Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Vấn đề áp dụng pháp luật hình sự trong việc giải quyết tranh chấp thương mại trên địa bàn thành phố Đà Nẵng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm gần đây, mặc dù tình hình kinh tế thế giới có những chuyển biến phức tạp, nhưng nền kinh tế Việt Nam đạt được những bước phát triển đáng ghi nhận, được đánh giá là điểm đến lý tưởng cho hoạt động đầu tư của các tổ chức, doanh nghiệp. Đồng thời, Việt Nam bước vào giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế một cách toàn diện, sâu sắc bằng việc tham gia hầu hết các văn kiện quốc tế, tham gia Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), là thành viên sáng lập Diễn đàn Hợp tác kinh tế Á – Âu (ASEM), là thành viên của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á Thái Bình Dương (APEC), tham gia các hiệp định mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc, ASEAN – Ấn Độ, ASEAN – Hàn Quốc, ASEAN – Auxtralia và New Zealand, gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Sự chính xác, nhất quán, đầy đủ của hệ thống các quy định pháp luật cũng như các phương thức giải quyết tranh chấp trong thương mại tạo niềm tin cho các nhà đầu tư, tạo hành lang an toàn cho các doanh nghiệp và đồng thời tạo cơ hội thu hút đầu tư nước ngoài, thu hút các nguồn vốn lớn, đẩy mạnh và xúc tiến tiếp cận khoa học kỹ thuật tiên tiến, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo, giải quyết các vấn đề xã hội khác như quan hệ giữa môi trường và phát triển bền vững, thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển. Từ việc hội nhập vào thị trường khu vực, Việt Nam đã tiến tới hội nhập vào thị trường thương mại thế giới. Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại.

Với toàn cảnh thị trường như trên, các hoạt động thương mại, tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài ngày càng nhiều, với tính chất phức tạp, khó khăn ở nhiều cấp độ khác nhau trong khi kiến thức thương mại quốc tế về phương diện luật thương mại quốc tế, tư pháp quốc tế, các công ước quốc tế, tập quán quốc tế về mua bán hàng hóa, thanh toán tiền hàng, vận chuyển hàng hóa, bảo hiểm hàng hóa và giải quyết tranh chấp của chúng ta còn hạn chế. Cùng với tiến trình cải cách tư pháp theo Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, nhiều đạo luật ra đời điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh. Việc giải quyết các tranh chấp phát sinh trong quan hệ thương mại được thực hiện linh hoạt hơn. Tình trạng oan sai trong các vụ án kinh tế được giảm thiểu đáng kể. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thời gian qua, vẫn còn nhiều sự bất cập giữa việc bảo đảm có một nền tảng pháp luật chặt chẽ, theo kịp sự phát triển của kinh tế – xã hội với các quan hệ thương mại ngày càng phát triển với những quy luật đặc trưng của nó. Cùng với sự tiêu cực trong quan điểm áp dụng pháp luật của cơ quan tư pháp cùng với ý thức chấp hành pháp luật của một số chủ thể tham gia vào quan hệ thương mại chưa cao dẫn đến những hệ lụy nhất định trong đời sống thương mại mà điển hình là vấn đề áp dụng pháp luật hình sự trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại.

Do đó, việc nghiên cứu vấn đề áp dụng pháp luật hình sự trong việc giải quyết các tranh chấp thương mại hiện nay tại địa bàn thành phố Đà Nẵng nhằm nhận diện được mặt tiêu cực của vấn đề, đi sâu nghiên cứu thực trạng, nguyên nhân bản chất của việc áp dụng quy phạm pháp luật hình sự cũng như sự can thiệp của các cơ quan tiến hành tố tụng vào quá trình giải quyết các tranh chấp thương mại, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao việc áp dụng pháp luật, khắc phục tình trạng áp dụng không đúng các quy định pháp luật hình sự vào việc giải quyết các tranh chấp thương mại .

Xuất phát từ công tác thực tiễn của mình và từ những lý do nêu trên, tôi chọn đề tài: “Vấn đề áp dụng pháp luật hình sự trong việc giải quyết tranh chấp thương mại trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”làm luận văn thạc sỹ luật học.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2. Tình hình nghiên cứu

Đã có một số luật gia, học giả viết về vấn đề áp dụng pháp luật hình sự trong việc giải quyết các tranh chấp dân sự, kinh tế, thương mại dưới nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau. Trong số này, các học giả, luật gia dùng thuật ngữ “hình sự hóa” hoặc xem xét dưới góc độ áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp kinh tế như : “Áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết các tranh chấp kinh tế ở nước ta hiện nay” luận án tiến sỹ luật học năm 2008 của Trần Minh Chất;

Các giải pháp phòng chống hình sự hóa các giao dịch dân sự, kinh tế” của PGS, TS Dương Đăng Huệ; “Một số vấn đề về hình sự hóa, phi hình sự hóa các hành vi vi phạm trên lĩnh vực kinh tế trong chính sách hình sự hiện nay” của GS,TS Hồ Trọng Ngũ; “Về hiện tượng hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng” của TS Nguyễn Văn Vân; “ Mấy ý kiến về vấn đề hình sự hóa các vi phạm liên quan tới hoạt động ngân hàng và giải pháp khắc phục” của PGS.TS Phạm Hồng Hải. Ngoài ra, trên các tạp chí về chuyên ngành luật có nhiều bài viết liên quan đến vấn đề này.

Tuy nhiên thiết nghĩ, cần nghiên cứu xem xét vấn đề này dưới góc độ từ việc xây dựng pháp luật đến việc áp dụng pháp luật. Trong đó làm rõ việc xây dựng pháp luật có những kẽ hở và hạn chế nào dẫn đến việc đánh giá không đúng bản chất của từng vụ việc dẫn đến việc áp dụng không đúng quan hệ pháp luật điều chỉnh. Đồng thời cũng cần xem xét dưới góc độ về chính sách hình sự đối với các tội phạm về kinh tế hiện nay đã đúng, đầy đủ và đáp ứng với yêu cầu cải cách tư pháp và sự phát triển của nền kinh tế thị trường hay chưa. Đối với vấn đề áp dụng pháp luật cũng cần xem xét đến nhiều nguyên nhân khác nhau để đánh giá. Vì vậy cần nghiên cứu và đề xuất những biện pháp hoàn thiện chính sách pháp luật, thể chế; nâng cao năng lực, phẩm chất và trách nhiệm của những người tiến hành tố tụng cũng như ý thức pháp luật của các chủ thể giao dịch và những biện pháp khác nhằm giảm việc áp dụng pháp luật hình sự trong việc giải quyết tranh chấp thương mại, tránh oan sai.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại.

3.1. Mục đích nghiên cứu:

Luận văn nghiên cứu, đề xuất, đưa ra các luận chứng, các quan điểm, các giải pháp nhằm đảm bảo cho việc áp dụng pháp luật một cách đúng đắn, hạn chế việc áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp trong thương mại. Qua đó, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, bảo vệ lợi ích của Nhà nước; quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:

Luận văn có các nhiệm vụ sau:

  • Phân tích cơ sở lý luận tranh chấp thương mại, các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại.
  • Phân tích thực trạng và những nguyên nhân của việc áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp trong thương mại trên địa bàn thành phố Đà Nẵng để qua đó làm rõ những hạn chế trong việc giải quyết tranh chấp thương mại hiện nay cũng như hậu quả tiêu cực của nó.
  • Đề xuất những giải pháp nhằm hạn chế việc áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết các tranh chấp trong thương mại.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Tranh chấp thương mại và pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại; Chính sách pháp luật hình sự đối với các tội phạm xâm phạm sở hữu, tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và tội phạm về chức vụ hiện hành (Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, các văn bản hướng dẫn thi hành); Vấn đề áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp thương mại trong thực tiễn áp dụng pháp luật ở thành phố Đà Nẵng trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến nay.

5. Phương pháp nghiên cứu đề tài

Phương pháp luận của luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử. Trong khi thực hiện đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp: Hệ thống, lịch sử, lôgíc, thống kê, phân tích, tổng hợp, kết hợp với các phương pháp khác như so sánh, điều tra xã hội…

6. Những đóng góp mới của đề tài Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại.

  • Phân tích, làm rõ những vấn đề lý luận về vấn đề áp dụng pháp luật hình sự trong việc giải quyết tranh chấp trong thương mại trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
  • Đánh giá đúng thực trạng, tình hình và những khó khăn, vướng mắc trong việc phân định ranh giới giữa vi phạm pháp luật thương mại hay là tội phạm chủ yếu từ việc chứng minh có hay không có yếu tố chiếm đoạt tài sản trong các quan hệ này để hạn chế các sai lầm thường gặp, dẫn đến áp dụng pháp luật hình sự trong việc giải quyết tranh chấp thương mại hoặc ngược lại coi hành vi vi pháp pháp luật hình sự là quan hệ thương mại nhằm tránh oan sai nhưng cũng tránh bỏ lọt tội phạm.
  • Đề xuất hệ thống các giải pháp có tính khả thi và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác áp dụng pháp luật để hạn chế việc áp dụng pháp luật hình sự trong việc giải quyết tranh chấp thương mại.

7. Bố cục luận văn

Ngoài phần Mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 03 chương, 10 tiết và danh mục tài liệu tham khảo.

  • Chương 1: Một số vấn đề về tranh chấp thương mại và các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại.
  • Chương 2: Thực trạng và nguyên nhân của việc áp dụng pháp luật hình sự trong giải quyết tranh chấp thương mại trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
  • Chương 3: Một số giải pháp hạn chế áp dụng pháp luật hình sự trong giải quyết các tranh chấp thương mại.

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI VÀ CÁC PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI

1.1. Khái niệm và đặc điểm tranh chấp thương mại

1.1.1. Hoạt động thương mại

Hoạt động thương mại là hoạt động của cá nhân, tổ chức kinh doanh trong các lĩnh vực mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, phân phối; đại diện đại lý thương mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê, mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li – xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò khai thác; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật nhằm tìm kiếm lợi nhuận [36].

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 LTM năm 2005 thì: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”[17]. Cũng theo LTM năm 2005 thì chủ thể của hoạt động thương mại là tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thương mại. Cá nhân hoặc tổ chức khi hoạt động thương mại phải có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh. Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại.

Tại Điều 6 của LTM năm 2005 đã quy định:“ Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh”. Tuy nhiên theo Điều 7 của LTM năm 2005, trường hợp thương nhân chưa đăng ký kinh doanh, thương nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình theo quy định của LTM và quy định khác của pháp luật do có những trường hợp kinh doanh mang tính chất nhỏ lẻ, vốn ít hoặc những hàng hóa mang tính chất lẻ tẻ, hoặc không đủ điều kiện để thành lập doanh nghiệp… người kinh doanh không đăng kí kinh doanh nhưng vẫn phải đóng thuế và thực hiện các nghĩa vụ và trách nhiệm của người tham gia hoạt động kinh doanh.

1.1.2. Tranh chấp thương mại

Tranh chấp thương mại theo nghĩa khái quát nhất là sự bất đồng chính kiến, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham giam hoạt động thương mại. Đây là loại tranh chấp phổ biến nhất, thường xuyên nhất phát sinh trong hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh doanh với nhau trong hoạt động thương mại.

Khái niệm tranh chấp thương mại được đưa ra lần đầu tiên trong LTM năm 1997 và tiếp tục được khẳng định trong Pháp lệnh về Trọng tài thương mại 2003 [32]. Tại Điều 238 LTM năm 1997 nêu rõ: “Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nội dung trong hoạt động thương mại” [16].

Tranh chấp thương mại có tính phản ứng dây chuyền. Nó xảy ra trong một công đoạn nào đó của chu trình sản xuất kinh doanh và thường có mối quan hệ hữu cơ với các công đoạn khác. Nếu không giải quyết dứt điểm, kịp thời có thể làm phát sinh những tranh chấp tiếp theo trong nền kinh tế. Hiện nay, chúng ta có nhiều văn bản hướng dẫn giải quyết tranh chấp thương mại nhưng vẫn thiếu sự đồng nhất hoặc có sự chồng chéo, mâu thuẩn nhau dẫn đến những khó khăn và vướng mắc nhất định. Một số trường hợp do văn bản quy phạm pháp luật nội dung về kinh doanh thương mại không xác định rõ giao dịch thuộc phạm vi điều chỉnh của mình nên để xác định cần dựa vào BLTTDS. Bên cạnh việc quy định thẩm quyền theo vụ việc, BLTTDS còn quy định thẩm quyền theo lãnh thổ để phân chia việc giải quyết án giữa Tòa án các cấp, giữa các Tòa chuyên trách với nhau được tương xứng nhưng trong nội dung hướng dẫn thẩm quyền theo lãnh thổ lại giải thích thêm thẩm quyền theo vụ việc [1].

Tại Điều 29 BLTTDS liệt kê những tranh chấp về kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền của Toà án thành 04 nhóm [4].

LTTTM năm 2010 quy định thẩm quyền của Trọng tài thương mại là giải quyết các “tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài” khi có thoả thuận chọn trọng tài hợp pháp của các bên tranh chấp, trong đó có tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại [18, Điều 2]. Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại.

LTM năm 2005 đưa ra khái niệm “hoạt động thương mại” rất rộng, bao trùm lên tất cả các hoạt động có mục đích sinh lợi, cụ thể khoản 1 Điều 3 LTM năm 2005 định nghĩa “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác” [17, Điều 3]. Như vậy, tranh chấp thương mại cũng được hiểu rất rộng, có thể định nghĩa là các tranh chấp phát sinh trong quá trình thực hiện các hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các chủ thể thực hiện các hoạt động đó [8].

Nội dung của Điều 29 BLTTDS được cụ thể hóa Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP như sau:“Hoạt động kinh doanh thương mại là việc thực hiện một hoặc nhiều hành vi thương mại. Hoạt động kinh doanh, thương mại không chỉ là hoạt động trực tiếp theo đăng ký kinh doanh, thương mại mà còn bao gồm cả các hoạt động khác phục vụ thúc đẩy, nâng cao hiệu quả hoạt động, kinh doanh thương mại”[31, tiểu mục 3.3, mục 3 Phần I] . Đối với mục đích lợi nhuận của cá nhân, tổ chức trong hoạt động kinh doanh, thương mại được hướng dẫn “là mong muốn của cá nhân, tổ chức đó thu được lợi nhuận mà không phân biệt có thu được hay không thu được lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, thương mại đó” [31, tiểu mục 3.2, mục 3, Phần I]. Đối với việc chủ thể có đăng ký kinh doanh hay không dựa vào quy định của Luật Doanh nghiệp về đăng ký kinh doanh và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Bên cạnh đó, Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP còn hướng dẫn bằng hình thức liệt kê các tranh chấp được xác định là tranh chấp giữa công ty với thành viên công ty, giữa các thành viên công ty với nhau cũng như quy định điểm mở là các tranh chấp khác liên quan đến việc thành lập, hoạt động, chấm dứt hoạt động của công ty; Để xác định là tranh chấp thương mại chỉ cần 02 bên có mục đích lợi nhuận mà không cần phải có đăng ký kinh doanh.

Tranh chấp thương mại có những đặc điểm cơ bản: Chịu sự chi phối của các yếu tố cơ bản của hoạt động này như yếu tố lợi nhuận, bí mật thông tin liên quan đến hoạt động kinh doanh của các chủ thể tham gia; Chủ yếu phát sinh giữa các chủ thể kinh doanh. Ngoài ra, còn có các tranh chấp giữa ít nhất một bên có hoạt động thương mại hoặc tranh chấp giữa công ty với thành viên công ty, giữa các thành viên công ty với nhau. Các mối quan hệ tranh chấp này thường mang tính pháp lý và được giải quyết thông qua Tòa án để đạt hiệu quả cao nhất; Các tranh chấp thương mại có thể được giải quyết bằng nhiều phương thức khác nhau bao gồm: Hoà giải; Thương lượng; Toà án; Trọng tài thương mại.

1.2. Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại.

1.2.1. Nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của các đương sự

Nguyên tắc tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự được quy định tại Điều 5 BLTTDS như sau: “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Toà án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó. Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thoả thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội” [4].

Nguyên tắc này được thể hiện trong suốt các giai đoạn của quá trình tố tụng. Các đương sự có thể khởi kiện hoặc không khởi kiện; trong quá trình giải quyết vụ việc, các đương sự có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Việc thực hiện quyền này của đương sự không chỉ dừng lại việc giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, thủ tục phúc thẩm mà còn được thực hiện cả trong các giai đoạn của quá trình thi hành bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Trên thực tế, TAND khi giải quyết tranh chấp vẫn thường vi phạm nguyên tắc này thể hiện việc giải quyết vượt quá yêu cầu của đương sự hoặc không giải quyết hết yêu cầu đương sự, thậm chí có trường hợp giải quyết sai so với yêu cầu của đương sự dẫn đến việc đương sự khiếu nại kéo dài, bản án, quyết định của Toà án cấp dưới bị Toà án cấp trên huỷ để giải quyết lại.

1.2.2. Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật

Quyền bình đẳng trước pháp luật được cụ thể hoá trong nhiều văn bản pháp luật, trong đó có BLTTDS : “Mọi cơ quan, tổ chức đều bình đẳng không phụ thuộc vào hình thức tổ chức, hình thức sở hữu và những vấn đề khác. Các đương sự đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình” [4, Điều 8].

Tuy nhiên trong thực tế không phải lúc nào đương sự cũng thực hiện được quyền này. Nhiều trường hợp do trình độ hiều biết của đương sự dẫn đến họ không thực hiện được hết quyền của mình, như: Vấn đề khởi kiện, cung cấp chứng cứ hay bào chữa trước Toà án… dẫn đến việc phải chịu phán quyết bất lợi hoặc có trường hợp xuất phát ngày từ việc vi phạm trong quá trình tiến hành tố tụng của Toà án hoặc quy định của pháp luật chưa phù hợp dẫn đến bất bình đẳng cho các chủ thể tham gia. Đây là vấn đề lớn, để khắc phục được cần phải có một lộ trình tiến hành đồng bộ từ giai đoạn xây dựng pháp luật, cải cách cơ cấu tổ chức của Toà án đến việc nâng cao trình độ của các Thẩm phán cũng như trình độ hiểu biết và tuân thủ pháp luật của các cá nhân, tổ chức hoạt động kinh doanh. Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại.

1.2.3. Nguyên tắc Tòa án không tiến hành điều tra mà chỉ xác minh thu thập chứng cứ Nguyên tắc này thể hiện bản chất dân sự trong việc giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại. Trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại thì Tòa án không tiến hành thu thập chứng cứ mà “các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Toà án và chứng minh cho yêu cầu của minh là có căn cứ và hợp pháp”, “Tòa án chỉ tiền hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp nhất định” [4, Điều 6]. Điều 79 BLTTDS cũng quy định: “Đương sự có yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp”.

Tại Điều 7, BLTTDS quy định: “Cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ cho đương sự, Toà án chứng cứ trong vụ án mà cá nhân, cơ quan, tổ chức đó đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Toà án, Viện Kiểm sát và phải chị trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự, Toà án biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được chứng cứ”.

Việc pháp luật quy định điều này là phù hợp, song việc áp dụng nguyên tắc này trên thực tế gặp nhiều khó khăn do BLTTDS không quy định chế tài, không có quy định về thời hạn bắt buộc đương sự phải cung cấp chứng cứ, không có hướng dẫn trách nhiệm cung cấp chứng cứ của các cơ quan hữu quan, dẫn đến việc Tòa án bị thụ động trong việc xét xử.

1.2.4. Nguyên tắc hòa giải

Nguyên tắc hòa giải trong tố tụng dân sự được quy định tại Điều 10 BLTTDS, cụ thể: “Toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này”. Tại khoản 1 Điều 180 BLTTDS cũng quy định: “Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, Toà án tiến hành hoà giải để các đương sự thoả thuận với nhau trong việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hoà giải hoặc không tiến hành hoà giải được quy định tại Điều 181 và Điều 182 của Bộ luật này”. LTM 2005 cũng thừa nhận một trong những hình thức giải quyết tranh chấp là hoà giải giữa các bên [17, Khoản 2 Điều 317].

Hòa giải có ý nghĩa hết sức quan trọng, được thực hiện nhằm mục đích phát huy truyền thống đoàn kết, tương trợ giữa các bên tham gia quan hệ kinh tế, nâng cao kết quả giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh, thương mại.Nó giúp chủ thể kinh doanh hạn chế những tốn kém về tiền bạc, thời gian của cơ quan tiến hành tố tụng cũng như của bản thân họ. BLTTDS cũng quy định cụ thể việc hòa giải được thực hiện ở tất cả các giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, từ khi chuẩn bị xét xử đến khi bắt đầu xét xử tại phiên tòa, trừ những vụ án không được hòa giải như yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản Nhà nước, hoặc những vụ án kinh tế phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc đạo đức xã hội. Đây là thủ tục bắt buộc khi giải quyết các vụ án kinh tế, đặc biệt là cấp sơ thẩm. Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại.

1.2.5. Nguyên tắc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời

BLTTDS quy định cụ thể thời hạn giải quyết ở từng giai đoạn tố tụng, như thời hạn thụ lý, thời hạn thu thập chứng cứ, thời hạn đưa vụ việc ra xét xử, thời hạn ban hành quyết định, bản án, thời hạn kháng cáo, khiếu nại và giải quyết theo trình tự giám đốc thẩm, tái thẩm… Phần lớn Toà án các cấp đều giải quyết vụ việc trong thời hạn luật định. Tuy nhiên, trong thực tế có một số trường hợp vi phạm thời hạn dẫn đến việc giải quyết không kịp thời như: Vi phạm thời gian ban hành quyết định, bản án, thời gian gian thu thập chứng cứ…. Nguyên nhân là do BLTTDS quy định về thời hạn chưa hợp lý; hoặc do đặc thù của hoạt động này là cần có thời gian để đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ; hoặc do các bên liên quan cung cấp không đầy đủ hoặc không cung cấp chứng cứ nhưng luật chưa có chế tài điều chỉnh hành vi này.

Việc quy định các nguyên tắc như trên nhằm bảo đảm cho việc giải quyết các vụ, việc dân sự được nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật, góp phần bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, giáo dục mọi người nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật.

1.3. Các phương thức giải quyết tranh chấp thương mại

1.3.1. Thương lượng giữa các bên

Đây là hình thức giải quyết tranh chấp mà theo đó, các bên tranh chấp tự thoả thuận, bàn bạc với nhau nhằm chấm dứt tranh chấp đã phát sinh giữa họ với nhau. Các điểm đặc trưng cơ bản đó là:

Thứ nhất, các bên tranh chấp tự thoả thuận tìm kiếm giải pháp trên tinh thần tự nguyện, thiện chí, hợp tác mà không có sự tham gia của bất kỳ bên thứ ba nào. Trong trường hợp các bên không tìm được tiến nói chung, tranh chấp không thể thương lượng được thì có thể tiếp tục lựa chọn hình thức giải quyết tranh chấp khác phù hợp hơn.

Thứ hai, nhược điểm của phương thức này là các bên tự nguyện thực hiện phương án giải quyết theo phương án đã lựa chọn. Tuy nhiên nó không có giá trị bắt buộc thi hành trong trường hợp một bên không tự nguyện thực hiện những điều khoản đã cam kết trong thoả thuận.

Thứ ba, các bên tự lựa chọn cách thức giải quyết, thời điểm giải quyết, nội dung phương án giải quyết, cách thức ghi nhận sự giải quyết nên pháp luật Việt Nam và hầu hết các nước trên thế giới hiện chưa có các quy định điều chỉnh trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp bằng phương thức thương lượng. Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại.

1.3.2. Hòa giải giữa các bên do một cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được các bên thỏa thuận chọn làm trung gian hoà giải

Hoà giải là hình thức giải quyết tranh chấp thương mại có sự tham gia của bên thứ ba với vai trò làm trung gian để giúp các bên có được tiếng nói chung trong việc giải quyết các bất đồng. Bên thứ ba không có quyền quyết định mà chỉ tạo điều kiện, giúp đỡ để các bên đạt được thoả thuận giải quyết xung đột, bất hoà. Bên thứ ba làm trung gian hoà giải có thể làm việc với từng bên để giúp mỗi bên tìm ra phương án giải quyết riêng của họ [41].

Hoà giải có những đặc điểm cơ bản, đó là :

Một là, hoà giải được thực hiện có sự tham gia của bên thứ ba đóng vai trò làm trung gian, làm hoà giải viên để hỗ trợ các bên tìm kiếm giải pháp. Kết quả hoà giải thành công sẽ được ghi nhận trong biên bản hoà giải có chữ ký của các bên và của hoà giải viên.

Hai là, hoà giải viên hoạt động trung lập, không có quyền lợi liên quan đến vụ tranh chấp. Ba là, hoà giải viên không có quyền đưa ra phương án giải quyết có tính chất ràng buộc các bên mà chỉ có thể đưa ra phương án có thể giúp giải quyết bất đồng giữa các bên và các bên đồng ý với phương án đó. Tuy nhiên, kết quả thực hiện hoà giải phụ thuộc hoàn toàn vào sự tự nguyện và ý chí của các bên, không phụ thuộc vào phương án của hoà giải viên đưa ra.

Bốn là, pháp luật chưa quy định trình tự, thủ tục tiến hành hoà giải và nó cũng không bị điều chỉnh bởi các quan hệ pháp luật mà phụ thuộc vào sự lựa chọn của các bên. Tuy nhiên, theo quy định tại BLTTDS thì khi giải quyết tranh chấp bằng Toà án hay Trọng tài thì đều có những quy định về hoà giải trừ những vụ án dân sự không được hoà giải hay không tiến hành hoà giải được theo quy định tại Điều 181 và Điều 182 của BLTTDS.

Hình thức hoà giải có nhiều ưu điểm: Thủ tục nhanh gọn, chi phí thấp, các bên có quyền tự định đoạt, lựa chọn bất kỳ người nào làm trung gian hòa giải cũng như địa điểm tiến hành hòa giải, mang tính thân thiện nhằm tiếp tục giữ gìn và phát triển các mối quan hệ kinh doanh vì lợi ích của cả hai bên.

1.3.3. Giải quyết tranh chấp thương mại bằng con đường trọng tài

Khái niệm Trọng tài thương mại được nhiên cứu dưới nhiều bình diện khác nhau của khoa học pháp lý và nhiều cách tiếp cận.

Luật Mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế của Ủy ban Luật thương mại quốc tế của Liên hiệp quốc đưa ra định nghĩa về Trọng tài như sau: “Trọng tài nghĩa là mọi hình thức trọng tài có hoặc không có sự giám sát của một tổ chức trọng tài thường trực” [28].

Theo Hiệp hội Trọng tài Hoa kỳ giải thích: “Trọng tài là cách thức giải quyết tranh chấp bằng cách đệ trình vụ tranh chấp cho một số người khách quan xem xét giải quyết và họ sẽ đưa ra quyết định cuối cùng, có giá trị bắt buộc các bên tranh chấp phải thi hành”. Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại.

LTTTM 2010 thì: “Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp do các bên thỏa thuận và được tiến hành theo quy định của Luật này” [18, Điều 3].

Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh bằng trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua hoạt động của trọng tài viên, với tư cách là bên thứ ba độc lập nhằm chấm dứt xung đột bằng việc đưa ra một phán quyết buộc các bên tranh chấp phải thực hiện. Nó phải tuân theo thủ tục tố tụng trọng tài.

Tố tụng trọng tài nhìn chung có các đặc điểm cơ bản sau :

  • Trọng tài thương mại là một loại hình tổ chức phi chính phủ, một tổ chức mang tính chất xã hội – nghề nghiệp, hoạt động theo pháp luật và quy chế trọng tài.
  • Tố tụng trọng tài là sự kết hợp giữa hai yếu tố thỏa thuận và tài phán. Cụ thể, thỏa thuận làm tiền đề cho phán quyết và không thể có phán quyết thoát ly những yếu tố đã được thỏa thuận.
  • Tố tụng trọng tài đảm bảo cho đương sự quyền tự định đoạt của mình một cách cao nhất, các đương sự có quyền lựa chọn trọng tài viên, quyền lựa chọn địa điểm giải quyết tranh chấp, lựa chọn quy tắc tố tụng….
  • Phán quyết của trọng tài có giá trị chung thẩm và không thể kháng cáo trước bất cứ cơ quan, tổ chức nào. Về nguyên tắc, trọng tài không xét xử công khai, do đó ngoài nguyên đơn và bị đơn, trọng tài chỉ triệu tập các đương sự khác khi cần thiết.
  • Quy tắc tố tụng trọng tài của các quốc gia rất khác nhau, nhưng nhìn chung quy tắc lựa chọn trọng tài viên và thủ tục của hầu hết các trung tâm trọng tài trên thế giới đều theo khuôn mẫu của Luật mẫu UNCITRAL.

Điều 5 LTTTM năm 2010 quy định rõ các điều kiện giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài

1.3.4. Giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại.

Tố tụng Tòa án là thủ tục giải quyết tranh chấp kinh doanh của Tòa án – một cơ quan Nhà nước, hoạt động xét xử của nó mang tính quyền lực Nhà nước nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước và đóng vai trò là cơ quan bảo vệ pháp luật. Phán quyết của Tòa án được đảm bảo thi hành và thủ tục giải quyết của Tòa án rất chặt chẽ, rất phức tạp và không thể thay đổi được. Phán quyết của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị hoặc có thể được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm.

Về thẩm quyền xét xử của Tòa án được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 33 và điểm a khoản 1 Điều 34 BLTTDS để xác định. Đối với thẩm quyền của các Tòa chuyên trách thuộc TAND cấp tỉnh, dựa vào quy định của BLTTDS và điểm b tiểu mục 1.1 mục 1 Phần I Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP . Những tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được liệt kê tại tại Điều 29 BLTTDS và các trường hợp khác được hướng dẫn tại điểm b tiểu mục 1.1 khoản 1 Mục II Nghị quyết số 01/2005/QĐ-HĐTP. Không phải tất cả các chủ thể trong hoạt động thương mại, có mục đích lợi nhuận đều được cho là án kinh doanh thương mại và do tòa kinh tế giải quyết.

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN CỦA VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

2.1. Áp dụng pháp luật hình sự trong giải quyết tranh chấp thương mại

2.1.1. Khái niệm áp dụng pháp luật

Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc cán bộ công chức có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những qui định pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật ra các quyết định làm phát sinh, chấm dứt hay thay đổi những quan hệ pháp luật cụ thể. Áp dụng pháp luật là hoạt động thực hiện pháp luật của cơ quan nhà nước, được xem như là đảm bảo đặc thù của nhà nước cho các quy phạm pháp luật được thực hiện có hiệu quả trong đời sống xã hội [15].

Áp dụng pháp luật được thực hiện trong các trường hợp :

(1). Khi cần sử dụng các biện pháp cưỡng chế bằng những chế tài thích hợp đối với chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật. (2). Khi các quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý cụ thể không tự phát sinh nếu không có sự tác động của nhà nước. (3). Khi xảy ra tranh chấp về quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên tham gia các quan hệ pháp luật mà họ không tự giải quyết được. (4). Khi nhà nước thấy cần thiết phải tham gia để kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia quan hệ đó hoặc nhà nước xác nhận sự tồn tại hay không tồn tại của một số sự việc, sự kiện thực tế, như các hoạt động chứng nhận, chứng thực, công chứng…

Áp dụng pháp luật có một số đặc điểm đặc thù như sau : Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại.

Thứ nhất, về nguyên tắc thì áp dụng pháp luật chỉ do những cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành, nó mang tính tổ chức, thực hiện quyền lực nhà nước trong thực tế.

Thứ hai, hoạt động áp dụng pháp luật luôn mang tính cụ thể. Nó thể hiện ở chỗ các chủ thể để áp dụng pháp luật là xác định, gồm cả sự việc, con người, tập thể, thời gian, không gian; các quy định áp dụng pháp luật được ban hành luôn mang tính cá biệt, cụ thể đối với các quan hệ xã hội xác định. Đối tượng của hoạt động áp dụng pháp luật là những quan hệ xã hội cần đến sự điều chỉnh cá biệt, trên cơ sở những mệnh lệnh chung trong quy phạm pháp luật.

Thứ ba, áp dụng pháp luật là hoạt động được tiến hành theo các thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định.

Thứ tư, áp dụng pháp luật là hành động đòi hỏi tính sáng tạo. Để làm điều đó, người áp dụng pháp luật không thể máy móc, rập khuôn mà đòi hỏi phải có ý thức pháp luật cao, có kiến thức tổng hợp, kinh nghiệm cuộc sống phong phú. Khi áp dụng pháp luật, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải nghiên cứu kỹ lưỡng vụ việc, cần làm sáng tỏ cấu thành pháp lý của nó để từ đó lựa chọn quy phạm, ra văn bản áp dụng pháp luật và tổ chức thi hành.

2.1.2. Áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp trong thương mại

Để thụ lý, giải quyết vụ án dân sự nói chung, kinh doanh thương mại nói riêng, Tòa án có thẩm quyền phải dựa vào yêu cầu cụ thể của người khởi kiện để xác định quan hệ pháp luật mà đương sự tranh chấp. Từ đó, đối chiếu với các quy định về thẩm quyền của BLTTDS để xác định yêu cầu khởi kiện của đương sự có thuộc thẩm quyền của Tòa án hay không. Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp còn có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng pháp luật nội dung (điều chỉnh quyền và nghĩa vụ giữa các bên) trong việc giải quyết yêu cầu của đương sự. Tuy nhiên, thực tiễn xác định quan hệ pháp luật tranh chấp về kinh doanh thương mại không hề dễ dàng do nó tuỳ thuộc vào từng thời kỳ phát triển của xã hội, phạm vi điều chỉnh của luật, quy định của pháp luật không rõ ràng.

2.1.3. Áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp trong thương mại

Luật hình sự điều chỉnh các quan hệ xã hội khi có tội phạm xảy ra. Theo đó, các quan hệ xã hội phát sinh do việc thực hiện tội phạm được coi là những quan hệ pháp luật hình sự. Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại.

Trong quan hệ pháp luật hình sự, có hai chủ thể với những vị trí pháp lý khác nhau :

Chủ thể thứ nhất: Nhà nước là chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự với tư cách là người bảo vệ pháp luật, bảo vệ lợi ích của toàn xã hội. Quyền chủ thể của Nhà nước trong hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm trong quan hệ pháp luật hình sự do các cơ quan đại diện của Nhà nước thực hiện như: Cơ quan điều tra, VKSND và TAND.

Chủ thể thứ hai: Người phạm tội – là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị Luật Hình sự coi là tội phạm có trách nhiệm chấp hành các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước áp dụng đối với mình, đồng thời họ cũng có quyền yêu cầu Nhà nước đảm bảo các quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Như vậy, đối tượng điều chỉnh của Luật Hình sự là những quan hệ xã hội phát sinh giữa Nhà nước và người phạm tội khi người này thực hiện tội phạm [9].

Luật Hình sự sử dụng phương pháp quyền uy – phương pháp sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ pháp luật hình sự. Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi người được sống trong một môi trường xã hội và sinh thái an toàn, lành mạnh, mang tính nhân văn cao. Đồng thời, pháp luật hình sự góp phần tích cực loại bỏ những yếu tố gây cản trở cho tiến trình đổi mới và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh [5, lời nói đầu].

Tội phạm là chế định quan trọng và chủ yếu của luật hình sự. Nội dung của khái niệm tội phạm đã “thể hiện một cách rõ nét bản chất giai cấp, các đặc điểm chính trị xã hội cũng như những đặc điểm pháp lí của luật hình sự”.[38]. Đồng thời nó còn “được xem như là điều kiện cần thiết có tính nguyên tắc để giới hạn giữa tội phạm và không phải là tội phạm, giữa trách nhiệm hình sự và những trách nhiệm pháp lí khác…”[14].

Sự khác nhau cơ bản giữa hành vi vi phạm hợp đồng với hành vi bị coi là tội phạm đó chính là tính chất nguy hiểm đáng kể cho trật tự xã hội. Như vậy, đặc điểm đặc trưng cơ bản của việc áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp trong thương mại chính là trường hợp những hành vi vi phạm nghĩa vụ trong các quan hệ thương mại được các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền chuyển hoá thành tội phạm và áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết. Vấn đề này tập trung ở giai đoạn áp dụng pháp luật. Đây là hành vi mang tính tiêu cực và thể hiện sự yếu kém, hạn chế trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, đồng thời nó cũng thể hiện sự lõng lẽo của nhà nước trong việc quản lý kinh tế.

2.1.4. Hậu quả tiêu cực của việc áp dụng pháp luật hình sự trong giải quyết tranh chấp trong thương mại

Việc áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp trong thương mại dẫn đến hậu quả trước tiên và dễ thấy nhất là xâm hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân mà trực tiếp nhất là người thực hiện hành vi bị áp dụng như : Bị khởi tố oan, bắt tạm giữ, tạm giam sai. Điều này không những ảnh hưởng đến quyền tự do của công dân được Hiếp pháp công nhận và bảo vệ, nó còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của tổ chức, cá nhân và gia đình người đó, ảnh hướng đến tâm lý của người bị trực tiếp áp dụng và gây phương hại đến lợi ích kinh tế của tổ chức, cá nhân. Xét ở góc độ kinh tế – xã hội, nó gây ra những hậu quả nặng nề như: Ảnh hưởng đến lợi ích kinh tế của doanh nghiệp; Làm mất lòng tin của nhà đầu tư vào pháp luật, ảnh hưởng rất lớn đến môi trường đầu tư ; Làm cho uy tín của công dân và doanh nghiệp bị giảm sút thậm chí bị mất hoàn toàn, và đây là những thiệt hại không thể xác định được bằng tiền; Hệ thống pháp luật của ta sẽ dễ bị đánh giá là thiếu an toàn trong kinh doanh đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Đồng thời, nó cũng phản ánh sự yếu kém hoặc tồn tại tiêu cực trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử cũng như trong việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự như tạm giữ, tạm giam, kê biên tài sản… của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đối với các tranh chấp thương mại. Làm giảm sút niềm tin của nhân dân vào pháp luật, vào chính quyền. Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại.

2.2. Thực trạng của việc áp dụng pháp luật hình sự trong giải quyết tranh chấp thương mại trên địa bàn thành phố Đà Nẵng

2.2.1. Áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết việc vi phạm trong việc thực hiện hợp đồng đặt cọc

Theo quy định tại Điều 358 BLDS 2005 thì: “Đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng dân sự. ..Nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng dân sự phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”.

Nghiên cứu một số vụ án hoặc tin báo, tố giác về tội phạm do VKSND thành phố Đà Nẵng thụ lý, giải quyết thời gian qua cho thấy nhìn chung các vụ vi phạm hợp đồng đặt cọc bị quy kết là có dấu hiệu hình sự được điều tra truy tố là rất ít. Tuy nhiên, do quan điểm khác nhau trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến các cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp thương mại liên quan đến việc vi phạm hợp đồng đặt cọc đã dẫn đến oan sai mà điển hình là vụ Nguyễn Hoàng Hà bị bị khởi tố về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 139 Bộ luật Hình sự, sua đó, Toà án tuyên bố Nguyễn Hoàng Hà không phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” [36].

Như vậy, vấn đề ở đây là do đặc điểm riêng của tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nên người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối [33]. Còn điểm mấu chốt trong các vụ tranh chấp hợp đồng đặt cọc là phải đánh giá xem hợp đồng đó có bị vi phạm hay không, vi phạm như thế nào, bên nào vi phạm và hậu quả pháp lý khi hợp đồng bị vi phạm và việc vi phạm này phải được giải quyết bằng quan hệ pháp luật do BLDS 2005 và BLTTDS điều chỉnh chứ không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật về hình sự.

2.2.2. Áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp hợp đồng góp vốn liên doanh

Theo quy định tại mục 3 Chuẩn mực số 08 – Thông tin tài chính về những khoản vốn góp liên doanh (Ban hành và công bố theo Quyết định số 234/2003/QĐ-BTC ngày 30.12.2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính) thì: “Liên doanh là thỏa thuận bằng hợp đồng của hai hoặc nhiều bên để cùng thực hiện hoạt động kinh tế, mà hoạt động này được đồng kiểm soát bởi các bên góp vốn liên doanh” [7]. Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại.

Để xác định một hành vi vi phạm hợp đồng có đến mức vi phạm pháp luật hình sự và phải truy cứu trách nhiệm hình sự hay chỉ đơn thuần là những vi phạm dẫn đến tranh chấp thương mại thuần túy hay không, cần đối chiếu nó trên cơ sở khái niệm của tội phạm như đã nêu trên cũng như những cấu thành cơ bản của một số loại tội phạm mà có sự giáp ranh nhất định giữa vi phạm pháp luật hình sự hay chỉ là quan hệ thương mại. Sự phức tạp của nó trong quá trình áp dụng pháp luật lại càng mong manh hơn. Do vậy, đây thường là tranh chấp thường bị các chủ thể áp dụng pháp luật hiểu không đúng dẫn đến việc áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết mà không cân nhắc rằng trường hợp đó đã nguy hiểm cho xã hội đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa.

Từ thực tiễn xem xét những vụ án bị oan, sai trong những năm qua cho thấy việc áp dụng pháp luật hình sự trong việc giải quyết tranh chấp thương mại thường biểu hiện ở một số dạng như: Hành vi vi phạm nghĩa vụ (nghĩa vụ trả tiền hoặc thực hiện một công việc hay dịch vụ trong hợp đồng – chủ yếu là việc từ chối thực hiện nghĩa vụ, không có khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán, không trả được nợ) trong hợp đồng thương mại hoặc tranh chấp giữa các thành viên góp vốn trong việc liên doanh, liên kết kinh doanh, thành lập doanh nghiệp bị quy kết về các tội chiếm đoạt tài sản mà tập trung ở hai tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “ Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” được quy định tại các Điều 139 và 140 của BLHS.

Điểm mấu chốt để phân biệt ranh giới giữa tội phạm hay là vi phạm nghĩa vụ đã thỏa thuận chính là ở yếu tố có mục đích chiếm đoạt hay không có mục đích chiếm đoạt tài sản. Trên cơ sở đó, các chủ thể áp dụng pháp luật có phương hướng giải quyết và áp dụng pháp luật một cách chặt chẽ lôgic và phù hợp với thực tiễn nhất.

2.2.3. Áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp trong hoạt động dịch vụ môi giới thương mại trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, tư vấn lao động

Điều 150 LTM năm 2005 quy định “Môi giới thương mại là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới”.

Hoạt động môi giới diễn ra trong nhiều lĩnh vực như : Môi giới tiền tệ, môi giới chứng khoán, môi giới bất động sản, môi giới lao động, môi giới bảo hiểm… Thời gian qua không ít những trường hợp lợi dụng hoạt động môi giới để hoạt động phi pháp, lừa đảo. Tuy nhiên, cũng có những trường hợp thương nhân hoạt động môi giới trên cơ sở quy định của pháp luật, có đăng ký kinh doanh, hành nghề môi giới nhưng vì những lý do khác nhau, bản thân họ là nạn nhân của những đường dây lừa đảo và khi sự việc xảy ra, họ là bị hại nhưng lại bị quy kết về cùng tội danh của đối tượng phạm tội với vai trò đồng phạm. Đây là vấn đề khá nổi cộm mà ngay cả các cơ quan tiến hành tố tụng cũng có những quan điểm khác nhau khi xử lý những vụ liên quan [40, tr. 33-34]. Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại.

Lĩnh vực xuất khẩu lao động, tư vấn lao động và việc làm là rất cần thiết đối với một đất nước giàu có về nguồn lao động như Việt Nam. Hiện nay vẫn còn không ít những tổ chức cá nhân lợi dụng việc này để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác. Thời gian qua hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trong lĩnh vực xuất khẩu lao động xảy ra tương đối nhiều. Trên cả nước, các cơ quan chức năng đã phát hiện nhiều vụ việc và trong các vụ việc này đối tượng thường hình thành các đường dây lừa đảo người lao động với nhiều đầu mối trung gian thu gom lao động khác nhau. Tuy nhiên, khi xem xét các vụ việc này cho thấy cũng có những đầu mối là những đồng phạm với kẻ chủ mưu thực hiện hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác, nhưng cũng có những doanh nghiệp hoặc cá nhân tuy là đầu mối thu gom người lao động nhưng họ cũng là nạn nhân của kẻ lừa đảo.

Hiện có những luồng ý kiến cho rằng, việc áp dụng pháp luật hình sự vào để giải quyết các tranh chấp này là đúng đắn nhằm răn đe các hành vi vi phạm pháp luật đồng thời giải quyết triệt để nghiêm khắc các đối tượng vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng. Tuy nhiên, trong những trường hợp nhất định, việc giải quyết tranh chấp trong hoạt động dịch vụ môi giới thương mại trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, tư vấn lao động không phải bất kì trường hợp nào cũng áp dụng pháp luật hình sự.

Do vậy, trên thực tế, để tránh việc áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp trong hoạt động dịch vụ môi giới thương mại trong lĩnh vực xuất khẩu lao động, tư vấn lao động, cơ quan tiến hành tố tụng cần xem xét những người này có hay không có yếu tố lừa đảo hay không ngoài yếu tố gian dối, đồng thời phải chứng minh được mục đích chiếm đoạt tài sản hoặc chấp nhận mục đích chiếm đoạt tài sản (của những người có liên quan trong vụ án) của các bị hại thì mới có cơ sở để xử lý hình sự với vai trò là người đồng phạm. Ở thành phố Đà Nẵng thời gian qua chưa phát hiện, xử lý vụ nào, nhưng với sự phát triển của thành phố cũng như nguồn lao động dồi dào thì đây cũng là tiềm ẩn để những đối tượng phạm tội lợi dụng thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

2.2.4. Áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết vi phạm các quy định về quản lý kinh tế, chức vụ

Tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và các tội phạm về chức vụ được quy định tại các chương XVI và chương XXI của BLHS năm 1999. Thực tiễn xét xử cho thấy việc xác định hành vi xâm phạm trật tự quản lý kinh tế khó hơn việc xác định các hành vi phạm tội khác. Mặt khác trong BLHS hiện hành cũng còn một số tội danh vẫn mang đậm dấu ấn của thời kinh tế tập trung quan liêu bao cấp như: “Tội lập quỹ trái phép” (Điều 166) “Tội báo cáo sai trong quản lý kinh tế” (Điều 167). Tuy nhiên, BLHS cũng xem xét đến tính chất nguy hiểm cho xã hội đối với những hành vi này thể hiện việc quy định các trường hợp miễn trách nhiệm hình sự tại Điều 25. Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại.

Theo thống kê thời gian từ năm 2008 – 2013 do Phòng Thống kê tội phạm và công nghệ thông tin – VKSND thành phố Đà Nẵng cung cấp thì tại thành phố Đà Nẵng, Toà án hai cấp đã xét xử sơ thẩm tổng cộng 3630 vụ án hình sự, Toà án cấp phúc thẩm đã xét xử tổng cộng 1209 vụ án hình sự liên quan đến chương tội phạm xâm phạm sở hữu, tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và tội phạm về chức vụ; VKSND thành phố Đà Nẵng thụ lý kiểm sát 4631 tố giác, tin báo về tội phạm có liên quan, trong đó khởi tố vụ án 2549 tin, các tin còn lại không khởi tố hoặc xử lý khác. Qua thực tiễn cho thấy việc xử lý thông tin tội phạm và án hình sự về quản lí kinh tế và chức vụ vẫn còn nhiều sai sót và chưa thực sự đi vào khuôn khổ do thiếu các Thông tư, Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn một số tình tiết là yếu tố định khung hình phạt như “Gây hậu quả nghiêm trọng”, “Gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”. Tại thành phố Đà Nẵng thời gian qua, các vụ án liên quan đến chương án xâm phạm trật tự về quản lí kinh tế không nhiều và tính chất, mức độ cũng không quá lớn như các vụ xảy ra ở thành phố Hồ Chí Minh hay Hà Nội. Việc áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết các vi phạm các quy định về quản lý kinh tế được thực hiện khá chặt chẽ. Nhưng thông thường loại tội phạm này thường phức tạp và nhiều khi tội phạm núp bóng dưới một hình thức khác để thực hiện hành vi nên rất khó để chứng minh khi có tranh chấp xảy ra.

Trên thực tế, các hành vi vi phạm các quy định về quản lý kinh tế và chức vụ thường bị áp dụng pháp luật hình sự để xử lý như :

Hành vi sử dụng vốn vay của công ty mẹ không đúng mục đích khi vay sau đó mặc dù tài liệu điều tra chứng minh bị cáo không thể chiếm đoạt được tài sản, đồng thời việc sử dụng tài sản được kế toán trưởng và thủ quỹ theo dõi, bị cáo có cam kết trả nợ và trả lãi cá nhân hành tháng nhưng vẫn bị quy kết là chiếm đoạt và bị xử lý hình sự. Ví dụ như vụ Bùi Xuân Trường, bị khởi tố về tội: “Tham ô tài sản” theo Điều 278 BLHS [40, tr.40-41].

Kinh doanh thua lỗ nhưng do chứng từ, sổ sách kế toán không đầy đủ, rõ ràng bị quy kết là cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng. Ví dụ như vụ Nguyễn Thanh Bình bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội: “Cố ý làm trái các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” [35].

Người có chức vụ, quyền hạn chỉ đạo nhân viên dưới quyền nâng khống giá cước vận chuyển nhưng nhằm mục đích để lấy khoản tiền chênh lệch nhằm chi phí cho một số khoản không có hoá đơn như là chi hoa hồng cho đối tác bị quy kết là tham ô tài sản. Ví dụ như vụ bà Phạm Thị Đăng Thành bị khởi tố về tội: “Tham ô tài sản” theo Điều 278 BLHS. (Thông tin do Phòng thực hành quyền công tố – kiểm sát điều tra – kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự về Kinh tế – chức vụ VKSND TP Đà Nẵng cung cấp).

2.2.5. Áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Việc vay mượn bằng tiền hoặc tài sản giữa các bên được điều chỉnh bởi hợp đồng vay tài sản theo quy định của pháp luật dân sự. Bản chất của hợp đồng vay tài sản được thể hiện chủ yếu nghĩa vụ trả nợ của bên vay. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 29 BLTTDS thì : “Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận”, được mô tả từ điểm a đến điểm o điều luật này.

Nhưng tại điểm b tiểu mục 1.1 Mục I về thẩm quyền của Tòa án được hướng dẫn trong Nghị quyết số 01/2005 thì: “Tòa kinh tế có nhiệm vụ quyền hạn giải quyết các tranh chấp, yêu cầu về kinh doanh, thương mại quy định tại Điều 29 và Điều 30 của BLTTDS, các tranh chấp về kinh doanh, thương mại mà một trong các bên không có đăng ký kinh doanh, nhưng đều có mục đích lợi nhuận”. Như vậy, BLTTDS quy định những tranh chấp về kinh doanh, thương mại phải gồm 2 tiêu chí: (1) Tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh; (2) đều có mục đích lợi nhuận. Nhưng theo Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP thì chỉ cần: “một trong hai bên không có đăng ký kinh doanh nhưng đều có mục đích lợi nhuận” đều thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp tỉnh (Tòa kinh tế). Từ cơ sở những hướng dẫn nêu trên thì các loại hợp đồng vay tài sản mà có mục đích lợi nhuận thì đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà kinh tế và nó được xếp vào dạng tranh chấp thương mại. Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại.

Theo số liệu do Phòng Thống kê tội phạm và công nghệ thông tin – VKSND thành phố Đà Nẵng cung cấp, từ năm 2008 – 2013, Toà án hai cấp đã thụ lý xét xử tổng cộng 09 vụ án hình sự, chủ yếu là các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và „Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, được quy định tại các Điều 139 và Điều 140 BLHS liên quan đến tội phạm trong lĩnh vực tín dụng – ngân hàng. Nguyên nhân chính của loại tội này là do nhân viên ngân hàng không tuân thủ, thực hiện đúng điều lệ, quy chế, quy trình hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quy trình thực hiện hoạt động, thiếu trách nhiệm trong việc kiểm tra, kiểm đếm tiền mặt trước khi ký vào các chứng từ kế toán, thiếu trách nhiệm trong việc thẩm định hồ sơ vay và kiểm tra việc sử dụng vốn vay của khách hàng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các Ngân hàng, đến trật tự pháp luật trong hoạt động ngân hàng, gây thiệt hại cho các ngân hàng.

Các dạng vi phạm phổ biến trong lĩnh vực liên quan đến hợp đồng vay tại ngân hàng thường là :

  • Bên vay chỉ có một ít hàng thế chấp thật còn lại đều là khống nhưng lập hợp đồng kinh tế khống, hoá đơn khống, hoá đơn giả.
  • Lợi dụng thuê nhà, thuê đất để kinh doanh rồi dùng giấy tờ sở hữu của chủ nhà, chủ đất làm giả sang tên cho mình hoặc làm sổ đỏ giả thế chấp vay tiền ngân hàng rồi chiếm đoạt.
  • Chủ trương sử dụng nguồn vốn của ngân hàng đi gửi ở ngân hàng khác để khai thác lãi suất dưới hình thức cho người thân của nhân viên ngân hàng mình đứng tên và hợp thức bằng hợp đồng vay cầm cố tài sản kiêm khế ước nhận nợ, khi không có sự đồng ý của Hội sở.
  • Lập dự án “ma”, dự án không có thật, thế chấp vay vốn ngân hàng rồi chiếm đoạt.

Tuy nhiên, nhiều sự việc cơ quan chức năng không khởi tố được vì điều luật quy định quá cứng nhắc. Lấy ví dụ “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” được quy định tại Điều 140 – BLHS. Yếu tố cấu thành của tội này là ý thức ban đầu là ngay thẳng, sau đó mới chiếm đoạt. Để khởi tố hình sự, luật quy định phải thỏa mãn một trong hai điều kiện: Đương sự phải “dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt” hoặc “sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản”. Nếu không đủ hai yếu tố trên thì vụ việc chỉ là tranh chấp thương mại hoặc dân sự và được giải quyết bằng tố tụng dân sự. Lợi dụng kẽ hở này, nhiều người đã đi vay rất nhiều, có thể lên tới hàng chục tỷ đồng rồi không có khả năng chi trả nhưng cũng không bỏ trốn nhưng không thể xử lý. Hoặc để xử lý về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 139 BLHS thì phải đảm bảo các hành vi khách quan là “lừa đảo” và “chiếm đoạt tài sản”. Tuy nhiên trên thực tế, đối với các trường hợp có sự tiếp tay hay sự cố tình vi phạm của cán bộ ngân hàng thì rất khó chứng minh được yếu tố “lừa đảo chiếm đoạt” hay “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt”. Ví dụ vụ Hứa Thị Mộng H. chiếm đoạt của Ngân hàng T số tiền 10.998.950.640 đồng.

2.2.6. Áp dụng pháp luật hình sự đối với việc vi phạm nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng mua bán hàng hoá bị xác định chiếm đoạt Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại.

Khoản 8 Điều 3 LTM năm 2005 quy định: “Mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận”. Như vậy, mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại mà thông qua việc thực hiện nghĩa vụ của bên bán, hàng hoá và quyền sở hữu hàng hoá được chuyển giao từ bên bán sang bên mua nhằm đổi lại việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối ứng của bên mua.

Xét về bản chất, hợp đồng mua bán hàng hoá là hình thức pháp lý của quan hệ mua bán hàng hoá, nó mang tính chất cơ bản của một hợp đồng, là sự xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán hàng hoá. Việc kinh doanh thua lỗ dẫn đến mất khả năng thanh toán, trả nợ của doanh nghiệp mua hàng là việc bình thường trong cơ chế thị trường. Tuy nhiên, trên thực tế, có những vụ việc mang bản chất của thương mại đã bị áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết do nhầm lẫn trong việc xác định yếu tố chiếm đoạt. Ví dụ vụ Nguyễn Giàu bị khởi tố về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. (Thông tin do Phòng thực hành quyền công tố – kiểm sát điều tra – kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự về Kinh tế – chức vụ VKSND TP Đà Nẵng cung cấp).

2.3. Những nguyên nhân của việc áp dụng pháp luật hình sự trong giải quyết tranh chấp trong thương mại

2.3.1. Những nguyên nhân từ hệ thống pháp luật

Công cụ hữu hiệu nhất mà một Nhà nước sử dụng để đấu tranh với tội phạm phải kể trước hết là pháp luật hình sự. Tuy nhiên tác động của nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là việc đánh giá đúng đắn và xác định một cách chính xác, cụ thể hành vi nguy hiểm cho xã hội. Do vậy đòi hỏi phải phân hoá cao độ các loại hành vi trong các đạo luật và đồng thời phải bảo đảm thường xuyên theo dõi, bổ sung, sửa đổi kịp thời những quy định về hành vi nguy hiểm cho xã hội cũng như loại bỏ những hành vi không còn nguy hiểm cho xã hội tại thời điểm nó xảy ra.

Quá trình sửa đổi bổ sung đó thường được thực hiện theo hai xu hướng trái ngược nhau. Hoặc bổ sung những hành vi vi phạm mới được coi là tội phạm, gia tăng mức độ hình phạt đối với một số loại hành vi nguy hiểm cho xã hội nào đó hoặc gia tăng mức độ vi phạm cấu thành định khung cơ bản do chuyển biển của tình hình phát triển kinh tế, xã hội. Hoặc loại bỏ khỏi danh mục các hành vi được coi là tội phạm do chuyển biến của tình hình mà hành vi đó không còn được xem là nguy hiểm cho xã hội hoặc giảm thiểu các biện pháp và mức độ nghiêm khắc của hình phạt đối với những loại hành vi khác. Hai xu hướng này trong khoa học luật hình sự thường được nhắc đến : Xu hướng hình sự hoá, tội phạm hoá và xu hướng phi hình sự hoá, phi tội phạm hoá. Cả hai xu hướng này song song tồn tại và gắn bó hữu cơ với nhau, bởi vì, khi những hành vi xâm hại đến những nhóm mối quan hệ xã hội nào đó được coi là gia tăng tính nguy hiểm xã hội, thì ngược lại, những hành vi có tính chất và giá trị xã hội trái ngược nó lại xâm hại hoặc đe doạ xâm hại các mối quan hệ xã hội mà xét về tính chất mâu thuẫn với nhóm quan hệ xã hội kia [29].

Thực tế áp dụng pháp luật ở thành phố Đà Nẵng cũng đang thuộc vào diện chung của cả nước khi mà hệ thống pháp luật của nước ta chưa chặt chẽ mặc dù đã và đang có nhiều văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành. Nhưng nhìn chung thì thực trạng diễn ra với chiều hướng tiêu cực vẫn còn nhiều. Quyết định công nhận một hành vi, một loại hành vi nào đó thường xảy ra trong đời sống xã hội là tội phạm, hoặc quyết định đưa ra khỏi các đạo luật hình sự những quy định về hành vi nào đó từng được coi là tội phạm không thể là thẩm quyền của ai khác, ngoài cơ quan lập pháp. Ngoài ra, việc thiếu các văn bản hướng dẫn, thiếu quy định về việc giải thích luật dẫn đến việc áp dụng pháp luật tuỳ tiện hoặc không đúng. Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại.

Ví dụ điển hình cho trường hợp này là việc xác định yếu tố chiếm đoạt đối với các loại tội phạm xâm phạm về trật tự quản lý kinh tế hoặc tội phạm về chức vụ. Trong BLHS hiện hành thì các tình tiết “Gây hậu quả nghiêm trọng”, “Gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” là tình tiết định tội, định khung của nhiều tội phạm. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có hướng dẫn về các tình tiết này đối với Chương XVI “Các tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế” và Chương XXI “các tội phạm về chức vụ” để tạo ra được một hành lang pháp lý thống nhất, tránh sự áp dụng tuỳ tiện pháp luật hình sự để giải quyết các tranh chấp trong thương mại.

Đối với pháp luật về giải quyết tranh chấp trong thương mại, thực tiễn công tác giải quyết tranh chấp thương mại tại Tòa án các cấp cho thấy, một trong những nguyên nhân dẫn đến có sai lầm trong các bản án, quyết định dân sự là việc Thẩm phán hiểu và vận dụng pháp luật khi xét xử, việc ban hành văn bản pháp luật có những điểm chưa đầy đủ và chưa phù hợp với thực tiễn, trong khi đó công tác hướng dẫn, giải thích pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và của Toà án nhân dân tối cao lại không kịp thời hoặc chỉ hướng dẫn dưới dạng công văn, kết luận của Chánh án tại Hội nghị tổng kết, nên tính ổn định của các hướng dẫn đó rất hạn chế và không có tính pháp lý bắt buộc.

2.3.2. Nguyên nhân từ các quy định liên quan đến tài phán trong tranh chấp thương mại

Thực tiễn xác định quan hệ pháp luật tranh chấp về kinh doanh thương mại trên thực tế là không hề dễ dàng bởi các lý do:

Tùy từng thời kỳ phát triển khác nhau hay do sự chuyển biến của tình hình mà cơ quan lập pháp quy định một số quan hệ xã hội cần được điều chỉnh bằng quy phạm kinh doanh thương mại nhưng một số quan hệ xã hội khác thì chưa được điều chỉnh hay được điều chỉnh bằng quan hệ pháp luật khác nên khó để xác định tranh chấp đó phải được giải quyết bằng quan hệ pháp luật tranh chấp về kinh doanh thương mại.

Việc phân biệt quan hệ pháp luật nào thuộc ngành luật nào điều chỉnh như về chủ thể tham gia quan hệ, mục đích chủ thể, đối tượng của giao dịch…cũng không hề dễ dàng bởi lẽ trên thực tế có khi cùng một quan hệ xã hội nhưng lại thuộc phạm vi điều chỉnh của nhiều ngành luật khác nhau. Ví dụ việc giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự, vấn đề bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng… Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại.

Một số văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành về kinh doanh thương mại có quy định phạm vi các giao dịch thuộc phạm vi điều chỉnh nhưng lại quy định một cách chung chung, mang tính mở nên khi có tranh chấp xảy ra để xác định chúng có thuộc phạm vi điều chỉnh của văn bản quy phạm pháp luật này hay không cũng gây ra những khó khăn, vướng mắc nhất định.

Một số trường hợp do văn bản quy phạm pháp luật nội dung về kinh doanh thương mại không xác định rõ giao dịch thuộc phạm vi điều chỉnh của mình nên để xác định cần dựa vào luật tố tụng dân sự (BLTTDS). Bên cạnh việc quy định thẩm quyền theo vụ việc, BLTTDS còn quy định thẩm quyền theo lãnh thổ để phân chia việc giải quyết án giữa Tòa án các cấp, giữa các Tòa chuyên trách với nhau được tương xướng nhưng trong nội dung hướng dẫn thẩm quyền theo lãnh thổ lại giải thích thêm thẩm quyền theo vụ việc.

Mặc dù BLTTDS và văn bản hướng dẫn thi hành hướng dẫn về việc xác định tranh chấp cũng như thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong thương mại nhưng thực tiễn áp dụng phát sinh một số vướng mắc gây khó khăn trong việc giải quyết, cụ thể như : Quy định “Các tranh chấp về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định” tại khoản 4 Điều 29 BLTTDS gây ra nhiều cách hiểu khác nhau; Việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp giữa công ty với thành viên công ty liên quan đến hoạt động của công ty không thống nhất. Do vậy các tranh chấp khác phát sinh khó xác định thẩm quyền giải quyết như : Tranh chấp phát sinh trong quá trình thành lập, tổ chức hoạt động, tổ chức quản lý của nhiều loại hình doanh nghiệp và hoạt động của nó dựa vào vốn góp của các thành viên (ví dụ như Hợp tác xã) hoặc tranh chấp liên quan đến việc đòi con dấu, giấy tờ thuộc về hồ sơ pháp lý của doanh nghiệp mà người có thẩm quyền đang nắm giữ; Việc giải thích thuật ngữ “hoạt động kinh doanh thương mại” trong Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP cũng chưa tương thích với quy định của luật chuyên ngành như Luật Doanh nghiệp, LTM năm 2005.

2.3.3. Nguyên nhân từ các chủ thể áp dụng pháp luật hình sự

Trong thủ tục tố tụng dân sự và tố tụng hành chính, người tiến hành tố tụng bao gồm: Chánh án TAND, Thẩm phán TAND, Hội thẩm nhân dân, Thư kí tòa án, Kiểm sát viên VKSND, Thủ trưởng cơ quan Thi hành án, Chấp hành viên.

Trong thủ tục tố tụng hình sự, người tiến hành tố tụng bao gồm: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện trưởng, Phó Viện trưởng VKSND, Kiểm sát viên VKSND; Chánh án TAND, Phó Chánh án TAND, Thẩm phán TAND, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án. Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại.

Quá trình giải quyết vụ án hình sự là một quá trình liên tục, trải qua các giai đoạn tố tụng khác nhau gồm: Điều tra, truy tố, xét xử. Trong đó Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán là nhân vật trung tâm, đại diện cho các cơ quan tiến hành tố tụng làm nhiệm vụ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử [6, Điều 33]. Thông qua hoạt động giải quyết vụ án hình sự, người tiến hành tố tụng có nhiệm vụ xác định tội phạm và người phạm tội được chính xác, xử lý nghiêm minh, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Nguyên nhân khách quan, trước hết và quan trọng là ở phương diện pháp luật, tức là từ các quy định liên quan đến tài phán trong tranh chấp thương mại như đã phân tích ở mục 2.3.2. Còn nguyên nhân chủ quan, chính là ở góc độ người tiến hành tố tụng và bản thân người bị oan cũng như người tham gia tố tụng khác và đây chính là nguyên nhân trực tiếp, quyết định tới việc làm oan người vô tội. Trước hết là xem xét quy định của pháp luật về việc “Thẩm phán xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” [6, Điều 16]. Trên thực tế, hoạt động xét xử của Thẩm phán thường có sự can thiệp từ bên ngoài. Do vậy, sự độc lập này chỉ mang tính tương đối. Đồng thời, do hiện nay chưa có khung hoàn chỉnh về nội dung, chương trình đào tạo dành cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán cũng như chưa có một bộ quy chuẩn cụ thể về nghề với những kiến thức chuyên môn và kỹ năng cơ bản, chưa kể kiến thức chuyên sâu trong từng lĩnh vực nhất là lĩnh vực kinh tế như pháp luật về doanh nghiệp, về thuế, tài chính, tín dụng ngân hàng, bảo hiểm, đầu tư xây dựng, trình độ, năng lực của đội ngũ những người tiến hành tố tụng nhiều nơi, nhiều lúc còn hạn chế dẫn đến nhận thức sai, từ đó áp dụng pháp luật không đúng.

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ TRONG GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI

3.1. Giải pháp tăng cường công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật

3.1.1. Giải pháp tăng cường công tác xây dựng pháp luật về thương mại và giải quyết tranh chấp trong thương mại

Việc ban hành một số chính sách và giải pháp tăng cường hiệu quả công tác xây dựng và bảo vệ pháp luật, đồng thời sửa đổi bổ sung một số điều của bộ luật hình sự và luật thương mại liên quan đến cách thức giải quyết tranh chấp thương mại là điều cần thiếu và cấp thiết hiện nay. Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại.

LTM năm 2005 quy định các loại chế tài trong thương mại, trong đó, chế tài phạt vi phạm đóng vai trò quan trọng đối với việc giải quyết tranh chấp khi hợp đồng có vi phạm nhưng hướng dẫn chưa đầy đủ, cụ thể [17, Điều 292]. Hiện nay, chế định này ngày càng được các bên sử dụng nhiều hơn như một biện pháp hữu hiệu để bảo vệ quyền lợi của mình trong các quan hệ hợp đồng hợp tác kinh tế. Theo quy định của LTM 2005 thì việc thỏa thuận về phạt vi phạm chỉ xảy ra nếu trong hợp đồng có thỏa thuận. Tuy nhiên, pháp luật quy định về vấn đề này lại chưa thỏa đáng, làm hạn chế quyền tự thỏa thuận của các bên trong các quan hệ hợp tác. Ngoài ra cần phải có quy định phân biệt được và làm rõ được điểm kác biệt giữa chế tài phạt vi phạm với chế tài trách nhiệm bồi thường thiệt hại do thực tế thường có sự nhầm lẫn giữa hai chế tài này.

Một chế định xuất phát từ sự dự liệu về quan hệ của các bên khi tiến hành ký kết hợp đồng, còn một chế định xuất phát từ yêu cầu bù đắp những tổn thất do hành vi vi phạm gây ra. Vì thế, chế tài phạt vi phạm có thể áp dụng cho dù chưa có thiệt hại xảy ra hoặc thiết hại nhỏ hơn mức phạt vi phạm. Trong khi đó, chế tài bồi thường thiệt hại nhằm bù đắp tổn thất nên sẽ chỉ bằng thiệt hại đã xảy ra hoặc thậm chí nhỏ hơn thiệt hại đã xảy ra. Các bên khi tham gia vào quan hệ hợp đồng, tùy thuộc vào vị trí pháp lý của mình để có thể thòa thuận những điều khoản hợp lý nhất. Nhưng ở đây có sự không thống nhất giữa quy định về chế tài phạt vi phạm theo quy định của LTM năm 2005 và chế tài phạt vi phạm trong BLDS năm 2005. Ngoài ra, vấn đề giới hạn của mức phạt vi phạm trong các văn bản pháp luật hiện hành vẫn có sự mâu thuẩn nhau. Cụ thể, Điều 301 LTM năm 2005 quy định: “Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do các bên thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng không quá 8% giá trị phần nghĩa vụ hợp đồng bị vi phạm”. Tuy nhiên, tại khoản 2 Điều 422 BLDS năm 2005 quy định: “Mức phạt vi phạm do các bên tự thỏa thuận”. Còn đối với những quan hệ dân sự theo nghĩa rộng, mà cụ thể là các quan hệ được LTM 2005 điều chỉnh thì mức phạt vi phạm bị hạn chế ở mức 8%. Ở đây có sự khác biệt giữa hai văn bản khi cùng điều chỉnh một vấn đề. Do vậy, luật cần có quy định điều chỉnh cho phù hợp và thống nhất.

Quy định của pháp luật về xác định thẩm quyền của Tòa án có những quan điểm khác nhau. Từ khoản 1 đến khoản 3 của Điều 29 BLTTDS quy định rất rõ việc xác định quan hệ tranh chấp nào là tranh chấp kinh doanh thương mại và thuộc thẩm quyền Tòa án. Trong đó, quy định tại khoản 4 Điều 29 của luật này lại là quy định mở gây khó khăn cho việc xác định thẩm quyền giải quyết tranh chấp. Ngoài ra, đối với việc giải quyết tranh chấp liên quan đến Hợp đồng tín dụng thì quy định của Luật các tổ chức tín dụng năm 2011 cũng như Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 được sửa đổi, bổ sung năm 2004, không có quy định nào quy định về loại quan hệ tranh chấp từ hợp đồng tín dụng như tranh chấp trên là tranh chấp kinh doanh thương mại để áp dụng khoản 4 Điều 29 BLTTDS thụ lý, giải quyết. Nhưng trên thực tế thì các Hợp đồng tín dụng có yếu tố lợi nhuận đều do Toà kinh tế giải quyết. Chính sự hướng dẫn không rõ ràng này mà trong thực tiễn việc vận dụng quy định của pháp luật để xác định thẩm quyền của Tòa án có những quan điểm khác nhau. Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại.

Đối với các quy định về việc xác định tranh chấp giữa công ty với thành viên công ty liên quan đến hoạt động của công ty, việc các văn bản pháp luật hiện hành không giải thích rõ thế nào là các vấn đề khác liên quan đến hoạt động của công ty trong khi hoạt động của công ty rất đa dạng dẫn đến khó khăn trong thực tiễn áp dụng.

Việc giải quyết các tranh chấp thương mại và dân sự ở Việt Nam vẫn tập trung vào Tòa án, điều này ngược lại với các nước có nền kinh tế phát triển như Anh, Úc, Mỹ, Singapore. Việc áp dụng hình thức hòa giải thương mại ở Việt Nam hiện nay chỉ mới được coi là việc làm tùy nghi của các bên. Để bảo đảm tính hiệu lực của hình thức trung gian hòa giải thương mại, cần tạo ra những cơ sở pháp lý vững chắc hơn. Do vậy, việc ban hành Luật Trung gian và Hòa giải thương mại sẽ là một bước đi tiếp theo mang tính logic và tính hệ thống của hoạt động xây dựng pháp luật ở nước ta. Việc xây dựng thể chế pháp luật liên quan đến hình thức hoà giải cần đáp ứng các yêu cầu như : Có các biện pháp khuyến khích các bên tự giải quyết tranh chấp trước hết bằng con đường hòa giải; Cần có quy định chặt chẽ về trình tự, thủ tục hoà giải tranh chấp thương mại như một quy trình tố tụng và có chế tài đảm bảo tính hiệu lực của biên bản hoà giải trên cơ sở nghiên cứu, tham khảo những bộ quy tắc hòa giải hiện đại và được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn giải quyết tranh chấp thương mại như Quy tắc hòa giải của UNCITRAL, ICC, ICSID, đặc biệt là Bộ Quy tắc hòa giải của UNCITRAL được Đại hội đồng Liên hiệp quốc giới thiệu tháng 12.1980. Đồng thời, cần tổ chức mạng lưới các trung tâm hòa giải thương mại và hình thành, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ hòa giải viên; xây dựng các bộ quy tắc về hòa giải.

3.1.2. Đổi mới chính sách hình sự phục vụ đấu tranh với các nhóm tội phạm xâm phạm sở hữu, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và tội phạm về chức vụ

Nghị quyết số 08/NQ-TW và Nghị quyết số 49/NQ-TW của Bộ Chính trị đã đề ra những luận điểm, chủ trương làm cơ sở tư tưởng chính trị để đổi mới của chính sách hình sự nói chung, trong đó có lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm kinh tế, trong giai đoạn hiện nay đến năm 2020. Thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự để đấu tranh với tội phạm kinh tế và tội phạm chức vụ cũng đã cho thấy sự bất cập trong quy định về cấu thành của một số tội phạm về sở hữu, môi trường, tội phạm liên quan đến công nghệ cao vì chưa phản ánh đúng tình hình và phương thức, thủ đoạn hoạt động phạm tội, gây khó khăn cho công tác phòng ngừa, phát hiện, xử lý; sự lạc hậu của các quy định về định lượng làm cơ sở truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một số tội chiếm đoạt tài sản, tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và một số tội phạm khác có liên quan đến tài sản, cũng như mức phạt tiền quy định trong các hình phạt tiền đối với các tội xâm phạm quyền tác giả, tội xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đã không còn phù hợp với giá cả thị trường. Nhiều hành vi vi phạm trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, chứng khoán, tài chính – kế toán, sở hữu trí tuệ… chưa được tội phạm hóa. BLHS Việt Nam hiện hành xây dựng các khái niệm quan trọng như: “Lừa đảo chiếm đoạt”; “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt”; “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”; “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” (ở một số tội phạm thường xảy ra tại các Điều 139, 140, 165, 278, 279… BLHS) một cách quá chung chung dẫn đến việc hiểu khác nhau và khó khăn khi áp dụng luật. Ranh giới giữa vi phạm pháp luật hình sự và vi phạm quan hệ thương mại rất mong manh, dễ nhầm lẫn và dễ dấn đến áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp thương mại không đúng,dẫn đến oan sai. Khái niệm tội phạm trong BLHS với những chế tài tùy nghi với dải phân cách rộng có thể thuận lợi cho người áp dụng pháp luật nhưng đồng thời cũng tạo nguy cơ cao của sự tùy tiện, theo xu hướng cố ý áp dụng sai trái để vụ lợi bằng việc quá lạm dụng pháp luật hình sự hoặc biến báo các hành vi của đối tượng. Những quy định có tính trừu tượng cao, ít tính định lượng, như hành vi: “Cố ý làm trái”, “thiếu tinh thần trách nhiệm”, … là những quy định dễ làm phát sinh việc áp dụng pháp luật hình sự có mục đích vụ lợi đối với quan hệ thương mại ở các giai đoạn khác nhau của quá trình tố tụng của người tiến hàng tố tụng. Ngoài ra, thực tế cho thấy trong hoạt động thương mại có không ít hành vi tại thời điểm xem xét có thể là tiêu cực, cho là “cố ý làm trái” nhưng xét về lâu dài lại có ý nghĩa tích cực. Những loại hành vi này cần được phải được đưa ra khỏi BLHS hoặc nếu còn thì nhất thiết không áp dụng những hình phạt tử hình, chung thân, hạn chế tối đa tù có thời hạn, một mặt thể hiện tính chất nhân đạo, hướng thiện của pháp luật hình sự Việt Nam, đồng thời loại trừ khả năng oan, sai, nhất là trong điều kiện chúng ta chưa có đủ kiến thức, phương tiện, công nghệ để kiểm chứng. Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại.

Chính sách hình sự của chúng ta trên lĩnh vực đấu tranh với tội phạm kinh tế cần có định hướng phi hình sự hoá những hành vi mặc dầu có đủ các dấu hiệu hành vi phạm tội hình sự, nhưng lại có tác dụng làm gia tăng sự năng động của cơ chế, khai thác mạnh các khả năng nguồn lực của mỗi chủ thể phục vụ cho phát triển, giải phóng năng lực tiềm tàng trong đội ngũ nhân lực của các cơ quan, doanh nghiệp. Theo hướng này cần xem xét phi hình sự hoá loại hành vi “cố ý làm trái” trong BLHS hiện hành nếu không có yếu tố chiếm đoạt. Bởi vì trong cách quy định cấu thành tội phạm này các dấu hiệu “cố ý làm trái” và “hậu quả nghiêm trọng” đều mang tính ước lượng rất cao, ít tính cụ thể. Nếu cần thiết, phải định hình rõ những hành vi nào, hoàn cảnh cụ thể, trách nhiệm pháp lý trực tiếp, cụ thể trong những hoàn cảnh đó để xác định trách nhiệm hình sự. Xử lý điểm này để khắc phục tình trạng thực tế nhiều khi các cơ quan tiến hành tố tụng không chứng minh được hành vi của bị can, bị cáo, không xác định được mối liên hệ nhân quả trực tiếp giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm xã hội mà vẫn có thể xử lý hình sự, dẫn đến khả năng oan sai gia tăng; báo chí, dư luận xã hội bức xúc [29].

3.2. Giải pháp tăng cường công tác giải thích và hướng dẫn áp dụng pháp luật

Giải thích pháp luật (Legal Interpretation) được hiểu là “làm rõ tinh thần, nội dung của một văn bản pháp luật” [34].

Việc giải thích pháp luật là vấn đề rất quan trọng, đảm bảo pháp luật được thực thi và bảo đảm bằng quyền lực nhà nước. Hệ thống VBQPPL hiện hành mới chỉ quy định về giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh mà chưa có các quy định về giải thích pháp luật, dẫn đến tình trạng đánh đồng hoạt động quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật của Chính phủ với việc giải thích pháp luật. Việc quy định UBTVQH là chủ thể duy nhất có thẩm quyền giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh là chưa hợp lý, đặc biệt về giải thích Hiến pháp và giải thích luật. Quy trình, thủ tục trong hoạt động giải thích còn chưa cụ thể, thiếu chi tiết. Các nội dung cơ bản và yêu cầu của đề nghị giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh chưa được quy định cụ thể làm căn cứ cho hoạt động xử lý đề nghị. Do vậy, thời gian tới, cần có quy định về việc giải thích pháp luật thay vì chỉ quy định việc giải thích Hiến pháp, luật, pháp luật như hiện nay để khắc phục tình trạng không nhất quán trong việc giải thích các văn bản quy phạm pháp luật khác hay đánh đồng giữa việc Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các văn bản quy phạm pháp luật với việc giải thích pháp luật. Ngoài ra, cần có sự phân định về thẩm quyền giữa các chủ thể trong việc giải thích pháp luật theo hướng trao một phần thẩm quyền giải thích pháp luật cho hệ thống toà án. Nguyên tắc hoạt động của TAND là khách quan và khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật [13, Điều 126, 130]. Do vậy, nếu Toà án giải thích pháp luật sẽ bảo đảm tính khách quan hơn. TAND tối cao phải là cơ quan hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật thông qua khảo sát, nghiên cứu tổng kết thực tiễn, đổi mới tư duy nâng cao chất lượng của các văn bản giải thích, hướng dẫn góp phần bảo đảm sự thống nhất của pháp luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các nội dung giải thích phải được ghi trong các văn bản có liên quan, đặc biệt nội dung giải thích chính thức phải được thể hiện trong bản án, quyết định giải quyết vụ việc đó. Giá trị pháp lý của nội dung giải thích chính là giá trị pháp lý của quyết định, bản án được tuyên [30].

3.3. Giải pháp tăng cường năng lực của cán bộ tư pháp và bổ trợ tư pháp Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại.

3.3.1. Tăng cường năng lực của cán bộ tư pháp

Nghị quyết số 08-NQ/TW và Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, đưa ra các yêu cầu đối với công tác cán bộ tư pháp. Cùng với việc hoàn thiện về thể chế, nâng cao ý thức pháp luật thì việc xây dựng đội ngũ những người tiến hành tố tụng là yếu tố quyết định tới việc khắc phục tình trạng oan sai nói chung và trong lĩnh vực án kinh tế nói riêng. Hiện nay, năng lực cán bộ tư pháp còn hạn chế do đội ngũ cán bộ tiến hành tố tụng hiện nay có thể nói còn mỏng về số lượng và chất lượng ở một số nơi cũng chưa đạt yêu cầu. Do vậy, cần nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án bằng việc thường xuyên nâng cao lý luận chính trị, trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức cho Thẩm phán – lực lượng chủ yếu hoạt động áp dụng pháp luật, xây dựng và phát triển đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân đủ về số lượng, bảo đảm về chất lượng, đồng thời tăng cường đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ Thư ký, Thẩm tra viên, chuyên viên nhằm bảo đảm nguồn nhân lực sẵn sàng cho điều kiện mới. Đồng thời nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Kiểm sát viên cũng như trách nhiệm của Kiểm sát viên trong quá trình nghiên cứu hồ sơ, chuẩn bị tham gia phiên tòa, kỹ năng, bản lĩnh chính trị; đồng thời đưa ra những kiến nghị đề xuất về việc hoàn thiện những quy định pháp luật liên quan đến hoạt động tranh tụng tại phiên tòa. Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp, nhất là cán bộ có chức danh tư pháp, theo hướng đề cao quyền hạn, trách nhiệm pháp lý, nâng cao và cụ thể hóa tiêu chuẩn về chính trị, phẩm chất, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm, kiến thức xã hội đối với từng loại cán bộ; thực hiện chế độ thi tuyển đối với một số chức danh tư pháp như : Thẩm phán, Kiểm sát viên, Chấp hành viên…

3.3.2. Hoàn thiện các chế định về bổ trợ tư pháp cũng như xây dựng đội ngũ những người bổ trợ cho hoạt động tư pháp

Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra chủ trương tiếp tục đổi mới nội dung, phương pháp đào tạo cán bộ nguồn của các chức danh tư pháp, bổ trợ tư pháp; bồi dưỡng cán bộ tư pháp, bổ trợ tư pháp. Để đảm bảo yêu cầu của tiến trình đẩy mạnh quá trình cải cách tư pháp, cần chú trọng việc đào tạo, phát triển đội ngũ luật sư đủ về số lượng, có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ chuyên môn đồng thời hoàn thiện cơ chế bảo đảm để luật sư thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên tòa, đồng thời xác định rõ chế độ trách nhiệm đối với luật sư. Hoàn thiện chế định giám định tư pháp. Nhà nước cần đầu tư cho một số lĩnh vực giám định tư pháp như: Giám định gen, giám định tài chính… Hoàn thiện các quy định pháp luật về việc xây dựng lực lượng cảnh sát hỗ trợ tư pháp chính quy, đáp ứng kịp thời cho hoạt động xét xử, thi hành án…

3.4. Các giải pháp khác hạn chế áp dụng pháp luật hình sự trong giải quyết các tranh chấp thương mại Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại.

Bên cạnh các giải pháp đã nêu ra ở các phần trên, thấy cần bổ sung một số giải pháp để khắc phục những tồn tại gây ra hậu quả này, đảm bảo không làm oan người vô tội nhưng cũng không bỏ lọt tội phạm, bao gồm các nội dung sau :

Quy định cụ thể “nguyên tắc suy đoán vô tội” trong BLTTHS. Tại Điều 9 và Điều 10 BLTTHS năm 2003 không quy định tên gọi “nguyên tắc suy đoán vô tội” mà tách thành hai điều luật và có sự mâu thuẩn. Trong khi Điều 9 BLTTHS thể hiện tương đối gần với nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội, tức là nguyên tắc trọng chứng cứ, thì Điều 10 BLTTHS lại thể hiện với tên gọi của nó là: “Xác định sự thật khách quan của vụ án”, tức là có thể chứng cứ yếu nhưng nếu đúng là sự thật khách quan thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải có trách nhiệm bổ sung chứng cứ đến cùng để kết tội. Điều này vô hình chung khẳng định việc pháp luật tố tụng hình sự của chúng ta tôn trọng sự thật khách quan hơn là công nhận những chứng cứ có thể làm cho sự thật khách quan không thể chứng minh được [6, Điều 9, 10]. Do vậy, cần có sửa đổi, bổ sung BLTTHS theo hướng quy định một điều luật với tên gọi đầy đủ: “Nguyên tắc suy đoán vô tội”.

Cơ chế, trách nhiệm bồi thường oan sai trong tố tụng nói riêng và bồi thường nhà nước nói chung. Bồi thường nhà nước là sản phẩm của xã hội dân chủ và phải được nhìn nhận từ góc độ các nguyên tắc cơ bản của pháp quyền.

Luật trách nhiệm bồi thường nhà nước năm 2009 quy định chi tiết về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án; thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại; quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại; kinh phí bồi thường và trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại [27]. Tuy nhiên tại Điều 26 luật này quy định về: “Phạm vi trách nhiệm bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự” có sự hạn chế đối với chủ thể bị thiệt hại. Cụ thể, điều luật chỉ quy định bồi thường trực tiếp đối với người trực tiếp bị thiệt hại do hành trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra nhưng không quy định bồi thường đối với các chủ thể bị thiệt hại gián tiếp do hành vi đó gây ra. Do vậy, cần có việc nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung luật này cho phù hợp.

Đối với các chủ thể thực hiện các hoạt động thương mại, cần chủ động phòng tránh việc bị áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp bằng cách sử dụng tư vấn pháp lý (chuyên viên/nhân viên pháp chế doanh nghiệp, luật sư…) trong hoạt động kinh doanh thương mại, nhằm hạn chế các rủi ro cho bản thân và doanh nghiệp mình. Đồng thời, cần nghiên cứu thống nhất sử dụng cách thức trọng tài thương mại để giải quyết nhanh gọn tranh chấp. Hạn chế tối đa sự việc từ bé xé ra to, và các quyết định tài phán của trọng tài là chung thẩm vì thế nó mang tính chất công bằng và đảm bảo được những bí mật trong kinh doanh thương mại.

KẾT LUẬN Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại.

Việc áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp thương mại hiện tượng tiêu cực trong đời sống pháp lý ở nước ta hiện nay. Nó có thể biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau và với những mức độ khác nhau. Song có thể thấy việc áp dụng pháp luật hình sự hình sự đối với các tranh chấp thương mại tập trung chủ yếu ở các tội có yếu tố chiếm đoạt tài sản. Qua những dạng và những vụ việc cụ thể cho thấy vấn đề đó xuất phát từ nhiều lý do khác nhau, song có những nguyên nhân căn bản thuộc về thể chế, thuộc về yếu tố con người mà chủ yếu từ phía những người tiến hành tố tụng. Việc áp dụng pháp luật hình sự để giải quyết tranh chấp thương mại là một hiện tượng để lại những hậu quả xấu cho đời sống kinh tế, cho môi trường đầu tư, cho cộng đồng doanh nghiệp và trên hết là niềm tin của người dân, của doanh nghiệp đối với nền tư pháp bị giảm sút và tạo ra những hệ lụy khó giải quyết. Do vậy, việc hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, các thể chế đóng vai trò quan trọng nhằm hạn chế vấn đề này.

Trong những năm qua, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, chỉ đạo công tác phòng chống vi phạm pháp luật, coi đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng, xuyên suốt cả tiến trình xây dựng và phát triển đất nước. Đối với riêng thành phố Đà Nẵng, Thành uỷ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân có nhiều chương trình, kế hoạch đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm pháp luật nói chung và đẩy mạnh công tác chống oan sai. Cùng với các cấp các ngành trong hệ thống chính trị, Viện Kiểm sát nhân dân, Toà án nhân dân, Cơ quan cảnh sát điều tra đã có nhiều nổ lực, sáng tạo trong tham mưu, áp dụng các biện pháp nghiệp vụ, phối hợp với các cấp, các ngành để cùng thực hiện tốt công tác này. Những kết quả đạt được trên mặt trận đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật nói chung, vi phạm pháp luật của người làm luật nói riêng đã góp phần quan trọng làm cho an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được ổn định, tạo thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội của thành phố Đà Nẵng. Luận văn: Pháp luật hình sự về giải quyết tranh chấp thương mại.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Pháp luật Việt Nam về công ty hợp danh

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *