Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Giao thông vận tải là một ngành sản xuất vật chất độc lập và đặc biệt của nền kinh tế quốc dân. Nó không sản xuất ra hàng hoá mà chỉ lưu thông hàng hoá. Đối tượng của vận tải là con người và những sản phẩm vật chất do con người làm ra. Chất lượng sản phẩm vận tải là đảm bảo cho hàng hoá không bị hư hỏng, hao hụt, mất mát; đảm bảo phục vụ hành khách đi lại thuận tiện, an toàn, nhanh chóng. Sản phẩm giao thông vận tải không thể dự trữ và tích luỹ được. Vận tải chỉ có thể tích luỹ được sức sản xuất dự trữ đó là năng lực vận tải. Mặt khác sản phẩm này cùng được “sản xuất” ra và cùng được “tiêu thụ”.

Trong những năm gần đây, tại Việt Nam, giao thông vận tải được xác định là một trong những hoạt động tạo ra nhiều áp lực đối với môi trường, đặc biệt là môi trường không khí. Theo kết quả khảo sát, thu thập tài liệu thực tế trong thời gian từ năm 2000 – 2010 do Trung tâm Khoa học công nghệ và Bảo vệ môi trường giao thông vận tải thuộc Viện Khoa học Công nghệ giao thông vận tải chủ trì thực hiện Đề án: “Điều tra, khảo sát đánh giá hiệu quả các giải pháp giảm thiểu tác động môi trường các dự án đầu tư xây dựng công trình giao thông đường bộ giai đoạn thi công và khai thác cho thấy những vấn đề sau:

Ở một số đơn vị, chủ đầu tư và nhà thầu chưa quan tâm đúng mức đến việc thực hiện các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường đặc biệt là trong giai đoạn thi công, không thực hiện thường xuyên và đầy đủ các biện pháp giảm thiểu tác động môi trường đã cam kết trong báo cáo đánh giá tác động môi trường. Do vậy hiệu quả của công tác bảo vệ môi trường còn chưa cao, cá biệt một số công trường thi công trên quốc lộ 1A còn bị dư luận phản ảnh vì ô nhiễm bụi và không khí. Nhóm nghiên cứu cũng thực hiện đánh giá hiệu quả các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong giai đoạn thi công và giai đoạn vận hành khai thác. Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.

Theo đó, đối với giai đoạn thi công, nhiều biện pháp được đưa ra. Trước hết là các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm không khí, tiếng ồn, độ rung. Theo các chuyên gia, nhìn chung các biện pháp giảm thiểu này khi thi công dự án đã được thực hiện, dần dần đi vào nền nếp, tuy nhiên việc thực hiện còn chưa nghiêm, ở một số gói thầu việc thực hiện những biện pháp giảm thiểu này còn mang tính hình thức, công tác quản lý giám sát còn lơ là. Vì vậy hiệu quả áp dụng các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm không khí còn nhiều hạn chế, môi trường không khí xung quanh các công trường xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông hầu hết chưa được đảm bảo theo yêu cầu, ở một số nơi còn gây bức xúc cho nhân dân.

Để giải quyết các vấn đề nêu trên, hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường nói chung và pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông nói riêng đã từng bước được xây dựng và hoàn thiện đáp ứng yêu cầu đó. Tuy vậy cơ sở pháp lý cho các hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông ở nước ta còn nhiều thiếu sót, bất cập, chưa đáp ứng các đòi hỏi mà thực tiễn đang và sẽ đặt ra trong tiến trình phát triển bền vững của đất nước.

Việc nghiên cứu đánh giá một cách toàn diện hệ thống các quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông cũng như thực trạng kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông bằng pháp luật, từ đó đề ra những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định đó và thực tế là yêu cầu cấp thiết đối với bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông tại Việt Nam làm luận văn Thạc sĩ luật học của mình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Bảo vệ môi trường nói chung và kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí nói riêng là một lĩnh vực khá rộng mà đã có không ít các tác giả nghiên cứu đến. Vấn đề này có thể được tiếp cận dưới nhiều góc độ khoa học khác nhau. Tuy vậy, số lượng tác giả nghiên cứu vấn đề kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông lại không nhiều. Cụ thể hơn nữa là vấn đề pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông cho đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống mà chỉ có một số bài viết đơn lẻ đăng trên các tạp chí chuyên ngành hoặc các bài viết chung về ô nhiễm môi trường do giao thông vận tải, về chính sách giao thông vận tải hay ô nhiễm môi trường không khí. Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.

Một số công trình tiêu biểu về vấn đề này đã được công bố như: Cuốn sách “Môi trường không khí” của tác giả Phạm Ngọc Đăng do Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật ấn hành năm 2002; Cuốn sách “Giao thông đô thị, tầm nhìn, chiến lược và chính sách” của TS. Nguyễn Xuân Thủy do nhà xuất bản Giao thông vận tải ấn hành năm 2015; Cuốn sách “Bảo vệ môi trường không khí” của tác giả Phạm Thị Hiền do Nhà xuất bản Xây dựng phát hành năm 2012; Cuốn sách “Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam hiện nay” của TS. Bùi Đức Hiển do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật ấn hành năm 2017; Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường: “Pháp luật môi trường trong kinh doanh” của trường Đại học Luật Hà Nội năm 2010; Tập bài giảng “Pháp luật môi trường trong kinh doanh” của Trường Đại học Luật Hà Nội do Nhà xuất bản công an nhân dân phát hành năm 2013. Các công trình này chỉ đề cập đến các vấn đề chung có liên quan đến khía cạnh môi trường trong hoạt động giao thông vận tải.

Như vậy, có thể khẳng định cho đến nay chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông tại Việt Nam và những giải pháp hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực này. Do vậy, đây là công trình đầu tiên nghiên cứu pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông ở nước ta với cấp độ luận văn Thạc sĩ.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay, qua đó đề ra những phương hướng, giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật môi trường nói chung, trong đó có các quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông nói riêng nhằm đáp ứng tốt hơn các yêu cầu thực tế đang đặt ra trong tiến trình phát triển bền vững, hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước

  • Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn đặt ra những nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:

Nghiên cứu tổng quan những vấn đề lý luận về ô nhiễm môi trường không khí, kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông và pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông

Nghiên cứu, phân tích, đánh giá toàn diện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông để tìm ra những tồn tại, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực thi, công tác quản lý, cơ chế đảm bảo thực thi pháp luật

Đề xuất xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật môi trường, hoàn thiện bộ máy kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông nhằm nâng cao hiệu quả việc thi hành pháp luật nói chung, đặc biệt là pháp luật môi trường và pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.

Đối tượng nghiên cứu trong Luận văn là những quy định của pháp luật Việt Nam về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông đường bộ cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật tại Việt Nam.

Kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông là vấn đề rộng, phức tạp, do vậy Luận văn không thể đề cập hết các khía cạnh của vấn đề này mà chỉ tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông và pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông, thực trạng việc áp dụng pháp luật trên thực tế làm cơ sở để xác định các yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường trong phạm vi các hoạt động giao thông vận tải ở Việt Nam hiện nay.

Luận văn nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông từ năm 2005 đến năm 2019; nghiên cứu thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật này trên phạm vi cả nước.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận

Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền.

  • Phương pháp nghiên cứu

Luận văn đã sử dụng các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển kinh tế bền vững, chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu: phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp, quy nạp, chứng minh, khảo sát thực tiễn… để triển khai thực hiện trong đề tài. Trong đó phương pháp phân tích, thống kê, và khảo sát thực tiễn là những phương pháp sử dụng chủ yếu trong luận văn. Cụ thể như sau: Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.

  • Phương pháp phân tích được sử dụng ở tất cả các chương, mục của luận văn để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của đề tài
  • Phương pháp thống kê được sử dụng để tập hợp, xử lý các tài liệu, số liệu phục vụ cho nghiên cứu đề tài.
  • Phương pháp so sánh được sử dụng chủ yếu ở chương 2, so sánh các quy định của pháp luật Việt Nam với nhau.
  • Phương pháp chứng minh được sử dụng để chứng minh các luận điểm, các nhận định về thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông ở Việt Nam tại chương 2 của luận văn
  • Phương pháp tổng hợp, quy nạp được sử dụng chủ yếu trong việc đưa ra những kết luận của từng chương và kết luận chung của luận văn.

6. Những đóng góp mới của luận văn

  • Tổng hợp những vấn đề chung về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông.
  • Phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về kiểm soát nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông đường bộ đồng thời tìm ra nguyên nhân của những bất cập, tồn tại.
  • Đưa ra những yêu cầu, giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông đường bộ tại Việt Nam.

7. Kết cấu luận văn.

Ngoài lời nói đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông và pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông

Chương 2: Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông tại Việt Nam

Chương 3: Yêu cầu và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông tại Việt Nam

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT Ô MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO THÔNG

1.1. Quan niệm về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông. Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.

1.1.1. Khái niệm ô nhiễm môi trường không khí.

Dưới góc độ pháp lý, Khoản 8 Điều 3 Luật bảo vệ môi trường 2014 giải thích: Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. Như vậy, theo cách giải thích thuật ngữ này, có ba tiêu chí để xác định một thành phần môi trường bị ô nhiễm

Thứ nhất, Có sự biến đổi của thành phần môi trường.

Thứ hai, Không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường.

Thứ ba, Sự biến đổi nêu trên gây ảnh hưởng xấu cho con người và sinh vật. Từ khái niệm ô nhiễm môi trường nêu trên, có thể hiểu ô nhiễm môi trường không khí như sau: Ô nhiễm môi trường không khí là sự biến đổi của môi trường không khí không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.

1.1.2. Quan niệm về ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông

Giao thông vận tải là một ngành ra đời muộn so với các ngành sản xuất vật chất khác như công nghiệp, nông nghiệp nhưng nó có vai trò hết sức quan trọng là tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu lưu thông, góp phần tích cực phát triển kinh tế xã hội. Kinh tế xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu vận tải ngày càng gia tăng cả về lượng lẫn về chất. Giao thông vận tải trong thế kỷ 21 phát triển hết sức nhanh chóng góp phần đẩy mạnh nền kinh tế thế giới, trong khu vực và mỗi quốc gia tiến nhanh, vững chắc. Trên thế giới, hiện có năm loại hình giao thông vận tải cơ bản. Đó là: vận tải đường sắt, vận tải đường bộ, vận tải đường thuỷ, vận tải hàng không, vận tải bằng đường ống (đường ống vận chuyển nhiên liệu, nguyên liệu rời).

Giao thông là một trong những nguồn gây ô nhiễm không khí chính, ô nhiễm không khí do giao thông có thể chiếm khoảng 50% ô nhiễm không khí. Khí carbon monoxyd (CO) là nguồn gây ô nhiễm không khí chủ yếu được tạo ra do giao thông. Vào năm 1983, trong số lượng khí CO được thải vào môi trường, có tới 70% từ các loại động cơ giao thông. Ngày nay, các xe ô tô được sản xuất đều có gắn các máy chuyển đổi xúc tác, do vậy, đã giảm đáng kể lượng CO được thải vào môi trường.

1.1.3. Quan niệm về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông

Kiểm soát ô nhiễm môi trường là quá trình phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý ô nhiễm (Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014). Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.

Từ cách tiếp cận về kiểm soát ô nhiễm môi trường, khái niệm ô nhiễm môi trường không khí có thể hiểu khái niệm kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông như sau: Kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông là quá trình phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý ô nhiễm môi trường không khí trong quá trình tiến hành các hoạt động giao thông.

Tại Việt Nam, kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí do hoạt động giao thông là một trong những vấn đề môi trường ngày càng được quạn tâm. Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và Môi trường, trong quá trình hoạt động, các phương tiện giao thông thải lượng lớn các chất như: Bụi, CO, NOx, SOx, hơi xăng dầu, bụi chì, benzen… vào môi trường không khí. Lượng khí thải, bụi… gây ô nhiễm đang tăng lên hàng năm cùng với sự phát triển về số lượng các phương tiện giao thông đường bộ. Cụ thể, nồng độ bụi trong không khí ở các thành phố như: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng… tại các nút giao thông cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 3 – 5 lần; nồng độ khí CO, NO2 trung bình ngày ở một số nút giao thông lớn đã vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,2 – 1,5 lần.

Theo số liệu từ Cục Đăng kiểm Việt Nam, thời gian trước năm 2010, cả nước có khoảng 20 triệu mô tô và xe máy, năm 2010 đã tăng lên khoảng 24 triệu xe và đến năm 2015, dự báo lượng xe máy lưu hành trong cả nước khoảng 31 triệu xe. Hàng ngày, chỉ cần một nửa số phương tiện trên hoạt động cũng đã xả ra môi trường một lượng lớn các khí độc hại, trong đó có nhiều thành phần gây nên hiệu ứng nhà kính, gây ra các loại bệnh như: Viêm nhiễm đường hô hấp do nhiễm vi khuẩn, hen suyễn, viêm phế quản mạn tính, viêm mũi… Đặc biệt, tiếng ồn phát sinh từ các hoạt động giao thông cũng đóng vai trò chủ yếu trong việc gây ô nhiễm. Có 60 – 80% các nguyên nhân do tiếng ồn từ động cơ như: Do ống xả, do rung động các bộ phận xe, đóng cửa xe, còi xe, phanh xe, do sự tương tác giữa lốp xe và mặt đường… Tiếng ồn gây tác hại rất lớn đến toàn bộ cơ thể nói chung và cơ quan thính giác nói riêng. Tiếng ồn mạnh, thường xuyên gây nên bệnh đau đầu, chóng mặt, trạng thái tâm thần bất ổn, mệt mỏi…

Báo cáo cũng cho thấy, sự phát thải của các phương tiện cơ giới đường bộ phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng các loại xe. Đối với các phương tiện như xe ôtô, xe máy qua nhiều năm sử dụng có chất lượng thấp, hiệu quả sử dụng nhiên liệu thấp, nồng độ chất độc hại, bụi trong khí xả cao… là nguyên nhân gây ô nhiễm nghiêm trọng. Trong đó, xe máy là nguồn đóng góp chính các loại khí ô nhiễm, đặc biệt là các khí thải CO, VOC… Xe tải và xe khách các loại lại thải nhiều NO2. Tại các khu dân cư, mức độ ô nhiễm thấp hơn từ 2 đến 3 lần so với các trục đường giao thông. Tuy nhiên, đối với khu dân cư nằm trong các đô thị lớn chịu ảnh hưởng rõ rệt của giao thông, mức độ ô nhiễm vẫn vượt nhiều lần ngưỡng cho phép quy chuẩn Việt Nam (QCVN), đáng kể như các điểm tại: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bình Dương. Ngược lại, ở các khu dân cư đô thị quy mô nhỏ và vừa, chất lượng không khí đo được còn khá tốt.

Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, để kiểm soát ô nhiễm từ hoạt động giao thông vận tải, từ năm 2005, Việt Nam đã áp dụng tiêu chuẩn khí thải Euro 2 đối với các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Cho đến nay, hàng loạt các hoạt động nhằm kiểm soát ô nhiễm từ các phương tiện giao thông cũng đã được triển khai như: Thắt chặt mức tiêu chuẩn khí thải đối với xe cơ giới nhập khẩu đã qua sử dụng và xe cơ giới đang lưu hành trên cả nước; tăng cường kiểm soát khí thải lưu động trên đường; xây dựng 105 trạm đăng kiểm định xe ô tô trên cả nước; xây dựng Trung tâm thử nghiệm khí thải phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (NETC)… Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.

1.2. Khái niệm, nội dung điều chỉnh, vai trò và yêu cầu đặt ra đối với pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông

1.2.1. Khái niệm, nội dung điều chỉnh của pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông

Từ khái niệm kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông và khái niệm pháp luật nói chung, có thể định nghĩa pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông như sau: Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông là hệ thống quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện nhằm phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và xử lý ô nhiễm môi trường không khí trong quá trình tiến hành các hoạt động giao thông.

Nội dung điều chỉnh của pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông bao gồm:

Thứ nhất: Các quy định về phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện ô nhiếm môi trường không khí trong hoạt động giao thông. Ở giai đoạn đầu, kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí đặt ra vấn đề là phải phòng ngừa, dự báo ô nhiễm môi trường không khí. Nội dung điều chỉnh pháp luật về phòng ngừa, dự báo ô nhiễm môi trường không khí gồm các quy định, như: quy định về quy hoạch, xây dựng hạ tầng giao thông; yêu càu bảo vệ môi trường đối với các phương tiện giao thông…

Thứ hai: Các quy định về xử lý ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông. Ở giai đoạn hậu ô nhiễm vấn đề đặt ra là xử lý ô nhiễm môi trường không khí. Xử lý ô nhiễm môi trường không khí là hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyển, các chủ nguồn thải và các chủ thể khác trong khắc phục ô nhiễm, khôi phục hiện trạng, cải thiện chất lượng môi trường không khí và xử lý các hành làm ô nhiễm môi trường không khí. Điều chỉnh pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí đặt ra vấn đề cần phải khắc phục ô nhiễm, phục hồi hiện trạng môi trường không khí, xử lý các hành vi làm ô nhiễm môi trường không khí. Bên cạnh đó, tiếp tục đặt ra vấn đề là phải phòng ngừa dự báo hiện trạng môi trường không khí.

1.2.2. Vai trò của pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông.

  • Pháp luật quy định những quy tắc xử sự mà con người phải thực hiện khi tác động vào môi trường không khí trong quá trình tiến hành các hoạt động giao thông. Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.
  • Pháp luật quy định các chế tài để ràng buộc con người thực hiện những đòi hỏi của pháp luật nhằm bảo vệ môi trường khi tiến hành các hoạt động giao thông vận tải.
  • Pháp luật tạo ra cơ chế hoạt động cho các tổ chức, cơ quan kiểm soát ô nhiễm môi trường từ các hoạt động giao thông vận tải.
  • Pháp luật tạo ra những cơ sở pháp lý và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các quan hệ kinh tế quốc tế và bảo vệ môi trường trong giao thông vận tải.

1.2.3. Các yêu cầu đặt ra đối với pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông

Để thực hiện tốt vai trò nêu trên, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông cần đáp ứng những yêu cầu sau:

Thứ nhất, kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông bằng pháp luật cần thực hiện đúng theo quy trình kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí nói chung. Đó là: phòng ngừa ô nhiễm môi trường; dự báo sự biến đổi của môi trường không khí; thanh tra, kiểm gia, giám sát phát hiện ô nhiễm, mức độ ô nhiễm môi trường không khí dựa trên quy chuẩn kỹ thuật môi trường; khi phát hiện có ô nhiễm môi trường không khi thì ngăn chặn; xử lý ô nhiễm trường không khí.

Thứ hai, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông cần phải xác định và quy định rõ trách nhiệm kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong lĩnh vực này thuộc về cơ quan nhà nước, chủ thể có thẩm quyền, các tổ chức, cá nhân chủ nguồn thải. Trách nhiệm đầu tiên trong kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí thuộc về về các cơ quan nhà nước, tổ chức cá nhân chủ nguồn thải, bởi cơ quan nhà nước được thành lập ra được trang bị đầy đủ các cơ sở để thực hiện việc kiểm soát này và các tổ chức cá nhân chủ nguồn thải cũng phải có nghĩa vụ đầu tiên trong kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí bởi họ là nguồn thải gây ô nhiễm (họ phải chịu trách nhiệm với hành vi của mình). Vì vậy, các quy phạm pháp luật cần xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể này

Thứ ba, về đối tượng bị kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông chính là hành vi của các chủ thể, như: cá nhân, tổ chức, hộ gia đình; các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các chủ thể khác khi tham gia vào quan hệ pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông. Vì vậy, các quy phạm pháp luật cần xác định rõ chu trình, trình tự, thủ tục, công cụ, phương tiện kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí. Đó là các quy định về phòng ngừa, dự báo, thanh tra, kiểm tra, phát hiện ô nhiễm môi trường không khí, ngăn chặn ô nhiễm môi trường không khí và xử lý ô nhiễm môi trường không khí;

Thứ tư, pháp luật về kiểm soát ô nhiễm trường không khí trong hoạt động giao thông phải đảm bảo xác định mục tiêu kiểm soát được ô nhiễm môi trường không khí, bảo vệ sức khỏe nhân dân, bảo đảm quyền được sống trong môi trường được trong lành của con người. Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.

1.3. Kinh nghiệm kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông tại một số nước và bài học cho Việt Nam

1.3.1. Kinh nghiệm kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông tại một số nước

Tại hầu hết các quốc gia, giao thông công cộng phần lớn dựa vào tiền trợ cấp của chính phủ. Chính phủ phải bù lỗ cho tiền vé thu được. Ở một số nước, hệ thống giao thông công cộng có thể được quản lý bởi một số tổ chức phi chính phủ. Ở một số nước khác, chính phủ chi trả toàn bộ phí giao thông công cộng. Các tổ chức phi chính phủ có thể kiểm được lợi nhuận từ phí đỗ xe, từ việc cho thuê chỗ buôn bán, quảng cáo, và gần đây là nhờ việc cho các công ty truyền thông lắp đặt cáp nổi trong đường hầm. Ở một số nước, các tổ chức phi chính phủ hoạt động trên lĩnh vực này còn có được nhiều lợi ích hơn so với những công ty thông thường: Chính phủ chi trả cho những dịch vụ không mang lại lợi nhuận; Chính phủ bảo lãnh nếu công ty có xu hướng phá sản (nhất là đối với các hãng vận tải hàng không); Hưởng chính sách ưu đãi về thuế. Tùy vào điều kiện cụ thể của từng nước mà cách thức thực hiện kiểm soát ô nhiễm không khí trong hoạt động giao thông sẽ không giống nhau. Sau đây là một số ví dụ cụ thể:

Luxembourg: Luxembourg đã trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới cung cấp phương tiện giao thông công cộng miễn phí. Quốc gia nhỏ bé nằm ở trung tâm của EU đưa ra hỗ trợ này nhằm mục đích tăng cường sử dụng xe điện, xe lửa và xe buýt và tự thoát khỏi ùn tắc giao thông vốn vẫn thường đổ lỗi cho ô tô cá nhân..

Singapore: Hệ thống giao thông tại Singapore tương đối hoàn chỉnh và khép kín với tổng chiều dài trên 3.000 km. Việc đi lại tại Singapore rất dễ dàng, nhanh chóng và thuận tiện, dù có hơi đắt hơn một chút khi so sánh với Việt Nam. Các loại hình giao thông tại Singapore bao gồm: Taxi, xe buýt, và tàu điện ngầm (Mass Rapid Transit – MRT). Hệ thống tàu điện ngầm (MRT) là phương tiện đi lại nhanh nhất ở Singapore. Với hệ thống đường ray trải rộng khắp, đồng nghĩa với việc phần lớn các điểm tham quan chính, các trường học, các trung tâm hành chính thương mại của Singapore đều nằm trong khoảng cách đi bộ được từ trạm MRT (5 – 15 phút). Phần lớn cư dân Singapore chọn tàu điện ngầm (MRT) là phương tiện đi lại chủ yếu, bởi giá cả rất phù hợp (được chính phủ ưu đãi) và mạng lưới các trạm dừng phủ khắp toàn thành phố.

Hoa Kỳ: Tại Hoa Kỳ, sự vận hành những hoạt động giao thông công cộng được trợ cấp tài chính bởi chính phủ địa phương và chính phủ của bang. Hoa Kỳ có một tổ chức liên bang chuyên trợ cấp tài chính cho các hoạt động giao thông công cộng mang tên FTA (Federal Transit Administration) Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.

Thái Lan: Những năm gần đây, thủ đô Bangkok của Thái Lan liên tiếp trải qua những đợt ô nhiễm, khi nồng độ bụi mịn bằng và nhỏ hơn 2,5 micrometre (PM2.5) ở nhiều khu vực vượt quá ngưỡng an toàn tối đa là 50 microgram/m3, có hại cho sức khỏe. Giới chức buộc phải sử dụng các biện pháp khẩn cấp như hạn chế xe tải lớn, sử dụng súng phun hơi nước tại những khu vực có mật độ ô nhiễm nghiêm trọng. Mới đây, ngành giao thông Thái Lan công bố 7 biện pháp kiểm soát nguồn phát tán bụi mịn PM2.5. Cụ thể: Ngừng gia hạn đăng kiểm những phương tiện phát thải vượt quá các ngưỡng PM2.5; triển khai nhiều nhân viên kiểm tra khí thải phương tiện; phối hợp với Cục Kiểm soát Ô nhiễm để kiểm tra khí thải phương tiện; các trung tâm được cấp phép kiểm tra xe hơi phải kiểm tra lượng PM2.5 thải ra từ ô tô; thanh tra mức độ khí thải phương tiện của các công ty vận tải; lập đường dây nóng và một trang trên mạng xã hội để người dân đưa ra những kiến nghị và báo cho nhà chức trách về những phương tiện thải khói đen; và làm việc với các công ty tư nhân cũng như các hiệp hội liên quan đến xe buýt và xe chở khách công cộng nhằm cải thiện việc kiểm tra khí thải.

Ấn Độ: Tương tự Thái Lan, thủ đô New Delhi của Ấn Độ cũng đang bị bao phủ trong lớp khói mù dày đặc độc hại ở mức tồi tệ nhất trong nhiều năm qua. Nhà chức trách New Delhi phải áp dụng biện pháp “biển số chẵn – lẻ” trong vòng 2 tuần. Theo đó, xe mang biển số chẵn đi ngày chẵn, biển số lẻ đi ngày lẻ; nhằm giảm 1,2 triệu phương tiện lưu thông mỗi ngày. Nếu vi phạm sẽ bị phạt 4.000 rupee (tương đương 1,3 triệu đồng)

Hàn Quốc: Chính phủ Hàn Quốc tăng ngân sách để giải quyết ô nhiễm, kiểm soát số lượng phương tiện lưu thông, tạm dừng các công trình xây dựng. Tuy nhiên, các biện pháp này là chưa đủ. Hiện nay, Hàn Quốc cấm các phương tiện không thiết yếu lưu thông cách ngày trong khu vực thủ đô và 6 thành phố khác trong bốn tháng bắt đầu từ tháng 12 này. Ngoài ra, ô tô chạy diesel sản xuất trước năm 2005 bị cấm trong khu vực thủ đô từ tháng 3 năm sau. Bên cạnh đó, cũng đưa ra các giải pháp dài hạn, như tăng số lượng xe điện và hydro lên 1/3 trong tổng số phương tiện trong 10 năm tới.

Trung Quốc: Tại thủ đô Bắc Kinh của Trung Quốc, từ năm 2017, hạn chế số lượng phương tiện giao thông mức 6 triệu đơn vị; thiết lập các hệ thống giao thông xanh, ưu tiên phát triển và khuyến khích người dân sử dụng các giao thông công cộng; thắt chặt tiêu chuẩn xả thải và tiêu chuẩn chất lượng nhiên liệu; kiểm tra thường xuyên phương tiện có khả năng gây ô nhiễm, loại bỏ phương tiện đời cũ; kêu gọi chuyển sang sử dụng phương tiện chạy bằng năng lượng sạch. Nhờ đó, Bắc Kinh đã ra khỏi danh sách 100 thành phố ô nhiễm nhất châu Á trong những năm gần đây.

1.3.2. Một số bài học rút ra cho Việt Nam Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.

Từ thực tiễn kiểm soát, giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trường không khi trong quá trình tiến hành hoạt động giao thông tại các quốc gia nêu trên, có thể rút ra một số bài học mà Việt Nam nên áp dụng. Cụ thể như sau:

Thứ nhất: Tích cực phát triển các loại hình giao thông công cộng. Kinh nghiệm của tất cả các quốc gia nêu trên đầu cho thấy đây là giải pháp được áp dụng khá hiệu quả nhằm giảm thiểu áp lực lên môi trường không khí do khí thải giao thông, đặc biệt là từ các phương tiện giao thông cá nhân. Để thực hiện được mô hình này, cần sự đầu tư và hỗ trợ tích cực về tài chính của Nhà nước.

Thứ hai: Thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp kiểm định khí thải đối với các phương tiện giao thông, bao gồm cả các phương tiện giao thông cá nhân. Điều này đặc biệt hiễu ích đối với Việt Nam khi số lượng xe máy, loại phương tiện cá nhân phổ biến, được sử dụng ngày một nhiều.

Thứ ba: Tăng cường áp dụng các biện pháp chế tài phù hợp. Các biện pháp này không chỉ trừng phạt mà còn có ý nghĩa rất lớn trong việc răn đe, ngăn chặn hành vi vi phạm pháp luật.

Thứ tư: Phát triển giao thông xanh. Theo các chuyên gia, giao thông xanh là các phương tiện giao thông hạn chế thải khí CO2 và các loại khí thải độc hại khác ra môi trường. Giao thông xanh sử dụng sức người, năng lượng tái tạo, điện, khí thiên nhiên nén… Việc sử dụng xe đạp, xe máy, ô- tô điện, xe chạy bằng khí nén CNG; xe sử dụng năng lượng mặt trời, năng lượng gió… chính là tham gia giao thông xanh. Ở đô thị, ô nhiễm do các hoạt động giao thông vận tải chiếm khoảng 70%. Vì vậy, chính quyền và người dân cần nhận thức được những ảnh hưởng của việc sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đến chất lượng môi trường

Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO THÔNG VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN

2.1. Thực trạng pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.

2.1.1. Các quy định pháp luật về phòng ngừa, ngăn chặn ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông

  • Các quy định về phát triển kết cấu hạ tầng giao thông

Pháp luật hiện hành không có quy định riêng về việc đáp ứng các yêu cầu bảo vệ môi trường khi xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kết cấu hạ tầng giao thông. Theo quy định chung của pháp luật về đánh giá môi trường, cũng giống như phần lớn các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch trong các lĩnh vực khác, yêu cầu bảo vệ môi trường được đặt ra đối với các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kết cấu hạ tầng giao thông là việc thực hiện Đánh giá môi trường chiến lược. Theo các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường trong phát triển kết cấu hạ tầng giao thông vận tải thì các cơ quan chủ trì xây dựng hoặc điều chỉnh chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển giao thông vận tải phải thực hiện đánh giá môi trường chiến lược theo quy định tại điều 14 Luật bảo vệ môi trường 2014 và quy định tại Điều 8 Nghị định số 18/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường. Theo các quy đinh này, việc lập Báo cáo ĐMC được thực hiện đồng thời với quá trình xây dựng hoặc điều chỉnh chiến lược, quy hoạch, kế hoạch. Cơ quan lập chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phải tự thực hiện ĐMC. Các chủ dự án sẽ phải thực hiện đánh giá tác động môi trường hoặc kế hoạch bảo vệ môi trường giống như các dự án đầu tư trong các lĩnh vực khác. Hiện không có quy định riêng cho hoạt động giao thông.

Ngoài ra, nghĩa vụ của các chủ thể liên quan (chủ dự án, nhà thầu thi công xây dựng, nhà thầu tư vấn môi trường) cũng được quy định khá cụ thể để đảm bảo an toàn môi trường trong quá trình triển khai dự án.

  • Các quy định về quy chuẩn kỹ thuật môi trường không khí và yêu cầu đối với phương tiện giao thông

Theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, quy chuẩn kỹ thuật môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi trường.

Liên quan đến kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông, loại quy chuẩn được sử dụng chủ yếu là các quy định về quy chuẩn kỹ thuật môi trường về khí thải trong hoạt động giao thông.(điểm d khoản 2 Điều 113 Luật Bảo vệ môi trường)

Cho đến nay để kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí từ nguồn thải động, Bộ Giao thông Vận tải đã ban hành nhiều quy chuẩn về vấn đề này. Để tạo cơ sở cho việc quản lý các phương tiện trước khi được cho phép lưu thông trên thị trường phòng ngừa ô nhiễm môi trường không khí, Bộ Giao thông và Vận tải đã ban hành Thông tư số 30/2009/TT-BGTVT ngày 19/11/2009 quy định Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe mô tô, xe gắn máy sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu mới, gồm:

  • QCVN 04 : 2009/BGTVT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe mô tô, xe gắn máy sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu mới; Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.
  • QCVN 05 : 2009/BGTVT – Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải xe ôtô sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu mới.

Cùng với việc ban hành các thông tư quy định về quy chuẩn khí thải với ô tô, xe máy, mô tô, năm 2011 Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Quyết định số 49/2011/QĐ- TTg quy định lộ trình áp dụng tiêu chuẩn khí thải đối với xe ô tô, xe mô tô hai bánh sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu mới. Theo đó từ ngày 01.01.2017, các loại xe ô tô, sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu mới phải áp dụng tiểu chuẩn khí thải mức 4; mô tô hai bánh sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu mới phải áp dụng tiêu chuẩn khí thải mức 3. Ngày 01.01.2022, các loại xe ô tô nói trên sẽ phải áp dụng tiêu chuẩn khí thải mức 5. Trong đó, các mức tiêu chuẩn khí thải 3, 4 và 5 là tiêu chuẩn về phép thử và giới hạn gây ô nhiễm có trong khí thải tương ứng với mức tiêu chuẩn khí thải Euro 3, 4, 5 được quy định kỹ thuật về khí thải xe cơ giới của Ủy ban Kinh tế châu Âu hoặc trong chỉ thị của Liên minh châu Âu áp dụng đối với xe cơ giới sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu mới.

Trên cơ sở đó, Bộ Giao thông Vận tải đã ban hành Thông tư số 45/2014/TT- BGTVT quy định Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải mức 3 đối với xe mô tô hai bánh sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu mới (QCVN 77:2014/BGTVT). Quy chuẩn này được xây dựng trên cơ sở TCVN 7357:2010 – Phương tiện giao thông đường bộ – Khí thải gây ô nhiễm phát ra từ mô tô – Yêu cầu và phương pháp thử trong phê duyệt kiểu (sau đây viết tắt là TCVN 7357) và TCVN 9726:2013 – Phương tiện giao thông đường bộ – Khí thải gây ô nhiễm, khí thải CO2 và tiêu thụ nhiên liệu của mô tô hai bánh lắp động cơ cháy cưỡng bức hoặc cháy do nén

  • Yêu cầu và phương pháp thử trong phê duyệt kiểu (sau đây viết tắt là TCVN 9726).
  • Các quy định về ngăn chặn ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông.

Để ngăn chặn ô nhiễm môi trường không khí từ hoạt động giao thông vận tải hiện nay nhà nước ta đã ban hành nhiều quy định về vấn đề này, như:

Một là, phương tiện giao thông cơ giới phải được cơ quan đăng kiểm xác nhận đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường mới được đưa vào sử dụng. Phương tiện giao thông, máy móc, thiết bị, công trình xây dựng phát tán bụi, khí thải phải có bộ phận lọc, giảm thiểu khí thải, thiết bị che chắn hoặc biện pháp khác để giảm thiểu bụi bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật môi trường. Phương tiện giao thông không đáp ứng được các điều kiện này thì không được tham gia lưu thông.

Hai là, tổ chức, cá nhân quản lý tuyến đường có mật độ phương tiện tham gia giao thông cao gây tiếng ồn, độ rung, ánh sáng, bức xạ phải có biện pháp giảm thiểu, đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật môi trường.

Ba là, pháp luật quy định các chủ phương tiện giao thông đường sắt, đường bộ, đường thủy không được thải khói, bụi, khí độc quá giới hạn cho phép vào không khí. Các chủ phương tiện giao thông không được gây tiếng ồn quá giới hạn cho phép. Tuy nhiên, thực tế hiện nay các phương tiện gây ô nhiễm môi trường không khí tại các đô thị là các phương tiện công cộng, như xe buýt là một ví dụ điển hình.

Bốn là, các chủ phương tiện có chạy xăng phải sử dụng xăng không pha chì nhằm giảm thiểu lượng chì thải vào không khí xung quanh theo quy định. Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.

2.1.2. Các quy định về khắc phục ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông

Khắc phục ô nhiễm môi trường là hoạt động giảm thiểu tác động của ô nhiễm đến môi trường, con người và nâng cao chất lượng môi trường tại khu vực môi trường bị ô nhiễm. Khắc phục ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông được thực hiện giống như khắc phục ô nhiễm môi trường do các hoạt động khác. Vì vậy, hiện không có quy định riêng cho lĩnh vực này mà nó được thực hiện theo quy định chung về khắc phục ô nhiễm môi trường.

Để khắc phục ô nhiễm môi trường nói chung, pháp luật hiện hành chia khu vực ô nhiễm thành 3 mức độ: ô nhiễm môi trường, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và ô nhiễm môi trường đặc biệt nghiêm trọng và quy định về cách thức xác định khu vực bị ô nhiễm môi trường.

Luật Bảo vệ môi trường 2014 cũng quy định về trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức chủ nguồn thải và cơ quan nhà nước, chủ thể có thẩm quyền trong khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường. Theo đó tổ chức, cá nhân chủ nguồn thải có trách nhiệm sau:

Một là, có phương án cải tạo, phục hồi môi trường khi tiến hành các dự án có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường;

Hai là, tiến hành biện pháp khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường khi gây ô nhiễm môi trường;

Ba là, trường hợp có nhiều tổ chức, cá nhân cùng gây ô nhiễm môi trường mà không tự thỏa thuận được về trách nhiệm thì cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường phối hợp với tổ chức, cá nhân có liên quan làm rõ trách nhiệm của từng đối tượng trong việc khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường.

Qua phân tích trên có thể thấy, Luật Bảo vệ môi trường 2014 đã có quy định về phục hồi hiện trạng môi trường, các quy định này góp phần vào phòng ngừa, giảm thiểu thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có quy định riêng về khắc phục ô nhiễm, phục hồi ô nhiễm môi trường không khí. Như chúng ta biết ô nhiễm môi trường không khí và thiệt hại do nó gây ra mang tính đặc thù nên việc áp dụng các quy định chung về phục hồi ô nhiễm môi trường trên vào rất khó giải quyết được triệt để vấn đề. Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.

2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông tại Việt nam

2.2.1. Những kết quả đạt được

Trong những năm qua, các quy định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông vận tải đã được thực hiện trên phạm vi cả nước với những kết quả đáng ghi nhận. Ngày 06/6/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 855/QĐ-TTg phê duyệt Đề án kiểm soát ô nhiễm môi trường trong hoạt động giao thông vận tải. Với mục tiêu tổng quát là kiểm soát, phòng ngừa, hạn chế gia tăng ô nhiễm, thực hiện hoàn nguyên môi trường trong hoạt động giao thông vận tải; hướng tới xây dựng hệ thống giao thông vận tải bền vững, thân thiện môi trường.

Tại các địa phương, những nỗ lực thực hiện giảm thiểu ô nhiễm môi trường không khí do giao thông vận tải cũng đã được triển khai. Các hoạt động cụ thể sau đây tại hai đô thị lớn nhất của cả nước là ví dụ minh họa điển hình cho những nỗ lực đó:

Tại Thành phố Hồ Chí Minh: Để đạt được mục tiêu giảm 70% ô nhiễm không khí từ các hoạt động giao thông vận tải, thời gian tới TP sẽ tiến hành các giải pháp cơ bản như triển khai biện pháp hạn chế lưu thông đối với phương tiện giao thông cá nhân, đẩy mạnh phát triển vận tải hành khách công cộng, điều tiết nhu cầu giao thông. Sở Giao thông Vận tải được giao nhiệm vụ làm chủ đầu tư thực hiện đề án “Tăng cường vận tải hành khách công cộng kết hợp với kiểm soát sử dụng phương tiện cơ giới cá nhân tham gia giao thông trên địa bàn TP”. Đến nay, Sở Giao thông Vận tải đã triển khai đến các đơn vị tham gia đề án đầu tư thay thế 1.680 xe buýt (Đề án 1680) sang sử dụng nhiên liệu sạch CNG. Tính đến tháng 11-2017, TP có 9 xe điện, 101 xe chạy khí CNG trong tổng số 2.595 xe buýt công cộng, đạt 4,24%.

Từ năm 2016 đến nay, Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức nhiều chương trình, hoạt động tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của người dân trong việc hạn chế phương tiện cá nhân, kêu gọi sử dụng phương tiện công cộng, khuyến khích tiêu dùng xăng E5 và triển khai nhiều giải pháp trong việc hạn chế khí thải từ các hoạt động sản xuất công nghiệp, xây dựng. Bên cạnh đó, Sở cũng đã lắp đặt thí điểm hai trạm quan trắc không khí tự động ở cửa ngõ phía Đông (Khu Công nghệ cao) và phía Tây (Phòng giáo dục quận Bình Tân) của Thành phố. Các trạm này cứ 5 phút cho dữ liệu một lần, hoạt động liên tục với độ chính xác cao, điều mà các hệ thống quan trắc thủ công lâu nay không thực hiện được, qua đó đã giúp Sở kiểm soát tốt hơn tình trạng ô nhiễm không khí tại đây.

Cũng từ năm 2016, Sở đã phối hợp với các doanh nghiệp vận tải hành khách đầu tư và đưa vào sử dụng 1.680 xe buýt mới trên 52 tuyến đường để thay thế cho các xe buýt cũ đã xuống cấp và thải nhiều khí độc gây ô nhiễm không khí. Trong số này, có 500 xe buýt sử dụng nhiên liệu CNG thân thiện với môi trường, chiếm 20% trên tổng số 2.595 xe buýt công cộng của thành phố. So với các xe buýt sử dụng dầu diesel thì lượng khí thải độc hại từ những xe CNG giảm từ 53-63%, không có bụi và khói đen, tiết kiệm 30-40% nhiên liệu. Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.

Tại Hà Nội: Nhiều năm qua, Hà Nội đã đẩy mạnh đầu tư xây dựng nhiều công trình giao thông trọng điểm, mở mang và xây dựng hệ thống hạ tầng đường sá, góp phần nâng cao năng lực cho mạng lưới giao thông, tăng tính kết nối, thúc đẩy kinh tế- xã hội phát triển. Những công trình như: Cao tốc Pháp Vân – Cầu Giẽ – Ninh Bình giai đoạn 1; cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên; Hà Nội – Lào Cai; Hà Nội – Hải Phòng; Hà Nội – Hòa Bình; cầu Nhật Tân; đường Nhật Tân – Nội Bài; đường Vành đai 2 đoạn Nhật Tân – Cầu Giấy; đường Lê Trọng Tấn; thông xe giai đoạn 1, đường Vành đai 3 đoạn Mai Dịch – Cầu Thăng Long… đã và đang từng bước tạo nên diện mạo đô thị văn minh, hiện đại, góp phần giảm ùn tắc và tai nạn giao thông. Bên cạnh đó, Hà Nội cũng đồng thời triển khai nhiều giải pháp ngắn hạn nhằm cải thiện tình trạng ùn tắc ở phạm vi cục bộ.

Thời gian qua, Hà Nội đã có nhiều chính sách ưu tiên phát triển các phương thức vận tải hành khách công cộng (VTHKCC) coi đây là giải pháp hữu hiệu để hạn chế ùn tắc và tai nạn giao thông, ô nhiễm môi trường. Hiện nay, mạng lưới xe buýt tại Hà Nội có 127 tuyến, trong đó có 100 tuyến trợ giá, 10 tuyến không trợ giá, 12 tuyến kế cận, 2 tuyến City tour. Mạng lưới xe buýt đã phủ khắp 34 quận, huyện, thị xã và phục vụ đến 453/584 số xã, phường, thị trấn, đạt 78%; 66/71 bệnh viện, đạt 93%; 296/708 các trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông đạt 42%; 32/37 các khu công nghiệp, đạt 86%; 82/85 các khu đô thị mới, đạt 96%. Đặc biệt, vận tải hành khách công cộng tiếp tục có sự tăng trưởng, tổng sản lượng vận chuyển hành khách công cộng trên toàn Thành phố năm 2019 ước đạt 948,5 triệu lượt hành khách, trong đó xe buýt đạt 510,5 triệu lượt hành khách, đáp ứng 17,03% nhu cầu đi lại của người dân, tăng 3,2% so với năm 2017.

2.2.2. Những hạn chế và nguyên nhân

Mặc dù đã rất nỗ lực trong việc giảm thiểu khí thải từ các phương tiện giao thông nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí, song trên thực tế, việc thực hiện pháp luật trong lĩnh vực này vẫn còn những hạn chế cần khắc phục. Cụ thể là:

Thứ nhất: Tình trạng ô nhiễm không khí do giao thông vận tải vẫn ngày càng nghiêm trọng tại nhiều địa phương mà nguyên nhân cơ bản là do sự gia tăng nhanh chóng các phương tiện giao thông cá nhân (đặc biệt là xe máy) và hạ tầng giao thông chưa theo kịp với sự gia tăng đó.

Thứ hai: Chưa thực hiện kiểm soát khí thải đối với phương tiện xe máy đang lưu hành

Trên thực tế, hiện nay chỉ kiểm soát được khí thải từ khâu sản xuất, lắp ráp, lưu hành và nhập khẩu đối với ôtô, nhưng chưa có quy định cụ thể về niên hạn, kiểm soát khí thải đối với phương tiện xe máy đang lưu hành. Bộ GTVT đã xây dựng Đề án kiểm soát khí thải xe môtô, xe gắn máy tham gia giao thông tại các tỉnh, thành phố đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương. Tuy nhiên, vẫn còn chờ một lộ trình chính thức để thực hiện

Thứ ba: Việc sử dụng phương tiện công cộng còn hạn chế

Mặc dù mạng lưới vận tải hành khách công cộng thời gian qua đã được điều chỉnh phù hợp và mở rộng, nhưng vẫn còn hạn chế; chất lượng dịch vụ chưa được cải thiện nhiều. Đặc biệt, mới chỉ có duy nhất loại hình vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt và một tuyến buýt nhanh (BRT). Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.

Tỷ lệ sử dụng vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt của Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh và một số thành phố lớn khác hiện nay vẫn chưa được như kỳ vọng, hay nói đúng hơn là chưa đáp ứng được yêu cầu của người dân và theo quy hoạch. Hiện hệ thống xe buýt của Hà Nội mới đóng góp cho vận chuyển hành khách khoảng 8-10%, Tp. Hồ Chí Minh khoảng 7-8%.

Thứ tư: Việc khuyến khích sử dụng nhiên liệu sạch, phương tiện giao thông thân thiện với môi trường chưa phát huy hiệu quả. Hiện nay, nhà nước chưa có các chính sách phù hợp và cụ thể để người dân thấy được lợi ích của việc sử dụng các nguồn nhiên liệu sạch, trong khí ý thức bảo vệ môi trường của đại bộ phận cư dân còn hạn chế nên việc sử dụng nhiên liệu sạch hoặc sử dụng các phương tiện giao thông thân thiện với môi trường tại các đô thị lớn là rất ít.

Chương 3 YÊU CẦU, CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG KHÔNG KHÍ TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO THÔNG TẠI VIỆT NAM

3.1. Yêu cầu hoàn thiện pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông tại Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông cần gắn với quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành;

Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông phải phù hợp với các cam kết quốc tế, cũng như khu vực, đặc biệt là thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu. Thỏa thuận này nhấn đã nhấn mạnh đến sự chung tay của các quốc gia trong thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu trên nguyên tắc đảm bảo sự công bằng trong hưởng thụ các giá trị về môi trường giữa các quốc gia, giữa các vùng, các địa phương, các cộng đồng và phải hài hòa được lợi ích giữa doanh nghiệp với cộng đồng và môi trường.

Do vậy, chính sách pháp luật Việt Nam về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông cũng cần hướng đến điều này. Đồng thời cũng cần phải cụ thể hóa được những vấn đề Việt Nam đã cam kết theo thỏa thuận. Đặc biệt là phải tận dụng được những lợi ích mà thỏa thuận Paris sẽ mang lại cho Việt Nam nhằm kiểm soát hiệu quả ô nhiễm môi trường không khí chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu. Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.

  • Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông cần gắn với vai trò của các tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư. Tăng cường đề cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và tăng cường sử dụng các công cụ kinh tế trong kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.
  • Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông cần tập trung vào kiểm soát ô nhiễm tại nguồn nhằm phòng ngừa ô nhiễm môi trường không khí.
  • Pháp luật bảo vệ môi trường không khí trong hoạt động giao thông cần đặt ra lộ trình. Cần tiến tới xây dựng Chiến lược bảo vệ môi trường không khí và hướng tới xây dựng Luật Không khí sạch ở Việt Nam.

3.2. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện

3.2.1. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật

Thứ nhất, cần tiếp cận cách hiểu về kiểm soát ô nhiễm môi trường nói chung, kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông vận tải nói riêng dựa trên nội hàm của thuật ngữ kiểm soát và theo hướng kiểm soát chủ động

Thứ hai, cần cụ thể hóa các quy định về khuyến khích cho tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động thân thiện môi trường trong hoạt động giao thông vận tải cũng như ứng phó với biến đổi khí hậu, thậm chí không chỉ khuyến khích mà Luật còn quy định cụ thể về Nhà nước tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ đối với quá trình này.

Thứ ba, quy định rõ cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chuyên môn có thẩm quyền đối với kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông vận tải.

Thứ tư, ban hành quy định cụ thể về việc kiểm tra chất lượng xe để đảm bảo an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường. Cũng nên có các quy định về hình thức xử phạt đối với các cá nhân, tổ chức sử dụng phương tiện giao thông mà không qua việc kiểm tra chất lượng xe.

Thứ năm, ban hành quy định về khuyến khích, hỗ trợ phát triển giao thông xanh làm cơ sở pháp lý thống nhất cho lĩnh vực này. giao thông xanh là các phương tiện giao thông hạn chế thải khí CO2 và các loại khí thải độc hại khác ra môi trường.

Thứ sáu, ban hành quy định thực hiện kiểm định khí thải đối với xe máy là nghĩa vụ bắt buộc của chủ xe.

Thứ bảy, sửa đổi một số quy định hiện hành chưa phù hợp hoặc chưa khả thi.

3.2.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.

  • Tăng cường năng lực tài chính

Thứ nhất, cần tăng cường nguồn lực tài chính cho công tác kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao thông. Nguồn tài chính cho công tác này ngoài lấy từ ngân sách nhà nước thì cần phải huy động từ người dân trong nước cũng như nước ngoài. ục nghiên cứu mở rộng thêm nguồn thu hợp lý cho các Quỹ này để góp phần nhiều hơn vào bảo vệ môi trường.

Thứ hai, Nhà nước không chỉ đưa ra các chính sách ưu đãi về vốn vay, ưu đãi về thuế sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế bảo vệ môi trường,… đối với tổ chức, cá nhân đầu tư vào lĩnh vực thân thiện môi trường không khí trong hoạt động giao thông và áp dụng các biện pháp như kỹ quỹ một khoản tiền tại tài khoản phong tỏa ở ngân hàng, áp dụng hạn ngạch khí thái (quota) để hạn chế khí thải gây ô nhiễm môi trường…đối với các tổ chức, cá nhân đầu tư vào lĩnh vực không thân thiện môi trường không khí. Đặc biệt quan trọng hơn Nhà nước phải tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chính sách này trên thực tiễn.

  • Các giải pháp kỹ thuật

Nghiên cứu, đầu tư các công nghệ hiện đại để phòng ngừa ô nhiễm môi trường không khí, để dự báo, giám sát, phát hiện ô nhiễm môi trường không khí, để ngăn chặn, xử lý ô nhiễm môi trường không khí. Tăng cường năng lực, đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, đào tạo về môi trường không khí (công nghệ xử lý khí thải, modelling, công nghệ thông tin, kỹ thuật quan trắc, phân tích…).

Bên cạnh đó cần khuyến khích phát triển áp dụng các công nghệ và quy trình sản xuất ít chất thải, công nghệ sạch, ít gây ô nhiễm môi trường không khí. Bên cạnh việc đầu tư công nghệ máy móc, trang thiết bị để giảm thiểu ô nhiễm môi trường không khí. Cần phải bảo vệ tốt diện tích rừng tự nhiên, đẩy trồng rừng sản xuất, rừng phòng hộ nhằm hấp thụ các chất thải nhà kính ngăn chặn việc tiếp tục suy giảm tầng ozon và chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.

Bên cạnh việc kiện toàn bộ máy nhà nước về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí cần tăng cường đầu tư nâng cao năng lực của cán bộ, công chức trong quản lý nhà nước về môi trường không khí. Ngoài những đội ngũ nhân lực có năng lực chuyên môn về kiểm soát ô nhiễm môi trường. Bên cạnh đó, phát huy sức mạnh của cộng đồng trong quá trình phòng ngừa, phát hiện ô nhiễm môi trường không khí.

  • Đẩy mạnh việc thực hiện các biện pháp kiểm soát khí thải từ các phương tiện giao thông đường bộ.

Chiếm tỷ lệ tới trên 70% dòng phương tiện tại các đô thị – khí thải từ xe máy đang là nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng ô nhiễm không khí. Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.

Trước thực trạng đó, Việt Nam đã và đang áp dụng nhiều giải pháp khác nhau, bao gồm cả quản lý và kỹ thuật nhằm kiểm soát ô nhiễm không khí gây ra bởi các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ như các kiểm soát: về niên hạn sử dụng, tiêu chuẩn phát thải, chất lượng nhiêu liệu…

Cần thực hiện kiểm soát niên hạn sử dụng cho đối tượng xe ô tô 4 chỗ đến 9 chỗ và xe gắn máy. Ngoài ra, cần đẩy mạnh việc thực hiện chính sách sử dụng nhiên liệu sạch như Diesel sinh học, khí hóa lỏng, điện… cho hệ thống giao thông công cộng của các thành phố. Nên khuyến khích việc lắp đặt thiết bị xử lý khí thải trên xe máy, xe ô tô nhằm đáp ứng theo tiêu chuẩn phát thải Euro 3, Euro 4 cũng như tăng cường công tác kiểm kê khí thải và giám sát chất lượng không khí liên quan đến hoạt động giao thông đường bộ.

Việt nam cần sớm tổ chức triển khai lộ trình áp dụng tiêu chuẩn khí thải Euro3, Euro 4. Nghiên cứu, ban hành lộ trình áp dụng mức tiêu thụ tiêu chuẩn khí thải cao hơn đối với xe ô tô đang lưu hành. Cùng với đó, xây dựng trình Thủ tướng Chính phủ ban hành lô trình áp dụng tiêu chuẩn khí thải xe mô tô, gắn máy tham gia giao thông tại các tỉnh, thành phố và tổ chức thực hiện Đề án kiểm soát khí thải mô tô, xe gắn máy.

  • Đẩy mạnh việc triển khai đề án kiểm tra khí thải xe máy.

Đề án kiểm tra khí thải xe máy sẽ được thực hiện tập trung trước mắt tại các thành phố lớn, trực thuộc Trung ương – nơi đang bị ảnh hưởng nặng nề nhất của ô nhiễm không khí. Dự thảo về quy định lộ trình áp dụng tiêu chuẩn khí thải đối với xe môtô, xe gắn máy của Bộ Giao thông Vận tải sẽ được thực hiện trước mắt tại 5 thành phố lớn đầu tiên với mức phí kiểm định khí thải khoảng 100.000-150.000 đồng/lần/xe/2 năm. Sau đó, căn cứ vào tình hình thực tế, các địa phương khác chủ động, phối hợp với Bộ Giao thông Vận tải công bố lộ trình áp dụng tiêu chuẩn khí thải đối với xe máy tham gia giao thông tại địa phương.

Tháng 6/2010, Thủ tướng đã phê duyệt Đề án kiểm soát khí thải xe môtô, xe gắn máy tham gia giao thông tại các tỉnh, thành phố nhưng đến nay đề án này vẫn chưa được triển khai thực hiện.

  • Tăng cường việc sử dụng phương tiện công cộng.

Thứ nhất, tăng cường chất lượng của những tuyến xe buýt cũng như tăng thêm số lượng tuyến xe buýt. Đồng thời nâng cao cung cách phục vụ để xe buýt thật sự trở thành một ngành dịch vụ mà trong đó những người đi xe buýt được phục vụ như những khách hàng thật sự.

Thứ hai, đặt những trạm (Box) xe đạp cách những trạm xe buýt trong vòng bán kính từ 500m-1000m (Mỗi box này có thể chứa từ 50 đến 300 xe đạp, với diện tích của mỗi Box chỉ cần khoảng 100m2 (5×20) và có thể xây dựng nổi trên mặt đất hoặc ngầm dưới lòng đất như một tầng hầm mini Ở mỗi trạm xe buýt sẽ có hướng dẫn địa điểm những Box gần trạm đó.

  • Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của các chủ thể có liên quan về giảm thiểu khí thải trong hoạt động giao thông Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.

Tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức của người lãnh đạo, quản lý và mọi người dân về các nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí, cách thức phòng ngừa ô nhiễm môi trường không khí do hoạt động của các nguồn thải di động, phát hiện ô nhiễm môi trường không khí, cách thức xử lý, giải quyết khi phát hiện các hành vi làm ô nhiễm môi trường không khí. Tuyên truyền cho người lãnh đạo, người quản lý sẽ góp phần nâng cao quan trí về vấn đề này khi đó thông qua các quyết sách hoặc các công việc thực tế của mình họ sẽ quan tâm thích đáng đến kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí. Tuyên truyền đến mọi tổ chức, cá nhân để họ có nhận thức đầy đủ, đúng đắn hơn về tầm quan trọng của môi trường không khí và từ đó điều chỉnh hành vi của mình theo hướng thân thiện với môi trường không khí. Điều quan trọng về cách thức tuyên truyền cần phải đa dạng hóa tùy theo từng chủ thể, từng khu vực để có cách thức tuyên truyền cho phù hợp. Ví dụ: đối với người lãnh đạo, người quản lý thì có thể giáo dục thông qua các lớp đào tạo về quản lý, các lớp tập huấn, các hội thảo chuyên gia, và các phương tiện thông tin đại chúng… Đối với người dân thì phải tuyên truyền cụ thể dễ hiểu về hành vi nào họ không được làm đối với môi trường không khí và hành vi nào thân thiện môi trường không khí và nên làm. Có thể sử dụng đồng bộ các kênh tuyên truyền từ đài phát thanh, truyền hình, báo giấy, báo mạng, đặc biệt là các mạng xã hội,… ở nông thôn có thể tuyên truyền qua đài phát thanh, ở thành thị tập trung tuyên truyền qua các mạng xã hội, các cổng thông tin điện tử, các báo mạng,… ;

KẾT LUẬN Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.

Việt Nam là một nước đang phát triển với nhu cầu trong hoạt động giao thông vận tải là rất cao.Vì vậy với sự bùng nổ về số lượng của các phương tiện giao thông cũng như các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ giao thông vận tải ngày càng cao. Việc bảo vệ môi trường để có sự phát triển bền vững cho nền kinh tế Việt Nam là vô cùng cần thiết. Chúng ta đã có các bài học kinh nghiệm từ các nước phát triển như là Mỹ, Trung Quốc… đã và đang khó kiểm soát được nhiễm môi trường trong hoạt động giao thông vận tải. Các quy định pháp luật giúp điều chỉnh và ngăn chặn các hành vi gây ô nhiễm môi trường đồng thời tạo điều kiện cho các cơ sở sản xuất với nguồn năng lượng sạch kèm theo các công nghệ xử lý tốt cho môi trường xung quanh.

Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao vận tải là hệ thống quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện nhằm phòng ngừa, ngăn chặn phát hiện và phục hồi ô nhiễm môi trường không khí trong quá trình tiến hành các hoạt động giao thông. Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong hoạt động giao vận tải giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc định hướng và ràng buộc trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân đói với kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.

Đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn bảo vệ môi trường trong giao thông vận tải, pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực này cần được sửa đổi bổ sung và đảm bảo hiêu quả điều chỉnh của nó. Muốn thế, trong điều kiện hiện nay, pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường trong giao thông vận tải tại Việt Nam cần quy định cụ thể cơ chế phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực này; cụ thể hóa trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân cũng như đẩy mạnh việc thực hiện đồng bộ các chủ trương, chính sách về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí trong giao thông. Thực hiện tốt các giải pháp này, những tác động xấu từ hoạt động giao thông vận tải đến môi trường không khí và sức khỏe con người sẽ được kiểm soát, qua đó đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững của quốc gia./. Luận văn: Pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng tại Kon Tum

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *