Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Phòng ngừa và xử lý nợ xấu của các Ngân hàng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Giải pháp phòng ngừa và xử lý nợ xấu của các Ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tên đề tài: Giải pháp phòng ngừa và xử lý nợ xấu của các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
Tóm tắt:
Nợ xấu tại Việt Nam ngày càng gia tăng do các yếu tố tích tụ từ quá khứ và tác động từ các yếu tố kinh tế trong nước cũng như quốc tế. Nợ xấu tác động tiêu cực đến dòng luân chuyển vốn, đến tổng thể nền kinh tế, tiềm ẩn rủi ro đối với sự an toàn của hệ thống tài chính quốc gia, cũng như sự phát triển của mạng lưới ngân hàng. Vì vậy, việc ngăn ngừa và xử lý nợ xấu nhằm lành mạnh hóa tài chính của hệ thống ngân hàng là hết sức cần thiết.
Bài luận văn cung cấp những cơ sở lý luận về nợ xấu trong hoạt động tín dụng của ngân hàng, phân tích nguyên nhân và tác động của nợ xấu, đồng thời tham khảo kinh nghiệm phòng ngừa và xử lý nợ xấu một số nước. Trên cơ sở đó tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng nợ xấu, công tác phòng ngừa và xử lý trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, đồng thời xác định nguyên nhân gốc rễ của nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay. Bằng việc thu thập dữ liệu và áp dụng các phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh, phân tích lý thuyết kết hợp với luận giải thực tiễn và khuyến nghị các bên liên quan, luận án đề xuất các giải pháp phòng ngừa và xử lý nợ xấu phù hợp với thực tế của ngành ngân hàng Việt Nam.
Từ khóa: giải pháp phòng ngừa, nợ xấu, xử lý nợ xấu, ngân hàng thương mại Việt Nam.
ABSTRACT
Thesis Title: Prevention and Resolution Solutions for Non-Performing Loans of Vietnamese Commercial Banks.
Summary: Luận văn: Phòng ngừa và xử lý nợ xấu của các Ngân hàng.
Non-performing loans in Vietnam have been on the rise due to accumulated factors from the past and impacts from both domestic and international economic factors. Non-performing loans have negative effects on the flow of capital, the overall economy, and pose risks to the safety of the national financial system, as well as the development of the banking network. Therefore, it is crucial to prevent and resolve non-performing loans to strengthen the financial health of the banking system. This thesis provides theoretical foundations on non-performing loans in credit activities of banks, analyzes the causes and impacts of non-performing loans, and references experiences in preventing and resolving non-performing loans in some countries. Based on that, it conducts analysis and evaluation of the current situation of non-performing loans, prevention and resolution efforts in Vietnamese banking system, and identifies the root causes of non-performing loans in the current banking system of Vietnam. By collecting data and applying statistical, synthesis, comparison, and theoretical analysis methods combined with practical interpretation and recommendation for relevant stakeholders, the thesis proposes appropriate prevention and resolution solutions for non-performing loans in line with the reality of the Vietnamese banking industry.
Keywords: prevention solutions, non-performing loans, resolution of nonperforming loans, Vietnamese commercial banks.
MỞ ĐẦU
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong nền kinh tế hiện nay, hệ thống ngân hàng được ví như huyết mạch quan trọng của nền kinh tế. Hệ thống ngân hàng hoạt động một cách thông suốt, lành mạnh là tiền đề để các nguồn lực tài chính được phân bổ, luân chuyển, kích thích hoạt động sản xuất phát triển, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng. Song để mở rộng và hoàn thiện quá trình sản xuất không thể không nhắc đến vai trò quan trọng của tín dụng ngân hàng. Tuy nhiên, hoạt động tín dụng tại các nước có nền kinh tế đang trong giai đoạn phát triển, hệ thống tài chính còn non trẻ lại luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Cũng vì vậy mà việc xuất hiện các khoản nợ xấu trong hoạt động của các ngân hàng thương mại (NHTM) là điều không tránh khỏi.
Sau một thời gian dài, việc tín dụng tăng trưởng nhanh cùng với khả năng kiểm soát rủi ro vẫn còn nhiều hạn chế, đồng thời nền kinh tế đang gặp phải nhiều yếu tố bất lợi (thị trường bất động sản sụt giảm và đóng băng kéo dài, tăng trưởng kinh tế chậm lại, Hoạt động kinh doanh khó khăn, lạm phát cao, năng lực tài chính và khả năng trả nợ của khách hàng giảm sút,…), làm nợ xấu của hệ thống ngân hàng bắt đầu lộ diện và tăng nhanh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn, hiệu quả hoạt động của Tổ chức tín dụng, làm cho nhiều Tổ chức tín dụng lâm vào tình trạng thua lỗ, khó khăn.
2. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Luận văn: Phòng ngừa và xử lý nợ xấu của các Ngân hàng.
Thời gian qua nợ xấu đã trở thành một vấn đề được quan tâm nhiều hơn ở Việt Nam. Việc nợ xấu ở mức cao đang tạo áp lực cho hoạt động của các Ngân hàng thương mại và đồng thời làm giảm tốc độ phát triển nền kinh tế. Bản chất của nợ xấu là những tài sản không có khả năng sinh lời trong nền kinh tế, được hệ thống ngân hàng tài trợ thông qua các khoản tín dụng.
Vì vậy, công tác phòng ngừa và xử lý nợ xấu trở nên cấp thiết và là một nhiệm vụ quan trọng của ngành ngân hàng. Tuy nhiên, để đạt được kết quả tốt, cần có sự tham gia tích cực từ cả hệ thống chính trị và xã hội nhằm giúp tháo gỡ vốn đang bị đóng băng trong các khoản nợ xấu và đồng thời lành mạnh hóa tài chính cho các TCTD, trong đó đầu tàu là các Ngân hàng thương mại. Do đó tác giả đã chọn đề tài: “Giải pháp phòng ngừa và xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam” làm hướng nghiên cứu.
3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
3.1. Mục tiêu tổng quát
Thông qua nghiên cứu này, tác giả đưa ra những phân tích và đánh giá về thực trạng nợ xấu, công tác phòng ngừa, xử lý nợ xấu tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam. Bên cạnh đó, tham khảo kinh nghiệm phòng ngừa và xử lý nợ xấu của một số nước trên thế giới, tác giả đề xuất một số giải pháp phòng ngừa, xử lý nợ xấu của các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
3.2. Mục tiêu cụ thể
Một là, phân tích và đánh giá về thực trạng nợ xấu, công tác phòng ngừa, xử lý nợ xấu hiện nay.
Hai là, chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay.
Ba là, đề xuất giải pháp phòng ngừa, xử lý nợ xấu phù hợp với thực tế của ngành ngân hàng Việt Nam, cùng kiến nghị đối với các chủ thể có liên quan.
4. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Thực trạng nợ xấu và xử lý nợ xấu của các Ngân hàng thương mại Việt Nam ra sao?
- Nguyên nhân gây ra nợ xấu? Luận văn: Phòng ngừa và xử lý nợ xấu của các Ngân hàng.
- Giải pháp cụ thể nào giúp công tác phòng ngừa, xử lý dứt điểm nợ xấu dành cho các Ngân hàng thương mại Việt Nam?
5. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Nợ xấu và xử lý nợ xấu tại các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Đề tài chỉ tập trung vào nội dung phòng ngừa, xử lý nợ xấu của các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
Về thời gian: số liệu, thông tin liên quan đến đề tài nghiên cứu được lấy chung cho toàn hệ thống ngân hàng và số liệu về tỷ lệ nợ xấu của 22 Ngân hàng thương mại đang niêm
yết trong giai đoạn từ năm 2015 – 2021.
6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, phân tích kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn nhằm làm sáng tỏ mục tiêu nghiên cứu, đưa ra những vấn đề cơ bản về nợ xấu, phòng ngừa, xử lý nợ xấu, phân tích tình hình hiện nay và đề ra các giải pháp hiệu quả. Luận văn: Phòng ngừa và xử lý nợ xấu của các Ngân hàng.
7. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Bài nghiên cứu tập trung vào các nội dung:
− Tổng quan về nợ xấu, phòng ngừa, xử lý nợ xấu trong hoạt động của các NHTM.
− Phân tích và đánh giá thực trạng nợ xấu, các nguyên nhân gây ra nợ xấu, thực trạng phòng ngừa, xử lý nợ xấu ở Việt Nam giai đoạn năm 2015 – 2021 để có cái nhìn tổng quan.
− Nghiên cứu các mô hình và giải pháp xử lý nợ xấu thành công của nước ngoài. So sánh mô hình xử lý nợ xấu của các Ngân hàng thương mại Việt Nam với nước ngoài để tìm ra những ý tưởng phù hợp có thể ứng dụng vào tình hình thực tế Việt Nam.
− Đi sâu vào nghiên cứu công tác phòng ngừa, xử lý nợ xấu, đánh giá những kết quả đã đạt được, những vướng mắc, khó khăn và đề xuất biện pháp giúp các NHTM Việt Nam nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu, đồng thời thu thập kiến nghị từ các chủ thể liên quan để hoàn thiện đề tài.
8. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Thông qua việc đánh giá tình hình phòng ngừa, xử lý nợ xấu của các Ngân hàng thương mại Việt Nam, nghiên cứu giúp nhà quản lý có cái nhìn tổng quan về những chỉ đạo trong phòng ngừa, xử lý nợ xấu tác động ra sao đến tình hình nợ xấu và từ đó đề xuất những bước đi đúng đắn cho tương lai.
Bên cạnh đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp đồng bộ, khả thi và thực tiễn, đồng thời đề xuất các kiến nghị với các bên liên quan, giúp các nhà quản lý điều hành hoạt động, thiết lập biện pháp phòng ngừa, xử lý nợ xấu hiệu quả hơn.
Nghiên cứu còn là cơ sở khuyến khích sự quan tâm của các nhà nghiên cứu khác đến nợ xấu của ngân hàng. Trở thành nguồn tài liệu tham khảo thông tin cho các nghiên cứu sau.
9. TỔNG QUAN VỀ LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU
Các công trình nghiên cứu về nợ xấu của các tác giả trong nước như: Thực trạng nợ xấu tại các ngân hàng Việt Nam và giải pháp tháo gỡ (Nguyễn Thị Mùi, 2012); Tình hình nợ xấu của Việt nam và một số giải pháp khắc phục (Bùi Bảo Ngọc, 2012); Bàn về giải pháp xử lý nợ xấu hiện nay (Lê Quốc Phương, 2013). Một số đề tài luận văn thạc sĩ nghiên cứu về nợ xấu ở Việt Nam: Giải pháp phòng ngừa và xử lý nợ xấu của Ngân hàng TMCP công thương Việt Nam chi nhánh Đà Nẵng (Lê Thị Hoài Diễm, 2012); Phân tích các nhân tố tác động đến nợ xấu tại các ngân hàng TMCP Việt Nam (Nguyễn Thị Huệ, 2014). Tuy nhiên khi xem xét nội dung thì tác giả nhận thấy:
− Một là: Một số nghiên cứu chưa mở rộng ra toàn bộ hệ thống ngân hàng mà chỉ dừng lại ở một ngân hàng cụ thể.
− Hai là: Một số nghiên cứu có giải pháp chưa thật sự phù hợp tình hình thực tế, thông lệ quốc tế, định hướng xử lý nợ xấu của Việt Nam. Luận văn: Phòng ngừa và xử lý nợ xấu của các Ngân hàng.
− Ba là: Phần lớn các nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu các giải pháp xử lý nợ xấu hoặc công tác phòng ngừa sự phát sinh nợ xấu, nhưng chưa có sự kết hợp toàn diện giữa hai vấn đề này.
Bên cạnh đó, năm 2015 là một năm quan trọng đối với ngành ngân hàng trong giải quyết nợ xấu. Nhiều biện pháp mới được triển khai và số liệu liên quan đến nợ xấu cũng thay đổi liên tục, cùng với đó giai đoạn này chịu nhiều tác động từ dịch bệnh Covid19 diễn biến phức tạp. Tác giả hy vọng tuy rằng nghiên cứu về nợ xấu là một vấn đề đã cũ, nhưng sẽ mang lại những giá trị mới và quan trọng, tập trung vào tính hiệu quả và thiết thực của nó.
10. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN
Nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chương:
- Chương 1. Tổng quan về phòng ngừa và xử lý nợ xấu trong hoạt động của Ngân hàng thương mại.
- Chương 2. Thực trạng phòng ngừa và xử lý nợ xấu của các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
- Chương 3. Giải pháp phòng ngừa và xử lý nợ xấu của các Ngân hàng thương mại Việt Nam.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ PHÒNG NGỪA VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái niệm về rủi ro tín dụng và nợ xấu trong hoạt động của các ngân hàng thương mại
1.1.1. Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng hiểu một cách khái quát nhất là rủi ro phát sinh trong quá trình ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng, khi cam kết của khách hàng – thanh toán cả tiền gốc và lãi đầy đủ và đúng hạn – không được thực hiện, từ đó gây ra những tổn thất tài chính cho ngân hàng. Như vậy, khái niệm rủi ro tín dụng đề cập đến cả hai đối tượng “tiền gốc” và “tiền lãi”, cũng như hai tính chất “đầy đủ” và “đúng hạn”. Điều đó có nghĩa là việc vi phạm vào một trong bốn biến trên đều kích hoạt rủi ro tín dụng xuất hiện.
Bên cạnh khái niệm trên, theo định nghĩa của Hiệp ước Basel 2010 và Rose (2002) thì rủi ro tín dụng là khả năng mà ngân hàng sẽ mất một phần hoặc toàn bộ khoản vay từ những sự kiện đe dọa khả năng thanh toán của khách hàng.Các sự kiện không mong muốn này bao gồm phá sản của khách hàng hoặc sự cố tình từ chối thanh toán khoản nợ của khách hàng. Theo quan điểm này, những sự kiện đe dọa khả năng thanh toán của khách hàng là nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng và nó có thể là do khách quan hay do chủ quan từ chính khách hàng. Luận văn: Phòng ngừa và xử lý nợ xấu của các Ngân hàng.
Theo Timothy W.Koch: Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lời, rủi ro xảy ra khi khách hàng sai hẹn – có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi theo thỏa thuận. rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hẹn (Bank Managerment,University of South Carolina, The Dryden Press, page 107).
Theo Henie Van Greuning; Sonja Brajovic Bratanovic: rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng, đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng. Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không chi trả được toàn bộ. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của ngân hàng (WB).
Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam có định nghĩa: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng” là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Cũng theo khoản 1 điều 3 Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 rủi ro tín dụng cũng có thể được hiểu: “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
1.1.2. Nợ xấu
Có một số thuật ngữ được sử dụng khi nói về nợ xấu như “non-performing loan”, “bad debt” hay “doubtful debt” (Fofack, 2005). Nợ xấu được hiểu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ. Thực tế hiện nay đang tồn tại nhiều khái niệm nợ xấu khác nhau. Có thể nhắc đến một số khái niệm nợ xấu, như sau:
− Khái niệm nợ xấu của Ủy ban Basel (BCBS): BCBS xác định việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày; Ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi Ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi (Basel committee on banking Supervision, 2005).
− Khái niệm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): nợ xấu theo quan điểm của IMF được xác định dựa trên hai yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày, hoặc (ii) khả năng trả nợ bị nghi ngờ (IMF’s Compilation Guide on Financial Soundness Indicators, 2004).
− Khái niệm của nhóm chuyên gia tư vấn Advisory Expert Group (AEG): AEG thống nhất định nghĩa như sau: Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ (Trung tâm thông tin tư liệu, 2013).
- − Quy định theo văn bản pháp luật Việt Nam
Về cơ bản nợ xấu có 03 đặc điểm chung: (i) Quá hạn trên 90 ngày. (ii) Nghi ngờ về khả năng trả nợ, bản chất của nợ xấu là một khoản tiền cho vay mà chủ nợ xác định khó thu hồi lại. (iii) Nợ xấu bao gồm 03 nhóm: Nợ dưới chuẩn, Nợ nghi ngờ và Nợ có khả năng mất vốn.
Tại Việt Nam, hiện chưa có khái niệm đầy đủ, thống nhất về nợ xấu. Theo quy định tại Khoản 8 Điều 3 Thông tư 11/2021/TT-NHNN ngày 30/07/2021 của Ngân hàng Nhà nước: Nợ xấu (NPL) là nợ xấu nội bảng, gồm nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5. Với quy định này, khái niệm về nợ xấu tại Việt Nam cũng bao hàm 03 đặc điểm về nợ xấu nêu trên.
Có thể khái quát: Nợ xấu là những khoản nợ quá hạn trả nợ trên 90 ngày và/hoặc được đánh giá khó có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi, bao gồm 03 nhóm: Nợ dưới chuẩn, Nợ nghi ngờ và Nợ có khả năng mất vốn.
Luôn có một xác suất nhất định khách hàng vay vốn mất khả năng trả nợ trong một giai đoạn nhất định trong hoạt động cấp tín dụng, đặt Tổ chức tín dụng vào nguy cơ không có khả năng thu hồi đầy đủ vốn, gây tổn thất cho Tổ chức tín dụng cũng như nền kinh tế, xác suất đó gọi là tỷ lệ nợ xấu tự nhiên (theo thông lệ quốc tế là 3%). Khi khối lượng nợ xấu của một Tổ chức tín dụng gia tăng vượt quá mức tự nhiên sẽ ảnh hưởng không chỉ đến Tổ chức tín dụng đó mà có thể lan sang toàn hệ thống các Tổ chức tín dụng, đe dọa đến sự phát triển của nền kinh tế. Do đó, việc nhận diện và xử lý nợ xấu là mục tiêu hết sức quan trọng nhằm ổn định hệ thống tài chính quốc gia.
1.1.3. Nguyên nhân của nợ xấu Luận văn: Phòng ngừa và xử lý nợ xấu của các Ngân hàng.
Một trong những điểm quan trọng cần thực hiện là phân tích nguyên nhân gây ra nợ xấu để từ đó đưa ra được chiến lược, phương pháp xử lý, quản lý phù hợp, khả thi và có hiệu quả.
Hình 1.1: Các nguyên nhân gây ra nợ xấu
1.1.2.1. Nguyên nhân khách quan
− Môi trường tự nhiên: Do sự biến đổi của môi trường tự nhiên như thiên tai, bão lụt, mất mùa, dịch bệnh covid 19, … làm cho khách hàng vay hoạt động kinh doanh thất bại, nhất là các khoản vay nông nghiệp. Bên cạnh đó tình hình dịch bệnh Covid 19 diễn biến phức tạp trong thời gian vừa qua ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của khách hàng. Nguyên nhân này nằm ngoài tầm kiểm soát của cả Ngân hàng thương mại, các khách hàng vay.
− Môi trường kinh tế: Sự thay đổi chính sách kinh tế vĩ mô như về xuất nhập khẩu, tỷ giá, lãi suất, thay đổi quy hoạch xây dựng hạ tầng, thay đổi cơ chế tài chính… ảnh hưởng trực tiếp đến Hoạt động kinh doanh của khách hàng vay, gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng nợ của các đối tượng vay này.
− Môi trường pháp lý: Môi trường pháp lý cho hoạt động ngân hàng chưa đầy đủ là một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần gây ra nợ xấu.
− Sự yếu kém trong Hoạt động kinh doanh của khách hàng: khách hàng có năng lực quản lý yếu kém, sử dụng vốn vay sai mục đích, có trình độ hạn chế trong dự đoán các vấn đề kinh tế, … Hơn nữa có rất nhiều người vay sẵn sàng lao vào những cơ hội kinh doanh mạo hiểm với kỳ vọng thu được lợi nhuận cao, mà không lường trước những rủi ro, bất trắc.
− Yếu tố đạo đức của khách hàng vay: Để đạt được mục đích thu được lợi nhuận, nhiều khách hàng bất chấp dùng thủ đoạn để đối phó với ngân hàng như mua chuộc hoặc cung cấp thông tin các BCTC sai lệch. Ngoài ra, cũng có những trường hợp người kinh doanh có lãi không trả nợ hoặc chiếm dụng vốn, dẫn đến sử dụng không hiệu quả và thua lỗ, mất vốn.
1.1.2.2. Nguyên nhân chủ quan
− Sự yếu kém của đội ngũ cán bộ: Sự yếu kém ở đây bao gồm cả phẩm chất đạo đức và năng lực. Nếu cán bộ non kém về trình độ, thiếu kiến thức và kinh nghiệm sẽ không thể thẩm định, tổng hợp thông tin và đánh giá một cách chính xác. Điều này có thể dẫn đến việc cấp tín dụng không đún chất lượng, với rủi ro cao.
Nếu cán bộ không tuân thủ các quy trình tín dụng như giải ngân trước khi hoàn thành chứng từ, không giám sát việc sử dụng vốn của người vay, có thể xảy ra việc mất vốn, sử dụng vốn sai cách. Ngoài ra, nếu cán bộ không có đạo đức, không có tinh thần trách nhiệm và dễ bị cám dỗ, họ có thể gây thiệt hại và rủi ro rất lớn cho ngân hàng bằng cách cho vay dựa trên lợi ích cá nhân, dựa trên mối quan hệ, bỏ qua các điều kiện và thủ tục cần thiết.
− Công tác giám sát, kiểm tra sau giải ngân chưa được siết chặt: Các ngân hàng thường có điểm chung là chỉ tập trung nhiều nguồn lực vào giai đoạn từ khi giải ngân về trước mà nơi lỏng việc giám sát, kiểm tra khách hàng về sau.
− Đánh giá khoản vay không theo mức độ rủi ro của khách hàng: Về cơ cấu, lãi suất áp dụng cho một khoản vay phải được xác định ở mức bảo đảm bù đắp được chi phí quản lý, chi phí vốn đầu vào, phần lợi nhuận mong muốn và phần bù đắp rủi ro của khoản vay. Tuy nhiên vì cạnh tranh một số ngân hàng có thể chấp nhận mức giá cho vay thấp, thậm chí chỉ đủ chi phí quản lý, chi phí vốn đầu vào mà không tính đến phần bù rủi ro. Luận văn: Phòng ngừa và xử lý nợ xấu của các Ngân hàng.
− Danh mục đầu tư chưa đa dạng hoá: Quản trị danh mục đầu tư là một công cụ luôn được nhắc đến trong quản trị tín dụng. Mặc dù hiểu rõ tầm quan trọng này, song nhiều ngân hàng vẫn chỉ cho vay tập trung một hoặc hai ngành hoặc chỉ cho vay nhóm kinh doanh đơn lẻ, vài doanh nghiệp lớn.
1.1.4. Tác động của nợ xấu
− Đối với khách hàng: nợ xấu làm tăng gánh nặng trả nợ, tăng chi phí hoạt động cho ngân hàng, làm giảm tốc độ luân chuyển vốn với ngân hàng gây ảnh hưởng trực tiếp đến mối quan hệ hai bên, làm cho uy tín của khách hàng giảm sút. Ngân hàng phải thận trọng hơn trong cho vay, dẫn tới hậu quả là các ngân hàng có tiền mà không cho vay được, còn nền kinh tế thì vẫn tiếp tục khát vốn.
− Đối với hệ thống các Ngân hàng thương mại: nợ xấu sẽ khiến các ngân hàng giảm lợi nhuận, hiệu quả sử dụng vốn kém, chịu rủi ro dòng tiền, khả năng thanh toán giảm. Đặc biệt, nếu tình trạng nợ xấu diễn ra thường xuyên và không được xử lý dứt điểm sẽ khiến các ngân hàng bị mất uy tín trong Hoạt động kinh doanh tín dụng của mình.
− Đối với nền kinh tế: nợ xấu kìm hãm hoạt động SXKD, làm gia tăng sức ép lên tình trạng lạm phát. Mối lo lớn nhất nếu nợ xấu với dòng tín dụng lớn thì có thể dẫn đến khủng hoảng kinh tế và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng.
Nợ xấu tác động tiêu cực đến nhiều mặt của các ngân hàng thương mại. Vì thế, cần phải đặc biệt quan tâm, quyết liệt thực hiện công tác phòng ngừa, xử lý nợ xấu.
1.1.5. Các chỉ tiêu đo lường nợ xấu
Đo lường chính xác nợ xấu để kịp thời xác định đúng tình trạng đang diễn ra tại ngân hàng mình, qua đó có các giải pháp phòng ngừa, xử lý hiệu quả. Trong nghiên cứu của Phạm Đình Trung (2014) các chỉ tiêu đánh giá được sử dụng phổ biến như sau:
Tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ: Phản ánh tỷ lệ các khoản vay khó thu hồi đầy đủ trên tổng các khoản cho vay. Chỉ tiêu này thấp thể hiện rủi ro tín dụng của ngân hàng cũng thấp; ngược lại, rủi ro tín dụng sẽ cao và ngân hàng phải đối mặt nhiều vấn đề ảnh hưởng chi phí, thu nhập và thanh khoản.
Tỷ lệ xoá nợ ròng/Tổng dư nợ: Khoản xoá nợ ròng là chênh lệch giữa khoản cho vay không còn giá trị mà ngân hàng tiến hành xoá khỏi sổ sách so với khoản thu nhập mà sau đó ngân hàng thu được từ chính khoản nợ đã xoá. Phản ánh mức rủi ro tín dụng, mức tổn thất thật sự trong hoạt động cho vay ngân hàng. Tỷ lệ càng cao thì tổn thất càng lớn trong hoạt động tín dụng ngân hàng, danh mục cho vay thiếu chất lượng và hoạt động kinh doanh không kém, khả năng phá sản cao.
Tỷ lệ nợ có khả năng mất vốn/ Tổng nợ xấu: Trực tiếp phản ánh rủi ro, với nợ nhóm 5 thì mức độ rủi ro mất vốn là cao nhất, khả năng xử lý và thu hồi nợ gần như bằng không. Tỷ lệ này càng cao thể hiện rủi ro mất vốn của ngân hàng càng lớn và buộc ngân hàng phải triển khai khẩn trương và quyết liệt các giải pháp xử lý nợ xấu.
1.2. Phòng ngừa và xử lý nợ xấu của ngân hàng thương mại Luận văn: Phòng ngừa và xử lý nợ xấu của các Ngân hàng.
1.2.1. Nội dung phòng ngừa và xử lý nợ xấu
1.2.1.1. Phòng ngừa nợ xấu
Mục đích của phòng ngừa nợ xấu trong hoạt động của Ngân hàng thương mại là cố gắng làm giảm đến tối đa khả năng phát sinh các khoản nợ xấu thông qua việc sử dụng các công cụ, biện pháp trong toàn bộ quá trình cấp tín dụng. cụ thể:
− Xây dựng, triển khai và tuân thủ quy trình cấp tín dụng, giám sát, kiểm tra sau cấp tín dụng, cố gắng tránh những khoản cấp tín dụng tiềm ẩn rủi ro, xem xét và đánh giá lại các khoản đã giải ngân. Trong quy trình này, để tránh những rủi ro từ phía ngân hàng, vấn đề về nhân sự cần được đặc biệt quan tâm.
− Ngân hàng trang bị hệ thống cảnh báo sớm nhằm phát hiện khoản vay có khả năng xảy ra nợ xấu, một số dấu hiệu như: quan hệ với ngân hàng giảm, Hoạt động kinh doanh của khách hàng gặp khó khăn, khách hàng đột nhiên sử dụng hết hạn mức tín dụng, chậm nộp báo cáo tài chính, các điều kiện ràng buộc trong quá trình cho vay không được đáp ứng và tuân thủ.
− Nghiệp vụ chứng khoán hoá. Nghiệp vụ này có thể hiểu là một quá trình cơ cấu lại các tài sản tài chính mà theo đó, các tài sản thế chấp khác nhau của những người đi vay được tập hợp và đóng gói bởi một tổ chức chuyên trách (gọi là SPV – Special Purpose Vehicle). Các loại tài sản áp dụng chứng khoán hóa chủ yếu như các khoản vay thế chấp bất động sản, khoản phải thu trong hợp đồng kinh tế, hay các hợp đồng thuê mua một số tài sản thực khác,… đều phải đáp ứng được những tiêu chuẩn kỹ thuật và phải đạt được mức độ tương đồng nhất định trong cùng một nhóm tài sản được đóng gói.
− Trích lập dự phòng: Căn cứ Thông tư 11/2021/TT-NHNN ngày 30/07/2021 thì trích lập dự phòng gồm có dự phòng cụ thể và chung: (i) Dự phòng cụ thể là khoản tiền được trích lập trên cơ sở phân loại nợ để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với từng nhóm nợ. (ii) Dự phòng chung là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất chưa xác định được trong quá trình phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể và trong các trường hợp khó khăn về tài chính của các tổ chức tài chính quy mô nhỏ khi chất lượng các khoản nợ suy giảm. Theo đó dự phòng cụ thể phải trích đối với từng nhóm là: nhóm 1: 0%; nhóm 2: 5%; nhóm 3: 20%; nhóm 4: 50%; nhóm 5: 100%. Đối với dự phòng chung, số tiền dự phòng phải trích được xác định bằng 0,75% tổng số dư các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4.
1.2.1.2. Xử lý nợ xấu
Xử lý nợ xấu là những hoạt động của ngân hàng được triển khai khi nợ xấu đã chính thức phát sinh. Mục đích nhằm làm giảm những tổn thất do nợ xấu gây ra, thông qua các công cụ như:
− Dùng quỹ dự phòng: sử dụng quỹ dự phòng đã trích lập trước đó để bù đắp cho các khoản nợ không thể thu hồi được.
− Cơ cấu nợ: Khi một khoản vay đã bị chuyển thành nợ xấu, ngân hàng có thể xem xét cơ cấu nợ trên cơ sở thẩm định lại phương án kinh doanh, tinh thần trách nhiệm, hợp tác của khách hàng. Nếu công việc thuận lợi, tỷ lệ nợ xấu ngân hàng giảm và giúp khách hàng có thêm thời gian trả nợ để tập trung vào thực hiện tốt công việc kinh doanh, vượt qua khó khăn trước mắt.
− Bán nợ trái phiếu: giảm áp lực do khoản nợ xấu sẽ không còn nằm trên sổ sách, từ đó ngân hàng thực hiện trích lập dần dự phòng để bù đắp rủi ro. Trong trường hợp cần tiền, các trái phiếu ngân hàng nhận được do bán nợ có thể chiết khấu tại Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, đây không phải là hành động “mua đứt bán đoạn”, ngân hàng vẫn còn trách nhiệm xử lý nợ trong thời gian bán nợ. Luận văn: Phòng ngừa và xử lý nợ xấu của các Ngân hàng.
− Xử lý Tài sản bảo đảm: thường được triển khai (i) trước hết là thuyết phục bên vay tự nguyện bán tài sản do biện pháp này ít tốn kém, thời gian xử lý nhanh, giảm thiệt hại cho cả hai bên. (ii) Khởi kiện khách hàng, tuy vậy biện pháp này khá mất thời gian và trải qua nhiều thủ tục phức tạp, rắc rối.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả phòng ngừa và xử lý nợ xấu
− Lê Thị Hoài Diễm (2012) với nghiên cứu về Giải pháp phòng ngừa và xử lý nợ xấu của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam Chi nhánh Đà Nẵng đã nghiên cứu về các chỉ tiêu đánh giá kết quả phòng ngừa và xử lý nợ xấu, như sau:
1.2.2.1. Tiêu chí đánh giá kết quả phòng ngừa nợ xấu
− Sự thay đổi trong cơ cấu các nhóm nợ tổng nợ xấu
Việc ngân hàng phân ra các nhóm nợ 3, 4, 5 trong nợ xấu dựa vào độ rủi ro của khoản vay và ngân hàng sẽ áp dụng các biện pháp xử lý phù hợp từng nhóm nợ.
Phương pháp phòng ngừa nợ mà ngân hàng đang áp dụng là đã mang lại hiệu quả khi một khoản nợ được chuyển từ nợ có khả năng mất vốn xuống nhóm thấp hơn, rủi ro thấp hơn.
− Mức giảm tỷ lệ nợ xấu
Khi tỷ lệ này giảm xuống, đồng nghĩa với việc ngân hàng đã phát huy hiệu quả phòng ngừa nợ xấu. Tuy nhiên, sẽ không chính xác khi tỷ lệ nợ xấu giảm do tăng tổng dư nợ cho vay.
1.2.2.2. Tiêu chí đánh giá kết quả xử lý nợ xấu
− Mức giảm tỷ lệ xoá nợ ròng/Tổng dư nợ xấu
Tỷ lệ này giảm đi cho thấy ngân hàng đã thu hồi được những khoản nợ xấu mà trước đó đã đưa ra ngoại bảng, khắc phục phần nào được tổn thất.
− Tỷ lệ các khoản nợ xấu đã thu hồi được/Tổng dư nợ xấu
Khi giá trị này giảm tức là ngân hàng đã phần nào triển khai đúng đắn biện pháp xử lý nợ xấu.
− Tỷ lệ các khoản nợ đã tái cơ cấu/Tổng dư nợ
Việc tái cơ cấu khoản nợ sẽ giúp đưa một khoản nợ xấu ra khỏi nhóm nợ xấu.
Khi tỷ lệ này tăng tức là càng nhiều khoản nợ xấu đã được đưa ra khỏi nhóm, đồng nghĩa với phương pháp mà ngân hàng đang triển khai đạt hiệu quả.
Tuy vậy, các chỉ tiêu đánh giá vừa nêu cũng thể hiện tính tương đối, để có cái nhìn chính xác cần phải căn cứ tình hình thực tế phát sinh của từng ngân hàng, từng thời kỳ.
1.3. Kinh nghiệm phòng ngừa, xử lý nợ xấu trong thực tiễn của một số nước và bài học cho Việt Nam
1.3.1. Kinh nghiệm của Nhật Bản Luận văn: Phòng ngừa và xử lý nợ xấu của các Ngân hàng.
1.3.1.1. Bối cảnh thị trường nợ xấu Nhật Bản
Theo nghiên cứu của Nguyễn Hồng Sơn, Trần Thị Thanh Tú (2015) nợ xấu tăng nhanh tại Nhật Bản trong khoảng thời gian hơn 10 năm, từ đầu thập niên 90 đến đầu những năm 2000. Giai đoạn này, vấn đề nợ xấu tại Nhật Bản trở nên nghiêm trọng, thị trường chứng khoán tăng trưởng nhanh chóng, đạt đỉnh điểm vào tháng 12/1989 và thị trường BĐS phát triển nóng với đỉnh cao giá nhà đất vào tháng 9/1991, đến tháng 8/1992, giá cổ phiếu, nhà đất sụt giảm nghiêm trọng là hệ quả tất yếu từ sự đổ vỡ của nền kinh tế bong bóng, kèm theo sự phá sản của nhiều công ty, ngân hàng,…
Từ đầu những năm 80 đến giữa những năm 90, tổng nợ xấu toàn nền kinh tế đã tăng từ 200.000 tỷ yên lên 500.000 tỷ yên, vượt GDP danh nghĩa của Nhật Bản.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới hình thành nền kinh tế bong bóng, rồi sụp đổ làm phát sinh nợ xấu tại Nhật Bản bao gồm: (i) Hoạt động đầu tư ồ ạt trên tất cả các lĩnh vực do chi phí vốn vay thời kỳ này tại Nhật Bản rất thấp. (ii) Thị trường chứng khoán phát triển quá nóng, các doanh nghiệp đẩy mạnh phát hành trái phiếu huy động vốn để đầu tư dự án, chủ yếu vào bất động sản. (iii) Thuế suất áp dụng với giao dịch mua bán BĐS tương đối thấp và được duy trì ổn định ở mức dưới 1% giá trị chuyển nhượng. (iv) Chủ trương tự do hóa hoạt động ngân hàng, dẫn tới số lượng ngân hàng bùng nổ trong khi chất lượng hoạt động không kiểm soát được. (v) Sự lỏng lẻo trong quản lý, giám sát đối với các hoạt động của nền kinh tế Nhật Bản của các cơ quan nhà nước.
Để giải quyết khủng hoảng, xử lý nợ xấu, Chính phủ Nhật Bản áp dụng hai nhóm biện pháp chủ yếu: (i) Tập trung xử lý hệ thống Tổ chức tín dụng. (ii) Tháo gỡ khó khăn tài chính của khách hàng vay.
1.3.1.2. Kinh nghiệm phòng ngừa, xử lý nợ xấu Nhật Bản
- Xử lý Tổ chức tín dụng yếu kém, thúc đẩy hình thành và phát triển thị trường mua bán nợ xấu
Ban hành chương trình “Khoản vay đặc biệt”: Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ) cung cấp tài chính không cần Tài sản bảo đảm cho các Tổ chức tín dụng đang đối mặt với khủng hoảng nhằm ngăn chặn rủi ro hệ thống. Tổ chức tín dụng được cấp khoản vay đặc biệt là Tổ chức tín dụng yếu kém hoặc tuyên bố phá sản. Khoản vay này nhằm bảo đảm chi trả các khoản tiền gửi của dân, sau đó, cơ quan Bảo hiểm tiền gửi sẽ cung cấp khoản tiền tương đương cho Tổ chức tín dụng đó để: (i) Khắc phục lỗ từ các khoản nợ xấu; (ii) Hoàn trả “khoản vay đặc biệt” cho BOJ.
- Quốc hữu hóa các Tổ chức tín dụng yếu kém: Luận văn: Phòng ngừa và xử lý nợ xấu của các Ngân hàng.
+ Nhật Bản ban hành Luật Tái cơ cấu tài chính vào tháng 10/1998 quy định Bảo hiểm tiền gửi Nhật Bản mua lại cổ phần của những Tổ chức tín dụng yếu kém với giá 0 yên. Tổ chức tín dụng bị mua lại theo quy định này vẫn tiếp tục hoạt động dưới sự giám sát và sử dụng vốn của Bảo hiểm tiền gửi, sau đó thực hiện kế hoạch tái cơ cấu theo định hướng để phục hồi hoạt động.
+ Biện pháp này có phần giống với cách Việt Nam đã áp dụng khi Ngân hàng Nhà nước mua lại các Tổ chức tín dụng yếu kém với giá 0 đồng và cho phép những Tổ chức tín dụng có tiềm lực tài chính tham gia tái cơ cấu. Tuy nhiên, quá trình tái cấu trúc, xử lý nợ tại Việt Nam không có sự tham gia của bảo hiểm tiền gửi giống như tại Nhật Bản.
- Tạo điều kiện, ban hành chính sách thông thoáng cho các Tổ chức tín dụng
+ Ban hành chính sách nới lỏng thuế, chuẩn mực kế toán: Trong giai đoạn giữa thập niên 90, các AMC chưa phát huy vai trò xử lý nợ xấu, thay vào đó Nhật Bản ban hành một số chính sách về mặt kỹ thuật giúp các Tổ chức tín dụng giải quyết nợ xấu như: ban hành chính sách nới lỏng thuế và kế toán cho phép Tổ chức tín dụng ghi nhận 100% tài sản chịu thuế hoãn lại (Defered Tax Asset) từ những khoản lỗ khi cho vay và được hạch toán như một dạng vốn cấp 1 theo khuôn khổ Basel, điều này thông thoáng hơn hẳn chuẩn mực quốc tế tại Mỹ, EU vào thời điểm đó (tại Mỹ tỷ lệ hạch toán DTA vào vốn cấp 1 tối đa 10%).
+ Thúc đẩy phát triển thị trường mua bán nợ xấu: Nhật Bản tạo lập thị trường mua bán tài sản nợ xấu bằng việc khuyến khích các Tổ chức tín dụng đẩy mạnh thu hồi nợ từ xử lý Tài sản bảo đảm. Năm 2001, ban hành chính sách “Chuẩn mực kinh tế khẩn cấp” để xử lý nợ xấu các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bắt buộc các Tổ chức tín dụng phải loại những khoản vay của doanh nghiệp thuộc diện gần phá sản ra khỏi bảng cân đối tối đa trong vòng 3 năm kể từ ngày phát sinh nợ xấu. Nhờ có chính sách này, thị trường mua bán nợ xấu tăng mạnh.
Bên cạnh đó, thông qua việc Cơ quan chức năng kiểm soát mạnh việc định giá tài sản khi xử lý khoản nợ không thể hồi phục bằng cách yêu cầu Tổ chức tín dụng đưa giá trị Tài sản bảo đảm về đúng giá thị trường. Khi thị trường BĐS tiếp tục suy giảm, Tổ chức tín dụng chỉ được phép bán Tài sản bảo đảm với giá giới hạn bằng phần vốn bị lỗ lũy kế của khoản vay tương ứng. Hoạt động này đã tạo ra làn sóng mua bán, giao dịch Tài sản bảo đảm rất sôi động. Cụ thể: các quỹ đầu tư nước ngoài hoạt động phát triển mạnh, tỷ suất sinh lời lên tới 30 – 40% thông qua việc mua Tài sản bảo đảm với giá thấp và bán lại với giá cao hơn. Khi có nhiều nhà đầu tư trong nước tham gia, tỷ suất sinh lời giảm, các nhà đầu tư đã chuyển sang tạo dòng tiền, tăng giá trị tài sản trước khi bán lại tài sản đó.
Trong giai đoạn tiếp theo, Nhật Bản chuyển trọng tâm sang kiểm soát hoạt động tái cơ cấu, chủ yếu là những doanh nghiệp lớn tại Nhật Bản. Năm 2002, chính phủ ban hành chương trình hồi phục tài chính để thúc đẩy doanh nghiệp lớn tái cơ cấu. Cùng với việc, Cơ quan chức năng chặt chẽ giám sát việc đánh giá khoản nợ doanh nghiệp lớn, ban hành hệ thống các tiêu chuẩn đánh giá nghiêm ngặt trong việc sử dụng thông tin giá cổ phiếu, xếp hạng tín nhiệm, chiết khấu dòng tiền khi thực hiện đánh giá chất lượng khoản nợ xấu. Tuy nhiên, mục tiêu thúc đẩy thị trường nợ xấu cho các doanh nghiệp tái cơ cấu không đạt kết quả như kỳ vọng các TCTD không muốn bán những khoản nợ này do giá đưa ra quá thấp so với kỳ vọng. ii. Tháo gỡ khó khăn tài chính cho khách hàng vay, thu hút các nhà đầu tư trong, ngoài nước tham gia thị trường xử lý nợ xấu.
Nhật Bản đã thành lập 02 doanh nghiệp nhà nước có vai trò xử lý, tái cơ cấu nợ, đầu mối dẫn dắt thị trường nợ xấu:
- Tập đoàn Tái thiết công nghiệp Nhật Bản (IRCJ): Luận văn: Phòng ngừa và xử lý nợ xấu của các Ngân hàng.
+ Chuyên tái cơ cấu các khoản nợ xấu lớn của Doanh nghiệp. IRCJ do Bảo hiểm tiền gửi nắm giữ 50%, còn lại là vốn góp của các Tổ chức tín dụng, thông qua IRCJ, giúp khách hàng tái cơ cấu hoạt động để có nguồn thu trả nợ. IRCJ thường tách các công ty có nợ xấu thành nhiều bộ phận nhỏ (như phòng ban, hoặc theo mảng kinh doanh) và đánh giá hiệu quả các bộ phận, sau đó tái cơ cấu Hoạt động kinh doanh và thoái vốn trong khoảng 03 năm.
+ Khoản nợ xấu xử lý thông qua IRCJ có lợi thế là giúp Tổ chức tín dụng đó được khấu trừ phần lỗ khi xử lý vào thuế thu nhập. Tuy nhiên, đến tháng 6/2002, trong tổng cộng 143 doanh nghiệp được phê duyệt thực hiện theo cơ chế này, chỉ có 40 doanh nghiệp được triển khai trong thực tế, trong đó chỉ có 13 trường hợp được IRCJ thực hiện thành công. Một phần nguyên nhân do Tổ chức tín dụng xác định số tiền trích lập dự phòng thực tế thấp hơn phần lỗ ghi nhận khi xử lý khoản nợ. Do đó, hoạt động của IRCJ bị đánh giá là không thực sự thành công và giải thể năm 2007.
Công ty xử lý nợ (RCC): Bảo hiểm tiền gửi sở hữu 100%, là chủ thể thiết lập thị trường mua bán nợ xấu tại Nhật Bản. RCC không xây dựng sàn giao dịch nợ vật lý mà thúc đẩy thị trường bằng cách đẩy nhanh việc mua bán nợ xấu, tạo ra các giao dịch qua đó hình thành thị trường mua bán nợ xấu, vai trò tương tự VAMC tại Việt Nam. RCC xử lý nợ diễn ra theo 03 giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: RCC gom nợ xấu lại để lành mạnh bảng cân đối Tổ chức tín dụng. Tương tự với giai đoạn 2013 – 2017, VAMC tập trung mua nợ bằng TPĐB. Trong giai đoạn này, khái niệm mua bán nợ xấu còn mới, nguồn lực hạn chế, trong khi yêu cầu
phải nhanh chóng giảm tỷ lệ nợ xấu về mức an toàn.
+ Giai đoạn 2: RCC đẩy mạnh bán nợ xấu, Tài sản bảo đảm có tính thanh khoản cao, thu hút các nhà đầu tư trong ngoài nước tham gia thị trường mua bán nợ xấu.
+ Giai đoạn 3: Mục tiêu xử lý tận gốc nợ xấu, RCC phân loại và gom nhiều khoản nợ để bán theo lô với giá trị lớn. Do vậy, giai đoạn này RCC đã thu hút được các quỹ đầu tư lớn tham gia.
+ Sau khi mua nợ RCC áp dụng các biện pháp như: (i) Bán Tài sản bảo đảm. (ii) Thu từ khách hàng vay bao gồm thu nợ bằng tiền và bằng tài sản. Đối với thu nợ bằng tài sản, RCC đầu tư làm tăng giá trị tài sản rồi bán nhằm gia tăng giá trị thu hồi, đồng thời RCC áp dụng hình thức thu nợ có chiết khấu (mức chiết khấu được xác định dựa trên tình hình hoạt động và khả năng trả nợ của bên vay) nhằm đẩy nhanh quá trình xử lý nợ. (iii) Bán nợ.
Như vậy, hoạt động của RCC, IRCJ đã thúc đẩy sự phát triển của thị trường mua bán nợ xấu Nhật Bản, hỗ trợ thành lập các quỹ tái thiết, đầu tư nợ xấu của tư nhân. Đặc biệt, hoạt động của VAMC tại Việt Nam có những đặc điểm khá giống RCC của Nhật Bản trong giai đoạn 1, 2.
1.3.2. Kinh nghiệm của Hàn Quốc Luận văn: Phòng ngừa và xử lý nợ xấu của các Ngân hàng.
1.3.2.1. Bối cảnh thị trường nợ xấu Hàn Quốc
Theo nghiên cứu của Tô Ngọc Hưng (2013) các cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 và 2008 đã tác động mạnh đến thị trường tài chính Hàn Quốc. Tổng nợ xấu của Hàn Quốc tính đến tháng 03/1998 là hơn 118 nghìn tỷ Won (18% tổng dư nợ), chiếm tới 27% GDP. Chính phủ Hàn Quốc quyết định xử lý ngay 100 nghìn tỷ Won nợ xấu, tương đương 15% tổng dư nợ, thông qua 02 biện pháp: (i) Buộc các Tổ chức tín dụng phải sử dụng vốn để xử lý một nửa giá trị nợ xấu thông qua việc yêu cầu khách hàng trả nợ hoặc bán tài sản thế chấp. (ii) KAMCO mua lại một nửa các khoản nợ xấu.
1.3.2.2. Kinh nghiệm phòng ngừa, xử lý nợ xấu Hàn Quốc
- KAMCO trong vai trò tạo lập thị trường xử lý nợ xấu
Tại Hàn Quốc, xử lý nợ xấu gắn liền với KAMCO, tiền thân là công ty con của Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc, KAMCO được bổ sung nhiệm vụ, chức năng để trở thành cơ quan chuyên trách xử lý nợ xấu.
Sự phát triển của KAMCO giúp Hàn Quốc thành công trong quá trình xử lý nợ xấu. KAMCO giữ vai trò nhà tạo lập thị trường thông qua việc thông tin được minh bạch, gia tăng hỗ trợ doanh nghiệp. KAMCO là mắt xích quan trọng để thu hút vốn vào thị trường nợ xấu tại Hàn Quốc từ các nhà đầu tư nước ngoài.
- Thiết lập chính sách ưu đãi, hành lang pháp lý tương đối đầy đủ cho sự phát triển thị trường xử lý nợ xấu
Hoàn thiện hành lang pháp lý cho tái cơ cấu và xử lý nợ xấu, giúp giảm tranh chấp và tác động bất lợi từ khủng hoảng. Điều này cũng giúp thu hút vốn đầu tư quốc tế để hỗ trợ thị trường tài chính và xử lý nợ xấu tại Hàn Quốc.
Hàn Quốc đã tiến hành tái cơ cấu hệ thống ngân hàng nhanh chóng, minh bạch và hiệu quả cao nhờ vào việc rõ ràng về hành lang pháp lý và khuyến khích nhiều nhà đầu tư tham gia. Điều này tạo sự linh hoạt, chủ động áp dụng công cụ chính sách để xử lý nợ xấu. Đặc biệt, việc ban hành hai bộ Luật về tăng cường tái cấu trúc trong lĩnh vực tài chính và về cải tiến tổ chức và nhiệm vụ của KAMCO đã định hướng rõ ràng về cơ chế phối hợp, sử dụng nguồn lực và quyền hạn của các cơ quan chức năng và tổ chức tài chính, giúp các ngân hàng yếu kém lựa chọn và thực hiện các biện pháp xử lý nợ xấu nhanh chóng và dứt điểm các vấn đề yếu kém một cách hiệu quả. Tất cả những điều này giúp cải thiện và phục hồi hoạt động của hệ thống tài chính với chi phí thấp nhất và không gây ảnh hưởng xấu lan truyền trong hệ thống.
- Chứng khoán hóa để tăng tính thanh khoản Luận văn: Phòng ngừa và xử lý nợ xấu của các Ngân hàng.
Hàn Quốc triển khai rất thành công nghiệp vụ chứng khoán hóa (ABS) các khoản nợ xấu để bán cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Hàn Quốc đã ban hành “Luật Chứng khoán có bảo đảm bằng tài sản” để cơ cấu các tổ chức tài chính.
Công ty hay Tổ chức tài chính nắm giữ tài sản, khoản nợ giao tài sản, khoản nợ đó cho Công ty được thành lập với mục đích đặc biệt (SPC). SPC sẽ phát hành chứng khoán dựa trên tài sản. Luật Chứng khoán hoá quy định khá nghiêm ngặt việc trở thành người phát hành ABS. Chỉ có KAMCO, hiệp hội đất đai Hàn Quốc và các công ty khác có định mức tín nhiệm tốt, được Uỷ ban các dịch vụ tài chính chấp thuận mới có thể trở thành người phát hành ABS. Năm 1999, Hàn Quốc tiếp tục đưa ra loại chứng khoán được bảo đảm bằng thế chấp (MBS) – công cụ gần giống ABS để thúc đẩy tái cơ cấu doanh nghiệp hơn nữa. Với việc tạo ra thị trường ABS, KAMCO đã thực hiện phương pháp bán nợ theo lô để hút dòng tiền đáng kể thông qua việc đấu thầu quốc tế từ các nhà đầu tư quốc tế.
KAMCO xử lý nợ xấu theo ba phương thức: (i) Bán các khoản nợ xấu được chứng khoán hóa. (ii) Bán tài sản là bất động sản. (iii) Bán tài sản, doanh nghiệp sau một thời gian tiếp nhận, quản lý nợ xấu. Trong ba phương thức nêu trên, phương thức (i) và (ii) có mục tiêu cao nhất là thu hồi ngay nợ xấu. Phương thức (iii) Để thu hồi khoản nợ xấu, ta cần tiến hành quản lý và phục hồi nợ trước đó, và sau đó mới bán nợ cho các chủ thể có liên quan.
- Thu hút đầu tư nước ngoài để xử lý nợ xấu
KAMCO đẩy mạnh quảng bá và thu hút đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường xử lý nợ xấu, cụ thể: Tổ chức các chương trình marketing quy mô lớn tại các thị trường tài chính lớn London, New York và Singapore để quảng bá các “mặt hàng” sẵn có tại KAMCO. Khởi tạo kênh đầu tư tài chính mới cũng như tạo được sự quan tâm vào thị trường nợ xấu Hàn Quốc. Thành lập liên doanh và KAMCO thường nắm giữ quyền sở hữu là 50%.
Tại Hàn Quốc, các nhà đầu tư nước ngoài đóng vai trò quan trọng trong quá trình xử lý nợ xấu. Hình thức đầu tư nước ngoài phổ biến tại Hàn Quốc là mua bán – sáp nhập (M&A) thông qua việc mua lại cổ phần của các đối tác liên doanh, của chính các doanh nghiệp Hàn Quốc. Nguồn vốn đầu tư nước ngoài giúp Hàn Quốc xử lý nhanh nợ xấu mà còn góp phần tạo ra sự cạnh tranh, lành mạnh hóa thị trường tài chính tại Hàn Quốc. Luận văn: Phòng ngừa và xử lý nợ xấu của các Ngân hàng.
- Doanh nghiệp vừa và nhà được hỗ trợ thanh khoản
Trong khủng khoảng, Chính phủ Hàn Quốc rất quan tâm đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì vậy KAMCO đã phát triển chương trình mua và cho thuê lại tài sản cố định để hỗ trợ tái cấu trúc doanh nghiệp. Chính phủ Hàn Quốc cho rằng đây là biện pháp then chốt để tạo sự ổn định và phục hồi cho doanh nghiệp vừa và nhỏ sau 02 cuộc khủng hoảng tài chính. Chương trình hỗ trợ thanh khoản cho doanh nghiệp vừa và nhỏ đã đạt được thành công lớn, nhờ vào việc KAMCO hỗ trợ doanh nghiệp thuê lại tài sản cố định đã bán, chẳng hạn như nhà máy hay toà nhà văn phòng. Việc này giúp cho các doanh nghiệp nguồn vốn thêm để duy trì Hoạt động kinh doanh, đồng thời vẫn tiếp tục sử dụng các tài sản đã bán. Hơn nữa, qua việc thực hiện các quyền ưu tiên doanh nghiệp mua lại chính các tài sản đó sau khi đã vượt qua khó khăn và phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh.
Năm 2015, KAMCO đã cung cấp thanh khoản trị giá 232 tỷ Won cho 17 doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tính riêng năm 2017, các doanh nghiệp này đã mua lại 112 tỷ Won tài sản đã bán cho KAMCO trước đó. Tính tới thời điểm tháng 12 năm 2017 có 02 doanh nghiệp tham gia chương trình hỗ trợ đã phục hồi hoàn toàn hoạt động kinh doanh. Bên cạnh đó, KAMCO đã ký Biên bản ghi nhớ với Tập đoàn công nghiệp Hàn Quốc để mở rộng đối tượng của chương trình bán và cho thuê lại doanh nghiệp trong khu công nghiệp. Chương trình này đã cung cấp 86,5 tỷ Won nguồn vốn cho 07 doanh nghiệp gặp khó khăn tài chính. Năm 2018, KAMCO đã tăng quy mô tài chính của chương trình lên 150 tỷ Won, đồng thời giảm 50% thuế tài sản đối với tài sản mua lại để tăng cường hiệu quả của chương trình.
1.3.3. Kinh nghiệm của Thái Lan
1.3.3.1. Bối cảnh thị trường
Theo nghiên cứu của Hoàng Trà My (2012) về kinh nghiệm xử lý nợ xấu ở Thái Lan, năm 1997 nhà đầu tư nước ngoài đồng loạt rút khỏi thị trường Thái Lan khiến đồng Bath của quốc gia này mất giá gần 50%. Nhiều tổ chức tài chính lớn trong nước bị phá sản, thị trường bất động sản Thái Lan “đổ vỡ” tác động nghiêm trọng đến nền kinh tế của Thái Lan dẫn ddến các hậu quả to lớn như phá giá tiền tệ, sụp đổ thị trường chứng khoán, giá trị sụt giảm của hàng loạt tài sản trong nước và nhiều doanh nghiệp bị phá sản.
Vào cuối năm 1997, tỷ lệ nợ xấu của các Ngân hàng thương mại Thái Lan đã tăng lên mức kỷ lục 46%, gây ra áp lực lớn đối với Chính phủ Thái Lan. Thái Lan đã áp dụng ba giải pháp cơ bản để xử lý nợ xấu, bao gồm: bơm vốn trực tiếp, thông qua công ty quản lý tài sản (AMC) và trung gian tái cơ cấu nợ.
1.3.3.2. Kinh nghiệm phòng ngừa, xử lý nợ xấu Thái Lan
- Tạo lập một hành lang pháp lý đặc thù cho hoạt động của các AMC
Thái Lan đã ban hành Nghị định Khẩn cấp về Công ty Quản lý Tài sản Thái Lan (Emergency Decree on Asset Management Companies B.E. 2541), Theo Nghị định này, AMC có các đặc quyền, như sau:
TCTD được đặc quyền mua lại nợ xấu và có các quyền hạn đặc biệt để xử lý hoặc bán lại nợ xấu. AMC bán lại các khoản nợ xấu cho đối tác quan tâm mà không cần bên vay đồng ý. Bên vay vẫn phải thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến khoản vay đối với bên nhận chuyển nhượng từ AMC. AMC được nhận chuyển nhượng và quản lý số lượng lớn các Tài sản bảo đảm có tính chất tương đồng (bất động sản cùng loại hoặc cổ phiếu cùng ngành) góp phần giảm thiểu chi phí xử lý và chi phí quảng bá tiếp cận nhà đầu tư. Luận văn: Phòng ngừa và xử lý nợ xấu của các Ngân hàng.
AMC có quyền huy động vốn từ phát hành chứng khoán hoặc vay các Tổ chức tín dụng với những ưu đãi về lãi suất và linh hoạt về thời hạn vay theo quy định của NHTW Thái Lan. AMC được kế thừa quyền yêu cầu bồi thường của bên có quyền, AMC có quyền đưa ra các tài liệu, chứng cứ mới để bổ sung, thay thế các tài liệu, chứng cứ đã nộp trước đó cho cơ quan tố tụng. AMC cũng có quyền kiểm tra chéo các đương sự hoặc phản đối các bằng chứng đã đưa ra. Trường hợp tòa án đã đưa ra phán quyết, AMC sẽ thực hiện quyền của chủ nợ theo phán quyết của Tòa. Các bên sẽ được miễn mọi khoản phí và thuế phát sinh khi chuyển giao tài sản.
- Các AMC nhà nước đóng vai trò tạo lập thị trường
Hiện tại, hệ thống AMC tại Thái Lan được chia thành 03 nhóm: (i) AMC do Nhà nước sở hữu gồm: Công ty TNHH Quản lý tài sản Sukhumvit (SAM) và Công ty TNHH Quản lý tài sản thương/mại Bangkok (BAM); (ii) AMC thuộc sở hữu của các Ngân hàng thương mại, nhóm AMC này là nhận chuyển nhượng tài sản không hoạt động từ ngân hàng mẹ; (iii) AMC thuộc sở hữu của các công ty tư nhân: Nhóm AMC thực hiện đấu thầu mua tài sản không hoạt động trong danh mục cho thuê mua, cho thuê, cho vay cá nhân và thẻ tín dụng,…
SAM và BAM là hai AMC do nhà nước sở hữu với kinh nghiệm, tiềm lực về vốn lớn, năng lực quản trị dồi dào, đóng vai trò tạo lập và thúc đẩy thị trường xử lý nợ xấu Thái Lan có đặc quyền riêng, được pháp luật thừa nhận. Sau khi mua nợ xấu, nhóm AMC này sẽ tập trung vào: cơ cấu lại nợ, hỗ trợ khách hàng tháo gỡ khó khăn về thủ tục, chính sách theo quy định của pháp luật có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp khách hàng phục hồi và phát triển hoạt động. Để quản lý Tài sản bảo đảm, các AMC chủ động tiếp thị và tổ chức nhiều hoạt động tiếp cận nhà đầu tư trên toàn quốc qua nhiều kênh khác nhau, qua đó nhận được nhiều sự quan tâm từ khách hàng, thúc đẩy hoạt động xử lý nợ xấu phát triển. iii. Nợ xấu được coi như một hàng hóa thông thường
Tại Thái Lan, nợ xấu và Tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu được coi như một loại hàng hóa thông thường, mọi thông tin đều được công khai và không bị giới hạn. Để thúc đẩy các giao dịch mua bán nợ xấu, mỗi AMC đều có các biện pháp tiếp thị để rao bán các khoản nợ xấu và Tài sản bảo đảm của mình: Trên trang web của các AMC đều có danh mục chi tiết tài sản cần bán kèm theo đầy đủ các thông tin liên quan; Triển khai ứng dụng trên điện thoại di động, các trang mạng xã hội như Facebook, Instagram,…cho phép người dùng biết được tại khu vực nhất định có các tài sản khoản nợ nào có thể giao dịch; Tổ chức các hội chợ, mở gian hàng bán lẻ để giới thiệu về nợ xấu; Quảng cáo, công khai thông tin cả bằng hình thức trực tuyến và ngoại tuyến như trên các băng rôn, bảng quảng cáo, báo chí, tờ rơi tại khắp các thành phố, đường quốc lộ, khu vực nông thôn ở Thái Lan.
- Ngân hàng Trung ương trực tiếp tham gia hoạt động giám sát thị trường xử lý nợ xấu
NHTW Thái Lan xử lý, can thiệp vào thị trường khi tỷ lệ nợ xấu cao, có biểu hiện gây mất ổn định thông qua công cụ là Công ty AMC. Khi cần can thiệp vào thị trường, NHTW Thái Lan sử dụng Quỹ phát triển các định chế tài chính, cơ quan bảo lãnh trái phiếu phát hành bởi AMC hoặc bổ sung vốn cho AMC để mua nợ xấu. NHTW Thái Lan cũng có các biện pháp để giám sát chính các AMC này. Để hoạt động của AMC có hiệu quả, đúng định hướng, NHTW Thái Lan giám sát AMC thông qua các cán bộ có thẩm quyền, được bổ nhiệm theo quy định tại Nghị định Khẩn cấp về Công ty Quản lý tài sản (1998) với rất nhiều đặc quyền và chế tài rõ ràng đối với AMC và các vị trí lãnh đạo chủ chốt của AMC.
Thống đốc NHTW Thái Lan có quyền thu hồi giấy phép hoạt động của AMC khi: (i) AMC hoạt động kinh doanh không lành mạnh hoặc có thể gây thiệt hại cho các chủ thể có liên quan. (ii) AMC hoạt động không tuân thủ theo quy định của pháp luật hoặc vi phạm, không tuân thủ các quy tắc được quy định tại Nghị định khẩn cấp. Sau khi bị thu hồi giấy phép hoạt động, AMC sẽ không nhận được bất kỳ quyền lợi nào từ hoạt động quản lý tài sản theo Nghị định khẩn cấp kể từ ngày giấy phép bị thu hồi.
Để giám sát hoạt động của AMC, NHTW Thái Lan có quyền chỉ định cán bộ có thẩm quyền để kiểm tra, giám sát Hoạt động kinh doanh, tài sản của các AMC. Cán bộ có thẩm quyền có quyền: (i) Đến trực tiếp trụ sở kinh doanh của AMC hoặc thu thập, xử lý dữ liệu của AMC bằng hệ thống máy tính hoặc bất kỳ thiết bị nào khác, trong bất kỳ thời điểm nào để kiểm tra hoạt động kinh doanh, tài sản của AMC. (ii) Đến địa điểm kinh doanh, thu thập thông tin, dữ liệu của bên vay nợ tại AMC trong bất kỳ thời điểm nào. Việc kiểm tra đối với bên vay nợ được thực hiện khi cán bộ có thẩm quyền xác định cần phải tiến hành kiểm tra để thu thập thông tin nhằm đánh giá tình hình hoạt động của AMC. (iii) Thu giữ tài liệu hoặc những nội dung liên quan đến việc thực hiện hành vi vi phạm theo Nghị định khẩn cấp nhằm mục đích kiểm tra hoặc cung cấp cho các cơ quan chức năng để xem xét xử lý hình sự nếu có hành vi phạm tội. Nghị định khẩn cấp cũng quy định cụ thể trách nhiệm pháp lý đối với các hành vi vi phạm, trục lợi, gây thiệt hại cho các bên liên quan trong quá trình hoạt động của AMC.
1.3.4. Bài học cho Việt Nam Luận văn: Phòng ngừa và xử lý nợ xấu của các Ngân hàng.
Trên cơ sở thực tiễn kinh nghiệm xử lý nợ xấu của nước ngoài, có một số kinh nghiệm có thể rút ra để xem xét áp dụng cho Việt Nam. Tuy vậy, việc áp dụng vào Việt Nam cần phải xem xét các điều kiện tình hình hiện nay.
- Đa dạng hóa các hình thức xử lý nợ xấu
Các quốc gia đã áp dụng nhiều biện pháp để giải quyết vấn đề nợ xấu, bao gồm: bán khoản nợ xấu cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước, phát hành các chứng khoán đảm bảo bằng tài sản, bán đấu giá các khoản nợ của chủ nợ phá sản, thu hồi nợ bằng cách bán tài sản, tổ chức đấu thầu quốc tế và tái cấu trúc nợ. Ngoài ra, để nâng cao khả năng quản lý và điều hành các nguồn lực, các quốc gia đã chuyển đổi nợ thành vốn góp và sử dụng nguồn lực nước ngoài. Những biện pháp này giúp đẩy nhanh quá trình xử lý nợ xấu và tái cấu trúc doanh nghiệp.
- Xây dựng, phát triển khung pháp lý cho thị trường mua bán, xử lý nợ xấu
Từ kinh nghiệm nước ngoài, việc mua bán nợ là một giải pháp quan trọng, tận dụng được tối đa các nguồn lực xã hội của các doanh nghiệp mua bán nợ để giải quyết nợ xấu, giúp các AMC đẩy nhanh quá trình xử lý nợ xấu. Tuy vậy, AMC sẽ trở thành độc quyền, dẫn đến các vấn đề về tiêu cực, lợi ích nhóm nếu thị trường mua bán nợ không được phát triển.
- Các AMC được xây dựng khung pháp lý vững chắc
Để đảm bảo AMC hoạt động hiệu quả, cần giao cho họ đầy đủ quyền lực và ngân sách cụ thể. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng AMC không phải là nơi cất giữ nợ xấu của hệ thống tài chính.
- Bơm vốn để làm sạch sổ sách
Để giải quyết tình trạng nợ xấu, nhiều quốc gia đã tiến hành bơm vốn cho công ty xử lý nợ tập trung và ngân hàng lớn để làm sạch sổ sách ngay lập tức. Luận văn: Phòng ngừa và xử lý nợ xấu của các Ngân hàng.
- Quyền chủ nợ của ngân hàng được bảo đảm
Để đảm bảo quyền chủ nợ của tổ chức tín dụng, cơ chế xử lý ngoài tòa án đã được áp dụng để xử lý khoản nợ có Tài sản bảo đảm của doanh nghiệp. Thay vì phải thông qua Tòa án kéo dài và mất thời gian, việc áp dụng cơ chế này giúp thu hồi nợ chỉ trong vài tháng. Cơ chế này còn mang lại lợi ích cho khoản vay mà chủ nợ không năm giữ tài sản thế chấp.
- Xử lý nợ xấu đi đôi với tái cấu trúc doanh nghiệp
Kinh nghiệm nước ngoài cho thấy, để xử lý triệt để nợ xấu, cần phải tái cấu trúc các doanh nghiệp giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Để thực hiện điều này, cần thành lập các cơ quan chuyên môn để mua nợ xấu từ tổ chức tài chính, từ đó, họ có thể trực tiếp tham gia tái thiết, quản lý và nâng cao chất lượng các doanh nghiệp, tạo ra giá trị gia tăng cho xã hội.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Nguyên nhân gây ra nợ xấu rất đa dạng, bao gồm cả khách quan và chủ quan. Những tác động nghiêm trọng của nợ xấu đến tính an toàn, hiệu quả hoạt động của ngân hàng và nền kinh tế. Vì vậy, nghiên cứu các lý thuyết liên quan đến nợ xấu là cần thiết, nắm bắt được tổng quan về nợ xấu tại các ngân hàng, để có thể phần nào lý giải cho những diễn biến nợ xấu phức tạp ở các Ngân hàng thương mại Việt Nam trong thời gian qua. Việc nghiên cứu các phương pháp xử lý nợ xấu của các nước ngoài giúp chúng ta có được những kinh nghiệm quý báu từ đó vận dụng vào thực tiễn xử lý nợ xấu tại Việt Nam.
Chương 1 là cơ sở quan trọng để trình bày, đánh giá và phân tích một cách hiệu quả về thực trạng phòng ngừa, xử lý nợ xấu của các Ngân hàng thương mại Việt Nam ở chương 2. Luận văn: Phòng ngừa và xử lý nợ xấu của các Ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng phòng ngừa xử lý nợ xấu các Ngân hàng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: Phòng ngừa và xử lý nợ xấu của các Ngân hàng […]