Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng marketing ở khách sạn có VĐT Nước Ngoài hay nhất năm 2022 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động marketing của một số khách sạn có vốn đầu tư Nước Ngoài Tại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1 Giới thiệu chung về khách sạn có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam
Trong thời kì 1988 – 2007, số dự án xây dựng khách sạn – nhà hàng đầu tư nước ngoài đã được cấp giấy phép là 291 dự án, với tổng số vốn đăng ký lên tới 7620,6 triệu USD, tổng số vốn điều lệ là 3144,9 triệu USD trong đó nước ngoài góp 2474 triệu USD, Việt Nam góp 670,9 triệu USD.
Riêng năm 2007, số dự án được cấp giấy phép đầu tư trực tiếp vào lĩnh vực khách sạn – nhà hàng là 38, tổng số vốn đăng kí là 1968,1 triệu USD, tổng số vốn điều lệ là 1883,6 triệu USD, vốn cấp mới là 84,5 triệu USD, số vốn tăng thêm là 670,9 triệu USD.
Bốn tháng đầu năm 2009 cả nước có 145 dự án FDI cấp mới, với tổng số vốn đăng ký là 2.483,24 triệu USD. Số dự án đề nghị được tăng thêm vốn đầu tư là 23, với tổng số vốn tăng thêm là 3.874,5 triệu USD. Như vậy, tổng số vốn cấp mới và tăng thêm trong 4 tháng đầu năm 2009 ở Việt Nam đạt 6.357,74 triệu USD.
Trong đó, ngành dịch vụ có 96 dự án (chiếm 66,2% số dự án) được cấp mới đầu tư vào Việt Nam, với số vốn đăng ký là: 2.100,49 triệu USD (chiếm 84,6% tổng số vốn cấp mới của cả nước). Số dự án đề nghị được tăng thêm vốn đầu tư là 11 (chiếm 47,8% số dự án), vốn đăng ký tăng thêm là 3.855,01 triệu USD (chiếm 99,5% tổng số của toàn quốc). Mức vốn cấp mới và tăng thêm trong 4 tháng đầu năm 2009 ngành dịch vụ đạt 5.955,49 triệu USD (chiếm 93,6% tổng số của cả nước). Trong số 96 dự án thuộc ngành dịch vụ có 6 dự án cấp mới về lĩnh vực khách sạn – du lịch (4,1% số dự án của toàn quốc), với số vốn đăng ký cấp mới là 705,71 triệu USD (chiếm 28,42 tổng số vốn cấp mới của toàn quốc). Một (01) dự án đăng ký tăng thêm với số vốn đăng ký là 3.800 triệu USD (chiếm 98,1% vốn đăng ký tăng thêm của cả nước trong 4 tháng đầu năm 2009). Tổng vốn cấp mới và tăng thêm lĩnh vực khách sạn – du lịch bốn tháng đầu năm 2009 là 4.505,71 triệu USD (chiếm 70,9% của cả nước).
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Quản Trị Kinh Doanh
2.2 Một số khách sạn nước ngoài nổi tiếng xếp hạng 5 sao ở Việt Nam: Khóa luận: Thực trạng marketing ở khách sạn có VĐT Nước Ngoài.
2.2.1 Nikko Hanoi
Khách sạn Nikko Hà Nội trực thuộc tập đoàn Nikko Quốc tế được đầu tư bởi Nhật Bản, đã hoạt động tại nước ta từ những năm đầu thập kỉ 90 của thế kỉ trước. Khách sạn Nikko đã được xếp vào danh sách 10 khách sạn tốt nhất của Việt Nam trong vòng 4 năm liên tiếp từ năm 1998 – 2002, cho tới nay vẫn luôn giữ vững vị trí khách sạn 5 sao có mặt từ rất sớm tại thị trường Việt Nam. Khách sạn nằm trong khuôn viên đẹp, trước cổng công viên Thống Nhất, có nhiều cây xanh, phía vỉa hè trước mặt cũng rất rộng, xe ô tô có thể đỗ được tới 2 hàng. Từ sân bay Nội Bài, chỉ cần 40 phút là tới được khách sạn. Nó còn được bao quanh bởi nhiều nhà hàng, khu vui chơi giải trí, hồ Thuyền Quang bên cạnh tạo không gian trong lành, thoáng mát. Từ trung tâm Hà Nội, các khách du lịch có thể tới thăm chùa Hương, đền Hùng, nhà thờ Phát Diệm, rừng quốc gia Cúc Phương. Bên trong khách sạn còn có bể bơi ngoài trời, khu mát xa, khu mua sắm, khu thương mại cho văn phòng thuê, nhà hàng ăn uống (La Brasserie – đồ ăn kiểu Pháp, Benkay – đồ ăn Nhật, Taoli – đồ ăn Trung quốc, Cake Shop – bán bánh ngọt), quầy rượu (Portrait Bars)…
Khách sạn hiện nay có 260 phòng, ngoài các phòng như phòng tập thể dục thể hình, phòng nghỉ ngơi, các phòng còn lại chia làm các cấp hạng khác nhau:
- Deluxe room: Rộng 36m2, gồm có 82 phòng 1 giường đôi (King) và 101 phòng 2 giường đơn (Twin), Có ăn sáng tại nhà hàng bên trong khách sạn (La Brasserie Restaurant), sử dụng bể bơi, phòng tập, xông hơi, mát xa, dịch vụ đánh giầy miễn phí, 2 chai nước khoáng 1 ngày, giá công bố trên website là 220/230USD++ (Giá áp dụng từ ngày 1/1/2006).
- Nikko Executive: Rộng 36m2, có 27 phòng đơn và 11 phòng đôi, tương tự như Deluxe Room nhưng có thêm phiếu tặng đồ uống, kết nối Internet băng thông rộng, dịch vụ giặt miễn phí (không có sấy), giá công bố trên website là 240/260USD++(Giá áp dụng từ ngày 1/1/2006). Khóa luận: Thực trạng marketing ở khách sạn có VĐT Nước Ngoài.
- Park view Deluxe: phòng đưa hướng nhìn ra công viên Thống Nhất, rộng hơn Deluxe room (48m2), có 16 phòng đơn, các điều kiện tương tự Nikko Executive, giá 260/280USD++
- Park View Executive: tương tự Park View Deluxe nhưng có tặng thêm khách giỏ hoa quả tươi khi tới nơi, có 4 phòng đơn, giá 280/300USD++
- Executive Suite (king): tương tự Park View Executive (trừ hướng nhìn không ra công viên), có 8 phòng rộng 75m2/phòng; giá 500-520USD++
- Executive Suite (Twin): tương tự Executive Suite (King), có 2 phòng, giá tương tự.
- President Suite: có các điều kiện tương tự Executive Suite nhưng diện tích lớn hơn nhiều, có cả phòng khách và phòng ngủ, 123m2/ phòng và có 2 phòng, giá 800-820USD++
2.2.2 Khách sạn Sofitel Plaza
Khách sạn thuộc tập đoàn Accor của Pháp, được xây dựng và thành lập ở Việt Nam từ năm 1995. Khách sạn gồm 20 tầng nằm ở ngã ba giao của đường Thanh Niên và đê Yên Phụ, được xem như cửa ngõ của Hà Nội, nhìn ra Hồ Tây, hồ Trúc Bạch và cả sông Hồng. Ngoài dịch vụ lưu trú, Sofitel Plaza Hà Nội còn có nhà hàng ăn uống phục vụ phong cách Á (Ming Palace Chinese Restaurant), Âu (La Brasserie), quầy rượu (Song Hong Bar, Pool Garden, Summit Lounge), nhiều loại phòng họp với diện tích khác nhau, phòng rộng nhất là 420m2, chứa được trên 500 người nếu sắp xếp hội thảo theo kiểu class room. Ngoài ra, về dịch vụ lưu trú, tất cả 317 phòng đều trang bị ti vi truyền hình cáp, điện thoại (có gọi quốc tế), bàn làm việc, tủ đầu giường, đường Internet ADSL, riêng tầng đặc biệt tên gọi “Club Sofitel” thì có Internet không dây, ti vi màn hình tinh thể lỏng LCD và giường hạng sang của thương hiệu Mybed. Sofitel Plaza Hà Nội có các loại phòng sau:
- Classic Room: có loại phòng 2 giường đơn hoặc 1 giường đôi, từ tầng 7 tới tầng 10, nhìn ra hồ hoặc nhìn ra sông Hồng, rộng 30-35m2
- Superior Room: tương tự Classic Room nhưng nằm ở tầng 11 tới tầng 14
- Luxurious Room: từ tầng 15 tới tầng 18, có lối đi sang Câu lạc bộ Sofitel “Club Sofitel”, tương tự cũng có 2 loại phòng, 2 giường đơn hoặc 1 giường đôi, được sử dụng phòng họp 1 tiếng miễn phí.
- Suite Room: phòng thượng hạng, 42m2, chỉ có loại phòng 1 giường đôi, sử dụng phòng họp 1 tiếng miễn phí, có ghế sô – fa trong phòng.
Trên thế giới hệ thống Sofitel còn có nhiều loại phòng khác như: Prestige Suite, Opera Suite và Imperial Suite nhưng chưa triển khai ở Việt nam.
2.2.3 Movenpick (Moevenpick) Khóa luận: Thực trạng marketing ở khách sạn có VĐT Nước Ngoài.
Movenpick Hotel có cả ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, thuộc tập đoàn khách sạn và nghỉ dưỡng (Hotel & Resorts) Movenpick của Thụy Sỹ. Tại thành phố Hồ Chí Minh, Movenpick Saigon là khách sạn 5 sao duy nhất ở địa bàn quận Phú Nhuận, chỉ cách 10 phút tới trung tâm triển lãm thành phố hoặc sân bay quốc tế Tây Sơn Nhất, 20 phút để tới trung tâm. Movenpick Saigon có 251 phòng đảm bảo cho việc lưu trú ngắn ngày và cả những kì nghỉ dài ngày của cả những khách hàng khó tính nhất, trong số này có 123 phòng không hút thuốc, 39 phòng có cả phòng ngủ và phòng khách (Connecting Room) và 1 phòng tập thể dục. Mỗi phòng khách đều trang bị ti vi truyền hình cáp, Internet băng thông rộng, máy sấy, thiết bị an toàn (trong trường hợp cháy, nổ), hệ thống điều hòa chỉnh cá nhân. Movenpick Saigon có các loại phòng sau:
- Superior room: 1 giường đôi hoặc 2 giường đơn, rộng 30m2, không lắp thêm giường di động được
- Deluxe room: 1 giường đôi hoặc 2 giường đơn, rộng 30m2, lắp thêm giường sẽ charge phí
- Junior Suite: 1 giường đôi, 30m2, trang thiết bị hiện đại, lịch lãm
- Executive Deluxe Room:1 giường đôi hoặc 2 giường đơn, 30m2, có trang bị máy fax, đầu đọc đĩa DVD, dàn âm thanh cao cấp Stereo Hifi
- Executive Junior Suite: 1 giường đôi
- Executive Suite: 1 giường đôi
- Executive Club Suite: 1 giường đôi, Ti vi màn hình tinh thể lỏng, có bàn ăn tối riêng…
Ngoài dịch vụ lưu trú, Movenpick cũng có phòng phục vụ hội thảo, tiệc cưới, phòng tập thể dục, bể bơi ngoài trời,
Tiệc cưới tổ chức tại Movenpick sẽ được miễn phí nhật ký ngày cưới (storybook), thực đơn phong phú có cả món Việt lẫn món Thụy Sỹ, với giá từ 21USD/người trở lên. Khóa luận: Thực trạng marketing ở khách sạn có VĐT Nước Ngoài.
2.2.4 Khách sạn quốc tế Lilai
Là khách sạn mới được khánh thành và đi vào hoạt động vào năm 2007 bởi các nhà đầu tư Đài Loan (Trung Quốc), khách sạn Lilai nằm ở tỉnh Móng cái, Quảng Ninh, nhìn xuống sông Ka Long. Từ khách sạn, có thể dễ dàng sang Trung Quốc bởi Móng cái có cửa khẩu giáp Trung Quốc, đi thăm Hạ Long, biển Trà Cổ đều thuộc tỉnh Quảng Ninh. Khách sạn Lilai có 4 hạng phòng: 15 phòng hạng Standard, 6 phòng Deluxe, 3 phòng Junior Suite và 3 phòng Deluxe Suite. Các phòng đều có điều hòa, tivi truyền hình cáp, có thể trang bị thêm nôi cho trẻ con nằm, các phòng đều nhìn ra vườn cây xanh và hồ nước rộng, tuy nhiên chưa có kết nối Internet băng thông rộng. Bên cạnh cách dịch vụ ăn uống, khách sạn Lilai cũng có bể bơi ngoài trời, có phòng tập thể dục, phòng tắm xông hơi, mát xa, bể sục, có khu thương mại,…
Ngoài các khách sạn vừa kể trên, ở Việt Nam hiện nay còn có các khách sạn lớn của các tập đoàn khách sạn khổng lồ trên thế giới như: Renaissance Riverside Sài gòn (thuộc tập đoàn Marriot của Mỹ đầu tư) nằm trên trục đường Tôn Đức Thắng, quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh cao 21 tầng với 319 phòng thường, 17 phòng thượng hạng (Suite); 3 phòng họp với tổng diện tích lên tới 2368m2…; Khách sạn Intercontinental Westlake của tập đoàn đa quốc gia Intercontinental (Hiện nay trụ sở của tập đoàn khách sạn Intercontinental nằm ở Denham, Buckinghamshire, gần Greater London, Anh) v.v…
2.3 Hoạt động Marketing của một số khách sạn có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Khóa luận: Thực trạng marketing ở khách sạn có VĐT Nước Ngoài.
2.3.1 Chính sách sản phẩm (Product)
- Dịch vụ lưu trú:
Các khách sạn có vốn đầu tư nước ngoài luôn cố gắng đáp ứng các nhu cầu đa dạng của khách, từ các đoàn đại sứ, tổng thống, thủ tướng các nước tới các khách du lịch. Họ luôn có các hạng mục phòng khác nhau với đầy đủ thiết bị hiện đại, vệ sinh với các đối tượng khác nhau. (Standard, Deluxe, Junior Suite, Executive Suite, Presidential Suite24)
Các dịch vụ bổ sung khác mà các khách sạn có vốn đầu tư nước ngoài đã làm được, đó là:
- Dịch vụ thể thao như: sân tennis, bể bơi, phòng tập thể thao, thể hình… Hiện nay tất cả các khách sạn quy mô lớn, diện tích rộng, gần các khu trung tâm dân cư đều áp dụng gói sản phẩm này.
- Dịch vụ vui chơi, giải trí: bao gồm quầy bar, vũ trường, phòng karaoke… được mở ra ở hầu hết các khách sạn nhưng vẫn không có chất lượng cao như các nhà hàng chuyên doanh. Một số bar của các khách sạn liên doanh cũng thường thu hút được giới trẻ nước ngoài thu nhập khá như Sheraton, Hilton. Riêng “karaoke” thì là dịch vụ mạnh hơn của các khách sạn có vốn đầu tư từ Châu Á do đặc điểm văn hóa khác nhau. (Khách sạn Đồng Khánh ở Huế – vốn đầu tư: Trung Quốc trang bị phòng karaoke rất hiện đại, thu hút cả những khách không lưu trú trong khách sạn tới mua dịch vụ)
- Dịch vụ xông hơi, massage: Là một dịch vụ mang lại nguồn thu lợi khá nhiều cho các khách sạn.
- Dịch vụ thương mại khác như kinh doanh phòng họp, hôi nghị, hội thảo, phòng cưới, phiên dịch…
Đây là một số thông tin về các loại phòng họp mà khách sạn Intercontinental westlake cung cấp: 5 loại phòng với kích thước khác nhau, có thể chứa tới 500 người / phòng họp.
Tùy theo cách bố trí phòng họp mà số khách mời có thể thay đổi, dưới đây là một số đề nghị của khách sạn:
Trang thiết bị: Máy chiếu, đường dây Internet, đầu đọc đĩa DVD,máy chiếu màn hình tinh thể lỏng, đĩa laser, tai nghe, bảng trắng…
Các khách sạn liên doanh nước ngoài làm rất tốt các dịch vụ này và trở thành điểm đến ưa thích của các công ty lớn mỗi khi họ muốn tổ chức một chương trình thật chuyên nghiệp.
Dịch vụ bán hàng: có trong hầu hết các khách sạn, chuyên bán các đồ lưu niệm, các hàng hóa thông dụng, song giá vẫn còn cao. Khóa luận: Thực trạng marketing ở khách sạn có VĐT Nước Ngoài.
Dịch vụ vận chuyển: tất cả các khách sạn đều có phương tiện vận chuyển riêng như ô tô, xe máy, xe đạp, bán vé máy bay , tàu hỏa… để phục vụ nhu cầu của khách. Có những khách sạn nước ngoài còn kí hợp đồng độc quyền với một hãng taxi nào đó để củng cố lòng tin của khách hàng, nâng cao uy tín của họ.
Một số các dịch vụ khác như: cắt tóc, thẩm mỹ, may đo… cũng bắt đầu xuất hiện dưới dạng dịch vụ cao cấp tại nhiều khách sạn và nó không chỉ phục vụ cho những khách tới lưu trú tại khách sạn mà cả những người dân địa phương có thu nhập cao.
Riêng đối với khách thương mại, đa số khách sạn còn cung cấp thêm dịch vụ văn phòng, dịch vụ thư kí. Còn đối với các khách du lịch, các khách sạn có vốn đầu tư nước ngoài còn cung cấp thêm các dịch vụ như hát dân gian, múa hát hay các món ăn truyền thống mang phong cách dân tộc các nước. Khách sạn Hà Nội (Vốn đầu tư: Hồng Kong – Trung Quốc) đã từng tổ chức tuần lễ văn hóa New Zealand, Tuần lễ ẩm thực Nhật Bản, Tuần lễ văn hóa Việt Nam… đều rất thu hút khách trong và ngoài nước dừng chân tại khách sạn.
Như vậy tầm quan trọng của các dịch vụ bổ sung trong các khách sạn là điều dễ thấy, các khách sạn có vốn đầu tư nước ngoài hiểu rõ tầm quan trọng của các dịch vụ tăng thêm ngoài các dịch vụ chính là dịch vụ lưu trú và dịch vụ ăn uống, họ đã có những chiến lược đầu tư rất hiệu quả vào các dịch vụ này.
2.3.2 Chính sách giá cả (Price) Khóa luận: Thực trạng marketing ở khách sạn có VĐT Nước Ngoài.
Thực tế tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số nơi khác, việc hạ giá phòng của các khách sạn Việt nam trong nhiều trường hợp lại không thu hút được khách. Nhiều khách sạn có giá thuê phòng cao nhưng lại có công suất sử dụng phòng hoàn toàn không thấp như khách sạn Hilton (Vốn đầu tư: Mỹ). Điều đó là do các nguyên nhân như: chất lượng sản phẩm, dịch vụ của khách sạn; vị trí và kỹ thuật điều hành; nghệ thuật kinh doanh…
Hưởng ứng chương trình “Ấn tượng Việt Nam” giảm giá dịch vụ, buồng phòng cho khách và các công ty du lịch lữ hành, khách sạn Hilton Hà Nội đưa ra chương trình khuyến mãi “Miễn phí phòng họp hội nghị”cho khách hàng đặt phòng nghỉ tại khách sạn. Theo đó, khách hàng đặt phòng nghỉ trong năm 2009 trong thời gian từ ngày 15/4 đến 30/6, sẽ được miễn phí phòng họp hội nghị cho các cuộc họp diễn ra từ nay đến hết ngày 31/12. Không chỉ có vậy, tại các cuộc họp này khách còn được miễn phí đồ uống, đồ ăn nhẹ trong giờ giải lao và bữa trưa. Cũng nằm trong chương trình kích cầu du lịch, khách sạn còn có chương trình khuyến mại giảm 50% tiền ăn bữa trưa với 40 món ăn Việt Nam tại nhà hàng Ba miền. Khách nghỉ từ 2-3 đêm được khuyến mại 1 đêm miễn phí… Những chương trình này sẽ kéo dài đến hết năm 2009. Được biết,trong quý I-2009, thời kì khủng hoảng kinh tế trên toàn thế giới, khách sạn Hilton Hà Nội đã đón khoảng 3 vạn lượt khách, công suất sử dụng phòng đạt từ 55-60%.
Bên cạnh đó, hầu hết các khách sạn đều có chính sách giảm giá cho khách quen, khách ở lâu, khách đi theo đoàn, và nhất là luôn có chính sách điều chỉnh giá thích hợp khi có những biến đổi của thị trường và vào những mùa vụ khác nhau.
Ví dụ tiêu biểu là chiến dịch “1USD/đêm bao gồm ăn uống” cũng của khách sạn Hilton tại Hà Nội thời kì dịch SARS năm 2003. Chiến dịch này kéo dài 3 tuần đã thu hút được rất đông khách hiếu kì bởi chưa bao giờ và có lẽ chẳng bao giờ họ lại có cơ hội bước vào một khách sạn như vậy với mức giá hấp dẫn đến thế.
Hay như khách sạn Movenpick Saigon: cùng thời điểm năm 2009, có tới 4 chương trình khuyến mại được đưa ra.
Chương trình khuyến mại thời vụ : Từ 1/4 – 1/10/2009, chương trình khuyến mại MICE27 dành cho các công ty tổ chức hội thảo, họp…với chi tiết như sau: Họp cả ngày, có ăn trưa, 28USD/người (chưa thuế); Họp nửa ngày, có ăn trưa, 23USD/người (chưa thuế); Thuê phòng nghỉ “Deluxe Room” với giá 115USD++/người. Giá áp dụng cho đoàn khách nghỉ lại trên 10 người hoặc hội thảo trên 20 người. (Thông thường giá sẽ cao hơn 10 – 15%).
- Chương trình áp dụng thường xuyên: Khóa luận: Thực trạng marketing ở khách sạn có VĐT Nước Ngoài.
Tuần thiên đường: Áp dụng cho khách đặt chỗ sớm, trước 1-2 tuần, đặt phòng ở 7 đêm chỉ phải thanh toán 5 đêm, ngoài ra còn được tự động thăng hạng phòng (1 bậc) và miễn phí đồ ăn sáng.
Chương trình cho những khách đặt sớm : Khách hàng đặt phòng trước tháng sẽ tự động được giảm 25% tổng giá thanh toán.
Chương trình Ngày cuối tuần rực rỡ: Nếu đặt phòng và nghỉ tại khách sạn trong những ngày cuối tuần (thứ 6, 7, chủ nhật) sẽ có giá 100USD++/người/ 1 đêm cho phòng hạng Deluxe và 120USD++/người/ 1 đêm cho phòng hạng Executive Deluxe Room.
Hơn thế, các khách sạn luôn có các loại giá khác nhau, áp dụng cho những khách hàng khác nhau và họ luôn có sự linh hoạt xem xét để giảm giá khi thấy được sự tiềm năng của các khách hàng.
Một số loại giá các khách sạn có vốn đầu tư nước ngoài thường sử dụng là:
Giá công bố (Rack rate) : Là loại giá cao nhất, mọi khách hàng đều có thể đặt trên mạng Internet hoặc có thông tin trực tiếp và lập tức ở bộ phận đặt phòng hay lễ tân. Giá này cũng thường xuyên biến động, phụ thuộc vào nhu cầu đặt phòng của khách và thời điểm đặt phòng trong năm. Khóa luận: Thực trạng marketing ở khách sạn có VĐT Nước Ngoài.
Giá cho các công ty kinh doanh, các đại sứ quán và các tổ chức phi chính phủ (Corporate Price): Chính sách của các khách sạn lớn là ưu tiên nhóm đối tượng khách hàng này nên họ luôn dễ dàng thuê được phòng với những mức giá tốt hơn hẳn “rack rate”.
Giá cho các công ty du lịch (Operator Price): thường rẻ hơn cả giá cho các công ty kinh doanh từ 5 đến 10 USD. Nó dành cho các đoàn du lịch đi nhiều hơn phòng. Nếu có nhu cầu sử dụng các dịch vụ tiện ích thì giá này cao hơn một chút. Giá cho các công ty du lịch thường là giá phòng tiêu chuẩn, đối với các phòng hạng cao hơn mức giá sẽ thay đổi tùy thời điểm.
Ngoài giá công bố sẽ được niêm yết công khai tại quầy lễ tân, phòng thông tin, trang web, các loại giá khác đều được đưa ra rất khéo léo, đôi khi còn tùy khả năng thương thuyết của khách hàng và thường không được tiết lộ ra ngoài. Ví dụ như khi tổng giám đốc tập đoàn RENAULT (Pháp) tới Việt Nam và nghỉ chân tại khách sạn Dragon (Vốn đầu tư: Pháp) hạng 3 sao vào tháng 4/2009, ông đã được ở trong phòng Deluxe Lake View với giá 45USD++ trong khi giá công bố cho phòng này là 60USD++.
2.3.3 Chính sách phân phối (Place)
Việc thu hút khách vào các khách sạn ở mỗi quốc gia phụ thuộc vào hai yếu tố cơ bản sau: thứ nhất là bối cảnh đặc thù mỗi quốc gia về mặt kinh tế, chính trị văn hóa, lịch sử, xã hội, địa lý…; yếu tố thứ hai là uy tín, chất lượng, nghệ thuật kinh doanh của các khách sạn. Chỉ có các khách sạn liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài, một số nhỏ khách sạn nhà nước và một vài khách sạn tư nhân lớn ở nước ta hiện nay là hội tụ đủ cả hai yếu tố này.
Việc bán sản phẩm thông qua việc sử dụng những ứng dụng của công nghệ thông tin như thương mại điện tử được các khách sạn nước ngoài đánh giá rất cao. Việc trao đổi thư từ, gửi brochure quảng cáo qua Internet, cung cấp các gói dịch vụ giới thiệu tới khách hàng, làm website quảng cáo các phòng ốc, dịch vụ… luôn được các khách sạn nước ngoài chú ý đúng mực. Các khách sạn liên doanh thường có hệ thống lưu giữ hồ sơ về khách hàng quá khứ rất chu đáo và họ coi đây là bí mật của doanh nghiệp. Việc liên hệ lại các khách sau khi khách đã sử dụng các dịch vụ của khách sạn luôn được quan tâm đúng mức, điều này cũng làm cho việc đánh giá sự hài lòng của khách gần xác thực hơn và việc khách quay trở lại sử dụng các dịch vụ cũng tăng lên. Khóa luận: Thực trạng marketing ở khách sạn có VĐT Nước Ngoài.
Sử dụng việc bán hàng trực tiếp thông qua các nhân viên marketing tới các nhà tổ chức hội nghị, các cuộc liên hoan lớn ở nhiều khách sạn cũng được coi trọng đúng mức, quy trình thực hiện được lập kế hoạch rõ ràng. Các khách sạn liên doanh hay một số khách sạn tư nhân lớn như khách sạn Bảo Sơn ở Hà Nội đã thực hiện rất tốt vấn đề này, họ đã xây dựng hẳn một quy trình để nắm bắt thông tin, tổng giám đốc trực tiếp phân tích thông tin và định hướng kế hoạch tiếp thị, mời khách tiếp thị trực quan và khi khách đã sử dụng các dịch vụ của khách sạn thì đảm bảo chất lượng cao nhất, tạo không khí như khách đang ở nhà mình… Ngoài ra, các khách sạn có vốn đầu tư nước ngoài còn có hệ thống Internet phủ khắp khách sạn, các thiết bị phục vụ cho hội thảo toàn cầu.
Các khách sạn này cũng có một kênh phân phối gián tiếp thông qua các đại lý lữ hành, qua các nhà lập kế hoạch hội nghị, hội thảo… Để có được kênh phân phối gián tiếp này thì họ đảm bảo các kênh phân phối trực tiếp hoạt động hiệu quả, có như vậy mới đủ trang thiết bị cơ sở vật chất để làm đối tác của họ.
2.3.4 Chính sách xúc tiến, quảng cáo (Promotion) Khóa luận: Thực trạng marketing ở khách sạn có VĐT Nước Ngoài.
Chính sách này bao gồm các thông tin đa dạng để thông báo và thuyết phục khách hàng hiện tại cũng như các khách hàng tiềm năng về những sản phẩm dịch vụ mà khách sạn có thể thỏa mãn nhu cầu của họ. Một số chính sách xúc tiến, quảng cáo thường được các khách sạn nước ngoài áp dụng là:
Quảng cáo qua đồ vật, vật dụng được khách thường xuyên sử dụng khi lưu trú tại khách sạn như trên hộp xà phòng, lược, vỏ bao diêm, bật lửa, giấy ăn…
Tập quảng cáo (sales kit) có hình thức mẫu mã đẹp, in bằng giấy chất liệu tốt, hình ảnh và mẫu mã rất bắt mắt, có tính thẩm mĩ cao và đầy đủ thông tin về các khách sạn. Khách hàng sẽ được tặng các sales kit khi tới lưu trú tại khách sạn hoặc khi đi máy bay, nhất là những hãng mà các khách sạn nước ngoài có liên kết.
Chiến lược quảng cáo trên mạng: Thông qua website trực tiếp là một hình thức phổ biến. Một số website chính thức của các khách sạn có vốn đầu tư nước ngoài là:
Website của các khách sạn này đa phần không có tiếng Việt, thể hiện rõ đối tượng họ hướng tới là các thương nhân nước ngoài. Đối tượng khách hàng như vậy là còn hạn chế. Số người Việt thu nhập cao có nhu cầu hưởng thụ hiện nay tuy chưa nhiều song đã có, và việc không để phiên bản tiếng Việt trên trang web của một khách sạn tại Việt nam có vẻ như là một tồn tại cần sớm khắc phục.
Bên cạnh đó, trang web của các khách sạn này có khi lại nằm trong trang web của tập đoàn lớn mà nó trực thuộc, gồm hàng chục, thậm chí hàng trăm các khách sạn con nên việc tìm kiếm thông tin còn chưa thuận tiện.
Các khách sạn còn có tổ chức các bữa tiệc nhẹ cho khách đang ở vào tối cuối tuần để có cơ hội gặp khách, giao lưu và chào hỏi họ. (Khách sạn Hilton Hà Nội tổ chức tiệc buffet vào cuối tuần để tiếp đón các khách đang cư trú tại khách sạn trong thời điểm cuối tuần, từ tháng 8/2007 – tháng 10/2007). Khóa luận: Thực trạng marketing ở khách sạn có VĐT Nước Ngoài.
Một số khách sạn còn có các chương trình tích điểm, tặng thẻ VIP (thẻ vàng, bạc, kim cương) cho các khách trung thành để được hưởng các ưu đãi của mình. (Khách sạn Sofitel Metropole có chương trình tặng thẻ cho khách hàng trung thành, khi đạt được hạng bạc sẽ được hưởng ưu đãi thêm đồ ăn sáng và một số dịch vụ khác, hạng vàng sẽ được thăng hạng phòng, hạng kim cương sẽ được nhiều ưu đãi nhất)
Nói chung các chính sách xúc tiến và quảng cáo của hệ thống các khách sạn có vốn đầu tư nước ngoài rất phong phú và đan xen bổ trợ lẫn nhau vào từng thời điểm cụ thể (Do đặc trưng mùa vụ của sản phẩm kinh doanh khách sạn). Để có được các chương trình quảng cáo hiệu quả nhất thì không thể không nói tới sự hỗ trợ của cả các yếu tố P khác trong chiến lược marketing mix của họ.
2.3.5 Yếu tố con người (People)
Nhìn chung các khách sạn có vốn đầu tư nước ngoài xem xét việc tuyển chọn đội ngũ lao động một cách khá nghiêm túc, lựa chọn được người có trình độ. Song đa số các cán bộ quản lý lại chưa được đạo tạo đúng chuyên ngành do tình trạng chung của việc đào tạo nhân sự của nước ta. Các khách sạn này cũng tích cực tuyển dụng các nguồn nhân sự đi học về chuyên ngành khách sạn từ các nước phát triển như Thụy Sĩ, Thụy Điển, Pháp… bằng việc đưa ra các chế độ lương bổng hợp lí, thường xuyên quan tâm đào tạo đội ngũ cán bộ nâng cao trình độ, có tay nghề vững vàng, thông thạo ngoại ngữ, hàng năm có tổ chức bồi dưỡng nâng cao tay nghề, thi nâng bậc, tham quan các doanh nghiệp khác, mời các chuyên gia trong và ngoài nước đến giảng dạy và coi việc bồi dưỡng là điều kiện bắt buộc đối với mọi nhân viên trong khách sạn. Các khách sạn này đều có được chất lượng phục vụ cao làm thỏa mãn tốt nhu cầu của khách, kết quả kinh doanh cao.
Chiến dịch “chương trình ẩm thực Món ngon 3 miền” do khách sạn Đồng Khánh (vốn đầu tư: Trung Quốc) giới thiệu tới khách hàng nhân ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam 30/4 và Quốc tế Lao động 1/5, trong 3 ngày, từ ngày 30/4/2009 đến ngày 2/5/2009 do đầu bếp trưởng tài hoa Phan Quốc Thịnh trổ tài là minh chứng cho việc yếu tố con người quyết định sự thành công của hoạt động khách sạn. Đầu bếp Thịnh muốn giới thiệu đến khách hàng một bộ “sưu tập” ẩm thực khá đầy đủ về đặc sản 3 miền mà anh cùng các cộng sự đã bôn ba khắp các miền đất nước để dày công nghiên cứu, tìm tòi và học hỏi cách chế biến. Thực đơn thiết kế gồm hơn 40 món chọn lọc, được xem như tinh hoa của ẩm thực 3 miền. Tuy nhiên, bếp trưởng Thịnh cũng chỉ “trung thành” với các thành phần cấu tạo nên món ăn, còn khẩu vị thì được gia giảm cho phù hợp với “gu” chung của miền Nam, chứ không giữ đúng 100% nguyên bản từng vùng, miền để đảm bảo phù hợp với khách mà không mất đi sự độc đáo của ẩm thực từng vùng. Khóa luận: Thực trạng marketing ở khách sạn có VĐT Nước Ngoài.
Đến Đồng Khánh dịp lễ này, nếu khách là dân xứ Bắc sẽ dễ dàng tìm thấy hương vị thân quen qua những món như nộm hoa chuối, bánh tôm Hồ Tây, giò heo giả cầy, miến xào cua bể, bún bóng cá, xúp lươn dầu chao quẩy, canh nghêu thì là, chả cá Lã Vọng… Những người ở khúc ruột miền Trung như được trở về chốn quê qua các món vịt nước nấu hon, bánh bột lọc, bánh khọt, bánh nậm, nem nướng Ninh Hòa, cao lầu, bún bò Huế… Dân Nam Bộ chắc chắn sẽ không bỏ qua món sườn non hầm cải Xá bấu, cháo cá rau đắng, cá lóc nướng trui, cà ri cá đuối… Nếu khách là dân ghiền hải sản cũng tìm được “thế giới riêng” của mình qua nhiều món sò huyết xào tỏi, nghêu hấp xả, mực chiên giòn, chả cá hải sản, ốc bươu nhồi thịt, ốc mỡ cháy tỏi, ốc đinh xào dừa… Thực đơn được thay đổi liên tục trong 3 ngày. Giá vé 179.000 đồng/người lớn; trẻ em 149.000 đồng. Khách mua 10 vé được tặng 1 vé, miễn phí nước ngọt.28 Theo tính toán, lượng khách tới khách sạn trong dịp này tăng vọt lên trên 40%, trong số này thì quá nửa là khách lưu trú tại khách sạn Đồng Khánh ghé thăm do chương trình quá hấp dẫn. Sau một tuần thực hiện, doanh thu khách sạn tăng gấp 3 lần so với cùng thời kì này năm ngoái..
Không chỉ thưởng thức các món ngon, khách còn được thư giãn trong không gian tầng 4 rộng rãi, đẹp mắt, để thỏa thích ngắm cảnh tấp nập ngựa xe tại khu vực quận 5 đặc trưng của người Hoa trong không khí lễ hội. Vây quanh lấy khách là thế giới tranh ảnh sống động của đất nước con người Việt Nam, những phong cảnh đẹp như vịnh Hạ Long, động Phong Nha, chợ Bến Thành, cung đình Huế… Dịp này nhà hàng M’Cat ở tầng trệt của khách sạn cũng có chương trình giảm giá trực tiếp 10% trên hóa đơn thanh toán trong 2 ngày 30/4 và 1/5.
Các nhân viên trong khách sạn có vốn đầu tư nước ngoài còn luôn được hưởng một số ưu đãi nhất định khi có nhu cầu sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp mình như mua bánh giảm giá, nhận được thẻ thành viên cho các câu lạc bộ caphe, bar, vũ trường…
Họ cũng có những chế độ ưu đãi rất hấp dẫn cho nhân viên bằng các chuyến đi du lịch vào ngày nghỉ, lễ tết, các cuộc đi chơi dã ngoại… để tạo cho nhân viên của mình cảm giác được quan tâm đúng mực và họ có thể lấy đó làm động lực để cố gắng làm việc tốt hơn.
2.3.6 Mối quan hệ với các đối tác khác, bao gồm khách hàng là một đối tác đặc biệt (Partner) Khóa luận: Thực trạng marketing ở khách sạn có VĐT Nước Ngoài.
Do đặc điểm của sản phẩm khách sạn và sản phẩm du lịch nên quan hệ đối tác với các doanh nghiệp khác là yếu tố rất quan trọng trong thành phần marketing mix của doanh nghiệp khách sạn. Đối với các khách sạn nằm trong các công ty du lịch có kinh doanh lữ hành và các dịch vụ khác việc mở rộng quan hệ đối tác luôn là cần thiết, song không quan trọng bằng các khách sạn độc lập. Nhất là các khách sạn liên doanh nước ngoài tới Việt nam thì việc kết hợp với không chỉ các công ty du lịch lữ hành quốc tế mà cả các công ty du lịch lữ hành nội địa là vô cùng quan trọng.
Với các công ty lữ hành hay các tổ chức gửi khách thì mối quan hệ có thể diễn ra hai chiều: tức là giữa hai bên có thể có các hợp đồng làm ăn, họ gửi khách cho khách sạn và ngược lại khách sạn sẽ chi trả cho các công ty đó một khoản hoa hồng tương xứng.
Chương trình trọn gói với chủ đề “Quảng Nam – Hội An yêu thương” dành cho du khách trong nước trong 3 ngày 2 đêm nhân dịp kỷ niệm 34 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước (30/4), đến hết ngày 5/5 do khách sạn Hội An thực hiện là kết quả của việc khách sạn Hội An kết hợp với các công ty khác, ngoài các công ty du lịch, lữ hành.
Chương trình sẽ khuyến mãi bữa ăn sáng tự chọn, một bữa ăn trưa hoặc một bữa ăn tối tại nhà hàng khách sạn 4 sao; tour tham quan phố cổ Hội An, nghe kể về nghề thêu của người con gái xứ Quảng, xem biểu diễn trà đạo và thưởng thức trà, cà phê. Khách sạn giảm 10% giá sử dụng dịch vụ Zenspa, 20% giá sử dụng dịch vụ giặt ủi, 10% khi mua các sản phẩm của Công ty thêu XQ Hội An; sử dụng phòng tập thể dục, hồ bơi, wifi internet, hoa và trái cây tại phòng mỗi ngày, xe đưa đón tại sân bay hoặc nhà ga, quà lưu niệm của khách sạn và Công ty thêu XQ. Ngoài ra, khách đến lưu trú tại khách sạn sẽ được giảm 50%, khách nước ngoài giảm 30% giá công bố và miễn phí một chuyến xe đón tại sân bay hoặc ga Đà Nẵng.
Nhưng với các đối tác là chính những khách du lịch đến với khách sạn thì việc tạo lập mối quan hệ với họ không phải điều đơn giản. Bởi họ là người tiêu dùng trực tiếp sản phẩm, dịch vụ của khách sạn, việc họ hiểu rõ nhất chất lượng sản phẩm, phong cách phục vụ, thái độ nhân viên là điều dễ hiểu. Để khách chấp nhận khách sạn và tự nhiên trở thành đối tác của họ thì khách sạn phải đáp ứng được nhu cầu của khách, làm cho họ hài lòng về dịch vụ, sản phẩm của mình. Đây có thể nói là chiến lược thông minh nhất, ít tốn kém nhất và cũng khó nhất cho bất kì một khách sạn nào. Khóa luận: Thực trạng marketing ở khách sạn có VĐT Nước Ngoài.
Một số chính sách duy trì mối quan hệ với các đối tác được các khách sạn có vốn đầu tư nước ngoài áp dụng là: Tổ chức hội nghị khách hàng theo định kì hoặc đột xuất; tổ chức các trung gian phân phối; tổ chức hội nghị các nhà sản xuất kinh doanh; tổ chức thăm hỏi khách hàng; tổ chức họp báo hay các hoạt động văn hóa thể thao khác.
Một trong những vấn đề quan trọng mà nhà kinh doanh nào cũng phải quan tâm, đó là việc xác định được thị phần, cụ thể là xác định khách hàng mà mình có khả năng cung ứng. Trong kinh doanh khách sạn cũng vậy, dựa trên việc phân khúc thị trường để xây dựng và cung ứng dịch vụ đón tiếp cho từng thị trường chuyên biệt là công việc không có gì mới nhưng hiện nay, một trong những xu hướng chiếm lĩnh thị trường của các tập đoàn khách sạn là sử dụng hình thức marketing theo bậc thang (Tier Marketing). Các tập đoàn khách sạn xây dựng nhiều khách sạn phục vụ đối tượng khách khác nhau: khách du lịch, khách thương gia, khách đến dự hội thảo, v.v… Điển hình là trường hợp của chuỗi khách sạn Marriott. Hệ thống Marriott cung cấp các sản phẩm sau đây:
- Fairfield Inns: Loại dịch vụ bình dân
- Courtyard by Marriott: Chỗ ăn ở khiêm tốn
- Marriott suites: Chỗ ở nhắm vào khách là thương nhân, họ đòi hỏi sang trọng hơn các phòng ở trọ
- Resident Inns: Chỉ có phòng suite, được thiết kế nhằm kéo dài thời gian khách lưu trú
- Marriott Hotels and Resorts: Có đủ dịch vụ sang trọng nhắm tới những du khách thượng lưu và khách hội nghị
Trong đó, sản phẩm của Fairfield Inns (dành cho khách “bình dân” thì gần như mới và được xây dựng nhằm giới thiệu với họ về tổ chức Marriott. Mục tiêu chính của Fairfield Inns là mở rộng khách hàng, tạo uy tín về nhãn hiệu và điều quan trọng là tạo cơ hội cho những du khách có thu nhập thấp có thể tiếp cận với sản phẩm của Marriott. Sau này, khi có thu nhập cao hơn, họ có thể chọn những khách sạn cao cấp hơn của Tập đoàn Marriott. Hiện nay ở Việt Nam, tập đoàn Marriott mới triển khai loại hình “Marriot Suites” tại khách sạn Renaissance Riverside ở thành phố Hồ Chí Minh. Hứa hẹn trong tương lai, tập đoàn sẽ đầu tư thêm các loại hình bậc thang khác, mà có thể là bình dân hơn so với túi tiền người dân Việt Nam như Fairfield Inns.
Cách làm này đảm bảo sự phát triển ổn định trong điều kiện kinh doanh có biến động, giúp các khách sạn có lợi thế trong cạnh tranh và mở rộng thương hiệu của mình, giúp các tập đoàn khách sạn gia tăng thị phần gắn với sở thích và chi tiêu của du khách. Dựa vào việc nghiên cứu tâm lý du khách, người ta còn thừa nhận thêm một trong những lợi thế của marketing theo bậc thang, đó là việc gia tăng lòng trung thành của du khách. Bởi nếu một khách hàng đã quen sử dụng một sản phẩm của thương hiệu nào đó mà họ thích thì họ rất khó bỏ nó. Khóa luận: Thực trạng marketing ở khách sạn có VĐT Nước Ngoài.
Tập đoàn khách sạn nổi tiếng Accor (Pháp) cũng đã đa dạng mô hình kinh doanh theo hệ thống. Bên cạnh hệ thống khách sạn Novotel (3 – 4 sao) nhằm phục vụ khách khá giả và hệ thống khách sạn Sofitel phục vụ khách VIP như các thương nhân giàu có, chính khách… thì Accor còn có hệ thống khách sạn Formule 1, Etap, Red Roof Inns, Ibis (hạng 1- 2 sao) với giá 20 -30 euro/ngày đêm nhằm phục vụ khách bình dân. Ở Việt Nam, tập đoàn Accor cũng mới chỉ triển khai hệ thống Sofitel, ở Việt Nam được xếp hạng 5 sao, song theo như nhiều khách du lịch đã từng lưu trú tại những khách sạn 5 sao của Accor trên thế giới, họ đánh giá Sofitel Plaza chỉ xếp hạng 3 đến 3 sao rưỡi, còn Sofitel Metropole mới có thể xếp hạng 4 sao đến 4 sao rưỡi.
Nhìn chung, khuynh hướng marketing theo bậc thang đã khá phổ biến trong kinh doanh khách sạn. Việc tìm hiểu, nghiên cứu xu hướng này là việc làm rất cần thiết đối với các khách sạn Việt Nam trong xu thế hội nhập và quốc tế hóa ngày nay. Hy vọng, trong tương lai gần, các doanh nghiệp khách sạn Việt Nam lớn mạnh, trở thành các tập đoàn lớn, có đủ tiềm lực để cạnh tranh với các tập đoàn khách sạn trong khu vực và thế giới.
Tùy theo quy mô và chí phí, cũng như tùy theo các đối tác mà khách sạn lựa chọn hình thức phù hợp nhất với họ. Nhưng chắc chắn tất cả các khách sạn có vốn đầu tư nước ngoài kia đủ thông minh để hiểu rằng chiến lược kinh doanh lâu dài và bền vững hơn cả là chiến lược hoàn thiện chất lượng sản phẩm, dịch vụ và nâng cao phong cách phục vụ cho khách sạn mình.
2.3.7 Tạo sản phẩm trọn gói và quy trình phục vụ (Package and Process)
Đặc biệt với các khách sạn liên doanh có cung cấp thêm dịch vụ phụ, việc kí hợp đồng với các đại lí du lịch lớn trong nước cũng giúp bán được các sản phẩm trọn gói với số lượng khách lớn, đều đặn, ổn định trong suốt năm. Như khách sạn Hilton kí hợp đồng với Exotisimo, Travel Indochina,… và liên kết với một số hãng hàng không lớn như Jet Star, Vietnam Airlines… để cung cấp vé cho các khách hàng có nhu cầu. Khóa luận: Thực trạng marketing ở khách sạn có VĐT Nước Ngoài.
Các khách sạn liên doanh nhờ ưu thế kiến trúc đẹp, phòng ốc trang hoàng sạch sẽ, đẹp đẽ cũng có các dịch vụ đặt tiệc cưới trọn gói bao gồm từ phòng tiệc, đồ ăn, bánh cưới, phòng tân hôn hay thậm chí tổ chức cả tuần trăng mật cho vợ chồng mới cưới nhờ vào việc liên kết với các hãng du lịch lớn. Đối với hoạt động du lịch, các khách sạn có vốn đầu tư nước ngoài cũng tổ chức các tour trọn gói theo yêu cầu của khách, bao gồm: Vé máy bay, xe vận chuyển, đặt khách sạn ở điểm đến, thuê hướng dẫn viên du lịch, đặt các dịch vụ ăn uống và vui chơi giải trí.
2.4 Nguyên nhân thành công trong bài học marketing của các khách sạn có vốn đầu tư nước ngoài
2.4.1 Điều kiện chủ quan
- Vốn
Đây là yếu tố không thể thiếu của mọi quá trình kinh doanh, đặc biệt với kinh doanh du lịch là ngành kinh doanh mang tính thời vụ cao, có khi để phục vụ cho một mùa du lịch (thường từ 4 – 5 tháng) doanh nghiệp phải tập trung toàn bộ vốn kinh doanh của mình để đưa vào hoạt động. Các khách sạn có vốn đầu tư nước ngoài làm rất tốt yếu tố này, họ có vốn lớn, luôn đáp ứng phục vụ được số lượng khách rất nhiều, đủ để trang trải các chi phí cần thiết và ngược lại
- Nhân lực
Đối với tất cả các hoạt động kinh tế thì con người đều đóng vai trò quyết định. Ngành khách sạn có tính chất đặc thù là bán các sản phẩm “dịch vụ” nên yếu tố con người (các nhân viên phục vụ) có vài trò quan trọng trực tiếp đem sản phẩm của khách sạn phục vụ tới các khách hàng (Khách lưu trú). Khóa luận: Thực trạng marketing ở khách sạn có VĐT Nước Ngoài.
Nhân sự đối với ngành khách sạn vừa là sức lao động vừa là hình ảnh quảng cáo trực tiếp cho khách sạn. Và nhân sự trong các khách sạn có vốn đầu tư nước ngoài không những khá giỏi về chuyên môn mà còn hiểu biết văn hóa xã hội. Nguồn nhân sự quý báu này còn biết cách sắp xếp tổ chức công việc một cách hợp lí, khoa học và luôn được quản lý một cách chắc chắn.
Bên cạnh đó, hiệu quả kinh doanh cũng xuất phát chủ yếu từ tài năng của người lãnh đạo, nếu người lãnh đạo giỏi thì hiệu quả kinh doanh sẽ cao còn không thì chắc chắn doanh nghiệp khó đạt được kết quả như mong muốn. Với các khách sạn có vốn đầu tư nước ngoài, người lãnh đạo chủ yếu là người nước ngoài với phong cách làm việc chuyên nghiệp, kiến thức chuyên môn vững chắc nên việc họ mang tới kết quả kinh doanh khá là điều dễ hiểu.
- Khoa học công nghệ
Các thiết bị khoa học cũng đóng một vai trò quan trọng tạo nên hiệu quả của công việc kinh doanh. Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, thông tin sẽ đưa khách hàng tiếp cận một cách nhanh nhất với công ty, khách hàng có điều kiện tìm hiểu về công ty, về thị trường du lịch của công ty cũng như các loại hình dịch vụ mà công ty đang phục vụ để từ đó quyết định. Về phần mình, doanh nghiệp có thể nắm bắt hơn nữa thông tin về thị trường để từ đó có những điều chỉnh phương hướng kinh doanh kịp thời cho phù hợp.
- Kinh nghiệm kinh doanh
Đây là nhân tố có ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, có thể là kinh nghiệm kinh doanh, mối quan hệ với các bạn hàng hay các nhà quản lý khác. Đây là cơ sở cho sự phát triển lâu dài và bền vững của doanh nghiệp, cơ hội cho sự cạnh tranh trên thương trường. Mức độ đem lại hiệu quả kinh doanh đến đâu phụ thuộc rất nhiều vào nhân tố này bởi kinh doanh khách sạn cần có mối quan hệ rộng rãi và chặt chẽ với không chỉ các hãng du lịch trực tiếp đem rót khách vào lưu trú mà cần quan hệ chặt chẽ với cả các doanh nghiệp trong và ngoài nước.
Kinh nghiệm kinh doanh còn mang lại những quyết định đúng đắn luôn đem lại lợi ích cho khách hàng và từ đó nâng cao được chất lượng kinh doanh cũng như hiệu quả kinh doanh có được lợi nhuận cho khách sạn.
2.4.2 Điều kiện khách quan Khóa luận: Thực trạng marketing ở khách sạn có VĐT Nước Ngoài.
- Ảnh hưởng của môi trường luật pháp:
Một quốc gia có hệ thống luật pháp chưa hoàn chỉnh, luôn thay đổi thì đối với bất cứ nhà kinh doanh nào, việc đem lại hiệu quả kinh doanh cao cũng là một điều khó khăn. Đối với ngành du lịch nói chung và kinh doanh khách sạn nói riêng, luật về du lịch không có hay không hoàn thiện sẽ tạo ra một sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp. Là một bộ phận trong ngành Du Lịch, kinh doanh khách sạn chịu ảnh hưởng lớn khi hoạt động trong một môi trường luật pháp chưa hoàn thiện. Đây chính là bất lợi của các khách sạn Việt nam khi các pháp luật cũng như nghị định của chính phủ nước ta để phát triển du lịch nước nhà vẫn chưa chặt chẽ. Trong khi đó, các khách sạn có vốn đầu tư nước ngoài xuất phát từ các nước phát triển hơn chúng ta rất nhiều (Pháp, Mỹ, Singapore, Hongkong…), họ được phát triển trong môi trường luật pháp hoàn thiện của nước họ nên việc có những kết quả kinh doanh tốt không phải điều ngạc nhiên. Đến khi họ sang đầu tư tại Việt Nam thì chính phủ nước ta cũng luôn có sự ưu tiên cho các nhà đầu tư nước ngoài nên cũng có những chính sách khá thoáng cho họ.
Chính phủ đã ban hành nghị định 27 sửa đổi, bổ sung một số quy định liên quan đến đầu tư nước ngoài vào tháng 3/2003. Theo đó, việc góp vốn bằng giá trị công nghệ chuyển giao không còn bị khống chế ở mức không quá 20% tổng vốn pháp định như trước, mà do các bên tự thỏa thuận. Ngoài ra, các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đã thành lập tại Việt Nam được hợp tác với nhau hoặc với nhà đầu tư nước ngoài để thành lập doanh nghiệp mới tại Việt Nam. Các doanh nghiệp được trực tiếp tuyển dụng lao động tại Việt Nam và nước ngoài theo quy định của pháp luật. Thẩm quyền cho thuê đất cũng đã được phân cấp mạnh cho UBND các tỉnh thành đối với tất cả các dự án có vốn đầu tư nước ngoài (trước đây quy định Thủ tướng quyết định cho thuê đất đối với dự án sử dụng đất đô thị từ 5 ha trở lên và các loại đất khác từ 50 ha trở lên). Những điều kiện này giúp các khách sạn có độc lập trong việc tuyển dụng nguồn nhân sự có chất lượng, các giấy tờ, thủ tục làm hồ sơ thuê mua đất của Nhà nước cũng được dễ dàng nhanh chóng và thuận tiện hơn. Tuy nhiên không vì thế mà Nhà nước ta lơ là bỏ ngỏ để mặc các khách sạn nước ngoài hoạt động. Gần đây, dự án xây dựng khách sạn thứ 2 của Intercontinental ở Hà Nội tại khuôn viên công viên Lê Nin – Thống Nhất đã bị đình chỉ và có yêu cầu tạm dừng do có nhiều phản hồi, ý kiến của nhân dân.
- Ảnh hưởng của môi trường chính trị: Khóa luận: Thực trạng marketing ở khách sạn có VĐT Nước Ngoài.
Điều này thì các khách sạn có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt nam được hưởng lợi rất nhiều từ môi trường chính trị vốn rất ổn định của nước ta. Sự ổn định về chính trị thể hiện ở thể chế, quan điểm chính trị được đa số nhân dân đồng tình; Đảng cầm quyền có đủ uy tín lãnh đạo, có xảy ra nội chiến hay đảo chính không, v.v…
- Ảnh hưởng của môi trường văn hóa xã hội
Đặc trưng của văn hóa du lịch là phong cách kiến trúc, tập quán, lối sống tôn giáo và ngôn ngữ. Khách du lịch văn hóa nhằm mở rộng kiến thức, học hỏi các nét văn hóa, ngôn ngữ của dân tộc đó. Nếu một quốc gia có nền văn hóa độc đáo, có bản sắc riêng kèm theo môi trường tự nhiên phong phú và đa dạng sẽ rất thu hút khách. Việt Nam chính là một quốc gia như thế với hơn 54 dân tộc anh em, mỗi dân tộc lại có ngôn ngữ, phong tục tập quán độc đáo của riêng mình.
- Ảnh hưởng của cạnh tranh
Nếu như trong các điều kiện chủ quan ở trên, các khách sạn không có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam cũng có thể tận dụng và phát huy một số yếu tố như: Yếu tố môi trường chính trị ổn định, sự đa dạng về văn hóa… thì yếu tố “cạnh tranh” lại là điểm yếu của các khách sạn này so với các khách sạn có vốn đầu tư nước ngoài.
Trước đây trong nền kinh tế tập trung hầu như không có khái niệm cạnh tranh trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Các doanh nghiệp hoạt động và sản xuất theo kế hoạch của Nhà nước. Sản phẩm làm ra không cần lo làm sao có thể tiêu thụ vì đã có Nhà nước phân phối. Rõ ràng mô hình này không những không thúc đẩy được sự phát triển của kinh tế mà còn làm tụt hậu đi một cách tương đối so với các nền kinh tế khác trên thế giới. Trong khi các khách sạn có vốn đầu tư nước ngoài đã quen thuộc với sự cạnh tranh khốc liệt trên thị trường, họ luôn có những chính sách sẵn sàng để đối phó với nó thì các khách sạn Việt nam lại luôn tỏ ra lúng túng.
Trên đây là một số điều kiện đã quyết định sự thành công của các khách sạn có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Việc nghiên cứu sâu hơn các điều kiện này sẽ giúp các nhà quản trị khách sạn Việt Nam học hỏi, rút ra bài học kinh nghiệm, tránh được các rủi ro trong kinh doanh, luôn có quyết định đúng trong việc hoạch định chiến lược kinh doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh, thu được lợi nhuận cho mình. Khóa luận: Thực trạng marketing ở khách sạn có VĐT Nước Ngoài.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Bài học kinh nghiệm cho các Khách Sạn Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

