Luận văn: Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản của các ngân hàng

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản của các ngân hàng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại việt nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT

Tiêu đề: Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại việt nam

Tóm tắt:

Nghiên cứu này nhằm đánh giá mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu, trong đó, tập trung đánh giá tác động một chiều của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả kinh doanh. Dữ liệu thứ cấp trong nghiên cứu được thu thập từ 25 NHTM trong giai đoạn 2013 – 2023. Thông qua hai thước đo hiệu quả là khả năng sinh lời trên tổng tài sản ROA và tỷ lệ thu nhập lãi biên NIM, biến độc lập chính trong nghiên cứu là tỷ lệ tài sản thanh khoản LIQ và các biến kiểm soát gồm các biến phản ánh đặc điểm ngân hàng và môi trường vĩ mô. Sử dụng phương pháp hồi quy dữ liệu bảng, sau khi thực hiện lựa chọn, kiểm định mô hình, kết quả mô hình FGLS được sử dụng để kiểm định giả thuyết nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy LIQ cho thấy ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đến cả ROA và NIM. Điều này phản ánh rằng các ngân hàng có khả năng thanh khoản tốt sẽ duy trì được hoạt động kinh doanh ổn định và tạo ra lợi nhuận cao hơn. Kết quả này phù hợp với lý thuyết quản trị thanh khoản và các nghiên cứu trước như Shen và cộng sự (2009), Nguyễn Đăng Khoa và cộng sự (2023). Nói cách khác, hai giả thuyết nghiên cứu của đề tài đều được chấp nhận.

Kết quả nghiên cứu cung cấp cái nhìn toàn diện về các nhân tố tác động đến HQKD của NHTM tại Việt Nam. Đây là cơ sở quan trọng để đề án đề xuất hàm ý quản trị cho các nhà quản lý và các nhà hoạch định chính sách nhằm góp phần nâng cao HQKD của các NHTM tại Việt Nam Luận văn: Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản của các ngân hàng.

Từ khóa: Rủi ro thanh khoản, hiệu quả kinh doanh, ngân hàng thương mại.

ABSTRACT

Title: Relationship between liquidity risk and business performance of vietnamese commercial banks

Abstract:

This study aims to assess the relationship between liquidity risk and business performance of Vietnamese commercial banks during the research period, focusing on the unidirectional impact of liquidity risk on business performance. Secondary data was collected from 25 commercial banks during the period 2013-2023. Using two performance measures, return on assets (ROA) and net interest margin (NIM), the main independent variable in the study is the liquidity ratio (LIQ), and control variables include variables reflecting bank characteristics and the macroeconomic environment. Employing the panel data regression method after model selection and testing, the results of the FGLS model are used to test the research hypothesis. The research results show that LIQ has a positive and statistically significant impact on both ROA and NIM. This reflects that banks with good liquidity can maintain stable operations and generate higher profits. This result is consistent with corporate governance theory and previous studies such as Shen et al. (2009), and Nguyen Dang Khoa et al. (2023). In other words, both research hypotheses of the thesis are accepted. The research results provide a comprehensive view of the factors affecting the business performance of commercial banks in Vietnam. This is an important basis for the project to propose management implications for managers and policymakers to contribute to improving the business performance of commercial banks in Vietnam.

Keywords:

Liquidity risk, business performance, commercial bank.

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

NHTM là trung gian tài chính cung cấp đa dạng nhất các dịch vụ tài chính – tiền tệ với mục đích lợi nhuận. Trong quá trình cung cấp dịch vụ tài chính, các NHTM phải đối mặt với nhiều loại rủi ro khác nhau, ảnh hưởng nghiêm trọng đến HQKD của NHTM. Theo BIS (2008), rủi ro của NHTM có thể chia thành rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động và rủi ro thanh khoản. Với đặc điểm bảng cân đối kế toán của NHTM là tài sản có tính thanh khoản kém hơn nhiều so với nghĩa vụ nợ ở phần nguồn vốn nên các NHTM phải thường xuyên đối với mặt RRTK. RRTK xảy ra khi NHTM không có đủ tài sản có tính thanh khoản cao để thực hiện các nghĩa vụ chi trả hoặc/và giải ngân mà NHTM đã cam kết với khách hàng. Khi RRTK xảy ra, NHTM chịu nhiều ảnh hưởng tiêu cực như gây mất niềm tin trong công chúng, sụt giảm các giao dịch và nếu không xử lý tốt, có thể gây ra sụp đổ NHTM. RRTK được coi là một trong những rủi ro nguy hiểm nhất trong lĩnh vực NHTM. Không chỉ đe dọa đến sự ổn định của từng NHTM riêng lẻ, rủi ro này còn có thể gây ra hiệu ứng domino, ảnh hưởng đến sự an toàn của toàn bộ hệ thống tài chính (Eichberger và Summer, 2005). Do đó, mối quan hệ giữa RRTK và HQKD của NHTM luôn là một trong những chủ đề thu hút nhiều nhà nghiên cứu và các nhà quản trị NHTM quan tâm. Luận văn: Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản của các ngân hàng.

Xét ở góc độ học thuật, mối quan hệ giữa RRTK và HQKD thường tập trung đánh giá tác động một chiều của RRTK đến HQKD của NHTM. Cơ sở lý thuyết tạo nền tảng để nghiên cứu tác động này chính là Lý thuyết Giả thuyết Quyền Lực Thị Trường và lý thuyết cấu trúc hiệu quả. Tuy nhiên, tác động của RRTK đến HQKD của NHTM không hoàn toàn thống nhất trong các nghiên cứu mà phụ thuộc vào đặc điểm mẫu nghiên cứu như quốc gia, thời gian. Một số nghiên cứu cho thấy mối tương quan dương giữa RRTK và HQHĐKD ngân hàng ở khu vực Châu Phi (Sayedi, 2014; Aburime, 2009;  Ajibike  và  Aremu,  2015; Alshatti, 2015), ở khu vực Châu Á (Wasiuzzaman và Tarmizi, 2010; Arif và Nauman Anees, 2012; Shen và cộng sự, 2009), ở khu vực Châu Âu (Poposka and Trpkoski,   2013;   Goddard,   Molyneux   và   Wilson,   2004;   Kosmidou,   Tanna   và Pasiouras,  2005). Một số nghiên cứu cho thấy mối quan hệ tiêu cực giữa RRTK và HQHĐKD như Abdelaziz  Hakimi  và  Khemais Zaghdoudi  (2016)  về  “Rủi  ro thanh  khoản  và  hiệu  quả  hoạt động  của  ngân  hàng:  Mô  hình thực  nghiệm  đối  với  các  ngân hàng Tunisia” của  10  ngân  hàng tại Tunisia trong giai đoạn 1990 – 2013; nghiên cứu  của Aulia Imani và Antyo Pracoyo (2018) về “Phân tích ảnh hưởng của vốn, rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản đến khả năng sinh lời của ngân hàng” của 08 NHTM tại Indonesia giai  đoạn  2011 – 2015. Tuy nhiên, rủi ro thanh khoản, rủi ro tín  dụng, quy mô ngân hàng, khủng hoảng tài chính quốc tế, tỉ lệ lạm phát có tác động ngược chiều với hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại châu Á (Lee và Kim, 2013) và châu Phi (Bassey & Moses, 2015).

Đáng chú ý hơn, một số nghiên cứu như Sufian và Chong, 2008; Roman và Sargu, 2015;  Alper  và  Anbar,  2011;  Almumani,  2013;  Ayaydin  và  Karakaya,  2014; Naceur và Kandil, 2009; Ferrouhi, 2014 chưa tìm thấy mối quan hệ giữa RRTK và HQHĐKD ngân hàng hoặc mối quan hệ này có ý nghĩa nhưng chiều hướng tác động phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và mô hình sử dụng nghiên cứu. Điều này cho thấy những nghiên cứu mang tính cập nhật gần đây sẽ tối ưu hóa hiệu quả quản lý trong việc đánh giá khách quan tác động của RRTK đến HQKD của NHTM.

Ở góc độ thực tiễn, tại Việt Nam, đang có sự phân hóa sâu sắc giữa các nhóm NHTM về khả năng thanh khoản. Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm tăng cường quản lý RRTK, bao gồm Thông tư 22/2019/TT-NHNN về giới hạn tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi không vượt quá 85%. Tuy nhiên, nhiều ngân hàng vẫn ghi nhận tỷ lệ thanh khoản vượt mức này, gây ra rủi ro cao cho hệ thống.

Theo số liệu của Nguyễn Đăng Khoa và cộng sự (2023), tính đến giữa năm 2022, nhiều ngân hàng có tỷ lệ thanh khoản vượt 100%, tiêu biểu như Techcombank (108%), SeABank (105,85%) và VPBank (102%). Những con số này cho thấy áp lực lớn trong việc duy trì thanh khoản trong bối cảnh kinh tế không ổn định. Điều này không chỉ gia tăng rủi ro của mỗi ngân hàng mà còn có thể gây ảnh hưởng đến HQKD của NHTM. Do đó, cần có nghiên cứu thực nghiệm nhằm định lượng tác động của RRTK đến HQKD của các NHTM trong thời gian qua.

Từ bối cảnh khoa học và thực tiễn, đề tài “Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam” làm đề án tốt nghiệp nhằm kiểm định tác động của RRTK đến HQKD của các NHTM Việt Nam, từ đó, đưa ra một số đề xuất nhằm góp phần nâng cao HQKD của các NHTM Việt Nam trong thời gian sắp tới – khi nền kinh tế đang dần hồi phục nhưng tốc độ tăng trưởng chậm.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản của các ngân hàng.

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 

Mục tiêu tổng quát của đề tài này nghiên cứu tác động của RRTK đến HQKD của ngân hàng bên cạnh các yếu tố kiểm soát, từ đó, đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao HQKD của các NHTM Việt Nam.

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Nghiên cứu hướng đến 3 mục tiêu cụ thể như sau:

  • Xác định chiều hướng tác động của RRTK đến HQKD của các NHTM Việt Nam.
  • Đánh giá mức độ tác động của RRTK đến HQKD của các NHTM Việt Nam.
  • Đề xuất kiến nghị nhằm giúp NHTM nâng cao HQKD thông qua RRTK trong thời gian tới.

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Từ mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài đưa ra các câu hỏi nghiên cứu như sau:

  • Câu 1: Chiều hướng và mức độ tác động của RRTK ảnh hưởng đến HQKD của các NHTM Việt Nam?
  • Câu 2: Dựa trên kết quả đạt được từ mô hình nghiên cứu sẽ đưa ra hàm ý quản trị phù hợp để nâng cao HQKD của các NHTM Việt Nam?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Đề án đánh giá mối quan hệ giữa RRTK và HQKD tại các NHTM Việt Nam, trong đó, tập trung chủ yếu vào đánh giá tác động một chiều của RRTK đến HQKD của các NHTM Việt Nam.

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu Luận văn: Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản của các ngân hàng.

Phạm vi nội dung: Chủ đề của đề án là mối quan hệ giữa RRTK và HQKD của các NHTM Việt Nam. Trong phạm vi nghiên cứu của đề án, tác giả tập trung đánh giá tác động một chiều của RRTK đến HQKD của các NHTM Việt Nam. Sau khi tiến hành tổng quan các nghiên cứu trước đây, tác giả nhận thấy rằng phần lớn các công trình nghiên cứu tập trung vào việc khám phá chiều hướng mà RRTK tác động đến HQKD của NH. Một số nghiên cứu nổi bật trong lĩnh vực này có thể kể đến như nghiên cứu của Sufian và Chong (2008), trong đó hai tác giả đã phân tích mối liên hệ giữa RRTK và hiệu suất của ngân hàng tại khu vực Đông Nam Á. Sayedi (2014) cũng thực hiện một nghiên cứu tương tự nhưng tập trung vào các ngân hàng tại khu vực Trung Đông. Kết luận này cũng phù hợp với đánh giá của Trần Thị Thanh Nga (2018) bởi RRTK được đánh giá ở góc độ lý thuyết là nhân tố có tác động đến HQKD của NHTM.

Phạm vi về không gian: Đề án tập trung thu thập dữ liệu từ báo cáo tài chính của 24 NHTM cổ phần của Việt Nam nhằm đảm bảo tính đầy đủ của dữ liệu trong giai đoạn nghiên cứu. Đồng thời, các dữ liệu vĩ mô được thu thập từ Tổng cục thống kê nhằm đảm bảo tính tin cậy của dữ liệu.

Phạm vi về thời gian: Đề án thu thập dữ liệu nghiên cứu từ 2013 – 2023 nhằm đảm bảo tính cập nhật của dữ liệu nghiên cứu cũng như đảm bảo dữ liệu đầy đủ nhất.

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng. Đối với dữ liệu nghiên cứu, đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả để làm rõ đặc điểm của dữ liệu nghiên cứu. Nghiên cứu sử dụng Stata phiên bản 22.0 để thực hiện các nội dung nghiên cứu định lượng. Cụ thể, các phương pháp hồi quy dữ liệu bảng trong đề án là phương pháp OLS, FEM, REM và FGLS để lựa chọn mô hình phù hợp với dữ liệu và đảm bảo mô hình không bị khuyết tật phương sai sai số thay đổi và tự tương quan.

1.6 Nội dung nghiên cứu

Đề tài được thực hiện nhằm đánh giá mối quan hệ của RRTK và HQKD, trong đó tập trung vào đánh giá tác động một chiều của RRTK đến HQKD của các NHTM Việt Nam. Ngoài nhân tố chính là RRKT, đề án dựa trên lý thuyết và lược khảo nghiên cứu trước để tạo ra mô hình với các biến kiểm soát. Trong đó, biến kiểm soát phản ánh đặc trưng ngân hàng gồm tỷ lệ an toàn vốn, quy mô, chất lượng tài sản. Nhóm biến phản ánh đặc điểm của kinh tế vĩ mô gồm tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát. Dựa trên dữ liệu thứ cấp và phương pháp hồi quy dành cho dữ liệu bảng, tác giả thực hiện đánh giá tác động của RRTK đến HQKD của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu. Dựa trên kết quả, đề tài đề xuất kiến nghị dành cho các nhà quản trị, các cơ quan quản lý nâng cao HQKD của các NHTM trong thời gian tới.

1.7 Đóng góp của đề tài Luận văn: Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản của các ngân hàng.

Đề án mang ý nghĩa về mặt thực tiễn nhằm hỗ trợ các chủ thể ra quyết định hoặc quản lý trong lĩnh vực ngân hàng có thêm bằng chứng thực nghiệm về tác động của RRTK đến HQKD của các NHTM Việt Nam. Đề án mang ý nghĩa quan trọng về mặt thực tiễn khi tập trung cung cấp những bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa RRTK và HQKD của các NHTM tại Việt Nam. Trong bối cảnh môi trường tài chính ngày càng phức tạp và đầy biến động, việc quản lý RRTK trở thành yếu tố cốt lõi để duy trì sự ổn định và tăng trưởng bền vững của hệ thống ngân hàng. Đề án không chỉ góp phần làm sáng tỏ các cơ chế tác động của RRTK đến HQKD mà còn cung cấp các dữ liệu thực nghiệm cụ thể, từ đó hỗ trợ các nhà quản lý ngân hàng và các nhà hoạch định chính sách đưa ra những quyết định hiệu quả hơn.

Bên cạnh đó, việc phân tích thực nghiệm tác động của RRTK giúp các nhà quản lý ngân hàng hiểu rõ hơn về các yếu tố có thể làm suy giảm hiệu quả hoạt động, từ đó xây dựng các chiến lược phòng ngừa và ứng phó thích hợp. Các bằng chứng được trình bày trong đề án cũng có thể được sử dụng làm cơ sở để điều chỉnh các quy định và tiêu chuẩn về thanh khoản, góp phần nâng cao năng lực quản trị rủi ro trong các NHTM. Đặc biệt, trong bối cảnh các cú sốc kinh tế như đại dịch COVID-19 hay khủng hoảng tài chính toàn cầu, những kết luận từ đề án có thể hỗ trợ các ngân hàng đánh giá và tối ưu hóa hiệu quả kinh doanh trong điều kiện thanh khoản khó khăn.

Hơn nữa, đề án còn mang lại giá trị cho các nhà đầu tư và khách hàng, giúp họ hiểu rõ hơn về tính an toàn và hiệu quả hoạt động của các NHTM. Điều này không chỉ thúc đẩy lòng tin vào hệ thống ngân hàng mà còn góp phần cải thiện sự minh bạch và ổn định của toàn bộ nền kinh tế Việt Nam.

1.8 Bố cục của đề tài

Đề án có bố cục 5 chương với tiêu đề và nội dung cơ bản của các chương như sau:

Chương 1: Giới thiệu tổng quan về nghiên cứu

Chương này trình bày bối cảnh, lý do thực hiện nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu. Đồng thời, các câu hỏi nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu được xác định để định hướng rõ ràng cho toàn bộ đề án.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước

Nội dung chương này cung cấp nền tảng lý thuyết về RRTK và HQKD, đồng thời tổng hợp các công trình nghiên cứu trước đây trên thế giới và tại Việt Nam liên quan đến chủ đề. Từ đó, xây dựng khung lý thuyết và định hình các giả thuyết nghiên cứu.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu 

Chương này mô tả chi tiết các phương pháp nghiên cứu được áp dụng, bao gồm mô hình phân tích, công cụ thống kê và kỹ thuật xử lý dữ liệu. Nguồn dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu cũng được trình bày, đảm bảo tính minh bạch và khoa học.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Luận văn: Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản của các ngân hàng.

Chương này tập trung trình bày các kết quả phân tích thực nghiệm, thảo luận về ý nghĩa của chúng trong bối cảnh quản trị rủi ro thanh khoản và quản lý hiệu quả kinh doanh của các NHTM tại Việt Nam.

Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị

Chương cuối cùng tổng kết các phát hiện chính, kết luận, và hàm ý quản trị thực tiễn nhằm cải thiện quản trị RRTK, nâng cao hiệu quả kinh doanh trong ngành ngân hàng Việt Nam.

Kết luận chương 1

Chương 1 đã trình bày tính cấp thiết của đề tài ở góc độ khoa học và thực tiễn về việc nghiên cứu chủ đề mối quan hệ giữa RRTK và HQKD tại các NHTM Việt Nam. Đồng thời, chương này cũng đã nêu mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu cũng như đối tượng và phạm vi của đề tài. Thông qua giới thiệu ngắn gọn nội dung nghiên cứu, chương 1 đã trình bày những đóng góp của đề tài, đặc biệt dưới góc độ thực tiễn và bố cục của đề tài.

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU TRƯỚC 

2.1. Rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại 

2.1.1. Định nghĩa rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại

2.1.1.1 Định nghĩa thanh khoản của ngân hàng thương mại

Thanh khoản là một khái niệm phổ biến và có hai hướng tiếp cận cốt lõi trong lĩnh vực tài chính ngân hàng, trong đó có khái niệm thanh khoản của tài sản và thanh khoản của ngân hàng.

Brunnermeier & Pedersen (2008) đã đưa ra định nghĩa thanh khoản thị trường (market  liquidity) và thanh khoản nguồn vốn (funding  liquidity), theo đó thanh khoản thị trường của tài sản là sự dễ dàng mà một tài sản được giao dịch và thanh khoản nguồn vốn là sự dễ dàng có thể đạt được nguồn vốn từ bên ngoài nhanh chóng. Nghiên  cứu của  Ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB, 2009) đã định nghĩa thanh  khoản  thị trường là khả năng tài sản được giao dịch với thời gian ngắn, chi phí thấp và ít phát sinh yếu tố ảnh hưởng đến giá trị của nó. Đó là sự kết hợp chặt chẽ của ba yếu tố khối lượng, thời gian và chi phí giao dịch. Đồng thời ECB cũng đề cập đến khái niệm thanh khoản nguồn vốn là  khả năng của ngân hàng đáp ứng nghĩa vụ nợ khi đến hạn, khi đó dòng tiền vào lớn hơn hoặc bằng dòng tiền ra.Từ những khái  niệm trên cho thấy tính thanh khoản được tiếp cận theo hai hướng: dựa trên tài sản (thanh khoản thị trường) và nguồn vốn (thanh khoản nguồn vốn).

Một định nghĩa nghĩa đơn giản hơn của Nguyễn Đức Trung và Lê Hà Diễm Chi, 2024 cho rằng tính thanh khoản của tài sản đề cập đến khả năng mua bán tài sản một cách nhanh chóng với giá trị gần như không đổi. Các tài sản có tính thanh khoản cao như tiền mặt, chứng khoán chính phủ, hoặc các cổ phiếu có thanh khoản cao trên thị trường đều dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt mà không làm giảm giá trị. Ngược lại, tài sản như bất động sản hay máy móc thường có tính thanh khoản thấp do thời gian giao dịch kéo dài hoặc giá trị bị giảm sút trong quá trình chuyển đổi. Tính thanh khoản của tài sản phụ thuộc vào đặc điểm thị trường, mức độ phổ biến của tài sản và chi phí giao dịch. Luận văn: Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản của các ngân hàng.

Trong khi đó, thanh khoản của ngân hàng liên quan đến khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn, như thanh toán tiền gửi của khách hàng hoặc giải ngân tín dụng. Thanh khoản của ngân hàng phụ thuộc vào mức độ sẵn sàng của các nguồn tiền ngắn hạn như tiền gửi của khách hàng, tài sản có tính thanh khoản cao, và khả năng tiếp cận nguồn vốn từ các tổ chức tài chính khác. Một ngân hàng thiếu thanh khoản có thể gặp khủng hoảng, dẫn đến nguy cơ phá sản và ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống tài chính (Nguyễn Đức Trung và Lê Hà Diễm Chi, 2024). Như vậy, thanh khoản của ngân hàng là một khái niệm tổng hợp, phản ánh khả năng quản lý tài sản và nợ của ngân hàng để đảm bảo dòng tiền. Nó không chỉ phụ thuộc vào tài sản có tính thanh khoản cao mà còn vào khả năng vay mượn ngắn hạn, sự ổn định của cơ cấu vốn và lòng tin của khách hàng.

2.1.1.2 Định nghĩa rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại

Thanh khoản là một trong những yếu tố quyết định sự an toàn của bất kì một ngân hàng thương mại (NHTM) nào và có thể ảnh hưởng đến rủi ro và sự bất ổn cho ngân hàng. Khả năng thanh khoản được thực sự chú trọng khi cuộc khủng hoảng tại Mỹ nổ ra vào năm 2008 các khoản nợ xấu làm cho các ngân hàng ngày càng thua lỗ nặng, tình hình thanh khoản tại các NHTM Mỹ cũng xấu đi. Nhiều ngân hàng phải tiến hành sáp nhập thậm chí là tuyên bố phá sản vì không đủ khả năng thanh khoản. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình hoạt động của các NHTM Mỹ buộc chính phủ Mỹ phải can thiệp với quy mô lớn chưa từng có, để tránh sự sụp đổ của hệ thống tài chính. Tại Việt Nam, hệ thống ngân hàng trong những năm gần đây phát triển khá mạnh cả về số lượng và chất lượng đã mang đến cho doanh nghiệp nhiều cơ hội tiếp cận vốn trong nền kinh tế, nhưng kèm với đó là tiềm ẩn của nhiều rủi ro thanh khoản, các biện pháp quản trị rủi ro trong hệ thống ngân hàng còn khá đơn giản và chưa thực sự hoàn thiện (VNDirect, 2022).

Trong  ngân  hàng, khả năng thanh khoản hệ thống ngân hàng quyết định hoạt động của ngân hàng nói riêng và hệ thống tài chính nói chung. Đã từng có thời điểm một số ngân hàng ở Việt Nam gặp vấn đề về thanh khoản trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước thắt chặt tín dụng, giảm cung tiền và từ đó làm giảm nguồn vốn trong ngân hàng. Đặc thù ngành ngân hàng thường huy động vốn có kỳ hạn ngắn nhưng cho vay các dự án đầu tư có kỳ hạn dài, nên khi ngân hàng gặp vấn để về thanh khoản có thể mang lại nhiều hệ lụy cho thị trường tài chính, như theo VNDirect (2022), ngân hàng nhà nước (NHNN) thắt chặt tín dụng năm 2022 làm cho cung tiền chỉ tăng 7.4%, tăng trưởng huy động của hệ thống tăng thấp, dẫn tới biên lãi suất huy động và cho vay tăng nhanh.

Ngoài ra, một số vụ việc tiêu cực trên thị trường trái phiếu cũng đã ảnh hưởng đáng kể tới hoạt động một số ngân hàng, gây áp lực lên thanh khoản hệ thống do các ngân hàng thương mại chuyển sang trạng thái phòng thủ nhiều hơn. Theo VnBussiness (2022) có hiện tượng một số ngân hàng, tốc độ cho vay đang nhanh hơn hẳn so với huy động tiền gửi tiết kiệm, dẫn đến tăng trưởng huy động đang mất cân đối so với tăng trưởng dư nợ tín dụng. Cụ thể, tính đến cuối tháng 9, tổng quy mô tiền gửi của các tổ chức kinh tế ở mức hơn 5,78 triệu tỷ đồng, chỉ tăng trưởng 2,43% so với cuối năm 2021. Trong khi đó, tăng trưởng tín dụng đạt 10,96%, tức là chỉ bằng 1/3 so với tốc độ tăng trưởng của tín dụng. Điều này đặt ra thách thức đối với hệ thống ngân hàng trong việc điều tiết hệ số sử dụng vốn và khả năng duy trì thanh khoản của ngân hàng.

Theo VNDirect (2023) thì tốc độ tăng trưởng tín dụng nửa đầu năm 2023 thấp hơn khá nhiều so với tốc độ tăng trưởng 9,35% trong nửa đầu năm 2022. Tăng trưởng tín dụng thực tế 6 tháng đầu năm cũng vẫn còn khá xa so với mục tiêu khoảng 14% năm 2023. Tăng trưởng tín dụng của toàn ngành Ngân hàng đạt thấp cũng có những lý do khách quan từ nền kinh tế, trong bối cảnh nhiều ngành nghề kinh doanh đều bị suy giảm hoạt động. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, GDP quý II/2023 tăng trưởng 4,14% (so với cùng kỳ năm trước), chỉ cao hơn tốc độ tăng 0,34% của quý II/2020 trong giai đoạn 2011 -2023. GDP 6 tháng đầu năm 2023 tăng 3,72%, chỉ cao hơn tốc độ tăng 1,74% của 6 tháng đầu năm 2020 trong giai đoạn 2011 -2023. Thực trạng kinh doanh cho thấy, các doanh nghiệp đang đối diện với khá nhiều khó khăn. Nhiều doanh nghiệp xuất khẩu không tìm được đơn hàng nên phải thu hẹp kinh doanh. Từ đó, doanh nghiệp cũng giảm nhu cầu vay vốn hoặc doanh nghiệp suy yếu nên ngân hàng cũng hạn chế cho vay. Khi kinh tế khó khăn, nguồn lực của doanh nghiệp bị cạn kiệt, dẫn tới việc các doanh nghiệp không đủ điều kiện để vay vốn ngân hàng. Luận văn: Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản của các ngân hàng.

Phía ngân hàng cũng không thể tự ý hạ tiêu chuẩn, giảm các quy định, điều kiện cho vay mà vẫn phải theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quản trị rủi ro, an toàn hệ thống. Sự sụt giảm tín dụng nửa đầu năm cũng phần nào khiến cho bức tranh kinh doanh của các ngân hàng ảnh hưởng theo. Theo thống kê kết quả kinh doanh của 27 ngân hàng niêm yết, tổng lợi nhuận sau thuế lũy kế vẫn đạt hơn 103.462 tỷ đồng; giảm khoảng 1,3%. Theo phân tích của Công ty Chứng khoán VNDirect, các ngân hàng có tỷ lệ cho vay bán lẻ cao đạt mức tăng trưởng tín dụng vẫn khá tốt cho thấy dấu hiệu hồi phục nhẹ từ nhu cầu tiêu dùng.

VNDirect (2023) cũng dự báo tình hình nửa cuối năm 2023 các ngân hàng sẽ còn đối diện với khó khăn do yêu cầu chung là sẽ phải tiếp tục giảm tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn. Theo đó, các ngân hàng sẽ phải tăng dần các nguồn vốn huy động dài hạn và thường vốn dài hạn sẽ phải trả lãi suất đầu vào cao hơn các khoản vốn ngắn hạn. Đây sẽ là một trong những tình trạng khó khăn mà các ngân hàng sẽ phải đối mặt trong thời gian tới. Hiện khó đặt kỳ vọng sự cải thiện tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM) ngay lập tức khi việc cắt giảm lãi suất vẫn là ưu tiên hàng đầu để thúc đẩy hoạt động kinh tế. Theo đó, trong giai đoạn nửa cuối năm, những ngân hàng có tỷ lệ cho vay cá nhân cao, rủi ro thanh khoản thấp và tỷ trọng vốn ngoại tệ trên tổng nguồn vốn thấp sẽ có nhiều cơ hội để cải thiện NIM tốt hơn so với các ngân hàng khác.

Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề thanh khoản của các ngân hàng thương mại là vô cùng cần thiết, đặc biệt trong tình hình hoạt động kinh doanh của ngân hàng còn nhiều biến động như hiện nay. Nếu các ngân hàng thương mại có khả năng thanh khoản tốt thì sẽ giúp cho thị trường tài chính ổn định và kinh tế sẽ vận hành tốt.

Về khía cạnh Rủi ro thanh khoản, từ khóa này được định nghĩa là tình trạng khi ngân hàng không thể đáp ứng các nghĩa vụ chi trả đúng hạn do thiếu tiền mặt hoặc các tài sản có tính thanh khoản cao. Theo Ủy ban Basel (2008), RRTK xuất hiện khi ngân hàng không thể huy động đủ vốn với chi phí hợp lý để thực hiện các cam kết thanh toán đã thỏa thuận điểm. Duttweiler (2011) khẳng định rằng RRTK xảy ra khi ngân hàng không thể chuyển đổi tài sản thành tiền một cách nhanh chóng hoặc không thể vay mượn kịp thời để đáp ứng các nghĩa vụ nợ. RRTK là biến cố khi ngân hàng phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt nguồn tài chính thanh khoản cao, dẫn đến việc phải huy động vốn với chi phí cao hoặc bán tháo tài sản với giá thấp hơn giá trị thực (Nguyễn Đức Trung & Lê Hà Diễm Chi, 2024). Đây không chỉ là rủi ro của một ngân hàng mà còn có tính chất hệ thống, do khả năng lan truyền tác động từ một ngân hàng đến toàn bộ hệ thống thông qua mối liên kết trên thị trường liên ngân hàng.

RRTK phản ánh tình trạng bất lợi khi ngân hàng không thể thực hiện nghĩa vụ chi trả do thiếu hụt tài sản thanh khoản hoặc không thể huy động vốn nhanh chóng với chi phí hợp lý. RRTK là một thách thức đặc thù NHTM phải đối mặt hàng ngày, xuất phát từ sự không cân xứng giữa tính thanh khoản của nguồn vốn và tài sản. Với vai trò trung gian tài chính, phần lớn nguồn vốn của NHTM đến từ tiền gửi của khách hàng, có tính thanh khoản cao và có thể bị rút bất cứ lúc nào. Trong khi đó, tài sản của NHTM chủ yếu là các khoản cho vay dài hạn với quy định cụ thể về thời gian và giá trị, làm cho dòng tiền trở nên khó dự đoán và dễ gây ra RRTK. Để đảm bảo thanh khoản, NHTM cần duy trì một lượng tài sản thanh khoản cao, nhưng việc này lại làm giảm lợi nhuận do các tài sản này thường không hoặc ít sinh lời. Khi đối mặt với RRTK, NHTM có thể phải bán rẻ tài sản hoặc vay mượn với chi phí cao, làm gia tăng chi phí và giảm thu nhập, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận. Ngoài ra, RRTK có liên quan chặt chẽ đến các loại rủi ro khác như rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. Những yếu tố ảnh hưởng đến dòng tiền, dù từ tài sản hay nguồn vốn, đều có thể làm tăng khả năng xảy ra RRTK. Uy tín của NHTM cũng đóng vai trò quan trọng, khi thông tin bất lợi về NHTM có thể khiến khách hàng mất niềm tin, dẫn đến rút tiền hàng loạt và làm trầm trọng thêm tình trạng RRTK. Nghiên cứu của BCBS (2000) và Vento & La Ganga (2009) nhấn mạnh rằng RRTK là loại “rủi ro do hậu quả”, chịu tác động từ nhiều loại rủi ro khác trong hoạt động NHTM. Luận văn: Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản của các ngân hàng.

2.1.2. Đo lường rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại

Có nhiều tiêu chí để đo lường RRTK của NHTM, theo Nguyễn Đức Trung và Lê Hà Diễm Chi (2024), bao gồm các phương pháp:

Phương pháp tiếp cận cung cầu thanh khoản: Phương pháp này xác định trạng thái thanh khoản của NHTM thông qua sự chênh lệch giữa nguồn cung thanh khoản (như tiền gửi, doanh thu từ bán tài sản) và nhu cầu thanh khoản (bao gồm nhu cầu rút tiền, cấp tín dụng). Khi nguồn cung vượt cầu, NHTM có trạng thái thặng dư, ngược lại là trạng thái thâm hụt. Phương pháp giúp NHTM quản lý thanh khoản bằng cách dự đoán và cân đối các luồng tiền để duy trì khả năng chi trả trong từng thời kỳ.

Phương pháp tiếp cận nguồn vốn và sử dụng vốn: Dựa trên sự khác biệt giữa tài sản và nợ phải trả, phương pháp này tính toán “khe hở thanh khoản” của NHTM. Khe hở này được ước tính thông qua các biến số kinh tế như tăng trưởng tiền gửi, lãi suất, và nhu cầu vay vốn. Quá trình phân tích giúp NHTM điều chỉnh cấu trúc nguồn vốn, tránh phụ thuộc quá mức vào nguồn vốn ngắn hạn và nâng cao khả năng thanh khoản.

Phương pháp tiếp cận cấu trúc quỹ: Phương pháp này phân chia nguồn vốn của NHTM thành các nhóm dựa trên mức độ ổn định, từ đó tính toán tỷ lệ dự trữ cần thiết. Các nhóm nguồn vốn như “nóng”, “kém ổn định”, và “ổn định” được áp dụng tỷ lệ dự trữ khác nhau, giúp NHTM duy trì lượng dự trữ phù hợp để đáp ứng nhu cầu rút tiền hoặc mở rộng tín dụng mà không gây căng thẳng thanh khoản.

Phương pháp tiếp cận các chỉ số: Các chỉ số như tỷ lệ dự trữ thanh khoản, tỷ lệ khả năng chi trả ngắn hạn (LCR), và tỷ lệ tài trợ ổn định thuần (NSFR)…được sử dụng để đánh giá khả năng thanh khoản của NHTM. Những chỉ số này phản ánh mức độ NHTM có thể đáp ứng nghĩa vụ thanh toán ngay lập tức và dài hạn, đồng thời đảm bảo tính ổn định trong cơ cấu tài sản và nguồn vốn.

Trong số các phương pháp này, phương pháp chỉ số được sử dụng phổ biến trong các nghiên cứu bởi: (1) phù hợp để đánh giá dưới góc độ tiếp cận dữ liệu tài chính từ bảng báo cáo tài chính của NHTM, (2) thông qua chỉ số tùy chọn để có thể đánh giá được tình trạng thanh khoản NHTM. Trong đó, chỉ số đo lường RRTK được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu là chỉ số thanh khoản LIQ:

LIQ = Tài sản có tính thanh khoản/tổng tài sản của NHTM Các nghiên cứu Bonfim và Kim, 2014; Bunda và Desquilbet, 2008; Delécha và cộng sự, 2012; Lucchetta, 2007; Vodova, 2011, Ferrouhi, 2014, Trần Thị Thanh Nga (2018) đều cho rằng NHTM có tỷ lệ Tài sản thanh khoản/ Tổng tài sản càng cao, RRTK càng thấp. Do đó, đề án sử dụng tỷ lệ này để đo lường RRTK của các NHTM trong nghiên cứu.

2.1.3. Nguyên nhân rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại Luận văn: Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản của các ngân hàng.

RRTK xuất phát từ cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, gắn liền với đặc thù hoạt động của NHTM. Về nguyên nhân chủ quan, điểm đặc trưng của NHTM là sử dụng nguồn vốn ngắn hạn huy động từ khách hàng để đầu tư vào các tài sản dài hạn, như cho vay hoặc đầu tư vào các chứng khoán có tính thanh khoản thấp. Mặc dù các NHTM duy trì một lượng tiền dự trữ bắt buộc và vượt mức để đáp ứng nhu cầu rút tiền, nhưng nếu xảy ra tình trạng rút tiền ồ ạt, khả năng thanh toán ngay lập tức sẽ bị ảnh hưởng. Hơn nữa, hoạt động quản trị thanh khoản kém hiệu quả, thiếu các chính sách linh hoạt hoặc dự trữ không hợp lý cũng khiến NHTM dễ dàng rơi vào trạng thái căng thẳng thanh khoản. Ngoài ra, những khoản tín dụng chưa giải ngân cũng có thể tạo áp lực lớn nếu khách hàng đồng loạt yêu cầu rút vốn. Một yếu tố khác là hoạt động kinh doanh thua lỗ hoặc mất niềm tin từ khách hàng, làm gia tăng nguy cơ rút tiền hàng loạt.

Nguyên nhân khách quan bao gồm sự biến động lãi suất, rủi ro danh tiếng và các bất ổn kinh tế – chính trị. Biến động lãi suất làm giảm giá trị tài sản tài chính mà NHTM nắm giữ, gây khó khăn trong việc huy động vốn hoặc bán tài sản để đáp ứng nhu cầu thanh khoản. Rủi ro danh tiếng, chẳng hạn như thông tin tiêu cực liên quan đến đối tác lớn hoặc sai phạm pháp lý, cũng có thể gây ra hiệu ứng rút tiền hàng loạt, như trường hợp của NHTM SCB tại Việt Nam. Thêm vào đó, các bất ổn chính trị như chiến tranh Nga – Ukraina cũng tạo áp lực lớn khi người dân ồ ạt rút tiền khỏi NHTM để bảo toàn tài sản, dẫn đến căng thẳng thanh khoản nghiêm trọng. Các ví dụ này cho thấy RRTK là kết quả của sự kết hợp giữa yếu tố nội tại NHTM và các biến động ngoại cảnh, đòi hỏi quản trị thanh khoản hiệu quả để giảm thiểu rủi ro.

2.1.4. Hậu quả của rủi ro thanh khoản của ngân hàng thương mại 

RRTK là một trong những loại rủi ro nghiêm trọng mà NHTM phải đối mặt, gây ra nhiều hậu quả tiêu cực không chỉ cho NHTM mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống tài chính và nền kinh tế. Đối với NHTM, khi RRTK xảy ra, chi phí tăng lên do phải bán tài sản với giá thấp hoặc vay vốn với lãi suất cao hơn, trong khi lợi nhuận giảm mạnh. Danh tiếng của NHTM cũng bị ảnh hưởng nặng nề khi không đảm bảo được khả năng thanh toán đúng hạn, làm mất lòng tin của khách hàng. Hậu quả có thể nghiêm trọng đến mức NHTM phải đối mặt với nguy cơ phá sản, như trường hợp sụp đổ của Northern Rock vào năm 2007 ở Anh, nơi hàng loạt khách hàng rút tiền dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh khoản, dù đã nhận hỗ trợ từ NHTM Trung ương Anh.

Không chỉ tác động đến một NHTM, RRTK còn có khả năng gây ra hiệu ứng lan truyền, đe dọa sự ổn định của toàn bộ hệ thống NHTM. Việc một NHTM mất khả năng thanh toán có thể khơi mào cho làn sóng rút tiền ồ ạt ở các NHTM khác, dẫn đến khủng hoảng hệ thống NHTM, hay còn gọi là hoảng loạn NHTM (banking panic). Hiện tượng này có thể do tâm lý lo sợ lan rộng hoặc sự chuyển hướng đột ngột của người gửi tiền sang các tài sản sinh lời tốt hơn, như cổ phiếu hoặc trái phiếu. Những ví dụ từ cuộc khủng hoảng NHTM ở Argentina năm 2002 cho thấy RRTK có thể khiến hàng loạt NHTM đóng cửa, làm sụp đổ hệ thống tài chính và gây tổn thất kinh tế lớn. Luận văn: Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản của các ngân hàng.

Khách hàng của NHTM cũng chịu thiệt hại nặng nề khi RRTK xảy ra, vì họ không thể tiếp cận tiền gửi để thực hiện các kế hoạch tiêu dùng hoặc đầu tư. Điều này làm giảm niềm tin vào NHTM và ảnh hưởng đến sự sẵn sàng sử dụng các sản phẩm, dịch vụ tài chính, làm suy giảm khả năng huy động và phân bổ vốn của NHTM. Về mặt rộng hơn, RRTK cản trở luân chuyển vốn trong nền kinh tế, gây khó khăn trong việc kết nối nguồn vốn giữa các chủ thể thừa vốn và thiếu vốn. Nếu kéo dài, nó có thể tạo ra các cú sốc lớn cho nền kinh tế, làm tăng chi phí và thời gian để khôi phục ổn định hệ thống tài chính. Những tác động này cho thấy RRTK không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến NHTM mà còn có thể gây ra các hậu quả lan rộng, làm suy giảm niềm tin vào hệ thống trung gian tài chính và cản trở sự phát triển kinh tế.

2.2. Hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại Luận văn: Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản của các ngân hàng.

2.2.1 Khái niệm hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại

Hiệu quả kinh doanh của NHTM là khả năng đạt được các mục tiêu tài chính và phi tài chính trong điều kiện sử dụng tối ưu các nguồn lực hiện có, bao gồm vốn, lao động và công nghệ. Theo Berger và cộng sự (1997), hiệu quả kinh doanh phản ánh mức độ một NHTM tối đa hóa lợi nhuận hoặc tối thiểu hóa chi phí trong điều kiện các nguồn lực đầu vào và các yếu tố ngoại cảnh không thay đổi. Điều này không chỉ thể hiện qua kết quả lợi nhuận thu được mà còn thông qua khả năng cạnh tranh, sự hài lòng của khách hàng và mức độ đóng góp vào sự ổn định của hệ thống tài chính. Trong môi trường cạnh tranh ngày càng khốc liệt, hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại không chỉ được đánh giá qua lợi nhuận mà còn bởi các khía cạnh như khả năng quản trị rủi ro, chất lượng dịch vụ, và hiệu quả trong việc thực hiện các chính sách phát triển kinh tế. Các nghiên cứu như của Jensen và Meckling (1976) đã khẳng định rằng quản trị hiệu quả và kiểm soát rủi ro chặt chẽ là những yếu tố cốt lõi để ngân hàng đạt được hiệu quả kinh doanh cao. Tóm lại, hiệu quả kinh doanh của NHTM không chỉ đơn thuần là việc đạt được mục tiêu tài chính mà còn là khả năng đáp ứng các yêu cầu phát triển bền vững trong dài hạn.

2.2.2 Đo lường hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại

Để đo lường hiệu quả kinh doanh của NHTM, các nhà nghiên cứu và nhà quản lý thường sử dụng các chỉ số tài chính (Trần Thị Thanh Nga, 2018; Nguyễn Đăng Khoa và cộng sự, 2023). Trước hết, lợi nhuận trên tài sản (ROA) là một chỉ số phổ biến, được tính bằng cách chia lợi nhuận ròng cho tổng tài sản. Luận văn: Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản của các ngân hàng.

  • ROA = Lợi nhuận ròng/tổng tài sản bình quân

Theo Berger (1995), ROA phản ánh khả năng tạo ra lợi nhuận từ mỗi đơn vị tài sản mà ngân hàng sở hữu. Chỉ số này phù hợp trong việc đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản và mức độ quản lý rủi ro tín dụng.

Thứ hai, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) là một chỉ số khác thường được sử dụng, tính bằng cách chia lợi nhuận ròng cho vốn chủ sở hữu. ROE đo lường khả năng sinh lời trên mỗi đồng vốn mà các cổ đông đầu tư vào ngân hàng (Molyneux & Thornton, 1992).

  • ROE = Lợi nhuận ròng/vốn chủ sở hữu bình quân

Ngoài ra, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM), tính bằng chênh lệch giữa thu nhập từ lãi và chi phí trả lãi so với tài sản sinh lời, là một chỉ báo quan trọng về khả năng quản lý tài sản và nguồn vốn.

NIM = (thu nhập từ lãi – chi phí trả lãi)/tài sản sinh lời Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả tập trung sử dụng ROA và NIM nhằm đánh giá khả năng tạo ra lợi nhuận dựa trên tổng tài sản và hoạt động mang lại thu nhập chính của NHTM là các hoạt động tạo ra thu nhập lãi. Điều này góp phần đánh giá toàn diện tổng thể hoạt động của NHTM cũng như liên quan đến hoạt động chính mang lại thu nhập lãi của NHTM.

2.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại

2.2.3.1 Các yếu tố bên trong

  • Chỉ số thanh khoản 

Tình trạng thanh khoản giúp NHTM đáp ứng các nghĩa vụ tài chính ngắn hạn khi đến hạn, hạn chế RRTK và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Như đã trình bày trong mục 2.1, RRTK là một trong những rủi ro ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động ngân hàng. Để đánh giá khả năng đảm bảo thanh khoản, hạn chế RRTK của ngân hàng, chỉ số được sử dụng là chỉ số thanh khoản. Chỉ số LIQ này tính bằng thương số giữa tài sản có tính thanh khoản cao/tổng tài sản của ngân hàng.

  • LIQ = tài sản có tính thanh khoản cao/tổng tài sản của ngân hàng

Trầm Thị Xuân Hương và Trần Thị Thanh Nga (2018) nhận định tình trạng thanh khoản phản ánh qua chỉ số LIQ bào mòn HQKD của các NHTM Việt Nam. Cụ thể, khi RRTK tăng, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA) và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE) giảm, phản ánh sự suy giảm trong hiệu quả kinh doanh. Để giảm thiểu RRTK, các ngân hàng cần duy trì mức dự trữ thanh khoản hợp lý, đa dạng hóa nguồn vốn và quản lý kỳ hạn tài sản và nợ phải trả một cách hiệu quả. Việc áp dụng các công cụ quản lý rủi ro như phân tích khoảng cách kỳ hạn và mô hình dự báo dòng tiền cũng giúp ngân hàng dự đoán và ứng phó kịp thời với các biến động thanh khoản, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh.

  • Tỷ lệ an toàn vốn Luận văn: Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản của các ngân hàng.

Tỷ lệ an toàn vốn (Capital Adequacy Ratio – CAR) phản ánh mức độ vốn tự có của ngân hàng so với tổng tài sản có rủi ro, là chỉ số quan trọng đánh giá khả năng chống chịu trước các cú sốc tài chính và đảm bảo an toàn cho người gửi tiền.

  • CAR = vốn tự có/tài sản có điều chỉnh rủi ro

CAR cao cho thấy ngân hàng có nền tảng vốn vững chắc, giảm thiểu rủi ro phá sản và tăng cường niềm tin của khách hàng. Tuy nhiên, việc duy trì CAR cao có thể làm giảm hiệu quả kinh doanh do chi phí vốn tăng. Nguyễn Phúc Hiền (2023) cho thấy tỷ lệ an toàn vốn có gây bất lợi đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng, cụ thể, cứ tăng 1% CAR thì ROE giảm 0,675%. Do đó, các ngân hàng cần cân bằng giữa việc duy trì CAR ở mức an toàn và tối ưu hóa hiệu quả kinh doanh. Việc áp dụng các chiến lược quản lý vốn hiệu quả, như tăng cường vốn chủ sở hữu thông qua phát hành cổ phiếu hoặc giữ lại lợi nhuận, cùng với quản lý rủi ro tín dụng và thanh khoản chặt chẽ, sẽ giúp ngân hàng duy trì CAR ở mức hợp lý mà không ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh.

  • Quy mô ngân hàng

Quy mô ngân hàng SIZE, được đo lường bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản, có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả kinh doanh.

  • SIZE = ln (tổng tài sản)

Các ngân hàng lớn thường có lợi thế về kinh tế quy mô, giúp giảm chi phí hoạt động trên mỗi đơn vị sản phẩm và tăng khả năng cạnh tranh. Ngoài ra, ngân hàng lớn có khả năng đa dạng hóa danh mục sản phẩm và dịch vụ, giảm thiểu rủi ro và tăng thu nhập. Tuy nhiên, quy mô lớn cũng có thể dẫn đến sự phức tạp trong quản lý và gia tăng rủi ro hệ thống. Trầm Thị Xuân Hương và Trần Thị Thanh Nga (2018) phát hiện HQKD chịu ảnh hưởng tích cực từ quy mô NHTM, nghĩa là khi quy mô tăng, hiệu quả kinh doanh cũng tăng. Tuy nhiên, để tận dụng lợi thế từ quy mô, các NHTM cải thiện hệ thống quản trị, nâng cao chất lượng dịch vụ và áp dụng công nghệ hiện đại nhằm tối ưu hóa quy trình hoạt động và giảm thiểu rủi ro.

  • Tỷ lệ dư nợ tín dụng 

Tỷ lệ dư nợ tín dụng/tổng tài sản (loan-to-asset ratio) LOAN là chỉ số tính bằng dư nợ tín dụng chia cho tổng tài sản của ngân hàng, dùng để đo lường hiệu quả sử dụng tài sản của ngân hàng.

  • LOAN = dư nợ tín dụng/tổng tài sản Luận văn: Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản của các ngân hàng.

Theo lý thuyết tài chính, tỷ lệ này phản ánh mức độ mà ngân hàng phân bổ tài sản vào hoạt động tín dụng – lĩnh vực tạo ra nguồn thu nhập chính từ lãi vay. Lý thuyết danh mục đầu tư cho rằng việc cân đối giữa tài sản có rủi ro (dư nợ tín dụng) và tài sản an toàn (tiền mặt, chứng khoán ngắn hạn) là một yếu tố quyết định hiệu quả hoạt động ngân hàng (Markowitz, 1952). Khi tỷ lệ dư nợ tín dụng cao, ngân hàng có thể gia tăng lợi nhuận nhờ thu nhập từ lãi suất, nhưng đồng thời đối mặt với rủi ro tín dụng và RRTK cao hơn, có thể làm suy giảm hiệu quả kinh doanh (Berger & Bouwman, 2009). Các nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra tác động hỗn hợp của tỷ lệ này đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Nghiên cứu của Demirgüç-Kunt và Huizinga (1999) trên các ngân hàng quốc tế cho thấy tỷ lệ dư nợ tín dụng cao có liên quan đến lợi nhuận ngân hàng, nhưng chỉ khi chất lượng tín dụng được quản lý hiệu quả. Tương tự, Sufian (2009) nhận định rằng trong các nền kinh tế đang phát triển, tỷ lệ dư nợ tín dụng cao thường đồng hành với rủi ro nợ xấu, gây áp lực lên lợi nhuận của ngân hàng. Tại Việt Nam, nghiên cứu của Phạm Quốc Thắng (2018) cũng ghi nhận rằng khi tỷ lệ này vượt ngưỡng an toàn làm giảm ROA, ROE.

  • Tỷ lệ nợ xấu

Tỷ lệ nợ xấu (Non-Performing Loan – NPL) là tỷ lệ các khoản vay không sinh lời hoặc có khả năng mất vốn, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tài sản và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.

Chỉ số này được xác định bằng dư nợ xấu chia cho tổng dư nợ của ngân hàng. NPL cao dẫn đến tăng chi phí dự phòng rủi ro, giảm lợi nhuận và ảnh hưởng đến khả năng mở rộng tín dụng. Trầm Thị Xuân Hương và Trần Thị Thanh Nga (2018) chỉ ra chất lượng tài sản, được đo lường bằng NPL, ảnh hưởng ngược chiều đến HQKD của ngân hàng. Để giảm thiểu NPL, các ngân hàng cần nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng, theo dõi sát sao tình hình tài chính của khách hàng và áp dụng các biện pháp quản lý rủi ro hiệu quả. Việc xây dựng hệ thống cảnh báo sớm và áp dụng công nghệ trong quản lý tín dụng cũng giúp ngân hàng phát hiện và xử lý kịp thời các khoản vay có vấn đề, góp phần nâng cao HQKD.

2.2.3.2. Các yếu tố bên ngoài 

  • Tốc độ tăng trưởng GDP

Tăng trưởng kinh tế, đo lường bằng chỉ số tổng sản phẩm quốc nội (GDP), đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của NHTM (NHTM). Khi GDP tăng trưởng, các hoạt động sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng được thúc đẩy, dẫn đến các chủ thể trong nền kinh tế đẩy mạnh vay mượn. Trong bối cảnh này, các ngân hàng có cơ hội mở rộng hoạt động cho vay, từ đó tăng thu nhập từ lãi suất. Các nghiên cứu như của Athanasoglou, Brissimis, và Delis (2008) đã chỉ ra rằng, tăng trưởng GDP tác động tích cực đến HQKD của NHTM. Sự mở rộng của nền kinh tế không chỉ giúp nâng cao hiệu quả mà còn giảm rủi ro, bởi các doanh nghiệp và cá nhân có khả năng trả nợ tốt hơn trong thời kỳ kinh tế phát triển.

  • Tỷ lệ lạm phát

Lạm phát (INF) là một yếu tố vĩ mô có ảnh hưởng sâu sắc đến hiệu quả kinh doanh của NHTM. Khi tỷ lệ lạm phát tăng, giá trị thực của tiền tệ giảm, làm suy yếu khả năng chi trả của các cá nhân và doanh nghiệp, từ đó gia tăng rủi ro tín dụng. Nghiên cứu của Boyd, Levine, và Smith (2001) chỉ ra rằng lạm phát ở mức cao thường đi kèm với sự giảm sút hiệu quả của hệ thống ngân hàng, bởi các ngân hàng phải tăng chi phí huy động và sự gia tăng nợ xấu. Ngoài ra, lạm phát còn làm giảm biên lợi nhuận của ngân hàng, bởi lãi suất huy động phải tăng để thu hút nguồn vốn, trong khi lãi suất cho vay không thể điều chỉnh ngay lập tức.

2.3 Cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại Luận văn: Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản của các ngân hàng.

2.3.1. Lý thuyết cấu trúc hiệu quả (Efficient Structure – ES)

Lý thuyết cấu trúc hiệu quả (ES), được Demsetz (1973) đề xuất, cho rằng các ngân hàng hoạt động hiệu quả nhất sẽ chiếm được lợi nhuận cao và thị phần lớn hơn. Theo quan điểm này, khả năng sinh lời gia tăng là kết quả từ việc cải thiện hiệu quả quản trị và vận hành ngân hàng. Anyanwaokoro (1996) bổ sung rằng lợi nhuận không chỉ phản ánh hiệu quả hoạt động mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc tạo niềm tin cho người gửi tiền, từ đó khuyến khích họ tiếp tục sử dụng dịch vụ ngân hàng. Lợi nhuận cao còn giúp củng cố niềm tin từ các bên liên quan như nhà đầu tư, khách hàng vay vốn, và nhà cung cấp, đồng thời giảm xác suất xảy ra khủng hoảng tài chính. Vì vậy, việc quản lý rủi ro chi phí một cách chặt chẽ sẽ góp phần tăng cường lợi nhuận và sự ổn định của ngân hàng. Lý thuyết ES cũng nhấn mạnh rằng các doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn sẽ đạt được thị phần lớn hơn và lợi nhuận cao hơn do khả năng giảm thiểu chi phí sản xuất ở mọi mức sản lượng đầu ra (Al-Muharrami và Matthews, 2009). Cách tiếp cận này tập trung vào việc tối ưu hóa quá trình quản trị và vận hành nội bộ để cải thiện năng suất và giảm chi phí. Ngược lại, hướng tiếp cận hiệu quả theo quy mô giải thích rằng các ngân hàng lớn hơn có chi phí sản xuất thấp hơn nhờ vào lợi thế kinh tế theo quy mô. Điều này dẫn đến lợi nhuận cao hơn, bởi quy mô lớn cho phép các ngân hàng tận dụng được hiệu quả chi phí từ việc phân bổ nguồn lực một cách tối ưu (Olweny và Shipho, 2011). Như vậy, lý thuyết cấu trúc hiệu quả không chỉ làm rõ vai trò của hiệu suất trong việc xác định cấu trúc thị trường mà còn cung cấp nền tảng để phân tích sự khác biệt giữa các tổ chức tài chính về khả năng cạnh tranh và hiệu quả hoạt động.

2.3.2. Lý thuyết đánh đổi rủi ro – lợi nhuận

Một số lý thuyết nền tảng đã nghiên cứu mối quan hệ giữa khả năng thanh khoản và mức sinh lời của ngân hàng. Câu hỏi cơ bản mà những lý thuyết này cố gắng giải quyết là cách thức thanh khoản tác động đến lợi nhuận ngân hàng. Theo lý thuyết tài chính doanh nghiệp, các ngân hàng thường cố gắng duy trì một mức thanh khoản tối ưu để cân bằng giữa chi phí và lợi ích. Tuy nhiên, quy định của các cơ quan quản lý yêu cầu các ngân hàng phải giữ mức thanh khoản cao hơn mức tối ưu nội bộ, dẫn đến việc vượt quá nhu cầu thanh khoản tối ưu của họ (Miller và cộng sự, 1990). Mức thanh khoản tối ưu này có thể biến động tùy thuộc vào chu kỳ kinh tế, thường gia tăng trong giai đoạn mà chi phí dự kiến cao. Do đó, mối quan hệ giữa thanh khoản và lợi nhuận của ngân hàng thường có tính chu kỳ. Trong thời kỳ khủng hoảng, khi rủi ro phá sản tăng cao, các ngân hàng có xu hướng tăng dự trữ thanh khoản để bảo toàn lợi nhuận, tạo nên mối quan hệ tích cực giữa hai yếu tố này (Osborne và cộng sự, 2012). Tuy nhiên, trong dài hạn, khi các quy định yêu cầu mức thanh khoản cao hơn mức tối ưu, điều này có thể làm giảm lợi nhuận của ngân hàng (Flannery và Rangan, 2008). Ngoài ra, trong điều kiện thị trường bình thường, khi các ngân hàng đáp ứng được mức thanh khoản tối ưu, mối quan hệ giữa thanh khoản và lợi nhuận có thể trở nên trung tính hoặc tiêu cực. Điều này xảy ra khi việc giữ thanh khoản cao làm gia tăng chi phí cơ hội, giảm hiệu quả hoạt động ngân hàng. Lý thuyết này cũng chỉ ra rằng việc giảm cấu trúc tài sản thanh khoản có thể làm tăng RRTK, nhưng đồng thời cũng có khả năng cải thiện lợi nhuận, thể hiện mối tương quan thuận chiều giữa rủi ro và lợi nhuận. Tuy nhiên, nếu mức thanh khoản giảm xuống dưới ngưỡng an toàn, ngân hàng sẽ đối mặt với nguy cơ phá sản cao hơn, đặc biệt trong các giai đoạn khủng hoảng tài chính.

2.2.3. Lý thuyết quản trị danh mục đầu tư Luận văn: Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản của các ngân hàng.

Lý thuyết quản trị danh mục đầu tư (Portfolio Management Theory), được phát triển bởi Harry Markowitz vào năm 1952, là nền tảng quan trọng trong lĩnh vực tài chính, đặc biệt đối với hoạt động của ngân hàng. Lý thuyết này nhấn mạnh rằng mục tiêu chính của quản trị danh mục là tối đa hóa lợi nhuận kỳ vọng trong khi giảm thiểu rủi ro thông qua đa dạng hóa các tài sản trong danh mục đầu tư. Đối với ngân hàng, điều này có ý nghĩa quan trọng vì quản trị danh mục không chỉ liên quan đến các khoản đầu tư mà còn bao gồm các quyết định về cho vay, tài trợ và quản lý nguồn vốn.

Theo lý thuyết này, rủi ro của một danh mục không chỉ phụ thuộc vào từng tài sản riêng lẻ mà còn vào cách các tài sản tương quan với nhau. Nếu các tài sản trong danh mục có sự tương quan thấp hoặc ngược chiều, danh mục đầu tư sẽ ít bị ảnh hưởng bởi các biến động thị trường. Điều này đặc biệt quan trọng đối với ngân hàng, nơi phải đối mặt với nhiều loại rủi ro như rủi ro tín dụng, RRTK và rủi ro thị trường. Việc áp dụng lý thuyết quản trị danh mục đầu tư giúp ngân hàng phân bổ nguồn lực một cách hiệu quả hơn, đảm bảo sự cân bằng giữa lợi nhuận và rủi ro.

Lý thuyết quản trị danh mục đầu tư có ý nghĩa quan trọng đối với các NHTM khi đối mặt với sự biến động kinh tế và thị trường tài chính toàn cầu. Các ngân hàng cần áp dụng nguyên tắc đa dạng hóa để giảm thiểu rủi ro, chẳng hạn như mở rộng danh mục cho vay vào các lĩnh vực khác nhau thay vì tập trung quá mức vào bất động sản hay sản xuất công nghiệp. Đồng thời, việc quản lý danh mục tài sản theo hướng linh hoạt, kết hợp giữa các khoản đầu tư dài hạn và ngắn hạn, cũng giúp ngân hàng ứng phó tốt hơn với các cú sốc kinh tế. Lý thuyết quản trị danh mục đầu tư, khi được áp dụng đúng cách, không chỉ giúp ngân hàng tối ưu hóa lợi nhuận mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự ổn định và phát triển bền vững của hệ thống tài chính.

2.2.4. Lý thuyết chu kỳ kinh tế (Business Cycle Theory)

Chu kỳ kinh tế là thuật ngữ dùng để chỉ những biến động lặp lại của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), thu nhập và việc làm, với mỗi chu kỳ thường kéo dài từ hai đến mười năm. Các biến động này thể hiện qua sự phát triển mạnh mẽ hoặc thu hẹp đáng kể của hầu hết các lĩnh vực kinh tế (Samuelson và Nordhaus, 1948). Chu kỳ kinh tế thông thường được chia thành ba giai đoạn cơ bản: suy thoái, phục hồi và thịnh vượng. Tuy nhiên, một số nhà kinh tế học lại nhận định rằng chu kỳ kinh tế chủ yếu gồm hai pha chính: suy thoái và mở rộng. Trong đó, suy thoái được hiểu là thời kỳ mà GDP liên tục giảm sút. Tại các quốc gia như Hoa Kỳ và Nhật Bản, suy thoái được định nghĩa cụ thể hơn, khi GDP ghi nhận mức tăng trưởng âm trong hai quý liên tiếp. Giai đoạn phục hồi diễn ra khi GDP bắt đầu tăng trưởng trở lại, tiến gần đến mức đạt được trước giai đoạn suy thoái. Đỉnh chu kỳ, điểm mà nền kinh tế chuyển từ trạng thái thịnh vượng sang suy thoái, đánh dấu sự chấm dứt của một giai đoạn tăng trưởng vượt bậc và khởi đầu cho một chu kỳ suy thoái mới. Trong mỗi giai đoạn này, các ngân hàng thường điều chỉnh chiến lược tín dụng để phù hợp với tình hình kinh tế. Cụ thể, trong giai đoạn mở rộng, các ngân hàng có xu hướng đẩy mạnh cho vay, tận dụng cơ hội tăng trưởng. Ngược lại, trong thời kỳ suy thoái, các ngân hàng thắt chặt các chính sách tín dụng, hạn chế các khoản vay để giảm rủi ro, phù hợp với sự sụt giảm về thu nhập và khả năng trả nợ của người dân.

2.4. Tổng quan các nghiên cứu trước về mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản và hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại Luận văn: Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản của các ngân hàng.

2.4.1. Các nghiên cứu cho thấy rủi ro thanh khoản tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại

Ảnh hưởng thuận chiều của RRTK đến HQKD của các NHTM được tìm thấy trong nhiều nghiên cứu ở các quốc gia, khu vực khác nhau trên thế giới. Siaw (2013), tập trung phân tích tác động của RRTK đến lợi nhuận ngân hàng tại Ghana, chỉ ra rằng tồn tại mối liên kết thuận chiều giữa RRTK đo bằng LDR và ROA và ROE. Siaw khuyến nghị các ngân hàng tại Ghana nên áp dụng chiến lược đa dạng hóa nguồn tài trợ và củng cố quản lý thanh khoản để giảm thiểu RRTK và đảm bảo hiệu quả hoạt động. Sayedi (2014) đã nghiên cứu các yếu tố như thanh khoản, quyền lực thị trường và lãi suất thị trường tác động đến lợi nhuận ngân hàng ở Nigeria trong giai đoạn 2006-2011. Kết quả cho thấy quyền lực thị trường và thanh khoản có ảnh hưởng tích cực đến lợi nhuận ngân hàng, trong khi lãi suất lại tác động tiêu cực đến ROA. Điều này nhấn mạnh rằng, trong điều kiện kinh tế phù hợp, việc quản lý thanh khoản hiệu quả có thể thúc đẩy lợi nhuận, nhưng các biến động lãi suất cần được kiểm soát chặt chẽ để tránh ảnh hưởng tiêu cực. Ajibike và Aremu (2015) đã sử dụng mô hình bảng động để phân tích tác động của RRTK đến HQKD của các NHTM tại Nigeria trong giai đoạn 2004-2012. Kết quả cho thấy RRTK có mối quan hệ tích cực với hiệu quả hoạt động, tức là khi thanh khoản được tăng cường, hiệu quả hoạt động của ngân hàng cũng được cải thiện. Phát hiện này khẳng định tầm quan trọng của việc quản lý RRTK để đạt được hiệu quả kinh doanh cao.

Tại khu vực châu Âu, Bourke (1989) đã tìm ra mối quan hệ tích cực giữa RRTK và lợi nhuận ngân hàng tại 12 quốc gia, bao gồm châu Âu, Bắc Mỹ và Úc. Trong khi đó, Kosmidou, Tanna và Pasiouras (2005) tập trung vào các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng tại Hy Lạp trong giai đoạn hội nhập tài chính 19902002. Các tác giả phát hiện rằng, các NHTM thanh khoản thấp thường có ROA thấp hơn, điều này khẳng định vai trò của thanh khoản trong đảm bảo HQKD. Ngoài ra, nghiên cứu của Poposka và Trpkoski (2013) tại Macedonia cũng ghi nhận rằng thanh khoản và vốn là các yếu tố quan trọng tác động đến lợi nhuận, với mối tương quan dương giữa hai yếu tố này và lợi nhuận ngân hàng. Những phát hiện này nhấn mạnh rằng quản lý thanh khoản hiệu quả không chỉ giúp ngân hàng duy trì lợi nhuận mà còn giảm thiểu các rủi ro tiềm tàng trong hoạt động kinh doanh. Luận văn: Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản của các ngân hàng.

Lược khảo các nghiên cứu tại Việt Nam đã chỉ ra rằng thanh khoản đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy hiệu quả kinh doanh của các NHTM. Theo nghiên cứu của Trầm Thị Xuân Hương và Trần Thị Thanh Nga (2018), RRTK có xu hướng tác động cùng chiều với hiệu quả kinh doanh ngân hàng. Nguyễn Đăng Khoa và cộng sự (2023) cũng tìm thấy mối quan hệ tích cực giữa RRTK và hiệu quả của các NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu. Những phát hiện này cho thấy quản lý thanh khoản tốt không chỉ giúp ngân hàng đảm bảo an toàn tài chính mà còn tối ưu hóa khả năng sinh lời trong các điều kiện thị trường khác nhau.

2.4.2 Các nghiên cứu cho thấy rủi ro thanh khoản có tác động tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại

Kết quả nghiên cứu của Abdelaziz Hakimi và Khemais Zaghdoudi (2020) về RRTK và hiệu quả hoạt động ngân hàng cho thấy tỉ lệ an toàn vốn, chỉ số Hirshmen Herfindahl, và tăng trưởng GDP có tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng, trong khi RRTK, rủi ro tín dụng, quy mô ngân hàng, khủng hoảng tài chính, và lạm phát lại tác động tiêu cực. Nghiên cứu này làm rõ tầm quan trọng của việc cân bằng thanh khoản để đảm bảo hiệu quả tài chính của ngân hàng.

Wamalwa và Mukanzi (2018), đã phân tích thực tiễn quản lý rủi ro tại 9 NHTM ở tỉnh Kakamega trong giai đoạn 2011–2016. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng RRTK gây bất lợi đến hiệu quả kinh doanh.Vai trò của RRTK đối với hiệu quả kinh doanh ngân hàng được nhấn mạnh qua khả năng gây tổn thất nếu không được quản lý chặt chẽ. RRTK ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng đáp ứng nghĩa vụ tài chính tức thời của ngân hàng. Khi ngân hàng không duy trì được mức thanh khoản hợp lý, chi phí phát sinh từ việc huy động vốn khẩn cấp hoặc bán tháo tài sản để đáp ứng nhu cầu thanh khoản sẽ gia tăng, làm giảm lợi nhuận thực tế. Điều này không chỉ làm suy giảm hiệu quả hoạt động mà còn đe dọa đến uy tín và sự ổn định của ngân hàng. Do đó, việc kiểm soát RRTK là yếu tố quan trọng để duy trì sự cân bằng giữa tính thanh khoản và khả năng sinh lời trong hoạt động ngân hàng.

Lee và Kim (2013) tiến hành đã sử dụng phương pháp bao dữ liệu kết hợp chỉ số Malmquist để phân tích dữ liệu tài chính từ 13 NHTM trong giai đoạn 2003–2010. Kết quả cho thấy các ngân hàng có cấu trúc tài sản kém thanh khoản hơn lại đạt được lợi nhuận cao hơn. Ndoka, Islami và Shima (2016) tập trung vào tác động của quản lý thanh khoản đến HQHĐKD của các NHTM tại Albania trong giai đoạn 2005– 2015. Với mẫu dữ liệu gồm 40 quan sát từ 16 ngân hàng, nghiên cứu sử dụng chỉ số lợi nhuận trên tài sản (ROA) làm đại diện cho HQHĐKD. Kết quả chỉ ra rằng RRTK có tác động tiêu cực đến HQHĐKD, điều này cho thấy quản lý thanh khoản là yếu tố quan trọng đối với hiệu quả kinh doanh ngân hàng. Kutsienyo (2011) tại Ghana đã kiểm tra các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng, dựa trên dữ liệu bảng từ 26 NHTM trong giai đoạn 2000–2009. Tác giả sử dụng các chỉ số ROA và ROE để đo lường lợi nhuận ngân hàng, cùng các biến kiểm soát như quy mô ngân hàng, thanh khoản, vốn chủ sở hữu/tổng tài sản, nguồn tài trợ/tổng nợ, chi phí hoạt động, và các biến vĩ mô như tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát, tốc độ tăng trưởng GDP. Kết quả cho thấy thanh khoản gây bất lợi đến lợi nhuận ngân hàng (ROA). Bassey và Moses (2015) đã kiểm định mối quan hệ giữa RRTK và lợi nhuận của 15 ngân hàng tiết kiệm tại Nigeria trong giai đoạn 2010–2012. Kết quả cho thấy ảnh hưởng bất lợi của RRTK đến lợi nhuận ngân hàng. Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ sử dụng chỉ số ROA để đại diện cho lợi nhuận, do đó kết quả chỉ mang ý nghĩa đối với chỉ số này. Luận văn: Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản của các ngân hàng.

2.4.3 Các nghiên cứu cho thấy không tìm thấy ảnh hưởng có ý nghĩa thống kế của rủi ro thanh khoản đến hiệu quả kinh doanh của ngân hàng thương mại

Nhiều nghiên cứu đã không tìm thấy mối liên hệ đáng kể giữa RRTK và HQHĐKD, đặc biệt tại các khu vực khác nhau trên thế giới. Tại khu vực châu Á, nghiên cứu của Sufian và Chong (2008) tại Philippines trong giai đoạn 1990–2005 không phát hiện mối quan hệ rõ ràng giữa RRTK và hiệu quả ngân hàng. Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu từ 24 ngân hàng với các biến đại diện như ROA, quy mô ngân hàng, và các yếu tố vĩ mô như tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát, và tốc độ tăng trưởng GDP, cho thấy các yếu tố như quy mô ngân hàng và chi phí hoạt động có tác động đáng kể, nhưng không có bằng chứng cho thấy RRTK có ảnh hưởng trực tiếp đến ROA.

Roman và Sargu (2015) tại khu vực CEE (Trung và Đông Âu) từ năm 2004– 2011 đã chỉ ra rằng, mặc dù có sự liên quan giữa thanh khoản và các yếu tố tài chính, mối quan hệ giữa RRTK và HQHĐKD ngân hàng không có ý nghĩa thống kê. Tương tự, các nghiên cứu của Almumani (2013) và Ayaydin và Karakaya (2014) cũng không tìm thấy mối quan hệ rõ ràng giữa hai yếu tố này tại các ngân hàng châu Âu.

Bordeleau và Graham (2010) đã phân tích các ngân hàng Hoa Kỳ và Canada trong giai đoạn 1997–2009, sử dụng các biến như ROA, ROE và tài sản thanh khoản. Kết quả cho thấy mối quan hệ giữa thanh khoản và hiệu quả kinh doanh có dạng phi tuyến (parabol), nghĩa là hiệu quả hoạt động tăng khi ngân hàng đảm bảo khả năng thanh khoản, nhưng vượt một ngưỡng nhất định, lợi nhuận lại giảm. Điều này cho thấy thanh khoản và HQHĐKD phụ thuộc vào mô hình kinh doanh và bối cảnh kinh tế cụ thể, không có mối liên hệ thống kê ổn định.

DeYoung và Jang (2016), nghiên cứu khả năng quản lý thanh khoản của các ngân hàng tại Mỹ trong giai đoạn 1992–2012, cũng không tìm thấy mối tương quan có ý nghĩa thống kê giữa RRTK và HQHĐKD. Điều này tương tự với các nghiên cứu trước của Fan và Shaffer (2004), cho thấy mối quan hệ giữa hai yếu tố phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế và đặc điểm ngân hàng.

2.4.4 Khoảng trống nghiên cứu Luận văn: Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản của các ngân hàng.

Mối quan hệ giữa RRTK và HQKD của ngân hàng là một vấn đề phức tạp, không mang tính cố định và phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng mối liên hệ này có thể không rõ ràng hoặc thay đổi tùy theo bối cảnh kinh tế, đặc biệt khi các ngân hàng hoạt động trong các môi trường thị trường khác nhau. Cụ thể, các đặc điểm hoạt động của ngân hàng và môi trường bên ngoài đóng vai trò quan trọng trong việc định hình mức độ tác động của RRTK đến HQKD của NHTM. Chẳng hạn, trong các giai đoạn kinh tế ổn định, việc duy trì thanh khoản cao có thể làm giảm chi phí cơ hội và cải thiện lợi nhuận, nhưng trong những bối cảnh kinh tế bất ổn, chi phí duy trì thanh khoản lại có thể trở thành gánh nặng, làm giảm hiệu quả hoạt động. Điều này cho thấy rằng, để đánh giá chính xác tác động của RRTK, cần phải xem xét cả bối cảnh bên trong và bên ngoài của ngân hàng ảnh hưởng đến chiến lược quản lý rủi ro.

Kết luận chương 2

Chương 2 đã trình bày cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu liên quan đến RRTK và HQKD của NHTM. Cơ sở lý thuyết được xây dựng từ các quan điểm kinh tế học về quản trị rủi ro và hiệu quả hoạt động, bao gồm lý thuyết cấu trúc – hiệu quả, lý thuyết đánh đổi rủi ro và lợi nhuận, cũng như các khung lý thuyết quản lý thanh khoản. Các lý thuyết này làm rõ cách thức RRTK có thể tác động đến HQKD của ngân hàng thông qua việc ảnh hưởng đến lợi nhuận, chi phí và khả năng duy trì hoạt động ổn định. Tổng quan nghiên cứu cho thấy sự đa dạng trong kết quả của các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam. Do đó, cần thêm nghiên cứu thực nghiệm mang tính cập nhật tại thị trường Việt Nam. Chương này đã đặt nền tảng lý thuyết và thực tiễn để nghiên cứu vấn đề RRTK trong bối cảnh NHTM Việt Nam. Trên cơ sở này, chương 3 sẽ tập trung vào việc xây dựng mô hình nghiên cứu, xác định dữ liệu và phương pháp để kiểm định mối quan hệ giữa RRTK và HQHĐKD trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam. Luận văn: Mối quan hệ giữa rủi ro thanh khoản của các ngân hàng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: PPNC quan hệ giữa rủi ro thanh khoản các ngân hàng

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537