Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc kỳ hạn nợ của công ty

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc kỳ hạn nợ của công ty hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc kỳ hạn nợ của các công ty niêm yết tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

4.1. Kết quả thống kê mô tả

Chương 4 trình bày kết quả nghiên cứu nhằm làm rõ mục tiêu nghiên cứu về tác động của các nhân tố nội tại đến CTKHN của công ty quản trị ngành khách sạn – du lịch tại Việt Nam, qua đó xác định được nhân tố nào có tác động mạnh nhất đến quyết định về kỳ hạn nợ.

Bảng 4.1: Kết quả thống kê mô tả các biến

4.1.1: Phân tích kết quả thống kê mô tả các biến: 

Kết quả thống kê trong bảng 4.1 cho thấy, giá trị trung bình của MR là ~ 19% nghĩa là 30 công ty cổ phần niêm yết được nghiên cứu trong giai đoạn 2005 – 2021 có tỷ lệ vay NDH trung bình trên tổng nợ vay là ~ 19%. Kết quả cho thấy các quan sát trong mẫu ủng hộ cho kết luận của các nghiên cứu đã nêu về việc các DN Việt Nam, cũng như các nước đang phát triển khác có xu hướng sử dụng cơ cấu NNH, đặc biệt là đồng vốn của các công ty quản trị Khách sạn – Du Lịch xoay được nhiều vòng hơn.

LEV, giá trị trung bình của Tỷ lệ nợ tại mẫu là 0,68 cho thấy khoảng 68% TS của công ty được tài trợ bởi các khoản vay tài chính. Như đã chỉ ra về đặc điểm ngành ở trên, phần lớn các khoản tài trợ tài chính đều là các khoản vay ngắn hạn chiếm đáng kể, tương đương ~ 81% PROF, Lợi nhuận trung bình của các công ty thuộc ngành này thấp nhất cho giá trị âm đến -82% chứng tỏ giai đoạn nghiên cứu từ năm 2005 – 2021, các DN Việt Nam vẫn còn chịu nhiều ảnh hưởng của 2 sự kiện “toàn cầu” như khủng hoảng kinh tế 2007 – 2009 và đại dịch Covid từ cuối 2019 đến nay chưa có dấu hiệu phục hồi, Doanh thu & Lợi nhuận của các công ty do đó cũng giảm sút so với năm trước đó hoặc là tăng chậm, nhiều DN ngành quản trị Khách sạn – Du lịch bị phá sản. Tỷ suất Lợi nhuận lớn nhất có giá trị ~ 50% cho thấy ngành này cho hiệu quả hoạt động kinh doanh khá hấp dẫn, vì vậy, với mẫu nghiên cứu này Tác giả cho rằng mức sinh lợi bình quân ~ 21% như trên là có cơ sở.

VOL, biến động thu nhập trung bình âm: -30171.67, cho thấy hoạt động của các Công ty quản trị Khách sạn – Du lịch tại Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2005-2021 có chịu tác động lớn của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2007 và đại dịch Covid-19 từ đó kết quả hoạt động của các công ty thuộc Ngành này là bất ổn. Thu nhập từ hoạt động kinh doanh không thể bù đắp cho các khoản nợ mà DN có. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc kỳ hạn nợ của công ty.

LIQ, mức thanh khoản trung bình của các mẫu đạt ~ 4.6 cho thấy thanh khoản của các công ty khá tốt.

TAN, giá trị trung bình của Tài sản hữu hình là ~ -25%, cho thấy các công ty không đủ tài sản để thế chấp cho khoản vay dài hạn. Để được cấp tín dụng, khách hàng phải thỏa mãn được các tiêu chuẩn do các TCTD quy định, trong đó có tiêu chuẩn về TSĐB. TSĐB là nguồn phòng vệ giúp các TCTD giảm bớt tổn thất khi khách hàng không trả được nợ cho các TCTD. Khi xét duyệt hồ sơ vay, ngân hàng cũng sẽ xem xét những nguồn tài sản hiện hữu để xác định xem DN có đủ khả năng trả nợ cho khoản vay được yêu cầu hay không. Các nguồn TSTC thông dụng bao gồm BĐS hay MMTB. Ngoài ra, các hàng hóa đang lưu kho hay hóa đơn thương mại chưa thanh toán cũng có thể dùng làm TSTC. Những khoản cho vay trung, dài hạn thường gắn liền với các khoản đầu tư dài hạn như tài sản cố định, BĐS, dự án…, thực tế cũng cho thấy rằng các DN Việt Nam chứ không riêng đặc thù ngành quản trị Khách sạn – Du lịch đều vướng thực trạng không có/không đủ TSHH hoặc các loại TSĐB chưa đủ điều kiện để thế chấp theo yêu cầu của các TCTD như giá trị pháp lý, TSCĐ còn hạch toán xây dựng dở dang, TSBĐ không có/chưa đủ điều kiện là làm thủ tục/ giấy tờ chứng minh QSH (không đảm bảo điều kiện chung về QSH đối với tài sản theo Luật định.

Ở góc độ quản lý, thông tư 39/2016/TT-NHNN cũng không quy định TSĐB là một trong các điều kiện cho vay của các TCTD. Điều này có nghĩa là việc áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay hoặc không áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay do TCTD và khách hàng thoả thuận. Nghĩa là việc có hay không biện pháp bảo đảm tiền vay (TSĐB) không phải là quy định bắt buộc của NHNN mà tùy theo chính sách và khẩu vị rủi ro của từng NHTM. Bên cạnh đó, gần đây vào những tháng cuối năm tình hình nợ xấu có chiều hướng gia tăng khiến một số ngân hàng phải ồ ạt phát mãi tài sản để xử lý nợ xấu, tuy nhiên việc bán đấu giá BSĐ là TSTC có nhiều thủ tục pháp lý liên quan đến việc giải chấp, định giá tài sản. Nhiều tài sản cần sự đồng thuận của chủ tài sản. Giá khởi điểm phải được sự đồng ý của của ngân hàng lẫn khách hàng nên mất nhiều thời gian cho thủ tục đấu giá. Thêm nữa, nhiều TSĐB của các khoản nợ đôi khi có lịch sử phức tạp liên quan đến nhiều tổ chức, cá nhân nên để sang tên sở hữu mất nhiều thời gian, thậm chí không thực hiện được. Chưa kể, không ít TSBĐ được định giá cao hơn giá trị thực tế khi phê duyệt khoản vay… do vậy, không nên cân nhắc việc quá phụ thuộc vào TSHH khi cấp các khoản vay.

AM, Kỳ hạn tài sản cho giá trị trung bình, giá trị nhỏ nhất và lớn nhất là 11.06, 2256.50 và 2328.25 tương xứng với kỳ hạn nợ dài hơn. AM có độ phân tán cao, tuy nhiên theo bảng 4.3 cho kết quả hồi quy nhân tố AM hoàn toàn không có ý nghĩa thống kê. Hay nói cách khác, các yếu tố này không tác động đến KHN của các công ty ngành quản trị Khách sạn – Du lịch.

SIZE, quy mô DN cho giá trị trung bình là 5.36, trong khi giá trị nhỏ nhất và giá trị lớn nhất tương ứng 3.15 và 7.17.

GROW, Cơ hội tăng trưởng có giá trị trung bình đạt ~ 99.66%, cho thấy ngành quản trị Khách sạn – Du lịch tại Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai cũng như khả năng tăng trưởng khá cao.

TAX, Thuế là biến được đo lường bằng tỷ lệ giữa thuế thu nhập DN và thu nhập chịu thuế. Thuế suất trung bình trên thu nhập chịu thuế của các công ty khoảng ~ 21% bao gồm các trường hợp thuế thu nhập được hoãn lại, hoàn thuế và truy thu thuế. Giá trị nhỏ nhất, giá trị lớn nhất lần lượt là 0 và 1.56.

DSCR, Tỷ lệ trang trải mức trả nợ trung bình là 3 lần, lớn hơn 1 tức là thước đo dòng tiền có sẵn để thanh toán các nghĩa vụ nợ hiện tại của các DN quản trị Khách sạn – Du lịch là khá tốt. Các công ty có thể trang trải hoặc tự tin thanh toán các nghĩa vụ nợ dựa vào các nguồn lực luân chuyển dòng tiền bên trong của mình. Theo số liệu thống kê, trong giai đoạn 2005 – 2021, còn một số công ty ngành Khách sạn – Du lịch có hệ số DSCR bị âm như sau:

YEAR/Co BSC DAH DSN DXL EIN HES HGT NVT OCH SGH TCT VEF VGT VNG
2005 X
2006
2007
2008 X
2009 X
2010
2011 X X
2012 X X X X
2013 X X X
2014 X X X X
2015 X X X X
2016 X X X X
2017 X X X X
2018 X X X X
2019 X
2020 X X X X X X X
2021 X X X X X X X X X

Đáng lưu ý, kết quả thống kê biến DSCR cho GTNN âm -7 lần và GTLN lên đến đến ~ 134 lần, con số cảnh báo thực trạng quản lý và luân chuyển thu nhập ròng (EBIT) từ HĐKD chưa hiệu quả, tuy nhiên, đây lại là số liệu của một Công ty (NVT, DA BĐS nghỉ dưỡng) tại thời điểm nhất định (2017), nó không mang tính đại diện cho cả ngành. Để cấp tín dụng cho khách hàng, các TCTD phải căn căn cứ chủ yếu vào uy tín tín dụng và khả năng trả nợ của KH. Nhìn chung, những người cho vay thường không thích người đi vay có dòng tiền âm, nhưng một số người vẫn cho phép nếu người đi vay có nguồn lực mạnh bên ngoài thu nhập. DSCR tối thiểu mà người cho vay yêu cầu có thể phụ thuộc vào điều kiện kinh tế vĩ mô. Nếu nền kinh tế đang phát triển, tín dụng khả thi thì người cho vay có chấp nhận DSCR thấp hơn mức quy định.

Ma trận số tương quan của các biến phụ thuộc sử dụng trong mô hình (MR – Cấu trúc kỳ hạn nợ. HTQ – Hệ số khả năng thanh toán tổng quát. HNTT – Hệ số khả năng chi trả nợ tức thời) được trình bày trong phần Phụ lục ở cuối luận văn. Tất cả các cặp biến đều không ghi nhận có sự tương quan xẩy ra với các hệ số tương quan đều nhỏ hơn 0.5, do đó, các biến được thu thập phù hợp để phân tích các mô hình trong của luận văn này.

Kết quả phân tích tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình cho thấy khả năng xẩy ra hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập trong mô hình là không cao (các giá trị đều nhỏ hơn 5)

4.1.2 Phân tích mối tương quan giữa các biến và kiểm định đa cộng tuyến Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc kỳ hạn nợ của công ty.

Để đánh giá tương quan về sự phù hợp khi sử dụng các biến trong mô hình, tác giả thực hiện các kiểm định các giả định về hiện tượng tự tương quan, kiểm định đa cộng tuyến và phương sai thay đổi

  • Kiểm định sự biến thiên của mô hình

Giá trị R2 hoặc R2 điều chỉnh (R square)/Adjusted R square) cho biết mức độ biến thiên của biến phụ thuộc được giải thích bởi các biến độc lập. Hay nói cách khác, giá trị R2 chính là phần trăm biến thiên của biến phụ thuộc (MR – CTKHN) có thể giải thích bằng sự thay đổi trong nhóm biến độc lập (LEV, PROF, VOL, LIQ, TAN, AM, SIZE, TAX, DSCR)

  • Kiểm định sự tương quan

Các hệ số trong mô hình hồi quy và mức ý nghĩa Pvalue là những thông số quan trọng nhất để đưa ra kết luận về mối quan hệ giữa các biến trong mô hình hồi quy. Dấu của hệ số tương quan thể hiện chiều (tích cực/ tiêu cực) tác động của các biến độc lập với biến phụ thuộc trong trường hợp Pvalue < 0.05 (5%)

  • Kiểm định các giải thuyết mô hình hồi quy

Hệ số phóng đại phương sai VIF được sử dụng để kiểm chứng xem có hiện tượng đa cộng tuyến xẩy ra trong mô hình với các biến độc lập hay không. Giá trị của hệ số VIF >10 thì tức là có đa cộng tuyến và ngược lại. Giá trị VIF càng nhỏ thì hiện tượng đa cộng tuyến càng nhỏ có thể xẩy ra

  • Kiểm định sự phù hợp của mô hình FEM và REM

Tác giả sử dụng kiểm định Hausman để kiểm định sự phù hợp của mô hình tác động cố định (FEM) hay mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) cho mô hình chuẩn mạnh. Giá trị Pvalue < 0.05 cho thấy mô hình FEM phù hợp hơn, ngược lại mô hình REM phù hợp hơn so với FEM

  • Kiểm định bằng cách thay biến và so sánh để chuẩn mệnh

Trường hợp mô hình FEM và REM không cho nhiều kết quả có thể chạy thêm GMM hoặc FGLS, tuy nhiên, đây là luận văn thạc sỹ nên tác giả sử dụng biện pháp thay Thay biến để chuẩn mệnh. Hồi quy phương trình theo phương pháp OLS cho biến HTQ và HNTT để so sánh, có thể thấy tác giả bổ sung hai biến HTQ và HNTT đại diện cho yếu tố trả nợ của DN vào xem có giải thích thêm cho sự thay đổi biến MR hay không. Tiếp tục chạy FEM và REM cho 2 biến thay thế này, nếu các biến này cho kết quả tương đồng với nhau có nghĩa kiểm định này đại diện và cũng cố được cho mô hình MR tổng quát ban đầu. Kết quả trình bày trong mục 4.2 là kết quả đã qua xử lý thay biến vào và cho kết quả phần trăm giải thích cao

4.2. Kết quả mô hình hồi quy tác động của các nhân tố nội tại đến CTKHN Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc kỳ hạn nợ của công ty.

Kết quả hồi quy với đại diện CTKHN bằng phương pháp Pool OLS thu thập được 6 biến nội tại có ý nghĩa thống kê. Kiểm định đa cộng tuyến 1.34 cho thấy kết quả khá tin cậy.

Bảng 4.2: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến

Bảng 4.2: Biến kỳ hạn nợ (MR) có mối tương quan cao nhất với tỷ số khả năng chi trả nợ (DSCR) với hệ số tương quan là 37,8% và có tương quan thấp khoảng 1% với biến kỳ hạn tài sản (AM). Tương quan về dấu của biến phụ thuộc và các biến độc lập phù hợp với lý thuyết, ngoại trừ những biến tỷ lệ nợ (LEV), lợi nhuận (PROF) và thuế (TAX). Xét về mối tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình nghiên cứu, nhìn chung hệ số tương quan giữa các nhân tố nội tại khá nhỏ. Đối với các nhân tố nội tại, tương quan giữa tỷ số khả năng trả nợ (DSCR) và lợi nhuận (PROF) là cao nhất với hệ số là ~ 50.4%. Kết quả phân tích tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình cho thấy khả năng xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc lập trong mô hình là không cao.

4.3. Phân tích kết quả hồi quy

Tác giả đã giải thích trình tự ước lượng dữ liệu bảng trong luận văn này để làm rõ các mục tiêu nghiên cứu. Dữ liệu phân tích bao gồm 30 công ty quản trị Du lịch – Khách sạn Việt Nam trong vòng đời hoạt động từ năm 2005 – 2021. Các phương án được sử dụng gồm có mô hình hồi quy Pooled OLS chuẩn mạnh kết quả bằng mô hình FEM và REM, kết quả hồi quy được trình bảy trong bảng 4.3

Bảng 4.3: Kết quả hồi quy các nhân tố nội tại theo phương pháp Pooled OLS với ba đại diện cho CTKHN và khả năng thanh toán của các công ty ngành quản trị Khách sạn – Du lịch

  MR  HTQ  HNTT 
LEV  -0.0979127  -3.25*** -4.470611 -3.76*** -1.540596 -5.48 ***
PROF  -0.1151501  -1.21 -16.71156 -4.43*** 1.759565 1.97 **
VOL  5.07E-07 2.34** 0.0000231 2.70*** 4.24E-06 2.09 **
LIQ  -0.003224 -4.18*** 1.467548 48.06*** 0.999444 138.56 ***
TAN  0.1792188 4.37*** 1.128073  0.69 0.688386  1.79 *
AM  -0.0000543  -1.02 -0.0008617  -0.41 0.0006171  1.25
SIZE  0.0739063 3.35*** 0.7842539  0.9 0.0567179  0.28
GROW  0.5440975  1.06 11.69387  0.58 4.636317  0.97
TAX  0.0382039  0.63 -1.14327  -0.48 0.2395975  0.42
DSCR  -0.0188192 -5.67*** 1.088728 8.30*** 0.0458609  1.48
CONST  -0.5607412  -1.03 -10.25916  -0.48 -3.181643  -0.63
Number of obs  326 326 326
P value   0 0 0
R 2   0.2694 0.9142 0.9882

(Nguồn: Tác giả xử lý số liệu từ phần mềm Stata) Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc kỳ hạn nợ của công ty.

(Ghi chú: *, **, *** lần lượt đại diện cho ý nghĩa thống kê tại mức 10%, 5%, 1%)

Bảng 4.3 trên cho thấy mối tương quan giữa các nhân tố nội tại với CTKHN đều phù hợp với dự đoán và phân tích từ các nghiên cứu trước, ngoại trừ nhân tố LEV, LIQ và TAX. Trong đó có thể thấy tỷ lệ đòn bẩy (LEV) của công ty quản trị Khách sạn – Du lịch càng cao thì tỷ lệ cấu trúc NDH càng thấp (có ý nghĩa thống kê ở mức ~1%). Phát hiện này cho thấy ngành quản trị Khách sạn – Du lịch cũng có xu hướng có các khoản vay ngắn hạn để tài trợ hoạt động hơn là cấu trúc nợ dài hạn. Song, kết quả không ghi nhận bằng chứng có mối tương quan giữa lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh với CTKHN.

Lợi nhuận (PROF) không có ý nghĩa thống kê và tương quan âm đối với CTKHN (MR) đối với phương pháp Pooled OLS. Bên cạnh đó, PROF có ý nghĩa thống kê tại mức 1% và 5% đối với phương pháp Pooled OLS khi thay biến phụ thuộc MR bằng 2 biến HTQ và HNTT. Chỉ số HTQ phản ánh tổng quát nhất năng lực thanh toán của DN trong ngắn và dài hạn, kết quả hồi quy nhân tố Lợi nhuận cao, đạt hơn 16.7 lần (HTQ >2) và có mối tương quan âm cho thấy DN sử dụng ít chi phí tài chính và đòn bẩy tài chính thấp, phản ánh khả năng thanh toán của DN rất tốt. Điều này cũng đúng với kết quả hồi quy nhân tố Lợi nhuận đối với biến HNTT, đạt gần ~ 1.8 lần (HNTT >1) và có mối tương quan dương cho thấy DN có khả năng cao trong việc sẵn sàng thanh toán các khoản NNH đến hạn. Trong HĐKD, DN có lợi nhuận đôi khi cũng có thể thất bại nếu như không đủ dòng tiền dương duy trì cho các khoản cần phải thanh toán. Điều này cũng có thể xảy ra nếu lợi nhuận của một DN đó bị ràng buộc do các mặt hàng bị tồn đọng, hàng tồn quá mức hoặc phải chi nhiều cho những khoản đầu tư TSCĐ. Lợi nhuận sau thuế chỉ là lợi nhuận danh nghĩa về sổ sách kế toán. Khấu hao là chi phí không bằng tiền nhằm mục đích chắn hay tiết kiệm thuế nên chúng không phải là nguồn trả nợ vay (chỉ có dòng tiền vào hoặc dòng tiền ròng mới đo lường được khả năng trả nợ đến hạn của người vay). Tuy nhiên, DN nên hạn chế dùng Doanh thu (NNH có thể dùng một phần doanh thu) để chi trả cho các khoản nợ, bởi vì bản chất của việc đi vay và người cho vay là chia sẽ Lợi nhuận từ hiệu quả HĐKD

Các biến VOL, TAN và SIZE đều có mối tương quan dương và có ý nghĩa thống kê mạnh với hệ số beta lần lượt là 5.07e-07, 0.179 và 0.074 với CTKHN. Kết quả này cho thấy các công ty có TSHH càng lớn thì tỷ lệ khoản vay có kỳ hạn dài càng cao, phù hợp với đặc điểm ngành quản trị Khách sạn – Du lịch với vốn đầu tư ban đầu cao. Đồng thời, các công ty có tình hình tài chính lành mạnh như biến động trong thu nhập thấp (VOL thay đổi tích cực), quy mô công ty càng lớn thì tỷ lệ cấu trúc NDH càng cao, phù hợp với lý thuyết chi phí người đại diện.

Các biến LIQ và DSCR đều có ý nghĩa thống kê ở mức 1% lên CTKHN với dấu như kỳ vọng. Cụ thể, tính thanh khoản và khả năng chi trả nợ có tương quan âm với kỳ hạn nợ. Khả năng chi trả nợ cao hơn có xu hướng vay NNH hơn, hệ số tương quan giữa cặp biến MR – DSCR là 0.0188 và giữa MR – LIQ là 0.0322 cho thấy khi tỷ số khả năng trả nợ giảm thì kỳ hạn nợ của DN sẽ tăng. LIQ và DSCR < 1 phản ánh DN cần dựa vào các nguồn lực đi vay bên ngoài để đảm bảo khả năng chi trả nợ. Trong mô hình về bất cân xứng thông tin về loại hình vay cho rằng các công ty được xếp hạng tín dụng cao sẽ chọn nợ ngắn hạn bởi vì họ có thể tận dụng lợi thế từ những nguồn tin tức trong tương lai. Flannery (1986) lập luận rằng có một mối quan hệ giữa CTKHN và rủi ro thanh khoản, Người đi vay cung cấp các thông tin về nhu cầu vốn của Dự án, Người cho vay từ đó sẽ xếp hạng tín dụng DN, các DN có xếp hạng tín dụng cao thích NNH, và các DN có xếp hạng thấp hơn thích NDH. Cũng như Ngân hàng chỉ có thể phát hành NNH đối với các DN được xếp hạng tín dụng thấp. Các công ty quản trị Khách sạn – Du lịch có Tỷ số khả năng trả nợ thấp có xu hướng sở hữu các khoản vay có cấu trúc ngắn hạn hơn là dài hạn. Các quan sát này cho thấy, các yếu tố liên quan đến tiêu chí đánh giá khả năng thanh toán ghi nhận mối tương quan nghịch chiều với CTKHN. Khi xảy ra tương quan nghịch chiều tức có nghĩa khi gia tăng các biến này thì kỳ hạn nợ sẽ giảm và ngược lại.

Kết quả nghiên cứu cũng cho kết quả AM, GROW, TAX hoàn toàn không có ý nghĩa thống kê. Hay nói cách khác, các yếu tố này không tác động đến kỳ hạn nợ của các công ty ngành quản trị Khách sạn – Du lịch.

Nhìn chung, VOL là nhân tố tác động mạnh nhất đến CTKHN và cụ thể ở mức 5%. Tiếp đến là TAN với kết quả là ~18%, nhân tố TAN có ý nghĩa thống kê tại mức 10% khi thay biến phụ thuộc MR bằng HNTT để chuẩn mệnh mô hình gốc. Từ đó, cung cấp bằng chứng cho thấy các công ty cần có nhiều TSHH để đảm bảo cho những khoản vay dài hạn. Như vậy, các công ty ngành quản trị Khách sạn – Du lịch sẽ vay NDH nhiều hơn khi công ty có Biến động thu nhập (VOL) cao hơn và có nhiều TSHH hơn.

Bảng 4.3.1: Kết quả hồi quy chuẩn mạnh tác động của các  nhân tố nội tại đến CTKHN

  MR  HTQ  HNTT 
LEV  0.1394957  3.14 -4.470611 -3.76*** -1.54059 -5.48 ***
PROF  0.0310051  0.28 -16.71156 -4.43*** 1.75956 1.97 **
VOL  1.42E-03  1.25 0.00002 2.70*** 4.24E-06 2.09 **
LIQ  0.0002263  0.26 1.46754 48.06*** 0.99944-138.56 ***
TAN  0.0185698  0.3 1.12807  0.69 0.68838  1.79 *
AM  0.0000135  0.34 -0.00086  -0.41 0.00061  1.25
SIZE  0.0453194  1.65 0.78425  0.9 0.05671  0.28
GROW  0.1472866  0.38 11.6938  0.58 4.63631  0.97
TAX  0.0323415  0.7 -1.14327  -0.48 0.23959  0.42
DSCR  -0.0039517  -0.87 1.08872 8.30*** 0.04586  1.48
CONST  42.80442  1.25 -10.25916  -0.48 -3.18164  -0.63
Number of obs  326 326 326
Group  30 30 30
P value   0.0008 0 0
R 2   0.2694 0.9142 0.9882

(Nguồn: Tác giả xử lý số liệu từ phần mềm Stata) Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc kỳ hạn nợ của công ty.

Để củng cố cho kết quả chính của nghiên cứu, tác giả tiến hành hồi quy chuẩn mạnh bằng mô hình tác động ngẫu nhiên (REM) và mô hình tác động cố định (FEM). Kết quả chuẩn mạnh cho thấy, tương tự như mô hình gốc, việc sử dụng đòn bẩy tài chính (LEV) và khả năng thanh toán (DSCR) của các công ty quản trị Du Lịch – Khách sạn trong mẫu có tương quan nghịch chiều với cấu trúc kỳ hạn nợ dài. Đồng thời, quy mô tài sản đồng biến với CTKHN dài và Lợi nhuận công ty (PROF) đồng biến với hệ số khả năng thanh toán tức thời (HNTT). Kết quả với khả năng thanh toán tổng quát (HTQ) và khả năng thanh toán tức thời (HNTT) tương đồng với mô hình hồi quy gốc, ngoài biến tài sản hữu hình (TAN) không có ý nghĩa thống kê với biến HTQ

Nếu so sánh với các nước có nền kinh tế đã phát triển thì mức độ sử dụng nợ vay dài hạn của các công ty ngành quan trị Khách sạn – Du lịch tại Việt Nam là khá thấp (~ 34%), nhưng tỷ lệ này phù hợp với các nước có nền kinh tế đang phát triển Thái Lan, Malaysia… Thực tiễn quan sát các các công ty ngành quản trị Khách sạn – Du lịch Việt Nam cũng thấy rằng đặc trưng các công ty thuộc ngành này hiện đang phát triển kinh tế và có nhu cầu phần lớn trong đầu tư TSCĐ như xây dựng cơ sở hạ tầng và sắp tới là đầu tư phát triển công nghệ … những hạn mục này thường có tổng mức đầu tư lớn cũng như cần nhiều thời gian hoàn vốn, bên cạnh đó còn nhiều yếu tố liên quan đến môi trường pháp lý, cơ chế và chính sách đặc thù … Theo đó, kết quả của nghiên cứu cũng cho thấy các biến giải thích như Kỳ hạn tài sản, Quy mô công ty, Cơ hội tăng trưởng và Thuế đều không có ý nghĩa thống kê đối với Hệ số khả năng thanh toán.

Thay vì chạy qua 3 mô hình OLS, FEM và REM để so CTKHN với nhau như hướng Đề cương ban đầu. Việc chạy OLS (thay FEM, REM) để chuẩn mệnh 3 biến đại diện cho yếu tố trả nợ: MR, HTQ và HNTT, tác giả thấy Kết quả có ý nghĩa thống kê, khả năng giải thích cao và đáng tin cậy hơn sơ với các nghiên cứu trước R2 lần lượt là ~ 30%, ~ 91% và ~ 99%.

Ngoài ra với giá trị Pvalue = 0.0000 < 0.01 trong cả ba biến, điều này ngụ ý rằng với phương pháp Pooled OLS cho cả 3 biến đại diện cho yếu tố trả nợ thì mô hình nghiên cứu đều thật sự phù hợp với mẫu nghiên cứu.

4.4. Tổng hợp và thảo luận kết quả nghiên cứu Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc kỳ hạn nợ của công ty.

Bảng 4.4: Tổng hợp và thảo luận kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng cho thấy CTKHN của công ty ngành quản trị Khách sạn – Du lịch tại Việt Nam có chịu sự tác động của các nhân tố nội tại. Các nhân tố Lợi nhuận, Kỳ hạn tài sản và Tốc độ tăng trưởng hoàn toàn không có tác động đến CTKHN trong các mô hình nghiên cứu. Ngoài ra, tương quan giữa các nhân tố nội tại với CTKHN đều phù hợp với kỳ vọng dựa trên cơ sở lý thuyết cũng như kết quả nghiên cứu thực nghiệm. Cụ thể, Biến động thu nhập, tính Thanh khoản, TSHH, Quy mô công ty có tương quan dương với kỳ hạn nợ; Đòn bẩy tài chính và Khả năng chi trả nợ có tương quan âm với kỳ hạn nợ. Thuế phải nộp TAX không tác động lên kỳ hạn nợ.

Kết quả nghiên cứu này ủng hộ lập luận của lý thuyết chi phí đại diện, lý thuyết bất cân xứng thông tin và các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm trước đó, như nghiên cứu của Flannery (1986), Stephan và cộng sự (2011), Lemma và Negash (2011), các Công ty có khả năng tiếp cận thị trường vốn dài hạn có cơ hội phát hành nhiều nợ dài hạn hơn. Theo đó, các công ty ngành quản trị Khách sạn – Du Lịch Việt Nam đang có xu hướng lựa chọn cấu trúc kỳ hạn nợ: (1) Phù hợp với quy mô của mình, (2) phù hợp với cấu trúc kỳ hạn của tài sản: công ty càng có nhiều TSCĐ càng ưu tiên sử dụng NDH nhiều hơn, (3) Ưu tiên sử dụng nhiều NNH hơn khi công ty có hiệu suất sử dụng tài sản cao, tình hình tài chính lành mạnh hoặc độ biến động trong thu nhập lớn để giảm thiểu rủi ro, (4) Tương xứng với khả năng thanh khoản, theo đó, các công ty có khả năng thanh khoản dồi dào, càng có khả năng sử dụng nhiều NNH hơn.

Khác với các nước khác, trong số các nhân tố nội tại, tài sản hữu hình là nhân tố tác động mạnh nhất đến quyết định vay NDH. Điều này chứng tỏ vay nợ của công ty tại Việt Nam nói chung và công ty ngành quản trị Khách sạn – Du lịch nói riêng chủ yếu thông qua Ngân hàng và TSĐB không phải là tiêu chuẩn quan trọng hàng đầu để các TCTD cấp tín dụng cho khách hàng. Nói cụ thể hơn, để cấp tín dụng cho Khách hàng, các TCTD phải căn cứ chủ yếu vào uy tín tín dụng và khả năng trả nợ của khách hàng, chứ không phải căn cứ chủ yếu vào TSĐB. Quyết định điều chỉnh CTKHN của công ty chịu tác động của các nhân tố nội tại gồm: Biến động thu nhập, Tính thanh khoản, Tài sản hữu hình, Đòn bẩy tài chính, Quy mô Công ty và Tỷ số khả năng trả nợ.

Khả năng tiếp cận thị trường tài chính là một chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng đến việc quyết định CTKHN của các công ty nghành quản trị Khách sạn – Du lịch tại Việt Nam cả về nhân tố cũng như mức độ tác động của nhân tố.

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN và KIẾN NGHỊ Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc kỳ hạn nợ của công ty.

Dựa vào kết quả nghiên cứu thực nghiệm trong chương 4, sau khi kết luận chung về những kết quả đạt được, luận văn đưa ra một số gợi ý chính sách cho công ty Ngành quản trị Khách sạn – Du lịch cũng như các nhà hoạch định chính sách nhầm nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn theo kỳ hạn nợ mục tiêu:

5.1. Kết luận chung

Việc nghiên cứu về CTKHN, khả năng chi trả nợ (DSCR) có đóng góp quan trọng cho các nghiên cứu CTKHN tại Việt Nam.

Thứ nhất, đây là nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam, sử dụng khả năng chi trả nợ trong phân tích các nhân tố ảnh hưởng CTKHN tại các công ty quản trị ngành Du lịch – Khách sạn. Nghiên cứu được thực hiện trong bối cảnh một quốc gia đang phát triển, do đó, việc chọn mẫu là các DN niêm yết tại Việt Nam có thể đánh giá tác động của các nhân tố đối với CTKHN sẽ có nhiều ý nghĩa hơn so với nghiên cứu các nhân tố này tại các quốc gia phát triển.

Thứ hai, nghiên cứu củng cố và bổ sung cho các nghiên cứu trước khi không giả định các doanh nghiệp sử dụng CTKHN ngắn hạn, thay vào đó, nghiên cứu xem xét CTKHN ngắn và dài hạn. Nghiên cứu này cũng không giả định yếu tố tác động là như nhau tại mọi CTKHN vì sự thiếu phù hợp trong lý thuyết.

Thứ ba, đây cũng là nghiên cứu áp dụng thước đo hạn chế tài chính toàn diện nhằm phân tích liệu các DN có hạn chế về tài chính sẽ không có điều kiện áp dụng linh hoạt CTKHN hơn so với các doanh nghiệp không có hạn chế tài chính.

Cuối cùng, mẫu nghiên cứu lần đầu tiên được thực hiện trong Ngành quản trị Du lịch – Khách sạn, vốn được xem là ngành sử dụng tỷ lệ đòn bẩy nhiều. Việc chọn mẫu là các công ty ngành quản trị Du lịch – Khách sạn niêm yết tại Việt Nam để đánh giá tác động của các nhân tố đòn bẩy trong nội tại DN đối với CTKHN sẽ có nhiều quan sát quan trọng về CTKHN hơn do tính chất của Ngành. Ngoài ra, tác giả cũng cung cấp các hàm ý quan trọng nhằm cải thiện tình hình hiện tại của các công ty quản trị Du lịch – Khách sạn niêm yết tại Việt Nam.

5.2. Gợi ý chính sách Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc kỳ hạn nợ của công ty.

Các chủ thể có lợi ích gắn với doanh nghiệp và các đối tượng có liên quan đều quan tâm đến hoạt động tài chính của doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng thông tin kinh tế, tài chính của doanh nghiệp. Mỗi đối tượng quan tâm theo giác độ và với mục tiêu khác nhau, các đối tượng sử dụng thông tin tài chính khác nhau sẽ đưa ra các quyết định với mục đích khác nhau. Từ những kết quả nghiên cứu trên, tác giả xin phép đưa ra các kiến nghị liên quan đến bài nghiên cứu như sau:

5.2.1. Đối với các nhà quản trị tài chính

Là người trực tiếp quản lý, điều hành doanh nghiệp, nhà quản lý hiểu rõ nhất tài chính doanh nghiệp. Bài nghiên cứu cũng cho thấy, khả năng tiếp cận nguồn tài chính là một tiêu chí quan trọng quyết định nhân tố cũng như mức độ tác động của nhân tố lên KHN. Lợi nhuận công ty được đo bởi lợi nhuận dòng tiền trên vốn thì được đặc trưng bởi CTKHN dài, các công ty được nghiên cứu có vay NNH và NDH để tài trợ cho HĐKD nhưng đa phần là NNH. Như vậy, các công ty có một số hạn chế để lựa chọn CTKHN và các công ty ngành quản trị Khách sạn – Du Lịch Việt Nam có tốc độ điều chỉnh CTKHN chậm, chi phí điều chỉnh cao hơn do sai lệch CTKHN mục tiêu gây nên. Nhìn chung, nhà quản trị tài chính cần nghiên cứu về sự vận động và cách thức gia tăng giá trị của dòng tiền. Cụ thể cần phải lưu ý những vấn đề sau:

Những nhân tố như Khả năng chi trả nợ và Tính thanh khoản có tác động đến CTKHN nên nhằm hạn chế các khoản chi phí phát sinh do vấn đề đại diện, công ty cần xem xét tính thanh khoản cũng như khả năng chi trả nợ của công ty trong tương lai mà đưa ra quyết định KHN hợp lý. Công ty có thanh khoản và tỷ số khả năng trả nợ cao sẽ thực hiện chính sách nợ với kỳ hạn dài chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nợ. Việc sử dụng NNH giúp DN giảm bớt chi phí vay nợ do có thể dự đoán được sự biến động của lãi suất, dễ dàng tiếp cận hơn đồng thời là một tín hiệu tốt ra thị trường để thu hút các nhà đầu tư và dự án tiềm năng.

Biến động thu nhập thể hiện đặc điểm về tình hình tài chính của công ty và có tương quan dương đến CTKHN, điều này giúp công ty dễ dàng tiếp cận được nguồn vốn vay. Những khoản cho vay trung, dài hạn thường có kỳ hạn điều chỉnh lãi suất thường từ 6 tháng đến 1 năm. Trong khi đó, phần lớn nguồn vốn huy động của các ngân hàng là nguồn vốn ngắn hạn và lãi suất khá linh hoạt theo thị trường. Sự chênh lệch về kỳ hạn và lãi suất giữa nguồn vốn huy động và cho vay là vấn đề nan giải nhất mà các ngân hàng phải tính toán và cân đối trong cho vay, do đó, các công ty cũng phải tối đa hóa được các cơ hội sử dụng chi phí vay nợ. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc kỳ hạn nợ của công ty.

Quy mô và tài sản công ty liên quan mật thiết đến giá trị thế chấp và giá trị của khoản vay. Quan tâm đến giá trị TSCĐ hiện tại của công ty cũng như mức độ phù hợp giữa kỳ hạn của tài sản và kỳ hạn của nợ. Tài sản có thời gian sử dụng càng dài càng nên tài trợ bằng vốn vay dài hạn. Nếu công ty có nhiều TSCĐ sẽ có nhiều khả năng vay NDH hơn và ngược lại. Các DN chưa thiết lập được các giấy tờ chứng minh QSH đối với các loại tài sản để đảm bảo cho khoản vay nên sử dụng nhiều NDH để hạn chế áp lực trả nợ khi đến hạn, ngoài ra công ty cũng nên tìm cách hoàn thiện cơ sở pháp lý cho các tài sản như hạch toán xây dựng dở dang để đưa vào khai thác…

Sự tương tác của Lợi nhuận giữ lại là một tương tác nghịch chiều, lợi nhuận giữ lại tăng, các chủ nợ sẽ đánh giá tích cực tiềm năng phát triển cũng như khả năng tín dụng của DN đó dẫn đến sẽ đãi ngộ nhiều ưu đãi trong việc đưa DN đó tiếp cận đến nguồn vốn, đồng thời lãi suất vay nợ cũng có thể phù hợp hơn. Do đó, để tối ưu hóa hiệu quả việc sử dụng chi phí tài chính công ty có thể chỉ sử dụng các khoản vay ngắn hạn để phục vụ nhu cầu vốn và ưu tiên sử dụng Lợi nhuận giữ lại để gia tăng giá trị DN và nhằm đề phòng xác suất về rủi ro thanh khoản, từ đó giảm nguy cơ phá sản. Trong lúc chờ đợi những chính sách, điều hành từ các CQCN, với tình hình thắt chặt room tín dụng hiện nay, các DN cân nhắc việc mua sắm MMTB mới để chờ tín hiệu thị trường, còn vốn thì sẽ huy động từ cổ đông thay vì vốn vay các TCTD với lãi suất cao.

Liên quan đến tính chấp hành các quy định của Pháp Luật, cơ sở quản lý điều hành của từ phía các CQCN. Công ty cần chuẩn bị đầy đủ nội dung phương án và chứng từ sử dụng vốn theo quy định tại khoản 6 Điều 2 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 31/12/2016. Đặc biệt đối với các khoản vay có kỳ hạn ngắn (như vay bổ sung vốn lưu động hoặc hạn mức…) để SXKD. Chú ý tài liệu cung cấp cho TCTD về việc chứng minh mục đích sử dụng vốn, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 30 Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27/06/2013 quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân, theo đó cá nhân cung cấp dịch vụ phải thực hiện kê khai nộp thuế TNCN theo quy định, các CQCN và TCTD có thể tra cứu thông tin tại trang web http://tracuunnt. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc kỳ hạn nợ của công ty.

Từ tháng 04 – 07 / 2022, tức sau 3 tháng sau khi một số NH có động thái siết vốn, nhiều DN bước vào giai đoạn khát vốn, các dòng vốn đầu tư tài sản cũng có dấu hiệu co cụm, phòng thủ. DN quy mô vừa và nhỏ, chất lượng tài sản không cao sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn vốn để xoay vòng. Với nhóm DN lớn phần nào ít áp lực hơn do còn tài sản để đảm bảo vay NH cùng với đó là họ đủ điều kiện để phát hành trái phiếu cũng như có khả năng vay trái phiếu quốc tế. Nhà quản trị tài chính cần chủ động nâng cao năng lực và khả năng lập phương án dòng tiền (Cash Flow) khả thi, khi đó quyền tài sản phát sinh dùng làm TSTC như giá trị dòng tiền chiết khấu (thu nhập thuần) sẽ là công cụ để nhà quản trị tài chính tự tin và chủ động hơn trong việc lựa chọn CTKHN phù hợp với tình hình tài chính của công ty.

Lượng vốn mà DN cần sử dụng để đáp ứng nhu cầu SXKD phụ thuộc vào quy mô hoạt động của DN. Một trong những chỉ tiêu biểu hiện quy mô hoạt động của DN là doanh thu thuần (doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ hoặc doanh thu thuần HĐKD). Nhu cầu về vốn đòi hỏi sự cân bằng với đầu tư và quy mô hoạt động. Vì thế, khi doanh thu thay đổi, nhu cầu về vốn cũng thay đổi theo, sự thay đổi đó không nhất thiết phải theo một tỷ lệ cố định bởi lẽ nó còn phụ thuộc vào hiệu quả sử dụng vốn. Do vậy, nhà quản lý tài chính cần “ước tính” về vấn đề định hướng cho việc lập kế hoạch SXKD cũng như hoạch định chiến lược. Nhu cầu ước tính đó chính là nhu cầu dự báo các chỉ tiêu tài chính và lập kế hoạch tài chính. Trong trường hợp lượng tiền giảm lớn hơn lượng tiền tăng trong kỳ, DN phải có kế hoạch để huy động thêm tiền từ các nguồn khác nhằm tránh gặp phải khó khăn trong thanh toán.

Nhìn chung, khi đi vay tại các TCTD cần nghiên cứu & chuẩn bị thật kỹ các hồ sơ để đảm bảo tuân thủ đúng quy định, quy trình và các tiêu chí yêu cầu của TCTD. Ngoài ra, các công ty cần có giải pháp huy động vốn bền vững thay vì chỉ phụ thuộc vào dòng vốn tín dụng của các NHTM như kênh cho thuê tài chính, các quỹ đầu tư mạo hiểm, thị trường chứng khoán, cổ phần, trái phiếu doanh nghiệp (tham khảo thêm Nghị định 65/2022. Theo Moody’s thì phải từa Baa trở lên, với S&P và Fitch là từ BBB trở lên). Trong bối cảnh ba kênh huy động vốn trên thị trường, gồm tín dụng ngân hàng, cổ phiếu và TPDN, đều gặp khó khăn thì nhiều DN đã xoay xở đi tìm vốn từ nước ngoài (các thông tin công bố cho thấy kết quả huy động lên đến hàng tỉ đô la từ khối ngoại). Các nhà đầu tư là những người giao vốn của mình cho doanh nghiệp quản lý sử dụng, được hưởng lợi và cũng chịu rủi ro. Đó là những cổ đông, các cá nhân, các đơn vị, DN khác. Các đối tượng này quan tâm trực tiếp đến những tính toán về giá trị của DN. Thu nhập của các nhà đầu tư là cổ tức được chia và thặng dư giá trị của vốn. Hai yếu tố này phần lớn chịu ảnh hưởng của lợi nhuận thu được của doanh nghiệp. Vì vậy, nhà quản trị tài chính cần quan tâm điều hành: sức sinh lời bình quân vốn kinh doanh, sức sinh lời vốn cổ phần, giá của cổ phiếu trên thị trường so với mệnh giá, so với giá trị ghi sổ như thế nào, dự án đầu tư dài hạn của DN dựa trên cơ sở nào. Tính trung thực, khách quan của các báo cáo tài chính đã công khai để làm rõ triển vọng phát triển của DN…. từ đó nhà đầu tư dựa vào những thông tin tài chính chuyên nghiệp này và đưa ra quyết định đầu tư của họ vào DN.

Các chủ thể có lợi ích gắn với DN đều quan tâm đến thực trạng hoạt động và an ninh tài chính của DN, bằng việc phân tích CTKHN và khả năng thanh toán của DN để có thể thấy chất lượng và hiệu quả của hoạt động tài chính. Hiện không nên nhìn vào các dự báo vĩ mô tươi sáng, các báo cáo chỉ là ánh xạ của những câu chuyện trong quá khứ, không phản ánh được hiện thực. Do vậy, DN cần phát huy tối đa khả năng tạo dòng tiền ròng thông qua cách tổ chức và triển khai hoạt động kinh doanh một cách hiệu quả (có điểm nhấn và sự khác biệt, đi nhanh nhưng đảm bảo quản lý được rủi ro, tránh thiệt hại và lãng phí nguồn lực không cần thiết…). Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc kỳ hạn nợ của công ty.

5.2.2. Đối với Cơ Quan Nhà Nước và Tổ Chức Tín Dụng

Đây là các cơ quan đại diện cho quyền lực và lợi ích của nhân dân thực hiện nhiệm vụ quản lý giám sát nền kinh tế, giám sát việc thực hiện nghĩa vụ của DN và Nhà nước, kiểm tra việc chấp hành Luật pháp của DN nhằm giúp các nhà quản lý của các cơ quan này thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước giao một cách hiệu quả.

TCTD cũng cần quan tâm hỗ trợ và hướng dẫn cho các khách hàng liên quan đến các thủ tục về hồ sơ pháp lý, thủ tục hành chính, phương án kinh doanh,… đảm bảo hồ sơ vay vốn vừa giải quyết đúng quy định vừa quản trị được rủi ro trong công tác cho vay.

TCTD khi cho vay cần biết chắc được khả năng hoàn trả tiền vay, do đó, xác định khả năng hoàn trả nợ của DN là rất quan trọng. Những khoản cho vay dài hạn và những khoản cho vay ngắn hạn có những nét khác nhau. Đối với những khoản cho vay ngắn hạn thì đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán ngay của DN, nói khác đi là khả năng ứng phó của DN khi nợ vay đến hạn trả. Đối với các khoản cho vay dài hạn, cần thẩm định tài chính các dự án đầu tư, quản lý được quá trình giải ngân sử dụng vốn cho từng dự án đầu tư để đảm bảo khả năng hoàn trả nợ thông qua thu nhập và khả năng sinh lời của DN cũng như kiểm soát dòng tiền của các dự án đầu tư của DN.

Tài sản hữu hình (TSĐB) là một trong các điều kiện mà người vay cần phải đáp ứng để được các TCTD cấp tín dụng có bảo đảm bằng tài sản. Vấn đề đặt ra là các TCTD định giá những tài sản như thế nào nhằm vừa đảm bảo hạn chế rủi ro cho các TCTD vừa đảm bảo quyền lợi của công ty sở hữu tài sản đó, vì vậy:

Cơ quan quản lý Nhà nước thống nhất các quy định trong việc quản lý cũng như định giá TSHH, đặc biệt là đất đai. Bộ Tài chính và Bộ Tài nguyên & Môi trường cần có những hướng dẫn rõ ràng về các tỷ suất chiết khấu, tỷ lệ lợi nhuận cho nhà đầu tư…để làm cơ sở xác định đúng giá trị của tài sản theo quy định của Nhà nước. Công tác quản lý tài sản là đất đai cần tránh chồng chéo, tạo sự thống nhất trong quản lý giúp DN thuận tiện trong việc thực hiện các hồ sơ thẩm định giá tài sản để thế chấp vay vốn. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc kỳ hạn nợ của công ty.

NHNN chỉ đạo các TCTD tiếp tục rà soát, đơn giản hóa thủ tục vay vốn; đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng để tăng khả năng tiếp cận vốn cho người dân và DN; nâng cao hiệu quả thẩm định và đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng, quản lý dòng tiền để tăng cường khả năng cho vay không có TSĐB (lý do chủ yếu nhất cũng vì thiếu tài sản đảm bảo nên không vay được vốn ngân hàng). Tăng cường kết nối giữa TCTD – DN nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong tiếp cận nguồn vốn tín dụng.

Quy định pháp luật còn chưa thực sự rõ ràng nên dẫn đến việc trong thực tế áp dụng vẫn còn một số vấn đề vướng mắc liên quan đến biện pháp bảo đảm bằng tài sản. Khuôn khổ pháp lý về biện pháp bảo đảm còn khá sơ lược và vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro cho các TCTD. TSTC phải là sở hữu hợp pháp của bên vay, khi đưa ra thế chấp phải giao nộp hiện vật (nếu là tài sản có thể lưu giữ ở kho của TCTD) hoặc giấy tờ … vì thế, cần xem xét, hướng dẫn và tạo điều kiện cho DN và NHTM thực hiện các khoản vay đảm bảo bằng quyền sở hữu – sử dụng – định đoạt tài sản (sau đây gọi là Quyền tài sản) chưa đáp ứng đủ các điều kiện, nguyên tắc, quy định nêu tại Điều 106; Quyền hưởng dụng theo quy định từ Điều 257 đến điều 266 của Bộ Luật Dân sự năm 2015. Ví dụ, TSTC là toàn bộ quyền và lợi ích được hưởng từ giá trị lợi thế QSD đất hàng năm và lợi tức được hưởng từ quyền khai thác công trình xây dựng và hoa lợi trên đất thì nội dung đăng ký giao dịch đảm bảo có thể là “các khoản lợi, lợi tức thu được từ việc kinh doanh, khai thác giá trị của dự án …” để tránh tiềm ẩn rủi ro trong quá trình xử lý tài sản để xử lý nợ.

TSĐB là nhân tố giúp các NHTM hạn chế được rủi ro khi cấp tín dụng tuy nhiên bối cảnh mới cho thấy, những khoản cấp tín dụng có TSĐB cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Chất lượng thẩm định TSĐB của nhiều TCTD ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa được chuyên môn hóa và tiềm ẩn nhiều rủi ro cho các TCTD, đặc biệt là rủi ro về thẩm định giá trị TSĐB. Để hạn chế rủi ro trong việc cấp tín dụng có TSĐB, các TCTD phải từng bước chuyên môn hóa hoạt động thẩm định TSĐB của mình, tùy thuộc vào quy mô hoạt động và khả năng chuyên môn hóa và khẩu vị rủi ro của từng TCTD, tuy nhiên cần lưu ý:

Thứ nhất, đảm bảo tuân thủ tuyệt đối các tỷ lệ an toàn vốn theo quy định của Thông tư số 22/2019/TT-NHNN; Kiểm soát dòng tiền của DN, phát vay kèm các điều kiện tín dụng để đảm bảo dòng tiền quay về chi nhánh; Áp dụng chế tài tín dụng: thu nợ trước hoặc đúng hạn.

Thứ hai, thường xuyên cập nhật các quy định điều chỉnh/bổ sung của pháp luật và các tình huống phát sinh thực tế; Hạn chế tài trợ đối với các dự án không ổn định, chứa đựng nhiều rủi ro, thông tin về pháp lý chưa rõ ràng; Sử dụng thông tin tra cứu CIC về BĐS trước khi nhận thế chấp.

Thứ ba, xây dựng và ban hành đầy đủ các quy định nội bộ về thẩm định giá TSĐB, dựa trên Hệ thống các tiêu chuẩn thẩm định giá của Việt Nam và có tham khảo thêm Tiêu chuẩn thẩm định giá quốc tế. Các biểu mẫu cần thiết cũng phải chuẩn bị đầy đủ. Ngoài ra, các TCTD cần tuyển dụng được đội ngũ chuyên viên thẩm định TSĐB tốt nghiệp chuyên ngành thẩm định giá hoặc tổ chức đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ thẩm định TSĐB nói chung, thẩm định giá TSĐB nói riêng. Cần ưu tiên tuyển dụng nhân sự có chứng chỉ hành nghề thẩm định giá và có kinh nghiệm hành nghề thẩm định giá nhiều năm. Phải có bộ phận làm công việc thường xuyên thu thập và cập nhật dữ liệu thông tin phục vụ cho công tác thẩm định giá trị TSĐB đảm bảo phù hợp với giá trị thị trường tại thời điểm thẩm định giá. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin (học máy, AI…) trong việc tìm kiếm và thu thập dữ liệu để có được vùng giá các loại TS của từng khu vực ở từng thời điểm, làm cơ sở cho việc kiểm chứng mức giá cuối cùng theo các cách tiếp cận khác nhau của các thẩm định viên.

Hoạt động cho vay của NHTM là kênh trực tiếp “bơm vốn” ra nền kinh tế, và phải chịu sự điều hành, quản lý của Ngân hàng Nhà nước (NHNN). Hiện nay, hoạt động cho vay của TCTD, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng đang được quy định trong Thông tư 39/2016/TT-NHNN (Thông tư 39). Mới đây, NHNN đã ban hành dự thảo sửa đổi Thông tư 39, theo đó những nhu cầu vốn không được cho vay được quy định trong điều 8 của Thông tư 39 có khá nhiều thay đổi, Khách hàng mua BĐS sẽ không còn được giải ngân hoàn vốn khi dự thảo sửa đổi Thông tư 39 được áp dụng. Từ đó, các TCTD nên xem xét bổ sung quy định về các trường hợp cụ thể cần thực hiện thu thập các chứng từ, hóa đơn đầu vào và đầu ra trước, trong và sau khi cho vay nhằm thẩm định đầy đủ khả năng tài chính đảm bảo DN thanh toán nợ vay, tăng khả năng kiểm soát khách hàng sử dụng vốn vay đúng mục đích. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc kỳ hạn nợ của công ty.

Thông tư 08/2020-NHNN, từ 2017 đến nay NHNN đưa ra lộ trình giảm giới hạn tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn theo từng bước về 30%, từ 01/10/2022 giảm từ 37% -> 34%, từ 01/10/2023 trở đi là 30% để đảm bảo an toàn cho hệ thống Ngân hàng bởi trong những năm qua hệ thống Ngân hàng đã phải gánh phần lớn vốn cho vay TDH cho nền kinh tế vốn còn kém phát triển. Vì vậy, TCTD cần cân đối các khoản vay để đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn vốn.

Phát triển thị trường tài chính sẽ tạo nên nhiều cơ hội cho công ty vay nhiều NDH. Đây là nguồn vốn cần thiết cho công ty trong phát triển HĐKD, góp phần giảm áp lực vay ngắn hạn tại các trung gian tài chính, giảm thiểu được vấn đề nợ tiêu cực trong việc thẩm định TSĐB, giảm bớt nợ xấu trong lĩnh vực ngân hàng. Nhà nước cần tiếp tục làm lành mạnh hóa môi trường pháp lý, cải thiện điểm số của các tiêu chí sau: tiếng nói và trách nhiệm giải trình, hiệu quả của chính phủ, chất lượng các quy định, nhà nước pháp quyền và kiểm soát tham nhũng. Thay vì để hệ thống ngân hàng/TCTD “gồng gánh” như từ trước đến nay, nên xem xét việc xây dựng thị trường vốn dài hơi hơn cho Việt Nam, trong đó không chỉ có thị trường cổ phiếu mà còn là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, phục vụ cho các khoản vay trung và dài hạn với chi phí hợp lý hơn. Cuối cùng là hướng đến mục tiêu nâng cao năng lực tài chính của các chủ thể tham gia quản trị, vì cái gốc nằm ở TỔ CHỨC & KIỂM SOÁT.

5.3. Hạn chế của luận văn và hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Hạn chế của luận văn

Dù chứng minh được mối quan hệ giữa CTKHN và khả năng tài chính của các doanh nghiệp quản trị Du lịch – Khách sạn, tuy nhiên, nghiên cứu của tác giả còn một số hạn chế như sau:

Thứ nhất, không phải tất cả các khoản vay ngắn hạn hay dài hạn đều có tác động như nhau. Trong nghiên cứu này, tác giả kiểm tra sự thay đổi trong thời gian đáo hạn nợ trên tất cả các khoản vay chưa thanh toán của các công ty. Các kiểm định mạnh mẽ hơn về các giả thuyết tín hiệu có thể đến từ việc kiểm tra sự thay đổi của thời gian đáo hạn nợ khi đi vay.

Thứ hai, dữ liệu của tác giả sử dụng một định nghĩa rộng về CTKHN, gồm CTKHN dài hạn và ngắn hạn. Dữ liệu được phân tích nhiều hơn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra và mức độ “phong phú” của chính sách nợ đến hạn thanh toán. Tuy nhiên, tác giả không biết có bao nhiêu trong tổng số biến động là kết quả của sự thay đổi giữa các công cụ CKH trung bình khác nhau và bao nhiêu là do sự thay đổi trong thời gian đáo hạn của một bộ công cụ (chẳng hạn như KUNN 20 năm hay 12 năm). Việc kiểm tra chi tiết hơn về sự kết hợp của các công cụ nợ được phát hành bởi các loại hình DN khác nhau sẽ cung cấp kết cấu quan trọng để chúng ta hiểu về cách các DN đạt được CTKHN được quan sát của họ. Cuối cùng, tác giả chỉ đơn giản sử dụng định nghĩa HỢP LÝ về số nợ đến hạn trong một năm nhất định để phân tích lựa chọn đáo hạn.

  • Hướng nghiên cứu tiếp theo Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc kỳ hạn nợ của công ty.

CTKHN là chủ đề nghiên cứu được quan tâm trong thập kỷ qua, xong đối với ngành quản trị Khách sạn – Du lịch vốn sử dụng vốn đầu tư lớn tại Việt Nam vẫn chưa được chú ý. Nghiên cứu của Fan và cộng sự (2012) về CTKHN của công ty tại các quốc gia có nền kinh tế đã và đang phát triển chứng tỏ tác động của thuế lên kỳ hạn nợ là không mạnh mẽ và phổ biến bằng các nhân tố khác như hệ thống luật pháp, mức độ tham nhũng, ưu đãi của nhà cung cấp vốn. Theo nghiên cứu này, tại những quốc gia có mức độ tham nhũng lớn, các công ty có xu hướng sử dụng nhiều nợ hơn và trong đó chủ yếu là nợ có kỳ hạn ngắn. Kết quả nghiên cứu ủng hộ cho sở thích của các ngân hàng là cho vay ngắn hạn, nghĩa là tại những nước có hệ thống ngân hàng phát triển, công ty sử dụng nhiều nợ ngắn hạn. Tại Phụ lục 9 tác giả có dùng thêm biến TI để tìm hiểu tác động của nhân tố này đến CTKHN, tuy nhiên khi chạy mô hình thì kết quả hồi quy không cao. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể là tìm được đại lượng thích hợp để làm rõ hơn Lý thuyết về thuế và tìm hiểu các thêm các nhân tố bên ngoài đến CTKHN.

Nghiên cứu tập trung cấu trúc kỳ hạn nợ TĨNH mà chưa nghiên cứu mô hình cấu trúc kỳ hạn nợ ĐỘNG để biết được tốc độ điều chỉnh của CTKHN về CTKHN mục tiêu. Bên cạnh đó, tác giả vẫn chưa đề cập đến sự ảnh hưởng của đại dịch COVID-19 để làm rõ tác động đến CTKHN. Trên cơ sở một số hạn chế trên, tác giả đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai nhằm giúp kết quả nghiên cứu đạt độ tin cậy và khách quan bằng cách tiến hành nghiên cứu CTKHN động và đánh giá mức độ tác động của dịch COVID-19 lên CTKHN. Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc kỳ hạn nợ của công ty.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc kỳ hạn nợ của công ty

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Kết quả nghiên cứu đến cấu trúc kỳ hạn nợ của công ty […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537