàn cầu hóa cũng như hội nhập quốc tế. GDHN nước ta còn có nhiều hạn chế, bất cập, đặc biệt là về chất lượng đào tạo và đang phải đối mặt với những thách thức to lớn.

1.1.2. Những nghiên cứu về quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh

Các tác giả nước ngoài Keller và Viteles trong quá trình bàn về hướng nghiệp và GDHN cấp trung học đều khẳng định: Quản lý GDHN là một nội dung quản lý trường học, là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý GDHN để đạt mục đích GDHN. Nội dung quản lý GDHN là xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động GDHN bao gồm việc xây dựng mục tiêu, chương trình hoạt động GDHN, xác định từng bước đi, những điều kiện, phương tiện cần thiết trong một thời gian nhất định phục vụ hoạt động GDHN. Một trong những khâu quan trọng của việc quản lý GDHN chính là tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch, chương trình hoạt động GDHN ở các trường THPT. Đánh giá là một khâu, một công cụ quan trọng không thể thiếu được trong quá trình giáo dục; có chức năng, khả năng điều chỉnh quá trình dạy và học, là động lực để đổi mới phương pháp dạy học, góp phần cải thiện, nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục [23].

Vấn đề QL hoạt động GDHN cho HS phổ thông trong những năm qua cũng đang là mối quan tâm nghiên cứu của rất nhiều Nhà khoa học, Nhà GD và các Nhà QLGD, có thể nêu một số đề tài như:

Luận văn của tác giả Huỳnh Thị Tam Thanh nghiên cứu với đề tài, “QL công tác hướng nghiệp cho HS bậc trung học tại các Trung tâm GD thường xuyên trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, Thực trạng và giải pháp”, Ở đề tài này tác giả tập trung làm rõ thực trạng QL công tác HN cho HS tại các trung tâm GD thường xuyên trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và đưa ra giải pháp nhằm tăng cường việc QL công tác này. Đề tài còn khảo sát về thực trạng phân luồng HS sau bậc trung học, sự bất cập về tỉ lệ lao động kỹ thuật trong tổng số lao động, sự không phù hợp về trình độ trong cơ cấu lao động, việc tổ chức và QL công tác HN chưa đồng bộ của thành phố Đà Nẵng… Tuy vậy, cơ sở lý luận đề tài chưa đáp ứng cho việc giải quyết sâu sát các nội dung của thực trạng, như phần lý luận chưa nêu rõ tính chất HN trong nhà trường phổ thông đối với từng cấp học, chưa chỉ rõ mục đích, phương hướng và nhiệm vụ GDHN trong trường THPT cho từng thành viên của nhà trường [dẫn theo 40].

Luận văn của tác giả Nguyễn Hữu Thiện nghiên cứu với đề tài,“Tìm hiểu thực trạng công tác QL hoạt động HN cho HS THPT tại thành phố Hồ Chí Minh và đề xuất một số biện pháp”. Đề tài nghiên cứu thực trạng về công tác QL hoạt động HN cho HS THPT tại thành phố Hồ Chí Minh chưa đạt hiệu quả cao trên cơ sở phân tích các thực trạng về sự thiếu thông tin, sự thiếu hiểu biết của HS về các ngành, nghề trong xã hội dẫn đến việc chọn nghề nghiệp tương lai của các em HS không phù hợp, các hình thức GDHN trong nhà trường THPT còn nhiều hạn chế. Bên cạnh, đề tài chưa đề cập đến sự lãnh đạo phối hợp GD của nhà trường – gia đình – XH trong công tác GDHN cho HS, vì công tác GDHN trong nhà trường THPT là một bộ phận của công tác HN của toàn XH. Gia đình lại là cái nôi đầu đời có ảnh hưởng lớn tới sự chọn lựa nghề nghiệp tương lai của HS. Ở đây đề tài chưa đề cập đến nhiệm vụ của cha mẹ học sinh trong việc GDHN và chưa có sự phối hợp GD của nhà trường với gia đình để HN cho các em [36]. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học.

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nhan Ngọc Hà, nghiên cứu với đề tài “Thực trạng và giải pháp quản lý hoạt động GDHN của hiệu trưởng các trường THPT quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ hiện nay”, trong đề tài này trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng QL hoạt động GDHN của hiệu trưởng các trường THPT quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ hiện nay. Để từ đó đề ra các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác QL hoạt động GDHN của Hiệu trưởng ở các trường này [17].

Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Ngọc Nhất nghiên cứu với đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động GDHN tại trường trung học phổ thông Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng”, trên cơ sở nghiên cứu lý luận và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động GDHN tại trường THPT Ngũ Hành Sơn thành phố Đà Nẵng, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GDHN nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả lĩnh vực công tác này [30].

Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Thu Trà nghiên cứu với đề tài “Quản lý hoạt động GDHN cho HS trung học phổ thông trên địa bàn Hà Nội”, đề tài đã xây dựng được các luận cứ khoa học và các giải pháp triển khai hệ thống quản lý GDHN các trường THPT. Góp phần bảo đảm và từng bước nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của thị trường lao động khu vực cả nước và địa phương. Từ những phân tích lý luận và thực tiễn về quản lý GDHN nhằm định hướng, đề xuất những giải pháp quản lý GDHN cho HS THPT tại Hà Nội [40].

Luận án tiến sĩ của tác giả Bùi Văn Hưng nghiên cứu với đề tài “Quản lý hoạt động GDHN trong các trường dạy nghề đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động”, đề tài đã phát triển các khái niệm về HN trong trường dạy nghề; quản lý hoạt động GDHN; Làm rõ mối quan hệ giữa HN và thị trường lao động; những khác biệt giữa HN trong trường phổ thông, HN trong trường dạy nghề, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục HN; Đề xuất nội dung các giải pháp quản lý hoạt động GDHN đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động [25].

Luận án tiến sĩ của tác giả Hồ Văn Thống nghiên cứu với đề tài “Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho HSTHPT theo định hướng tạo nguồn nhân lực cho các tỉnh vùng Đồng bằng Sông Cửu Long đến năm 2020”. Trong nghiên cứu này tác giả đã tiến hành phân tích mối quan hệ giữa nhu cầu nhân lực và hoạt động hướng nghiệp; đánh giá thực trạng giáo dục hướng nghiệp và QLGDHN cho HS THPT theo tiếp cận quản lý các thành tố của quá trình GDHN. Phân tích nhu cầu nhân lực của các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đề làm cơ sở đề xuất 03 nhóm giải pháp quản lý GDHN cho HS THPTở vùng này [37].

Luận án tiến sĩ của tác giả Phạm Đăng Khoa nghiên cứu với đề tài “Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho HSTHPT theo định hướng phát triển nhân lực thành phố Hồ Chí Minh”, trong nghiên cứu này tác giả đã thực hiện phân tích nội dung quản lý GDHN cho HS THPT theo tiếp cận quản lý các thành tố của quá trình GDHN; từ đó đề xuất các giải pháp cho CBQL các trường THPT trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh để quản lý GDHN cho HS gắn với nhu cầu nhân lực của Thành phố này [27].

Luận án tiến sĩ của tác giả Vũ Đình Hưng (2019) nghiên cứu với đề tài “Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho HS trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang trong bối cảnh đổi mới giáo dục”, với đề tài này tác giả đã xây dựng được cơ sở lý luận về GDHN và quản lý GDHN cho HS trung học phổ thông trong bối cảnh đổi mới giáo dục, tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng GDHN và quản lý GDHN cho HS trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang trong bối cảnh đổi mới giáo dục. Từ đó đề xuất các giải pháp quản lý GDHN cho HS trung học phổ thông tỉnh Tuyên Quang trong bối cảnh đổi mới giáo dục. Đề tài xác định được nội dung quản lý GDHN theo tiếp cận tích hợp các chức năng quản lý với các thành tố của quá trình GDHN trong bối cảnh đổi mới giáo dục sẽ đánh giá rõ thực trạng quản lý GDHN và đề xuất được các giải pháp quản lý GDHN cho HS THPT phù hợp với thực tế của tỉnh Tuyên Quang, góp phần nâng cao chất lượng GDHN cũng như chất lượng giáo dục nói chung [26].

Các nghiên cứu đều khẳng định: quản lý GDHN cho HS phổ thông là xu thế chung được nhiều nước trên thế giới và Việt Nam quan tâm. Các nghiên cứu đều đề cập đến mối quan hệ giữa GDHN và phát triển nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của địa phương. Trong trường học, việc quản lý GDHN thuộc trách nhiệm của lãnh đạo nhà trường và đứng đầu là Hiệu trưởng; Muốn thực hiện tốt cần quản lý các thành tố của quá trình GDHN trong mối quan hệ với các lực lượng xã hội. Rất ít công trình nghiên cứu về quản lý GDHN cho HS THPT trong bối cảnh đổi mới giáo dục. Như vậy, cần thiết phải có sự tiếp nối những nghiên cứu về quản lý GDHN trong nhà trường phổ thông nhằm hoàn thiện mục tiêu, nội dung của công tác GDHN trong nhà trường. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học.

Nhận định chung: Có thể thấy nghiên cứu về GDHN và quản lý hoạt động GDHN cho HS đã được nhiều người nghiên cứu, bàn luận ở các khía cạnh đa dạng. Tuy nhiên trong bối cảnh xã hội có nhiều thay đổi, sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghệ 4.0 đã tác động rất lớn đến cơ cấu ngành nghề, nhu cầu nhân lực của xã hội. Thêm đó, hoạt động giáo dục trải nghiệm hướng nghiệp theo CTGDPT 2018 cấp THPT là hoạt động GD bắt buộc, với 105 tiết, theo mục tiêu phát triển phẩm chất năng lực học sinh. Do đó việc tiếp tục nghiên cứu quản lý GDHN cho HS ở trường phổ thông cần được nghiên cứu tiếp một cách cụ thể và khoa học trên cơ sở kế thừa các công trình nghiên cứu này. Đối với Trường trung học phổ thông Hiền Đa, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ đây là công trình nghiên cứu đầu tiên đề cập đến vấn đề quản lý hoạt động GDHN.

1.2. Một số khái niệm cơ bản

1.2.1. Hướng nghiệp

Hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp giúp cho con người lựa chọn và xác định nghề nghiệp của bản thân trong cuộc sống tương lai trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường của cá nhân với nhu cầu xã hội để cá nhân đó khám phá và phát huy những năng lực của bản thân [dẫn theo 37].

“Hướng nghiệp trong giáo dục là hệ thống các biện pháp tiến hành trong và ngoài nhà trường để giúp HS có kiến thức về nghề nghiệp và có khả năng lựa chọn nghề nghiệp trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trường của cá nhân với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội” [13].

Thực chất của hướng nghiệp không phải là sự quyết định nghề mà là giúp các em có được những hiểu biết cần thiết về bản thân, về thế giới nghề nghiệp xung quanh, về những yếu tố ảnh hưởng/tác động tới bản thân trong việc chọn nghề để lựa chọn nghề phù hợp và giải quyết thỏa đáng mối quan hệ giữa cá nhân với nghề, giữa cá nhân với xã hội [dẫn theo 14].

Về mặt khoa học, HN là quá trình xác lập sự phù hợp nghề của từng người cụ thể trên cơ sở xác định sự tương ứng giữa những đặc điểm tâm sinh lý của họ đối với những yêu cầu của một nghề nào đó đối với người lao động. Về mặt xã hội học thì HN nhằm góp phần phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả nhất nguồn nhân lực, vốn quý của đất nước để phục vụ cho sự phát triển kinh tế xã hội, đó chính là động lực cho sự phát triển của đất nước. Hiểu theo nghĩa thông thường HN là hệ thống các biện pháp tác động của các lực lượng gia đình, nhà trường, xã hội đến nhận thức, thái độ, hành vi của HS kết quả là làm cho sự lựa chọn của các em HS phù hợp với yêu cầu nghề nghiệp mà các em đã chọn.

Như vậy, hướng nghiệp là các hoạt động nhằm hỗ trợ mọi cá nhân chọn lựa và phát triển chuyên môn nghề nghiệp phù hợp nhất với khả năng của cá nhân, đồng thời thỏa mãn nhu cầu nhân lực cho tất cả các lĩnh vực nghề nghiệp (thị trường lao động) ở cấp độ địa phương và quốc gia.

1.2.2. Giáo dục hướng nghiệp Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học.

Theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành chương trình giáo dục phổ thông: Giáo dục hướng nghiệp bao gồm toàn bộ các hoạt động của nhà trường phối hợp với gia đình và xã hội nhằm trang bị kiến thức, hình thành năng lực định hướng nghề nghiệp cho học sinh, từ đó giúp học sinh lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực, tính cách, sở thích, quan niệm về giá trị của bản thân, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của gia đình và phù hợp với nhu cầu của xã hội. Giáo dục hướng nghiệp có ý nghĩa quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện và phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và sau trung học phổ thông [10].

Giáo dục hướng nghiệp là một bộ phận của giáo dục toàn diện giúp mỗi học sinh có sự hiểu biết về tính chất của ngành nghề mà mình hướng tới, biết phân tích thị trường lao động và tháo gỡ vướng mắc hoặc rèn luyện bản thân, từ đó mỗi học sinh tự xác định được đâu là nghề nghiệp phù hợp hoặc không phù hợp với mình.

Giáo dục hướng nghiệp là các tác động có hệ thống giúp thế hệ trẻ có cơ sở khoa học trong việc chọn nghề sao cho phù hợp với những yêu cầu của sự phân công lao động xã hội, có tính đến hứng thú và năng lực của từng cá nhân, sao cho mỗi học sinh tìm thấy niềm vui, hạnh phúc khi cống hiến sức mình cho sự phát triển chung của cộng đồng, của xã hội [dẫn theo 14].

Trong luận văn tác giả sử dụng khái niệm: GDHN là hệ thống các tác động của xã hội về giáo dục, y học, xã hội học, kinh tế học…nhằm giúp cho HS chọn được nghề vừa phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân vừa đáp ứng được nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân.

1.2.3. Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông

Giáo dục hướng nghiệp cho HS THPT là hoạt động mà ở đó nhà trường phối hợp với gia đình và xã hội nhằm trang bị kiến thức, hình thành năng lực định hướng nghề nghiệp từ đó giúp học sinh lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực, tính cách, sở thích, quan niệm về giá trị của bản thân, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của gia đình và nhu cầu của xã hội [dẫn theo 17].

Giáo dục hướng nghiệp cho HS phổ thông nhằm mục đích bồi dưỡng, hướng dẫn HS, ngay từ trong nhà trường, chọn nghề phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội đồng thời phù hợp với năng lực cá nhân. Trong chương trình giáo dục phổ thông, giáo dục hướng nghiệp được thực hiện thông qua tất cả các môn học và hoạt động giáo dục, tập trung ở các môn Công nghệ, Tin học, Nghệ thuật, Giáo dục công dân ở cấp trung học cơ sở, các môn học ở cấp trung học phổ thông và Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp cùng với nội dung giáo dục của địa phương. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học.

Hoạt động GDHN trong nhà trường phổ thông được thực hiện thường xuyên và liên tục, trong đó tập trung vào các năm học cuối của giai đoạn giáo dục cơ bản và toàn bộ thời gian của giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp [dẫn theo 22].

Giáo dục hướng nghiệp không chỉ tác động vào nhận thức của cá nhân đối với nghề định chọn mà phải làm cho cá nhân đó hiểu rõ giá trị của nghề, hình thành sự hứng thú, say mê với nghề và tâm nguyện cống hiến cuộc đời của mình cho nghề. GDHN chính là làm cho cá nhân tự nhận ra giá trị đích thực của nghề và tìm thấy hạnh phúc, niềm vui khi tận tâm cống hiến hết mình cho nghề đã chọn. Việc hành nghề phải là lẽ sống chứ không phải là phương tiện kiếm sống. GDHN là quyền lợi của từng trẻ em, thế hệ trẻ cần được chọn nghề theo hứng thú, sở thích và GDHN phải giúp các em ngày càng nhận thức sâu sắc về nghĩa vụ lao động, nhu cầu nhân lực mà xã hội đặt ra.

1.2.4. Quản lý

Theo lí luận quản lí của Henri Fayol (người Pháp – người đặt nền tảng cho lí luận tổ chức cổ điển), ông nói về nội hàm của khái niệm quản lí như sau: Quản lí nghĩa là việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra [dẫn theo 42].

Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [12].

Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công lao động, có sự hợp tác với nhau. Sự phân công và hợp tác lao động nhằm mang đến hiệu quả cao hơn và phải có sự chỉ huy phối hợp, điều hành, kiểm tra… có người đứng đầu. Đây là hoạt động để người đứng đầu phối hợp với các thành viên trong tổ chức đạt được các mục tiêu đề ra [3].

Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh các nguồn (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất” [4].

Những khái niệm nêu trên cho thấy mặc dù được đề cập ở nhiều góc độ khác nhau, có cách biểu đạt khác nhau, nhưng đều đề cập đến những nhân tố cơ bản: Chủ thể quản lý, đối tượng, mục tiêu quản lý và sự tương tác giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý để đạt được các mục tiêu của tổ chức. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học.

Bản chất của hoạt động quản lý: Là sự tác động có mục đích của người quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức.

Trong luận văn tác giả sử dụng khái niệm sau: Quản lý là sự tác động có kế hoạch, tổ chức, có tính hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt tới mục tiêu đã xác định.

1.2.5. Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông

Quản lý hoạt động GDHN “là quá trình tác động có chủ đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến các đối tượng được quản lý nhằm đảm bảo quá trình hoạt động GDHN cho HS học nghề, đạt được mục tiêu nâng cao hiệu quả đào tạo của nhà trường” [dẫn theo 25].

Quản lí hoạt động GDHN cho HS tại trường THPT là những tác động có ý thức của chủ thể quản lí trường THPT đến hoạt động GDHN cho HS, thông qua công tác lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá các hoạt động GDHN, sử dụng mọi nguồn lực sẵn có của nhà trường nhằm đạt mục tiêu của hoạt động GDHN cho HS trong trường THPT.

Có thể xem quản lý hoạt động GDHN cho HS THPT là sự tác động có mục đích, kế hoạch của người quản lý trường THPT đến các đối tượng trong hoạt động giáo dục hướng nghiệp (nhân lực, vật lực, tài lực…) một cách hệ thống và toàn diện để đảm bảo hoạt động được diễn ra thuận lợi đạt tới mục tiêu.

Như vậy, trong luận văn tác giả sử dụng khái niệm: Quản lý hoạt động GDHN cho HS THPT là tập hợp các tác động có tổ chức, kế hoạch, định hướng của chủ thể quản lý đến tập thể GV và lực lượng tham gia giáo dục hướng nghiệp nhằm giúp học sinh trong việc chọn nghề đáp ứng nhu cầu xã hội và phù hợp với nguyện vọng, hứng thú, năng lực, sở trường của bản thân.

1.3. Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông

1.3.1. Mục tiêu Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học.

Mục tiêu chủ yếu của giáo dục hướng nghiệp là phát hiện, bồi dưỡng tiềm năng sáng tạo của cá nhân, giúp họ hiểu mình và hiểu yêu cầu của nghề, chuẩn bị cho họ sự sẵn sàng tâm lí đi vào những nghề mà các thành phần kinh tế trong xã hội đang cần nhân lực, trên cơ sở đó đảm bảo sự phù hợp nghề cho mỗi cá nhân.

Theo chương trình giáo dục phổ thông 2018 ở cấp THPT, GDHN có mục tiêu là hình thành, phát triển năng lực thích ứng với cuộc sống, năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động, năng lực định hướng nghề nghiệp cho HS; GD hướng nghiệp cấp THPT giúp HS phát triển các phẩm chất, năng lực đã được hình thành ở cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở. Kết thúc giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, HS có khả năng thích ứng với các điều kiện sống, học tập và làm việc khác nhau; thích ứng với những thay đổi của xã hội hiện đại; có khả năng tổ chức cuộc sống, công việc và quản lí bản thân; có khả năng phát triển hứng thú nghề nghiệp và ra quyết định lựa chọn được nghề nghiệp tương lai; xây dựng được kế hoạch rèn luyện đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp và trở thành người công dân có ích [10].

Về kiến thức: Nhận thức và hiểu được ý nghĩa, tầm quan trọng của việc lựa chọn nghề nghiệp tương lai. Biết được một số thông tin cơ bản về định hướng phát triển KT – XH của địa phương, đất nước và khu vực; về thế giới nghề nghiệp, thị trường lao động, hệ thống các trường chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học ở địa phương và cả nước. Từ đó, các em có cái nhìn tổng thể về nhu cầu nghề nghiệp mà xã hội đang cần để có thể có nhiều hướng lựa chọn thích hợp.

Về kỹ năng: Các em có khả năng tự đánh giá năng lực bản thân và điều kiện kinh tế gia đình để đưa ra quyết định nghề nghiệp của bản thân trong tương lai. Tự đánh giá được tiềm năng nghề nghiệp của bản thân và điều kiện gia đình trong việc định hướng nghề nghiệp tương lai. Xác định được những thông tin nghề nghiệp và thông tin cơ sở đào tạo cần thiết cho bản thân trong việc chọn nghề.

Về thái độ: Các em hoàn toàn có thể chủ động, bản lĩnh và tự tin trong việc chọn nghề phù hợp. Có hứng thú và khuynh hướng chọn nghề đúng đắn để phát huy hết tiềm năng của bản thân [10].

Mục tiêu GDHN cho HS THPT phải hướng tới việc giúp HS chọn nghề tối ưu cho bản thân. GDHN cho HS THPT bên cạnh việc phải trang bị cho các em những kiến thức phổ thông cơ bản, những kỹ năng nghề nghiệp ban đầu, những phẩm chất đạo đức của người lao động trong thời kỳ mới còn làm cho các em có những nhận thức đúng đắn về thế giới nghề nghiệp để từ đó định hướng phân luồng cho HS một cách phù hợp, đảm bảo sự kết hợp giữa các yếu tố: năng lực, nguyện vọng của bản thân cá nhân HS, điều kiện hoàn cảnh của gia đình, yêu cầu và xu hướng phát triển nhân lực của địa phương và xã hội.

1.3.2. Nội dung giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông

Đổi mới giáo dục hướng nghiệp trong trường trung học” thì Hướng nghiệp được tiến hành qua 4 giai đoạn: giáo dục nghề, tư vấn nghề, tuyển chọn nghề, thích ứng nghề. Trách nhiệm chính ở 2 giai đoạn đầu là nhà trường phổ thông, còn 2 giai đoạn cuối là trách nhiệm của các trường dạy nghề, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và các đơn vị sử dụng nhân lực [7].

Nhà Tâm lý học K.K. Platonov đã đưa ra khái niệm “Tam giác hướng nghiệp”, gồm ba yếu tố trọng tâm của công tác hướng nghiệp cho học sinh chính là: định hướng nghề nghiệp, tư vấn nghề và tuyển chọn nghề. Hoạt động giáo dục hướng nghiệp phải nhằm làm cho học sinh thấy rõ được 3 mặt sau: Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học.

  • Xác định năng lực bản thân HS.
  • Xác định sở thích nghề nghiệp của HS.
  • Tìm hiểu nhu cầu xã hội đối với nghề [dẫn theo 27].

Trong luận văn, tác giả tìm hiểu nội dung hoạt động hướng nghiệp bao gồm các nội dung cơ bản sau:

  • Giới thiệu nghề nghiệp cho học sinh trung học phổ thông
  • Tìm hiểu đặc điểm và yêu cầu của nghề: Giúp cho học sinh có được những hiểu biết, kiến thức cơ bản về nghề nghiệp, nắm được đặc điểm nổi bật, đặc trưng của nghề; Đồng thời nhận biết được những yêu cầu cần thiết của nghề đối với người lao động…
  • Tìm hiểu yêu cầu về an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp: Giới thiệu, trình bày cho HS những yêu cầu về an toàn lao động trong nghề nghiệp và những tiêu chí sức khỏe cần thiết mà học sinh cần đáp ứng để tham gia vào hoạt động nghề nghiệp.
  • Tìm hiểu thị trường lao động: Thị trường lao động được hiểu là nơi mà “cung lao động” gặp “cầu về lao động”, nơi mà về nguyên tắc, nhu cầu và lợi ích của người lao động đã qua đào tạo nghề, gặp nhu cầu và lợi ích của người sử dụng lao động và được tuân theo qui luật chung của thị trường như qui luật giá cả – giá trị, qui luật cung – cầu và qui luật cạnh tranh. Tạo điều kiện cho HS nhận thấy được xu hướng nghề nghiệp trong tương lai và từ đó sẽ có định hướng lựa chọn nghề phù hợp.
  • Tư vấn và định hướng nghề nghiệp cho học sinh
  • Đánh giá năng lực, sở thích, sở trường bản thân: Đây là quá trình học sinh tự đánh giá năng lực của bản thân thông qua kết quả học tập, sở thích cá nhân, sở trường cũng như nguyện vọng cá nhân dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ từ GV và các lực lượng tham gia GDHN.
  • Nhận diện nghề phù hợp: Hướng dẫn học sinh liệt kê, xác định những công việc, nghề nghiệp mà bản thân cảm thấy phù hợp dựa trên quá trình đánh giá năng lực.
  • Đánh giá sự phù hợp giữa bản thân và nghề nghiệp: GV và các lực lượng tham gia GDHN sẽ hướng dẫn học sinh đánh giá sự phù hợp với nghề nghiệp thông qua các công cụ đánh giá nhằm giúp cho HS có định hướng và nhận biết được nghề nghiệp phù hợp nhất với năng lực của HS.
  • Lựa chọn nghề nghiệp cho bản thân Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học.
  • Tìm hiểu hệ thống trường trung cấp, cao đẳng, đại học và các cơ sở giáo dục nghề nghiệp khác của địa phương, Trung ương có chương trình đào tạo phù hợp với ngành nghề mình lựa chọn. Tìm hiểu về: địa điểm, hệ thống chính sách, chương trình đào tạo, đầu ra…
  • Tham vấn ý kiến của thầy cô, người thân và chuyên gia về định hướng nghề nghiệp. Đây sẽ là cơ sở quan trọng cho HS đưa ra những lựa chọn sáng suốt dựa trên những chia sẻ, kinh nghiệm của người đi trước.
  • Học sinh lựa chọn cơ sở đào tạo trong tương lai và lập kế hoạch học tập phù hợp với định hướng nghề nghiệp.
  • Giúp HS lựa chọn được công việc, nghề nghiệp phù hợp sau khi tốt nghiệp THPT nhưng không theo học tiếp lên ĐH, CĐ.

1.3.3. Phương pháp và hình thức giáo dục hướng nghiệp

1.3.3.1. Phương pháp giáo dục hướng nghiệp

Giáo dục hướng nghiệp là một hoạt động giáo dục trong trường phổ thông có những đặc thù riêng về phương pháp tổ chức. Các phương pháp này thể hiện vai trò HS là chủ thể của hành động chọn nghề, đem lại cho HS kinh nghiệm tìm hiểu thông tin nghề, củng cố các quan điểm lao động, định hướng giá trị nghề nghiệp, hình thành động cơ đúng đắn trong việc lựa chọn nghề.

Các phương pháp giáo dục hướng nghiệp:

Phương pháp giải quyết vấn đề: Đặt HS vào trong tình huống có vấn đề liên quan đến giáo dục hướng nghiệp, thông qua việc giải quyết vấn đề hướng nghiệp đó sẽ giúp HS lĩnh hội tri thức và có thêm những kỹ năng nghề nghiệp cần thiết. Tình huống có vấn đề là một tình huống gợi ra cho HS những khó khăn về lí luận hay thực hành liên quan đến nghề nghiệp trong tương lai mà chính bản thân HS thấy cần có khả năng vượt qua, nhưng không phải ngay tức khắc bằng một thuật giải, mà phải trải qua quá trình tích cực suy nghĩ hoặc điều chỉnh kiến thức sẵn có nhằm làm sáng tỏ và giải quyết những khó khăn đó.

 Phương pháp đóng vai, đóng kịch: Đóng vai, đóng kịch là phương pháp tổ chức cho học sinh thực hành một số tình huống giả định trong nghề nghiệp. Đây là một phương pháp giúp học sinh giải quyết được vấn đề, xây dựng tính kiên cường và sự tự tin để đương đầu với mọi thách thức trong tương lai. Phương pháp này yêu cầu giáo viên tổ chức cho thọc sinh tham gia thực hành ứng xử, giải quyết một số tình huống giả định về nghề nghiệp trong tương lai.

Phương pháp dạy học trải nghiệm: Tổ chức cho HS được tham gia trải nghiệm thực tế, tham quan các hoạt động nghề nghiệp một cách trực tiếp để các em hiểu rõ, nắm bắt và xác định được nghề nghiệp cho bản thân.

 Phương pháp hoạt động nhóm: Tổ chức lớp học thành những nhóm nhỏ để giải quyết những nhiệm vụ về giáo dục hướng nghiệp được giao. Các thành viên trong nhóm sẽ phân công nhiệm vụ để tìm hiểu, nghiên cứu sau đó trao đổi để chia sẻ, nói ra những điều đang nghĩ, hướng giải quyết về chủ đề giáo dục hướng nghiệp được giáo viên phân công và cùng nhau thống nhất cách giải quyết tốt nhất. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học.

Khi vận dụng các phương pháp GDHN, cần lưu ý một số vấn đề sau:

Thứ nhất: Coi trọng tính giáo dục của công tác HN

Giáo dục hướng nghiệp về cơ bản là quá trình giáo dục điều chỉnh liên tục động cơ chọn nghề của HS, giúp HS lựa chọn nghề nghiệp trên cơ sở những nghề xã hội đang có nhu cầu nhân lực. Nói cách khác, GDHN cần định hướng quá trình hình thành hứng thú và năng lực nghề nghiệp của HS vào những nghề mà xã hội cần phát triển.

Thứ hai: Giáo dục HS tạo ra sự phù hợp nghề trên cơ sở tự rèn luyện, tu dưỡng và tự học

Qua GDHN, giáo viên cần chứng minh cho HS thấy được sự phù hợp nghề không phải tự nhiên mà có, không phải là yếu tố bất biến. Thông qua rèn luyện, tu dưỡng, sự phù hợp nghề sẽ được hình thành.

Thứ ba: Gắn các buổi GDHN với thực tiễn sản xuất

Trong chương trình GDHN có một số chủ đề tham quan cơ sở sản xuất, cơ sở đào tạo, giao lưu với các gương lao động giỏi… Đây là những hoạt động giúp cho HS có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với con người, điều kiện làm việc… qua đó, các em sẽ có được những ấn tượng cụ thể, thực tế về nghề.

1.3.3.2. Hình thức giáo dục hướng nghiệp

  • Hướng nghiệp qua các môn văn hóa

Thông qua hoạt động dạy và học các môn văn hóa là những môn học được đưa vào kế hoạch dạy học trong Chương trình giáo dục phổ thông và là các môn học chính khóa trong các trường phổ thông nhằm cung cấp cho HS những kiến thức, kĩ năng cơ bản, phổ thông và cần thiết nhất trong các lĩnh vực như Toán học, Văn học, Vật lý, Hóa học, Sinh học, Lịch sử, Địa lý, Nghệ thuật… Thời lượng dành cho các môn văn hóa rất nhiều (khoảng 24 – 25 tiết/tuần). Nhiều môn học được thực hiện trong suốt 12 năm học phổ thông. Do vậy, tích hợp GDHN vào các môn văn hóa là hình thức GDHN có khả năng thực hiện lâu dài, thường xuyên và hiệu quả. Qua các môn văn hóa, GV có thể giới thiệu cho HS các nghề cơ bản có liên quan trực tiếp tới môn học, những khả năng và thành tựu cũng như sự phát triển của một số ngành nghề chủ yếu trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và công nghệ thông tin. Cũng qua các môn văn hóa, GV có thể giúp cho HS biết được những yêu cầu về kiến thức và kỹ năng của một số ngành nghề trong các lĩnh vực liên quan tới môn học như lĩnh vực sinh học, vật lý, hóa học, nghệ thuật, công nghệ… Từ đó, HS có thêm thông tin cơ sở để lập kế hoạch chọn nghề tương lai sao cho vừa phù hợp với khả năng, học lực của bản thân, vừa phù hợp với nhu cầu lao động của một số ngành nghề chính trong xã hội.

Hình thức hướng nghiệp qua các môn văn hóa được thực hiện chủ yếu theo phương thức tích hợp, lồng ghép nội dung giáo dục hướng nghiệp vào môn học. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học.

  • Giáo dục hướng nghiệp thông qua hoạt động giáo dục nghề phổ thông và lao động sản xuất

Mục đích chủ yếu của dạy nghề phổ thông là trang bị cho HS những kiến thức, kĩ năng lao động cần thiết và tạo cơ hội cho HS củng cố nội dung lý thuyết, vận dụng kiến thức, kỹ năng đã học ở môn Công nghệ vào thực tiễn đời sống và sản xuất trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ và tin học. Qua đó, giúp HS làm quen với hoạt động lao động nghề nghiệp, chuẩn bị tích cực cho HS bước vào cuộc sống lao động và định hướng nghề nghiệp cho các em.

Khi đổi mới Chương trình giáo dục phổ thông (năm 2006), Nghề phổ thông được đổi tên thành hoạt động giáo dục nghề phổ thông và được đưa vào kế hoạch dạy học ở lớp 11 THPT với thời lượng 3 tiết/tuần (105 tiết/nghề/năm học). Trong chương trình HĐ giáo dục nghề phổ thông có 11 nghề thuộc các lĩnh vực công nghiệp (4 nghề), nông nghiệp (3 nghề), dịch vụ (3 nghề) và tin học (1 nghề). Mỗi HS được chọn học một nghề theo phương thức bắt buộc.

Qua tham gia hoạt động giáo dục nghề phổ thông và lao động sản xuất, HS không những có cơ hội để thử sức mình trong một hoạt động lao động nghề nghiệp cụ thể mà còn có điều kiện khám phá khả năng, sở thích, cá tính và giá trị nghề nghiệp của bản thân, nâng cao các kĩ năng thiết yếu, nâng cao nhận thức nghề nghiệp và ý thức, thái độ lao động, từ đó đưa ra quyết định chọn nghề tương lai sao cho phù hợp.

Hướng nghiệp qua hoạt động trải nghiệm, ngoại khóa, tham quan

Tổ chức các tiết hoạt động ngoài giờ chính khóa: tùy điều kiện thực tế có thể tổ chức các lớp như tổ chức trồng cây, thực hành cơ khí, các hoạt động nghệ thuật… HS sẽ phát huy được khả năng, sở trường bản thân.

Tổ chức cho HS tham quan thực tập tại các nơi trực tiếp sản xuất, kết hợp giữa học lý thuyết gắn với thực hành, HS nâng cao hiểu biết về quy trình sản xuất, qua thực tế, HS tìm hiểu nghề và chọn nghề, tự tin và hứng thú phát triển nghề nghiệp tương lai.

1.3.4. Đánh giá kết quả giáo dục hướng nghiệp Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học.

Đánh giá kết quả GDHN của HS phải được thực hiện có kế hoạch và toàn diện thông qua các hình thức: đánh giá từ đội ngũ GV và các lực lượng tham gia GDHN; HS tự đánh giá; HS đánh giá lẫn nhau…

Các nội dung đánh giá kết quả GDHN bao gồm:

Kết quả về kiến thức: Đánh giá mức độ hiểu biết về nghề nghiệp: yêu cầu trình độ, sức khỏe, an toàn… của nghề đối với người lao động; HS có kiến thức về thị trường lao động và xu hướng nghề nghiệp.

Kết quả về kĩ năng: Đánh giá mức độ thành thạo của việc tìm hiểu thông tin nghề, thông tin cơ sở đào tạo; Đánh giá khả năng lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch định hướng nghề nghiệp tương lai; Đánh giá khả năng tự đánh giá được năng lực bản thân và điều kiện gia đình trong việc định hướng nghề nghiệp tương lai.

Kết quả về thái độ: Đánh giá mức độ tham gia đầy đủ và tích cực các hoạt động GDHN; Đánh giá ý thức chủ động trong việc tự định hướng nghề nghiệp cho bản thân; Đánh giá thái độ qua quan sát quá trình tham gia hoạt động của HS, qua vấn đáp để biết được tinh thần, thái độ, ý thức tham gia hoạt động GDHN của cá nhân và tập thể HS.

Khi đánh giá kết quả GDHN cho HS, thì yêu cầu GV và các lực lượng tham gia GDHN cần chú trọng thực hiện đánh giá kết quả dựa vào: Viết thu hoạch sau khi tham gia buổi hoạt động GDHN; Quan sát, trao đổi với HS về các chủ đề HN; Qua các hội thi, hội diễn về hướng nghiệp; Thông qua hoạt động nhóm, sinh hoạt tập thể; Các buổi hội thảo, trao đổi, chia sẻ về hướng nghiệp; Qua các sản phẩm hoạt động của HS như bài kiểm tra, phiếu trắc nghiệm, phiếu điều tra nghề, bản thu hoạch…

Lực lượng tham gia đánh giá kết quả GDHN cho HS THPT cần đảm bảo những yêu cầu:

  • Đánh giá phải xuất phát từ mục tiêu giáo dục hướng nghiệp cho HS THPT.
  • Công cụ đánh giá phải đảm bảo mức độ chính xác nhất định trong việc định hướng nghề nghiệp cho HS.
  • Đánh giá phải mang tính khách quan, toàn diện, có hệ thống và công khai.
  • Đánh giá phải đảm bảo tính thuận tiện của việc sử dụng công cụ đánh giá.
  • Đánh giá phải tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức, thái độ và hành động của HS trong hướng nghiệp của bản thân. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học.

1.3.5. Điều kiện thực hiện giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trong trường trung học phổ thông

Nguồn nhân lực thực hiện hoạt động GDHN:

Nguồn nhân lực trong nhà trường bao gồm CBQL nhà trường, tổ trưởng chuyên môn, giáo viên, nhân viên… Đây là lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng trong việc quyết định tới chất lượng hoạt động GDHN trong nhà trường, vì thế cần có những biện pháp đào tạo, bồi dưỡng và cập nhật kiến thức về GDHN thường xuyên cho họ.

Nguồn nhân lực bên ngoài nhà trường: Các cấp QL nhà nước về giáo dục: Bộ GD&ĐT; Sở GD&ĐT; Phòng GD&ĐT… Ngoài ra, cần có sự hỗ trợ của các nguồn lực như lãnh đạo, giáo viên, nhân viên các trung tâm GDNN-GDTX, các trường ĐH, CĐ, phụ huynh HS, chuyên gia giáo dục, các cơ quan, đoàn thể, tổ chức xã hội, cơ sở sản xuất, kinh doanh và các cơ quan thông tin đại chúng…

Về cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ hoạt động GDHN trong nhà trường: Sách giáo viên; Tài liệu tham khảo, nguồn thông tin, tư liệu cho nội dung hoạt động GDHN cần được bổ sung thường xuyên. Phương tiện, thiết bị, công cụ cần thiết cho tư vấn chọn nghề. Phương tiện nghe, nhìn, báo, đài… Tất cả những thiết bị này sẽ là công cụ đắc lực để giúp GV và các lực lượng tham gia GDHN thực hiện có hiệu quả những hoạt động GDHN, vì vậy việc mua sắm, sửa chữa, xây dựng thường xuyên là vô cùng cần thiết.

Nguồn tài chính phục vụ hoạt động GDHN trong nhà trường: Cần tranh thủ được nguồn ngân sách nhà nước, nguồn kinh phí của nhà trường và nguồn xã hội hóa để phục vụ cho giáo dục hướng nghiệp.

Ngoài ra, để thực hiện GDHN cho HS đạt hiệu quả cao thì cần có hệ thống chính sách, pháp luật hướng dẫn thực hiện giáo dục hướng nghiệp…

1.3.6. Giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở trường trung học phổ thông trong điều kiện đổi mới giáo dục và đào tạo Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học.

Qua ba lần cải cách và quá trình đổi mới những năm gần đây, giáo dục Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần quan trọng vào thắng lợi của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tuy nhiên, bên cạnh đó giáo dục cũng đã bộc lộ những yếu kém, bất cập cần thay đổi. Mặt khác, yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đặc biệt là yêu cầu chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng chất lượng, hiệu quả, có sức cạnh tranh cao đòi hỏi giáo dục phải đáp ứng nhu cầu học tập đa dạng của người dân, nhanh chóng góp phần tạo ra đội ngũ nhân lực chất lượng cao; Hơn thế nữa, nước ta đang trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ, khoa học giáo dục và sự cạnh tranh quyết liệt trên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia đòi hỏi giáo dục phải đổi mới. Đặc biệt là sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư hay còn gọi là cuộc cách mạng số diễn ra từ đầu thế kỷ 21. Cuộc cách mạng này tác động mạnh mẽ đến nhiều lĩnh vực, nhiều khía cạnh trong đời sống xã hội, trong đó đặc biệt không thể thiếu một nguồn nhân lực chất lượng cao; mà nguồn nhân lực lại là đối tượng trực tiếp của giáo dục – đào tạo.

Điều này đặt ra cho giáo dục và đào tạo sứ mệnh to lớn là cải thiện nguồn vốn con người để có thể đáp ứng được các yêu cầu về kiến thức và kỹ năng liên tục thay đổi trong môi trường lao động mới. Tất cả những yêu cầu đó đặt ra cho các trường THPT phải giáo dục học sinh toàn diện, đặc biệt là trong GDHN phải giúp HS nhận thấy được sự dịch chuyển và xu hướng phát triển nghề nghiệp trong tương lai, cũng như những yêu cầu về năng lực, kiến thức cần có để đáp ứng công việc. Cho HS thấy được sự cạnh tranh mạnh mẽ về việc làm trong mỗi ngành nghề và giữa các ngành nghề với nhau để từ đó HS tự nâng cao ý thức học tập, bồi dưỡng và cần chú trọng, quan tâm đến phẩm chất năng lực, đến khả năng thích ứng và giải quyết công việc của bản thân mỗi HS.

Trong làn sóng cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, hệ thống giáo dục phải tập trung vào phát triển phẩm chất và năng lực của người học thông qua việc định hướng các con đường nghề nghiệp phù hợp nhất cho học sinh để giúp họ phát huy được tiềm năng của mỗi cá nhân. Chính vì thế, giáo dục hướng nghiệp là bước đi đầu tiên để học sinh hình dung cơ hội các việc làm sau này, các đặc trưng của những nghề phù hợp và chỉ ra cho các em những gì phải chuẩn bị để sau này có thể gắn bó với nghề đó. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học.

Để đáp ứng nhu cầu nhân lực có nhiều thay đổi trong tương lai do tác động của cách mạng 4.0 và hội nhập quốc tế, do chính sách phát triển các vùng kinh tế trọng điểm quốc gia, kinh tế địa phương thì GDHN là yêu cầu tất yếu và phải được quan tâm chú trọng hơn bao giờ hết. Mục tiêu của GDHN cho HS bên cạnh kiến thức, kỹ năng cần giáo dục cho học sinh thái độ lao động, ý thức tôn trọng người lao động thuộc các ngành nghề khác nhau, ý thức tiết kiệm và bảo vệ của công; giúp HS có hiểu biết và khả năng lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực và sở thích, điều kiện và hoàn cảnh của bản thân để tiếp tục học lên, học nghề hoặc bước vào cuộc sống lao động…

Về nội dung GD hướng nghiệp cũng cần có sự đổi mới để đáp ứng kịp thời mục tiêu đổi mới giáo dục đó là bên cạnh những kiến thức, kĩ năng cơ bản nhằm định hướng nghề nghiệp, HS cần được học ít nhất là một nghề thực sự phù hợp với sức khỏe, sở thích, điều kiện và khả năng của bản thân. Các trường THPT cần làm tốt các công việc: Giới thiệu nghề nghiệp; Tư vấn, định hướng nghề nghiệp và lựa chọn nghề cho HS. Do đó, cần tích hợp một số ngành, nghề trong nội dung chương trình từng môn học, phù hợp với đặc điểm, thế mạnh của từng địa phương, nhà trường.

Các phương pháp GDHN cũng cần khuyến khích HS tự học, làm việc theo nhóm, thảo luận, thực hiện dự án học tập, thực hành thí nghiệm ở phòng học bộ môn, cơ sở sản xuất kinh doanh, cơ quan văn hoá. Tăng cường học qua dự án với các tình huống, vấn đề thực tiễn nhằm rèn luyện kĩ năng hướng nghiệp cho học sinh dựa trên việc học sinh tự phát hiện ra khả năng của bản thân, khơi gợi sự đam mê, khả năng sáng tạo, sự đồng cảm, khả năng học được những điều thực sự có ích cho lựa chọn nghề từ cuộc sống.

Ngoài ra, để GDHN đạt kết quả tốt thì GV và các lực lượng tham gia GDHN cũng cần phải được nâng cao năng lực, trình độ hướng nghiệp cho HS. Phải chủ động tìm hiểu về thị trường lao động, xu hướng dịch chuyển nghề nghiệp và đặc điểm tâm sinh lý học sinh… để có những định hướng, giáo dục phù hợp với từng đối tượng HS.

Như vậy, GDPT đang thay đổi tích cực theo hướng chú trọng đến công tác hướng nghiệp, phân luồng, tham vấn học đường cho học sinh phổ thông. Chương trình giáo dục phổ thông mới xác định rõ giai đoạn định hướng nghề nghiệp… điều đó đòi hỏi những người làm công tác giáo dục nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác GDHN ở trường phổ thông.

1.4. Quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở trường trung học phổ thông

1.4.1. Quản lý thiết kế hoạt động giáo dục hướng nghiệp

Quản lý thiết kế HĐ GDHN là nội dung quan trọng giúp nhà quản lý chỉ đạo hoạt động lập kế hoạch GDHN của giáo viên và các lực lượng tham gia giáo dục hướng nghiệp, để đảm bảo kế hoạch GDHN cụ thể hoá được chương trình GD quốc gia vào điều kiện cụ thể của trường và địa phương. Để làm tốt nội dung này nhà trường cần làm tốt các vấn đề sau:

  • Đối với Hiệu trưởng: Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học.

Chủ trì việc xây dựng kế hoạch GD nhà trường thể hiện sự cụ thể hoá CTGDPT do Bộ GD&ĐT ban hành vào điều kiện cụ thể của trường, trong đó xác định rõ mục tiêu GDHN của trường; phân phối CTGDHN cho từng khối lớp, xác định vị trí, tầm quan trọng của hoạt động GDHN trong kế hoạch giáo dục tổng thể của trường…

Chỉ đạo GV và các lực lượng tham gia GDHN xác định mục tiêu GDHN một cách cụ thể trong từng nội dung, từng hoạt động GDHN và từng buổi lên lớp. Yêu cầu GV và các lực lượng GDHN xác định mục tiêu theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực hướng nghiệp cho học sinh.

Yêu cầu GV và các lực lượng giáo dục căn cứ vào chương trình giáo dục của trường THPT trong đó có yêu cầu về nội dung HĐ trải nghiệm hướng nghiệp để xây dựng kế hoạch GDHN cho học sinh.

Lựa chọn và chỉ đạo, hướng dẫn cho đội ngũ GV cốt cán thiết kế các hoạt động GDHN một cách cụ thể cho từng khối lớp và quy mô toàn trường nhằm huy động sự tham gia tích cực, nhiệt tình của HS.

Làm tốt công tác kiểm tra, phê duyệt kế hoạch GDHN mà GV và các lực lượng GDHN đã thiết kế để đưa vào triển khai.

Chủ động thiết kế hay lựa chọn áp dụng các mô hình liên kết tổ chức GDHN cho HS với TTGDNN-GDTX, các cơ sở SX, KD…

  • Đối với Tổ trưởng chuyên môn:

Hướng dẫn GV và các lực lượng tham gia GDHN trong khâu thiết kế bài học GDHN thông qua dạy nghề phổ thông, qua tổ chức trải nghiệm nghề nghiệp ở các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; thiết kế ngày hội tuyển sinh, tư vấn nghề…

Chỉ đạo GV và các lực lượng GDHN xây dựng, thiết kế các hoạt động GDHN đảm bảo huy động sự tham gia tích cực của HS trong từng hoạt động. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học.

Chỉ đạo, hướng dẫn GV và các lực lượng tham gia GDHN trong việc lựa chọn các phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động GDHN để thiết kế các hoạt động GDHN cho học sinh phù hợp với điều kiện của nhà trường và tình hình thực tế ở địa phương. Trong đó chỉ đạo GV và các lực lượng tham gia GDHN phải thiết kế các hoạt động theo hướng tích hợp với các môn học như Công nghệ, Tin học, Vật lý, Giáo dục công dân… Đồng thời tích hợp vào nội dung của các hoạt động giáo dục như hoạt động trải nghiệp, hoạt động ngoài giờ lên lớp, hoạt động lao động… các hoạt động ấy phải tạo được hứng thú và huy động được sự tham gia tích cực cho học sinh nhằm giúp các em phát triển phẩm chất, năng lực hướng nghiệp theo yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông.

1.4.2. Quản lý triển khai hoạt động giáo dục hướng nghiệp

Trên cơ sở kế hoạch hoạt động giáo dục hướng nghiệp, nhà quản lý cần thực hiện tốt các nội dung sau để quản lý triển khai HĐ GDHN:

Đối với Hiệu trưởng:

  • Tổ chức lực lượng tham gia GDHN và phân công công việc cụ thể cho từng bộ phận, cá nhân.
  • Xác định rõ các lực lượng sẽ tham gia triển khai hoạt động GDHN bao gồm các lực lượng trong nhà trường (Hiệu trưởng và các phó Hiệu trưởng, tổ chuyên môn, GV…); ngoài nhà trường (các trung tâm GDNN-GDTX; các trường ĐH-CĐ; phụ huynh HS, các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất…)
  • Chỉ đạo Đoàn thanh niên, các tổ chuyên môn phối kết hợp với các làng nghề, các công ty, xí nghiệp sản xuất trên địa bàn trường đóng để đưa học sinh đến tham gia trải nghiệm, từ đó định hướng cho học sinh kỹ năng nghề nghiệp. Ký kết thỏa thuận với các doanh nghiệp trên địa bàn về việc sẵn sàng nhận lao động phổ thông là học sinh nhà trường sau khi tốt nghiệp THPT có nhu cầu đi lao động tại các công ty, xí nghiệp.
  • Chỉ đạo Đoàn thanh niên, các tổ chuyên môn phối kết hợp với Trung tâm GDNN-GDTX thông qua Hợp đồng giảng dạy để tổ chức dạy nghề phổ thông cho học sinh. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học.
  • Chỉ đạo Đoàn thanh niên, GV xây dựng chương trình phối hợp với các trường đại học, cao đẳng trong việc tổ chức ngày hội việc làm, ngày hội tư vấn tuyển sinh cho học sinh.

Hiệu trưởng chỉ đạo xây dựng cơ chế phối hợp để triển khai kế hoạch GDHN vào thực tiễn:

Tổ chức các ngày hội tuyển sinh, tư vấn việc làm với các trường ĐH-CĐ: Nhà trường phải làm tốt công tác huy động và quản lý học sinh; Đồng thời tạo mọi điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị hay nhân lực hỗ trợ cho các trường ĐH- CĐ nếu cần thiết. Đối với cán bộ đến từ các trường đại học, cao đẳng giới thiệu cho học sinh các ngành, nghề mà nhà trường đào tạo, chỉ ra yêu cầu về mặt năng lực của học sinh nhằm đáp ứng yêu cầu của nhà trường, cung cấp cho học sinh các thông tin về đầu ra và cơ hội tìm việc làm sau khi học xong làm căn cứ cho HS trong việc lựa chọn đăng ký vào các ngành học sau khi tốt nghiệp THPT.

Tổ chức dạy nghề phổ thông cho HS: Trong quá trình thực hiện, GV nhà trường phải quản lý học sinh về mặt chuyên cần và ý thức kỷ luật trong quá trình học tập; GV của Trung tâm GDNN-GDTX thực hiện nội dung dạy nghề theo chương trình nghề phổ thông đã được phê duyệt.

Phối hợp với các làng nghề, công ty… trên địa bàn thì Nhà trường phải tổ chức cho HS tham gia trải nghiệm một cách an toàn. Đối với các công ty, xí nghiệp, làng nghề… thì cần tạo điều kiện thuận lợi để học sinh Nhà trường được tham quan, học tập và trải nghiệm thực tế vào nghề nghiệp từ đó giúp học sinh có nhận thức và thái độ tích cực với nghề nghiệp trong tương lai…

Đối với tổ trưởng chuyên môn:

  • Chỉ đạo GV và các lực lượng GDHN thực hiện đúng kế hoạch GDHN đã đề ra đảm bảo theo đúng tiến độ chương trình năm học.
  • Chỉ đạo GV và các lực lượng GDHN phải sử dụng các phương pháp giáo dục tích cực, các hình thức GDHN đa dạng để triển khai HĐ GDHN cho học sinh theo đúng yêu cầu phát triển phẩm chất, năng lực.
  • Chỉ đạo GV bộ môn thực hiện các HD GDHN thông qua việc tích hợp trong các môn học như Công nghệ, Tin học, Vật lí, Giáo dục công dân… đảm bảo về thời lượng phù hợp với nội dung của từng hoạt động.
  • Chỉ đạo GV, GVCN, Đoàn thanh niên phối hợp chặt chẽ với các cựu học sinh của nhà trường để tổ chức hoạt động tuyên truyền, giới thiệu nghề nghiệp, giới thiệu và lựa chọn việc làm thông qua các buổi sinh hoạt tập thể, sinh hoạt cuối tuần.

Đối với Giáo viên

  • GV tiến hành xây dựng kế hoạch GD, thiết kế các HĐGDHN cụ thể để triển khai thực hiện ở từng lớp HS do mình phụ trách. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học.
  • Quản lý học sinh về mặt chuyên cần và ý thức kỷ luật trong quá trình học tập khi tham gia các buổi tư vấn nghề nghiệp, ngày hội tuyển sinh, học nghề phổ thông hay các buổi đi tham quan, thực tế tại làng nghề, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất…
  • Tiến hành lồng ghép, tích hợp các nội dung GDHN thông qua giảng dạy các môn văn hóa trên lớp cho HS.
  • Tiến hành lựa chọn các hình thức và phương pháp GDHN phù hợp cho HS đảm bảo phát triển phẩm chất, năng lực.
  • Xây dựng kế hoạch trong việc phối hợp với Đoàn thanh niên và các cựu HS nhà trường để giới thiệu nghề nghiệp cho HS.

1.4.3. Quản lý kiểm tra, đánh giá và cải tiến hoạt động giáo dục hướng nghiệp

Trên cơ sở các hoạt động đã triển khai, nhà quản lý tổ chức kiểm tra và đánh giá việc thực hiện kế hoạch. Qua việc đánh giá việc thực hiện kế hoạch GDHN sẽ chỉ ra nhưng điểm mạnh để phát huy, những điểm còn hạn chế để có phương pháp cải tiến đảm bảo hoạt động GDHN đạt kết quả hơn.

Đối với Hiệu trưởng:

  • Tổ chức lực lượng kiểm tra và xây dựng bộ tiêu chí đánh giá HĐ GDHN. Căn cứ vào nội dung chương trình và yêu cầu cần đạt để xây dựng bộ tiêu chí đánh giá đảm bảo tính khách quan, tạo động lực cho GV và lực lượng GDHN tổ chức tốt hoạt động này.
  • Hiệu trưởng tổ chức lực lượng để kiểm tra hoạt động GDHN, nội dung kiểm tra phải dựa vào bộ tiêu chí đã được xây dựng và thông qua.
  • Kiểm tra việc đánh giá kết quả GDHN của đội ngũ GV và các lực lượng tham gia GDHN.
  • Chỉ đạo xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát việc thực hiện GDHN giữa Nhà trường với Trung tâm GDNN-GDTX; các buổi tư vấn nghề nghiệp, ngày hội tuyển sinh khi kết hợp với các trường ĐH-CĐ.

Đối với tổ trưởng chuyên môn:

  • Tổ chức thu thập thông tin, minh chứng cụ thể về HĐ GDHN mà nhà trường đã triển khai. Trong đó có những minh chứng cụ thể về những kết quả đạt được như: Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học.
  • Kiểm tra sĩ số, mức độ chuyên cần của HS
  • Số lượng các buổi GDHN đã triển khai;
  • Các nội dung GDHN đã được triển khai thực hiện;
  • Các hình thức và phương pháp GDHN đã được áp dụng, kết quả đạt được như thế nào;
  • Chỉ ra những hạn chế của HĐ GDHN để xây dựng kế hoạch cải tiến nhằm khắc phục những hạn chế đó.
  • Tổ chức kiểm tra, đánh giá thông qua dự giờ trên lớp hay các buổi sinh hoạt lớp.
  • Chỉ đạo kiểm tra kết quả học sinh đã đạt được sau tham gia hoạt động GDHN với 3 tiêu chí (kiến thức, kỹ năng, thái độ)
  • Xây dựng kế hoạch và chỉ đạo kiểm tra, đánh giá kết quả GDHN thông qua các buổi tư vấn nghề, học nghề ở Trung tâm GDNN-GDTX hay các buổi đi thực tế doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh…
  • Những kết quả kiểm tra phải được xử lý và có kết luận cụ thể làm căn cứ cho việc phát huy những mặt tích cực; đồng thời có biện pháp khắc phục, sửa chữa những thiếu sót, chưa tốt trong GDHN tại nhà trường.

1.5. Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông

1.5.1. Bối cảnh kinh tế, chính trị

Bối cảnh kinh tế, chính trị của địa phương, đất nước có ảnh hưởng không nhỏ đến quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp. Đây là một trong những yếu tố tất yếu góp phần tạo ra sự phân luồng trong định hướng nghề nghiệp. HS càng ngày càng quan tâm hơn đến sự phát triển KT-XH của địa phương, đất nước và thường có xu hướng lựa chọn những ngành nghề đang có sức nóng với nhiều cơ hội công việc và sự hứa hẹn cao về lương, thưởng. Nó giúp cho các trường có kế hoạch, định hướng trong việc quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp.

1.5.2. Truyền thống gia đình của người học

Trong định hướng nghề nghiệp tương lai cho HS thì truyền thống gia đình, hoặc chính các bậc phụ huynh HS có vai trò quan trọng ảnh hưởng đến định hướng nghề nghiệp của HS, họ là nhà tư vấn gần gũi nhất giúp các em chọn lựa hướng đi phù hợp. Chính cha mẹ mới biết rõ năng khiếu, sức học của con và hoàn cảnh kinh tế của gia đình, với những yếu tố đó mà tư vấn cho con chọn lựa cơ sở và quyết định hướng đi thích hợp nhất.

Tuy nhiên, sự can thiệp, ảnh hưởng quá lớn từ cha mẹ đến việc lựa chọn nghề nghiệp của học sinh sẽ có tác động hai mặt: Mặt tích cực, đối với những trường hợp cha mẹ hiểu rõ năng lực, hứng thú của con, hiểu biết rõ về các ngành nghề trong xã hội… nên hướng cho con mình lựa chọn những nghề phù hợp. Mặt tiêu cực là có một bộ phận không nhỏ các bậc phu huynh lại áp đặt con cái lựa chọn nghề nghiệp theo ý mình. Với suy nghĩ là cha mẹ phải có trách nhiệm với con cái từ việc chọn nghề đến lúc tìm việc làm mà hầu như không tính đến hứng thú, năng lực sở trường của các em. Điều này đã dẫn đến việc lựa chọn nghề sai lầm của học sinh, hình thành ở các em tính thụ động, ỷ lại vào cha mẹ. Từ đó, đặt ra cho công tác quản lý hoạt động GDHN là phải quản lý và phối hợp tốt với phụ huynh HS để hướng nghiệp cho HS một cách đồng bộ, hiệu quả nhất.

1.5.3. Năng lực của đội ngũ quản lý, giáo viên và các lực lượng khác tham gia giáo dục hướng nghiệp Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học.

Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý có vai trò quan trọng để GDHN có hiệu quả. Trong nền giáo dục hiện đại, việc quản lý và đào tạo giáo viên không chỉ chăm lo về chuyên môn là đủ mà còn phải được yêu cầu đào tạo, trang bị thêm một số môn học khác để phục vụ cho việc giáo dục toàn diện cho HS; được huấn luyện phương pháp và kỹ năng dạy học một cách chu đáo và thường xuyên được trao đổi với đồng nghiệp, thường xuyên được rèn luyện nhân cách, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, phát triển tính cách, tăng cường ý thức của người giáo viên, từ đó tạo sự ảnh hưởng của nhân cách giáo viên đến HS.

Trong nhà trường phổ thông hiện nay nhất thiết phải xây dựng được lực lượng có trình độ chuyên môn chuyên trách, hàng năm nhà trường cần có kế hoạch cử lực lượng này tham gia các chương trình tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ do ngành tổ chức.

Ngoài ra, để giáo dục hướng nghiệp trong nhà trường thành công bên cạnh cán bộ QL và GV thì lực lượng tham gia giáo dục hướng nghiệp khác cũng có vai trò hết sức quan trọng: các cấp QL nhà nước về GD; cha mẹ học sinh, các tổ chức đoàn thể, địa phương… Đây là lực lượng hùng hậu và ảnh hưởng lớn tới kết quả giáo dục hướng nghiệp, sẽ là lực lượng phối hợp với Nhà trường để tổ chức nhiều hoạt động giáo dục hướng nghiệp thiết thực cho HS vì vậy năng lực đội ngũ này cũng cần được chú trọng nâng cao và cập nhật thường xuyên.

1.5.4. Yếu tố tâm lý của học sinh trung học phổ thông

Lứa tuổi của HS HPPT là đang trong giai đoạn phát triển và dần hình thành các cấu trúc tâm lý, các phẩm chất, nhân cách và thể chất chuẩn bị cho các em bước vào cuộc sống xã hội với tư cách là một người trưởng thành. Và lựa chọn cho mình một nghề nghiệp cũng là một bước chuẩn bị quan trọng cho tương lai sau này của các em. Đây là giai đoạn các em phải đứng trước nhiều cơ hội và thách thức với việc lựa chọn cho mình một nghề nghiệp trong tương lai, ở các em cũng đã hình thành những hứng thú học tập gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp. Tuy nhiên việc lựa chọn nghề với các em không hề dễ dàng bởi nghề nghiệp trong xã hội rất phong phú bên cạnh đó các em còn có những tâm lý chưa đúng đắn của các em dẫn đến việc lựa chọn sai nghề nghiệp phù hợp với bản thân.

Chính vì thế mà công tác GDHN cho HS cũng gặp không ít khó khăn và trở ngại đòi hỏi Nhà trường phải có những biện pháp quản lý phù hợp nhằm khơi gợi và tạo hứng thú tích cực cho HS tham gia các hoạt động GDHN. Công tác GDHN hay quản lý hoạt động GDHN cũng vừa phải mềm mỏng, vừa phải cứng rắn để HS đạt được những mục tiêu đã đặt ra trong GDHN.

Tiểu kết chương 1 Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học.

Qua tổng quan nghiên cứu thì tác giả thấy rằng quản lý GDHN cho HS phổ thông là xu thế chung được nhiều nước trên thế giới và Việt Nam quan tâm. Nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học đã dành thời gian để nghiên cứu, tìm hiểu và đề cập đến mối quan hệ giữa GDHN và phát triển nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của địa phương. Tuy nhiên, hiện nay có rất ít công trình nghiên cứu về quản lý GDHN cho HS THPT trong bối cảnh đổi mới giáo dục.

Giáo dục hướng nghiệp là hệ thống các tác động của xã hội về giáo dục, y học, xã hội học, kinh tế học… nhằm giúp cho HS chọn được nghề vừa phù hợp với hứng thú, năng lực, nguyện vọng, sở trường của cá nhân vừa đáp ứng được nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân. Để làm tốt hoạt động GDHN thì CBQL nhà trường cần phải thực hiện có hiệu quả công tác quản lý hoạt động GDHN trong nhà trường với việc quản lý thiết kế hoạt động GDHN; quản lý triển khai hoạt động GDHN; quản lý kiểm tra, đánh giá và cải tiến hoạt động GDHN.

Quản lý hoạt động GDHN cho HS THPT chịu sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như: bối cảnh kinh tế, chính trị; truyền thống gia đình của người học; năng lực của đội ngũ quản lý, giáo viên và các lực lượng khác tham gia giáo dục hướng nghiệp và yếu tố tâm lý của học sinh trung học phổ thông. Các yếu tố này sẽ chi phối, tác động lớn tới kết quả của hoạt động GDHN cho HS trong nhà trường, vì thế đòi hỏi CBQL phải nhạy bén, linh hoạt trong việc xác định và quản lý các yếu tố này một cách kịp thời, phù hợp. Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học.

Đây sẽ là cơ sở lý luận quan trọng để tác giả tiếp tục triển khai nghiên cứu, khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động GDHN cho HS THPT Hiền Đa, Phú Thọ trong chương 2.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng giáo dục hướng nghiệp học sinh trung học

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537