Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Phân tích chiến lược truyền thông marketing tại công ty hay nhất năm 2022 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Phân tích chiến lược truyền thông marketing tại công ty dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Tổng quan về ngành công nghệ môi trường tại Việt Nam
2.1.1. Tổng quan thị trường
Theo Phạm Ngọc Thiện (2014), Công nghiệp môi trường (Environmental Industries) là một thực thể kinh tế có từ rất sớm tại nhiều nước. Đây là ngành công nghiệp tạo ra các giá trị gia tăng từ chính việc giải quyết các vấn đề môi trường, đã và đang có những đóng góp thiết thực và hiệu quả cho phát triển theo hướng bền vững, chiếm vị thế quan trọng trong cơ cấu công nghiệp.
Hoa Kỳ: CNMT bao gồm toàn bộ các hoạt động tạo ra giá trị liên quan tới thực hiện các quy định môi trường; đánh giá phân tích và bảo vệ môi trường; kiểm soát ô nhiễm không khí, quản lý chất thải, làm giảm ô nhiễm; cung cấp và phân phối tài nguyên môi trường: nước, nguyên liệu tái tạo, năng lượng sạch và công nghệ và các hoạt động góp vào việc tăng hiệu quả sử dụng năng lượng và nguyên liệu, sản phẩm chất lượng cao và phân phối tài nguyên môi trường: nước, nguyên liệu tái tạo, năng lượng sạch và công nghệ và các hoạt động đóng góp vào việc tăng hiệu quả sử dụng năng lượng và nguyên liệu, sản phẩm chất lượng cao và phát triển kinh tế bền vững. (Phạm Ngọc Thiện, 2014) Khóa luận: Phân tích chiến lược truyền thông marketing tại công ty.
Kinh tế – xã hội ngày càng phát triển đặt ra những yêu cầu về môi trường ngày càng lớn, liên tục và không ngừng tạo ra các nhu cầu mới kích thích phát triển. CNMT thế giới chính vì thế những năm gần đây phát triển bùng nổ với nhiều năng lực và sản phẩm mới, không chỉ đáp ứng nhu cầu nội tại của mỗi quốc gia mà còn tạo đóng góp tăng trưởng trao đổi xuất nhập khẩu toàn cầu. Thị trường ngành CNMT thế giới ngày càng phát triển và lớn mạnh. Năm 1992, thị trường ngành CNMT ước khoảng 300 tỷ USD, năm 1996 đạt 453 tỷ USD, năm 2004 tăng lên 628,5 tỷ USD và dự báo đến năm 2010 quy mô thị trường ngành CNMT thế giới đạt khoảng 688 tỷ USD. Các nước công nghiệp hàng đầu như Hoa Kỳ, Nhật Bản và một số nước Tây Âu chiếm hầu hết thị phần ngành CNMT thế giới (chiếm tới 85%), trong đó Hoa Kỳ là quốc gia đứng đầu thế giới, chiếm 38% thị phần của toàn thế giới. (Vietbao.vn, 2010)
Tổng cục Môi trường Bộ Tài nguyên và Môi trường có bài tham luận giới thiệu về “Hợp tác quốc tế để phát triển công nghiệp môi trường ở Việt Nam” (2015) tại Hội thảo Triển lãm Quốc gia về Sản phẩm Công nghiệp Môi trường trong ngành Công Thương. Trong đó, Tổng cục Môi trường nhận xét: “Ở Việt Nam, khái niệm ngành CNMT vẫn còn rất mới, doanh nghiệp môi trường được biết đến chỉ với ý nghĩa đơn giản là các công ty môi trường đô thị, một số doanh nghiệp tư vấn, cung cấp các dịch vụ bảo vệ môi trường quy mô nhỏ, cần phải “nhanh chóng xây dựng ngành công nghiệp môi trường” phù hợp với điều kiện của một nước đang phát triển và có nhiều hạn chế về nguồn lực tài chính như nước ta”.
Những năm gần đây, bức tranh về doanh nghiệp môi trường cũng có những thay đổi quan trọng với sự tham gia của nhiều doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần, trong nước, ngoài nước, tư nhân và nhiều hình thức liên kết với quy mô ngày càng lớn. CNMT ngày nay không mang tính công ích thuần tuý mà ngày càng thể hiện rõ tính kinh tế trong các hoạt động của nó, đặc biệt khi chuyển từ cách tiếp cận “xử lý cuối đường ống”, xử lý chất thải sang cách tiếp cận ngăn ngừa ô nhiễm tại nguồn, đồng thời coi chất thải như tài nguyên để tái sử dụng tạo ra các giá trị mới. Khóa luận: Phân tích chiến lược truyền thông marketing tại công ty.
Công nghiệp môi trường của Việt Nam bao hàm các hoạt động và doanh nghiệp đặc thù, chuyên sản xuất hàng hóa và cung ứng dịch vụ đáp ứng nhu cầu bảo vệ và phòng ngừa các tác động xấu tới môi trường. Điều nay đang tạo động lực để phát triển và mở rộng các lĩnh vực mới và gia tăng số lượng các doanh nghiệp môi trường. Kinh doanh môi trường ngày càng được xem là ngành “siêu lợi nhuận” vì những lợi ích kép mà nó mang lại.
Bảng 2. 1: Tình hình ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý nước thải giai đoạn 2015 – 2018
Nhìn chung, tình hình phát triển lĩnh vực cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải tăng đều qua các năm. Tỷ lệ tăng trưởng mỗi năm đạt từ 7 – 8% so với năm trước đó. Trong đó, lĩnh vực thoát nước và xử lý nước thải có tỷ lệ tăng trưởng vượt bậc từ 2017 – 2018. Sau 4 năm tính từ 2015 – 2018, tỷ lệ tăng trưởng trong lĩnh vực thoát nước và xử lý nước thải tăng từ xấp xỉ 2% mỗi năm lên mức 10%/năm. Đây là dấu hiệu cho thấy các doanh nghiệp đã bắt đầu có các động thái quan tâm đến vấn đề môi trường.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
===>>> Bảng Giá Viết Thuê Khóa Luận Ngành Quản Trị Kinh Doanh
2.1.2. Tình hình cung ứng trên thị trường
- Sản xuất thiết bị CNMT
Đến nay, lĩnh vực sản xuất thiết bị CNMT bước đầu đã hình thành doanh nghiệp với một số sản phẩm chủ lực như: Lò đốt chất thải rắn thông thường, công nghiệp, y tế và chất thải nguy hại; Hệ thống lọc bụi; Dây chuyền phân loại rác và thiết bị vận chuyển rác chuyên dụng (thiết bị xe ép rác, hút bụi, tàu hút dầu tràn…). Tuy nhiên, năng lực canh tranh của các doanh nghiệp sản xuất máy móc thiết bị trong nước còn yếu so với máy móc, thiết bị nhập khẩu từ nước ngoài. Có khoảng 10 doanh nghiệp chuyên sản xuất chế tạo thiết bị CNMT như hệ thống lọc khí, bụi, lò đốt chất thải nguy hại và thông thường, các thiết bị công nghệ phân loại rác, sản xuất phân compost, viên nhiên liệu. Khóa luận: Phân tích chiến lược truyền thông marketing tại công ty.
- Sử dụng bền v ng tài nguyên và phục hồi môi trường
Sử dụng bền vững tài nguyên và phục hồi môi trường chủ yếu liên quan đến tính chất khan hiếm của nguồn tài nguyên thiên nhiên. Vì vậy, nòng cốt của lĩnh vực này là phát triển công nghiệp tái chế. Công nghiệp tái chế là lĩnh vực có sự giao thoa, chồng lấn với lĩnh vực dịch vụ CNMT có gắn với xử lý chất thải thông thường, xử lý chất thải nguy hại và lĩnh vực công nghiệp sản xuất có gắn với nguồn phế liệu tái chế là nguyên liệu như công nghiệp sản xuất giấy, nhựa và thép.
Tham luận tại Hội nghị với nội dung “Thực trạng phát triển các doanh nghiệp CNMT”, ông Nguyễn Đình Hiệp (2016), Phó Chủ tịch Hiệp hội CNMT Việt Nam cho biết: “Các doanh nghiệp môi trường nói chung và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ môi trường nói riêng phần lớn được xếp vào doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí siêu nhỏ, ít doanh nghiệp lớn. Theo số liệu điều tra, khảo sát tại 493 doanh nghiệp cho thấy, vốn đăng ký kinh doanh của các doanh nghiệp trung bình là 35.856.404.908/1 đơn vị”. Ông Nguyễn Đình Hiệp khẳng định: “CNMT Việt Nam mới ở giai đoạn đầu của sự phát triển, đóng góp trong tổng sản lượng công nghiệp cũng như GDP còn rất khiêm tốn, kể cả so với mức trung bình của thế giới lẫn so với chính các ngành công nghiệp Việt Nam”. Điều này dẫn tới hai kết luận: (1) ngành CNMT của Việt Nam còn quá nhỏ, đồng nghĩa với công tác bảo vệ môi trường được đáp ứng ở mức rất thấp so với nhu cầu; (2) nhu cầu phát triển CNMT là rất lớn, dư địa để phát triển còn nhiều. (Bộ Công Thương, 2016) Khóa luận: Phân tích chiến lược truyền thông marketing tại công ty.
Tiềm năng lớn nhưng ngành CNMT Việt Nam cũng đứng trước những thách thức không nhỏ, cụ thể: Đến nay, năng lực ngành CNMT mới đáp ứng được 2-3% nhu cầu xử lý nước thải đô thị, 15% nhu cầu xử lý chất thải rắn, khoảng 14% nhu cầu xử lý chất thải nguy hại; nhiều lĩnh vực như tái chế dầu thải, nhựa phế liệu, chất thải điện, điện tử chưa phát triển.
Kết quả thu hút vốn đầu tư vào phát triển ngành CNMT còn thấp, chưa tương xứng với yêu cầu của xã hội. Lĩnh vực dịch vụ môi trường vẫn chủ yếu dựa vào kinh phí cấp từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, nhất là lĩnh vực dịch vụ xử lý nước thải đô thị.
Giá dịch vụ môi trường ở mức thấp, ít hấp dẫn đối với nhà đầu tư. Đây là trở ngại lớn đối với sự phát triển của ngành CNMT.
Năng lực và sự liên kết giữa nghiên cứu và triển khai sản xuất hàng loạt các thiết bị môi trường còn hạn chế. Nhiều doanh nghiệp môi trường của nhà nước còn yếu về đầu tư vốn công nghệ. Trong một số lĩnh vực, các doanh nghiệp ngoài nước đóng vai trò chi phối; các doanh nghiệp tư nhân không có cơ hội để phát triển.
Số liệu thống kê chưa đầy đủ về ngành CNMT dẫn đến những tác động tiêu cực trong quá trình giám sát và hoạch định chính sách.
Phát triển CNMT chưa nhấn mạnh vào khía cạnh hiệu quả kinh tế đạt được cũng như chưa xem xét đến tính chất khan hiếm của nguồn tài nguyên thiên nhiên – động lực chính của sự phát triển ngành công nghiệp tái chế.
2.1.3. Cạnh tranh Khóa luận: Phân tích chiến lược truyền thông marketing tại công ty.
Như trong bài viết của Mạnh Nguyễn (2016), tại hội nghị trực tuyến toàn quốc về bảo vệ môi trường năm 2016, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường Trần Hồng Hà cho biết, cả nước hiện có 615 cụm công nghiệp nhưng chỉ khoảng 5% trong số đó có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Hơn 500.000 cơ sở sản xuất, trong đó có nhiều loại hình sản xuất ô nhiễm môi trường, công nghệ sản xuất lạc hậu; hơn 4.500 làng nghề; hơn 13.500 cơ sở y tế hằng ngày phát sinh hơn 47 tấn chất thải nguy hại và 125.000m3 nước thải. Đặc biệt, 787 đô thị thải ra khoảng 3.000.000m3 nước thải/ngày đêm nhưng hầu hết chưa được xử lý…
Với tình hình thị trường bức thiết như hiện nay, nhiều doanh nghiệp đã bắt đầu đầu tư vào lĩnh vực công nghệ môi trường. Đa số các doanh nghiệp này nhập hàng hóa từ các nước châu Âu, châu Mỹ để phân phối lại trong thị trường Việt Nam. Vì vậy giá của những mặt hàng này thường rất cao. Bên cạnh đó, một số doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư cho bộ phận R&D để nghiên cứu và phát triển các sản phẩm “Made in VietNam”. Những sản phẩm này có giá thành khá hợp lý, tuy nhiên phải đối mặt với một thách thức lớn là nhiều khách hàng còn nghi ngờ vào chất lượng của sản phẩm.
2.1.4. Khách hàng
Đa số doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp vừa và nhỏ (chiếm gần 98% tổng số doanh nghiệp trên cả nước) hiện chưa gắn hoạt động sản xuất, kinh doanh với bảo vệ môi trường. Chỉ tính riêng năm 2016, trên toàn quốc đã xảy ra hơn 50 vụ việc gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, gây bức xúc dư luận. (Bộ Tài nguyên Môi trường, 2016)
Theo Nguyên Hoài (2016) đã đề cập đến trong bài báo “Có thể kiện các doanh nghiệp gây ô nhiễm”, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường Hoàng Văn Thức cho biết có tới 50% doanh nghiệp mắc lỗi thủ tục hành chính về bảo vệ môi trường; gần 30% doanh nghiệp xả thải vượt quy chuẩn cho phép. Khóa luận: Phân tích chiến lược truyền thông marketing tại công ty.
Thực tế đã chỉ ra một số trở ngại chính đối với sự phát triển CNMT ở Việt Nam:
Một là: Nhận thức của doanh nghiệp về bảo vệ môi trường chưa cao, nhiều doanh nghiệp không tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường, do đó chưa tạo thành động lực quan trọng để công nghiệp, dịch vụ môi trường được phát triển. Hệ quả là, chưa có nhiều nhà đầu tư sản xuất thiết bị, công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường.
Hai là: Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường (BVMT) chưa đầy đủ, chưa đồng bộ; các chế tài xử phát chưa đủ mạnh mẽ bắt buộc mọi người dân, tổ chức phải tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường, làm cho thị trường về dịch vụ môi trường chưa phát triển tương xứng với yêu cầu về công tác bảo vệ môi trường và phát triển ngành CNMT.
Các cơ chế, chính sách khuyến khích chưa rõ ràng, chưa đủ hấp dẫn để thu hút đầu tư vào phát triển CNMT. Nhà nước chưa có định hướng cụ thể để phát triển lĩnh vực công nghiệp này.
Ba là: Uy tín của các nhà cung cấp công nghệ, thiết bị và dịch vụ trong nước chưa đủ thuyết phục. Đội ngũ các nhà khoa học và công nghệ môi trường còn yếu và thiếu, đặc biệt là chuyên gia có trình độ cao, nhiều kinh nghiệm.
2.2. Giới thiệu về công ty Cổ phần Khoa học Kỹ thuật Phượng Hải Khóa luận: Phân tích chiến lược truyền thông marketing tại công ty.
2.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty
Công ty Cổ Phần KH-KT Phượng Hải với hơn 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực cung cấp thiết bị phòng thí nghiệm, thiết bị khoa học kỹ thuật, nội thất phòng thí nghiệm. Ban giám đốc và toàn thể nhân viên công ty CP KHKT Phượng Hải nhận thức rất rõ chất lượng sản phẩm là điều kiện tiên quyết để công ty tồn tại và phát triển, được thể hiện qua slogan:
“a Pioneer of High quality!” (nhà tiên phong về chất lượng cao)
Thị trường đã rất quen thuộc với các dòng sản phẩm mang thương hiệu PH Scientific và dòng sản phẩm cao cấp BestLab. Tất cả các logo và mẫu mã sản phẩm đều được đăng ký bản quyền tại Cục Sở Hữu Trí Tuệ Việt Nam và đăng ký tiêu chuẩn quốc tế và tiêu chuẩn cơ sở theo đúng qui định.
Từ 2015, Phượng Hải tiếp tục kinh doanh thêm thiết bị quan trắc môi trường, đặc biệt là thiết bị quan trắc nước thải tự động. Đa số các thiết bị này đều được nhập khẩu từ các nước châu Âu, châu Mỹ và có giấy chứng nhận về chất lượng. Năm 2018, Phượng Hải mạnh dạn đầu tư trang thiết bị để tự nghiên cứu và phát triển thiết bị quan trắc môi trường với tên gọi SmartpH. Đây là sản phẩm quan trắc tự đầu đâu tiên do người Việt tự nghiên cứu và sản xuất.
2.2.2. Tầm nhìn và sứ mệnh Khóa luận: Phân tích chiến lược truyền thông marketing tại công ty.
Tầm nhìn của Phượng Hải là “Với tất cả các nỗ lực, Phượng Hải phải trở thành Doanh nghiệp tiên phong ứng dụng công nghệ cao để đem đến các sản phẩm chất lượng tốt nhất trong lĩnh vực phòng thí nghiệm và lĩnh vực đo lường tự động”.
Để thực hiện được mục tiêu cũng như tầm nhìn của mình, Phượng Hải đặt ra các sứ mệnh:
- Mang đến sự trải nghiệm vượt trội về phòng thí nghiệm thông minh và sản phẩm thiết bị đo lường tự động có độ chính xác cao.
- Tạo ra ngôi nhà thứ hai với đời sống sung túc, hạnh phúc và cơ hội phát triển cho toàn thể nhân viên.
- Nghiên cứu, thiết kế và sản xuất những sản phẩm nội thất phòng thí nghiệm và thiết bị đo lường đạt tiêu chuẩn chất lượng quốc tế, được kết tinh từ những “Giá trị Việt”.
- Ưu tiên phát triển các sản phẩm công nghệ cao hướng đến phục vụ cho cộng đồng.
- Xây dựng mối quan hệ kinh doanh bền vững cùng 04 đối tác: Khách hàng – Nhân viên – Nhà cung cấp – Nhà đầu tư
2.2.4. Các đặc điểm chủ yếu trong hoạt động kinh doanh của công ty
2.2.4.1. Lĩnh vực hoạt động
Lĩnh vực hoạt động chính của Phượng Hải chủ yếu tập trung vào 2 mảng chính: nội thất phòng thí nghiệm và thiết bị quan trắc môi trường. Trong đó có thể kể đến: Khóa luận: Phân tích chiến lược truyền thông marketing tại công ty.
Cung cấp thiết bị khoa học kỹ thuật
- Thiết bị nghiện cứu quan trắc, kiểm soát và xử lý ô nhiễm môi trường
- Thiết bị nghiên cứu, kiểm tra chất lượng sản phẩm cho các ngành nông nghiệp, thủy sản, dược phẩm, thực phẩm.
- Thiết bị cho ngành công nghệ sinh học
- Thiết bị y tế – thiết bị an toàn lao động
- Bàn ghế phòng thí nghiệm theo tiêu chuẩn GMP
Tư vấn và chuyển giao Công nghệ
- Tư vấn thiết kế xây dựng phòng thí nghiệm hoàn chỉnh
- Tư vấn chuyển giao công nghệ trong các ngành công nghiệp
- Xử lý môi trường
Sản xuất
- Bàn ghế phòng thí nghiệm chuyên dụng
- Tủ hút khí độc, tủ đựng hóa chất, tủ chống cháy nổ
- Tủ cấy vi sinh, tủ an toàn sinh học
2.2.4.2. Đối tác
Hiện tại, Phượng Hải vẫn chưa nghiên cứu được một sensor pH tối ưu, vì vậy Phượng Hải lựa chọn tập đoàn Sensorex đến từ Mỹ là đối tác cung cấp thiết bị đo pH và màn hình hiển thị. Sensorex được biết đến là đơn vị chuyên thiết kế và sản các điện cực pH, điện cực ORP ,cảm biến độ dẫn và TDS và các công nghệ đo lường điện hóa và quang học khác. Ngoài nhà máy và trụ sở chính tại Garden Grove, California, Hoa Kỳ, Sensorex hiện có nhà máy sản xuất tại Châu Âu và có đơn vị đại diện bán hàng và dịch vụ khách hàng tại Đức, Cộng hòa Séc và Ấn Độ.
Ngoài Sensorex, Phượng Hải còn hợp tác với Awa Instrument. Awa Instrument là một thương hiệu công nghệ đến từ Singapore. Liên quan đến phòng thí nghiệm và phân tích di động, liên quan đến các đầu dò và cảm biến hàng hóa, Awa tiếp tục thiết kế và sản xuất thiết bị trong các giải pháp môi trường trực. Awa có hàng ngàn nhà phân phối , đại lý, nhà cung cấp dịch vụ công nghệ và các bên liên quan tại nhiều nơi trên thế giới.
2.3. Phân tích môi trường marketing của doanh nghiệp Khóa luận: Phân tích chiến lược truyền thông marketing tại công ty.
2.3.1. Môi trường vĩ mô
2.3.1.1. Môi trường pháp luật chính trị
Theo quy định tại Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT (2015) của Bộ Tài nguyên và Môi trường về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường có quy định ngoài việc giám sát định kỳ, các chủ cơ sở phải lắp đặt trạm quan trắc tự động đối với nước thải và khí thải để giám sát tự động liên tục truyền dữ liệu về Sở Tài nguyên và Môi trường để kiểm soát và quản lý. Đối với các cơ sở sản xuất phát sinh nước thải có lưu lượng 1.000 m3/ngày đêm trở lên (không bao gồm nước làm mát thiết bị) phải lắp đặt trạm quan trắc nước thải và truyền dữ liệu trược tiếp về Sở. Đối với cơ sở sản xuất nằm trong Khu, cụm công nghiệp nếu được đấu nối nước thải đến Trạm xử lý nước thải tập trung của Khu, cụm công nghiệp thì không phải lắp đặt trạm quan trắc tự động.
Đối với các cơ sở sản xuất xi măng, nhà máy nhiệt điện, nhà máy sản xuất phôi thép công suất trên 200.000 tấn SP/năm, nhà máy sản xuất phân bón hóa học công suất trên 10.000 tấn SP/năm, nhà máy sản xuất dầu mỏ công suất 10.000 tấn SP/năm nhà máy sản xuất có lò hơi công nghiệp công suất 20 tấn hơi/giờ cũng bắt buộc phải lắp đặt hệ thống này.
Đến ngày 01/9/2017, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư số 24/2017/TT-BTNMT (2017) quy định về kỹ thuật quan trắc môi trường, trong đó có hướng dẫn rõ hơn về thực hiện quan trắc tự động đối với nước thải và khí thải. Một số quy định về các yêu cầu cơ bản và đặc tính kỹ thuật của Hệ thống quan trắc nước thải và khí thải tự động liên tục được cụ thể như sau:
- Đối với Hệ thống quan trắc tự động đối với nước thải: được quy định tại mục 1 của chương IV, Thông tư 24/2017/TT-BTNMT Khóa luận: Phân tích chiến lược truyền thông marketing tại công ty.
- Thành phần cơ bản Hệ thống bao gồm: thiết bị quan trắc tự động (gồm các đầu dò đo thông số); thiết bị thu thập , lưu giữ và truyền dữ liệu về Sở Tài nguyên và Môi trường; thiết bị lấy mẫu tự động; camera; nhà trạm; bơm lấy mẫu,…
- Vị trí quan trắc: ngay sau hệ thống xử lý , trước khi xả ra nguồn tiếp nhận.
- Kiểm định, hiệu chuẩn định kỳ đối với thiết bị quan trắc tự động, liên tục.
- Hệ thống phải được hoạt động liên tục.
- Trước khi Hệ thống đưa vào vận hành chính thức, đơn vị vận hành hệ thống phải gửi hồ sơ liên quan về Sở Tài nguyên và Môi trường.
- Đối với Hệ thống quan trắc tự động đối với nước thải: được quy định tại mục 2 của chương IV, Thông tư 24/2017/TT-BTNMT
- Thành phần cơ bản Hệ thống bao gồm: thiết bị quan trắc tự động (gồm các thiết bị đo và phân tích thông số); thiết bị thu thập , lưu giữ và truyền dữ liệu về Sở Tài nguyên và Môi trường; bình khí chuẩn ; camera; nhà trạm; nguồn điện,…
- Vị trí lỗ quan trắc: tuân thủ theo quy định tại khoản 1, mục III, phụ lục 01 của Thông tư 24/2017/TT-BTNMT.
- Kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm và kiểm tra định kỳ thiết bị quan trắc.
- Thời gian hoạt động: Hệ thống phải được hoạt động liên tục.
- Trước khi Hệ thống đưa vào vận hành chính thức, đơn vị vận hành hệ thống phải gửi hồ sơ liên quan về Sở Tài nguyên và Môi trường.
2.3.1.2. Môi trường văn hóa xã hội Khóa luận: Phân tích chiến lược truyền thông marketing tại công ty.
Theo Duy Chinh (2016), số liệu thống kê cho thấy những con số giật mình, cả nước hiện có 37 làng ung thư và mỗi năm có thêm 200.000 người mới được phát hiện mắc bệnh ung thư. Bên cạnh đó, hàng chục triệu người hiện đang mắc các bệnh về hô hấp, tiêu hóa, thính giác, thị giác… do sống chung với ô nhiễm môi trường. Đây chính là hậu quả của đô thị hóa, công nghiệp hóa nhanh và sự bùng nổ dân số.
Ở nhiễm không khí, ô nhiễm đất và nguồn nước… đã gây ra nhiều hệ lụy đối với sức khỏe con người. Mọi nguyên nhân của sự ô nhiễm này đều bắt nguồn từ hoạt động sản xuất công nghiệp, y tế, giao thông và xây dựng; trong đó sản xuất công nghiệp là thủ phạm đặc biệt nguy hiểm tới sức khỏe con người và môi trường. Môi trường nước ở nhiều đô thị, khu công nghiệp và làng nghề ngày càng bị ô nhiễm bởi nước thải, khí thải và chất thải rắn.
Trong bài viết “Tác hại của ô nhiễm môi trường nước” của Hồng Như (2017), ô nhiễm nước do sản xuất công nghiệp là rất nặng. Ví như ở các ngành công nghiệp dệt may, ngành công nghiệp giấy và bột giấy, nước thải thường có độ pH trung bình từ 9-11, chỉ số nhu cầu ôxy sinh hoá (BOD), nhu cầu ôxy hoá học (COD) có thể lên đến 700mg/1 và 2.500mg/1, hàm lượng chất rắn lơ lửng… cao gấp nhiều lần giới hạn cho phép. Hàm lượng nước thải của các ngành này có chứa xyanua (CN-) vượt đến 84 lần, H2S vượt 4,2 lần, hàm lượng NH3 vượt 84 lần tiêu chuẩn cho phép nên đã gây ô nhiễm nặng nề các nguồn nước bề mặt trong vùng dân cư.
Đã có những khảo sát từ một số làng nghề sắt thép, đúc đồng, nhôm, chì, giấy, dệt nhuộm ở một số địa phương cho thấy có lượng nước thải hàng ngàn m3/ ngày không qua xử lý, gây ô nhiễm nguồn nước và môi trường trong khu vực. Không chỉ ở các thành phố lớn mà ở hầu hết các đô thị khác, nước thải do các cơ sở công nghiệp cũng không được xử lý, độ ô nhiễm nguồn nước nơi tiếp nhận nước thải đều vượt quá tiểu chuẩn cho phép, các thông số chất lơ lửng (SS), ôxy hoà tan (DO) đều vượt từ 5-10 lần, thậm chí 20 lần tiêu chuẩn cho phép. Khóa luận: Phân tích chiến lược truyền thông marketing tại công ty.
Ngoài ra ô nhiễm nguồn nước còn gây tổn thất lớn cho các ngành sản xuất kinh doanh. Tại Hà Nội, vấn đề ô nhiễm môi trường do hoạt động sản xuất công nghiệp cũng đã lên tiếng báo động từ nhiều năm qua. Đặc biệt, hoạt động sản xuất công nghiệp tại các khu cụm công nghiệp vừa và nhỏ và các làng nghề do chưa được đầu tư hệ thống xử lý chất thải đảm bảo tiêu chuẩn cũng như quy hoạch còn có nhiều điểm bất cập. Ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng tới nguồn nước vì các cơ sở sản xuất công nghiệp không có công trình và thiết bị xử lý chất thải hoặc nếu có thì mang tính đối phó.
Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều ảnh hưởng đến môi trường. Nếu chúng ta đòi hỏi hoạt động sản xuất kinh doanh hoàn toàn không ảnh hưởng đến môi trường thì chắc chắn không có bất kỳ hoạt động kinh tế nào xảy ra.
Việc thực hiện chính sách và pháp luật bảo vệ môi trường, hay trách nhiệm với xã hội tại các doanh nghiệp ở nước ta còn tồn tại nhiều khó khăn và bất cập do nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong đó có nguyên nhân là do bản thân các doanh nghiệp chưa nhận thức được một cách đúng đắn và đầy đủ về mối quan hệ giữa hoạt động kinh doanh sản xuất của mình với vấn đề môi trường. Vì vậy chúng ta cần làm rõ mối quan hệ này nhằm phần nào góp phần thay đổi nhận thức của doanh nghiệp, vì chỉ có thay đổi được nhận thức thì mới thay đổi được hành động của chính bản thân mình.
Trước hết, đây là mối quan hệ biện chứng tác động lẫn nhau. Hoạt động của doanh nghiệp có những tác động tích cực và tiêu cực tới vấn đề môi trường và ngược lại môi trường cũng góp phần tạo nên những thuận lợi hay khó khăn trong việc sản xuất. Đồng thời, chúng ta cũng phải khẳng định mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều ảnh hưởng đến môi trường. Nếu đòi hỏi hoạt động sản xuất kinh doanh hoàn toàn không ảnh hưởng đến môi trường thì chắc chắn sẽ không có bất kỳ một hoạt động kinh tế nào xảy ra. Vấn đề cần quan tâm ở đây là mức độ tác động như thế nào (nguy cơ gây hủy hoại, tàn phá môi trường; khả năng hồi phục của môi trường; sự ảnh hưởng bất lợi so với hiệu quả đem lại…)
2.3.1.3. Môi trường kinh tế Khóa luận: Phân tích chiến lược truyền thông marketing tại công ty.
Phát triển công nghiệp là nhiệm vụ hàng đầu để nước ta thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên, chính công nghiệp, khai thác khoáng sản là các ngành kinh tế gây tác động mạnh nhất đến môi trường, tài nguyên, sức khỏe, an toàn và trật tự xã hội. Có thể nói, ô nhiễm môi trường luôn đồng hành với phát triển các dự án công nghiệp và khai thác khoáng sản.
Do đó, để gắn kết phát triển công nghiệp và khoáng sản với kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ môi trường cần nhận rõ các nguyên nhân, mức độ gây áp lực lên môi trường hiện tại và tương lai của các ngành này, qua đó xác định một số giải pháp thực tế về dự phòng, giảm thiểu ô nhiễm công nghiệp, hạn chế thấp nhất các tác động xấu đến môi trường và xã hội của quá trình tăng tốc công nghiệp hóa đất nước trong giai đoạn tiếp theo.
Sau 30 năm đổi mới, tiềm năng công nghiệp của Việt Nam đã tăng vượt bậc cả về số lượng các cơ sở sản xuất, năng lực sản xuất, tỷ trọng trong GDP toàn ngành kinh tế, trình độ công nghệ. Tuy vậy, với tốc độ tăng trưởng nhanh về công nghiệp và khai thác khoáng sản, nếu không gắn kết có hiệu quả với kiểm soát ô nhiễm, môi trường nước ta đang có nhiều biểu hiện suy thoái và sẽ phải đối mặt với nhiều thách thức mới.
Theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường (2017), trên địa bàn cả nước ước tính có 15 khu kinh tế ven biển với tổng diện tích mặt đất và mặt nước hơn 697.800ha; 28 khu kinh tế cửa khẩu, thuộc địa bàn 21/25 tỉnh biên giới đất liền; 298 khu công nghiệp với tổng diện tích đất tự nhiên hơn 81.000ha. Khóa luận: Phân tích chiến lược truyền thông marketing tại công ty.
Trong đó, 209 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất tự nhiên 54.060 ha; 878 cụm công nghiệp với tổng diện tích 32.841ha. Nhìn chung, các khu công nghiệp đã đóng góp rất lớn cho phát triển kinh tế, xã hội với giá trị sản xuất công nghiệp bình quân trên 1ha đất đã cho thuê đạt khoảng 1,6 triệu USD/ha/năm.
Nhiều doanh nghiệp xây dựng hệ thống ngầm kiên cố xả thẳng ra sông, rạch, chẳng hạn như Công ty Hào Dương, Phạm Thu, Tường Trung, Tân Nhật Dũng tại TP.Hồ Chí Minh hoặc lợi dụng thủy triều lên xuống để pha loãng nước thải chưa qua xử lý đưa ra môi trường như Công ty cổ phần Sonadezi Long Thành-Đồng Nai. Ðặc biệt nghiêm trọng là Công ty Vedan (Đài Loan) đã bơm xả trực tiếp một lượng lớn dịch thải sau lên men với nồng độ các chất ô nhiễm rất cao ra sông Thị Vải, gây ô nhiễm sông trên một phạm vi rộng.
2.3.1.4. Môi trường công nghệ
Cách mạng công nghệ 4.0 có tác động to lớn đến mọi mặt của đời sống, chính trị, kinh tế, xã hội. Việt Nam, tuy là quốc gia có trình độ phát triển trung bình về khoa học công nghệ nhưng không thể thụ động đứng ngoài xu thế đó mà cần chủ động, tích cực chuẩn bị các điều kiện để nắm bắt, tiếp cận với cách mạng công nghệ 4.0.
Công nghệ 4.0 tập trung chủ yếu phát triển công nghệ điện tử, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo. Vì vậy, có thể ứng dụng các sản phẩm của công nghệ 4.0 trong các lĩnh vực như quan trắc tự động môi trường ở các điểm xả thải, đo tự động mức độ ô nhiễm đối với các yếu tố môi trường như nước thải, không khí, áp dụng trong dự báo cảnh báo khí tượng thủy văn kết nối mặt đất với vệ tinh …, từ đó có hệ thống dữ liệu rất tốt và chính xác để phục vụ công tác quản lý.
Theo bài viết của Mai Mạnh (2018), ông Hoàng Dương Tùng, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, đánh giá trong thời đại cách mạng công nghệ 4.0 bảo vệ môi trường cần phải tăng cường hệ thống quan trắc tự động liên tục, các hệ thống sensor, camera, vệ tinh; thu nhận, xử lý và công bố số liệu quan trắc tự động: Chất lượng không khí xung quanh, phát thải khí thải của các nhà máy, chất lượng nước các dòng sông, chất lượng nước thải khu công nghiệp, các nhà máy; Số hóa các dữ liệu, số liệu quản lý; Ứng dụng AI, big data, blog chain, IOT trong kiểm soát ô nhiễm, dự báo hành vi… Khóa luận: Phân tích chiến lược truyền thông marketing tại công ty.
Đồng quan điểm trên, một số ý kiến cũng nhấn mạnh: Quản lý môi trường là một lĩnh vực quản lý liên quan đến đa ngành. Mọi hoạt động điều tra cơ bản, quản lý, chỉ đạo, điều hành và chuyên môn nghiệp vụ của ngành đều dựa trên kết quả thu nhận, phân tích, xử lý, tổng hợp thông tin. Thông tin của ngành bao trùm toàn bộ không gian lãnh thổ; theo thời gian. Việc xây dựng được một hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu lớn toàn diện về tài nguyên và môi trường và cơ chế để các tổ chức, cá nhân có thể khai thác, tiếp cận, sử dụng và tham gia đóng góp một cách rộng rãi trên cơ sở công nghệ, khả năng kết nối, phân tích, xử lý, chia sẻ của cách mạng công nghệ 4.0 cần được xem là nhiệm vụ trọng tâm của ngành Tài nguyên và Môi trường trong thời gian tới.
Báo cáo của Tổng cục Môi trường cho thấy, để tham gia vào cuộc cách mạng công nghệ 4.0, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xác định trước tiên cần đặc biệt chú trọng đến hoạt động khoa học và công nghệ, đánh giá được trình độ công nghệ, xây dựng được mạng lưới quy hoạch các tổ chức khoa học công nghệ, đồng thời có những định hướng đúng đắn thúc đẩy được hoạt động khoa học và công nghệ đạt hiệu quả và có ứng dụng thực tế, đảm bảo lợi ích về kinh tế và bảo vệ môi trường.
2.3.2. Môi trường vi mô
2.3.2.1. Đối thủ cạnh tranh
Hiện nay trên thị trường có khá nhiều doanh nghiệp tham gia lĩnh vực quan trắc. Tuy nhiên đa số các doanh nghiệp này đều nhập khẩu sản phẩm từ nước ngoài về sau đó phân phối lại. Phượng Hải là đơn vị duy nhất tự nghiên cứu và sản xuất sản phẩm. Có thể kể đến một số đối thủ của Phượng Hải trên thị trường như sau:
- Công ty Nhật Anh Khóa luận: Phân tích chiến lược truyền thông marketing tại công ty.
Công ty TNHH Nhật Anh được thành lập năm 2001, là một trong những đơn vị đi đầu trong lĩnh vực xử lý nước cấp, nước thải cho các công trình trên khắp cả nước. Công ty là đại diện chính thức của nhiều hãng nổi tiếng trên thế giới, chúng tôi đang cung cấp độc quyền cho hãng ShinMaywa và Aqualytic tại Việt Nam với các sản phẩm thiết bị công nghiệp, thiết bị phân tích kiểm nghiệm cho các ngành công nghiệp: Rượu bia – Nước giải khát – Thực phẩm – Dược phẩm – Y tế – Vật liệu xây dựng – Giao thông vận tải… và đặc biệt là lĩnh vực Xử lý môi trường.
Khách hàng của Nhật Anh bao gồm các Trường đại học, Viện nghiên cứu, Bệnh viện, các phòng thí nghiệm Lý – Hóa – Sinh – Phòng thí nghiệm Môi trường. Các công trình xử lý nước cấp, nước thải cho các nhà máy, xí nghiệp sản xuất đến các nhà hàng khách sạn, các công trình dân dụng, giao thông vận tải…
Các chỉ tiêu đo được: TSS, COD, pH, DO. Sensor do Nhật Anh có khả năng tự làm sạch, bên trong sensor có hệ thống cần gạc quét qua quét lại để làm sạch. Chế độ bảo hành của Nhật Anh chủ yếu phụ thuộc vài nhà cung cấp. Các sensor đo COD bảo hành 2 năm, DO và pH bảo hành 12 tháng. Toàn bộ hệ thống đều là hàng nhập khẩu từ Nhật Bản, có thể tự cài đặt setup trên máy dễ dàng. Dữ liệu được lưu theo 2 dạng, lưu trên thiết bị và lưu trên máy tính. Giá của Nhật Anh giao động trong khoảng 1 – 1.2 tỷ đồng.
- Công ty Việt An Khóa luận: Phân tích chiến lược truyền thông marketing tại công ty.
Là đơn vị hàng đầu trong lĩnh vực cung cấp và lắp đặt hệ thống quan trắc nước thải với nhiều năm kinh nghiệm, Việt An luôn được nhiều doanh nghiệp tin tưởng. Những dịch vụ mà Việt An Group đang cung cấp:
- Quan trắc môi trường Online (nước thải, nước cấp, nước mặt, nước ngầm, khí thải)
- Thiết bị đo lường, phân tích trong nhà máy
- Hệ thống SCADA cho nhà máy và mạng lưới
- Phần mềm quản lý tài sản mạng lưới cấp nước, thoát nước và điện lực
- Phần mềm tính toán thủy lực mạng lưới cấp nước (WaterGEMS, Bentley)
- Thiết bị và giải pháp giảm thất thoát nước
Các chỉ tiêu đo được: TSS, COD, pH, DO Tương tụ như Nhật Anh, Sensor của Việt An có thể tự làm sạch. Chế độ bảo hành củ Việt An dựa theo chế độ bảo hành của nhà sản xuất là 1 năm, riêng sensor pH chả bảo hành 6 tháng. Việt An có riêng 1 công ty để bảo trì, nhân viên được cử qua Đức để đào tạo, bảo trì theo yêu cầu. Đây là đơn vị phân phối độc quyền cho thương hiệu Endress Hauser.
Các dữ liệu được hiển thị trên cả máy tính, ngoài ra có app điện thoại riêng để có cảnh báo khi các thông số vượt ngưỡng, dữ liệu lưu trữ tùy theo cách sử dụng, dựa trên số lần lưu trữ và không gian máy tính. Tủ lấy mẫu là dạng 12 chai 2 lít, được niêm phong.
Hiện tại Việt An có hơn 530 trạm đã được lắp đặt trên toàn quốc. Giá của Việt An khá cao, nằm vào khoảng 1.5 tỷ đồng (bao gồm cả chi phí nhân công và thiết bị cùng một số chi phí khác).
- Công ty Đông Hải Khóa luận: Phân tích chiến lược truyền thông marketing tại công ty.
Công ty Đông Hải chuyên cung cấp các thiết bị chuyên dụng trong lĩnh vực quan trắc môi trường nước thông qua sản phẩm tự phát triển và là nhà phân phối ủy quyền tại Việt Nam của hãng BL Process – Hàn Quốc và Go- Đức về các máy phân tích cũng như các sensor đo nhanh.
Bên cạnh đó, Đông Hải cũng thiết kế, sản xuất các thiết bị tự động hóa và các sản phẩm thiết bị trong lĩnh vực Công nghệ Thông tin.
Các chỉ tiêu đo được: 6 chỉ tiêu cơ bản, ngoài ra còn 1 số chỉ tiêu đặc thù theo yêu cầu. Cơ chế làm sạch: có hỗ trợ làm sạch bằng khí nén, tuy nhiên mình vẫn phải tự dùng khăn lau (tối thiểu 1 tuần 1 lần). Sản phẩm được bảo hành 12 tháng. Có 2 hướng bảo trì: giao toàn bộ cho Đông Hải, sẽ bảo trì định kì hoặc Đông Hải sẽ đào tạo công nhân bên nhà máy để tự bảo trì (thường 1 lần/ tuần). Có thể thay 1 sensor nếu bị hư.
Hiện tại ở Đồng Nai và Vũng Tàu, Đông Hải đã lắp đặt 13 trạm, bảo trì 1 tuần 1 lần (đều là các trạm quốc qia). Giá của 1 trạm khoảng 1,2 – 1,4 tỷ đồng.
2.3.2.2. Khách hàng
Hiện tại, khách hàng của Phượng Hải chủ yếu tập trung ở khu vực phía Nam. Các khách hàng này đa số đều là những doanh nghiệp có nhà máy ở KCN Bình Dương. Một vài khách hàng ở khu vực miền Trung như Chi cục Bảo vệ Môi trường Phú Yên, nhà máy sản xuất Clinker sông Gianh…
2.4. Hoạt động Marketing của Công ty Cổ phần KHKT Phượng Hải
2.4.1. Sản phẩm Khóa luận: Phân tích chiến lược truyền thông marketing tại công ty.
Phượng Hải trong nhiều năm qua đã đầu tư trang thiết bị hiện đại cùng đào tạo đội ngũ R&D để nghiên cứu thiết bị quan trắc “made in VietNam”. Sau 3 năm nghiên cứu, Phượng Hải đã đưa ra thị trường dòng sản phẩm SmartpH – thiết bị quan trắc sản xuất đầu tiên tại Việt Nam.
Những linh kiện của SamrtpH được nhập khẩu từ các nước tiên tiến như Mỹ, Châu Âu, Nhật bản để tạo ra độ tin cậy về chất lượng sản phẩm, và giúp tuổi thọ sản phẩm bền lâu, ngang tầm với thiết bị ngoại nhập từ các nước tiên tiến.
Phượng Hải đang nghiên cứu và phát triển những công nghệ mới. Có thể kể đến như công nghệ kết nối không dây, có khả năng truyền dữ liệu với khoảng cách xa 3km, áp dụng cho những trạm quan trắc có vị trí đặt xa khu điều hành, gặp khó khăn khi kéo dây tín hiệu, hay giải pháp quan trắc cho những trại nuôi trồng thuỷ sản. Bên cạnh đó, Phượng Hải tự tin làm chủ được công nghệ sản xuất đầu đo (sensor) thông minh. Những chỉ tiêu COD/BOD, độ màu, TSS đều được Phượng Hải nghiên cứu và sản xuất. Những chỉ tiêu pH, oxy hoà tan, độ dẫn điện mà độ chính xác lên đến +/-0.001 đã được hiệu chuẩn tại Quatest 3.
Sơ đồ hệ thống quan trắc nước thải
2.4.2. Giá
Vì SmarpH là sản phẩm được nghiên cứu và sản xuất tại Việt Nam nên có giá cả hợp lý với các doanh nghiệp Việt. Mức giá của SmartpH giao động từ khoảng 600 triệu đồng – 1 tỷ đồng.
Bảng 2. 2: Bảng giá hoàn chỉnh của một hệ thống SmartpH
2.4.3. Truyền thông:
- Đối tượng truyền thông Khóa luận: Phân tích chiến lược truyền thông marketing tại công ty.
Phượng Hải thực hiện các chương trình truyền thông của mình cho 2 nhóm khách hàng chính: khách hàng hiện có và khách hàng mục tiêu của công ty.
Trong đó, đa số các chương trình truyền thông của Phượng Hải nhắm vào nhóm khách hàng mục tiêu.
- Mục tiêu truyền thông
Giới thiệu cho khách hàng biết đến dòng sản phẩm SmartpH – thiết bị quan trắc đầu tiên sản xuất tại Việt Nam
- Lựa chọn phương tiện truyền thông
Phượng Hải lựa chọn 3 phương tiện truyền thông chính: Mạng xã hội, Báo chí và truyền hình. Trong đó, các hoạt động truyền thông chủ yếu trên mạng xã hội. Phượng Hải chú trọng phủ tất cả các kênh mạng xã hội như facebook, zalo, Google +, Blog, …
- Phối thức truyền thông
- Quan hệ công chúng
Hiện nay, Phượng Hải chưa có nhiều hoạt động PR doanh nghiệp. Trong những năm gần đây, Phượng Hải chỉ có 1 hoạt động PR duy nhất là PR giới thiệu triển lãm VietWater vào tháng 11/2018.
- Khuyến mãi
Vì sản phẩm Phượng Hải cung cấp khá đặc thù nên không có 1 chương trình khuyến mãi chung cho toàn thể khách hàng. Tùy theo mỗi khách hàng, các nhân viên kinh doanh sẽ có một mức chiết khấu riêng.
- Bán hàng cá nhân Khóa luận: Phân tích chiến lược truyền thông marketing tại công ty.
Phượng Hải chủ yếu phát triển các hoạt động bán hàng cá nhân. Để phục vụ cho việc này, Phượng Hải tạo điều kiện hết mức cho các nhân viên kinh doanh, cung cấp đầy đủ các tài liệu cũng như những cơ sở vật chất khác cho nhân viên để có thể tiếp cận tối đa với khách hàng. Bên cạnh đó, đội ngũ nhân viên kinh doanh Phượng Hải cũng được mở các lớp đào tạo về kỹ thuật cũng như kỹ năng bán hàng định kỳ để nâng cao trình độ, kỹ năng cho nhân viên.
- Marketing trực tiếp
Phượng Hải khai thác khách hàng mới thông qua kênh Marketing trực tiếp. Các nhân viên kinh doanh được cung cấp lượng lớn data khách hàng để nhân viên gọi điện, giới thiệu về sản phẩm.
- Marketing Online
Các hoạt động truyền thông chủ yếu của Phượng Hải hiện tại là truyền thông online. Phượng Hải chú trọng việc phủ tất cả các kênh mạng xã hội. Ngoài ra, Phượng Hải cũng cho chạy quảng cáo Google Ads liên tục để tiếp cận được các khách hàng tìm kiếm trên mạng. Bên cạnh đó, Phượng Hải cũng chú trọng phát triển website. Các bài viết cũng như hình ảnh đăng tải trên website đều phải thông qua kiểm duyệt đánh giá trước khi được đưa lên web nhằm đảm bảo chất lượng.
2.5. Đánh giá hoạt động truyền thông của Phượng Hải
- Hình 2. 1: Biểu đồ AAU của 4 thương hiệu cung cấp thiết bị quan trắc trên thị trường
- Bảng 2. 3: Các chỉ số đo lường của 4 thương hiệu Khóa luận: Phân tích chiến lược truyền thông marketing tại công ty.
Chỉ số Nhận biết: Chỉ có 86 khách hàng trong tổng số quy mô khách hàng mục tiêu được khảo sát là 203 nhận biết đến thương hiệu SmartpH, tức là chir có 42.36% số khách hàng mục tiêu trả lời biết đến thương hiệu này. Con số này cho thấy cái tên SmartpH vẫn còn khá mới lạ với khách hàng mục tiêu. Như vậy, công tác hoạt động truyền thông với mục đích làm khách hàng biết, làm khách hàng bật ngay tên thương hiệu khi được hỏi (khoảng 10) chưa được tốt. Điều này cũng có thể do SmartpH mới ra mắt cách đây không lâu, vẫn chưa có nhiều người biết đến thương hiệu này.
Chỉ số Hiểu biết/Kiến thức: Có 32 người trên 203 người được khảo sát có hiểu biết về yếu tố định vị của thương hiệu của SmartpH thông qua câu Slogan. Tỷ lệ hiểu biết trên nhận biết chỉ đạt 37.21%, chứng tỏ khách hàng mục tiêu biết đến thương hiệu SmartpH thực sự chưa hiểu được định vị của thương hiệu.
Chỉ số Thích: Có 27 người trên 203 người được khảo sát thích Thương hiệu SmartpH. Chỉ số này không được đánh giá trên số người có hiểu biết mà chỉ số này đo lường mang tính cảm nhận chung của khách hàng mục tiêu, mặc dù chỉ số không thể hiện chính xác yếu tố thích dựa trên sự thích thực sự về mặt hiểu nhưng đo lường được số khách hàng họ nghe tên họ thích. Như vậy SmartpH vẫn chiếm được khá lớn tình cảm của khách hàng mục tiêu biết đến (Thích/Hiểu là 84.38 %).
Chỉ số mua: Có 10 người trả lời họ mua/có ý định mua thiết bị SmartpH, 37.04% trên tổng số người thích. Như vậy, dượng như khách hàng vẫn chưa có sự tin tưởng nhất định đối với thương hiệu SmartpH mặc dù họ khá thích thương hiệu này.
Sơ kết về phân tích AAU, hiệu quả Marketing của thương hiệu SmartpH nhìn chung chưa được tốt, chỉ số này cung cấp thông tin quan trọng trong sự kém hiệu quả của thông điệp truyền thông đến với khách hàng, doanh nghiệp cần xem xét đẩy mạnh hoạt động tuyền truyền, nhất mạnh yếu tố khác biệt trong sản phẩm so với các đối thủ khác dự trên sức mạnh thương hiệu lớn được tin dùng cao. Khóa luận: Phân tích chiến lược truyền thông marketing tại công ty.
Theo thống kê của các sở Tài nguyên Môi trường trên toàn quốc (2018), hiện nay nước ta có khoảng 1050 doanh nghiệp đã lắp đạt trạm quan trắc môi trường tự động với doanh số đạt 1.530 tỷ đồng.
Bảng 2. 4: Doanh thu và doanh số 4 thương hiệu trong lĩnh vực quan trắc nước thải tính đến 2018
Trong số 4 thương hiệu, doanh nghiệp, SmartpH của Phượng Hải là đơn vị có doanh thu và doanh số thấp nhất. Điều này có thể bị ảnh hưởng bởi 2 nguyên nhân. Thứ nhất, SmartpH là thương hiệu hoàn toàn mới trên thị trường cũng như trong ngành, có khá ít khách hàng biết đến thương hiệu cũng như có lòng tin với chất lượng sản phẩm. Thứ 2, hiệu quả của chương trình truyền thông chưa được tốt, chưa có một mục tiêu cụ thể nào cho hoạt động marketing nói chung và hoạt động truyền thông nói riêng. Vì vậy, khách hàng chưa thật sự tiếp nhận được thông tin mà công ty muốn truyền tải.
- Hình 2. 2: Thị phần theo doanh thu của các doanh nghiệp
- Hình 2. 3: Thị phần theo doanh số của các doanh nghiệp
Xét thị phần của Phượng Hải trong mảng thiết bị quan trắc thì cả về doanh thu lẫn doanh số, Phượng Hải đều là doanh nghiệp nép góc thị trường. Mặc dù đã có thời gian 3 năm hoạt động trong lĩnh vực thiết bị quan trắc môi trường nhưng Phượng Hải vẫn chưa khẳng định được vị thế cũng như chất lượng sản phẩm của mình.
Hình 2. 4: Sơ đồ định vị các thương hiệu trên thị trường
Nhìn trên sơ đồ định vị, ta có thể thấy so với đối thủ cạnh tranh, Phượng Hải có lợi thế lớn nhất về giá và sự hài lòng của khách hàng. Phượng Hải phải duy trì được lợi thế này và làm cho công chúng mục tiêu thấy được điều này. Điểm yếu của Phượng Hải khi nhìn qua sơ đồ này chính là thương hiệu. Độ nhận biết thương hiệu của Phượng Hải là thấp nhất trong 4 thương hiệu. Để khắc phục được tình trạng trên, Phượng Hải cần phải xác định rõ mục tiêu của doanh nghiệp trong thời gian tới, đề ra những kế hoạch truyền thông cho thời gian tới.
Tóm tắt chương 2
Hoạt động truyền thông Marketing của công ty Cổ phần KHKT Phượng Hải trong những năm vừa qua chưa đạt hiệu quả, điều đó được thể hiện rõ ràng qua các chỉ số đô lường Marketing và chỉ số thị phần. Chỉ có 42.36% khách hàng mục tiêu nhận biết được thương hiệu SmartpH trong số 203 khách hàng tham gia khảo sát, các chỉ số khác cũng rất thấp. Cho đến năm 2018, Phượng Hải chỉ đạt 0.38% thị phần doanh thu cho toàn ngành, thấp hơn nhiều lần so với các đối thủ cạnh tranh trên thị trường. Bên cạnh những yếu tố khách quan từ môi trường, công ty cũng nên nghiêm khắc tự nhìn nhận lại những điểm hạn chế và thiếu sót của mình để có thể khách phục trong thời gian tới. Khóa luận: Phân tích chiến lược truyền thông marketing tại công ty.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Xây dựng kế hoạch truyền thông marketing Công Ty

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Khóa luận: Phân tích chiến lược truyền thông marketing tại công ty […]