Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng công thương Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1 Giới thiệu chung về ngân hàng công thương Việt Nam

2.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của ngân hàng công thương Việt Nam

NHCT Việt Nam được thành lập ngày 26/3/1988 trên cơ sở tách ra từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo Nghị định số 53/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng.

Đến ngày 21/09/1996 Ngân hàng Công thương Việt Nam chính thức được thành lập theo Quyết định số 285/QĐ-NH5 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam với tên giao dịch tiếng anh là Incombank. Tuy nhiên, đến ngày 15/04/2008 ngân hàng công thương đổi tên viết tắt từ Incombank sang Vietinbank (viết tắt của Vietnam Join Stock Commercial Bank for Industry and Trade) vì tên Incombank trùng với một ngân hàng khác ở Nga.

Ngày 03/07/2009 Ngân hàng Công thương Việt Nam đổi tên thành Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam theo Giấy phép thành lập và hoạt động của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước Việt Nam số 142/GP-NHNN. Ngân hàng đã tổ chức sự kiện chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) vào ngày 25/12/2008 tại Sở giao dịch chứng khoán tại Thành phố Hồ Chí Minh, 121,1 triệu cổ phiếu phổ thông với mã chứng khoán CTG.

Sơ đồ 2.1: Ba giai đoạn xây dựng và phát triển của ngân hàng công thương Việt Nam

Trong 25 năm qua, ngân hàng công thương đã có những bước phát triển nhanh và vượt bậc về mọi mặt. Ngân hàng luôn đa dạng hóa các dịch vụ cung cấp cho khách hàng nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu khác nhau của khách hàng. ngân hàng công thương cung cấp các dịch vụ ngân hàng bán buôn và bán lẻ trong và ngoài nước, cho vay và đầu tư, tài trợ thương mại, bảo lãnh và tái bảo lãnh, kinh doanh ngoại hối, tiền gửi, thanh toán, chuyển tiền, dịch vụ thẻ, phát hành và thanh toán thẻ tín dụng trong nước và quốc tế, séc du lịch, kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm, cho thuê tài chính và nhiều dịch vụ tài chính – ngân hàng khác. Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank.

Vốn điều lệ của ngân hàng tính đến năm 2022 là 37.234 tỷ đồng, có 19.183 nhân viên.

Hiện nay mạng lưới của ngân hàng công thương phân bổ rộng khắp 63/63 tỉnh và thành phố trên cả nước với 148 chi nhánh cấp một, gồm Hội sở chính, một Sở giao dịch tại Hà Nội, hơn 1000 phòng giao dịch và quỹ tiết kiệm, 6 Công ty hạch toán độc lập và 4 Đơn vị sự nghiệp. ngân hàng công thương còn mở thêm 2 chi nhánh ở Đức và 1 chi nhánh ở Lào.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Khóa Luận Ngành Tài Chính Ngân Hàng

2.1.2 Cơ cấu tổ chức

Năm 2022, ngân hàng công thương đẩy mạnh tái cấu trúc, hoàn thiện, chuẩn hóa mô hình tổ chức. Tái cơ cấu tổ chức ngân hàng thông qua việc thành lập 9 khối kinh doanh nhằm tập trung năng lực quản lý xuyên suốt các lĩnh vực hoạt động kinh doanh và quản trị điều hành từ trụ sở chính đến chi nhánh sao cho phù hợp với thông lệ các Ngân hàng thương mại hiện đại trên thế giới. Như vậy, cơ cấu tổ chức của ngân hàng công thương đã có sự phân định rõ ràng giữa chức năng quản trị và chức năng điều hành.

Hội đồng quản trị do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, giữ vai trò định hướng chiến lược, kế hoạch hoạt động hàng năm: chỉ đạo và giảm sát hoạt động của ngân hàng thông qua Ban điều hành, Ban kiểm soát và các Ủy ban.

Ban kiểm soát do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, có nhiệm vụ kiểm tra hoạt động tài chính của ngân hàng như giám sát việc chấp hành chế độ hạch toán, kế toán, hoạt động của hệ thống kiểm tra và kiểm toán nội bộ của ngân hàng; thẩm định báo cáo tài chính hàng năm; báo cáo cho Đại hội đồng cổ đông tính chính xác, trung thực, hợp pháp về báo cáo tài chính của ngân hàng.

Ban điều hành do Hội đồng quản trị bổ nhiệm và là người chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về hoạt động hàng ngày của ngân hàng. Giúp việc cho Tổng Giám đốc là các Phó Tổng Giám đốc, các Giám đốc khối, kế toán trưởng và bộ máy chuyên môn nghiệp vụ.

Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức ngân hàng công thương Việt Nam

2.1.3 Khát quát kết quả hoạt động kinh doanh giai đoạn 2019-2022 Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank.

Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng công thương giai đoạn 2019-2022

 Nhìn chung, các chỉ tiêu về tổng tài sản, tiền gửi, dư nợ cho vay, vốn chủ sở hữu của ngân hàng công thương đều có xu hướng tăng lên qua các năm.

Tổng tài sản tăng khá nhanh, năm 2019 mới chỉ là 367.730.655 triệu đồng thì sau 4 năm con số này đã lên tới 576.368.416 triệu đồng, tức là tăng 56% (tăng thêm 208.637.761 triệu đồng).

Tiền gửi khách hàng có chênh lệch so với dư nợ cho vay không lớn lắm, nhất là năm 2022, tiền gửi và dư nợ cho vay chỉ chênh nhau 11.791.967 triệu đồng. Điều này khẳng định lợi thế của ngân hàng công thương là một ngân hàng lớn, uy tín với quy mô mạng lưới rộng khắp toàn quốc và có cơ sở khách hàng tốt.

Dư nợ cho vay tăng nhanh từ năm 2019 sang năm 2020 tới 25,29% nhưng sau đó tốc độ tăng trưởng lại chậm lại, chỉ còn khoảng 13%. Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank.

Vốn chủ sở hữu tăng lên một cách vượt bậc. Từ năm 2019 tới năm 2020 vốn chủ sở hữu đã tăng thêm 10.290.350 triệu đồng (tăng 56,54%), tuy rằng sang năm 2021 tốc độ tăng tuy có chững lại, chỉ còn 18% nhưng năm 2022 tốc độ tăng đã lên tới 60%.

Trong giai đoạn vừa qua, đối mặt với khủng hoảng kinh tế thì sự sụt giảm về lợi nhuận hay ROA, ROE vì ngân hàng đặt mục tiêu lợi nhuận dưới mục tiêu tái cơ cấu và phát triển lâu dài. Tuy vậy trong năm 2021 và 2022 các chỉ tiêu về lợi nhuận giảm và quy mô ngân hàng tăng không nhanh bằng vốn chủ sở hữu khiến cho ROE tụt dốc rất mạnh.

Theo xu hướng chung của toàn hệ thống ngân hàng, NIM của ngân hàng công thương cũng có xu hướng giảm, xuống còn 3,61% tại 31/12/2022 do Ngân hàng Nhà nước liên tục điều chỉnh giảm lãi suất để hỗ trợ các doanh nghiệp vượt qua khó khăn khiến cho thu nhập lãi thuần của các ngân hàng bị ảnh hưởng.

Năm 2019, tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của ngân hàng công thương chỉ là 8,02%, trong khi quy định ở Thông tư 13/2019/TT-NHNN tối thiểu phải là 9%. Nhưng từ năm 2020 tới nay tỷ lệ an toàn vốn đều vượt qua con số 9% và có xu hướng tăng theo thời gian.

Những năm qua, ngân hàng công thương đã có bước chuyển quan trọng trong việc tăng thu nhập từ dịch vụ ngoài dịch vụ tín dụng, tăng thu nhập từ các khoản đầu tư, tập trung xử lý thu hồi các khoản nợ tồn đọng đã xử lý rủi ro để cải thiện thu nhập, tăng vốn tự có theo lịch trình cơ cấu lại ngân hàng công thương.

Thu nhập từ dịch vụ năm 2022 là 2.096.679 triệu đồng tăng 241.321 triệu đồng tương ứng khoảng 13% so với năm 2021 (1.855

2.2 Thực trạng quản trị Rủi ro tín dụng tại ngân hàng công thương Việt Nam Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank.

2.2.1 Thực trạng hoạt động tín dụng

2.2.1.1 Về cơ cấu tín dụng

  • Cơ cấu tín dụng theo đối tượng khách hàng và loại hình doanh nghiệp

NHCT là ngân hàng tài trợ vốn lớn nhất cho các dự án lớn của đất nước được đầu tư bởi các Tập đoàn, Tổng công ty lớn như Tập đoàn Bưu chính viễn thông, Tập đoàn Công nghiệp than và khoáng sản, Tổng Công ty xi măng, Tập đoàn dầu khí quốc gia, Tổng Công ty hàng hải Việt Nam… Đồng thời, ngân hàng công thương cũng là nhà cung ứng vốn hàng đầu cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế, góp phần tạo việc làm cho người lao động, xây dựng và phát triển nông thôn.

Bảng 2.2: Cơ cấu tín dụng theo đối tượng khách hàng và loại hình doanh nghiệp của ngân hàng công thương giai đoạn 2019-2022

Trong năm 2020, có 25 nhóm khách hàng liên quan có dư nợ chiếm tỷ trọng lớn như Cty Cổ phần Vincom, Tổng Công ty Phát triển đô thị Kinh Bắc, Cty CP Tập đoàn Thủy Sản Minh Phú, Tập đoàn Sông Đà, Cty sản xuất xây dựng XNK Bình Minh, Tổng cty Hàng hải Việt Nam (Vinalines).

Nhìn vào bảng có thể thấy dư nợ cho vay các doanh nghiệp nhà nước vẫn chiếm ưu thế. Tuy nhiên, trong các doanh nghiệp nhà nước lại có sự phân bố dư nợ không đồng đều. Các công ty TNHH có xu hướng vay vốn nhiều hơn và tăng qua các năm. Trước đó, trong một thời gian dài dư nợ cho vay đối với nhóm khách hàng lớn (chính là các Doanh nghiệp Nhà nước) luôn nằm ở mức trên 80% tổng dư nợ tín dụng. Nhưng nhờ vào chủ trương xóa bỏ phân biệt giữa các thành phần kinh tế, đặc biệt việc cổ phần hóa ngân hàng công thương chào bán cổ phiếu lần đầu năm 2008 đã thúc đẩy mạnh mẽ sự thay đổi này, ngân hàng công thương đã và đang kiểm soát chặt chẽ và giảm dư nợ cho vay của các Doanh nghiệp Nhà nước làm ăn kém hiệu quả.

Hộ kinh doanh, cá nhân tuy chiếm chưa được ¼ cơ cấu nhưng có mức tăng trưởng ổn định và đang có xu hướng tăng nhanh hơn dư nợ của các doanh nghiệp nhà nước. Việc này đánh dấu sự thay đổi chiến lược tín dụng của ngân hàng, thay vì cho vay các tổ chức lớn với món vay khổng lồ cùng thời hạn dài thì ngân hàng đã quan tâm đến khách hàng nhỏ lẻ tuy vốn vay không nhiều nhưng thời hạn thường không quá dài và ngân hàng dễ quay vòng được vốn cho khách hàng khác vay, đồng thời tạo ra sự cân đối cho tài sản có và tài sản nợ của ngân hàng. Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank.

Các công ty hợp danh có mức dư nợ thấp nhất, chiếm tỷ trọng gần như 0%. Đến năm 2022 tuy đã có khởi sắc nhưng con số vẫn rất khiêm tốn. Những doanh nghiệp vừa và nhỏ như doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã qua các năm tuy có sự tăng trưởng nhưng không nhiều và khá ổn định. Dịch vụ hành chính sự nghiệp, Đảng, đoàn thể và Hiệp hội lại có xu hướng giảm, tuy có tăng trở lại vào năm 2022 nhưng tỷ trọng trong cơ cấu vẫn không đáng kể.

  • Cơ cấu tín dụng theo các ngành kinh tế

NHCT luôn ưu tiên cho vay đối với các ngành kinh tế mũi nhọn và có tính ổn định cao như khai khoáng, công nghiệp chế biến chế tạo, xây dựng, bán buôn bán lẻ và sửa chữa ô tô, xe máy, xăng dầu, xi măng, hóa chất…

Bảng 2.3: Cơ cấu tín dụng theo ngành kinh tế của ngân hàng công thương giai đoạn 2020-2022

Đứng đầu trong số ngành có tỷ trọng dư nợ cao nhất luôn là Công nghiệp chế biến chế tạo, ổn định ở mức 30%, sau đó là bán buôn, bán lẻ sửa chữa ô tô, xe máy đến năm 2022 đã gần đuổi kịp công nghiệp chế biến, chế tạo (xấp xỉ 30%), ngành xây dựng và sản xuất phân phối điện, khí đốt, nước nóng có mức dư nợ sàn sàn nhau và tăng trưởng cùng tốc độ như nhau. Tỷ trọng này đang được đánh giá là phù hợp với điều kiện của một nước đang phát triển như nước ta hiện nay. Cơ cấu tín dụng theo ngành được duy trì khá ổn định trong suốt giai đoạn nghiên cứu.

Những ngành nghề tiềm ẩn nhiều rủi ro xuất hiện nợ nhóm 2 và nợ xấu cao của ngân hàng công thương là : Cho vay vận tải, kinh doanh bất động sản, xi măng, ngành dệt may và các sản phẩm dệt may, sắt thép, vật liệu xây dựng,các sản phẩm từ gỗ, thủy sản Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank.

  • Cơ cấu tín dụng theo kỳ hạn tín dụng

Bảng 2.4:Cơ cấu tín dụng của ngân hàng công thương theo kì hạn tín dụng giai đoạn 2019-2022

Biểu đồ 2. 1 :Cơ cấu tín dụng của ngân hàng công thương theo kì hạn tín dụng giai đoạn 2019-2022

Nhìn chung tỷ trọng của ba loại kỳ hạn trong cơ cấu cho vay theo kỳ hạn tín dụng của ngân hàng công thương giai đoạn 2019-2022 không đồng. Cơ cấu lệch hẳn về phía tín dụng ngắn hạn, qua các năm vẫn duy trì tỷ trọng cao trong cơ cấu ở mức 60%. Tín dụng dài hạn chiếm tỷ trọng khoảng 30%, còn tín dụng trung hạn thì chiếm mức nhỏ là 10%. Trong thời điểm nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh do nhiều yếu tố, định hướng cơ cấu thời gian cho vay của ngân hàng công thương tập trung vào cho vay ngắn hạn đã giúp ngân hàng hạn chế được nhiều rủi ro.

2.2.1.2 Chất lượng tín dụng

  • Phân loại nợ

Bảng 2.5: Cơ cấu tín dụng của ngân hàng công thương theo nhóm nợ giai đoạn 2019-2022

Số liệu ở bảng trên cho thấy, tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng công thương chiếm rất ít trong tổng dư nợ, đang có hướng giảm dần theo thời gian. Năm 2021 tỷ lệ nợ xấu lên đến 1,4% nhưng tới năm 2022 thì đã giảm xuống còn 1%. Không những tỷ trọng nợ xấu thấp mà tỷ trọng nợ nhóm 2 cũng thấp tương ứng, năm 2022 thấp hơn tổng nợ xấu. Như vậy, tổng nợ nhóm 1 chiếm tỷ trọng rất lớn, 4 năm xấp xỉ 98%. Có thể nói đây là những con số rất khả quan về tình hình dư nợ của ngân hàng công thương, vừa tăng về giá trị vừa giảm được tỷ trọng nợ có vấn đề, bao gồm cả nợ xấu được đánh giá là không thể thu hồi được.

  • Đánh giá chất lượng tín dụng

Tỷ lệ nợ xấu cuối năm 2022 của ngân hàng công thương ở mức thấp nhất so với các ngân hàng niêm yết và thấp hơn rất nhiều so với mức trung bình của ngành, đạt 1,00% (giảm so với cuối năm 2021). Nguyên nhân là do trong năm 2022, toàn hệ thống ngân hàng công thương đã tích cực xử lý thu hồi nợ xấu (đặc biệt là những tháng cuối năm), cũng như sử dụng quỹ dự phòng rủi ro để xử lý các khoản nợ không có khả năng thu hồi vào cuối năm 2022.

Mặt khác, ngân hàng công thương cũng thận trọng phòng thủ trước những rủi ro liên quan đến nợ xấu thông qua tỷ lệ bao phủ nợ xấu luôn dao động trong khoảng 70 – 80%.

2.2.2 Thực trạng hoạt động quản trị Rủi ro tín dụng Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank.

2.2.2.1 Mô hình quản trị Rủi ro tín dụng tại ngân hàng công thương Việt Nam

Trong năm 2022, ngân hàng công thương tiếp tục chuyển đổi mô hình tín dụng giai đoạn 2 theo chuẩn Basel II, đảm bảo QLRR toàn diện dựa trên ba vòng kiểm soát chặt chẽ. ngân hàng công thương là ngân hàng Việt Nam đầu tiên triển khai mô hình này.

Sơ đồ 2.3: Mô hình tín dụng theo chuẩn Basel II

Mô hình này dựa trên nguyên tắc “Ba vòng kiểm soát” bao gồm (i) các đơn vị kinh doanh tại Vòng 1 đóng vai trò là đơn vị trực tiếp chịu trách nhiệm toàn diện từ khâu nhận diện, đánh giá, kiểm soát và giảm thiểu rủi ro; (ii) Vòng 2 là các đơn vị Quản lý rủi ro với trách nhiệm thiết lập các chính sách, nguyên tắc, hạn mức kiểm soát và giám sát độc lập việc quản lý rủi ro; (iii) Vòng 3 là đơn vị Kiểm toán nội bộ với trách nhiệm đảm bảo tính hợp lý và hiệu quả của việc quản lý rủi ro tại Vòng 1 và Vòng 2.

Các bộ phận chuyên trách hoạt động theo các quy chế, quy định do Hội đồng Quản trị đề ra và tuân thủ các nguyên tắc và quy trình nghiệp vụ do Tổng Giám đốc ban hành, thực hiện quản lý rủi ro đối với mọi cấp và trên toàn diện các hoạt động tác nghiệp.

Đối với Rủi ro tín dụng và đầu tư: Phòng Định chế tài chính là đầu mối chịu trách nhiệm phân tích và đề xuất các Giới hạn tín dụng cho từng đối tác là các định chế tài chính. Phòng Quản lý Rủi ro tín dụng và đầu tư thực hiện rà soát kết quả chấm điểm của các định chế tài chính. Trong thời gian tới, do những thay đổi trong mô hình quản trị rủi ro, Phòng Đánh giá xếp hạng và phê duyệt Giới hạn tín dụng sẽ thực hiện đánh giá xếp hạng và phê duyệt Giới hạn tín dụng cho khách hàng doanh nghiệp và giới hạn giao dịch cho các định chế tài chính. Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank.

Đối với rủi ro thanh khoản, rủi ro thị trường, tác nghiệp: Phòng Quản lý Rủi ro thị trường chịu trách nhiệm thường xuyên theo dõi và đánh giá (i) các chênh lệch về mặt kỳ hạn đối với hoạt động quản lý tài sản nợ, tài sản có để xác định, đo lường, phân tích và báo cáo rủi ro thanh khoản và rủi ro lãi suất (ii) rủi ro thị trường (tỷ giá, giá vàng,..) của cả hệ thống. Các quy định và quy trình nghiệp vụ cụ thể đối với hoạt động đầu tư và kinh doanh ngoại tệ được thiết lập để quản lý rủi ro liên quan đến việc đầu tư các công cụ tài chính đảm bảo các nguyên tắc phân cấp phân quyền, kiểm soát và quản lý rủi ro tác nghiệp trong quá trình sử dụng công cụ tài chính tại tất cả các bộ phận Front Office, Middle Office và Back Office. Kể từ tháng 02 năm 2022, Ngân hàng đã chính thức đưa vào triển khai hệ thống Treasury MX.3 đảm bảo quản lý chặt chẽ, theo thời gian rủi ro thị trường liên quan đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

Phòng Quản lý rủi ro hoạt động thường xuyên theo dõi, đánh giá, phân tích và báo cáo các rủi ro tác nghiệp và thị trường trong quá trình hoạt động kinh doanh liên quan đến các công cụ tài chính.

Phòng Kiểm toán tuân thủ thực hiện kiểm tra hoạt động tại tất cả các bộ phận tác nghiệp để đảm bảo tính tuân thủ đối với các quy định hiện hành của Ngân hàng.

2.2.2.2 Nội dung Quản trị Rủi ro tín dụng tại ngân hàng công thương Việt Nam

  • Nhận biết Rủi ro tín dụng tại ngân hàng

Để nhận biết sớm Rủi ro tín dụng, hồ sơ của khách hàng phải được thẩm định qua hai phòng (quan hệ khách hàng và quản lý Rủi ro tín dụng)

Tiếp nhận và thẩm định hồ sơ Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank.

Cán bộ quan hệ khách hàng sau khi hướng dẫn và tư vấn cho khách hàng lập hồ sơ xin cấp tín dụng sẽ tiến hành thẩm định sơ bộ hồ sơ xin cấp tín dụng đó. Mẫu hồ sơ xin cấp tín dụng đã được ngân hàng lập sẵn, trong đó yêu cầu khách hàng cung cấp các thông tin chi tiết phục vụ cho việc thẩm định tín dụng sau này. Các thông tin và tài liệu cung cấp như thông tin cơ bản về khách hàng, tình hình tài chính hiện tại, mục đích vay, hồ sơ tài sản thế chấp, cơ sở hoàn trả lãi, gốc và kế hoạch trả nợ sẽ được Cán bộ tín dụng sử dụng nhiều kênh khác nhau để kiểm tra, đánh giá tính hợp pháp và hợp lệ.

Tiếp theo, Cán bộ tín dụng tiếp tục tiến hành thẩm định khả năng thực hiện các nghĩa vụ trong tương lai có liên quan đến khoản tín dụng mà khách hàng đang xin vay. Ngân hàng đã đưa ra hệ thống các tiêu chuẩn thẩm định tín dụng để phân tích, thẩm định về dự án vay vốn nhằm xác định nhu cầu vốn thực sự, tính khả thi, hiệu quả của phương án vay vốn, khả năng trả nợ, định giá Tài sản đảm bảo và những rủi ro có thể xảy ra để sàng lọc hồ sơ xin cấp tín dụng một cách hiệu quả. Căn cứ trên kết quả của việc xếp hạng tín dụng khách hàng cùng toàn bộ hồ sơ xin cấp tín dụng, Cán bộ tín dụng sẽ lập tờ trình thẩm định trình cấp có thẩm quyền phê duyệt tín dụng (thông thường là cấp lãnh đạo phòng khách hàng hoặc phòng giao dịch).

Sau đó, lãnh đạo phòng khách hàng hoặc phòng giao dịch trực tiếp làm việc với khác hàng sẽ kiểm tra, rà soát thông tin trên tờ trình thẩm định một lần nữa. Để có thể tái thẩm định được hồ sơ, cấp lãnh đạo phòng trực tiếp sẽ rà soát lại sự đầy đủ hợp lệ và hợp pháp của tất cả các thông tin, tài liệu có trong hồ sơ vay vốn. Ngoài ra, các thông tin khách phục vụ việc nhận định kết quả chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng do Cán bộ tín dụng thực hiện cũng được các cấp lãnh đạo xem xét lại để đảm bảo không xảy ra sơ suất. Đồng thời, cấp lãnh đạo phòng trực tiếp đó sẽ căn cứ vào hồ sơ xin cấp tín dụng để đề xuất Giới hạn tín dụng có thể cấp cho khách hàng đã được cán bộ trình là đủ điều kiện vay vốn. Giới hạn tín dụng có thể cấp sẽ căn cứ vào ba nhân tố chủ yếu là thẩm quyền của phòng, kết quả chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng, và nhu cầu vay vốn đã nêu trong sơ xin cấp tín dụng.

Thẩm định Rủi ro tín dụng độc lập Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank.

Tuy nhiên, kết luận của cấp lãnh đạo trực tiếp phải được chuyển đến Phòng quản lý rủi ro để thẩm định Rủi ro tín dụng độc lập theo quy định của ngân hàng. Cán bộ tín dụng sẽ phải cung cấp đầy đủ hồ sơ về khách hàng và bổ sung thông tin cần thiết theo yêu cầu của phòng quản lý rủi ro để thẩm định độc lập một lần nữa. Phòng quản lý rủi ro còn xem xét đến các giới hạn quản lý rủi ro như các tỷ lệ bảo đảm an toàn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ cơ cấu tín dụng theo loại bảo đảm, kỳ hạn… theo quy định của ngân hàng công thương. Kết quả cuối cùng là Báo cáo thẩm định Rủi ro tín dụng trong đó nêu rõ những rủi ro mà ngân hàng công thương có thể gặp phải khi phê duyệt khoản vay này kèm theo đề xuất biện pháp ngăn ngừa, giảm thiểu rủi ro. Nếu Giới hạn tín dụng quá lớn, cần phải qua sự thẩm định và xét duyệt của Hội đồng tín dụng thì Cán bộ tín dụng cũng phải phối hợp cùng Phòng quản lý rủi ro thực hiện báo cáo kết quả thẩm định trước Hội đồng tín dụng cơ sở.

Quản lý và giải ngân tín dụng

Căn cứ trên tờ trình thẩm định của Cán bộ tín dụng, đề xuất Giới hạn tín dụng và báo cáo kết quả thẩm định độc lập trên, quyết định phê duyệt hoặc từ chối hồ sơ xin cấp tín dụng cùng với Giới hạn tín dụng (nếu được chấp nhận) sẽ chính thức đưa ra.

Khi ngân hàng và khách hàng ký kết hợp đồng cho vay thì quá trình giải ngân được bắt dầu, đồng thời Tài sản đảm bảo cũng phải được đáp ứng. Việc giải ngân buộc phải có sự phê duyệt của cấp lãnh đạo phòng trở lên.

Các khoản tín dụng có thể được giải ngân thành nhiều lần khác nhau do thời gian dài, giá trị khoản vay quá lớn hoặc thỏa thuận giữa hai bên. Vì vậy, trong trường hợp này nguyên tắc quản trị rủi ro là phải theo dõi chặt chẽ giữa các lần giải ngân để nhận biết kịp thời các dấu hiệu bất thường: khách hàng rút lượng tiền lớn bất thường hoặc liên tục, các khoản nợ khác của khách hàng này có dấu hiệu khó đòi, những biến động lớn gây bất lợi cho ngành kinh doanh của khách hàng.

Sơ đồ 2.4: Quy trình nhận biết Rủi ro tín dụng

  • Đo lường Rủi ro tín dụng tại ngân hàng

Đo lường rủi ro theo các chỉ tiêu phản ảnh Rủi ro tín dụng

  • Các chỉ tiêu hệ số sử dụng vốn: Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank.

Bảng 2.6: Chỉ tiêu hệ số sử dụng vốn của ngân hàng công thương giai đoạn 2019-2022

Nhìn chung các hệ số sử dụng vốn tăng đều qua các năm, luôn ổn đinh.

Dư nợ cho vay trong giai đoạn này đều cao hơn nguồn vốn huy động được, nhưng hệ số Dư nợ cho vay/vốn huy động vẫn khá là lí tưởng bởi hệ số vẫn xấp xỉ bằng 100%. ngân hàng công thương chỉ cần đi vay từ các ngân hàng khác với số tiền không quá nhiều để cho vay lại.

Hệ số Tổng dư nợ cho vay/Tổng tài sản của ngân hàng công thương vẫn chưa đạt đến mức bình thường là 70-80%, chứng tỏ nguồn vốn chưa được sử dụng một cách tối ưu.

  • Các chỉ tiêu nợ quá hạn:

Bảng 2.7: Chỉ tiêu hệ số Nợ quá hạn của ngân hàng công thương giai đoạn 2019-2022

Nhìn chung Nợ quá hạn của ngân hàng công thương tăng nhanh theo thời gian, năm 2020 Nợ quá hạn tăng gấp đôi so với năm 2019, tuy đến năm 2021 và 2022 Nợ quá hạn đã giảm xuống 1/4 nhưng vẫn cao hơn nhiều so với năm 2019. Giai đoạn 2019-2020, Nợ quá hạn có khả năng thu hồi luôn cao hơn Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi, thế nhưng giai đoạn 2021-2022 thì ngược lại.

Tỷ lệ Nợ quá hạn biến động qua các năm nhưng luôn duy trì ở mức dưới 3% và chưa đến mức đáng lo ngại.

Tỷ lệ nợ quá hạn có khả năng thu hồi trong những năm 2019,2020 luôn cao hơn 50% nhưng bắt đầu từ năm 2021 lại giảm mạnh và năm 2022 đã phục hồi nhưng chỉ được 40,35%. Tỷ lệ Nợ quá hạn không có khả năng thu hồi đang có xu hướng tăng lên nhưng tổng dư nợ của ngân hàng công thương tăng theo thời gian nên tỷ lệ này cần phải giảm xuống để đảm bảo an toàn cho ngân hàng. Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank.

  • Các chỉ tiêu trích lập dự phòng và bù đắp Rủi ro tín dụng:

Bảng 2.8: Tỷ lệ trích lập dự phòng Rủi ro tín dụng của ngân hàng công thương giai đoạn 2019-2022

Tỷ lệ trích lập dự phòng tín dụng qua 4 năm đều chưa tăng đến 2% và vẫn nằm trong khoảng dao động bình thường.

Dự phòng cụ thể có xu hướng giảm những biến động không lớn. Năm 2020 dự phòng cụ thể đã tăng gấp đôi so với năm 2020, thì sang năm 2021 đã giảm xuống 13,6% và giảm nhẹ vào năm 2022.

Dự phòng chung có dấu hiệu tăng trở lại vào năm 2022.

Bảng 2.9: Tỷ lệ xóa nợ giai đoạn 2019-2022 của ngân hàng công thương

Tỷ lệ xóa nợ có xu hướng tăng theo thời gian và chưa vượt ngưỡng 2%, chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng vẫn cao và ổn định.

Đo lường rủi ro tín dụng theo phương pháp cho điểm tín dụng

Hiện nay ngân hàng đã xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ. Quán triệt việc đổi mới nội dung và phương pháp quản trị rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, hiện nay ngân hàng công thương đã nhìn nhận toàn diện Rủi ro tín dụng trong mối quan hệ với các rủi ro khác và đã quy định vấn đề lượng hóa rủi ro để làm cơ sở hoạt động quản trị rủi ro.

Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ là tập hợp các phương pháp, quy trình, kiểm soát, thu thập dữ liệu và hệ thống công nghệ thông tin hỗ trợ việc đánh giá, chấm điểm khả năng không trả được nợ tiềm ẩn của một khách hàng, rồi căn cứ vào số điểm đã chấm để phân loại khách hàng vào hạng rủi ro phù hợp.

Quy trình xếp hạng tín dụng nội bộ (Xem phụ lục I, tr. iv).

Đo lường Rủi ro tín dụng theo phương pháp thống kê Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank.

Ngày 14/03/2021 Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank) và Công ty tư vấn Ernst & Young Singapore đã ký kết hợp đồng “Dịch vụ tư vấn xây dựng Hệ thống quản lý Rủi ro tín dụng cơ bản của VietinBank”. Đây là dự án dài hạn mang tính chiến lược, nhằm cải tổ toàn bộ hệ thống quản trị Rủi ro tín dụng của ngân hàng công thương theo Basel II, từ cơ cấu tổ chức, mô hình hoạt động, các chính sách, quy định, quy trình cấp tín dụng và quản lý Rủi ro tín dụng đến xây dựng một hệ thống đo lường Rủi ro tín dụng theo phương pháp tiếp cận nội bộ.

Mục tiêu mà ngân hàng công thương hướng tới là xây dựng một hệ thống đo lường Rủi ro tín dụng theo phương pháp thống kê, cải thiện tính chính xác và hiệu lực của mô hình đo lường rủi ro với các thước đo xác suất không trả được nợ (PD), số dư nợ rủi ro (EAD) và tổn thất dự kiến (EL) trong trường hợp không trả được nợ (LGD) cho khách hàng cá nhân, doanh nghiệp và hệ thống chấm điểm tín dụng cho định chế tài chính theo phương pháp tiếp cận nội bộ. Đồng thời, dự án cũng giúp tăng cường hiệu quả công tác quản lý danh mục tín dụng trên cơ sở quản lý Giới hạn tín dụng, quản lý Tài sản đảm bảo, chính sách thu hồi và quản lý nợ xấu…

Đo lường Rủi ro tín dụng theo  Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và Quyết định 18/2007/NHNN về phân loại nợ

Hoạt động này được thể hiện bằng năm chu trình nghiệp vụ nối tiếp nhau:

Sơ đồ 2.5: Quy trình đo lường Rủi ro tín dụng

Trong năm nghiệp vụ này, nghiệp vụ phân loại nợ được quan tâm hàng đầu và được triển khai theo hai góc độ định lượng theo điều 6, Quyết định 493 và định tính theo điều 7, Quyết định 493. Cả hai hình thức phân loại này đều tuân thủ nguyên tắc tất cả dư nợ của khách hàng phải theo cùng một nhóm nợ. Tiêu chí định tính dựa trên xếp hạng tín dụng nội bộ của ngân hàng công thương. Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank.

Bảng 2.10: Phân loại nợ theo tiêu chí định lượng và định tính

Ngày 21/1/2022, NHNN ban hành Thông tư số 02/2022/TT-NHNN sẽ thay thế một loạt các Quyết định, chỉ thị như Chỉ thị số 05/2005/CT-NHNN, Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN, Quyết định số 780/QĐ-NHNN, Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN và thông tư 02 sẽ có hiệu lực kể từ ngày 1/6/2023. Nếu Thông tư 02 được áp dụng thì nợ xấu của ngân hàng công thương được dự đoán sẽ tăng lên gấp nhiều lần và vô hiệu hẳn “lá chắn” cơ cấu nợ của Quyết định số 780/QĐ-NHNN ở trên. Không lâu sau, Thông tư 09/2023 được ban hành và có hiệu lực từ ngày 20/3/2023 nhằm sửa đổi, bổ sung Thông tư 02, trong đó có quy định về việc cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ được kéo dài đến ngày 01/04/2015, và đặc biệt chỉ được thực hiện một lần duy nhất. Thông tư 09 còn cho phép các Ngân hàng thương mại tiếp tục giãn việc phân loại nợ mới theo Thông tư 02 đến hết ngày 31/12/2023 thay vì đến 30/6/2023 như quy định trước đây. Vì vậy, ngân hàng công thương có đủ thời gian để thích ứng với những quy định mới của NHNN.

  • Ứng phó rủi ro tín dụng tại ngân hàng

Quản lý khoản vay

Khi khách hàng có những dấu hiệu khó có khả năng trả được nợ, tình hình tài chính xấu thì nguy cơ rủi ro sẽ xảy ra. Lúc đó ngân hàng sẽ đưa ra các biện pháp ứng phó để hạn chế rủi ro.

Ngân hàng có chính sách thường xuyên đánh giá lại tình trạng khoản vay, việc sử dụng vốn vay, phân tích đảm bảo nợ vay, tình hình tài chính của khách hàng, ít nhất mỗi năm một lần. Riêng với những món vay lớn hoặc khi có dấu hiệu bất thường xuất hiện thì việc đánh giá lại được thực hiện thường xuyên hơn (ít nhất mỗi lần một quý). Việc đánh giá được thực hiện bởi bộ phận khách hàng và bộ phận quản lý Rủi ro tín dụng thông qua nhiều nguồn tài liệu khác nhau như từ Báo cáo tài chính của khách hàng, Báo cáo tình hình sử dụng vốn vay theo cam kết, đánh giá cả các tổ chức tín dụng khác có quan hệ với khách hàng… Nếu có sự yêu cầu bên vay thay đổi cơ bản giữa những dự tính đưa ra trong hồ sơ xin cấp tín dụng và kết quả thực hiện của bên vay, đặc biệt là những thay đổi có liên quan đến dòng tiền dự tính sử dụng để trả nợ, ngân hàng đều yêu cầu khách hàng giải trình chi tiết. Kết quả đánh giá sẽ là cơ sở quan trọng để ngân hàng thực hiện những hành động cần thiết nhằm giảm thiểu Rủi ro tín dụng liên quan đến khoản vay như điều chỉnh Giới hạn tín dụng, thay đổi điều khoản hợp đồng cho vay, chấm dứt hợp đồng cho vay. Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank.

Ngân hàng xây dựng và quản lý được một số giới hạn rủi ro

Một số giới hạn rủi ro trong tín dụng được tiến hành kiểm điểm hàng quý qua các cuộc họp giao ban cụm, như: Tỷ lệ cho vay không có Tài sản đảm bảo; Tỷ lệ cho vay trung dài hạn trên tổng dư nợ; Tỷ lệ nợ xấu so với tổng dư nợ và khống chế cả về số tuyệt đối; Tỷ lệ cho vay nhóm khách hàng là Doanh nghiệp Nhà nước được điều chỉnh giảm dần.

Các giới hạn rủi ro trong cho vay và đầu tư được luật các Tổ chức tín dụng quy định như cho vay không quá 15% vốn tự có vào một khách hàng; hay giới hạn về liên doanh góp vốn; giới hạn về mua sắm tài sản cố định ngân hàng đã tính toán và tuân thủ toàn hệ thống. Hàng quý, Hội sở chính và các chi nhánh nhận được thông báo sự thay đổi của vốn tự có và vốn coi như tự có để căn cứ tính toán giới hạn cho vay một khách hàng hay trình xin chủ trương cho góp vốn liên doanh.

Các chi nhánh ngân hàng cũng tự đề ra các giới hạn Rủi ro tín dụng như: tỷ trọng cấp tín dụng có bảo đảm và không có bảo đảm; giữa nội tệ và ngoại tệ; giữa ngắn hạn và trung dài hạn; giữa cấp tín dụng cho nền kinh tế với cấp tín dụng qua các trung gian tài chính khách; mức tín dụng tối đa cho một khách hàng và một nhóm khách hàng có liên quan… Luôn ý thức kiểm soát để tránh rủi ro cho vay tập trung vào một khách hàng và vào một số ngành nghề nhất định.

Do đó, chất lượng nợ của ngân hàng công thương khá tốt trong thời gian qua và tỷ lệ nợ xấu cũng chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong tổng dư nợ của ngân hàng.

Mức ủy quyền với các chi nhánh

Tùy thuộc vào kết quả chấm điểm xếp hạng từng chi nhánh, Trụ sở chính sẽ giao mức ủy quyền phán quyết đối với từng chi nhánh.

Mức ủy quyền phân theo khách hàng là tổ chức kinh tế (trong đó, ủy quyền chi tiết đến Giới hạn tín dụng, mức cho vay 1 dự án đầu tư, 1 món tín dụng – 1 L/C at sight, 1 khoản bảo lãnh trong nước. Mức ủy quyền cao nhất là 200 tỷ đồng, thấp nhất là 10 tỷ đồng. Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank.

Khách hàng là cá nhân (GHTD, giới hạn cho vay tiêu dùng) và 1 món bảo lãnh nước ngoài (đối với một số chi nhánh). Giới hạn tín dụng cao nhất là 20 tỷ đồng, thấp nhất là 6 tỷ đồng, cho vay tiêu dùng cao nhất 10 tỷ đồng, thấp nhất 3 tỷ đồng.

Phân loại tín dụng

Ngân hàng phân loại tín dụng theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNNQuyết định số 18/2007/QĐ-NHNN. Ngân hàng thường xuyên phân tích và theo dõi danh mục tín dụng, đặc biệt là các khoản nợ xấu, nợ có vấn đề để có những biện pháp xử lý kịp thời khi có rủi ro xảy ra.

Khi một khoản vay được giải ngân thì ngân hàng sẽ phải trích lập dự phòng chung và dự phòng cụ thể theo quy định của NHNN. Trong đó, trích lập dự phòng chung là 0,75%. Trích lập dự phòng cụ thể với nhóm 1 là 0%, nhóm 2 là 5%, nhóm 3 là 20%, nhóm 4 là 50%, nhóm 5 là 100%.

Xử lý nợ xấu/Quản lý các vấn đề tín dụng

Khi phát hiện ra nợ xấu, các Cán bộ tín dụng của ngân hàng tiến hành theo dõi chặt chẽ hơn tình hình hoạt động và tình hình tài chính của khách hàng, đôn đốc khách hàng thực hiện cam kết trong hợp đồng cho vay. Đồng thời, căn cứ vào tình trạng Tài sản đảm bảo mà cán bộ quản trị Rủi ro tín dụng phân tích khả năng thu hồi để lựa chọn biện pháp xử lý nợ xấu thích hợp trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Quyết định số 780/QĐ-NHNN về việc phân loại nợ đối với nợ được điều chỉnh kì hạn trả nợ, gia hạn nợ đã có tác động không nhỏ tới cơ cấu nợ của ngân hàng công thương. Nhiều khoản nợ lẽ ra là nợ xấu nhưng lại được giữ nguyên nhóm nợ nên nợ xấu của ngân hàng công thương trên danh nghĩa đã giảm đáng kể. Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank.

Các biện pháp xử lý nợ xấu mà ngân hàng đang áp dụng bao gồm: Tiếp tục cho vay để duy tì hoạt động nhằm khôi phục khả năng tiếp tục thực hiện các cam kết trong hợp đồng cho vay; Bổ sung Tài sản đảm bảo cho khoản vay; Cơ cấu lại thời hạn trả nợ; Khoanh nợ; Phạt quá hạn; Giảm hoặc miễn lãi suất, chỉ yêu cầu trả nợ gốc; Xử lý Tài sản đảm bảo hoặc sử dụng quỹ dự phòng rủi ro để xóa bỏ khoản nợ. Việc ra quyết định lựa chọn biện pháp xử lý nợ xấu phải được sự xét duyệt của các cấp có thẩm quyền phù hợp, có chỉ đạo và văn bản hướng dẫn của Tổng Giám đốc ngân hàng. Tất cả công việc đều phải được văn bản hoá và lưu giữ trong hồ sơ tín dụng của từng khách hàng.

Bảng 2.11: Loại hình và giá trị Tài sản thế chấp của ngân hàng công thương giai đoạn 2019-2022

Bảng trên cho thấy tài sản bất động sản luôn chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu (hơn một nửa cơ cấu), tăng mạnh vào năm 2021 (tăng 10%) nhưng đến năm 2022 thì giảm nhẹ. Việc ngân hàng công thương cho vay với tài sản thế chấp là bất động sản tuy quy trình thanh lý tài sản khi khách hàng không có khả năng trả nợ liên quan đến thủ tục pháp lý và mất nhiều thời gian nhưng với bức tranh kinh tế ảm đạm hiện nay thì bất động sản lại là tài sản thế chấp có giá trị cao nhất và giảm nguy cơ rủi ro cho ngân hàng.

Động sản giai đoạn 2019-2020 chiếm hơn ¼ cơ cấu nhưng từ năm 2021 đã giảm mạnh xuống còn 5,2% và tiếp tục giảm vào năm 2022 còn có 4,2%.

Hoạt động cho vay với tài sản thế chấp là chứng từ có giá vẫn chưa nhộn nhịp và chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ trong cơ cấu và có xu hướng giảm.

Về việc xử lý nợ xấu, ngân hàng công thương chưa cần bán khoản nợ nào cho VAMC. Hiện nay, ngân hàng công thương đang thực hiện phân loại, trích lập dự phòng rủi ro nợ xấu theo Thông tư 09 mới, tuy tỷ lệ nợ xấu thực sự của ngân hàng có tăng cao, nhưng hoàn toàn trong mức kiểm soát và duy trì dưới mức 3%. Ngoài ra, ngân hàng công thương đã thực hiện hoán đổi khoảng 386 tỷ đồng trái phiếu Vinashin sang trái phiếu của Công ty Quản lý và mua bán nợ (DATC). Đây là phương án xử lý nợ phù hợp và số nợ cũng rất nhỏ.

  • Kiểm soát Rủi ro tín dụng tại ngân hàng Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank.

Để thực hiện kiểm soát sau đối với Rủi ro tín dụng, ngân hàng công thương thực hiện hai phần việc chính: (i) Kiểm tra tuân thủ; (ii) xây dựng hệ thống và quy trình xử lý nợ có vấn đề. Các phần công việc này tuy chưa hoàn toàn đáp ứng, song đã đi theo đúng định hướng của các nguyên tắc về kiểm soát rủi ro tín dụng mà Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng đã đề xuất.

NHCT đã xây dựng một hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ trực thuộc Tổng giám đốc có chức năng, nhiệm vụ kiểm tra, theo dõi việc tuân thủ các yêu cầu về tác nghiệp tín dụng nhằm kịp thời phát hiện và ngăn ngừa rủi ro phát sinh do vi phạm các chính sách, thủ tục và giới hạn.

Ngân hàng cũng đã chú trọng xây dựng hệ thống xử lý các khoản tín dụng xấu. Khi các yếu tố có xu hướng thiên lệch như: quy mô tín dụng tăng quá nhanh vượt quá khả năng quản lý của ngân hàng, hay là cơ cấu tín dụng tập trung quá mức vào một ngành, một lĩnh vực rủi ro, hoặc là các chỉ tiêu Nợ quá hạn, nợ xấu có dấu hiệu vượt qua ngưỡng cho phép thì lập tức hội sở chính sẽ yêu cầu chi nhánh báo cáo, kiểm tra, không được phép hoặc hạn chế cấp tín dụng mà phải điều chỉnh cơ cấu dư nợ một cách phù hợp giữa các ngành, các khách hàng, tập trung xử lý khi có dấu hiệu nợ nhóm 2, nợ xấu. Chính sách phát hiện, khắc phục sớm hoặc xử lý dứt điểm các khoản tín dụng có vấn đề đã phần nào góp phần cải thiện chất lượng tín dụng của Ngân hàng.

Từ ngày 18/8/2020, ngân hàng công thương chính thức triển khai trên toàn quốc dịch vụ nhắc nợ qua SMS trên điện thoại. Khách hàng vay vốn tại ngân hàng công thương nếu sử dụng dịch vụ này sẽ chủ động nắm được thời gian trả nợ thông qua tin nhắn nhắc nợ do ngân hàng gửi đến. Nhờ dịch vụ này, khách hàng có thể kiếm soát tốt nguồn vốn, rút ngắn dần những khoản nợ trả chậm, tạo thói quen thanh toán đúng hạn và đơn giản hoá hoạt động kế toán của công ty. Về phía ngân hàng, khả năng kiểm soát hoạt động tín dụng, hạn chế Rủi ro tín dụng, đa dạng hoá sản phẩm, đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng từ khâu vay nợ đến khâu nhắc nợ sẽ được nâng cao. Ngân hàng không những phát triển nguồn phí dịch vụ mà còn xây dựng được mối quan hệ mật thiết với doanh nghiệp.

2.3 Đánh giá chung về hoạt động quản trị Rủi ro tín dụng của ngân hàng công thương Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank.

2.3.1 Những kết quả đạt được

2.3.1.1 Chất lượng nợ, cơ cấu tín dụng được chuyển biến theo chiều hướng tích cực

Thứ nhất, nợ nhóm 2, nợ xấu được kiểm soát tốt trong giới hạn 2%, trong khi tổng dư nợ hàng năm tăng bình quân 17%. Điều này cho thấy các biện pháp quản trị Rủi ro tín dụng của ngân hàng đã có kết quả tích cực so với giai đoạn trước đây.

Thứ hai, cơ cấu tín dụng được điều chỉnh theo hướng mục tiêu của ngân hàng công thương là giữ vững tỷ trọng cho vay công nghiệp và thương mại từ 55% đến 60% theo định hướng ngay từ khi mới thành lập; điều chỉnh giảm tỷ trọng cho vay vào nhóm Doanh nghiệp Nhà nước, chuyển sang tích cực cho vay khách hàng cá nhân; nâng dần tỷ lệ cho vay có bảo đảm; kiểm soát chặt chẽ dư nợ vay một số ngành, lĩnh vực nhạy cảm có độ rủi ro cao là bất động sản và chứng khoán.

2.3.1.2 Xây dựng hệ thống khuôn khổ cơ chế, chính sách tín dụng đồng bộ

Các quy trình nghiệp vụ tín dụng được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn ISO 9001:2000 và các tài liệu hướng dẫn như Sổ tay tín dụng, phân tích tài chính doanh nghiệp, quy trình quản lý cho vay trên hệ thống INCAS, quy trình xếp hạng tín dụng khách hàng được ban hành đồng bộ. Ngoài ra, nhằm ứng phó kịp thời với những biến động của môi trường kinh tế, pháp lý, còn có các văn bản chỉ đạo và cảnh báo tín dụng trong từng thời kỳ.

Quản lý điều hành tập trung bằng cơ chế, chính sách, quy trình tín dụng, thực hiện phân quyền cho các cá nhân, đơn vị trong quá trình thực hiện. Chính sách tín dụng hướng tới phục phụ nhu cầu hợp lý của khách hàng và đảm bảo kiểm soát rủi ro. ngân hàng công thương mở rộng cấp tín dụng đến mọi đối tượng khách hàng. Các khách hàng được đối xử tín dụng bình đẳng, không phân biệt thành phần kinh tế mà dựa trên các tiêu chuẩn về năng lực tài chính, hiệu quả kinh doanh, phương án kinh doanh, biện pháp bảo đảm tiền vay… Ngân hàng còn phát triển các sản phẩm tín dụng đa dạng, phong phú phù hợp những nhu cầu khác nhau của khách hàng. Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank.

Nhìn chung, quy trình cấp tín dụng của ngân hàng công thương đã được thể chế hóa tương đối đầy đủ, chặt chẽ, đồng bộ, phù hợp với thực trạng khách hàng và cơ sở hạ tầng của nền kinh tế, đã bao gồm khá toàn diện các nội dung cần thiết mà các ngân hàng cần thực hiện trong quá trình phê duyệt tín dụng như:

  • Đã đưa ra các tiêu chí cấp tín dụng rõ ràng về năng lực pháp lý, năng lực tài chính, lịch sử quan hệ tín dụng, tính khả thi của phương án, dự án vay;
  • Đã thiết lập các hạn mức tổng thể cho khách hàng ở mức từng khách hàng riêng lẻ hoặc theo nhóm đối tác có liên quan
  • Đã xây dựng quy trình đánh giá chính thức và phê duyệt (chủ yếu theo phân cấp thẩm quyền tín dụng) cụ thể.

2.3.1.3 Cơ cấu tổ chức quản trị Rủi ro tín dụng được hình thành

Năm 2022 là năm đánh dấu công tác đổi mới quản trị rủi ro một cách triệt để của ngân hàng công thương với việc chuyển đổi mô hình tín dụng theo chuẩn Basel II với ba vòng kiểm soát nghiêm ngặt. Mô hình mới hứa hẹn sẽ đem lại nhiều lợi ích cho ngân hàng công thương.

Thứ nhất, bộ phận front office và back office trong hoạt động tín dụng bước đầu được tách rời. Các chi nhánh thẩm định sơ bộ khách hàng đưa ra đề xuất cấp tín dụng đối với khách hàng. Việc tái thẩm định và phê duyệt cấp Giới hạn tín dụng cho khách hàng, các khoản vay tập trung tại trụ sở chính, theo đó việc đánh giá và phê duyệt tín dụng trở nên khách quan hơn góp phần giảm thiểu rủi ro.

Thứ hai, do các chi nhánh tập trung vào chuyên môn như tiếp thị, cung cấp sản phẩm, dịch vụ, chăm sóc khách hàng nên các khách hàng của ngân hàng công thương đều được hưởng các sản phẩm tín dụng đồng nhất, chất lượng cao cùng các dịch vụ chăm sóc khách hàng chuyên nghiệp. Với bề dày kinh nghiệm được tích lũy hàng năm cộng thêm mức độ chuyên sâu của đội ngũ bán hàng, khách hàng được sử dụng các sản phẩm tín dụng tiện ích nhất với chi phí thấp hơn so với các ngân hàng khác.

Thứ ba, việc kiểm soát tập trung đã tạo ra kênh thông tin gắn kết giữa Trụ sở chính và chi nhánh theo chiều dọc, tạo cơ hội trong việc tiếp thu, ghi nhận phản hồi của chi nhánh, của khách hàng về việc cung cấp sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng. Đồng thời, các giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc nhằm hướng tới mục tiêu phục vụ tốt nhất nhu cầu của khách hàng được đề xuất kịp thời. Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank.

Thứ tư, khối quản lý rủi ro đóng vai trò là vòng kiểm soát thứ hai độc lập với bộ phận kinh doanh, thực hiện chức năng giám sát và báo cáo độc lập đối với quá trình nhận diện, đo lường, quản lý, kiểm soát, ngăn ngừa tổng quát các loại rủi ro phát sinh trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng công thương, sao cho phù hợp với khẩu vị rủi ro của ngân hàng, phù hợp thông lệ quốc tế, tạo tiền đề tăng cường an toàn tín dụng cho ngân hàng.

2.3.1.4 Ngân hàng đã xây dựng được hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ

Theo đó, khách hàng được chấm điểm và xếp hạng tín dụng được chia thành ba nhóm: khách hàng doanh nghiệp, khách hàng cá nhân và khách hàng Tổ chức tín dụng. Phần mềm chấm điểm tín dụng khách hàng doanh nghiệp là cốt lõi. Khách hàng doanh nghiệp được phân loại theo 34 ngành nghề và quy mô doanh nghiệp thông thường, doanh nghiệp siêu nhỏ. Khách hàng cá nhân được chia thành cá nhân tiêu dùng và cá nhân kinh doanh chấm điểm các chỉ tiêu tài chính tương tự như quy định tại Quyết định số 57/2002/QĐ-NHNN. Nhờ hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ mà ngân hàng phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo đúng tiêu chuẩn quốc tế, phản ánh một cách tổng quát và bản chất về tình hình chất lượng tín dụng.

2.3.2 Những hạn chế trong công tác quản trị Rủi ro tín dụng của ngân hàng công thương Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank.

2.3.2.1 Chiến lược quản trị Rủi ro tín dụng chưa toàn diện

NHCT chưa có một chiến lược quản trị Rủi ro tín dụng toàn diện thiết lập các mục tiêu định hướng cho các hoạt động cấp tín dụng. Các chiến lược phát triển hàng năm hay trung, dài hạn của ngân hàng chỉ mang tính nguyên tắc và định hướng, chưa cụ thể, chưa đáp ứng được những yêu cầu tối thiểu của một chiến lược Rủi ro tín dụng như: chưa phản ánh được mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng và mức sinh lời mà ngân hàng kỳ vọng khi chấp nhận các Rủi ro tín dụng; chưa xem xét, đánh giá các mục tiêu về chất lượng tín dụng, thu nhập và tăng trưởng trong mối tương quan qua lại, trong quan hệ với tiềm năng nội tại của ngân hàng và với môi trường kinh tế tổng thể; chưa tạo ra khuôn khổ để kiểm soát, điều chỉnh cơ cấu và chất lượng danh mục đầu tư tín dụng theo các mục tiêu đã đề ra.

NHCT vẫn sa vào lối mòn cấp tín dụng dựa quá nhiều vào lợi nhuận kỳ vọng hoặc Tài sản đảm bảo mà không gắn liền với rủi ro, không quán triệt nguyên tắc đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận khiến ngân hàng phải đứng trước hai ngã rẽ: (1) mở rộng tín dụng quá mức để chạy theo lợi nhuận khi có các điều kiện thuận lợi, (2) thu hẹp quá mức khi vấp phải các khó khăn, thử thách. Kết quả là các ngân hàng đều phải đối mặt với các vấn đề về chất lượng tín dụng và lãng phí nhiều công sức để xử lý các khoản nợ có vấn đề.

2.3.2.2 Mô hình quản trị Rủi ro tín dụng không phù hợp

Hạn chế trong việc nhận biết rủi ro

Văn hóa về quản lý rủi ro hầu như chưa được quán triệt ở ngân hàng, mang nặng tư tưởng để mức độ rủi ro càng thấp càng tốt. Quan niệm cũ “Quản trị rủi ro có nghĩa là không để có rủi ro” muốn thay đổi sang “Quản trị rủi ro tốt nghĩa là đảm bảo sự ổn định của lợi nhuận” vẫn cần nhiều thời gian. Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank.

Thông tin về nhận biết rủi ro không đầy đủ, kịp thời, không có tính hệ thống và thiếu chính xác. Đồng thời, cũng không có sự phân cấp giữa người cập nhật thông tin và sử dụng thông tin, tình trạng báo cáo tay là chủ yếu.

Về chức năng quản trị rủi ro

Hiện tại ngân hàng đang có sự giao thoa của hai mô hình quản trị rủi ro tập trung và phân tán: từng bộ phận kinh doanh tại Hội sở chính cũng như tại chi nhánh tự thực hiện nhiệm vụ quản trị rủi ro theo quy trình nghiệp vụ; phê duyệt các giao dịch kinh doanh, báo cáo rủi ro khép kín trong từng quy trình nghiệp vụ.

Việc phân cấp ủy quyền phán quyết tín dụng đối với các chi nhánh còn khá lớn, chưa phù hợp với thông lệ vì quản lý tín dụng vẫn tập trung tại Hội sở chính.

Ủy ban Quản lý rủi ro của ngân hàng được hình thành, hoạt động song song không tham gia giám sát độc lập trong quá trình tác nghiệp, hoạt động mang tính chất tham mưu, tư vấn trên cơ sở các thực tế tác nghiệp đã phát sinh… nên vai trò hỗ trợ kinh doanh chưa được thể hiện một cách sâu sắc.

2.3.2.3 Quy trình cấp tín dụng còn bất cập Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank.

Phòng khách hàng của ngân hàng thực hiện đầy đủ ba chức năng và chịu trách nhiệm đối với mọi khâu chuẩn bị cho một khoản vay nên nhiều công việc tập trung hết một nơi, thiếu sự chuyên sâu. Việc bộ phận tín dụng vừa là người đi tìm kiếm, tiếp xúc khách hàng vừa phân tích khách hàng để trình duyệt thường kém tính khách quan và tiềm ẩn rủi ro vì:

  • Bộ phận tín dụng thường phải chịu áp lực về phát triển, mở rộng khách hàng nên họ có thể phân tích khách hàng theo hướng tốt hơn so với thực tế để được phê duyệt cho vay, đảm bảo chỉ tiêu về dư nợ.
  • CBTD tiếp xúc trực tiếp khách hàng nên đôi khi có sự thông đồng giữa Cán bộ tín dụng và khách hàng dẫn đến khai tăng nhu cầu để vay hộ, vay ké hoặc khách hàng mua chuộc Cán bộ tín dụng để được vay tiền ngân hàng.

Do hạn chế về tính minh bạch của thông tin khách hàng và năng lực thẩm định yếu của Cán bộ tín dụng, quy trình cấp tín dụng nhìn chung còn cồng kềnh, phức tạp, quy trình cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như cá nhân hầu như vẫn giống hệt quy trình cho vay khách hàng doanh nghiệp lớn. Hạn chế này gây lãng phí về nhân lực, tài lực của ngân hàng.

Vụ án Huỳnh Thị Huyền Như là một điển hình rõ nhất về sự bất cập trong việc cho vay của ngân hàng công thương. Huyền Như – nguyên là Phó phòng quản lý rủi ro Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam chi nhánh TP.HCM, Quyền Trưởng phòng Giao dịch Điện Biên Phủ, đã tự ý giả chữ ký, lập 83 thẻ tiết kiệm do ngân hàng công thương phát hành trị giá 533,55 tỷ đồng đứng tên các khách hàng gửi tiền. Sau đó Huyền Như sử dụng trái phép các thẻ tiết kiệm này làm Tài sản đảm bảo, lập hợp đồng vay tiền giả, ký giả chữ ký của chủ thẻ để vay 514,54 tỷ đồng tại ngân hàng công thương. Các cán bộ của Phòng giao dịch ngân hàng công thương đã vi phạm quy định về cho vay, đề xuất lãnh đạo duyệt cho vay, ký hợp đồng cho vay mà không có mặt của người vay hoặc người bảo lãnh tại Ngân hàng, nên đã tạo cơ hội cho Huyền Như lừa đảo. Sau khi biết bị Huyền Như lừa, NHCT vẫn dùng số tiền từ thẻ tiết kiệm đã được cầm cố để thu hồi các khoản nợ đã cho vay sai mà không có sự đồng ý của chủ thẻ tiết kiệm. Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank.

Quyết định cấp tín dụng cho một khoản vay/khách hàng chủ yếu dựa trên các đặc điểm của riêng khoản vay/khách hàng đó mà chưa xem xét, đánh giá tác động của khoản vay/khách hàng đó tới tổng thể rủi ro của danh mục đầu tư theo ngành, lĩnh vực kinh tế, khu vực địa lý và các sản phẩm cụ thể.

Hiện nay, một Cán bộ tín dụng quản lý rất nhiều khách hàng, đặc biệt đối với Cán bộ tín dụng ở phòng khách hàng cá nhân quản lý 200-300 khách hàng cho nên việc thẩm định phân tích khách hàng trước, trong và sau khi cho vay khó mà chặt chẽ và kĩ lưỡng.

Chất lượng tín dụng có lúc, có nơi chưa được coi trọng đúng mức, việc tuân thủ quy trình tín dụng chưa nghiêm (thẩm định sơ sài, hồ sơ Tài sản thế chấp chưa đầy đủ yếu tố pháp lí), một số Cán bộ tín dụng khi quyết định cho vay vẫn còn coi trọng Tài sản đảm bảo tiền vay mà chưa xem xét kĩ đến hiệu quả của dự án vay vốn.

Việc kiểm tra sử dụng vốn vay còn mang tính hình thức, chiếu lệ, chưa thường xuyên nên dẫn đến một số khách hàng còn sử dụng vốn sai mục đích dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ ngân hàng.

2.3.2.4 Xuất hiện tình trạng tập trung tín dụng vào một số ngành hàng, nhóm khách hàng

Trước kia, phần lớn dư nợ tín dụng trong kỳ của ngân hàng tập trung vào nhóm khách hàng là các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước lớn thì nay tỷ lệ tập trung tín dụng vào nhóm này đã giảm đáng kể, chuyển thành tập trung vào nhóm khách hàng lớn không phân biệt hình thức sở hữu đã làm cho Rủi ro tín dụng tập trung vào một số ngành gia tăng. Các ngành chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ vẫn là sắt thép, cho vay kinh doanh bất động sản, xi măng, điện nguồn, vật liệu xây dựng khác. Hiện nay ngân hàng công thương cho tập đoàn EVN vay để hoàn thành nhiều dự án như 3.300 tỷ cho dự án đường dây 500 kV mới, 6.200 tỉ đồng xây nhiệt điện. Tuy rằng EVN là tập đoàn lớn, uy tín nhưng những khoản vay của EVN đều có giá trị rất cao và tiềm ẩn không ít rủi ro cho ngân hàng công thương bởi thời hạn cho vay dài.

2.3.3 Nguyên nhân những hạn chế trong công tác quản trị Rủi ro tín dụng của ngân hàng công thương

2.3.3.1 Nguyên nhân chủ quan Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank.

  • Chưa có định hướng, chiến lược cụ thể cho quản trị Rủi ro tín dụng của ngân hàng

Mặc dù đã có những bộ phận chuyên trách về quản trị Rủi ro tín dụng, song định hướng chiến lược quản trị rủi ro mới chỉ thể hiện ở những chỉ đạo kinh doanh mang tính tổng quát như: cảnh báo hoặc hạn chế tín dụng ở một số lĩnh vực, ngành nghề nên không phản ánh mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng một cách tổng quan.

Bên cạnh đó, việc chuyển hướng trong chiến lược cho vay nhưng chưa được tổ chức nghiên cứu kỹ, chủ yếu tuân thủ chỉ đạo điều hành của NHNN, chưa tính đến chu kỳ của nền kinh tế. Thời kì “thừa vốn” chính sách cho vay có phần nới lỏng hơn về lãi suất và một số điều kiện vay vốn, thời gian xem xét phê duyệt.

  • Nhân sự của bộ phận quản trị Rủi ro tín dụng còn hạn chế

Hầu hết các cán bộ quản trị rủi ro đều là những Cán bộ tín dụng chuyển sang, không có chuyên ngành sâu về quản trị Rủi ro tín dụng. Ngoài ra, trong một thời gian dài, cán bộ làm công tác kiểm tra, kiểm soát hầu hết lại là các Cán bộ tín dụng không có năng lực. Do đó, công tác kiểm tra, kiểm soát được thực hiện một cách hình thức, hiệu quả kém.

Hơn nữa, bộ máy quản trị Rủi ro tín dụng còn quá phân tán, chưa phù hợp, đặc biệt ở các chi nhánh nhỏ/mới thành lập. Theo quy định, chi nhánh nào cũng phải có bộ phận quản trị rủi ro nên nhiều chi nhánh không bố trí đủ cán bộ cho bộ phận này, thậm chí tại nhiều chi nhánh bộ phận này chỉ có một người vừa làm cán bộ, vừa làm lãnh đạo. Trong khi đó, theo chức năng, nhiệm vụ của bộ phận này ở chi nhánh thường kiêm cả quản lý nợ có vấn đề, quản trị rủi ro tác nghiệp…

Bộ phận quản trị Rủi ro tín dụng không có quyền cấp hạn mức và vẫn chịu sự điều hành của ban giám đốc chi nhánh. Quyết định cấp tín dụng cuối cùng vẫn là của Hội đồng tín dụng cơ sở hoặc giám đốc chi nhánh. Vì vậy, ý kiến của bộ phận quản trị rủi ro nhiều khi phụ thuộc vào ý kiến của Ban giám đốc, không có tính độc lập. Đồng thời không có sự kết nối về chỉ đạo điều hành giữa bộ phận quản trị rủi ro ở trụ sở chính và chi nhánh.

  • Giao mức ủy quyền phán quyết tín dụng cho chi nhánh cao

Chi nhánh hoạt động gần như một Ngân hàng độc lập, chưa kể việc phân chia khoản vay nhỏ để vừa đúng mức phê duyệt được ủy quyền của chi nhánh, không trình phê duyệt về hội sở chính đã làm tăng Rủi ro tín dụng ở cấp thực hiện. Vì thế, trong thời gian qua, một số chi nhánh khi có đoàn kiểm tra trực tiếp của Trụ sở chính mới bộc lộ nhiều sai sót trong quá trình cấp tín dụng, thậm chí cấp tín dụng vượt thẩm quyền.

2.3.3.2 Nguyên nhân khách quan Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank.

  • Môi trường pháp lý chưa thuận lợi

Các định hướng phát triển của Nhà nước thường xuyên thay đổi, điều chỉnh cơ chế chính sách làm ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế. Cơ chế chính sách của Chính phủ, của NHNN về cho vay, bảo đảm tiền vay, xử lý nợ xấu… còn nhiều vấn đề chưa phù hợp với thực tế, đổi mới và chỉnh sửa bổ sung còn chậm. Quy chế cho vay của NHNN và hướng dẫn của Ngân hàng có điểm quy định thiếu cụ thể, nên khi triển khai thực hiện còn vướng mắc, còn nhiều cách hiểu khác nhau để dẫn đến rủi ro. Các văn bản pháp luật về tài sản thế chấp còn nhiều bất cập, nhất là xác định quyền sở hữu các tài sản dùng làm thế chấp.

Quy trình phát mại tài sản là giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất còn phức tạp, đất thế chấp nhưng ngân hàng không tự định đoạt được mà phải xin ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước trên địa bàn hoặc phải khởi kiện ra tòa, Pháp luật chưa ban hành đầy đủ các văn bản pháp lý về thẩm quyền của người cho vay hoặc cơ quan chức năng trong việc phát mại Tài sản thế chấp, cầm cố… chưa có cơ chế cưỡng bắt buộc người vay vốn có nghĩa vụ giao Tài sản đảm bảo cho ngân hàng xử lý, khi không có khả năng trả nợ. Điều này dẫn đến tình trạng khách hàng trây ỳ, không thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà ngân hàng chưa thu hồi được.

Luật doanh nghiệp Nhà nước chỉ mới quy định doanh nghiệp được dùng tài sản nhà nước để thế chấp nhưng việc xử lý tài sản để thu hồi nợ khi doanh nghiệp không trả được nợ vay thì không quy định.

Pháp lệnh thống kê đến nay đã bộc lộ nhiều thiếu sót, do chưa thực sự xử lý nghiêm minh các doanh nghiệp vi phạm pháp lệnh. Thủ tục khởi kiện của ngân hàng còn rườm rà. NHNN chưa khắc phục được công tác giám sát từ xa và thanh tra tại chỗ. Hệ thống thông tin tại trung tâm tín dụng NHNN (CIC) chưa đáp ứng được nhu cầu của ngân hàng.

  • Nguyên nhân từ phía khách hàng Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank.

Những rủi ro do khách hàng mang lại thường nằm ngoài tầm kiểm soát của ngân hàng và đa số Rủi ro tín dụng đều bắt nguồn từ khách hàng.

Những nguyên nhân cơ bản có thể kể đến như khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích như đã cam kết trong hợp đồng, dẫn tới làm ăn thua lỗ hoặc không có nguồn tiền để trả nợ. Để tạo niềm tin trước ngân hàng, không ít khách hàng giả lập phương án không có thật để vay vốn hòng chiếm đoạt tiền của ngân hàng hoặc đầu tư cho hoạt động phi pháp, không hiệu quả. Ngoài ra, khách hàng còn vay lừa đảo bằng việc chiếm đoạt tài sản được hình thành từ vốn vay (cho vay mua nhà trả góp, mua bất động sản, đồ dùng công nghệ…) do lợi dụng được sơ hở.

Các doanh nghiệp không tuân thủ nghiêm ngặt chế độ Báo cáo tài chính, bản thân họ không thấy tầm quan trọng của Báo cáo tài chính nên các báo cáo tài chính gửi ngân hàng thường có chất lượng kém: thiếu thông tin và sai lệch thông tin. Thông tin thiếu sẽ gây khó khăn cho ngân hàng trong việc phân tích, đánh giá thực trạng của khách hàng, gây phiền toán mất thời gian do cán bộ ngân hàng phải đến tận doanh nghiệp để xác minh lại thông tin. Ngoài ra, rất ít các doanh nghiệp hiện nay thực hiện kiểm toán Báo cáo tài chính. Vì thế, ngân hàng khó có thể phát hiện ra sai sót trong việc chấp hành chế độ kế toán của những doanh nghiệp này, dẫn đến việc đưa ra phán quyết tín dụng đôi khi không chuẩn xác.

Bên cạnh đó, Tài sản đảm bảo từ các khoản vay của ngân hàng thường là bất động sản hoặc các phương tiện vận tải. Nguy cơ biến động giá cả trên thị trường, khó phát mại tài sản, tài sản bị hao hụt vô hình và hữu hình, thiếu ý thức giữ gìn, bảo quản của khách hàng… cũng gây ra rủi ro cho ngân hàng khi phát mại tài sản. Khóa Luận: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa Luận: Giải pháp quản trị rủi ro tín dụng tại Vietinbank

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537