Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn hay nhất năm 2022 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện tại VNPT dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
3.1.1 Hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên phải phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế
Quyền tự do kinh doanh là một trong những quyền cơ bản về kinh tế của con người. Một xã hội được cho là tiến bộ nếu nó thừa nhận quyền tất cả mọi người có cơ hội kiếm sống bằng công việc do họ tự lựa chọn, Nhà Nước có nghĩa vụ thi hành các biện pháp để bảo vệ quyền này, trong đó bao gồm việc thực hiện các chính sách các biện pháp kinh tế nhằm phát triển vững chắc nền kinh tế xã hội bảo đảm các quyền tự do cơ bản về kinh tế của từng cá nhân công dân. Xuất phát từ những cơ sở đó việc hoàn thiện những quy định Pháp luật về công ty TNHH một thành viên là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hoàn thiện pháp luật về công ty ở Nước ta. Đó chính là sự triệt để tôn trọng và bảo đảm quyền tự do kinh doanh của công dân, tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi và hổ trợ cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển.
Việc pháp luật bổ sung thêm loại hình công ty trách nhiệm một thành viên vào hệ thống các loại hình DN ở Việt Nam là một bước phát triển mới trong quá trình từng bước hoàn thiện Pháp luật về công ty. Để loại hình DN này ngày càng phát triển, phát huy được những ưu điểm vốn có của nó trong việc thu hút ngày càng nhiều các nhà đầu tư vào hoạt động kinh doanh, chế định này cần phải được hoàn thiện: Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn.
Trong nền kinh tế thị trường với nhiều cơ hội kinh doanh nhưng cũng gặp không ít khó khăn và rủi ro.Việc quy định loại hình Công ty TNHH một thành viên với những ưu điểm của nó và đã đang đáp ứng được nhu cầu thiết thực, đáp ứng dược nguyện vọng của giới kinh doanh. Tuy nhiên muốn loại hình Công ty này hoạt động có hiệu quả hơn thì Chính phủ và các bộ, ngành có liên quan cần ban hành những Nghị định và Thông tư hướng dẫn chi tiết hơn về quyền sở hữu tài sản của công ty TNHH một thành viên cũng như quyền và nghĩa vụ của Chủ sở hữu công ty phù hợp với mục đích và yêu cầu đặt ra. Ban hành, phổ biến và hướng dẫn thực hiện các văn bản Pháp luật về DN trong việc thực hiện về trình tự thủ tục, ngành nghề kinh doanh. Đảm bảo thực hiện chiến lược, quy hoạch và kế hoạch định hướng phát triển kinh tế – xã hội.
Ngoài việc đổi mới cơ chế quản lý, đơn giản hóa thủ tục hành chính pháp luật, cần tạo ra môi trường kinh doanh thật sự bình đẳng, mỡ rộng hơn nữa các loại hình DN trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư phát huy được khả năng trình độ sự năng động sáng tạo của các nhà DN. Có như vậy nền kinh tế của Nước ta mới ổn định, phát triển nhanh, mạnh và vững chắc.
Bên cạnh việc tạo lập môi trường kinh doanh an toàn, Nhà Nước phải tăng cường giáo dục, phổ biến và giải thích pháp luật trong nhân dân nói chung và cả các nhà kinh doanh nói riêng đã góp phần cho loại hình Công ty TNHH một thành viên ra đời và kinh doanh thuận lợi theo quy định của pháp luật. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn.
Hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên phải đảm bảo mọi DN đều bình đẳng trước pháp luật
Phải xây dựng hệ thống pháp luật nước ta ngày càng hoàn thiện hơn, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật nhằm trách những quy định chưa đầy đủ của luật pháp đã tạo cơ hội cho một số DN đó hoạt động phi pháp, thi lợi bất chính trong kinh doanh ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh và lợi ích của Nhà Nước. Bên cạnh đó càng làm tăng thêm lòng tin của nhà đầu tư trong và ngoài nước yên tâm bỏ vốn để đầu tư làm ăn. DN đăng ký kinh doanh sau đó đi vào hoạt động thì Nhà Nước các cơ quan chức năng cần thường xuyên giám sát theo dõi hoạt động kinh doanh của họ nhằm tránh xuất hiện những DN “ma” khi đăng ký kinh doanh và sau đó biến mất trên thị trường nhằm mục đích trốn thuế, trong khi đó hàng hóa của họ lại tràn ngập trên thị trường làm ảnh hưởng đến môi trường kinh doanh gây nên thất thu cho Nhà Nước.
Hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên trên cơ sở tôn trọng và phát huy quyền tự do kinh doanh
Quyền tự do kinh doanh là một trong những quyền cơ bản của công dân, của các chủ thể kinh doanh, được hầu hết các nước trên thế giới tôn trọng, bảo vệ.
Việt Nam, quyền tự do kinh doanh đó được khẳng định tại Điều 33 Hiến pháp 2013. Xây dựng và hoàn thiện pháp luật DN phải có những quy định khẳng định rõ và đảm bảo quyền tự do kinh doanh của công dân. Thực hiện được nguyên tắc này chính là động lực chủ yếu khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia tích cực vào hoạt động lao động, sản xuất khơi dậy nguồn lực, phát huy tối đa sức mạnh nhân dân, góp phần phát triển kinh tế đất nước. Cụ thể, khi hoàn thiện pháp luật về công ty TNHH một thành viên ở Việt Nam phải đảm bảo yêu cầu làm thế nào để việc thành lập và hoạt động của công ty này thật sự dễ dàng, thuận tiện cho công dân, cho các nhà kinh doanh mà vẫn bảo đảm được yêu cầu quản lý chặt chẽ của Nhà nước.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
3.1.2 Hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên phải phù hợp với yêu cầu hội nhập kinh tế. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn.
Nhà Nước cần đưa ra nhiều chính sách ưu đãi hơn đối với các DN, một khi có các chính sách ưu đãi của Nhà Nước được dưa ra thì các nhà đầu tư sẽ mạnh dạng đầu tư vào loại hình Công ty TNHH một thành viên nhiều hơn. Nhà Nước cần tăng cường các biện pháp cưỡng chế đối với công ty mang tính chất kinh doanh không hợp pháp, lừa dối khách hàng, cạnh tranh không lành mạnh làm ảnh hưởng đến thị trường, nói xấu mặt hàng của người khác lợi dụng khách hàng để trục lợi.
Bên cạnh đó Nhà Nước cần phải có chính sách thuế ưu đãi hơn, vì khi có chính sách đó các nhà đầu tư sẽ mạnh dạn đầu tư vào loại hình Công ty TNHH một thành viên ngày càng nhiều hơn.
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn.
3.2.1. Hoàn thiện quy định về thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Thứ nhất, đơn giản hóa thủ tục thành lập DN
Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho DN và người dân có nhu cầu đăng ký DN trong việc gia nhập thị trường, trong thời gian qua, công tác rà soát trình tự, thủ tục hành chính được các cơ quan quản lý nhà nước tiến hành một cách thường xuyên và liên tục. Qua đó, đã từng bước cắt giảm được các thủ tục không cần thiết trong đăng ký DN giúp cho công tác đăng ký DN ngày càng đơn giản và thuận tiện.
Tuy nhiên, cơ quan đăng ký kinh doanh cần tiếp tục triển khai các giải pháp sau để cải cách hơn nữa thủ tục thành lập DN.
Một là cần thống nhất đầu mối cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký DN. Việc giao thẩm quyền cho Sở Kế hoạch Đầu tư thực hiện đăng ký DN là hợp lý. Các cơ quan có thẩm quyền trong từng lĩnh vực cụ thể có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động hoặc xác nhận là DN có đủ điều kiện hoạt động trong lĩnh vực đó.
Hai là, mở rộng thủ tục đăng ký DN cho DN cho pháp luật chuyên ngành điều chỉnh. Tức là không bó hẹp quy định trong Luật DN nữa mà quy định cả trong Luật DN và cả các Luật chuyên ngành khác. Đồng thời bổ sung đầy đủ các Luật chuyên ngành vào quy định tại Điều 3 của Luật DN 2014. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn.
Ba là, thống nhất quy định về giấy chứng nhận đăng ký DN đối với các luật chuyên ngành không quy định giấy phép hoạt động đồng thời là giấy chứng nhận đăng ký DN nữa, cần phải có sự tách bạch rõ ràng về bản chất của từng loại giấy phép như quy định hiện nay của Luật Đầu tư 2014 và Luật các tổ chức tín dụng 2010. Coi việc cấp các loại giấy phép hoạt động là những hoạt động độc lập với việc đăng ký kinh doanh cho DN. Nhận thức rõ rằng việc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh là nhằm xác lập tư cách pháp nhân cho DN. Nó hoàn toàn khác với việc cho phép DN hoạt động trong một ngành nghề, lĩnh vực nào đó.
Bốn là, cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản hướng dẫn thực hiện áp dụng thống nhất về đăng ký kinh doanh đối với tất cả các ngành nghề, không để tình trạng các luật chuyên ngành lấn sân Luật DN, tạo sự chồng chéo trong việc quản lý DN.
Năm là, thực hiện thống nhất nguyên tắc: đã hoạt động kinh doanh thì trước tiên phải đăng ký kinh doanh để xác lập tư cách pháp nhân của chủ thể kinh doanh, sau đó cấp giấy phép hoạt động, cấp giấy chứng nhận đầu tư ngành nghề gì thì cấp.
Thứ hai, cần kiện toàn cơ quan đăng ký kinh doanh
Trước hết, kiện toàn đội ngũ các bộ trong các cơ quan liên quan đến việc thực thi Luật DN. Một thực tế là làm công tác quản lý cũng có nhiều bất cập về trình độ chuyên môn. Thậm chí, có những DN được cấp mã số đăng ký kinh doanh giống nhau, hoạt động nhiều năm liên tục mà không hề có vấn đề gì, đến khi kinh doanh có nhu cầu thay đổi đăng k ý kinh doanh, DN đến nộp hồ sơ thì phòng đăng ký kinh doanh mới phát hiện DN này có mã số trùng với DN khác, con dấu và mã số thuế… Những trường hợp xảy ra tương tự như thế không phải là ít. Bởi vậy, chúng ta cần có những khóa huấn luyện, đào tạo về Luật DN mới, cần phổ biến tinh thần của Luật DN nói chung và Luật DN điều chỉnh công ty TNHH một thành viên nói riêng để đảm bảo cho đội ngũ có sự nhất quán về chuyên môn, cũng như phong cách làm việc. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn.
Đồng thời, chúng ta cần trang bị phương tiện làm việc hiện đại cho các cơ quan thực thi Luật DN. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến cường độ và chất lượng công việc. Một vấn đề đang diễn ra ở nước ta đã là việc cho phép các DN tiến hành đăng k ý kinh doanh qua mạng nhưng trên thực tế ở đây có sự bất cập cả hai chiều: Thứ nhất, đội ngũ các bộ đăng ký kinh doanh chưa có thói quen làm việc qua mạng, nhận hồ sơ, xử lý hồ sơ và trả lời kết quả qua mạng; Thứ hai, trình độ dân trí vẫn cũng hạn chế nên việc hoàn tất các thủ tục đăng ký kinh doanh qua mạng là một vấn đề khó khăn. Bởi vậy, tất cả các khâu đoạn đăng ký kinh doanh đều phải giải quyết trực tiếp, dẫn đến hoạt động tại các cơ quan này đang ở trong tình trạng quá tải. Đây chính là nguyên nhân khiến các DN phải chờ đợi hoặc tiêu cực xảy ra tại các cơ quan này. Bởi thế, các cơ quan Trung ương cần tổ chức các lớp tập huấn công việc của cơ quan, dạy cách quản lý hành chính nhà nước trong thời đại mới – thời đại công nghiệp hóa thông tin.
3.2.2. Hoàn thiện quy định về tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn.
Thứ nhất, pháp luật về kiểm soát viên trong công ty TNHH một thành viên là tổ chức.
Đánh giá Luật DN 2020 cho thấy quy định về kiểm soát viên bảo đảm được tính độc lập; chưa đảm bảo có đủ năng lực, trình độ chuyên môn nghề nghiệp và nguồn lực để thực hiện chức năng và nhiệm vụ theo quy định. Ngoài ra, chưa có cơ chế để kiểm soát viên sử dụng để buộc các kiến nghị của mình được thực hiện trong trường hợp thực sự cần thiết và giám sát có hiệu quả đối với hoạt động của người quản lý công ty. Theo chúng tôi, Luật DN cần bổ sung quy định chi tiết hơn và bổ sung một số quyền cho kiểm soát viên, như: tham dự và thảo luận tại các cuộc họp của Hội đồng thành viên, cuộc họp của công ty; xem xét bất kỳ hồ sơ, tài liệu nào của công ty tại trụ sở chính hoặc chi nhánh, văn phòng đại diện của công ty.
Thứ hai, quy định về quyền biểu quyết của người có liên quan trong giao dịch tư lợi
Để đảm bảo tính khách quan, công bằng trong việc thực hiện các hợp đồng giao dịch của công ty TNHH một thành viên với những người có liên quan, khuyến nghị bổ sung quy định Điều 76 Luật DN (2020) theo hướng hạn chế quyền biểu quyết của người có liên quan trong giao dịch tư lợi để tránh trường hợp trục lợi cho riêng mình. Cụ thể, Luật DN cũng nên quy định rõ đó là khi biểu quyết thông qua các giao dịch tư lợi, người có lợi ích liên quan đến giao dịch đó phải bị loại trừ quyền biểu quyết, tránh trường hợp nếu luật không quy định rõ ràng sẽ là một lỗ hổng tạo cơ hội cho những kẻ trục lợi rút ruột công ty.
Ngoài ra, nhằm đảm bảo được lợi ích của công ty cũng như lợi ích của chủ sở hữu công ty không bị xâm hại, Luật DN nên tách bạch ba quyền quản lý, điều hành và kiểm soát trong công ty TNHH một thành viên là tổ chức để đảm bảo công ty hoạt động hiệu quả và có sự giám sát, kiểm tra. Nếu Luật DN vẫn để ngỏ trường hợp ba quyền quản lý, điều hành và kiểm soát có thể rơi vào tay một cá nhân (vừa là chủ tịch Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Kiểm soát viên) thì tài sản của chủ sở hữu rất dễ dàng bị thất thoát. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn.
Thứ ba, hạn chế đối với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc
Trong Luật DN, tại Điều 116 có quy định: “Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty không được đồng thời là giám đốc hoặc tổng giám đốc của DN khác”. Thế nhưng vấn đề hạn chế này lại không được nêu ra trong Phần Công ty TNHH một thành viên. Theo tôi nên áp dụng việc hạn chế này đối với các mô hình công ty bởi với chức năng, nhiệm vụ là người điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty thì rất khó cho việc một lúc đảm nhiệm nhiều công ty. Quy định này sẽ góp phần tránh được việc yếu kém trong quản lý điều hành của DN hay tránh việc mở, thành lập Công ty một cách tràn lan sau đó không thực hiện được việc quản lý, điều hành dẫn đến DN yếu kém, thậm chí dừng hoạt động và bỏ trốn khỏi nơi cư trú… Điển hình trên thực tế đã có một người đã từng thành lập và làm giám đốc đến 35 công ty trách nhiệm hữu hạn.
3.2.3. Hoàn thiện các quy định về vốn
Thứ nhất, về vốn điều lệ
Như đã phân tích ở trên, Nghị định 102/2010/NĐ-CP quy định thời hạn chủ sở hữu công ty phải góp đủ vốn cam kết là 36 tháng kể từ ngày cấp Giấy chứng nhận đăng ký DN là một thời gian quá dài, trong khi đó thời hạn góp vốn của công ty cổ phần với cơ cấu phức tạp hơn luật chỉ quy định 90 ngày. Thiết nghĩ, pháp luật nên đồng nhất thời hạn góp vốn theo hướng: các DN (công ty TNHH hai thành viên trở lên, công ty TNHH một thành viên, công ty cổ phần) đều phải bảo đảm và thực hiện việc góp vốn tối thiểu là 20% số vốn điều lệ ngay tại thời điểm đăng ký kinh doanh, phần còn lại có thể góp nhưng tối đa cũng không được quá 12 tháng kể từ ngày công ty được cấp giấy chứng nhận DN (ngày DN được đăng ký và ghi trên giấy chứng nhận). Thời hạn 12 tháng được đưa ra là vì đây là mốc phù hợp với kế hoạch phát triển hàng năm của các công ty. Hơn nữa đó cũng là thời hạn để xác định thực lực của công ty khi đi vào hoạt động kinh doanh, giảm bớt được những DN ảo, DN không có vốn thực.
Thứ hai, về tài sản góp vốn và định giá tài sản góp vốn Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn.
Như đã phân tích ở trên, khi góp vốn bằng quyền sử dụng đất, người góp vốn vẫn chịu thuế chuyển quyền sử dụng đất vào DN (Luật Thuế thu nhập cá nhân) bởi vậy đã ảnh hưởng đến khả năng đưa vốn và tài sản vào DN để khai thác. Thiết nghĩ, để giải quyết vướng mắc này, pháp luật nên bổ sung trong vấn đề góp vốn bằng bất động sản, khi làm thủ tục đăng ký trước bạ sang tên cho DN người góp vốn được miễn thuế và miễn lệ phí trước bạ.
Có thể thấy pháp luật hiện hành chưa tạo đủ cơ sở pháp lý điều chỉnh vấn đề định giá tài sản góp vốn. Có rất nhiều vấn đề cần có những quy định hướng dẫn bổ sung, cũng như cần có những quy định mới như: nên có văn bản hướng dẫn việc định giá cụ thể đối với một số tài sản đặc thù được sử dụng vào việc góp vốn như quyền sở hữu trí tuệ; đồng thời để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho chủ sở hữu khi góp vốn thành lập DN mà gặp khó khăn trong việc tự định giá, pháp luật nên quy định quyền được thuê tổ chức định giá chuyên nghiệp thực hiện việc định giá. Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, Chủ tịch Hội đồng thành viên hay phòng ban nghiệp vụ nào đó của công ty không thể thay mặt DN thực hiện quyền định giá mà phải do một cơ quan độc lập. Điều này có thể xóa bỏ trách nhiệm phi lý của người đại diện cho công ty trong trường hợp định giá sai.
Ngoài ra, để nâng cao hơn nữa trách nhiệm của người thực hiện việc định giá, pháp luật cần quy định cụ thể về thời điểm thực hiện trách nhiệm “đối với các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty bằng số chênh lệch giữa giá trị được định và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá” là ngày tại thời điểm phát hiện vi phạm. Khi sửa đổi theo hướng này, pháp luật DN sẽ vừa thực hiện được mục tiêu bảo vệ quyền lợi của chủ nợ, vừa đảm bảo thực hiện hiệu quả nguyên tắc “hậu kiểm”, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của nhà đầu tư.
3.2.4. Hoàn thiện quy định về nghĩa vụ người quản lý trong công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Thứ nhất, mở rộng khái niệm “người quản lý” và “người có liên quan” trong công ty.
- Về khái niệm “người quản lý”
Như đã nói ở phần đầu (định nghĩa người quản lý trong công ty TNHH một thành viên), quy định của Luật DN 2020 cho thấy người quản lý công ty được định nghĩa bằng cách liệt kê một loạt các chức danh theo luật định. Điều này trong nhiều trường hợp sẽ gây ra không ít khó khăn cho việc xác định các trách nhiệm pháp lý của họ. Bởi lẽ, hiện nay ở một số DN, có nhiều người quản lý công ty trên thực tế nhưng lại không giữ các chức danh quản lý vì nhiều lý do như không đủ tiêu chuẩn theo quy định hoặc lách luật…Trong luật thực định Việt Nam, chúng ta không có các khái niệm và phạm trù nào về Giám đốc thực tế hay Giám đốc giấu mặt, mặc dù nó đã xuất hiện từ lâu. Điều này gây ra nhiều khó khăn trong việc bảo vệ quyền lợi của Chủ sở hữu, chủ nợ và những người có liên quan. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn.
Có nhiều trường hợp nhiều người mặc dù không được chính thức bổ nhiệm vào chức vụ Giám đốc, nhưng họ lại có thể chỉ đạo và điều khiển các Giám đốc hợp pháp hành động theo ý chí của mình. Vấn đề đặt ra nếu có sai phạm thì ai sẽ là người chịu trách nhiệm, người chỉ đạo hay người thực hiện? Vấn đề này Luật DN 2020 vẫn còn bỏ ngỏ.
Do vậy Luật DN nên quy định theo hướng mở rộng khái niệm người quản lý, xác định người quản lý không chỉ căn cứ vào chức danh mà họ nắm giữ mà còn phải dựa vào chức năng mà người đó thực hiện. Song cũng phải xét đến khía cạnh không phải tất cả những ai đưa ra lời khuyên có tác động tới hành động của Giám đốc hợp pháp đều bị coi là Giám đốc giấu mặt.
- Về vấn đề “người có liên quan”
Luật DN xác định “người có liên quan” (Khoản 23 Điều 4) nhằm ngăn ngừa và giám sát các giao dịch tư lợi, đảm bảo các giao dịch đó được thực hiện công bằng và không gây tổn hại cho lợi ích của công ty và chủ sở hữu. Tuy nhiên, thực tế cho thấy các giao dịch tư lợi với những người có liên quan xảy ra là không ít, nhất là trong khu vực kinh tế Nhà nước và các DN cổ phần hoá. Liên quan đến nội dung này, chúng ta cũng nhận thấy được hạn chế của Luật DN khi không có các thiết chế, chế tài điều chỉnh về vấn đề đại diện, vẫn có nhiều đại diện quản lý phần vốn góp của các DN Nhà nước có thể làm đại diện ở rất nhiều công ty khác với nhiều lợi ích không thể kiểm soát được…cần phải có sự định nghĩa thống nhất về “người có liên quan” trong các văn bản pháp luật thực định (Luật DN, luật chứng khoán và các văn bản hướng dẫn thi hành) đồng thời phải được áp dụng thống nhất không có sự phân biệt khu vực DN tư doanh hay các DN nhà nước, đơn giản hoá cách viết, dễ hiểu, dễ thực hiện.
Để chống xung đột về lợi ích, cần mở rộng khái niệm về các đối tượng có liên quan. Theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS (Điều 24, Khoản 9, IAS) các định nghĩa về “người liên quan” rộng hơn so với quy định của Luật DN 2014. Theo đó, cần mở rộng các đối tượng có liên quan như: con dâu, con rể, bố vợ (chồng), mẹ vợ (chồng), anh (em) rể, chị (em) dâu và nhiều cán bộ công chức trong bộ máy quản lý Nhà nước là những bộ, ban, ngành đại diện quyền sở hữu Nhà nước cùng những người có liên quan của họ. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn.
Thứ hai, hoàn thiện quy định về quyền biểu quyết của người có liên quan trong giao dịch tư lợi.
Một vấn đề Luật DN hiện hành còn chưa quy định đó là khi biểu quyết thông qua các giao dịch tư lợi thì người có liên quan đến giao dịch đó phải bị loại trừ quyền biểu quyết. Tuy nhiên, Luật DN 2014 quy định về công ty TNHH một thành viên là tổ chức lại bỏ qua vấn đề này. Để đảm bảo tính khách quan, công bằng trong việc thực hiện các hợp đồng, giao dịch của công ty TNHH một thành viên với những người có liên quan, đề nghị bổ sung quy định Luật DN 2020 theo hướng hạn chế quyền biểu quyết của người có liên quan trong các giao dịch tư lợi để tránh trường hợp trục lợi cho riêng mình. Nếu vấn đề này không được khắc phục thì sẽ là một lỗ hổng tạo cơ hội cho các giao dịch tư lợi của những người nắm quyền quản lý, điều hành công ty, ảnh hưởng đến lợi ích của công ty và chủ sở hữu công ty.
Thứ ba, hoàn thiện các quy định về công khai thông tin trong công ty TNHH một thành viên.
Một trong những nguyên nhân của tình trạng tham nhũng xảy ra đối với các công ty TNHH môt thành viên đặc biệt là các công ty 100% vốn nhà nước đó là tình trạng minh bạch thông tin chưa được thực hiện một cách nghiêm túc. Chất lượng thông tin cũng là một vấn đề rất quan trọng quyết định chất lượng của việc công khai thông tin. Pháp luật cần phải có các quy định thống nhất về các nội dung và tiêu chuẩn công khai sao cho các thông tin khi được công khai phải đầy đủ và chính xác. Trước thực trạng thông tin đưa ra không rõ ràng chính xác đã dẫn đến sự mất cân đối giữa chất lượng và số lượng thông tin giữa chủ sở hữu và những người quản lý điều hành, công ty. Không ai hiểu DN hơn các nhà quản trị. Thông tin “tay trong” dễ dàng có thể biến thành tiền có lợi cho cá nhân và gia đình họ. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn.
Luật DN hiện hành và các văn bản pháp luật liên quan nên có những quy định liên quan đến vấn đề công bố thông tin theo hướng:
Nâng cao chất lượng thông tin bằng cách gắn trách nhiệm với những thông tin được công bố. Chỉ có quy định trách nhiệm cụ thể đối với từng bộ phận, cá nhân mới khiến họ làm việc tận tâm và trung thực, tránh tình trạng quy định chung chung chỉ mang tính hình thức thì sẽ không gây ra sức ép buộc những vị lãnh đạo trong công ty làm việc một cách công tâm và trung thực.. Đối với các DN do Nhà nước làm chủ sở hữu thì các báo cáo về tình hình hoạt động hàng năm và báo cáo về tài chính của DN cần phải được kiểm toán. Người đại diện theo pháp luật của DN phải chịu trách nhiệm vể tính chính xác trung thực và đầy đủ của thông tin được công bố. Việc kiểm toán phải được thực bởi một tổ chức kiểm toán độc lập, có năng lực và có chất lượng.
Cần công khai hóa những đánh giá, dự báo của HĐTV( Chủ tịch công ty) về tiềm năng phát triển, và nhất là các rủi ro có thể xảy đến với công ty và mức độ của những rủi ro đó. Các quy định về công bố thông tin liên quan đến xung đột lợi ích cần phải được củng cố, chẳng hạn việc quy định công bố thông tin về giao dịch với các bên liên quan cần phải chặt chẽ hơn và có sự thống nhất giữa các quy định khác nhau.
3.3 Các giải pháp hoàn thiện cơ cấu tổ chức tại VNPT
Luật DN xác định “người có liên quan” (Khoản 17 Điều 4) nhằm ngăn ngừa và giám sát các giao dịch tư lợi, đảm bảo các giao dịch đó được thực hiện công bằng và không gây tổn hại cho lợi ích của công ty và chủ sở hữu. Liên quan đến nội dung này, chúng ta cũng nhận thấy được hạn chế của Luật DN khi không có các thiết chế, chế tài điều chỉnh về vấn đề đại diện. Về vấn đề “người có liên quan”, cũng tương tự như việc tối ưu mô hình tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động với loại hình doanh nghiệp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên nói chung. VNPT đã và đang hoàn thiện.
Để chống xung đột về lợi ích, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên-Tập đoàn VNPT cần nghiên cứu thực hiện tham khảo, áp dụng các chuẩn mực kế toán quốc tế IAS (Điều 24, Khoản 9, IAS) các định nghĩa về “người liên quan” rộng hơn so với quy định của Luật DN 2014. Theo đó, đã mở rộng các đối tượng có liên quan như: con dâu, con rể, bố vợ (chồng), mẹ vợ (chồng), anh (em) rể, chị (em) dâu và nhiều cán bộ công chức trong bộ máy quản lý Nhà nước là những bộ, ban, ngành đại diện quyền sở hữu Nhà nước cùng những người có liên quan của họ.
VNPT đã hoàn thiện các quy định về công khai thông tin trong công ty TNHH một thành viên. Tuy nhiên, đây là một trong những nguyên nhân của tình trạng tham nhũng xảy ra đối với các công ty TNHH môt thành viên đặc biệt là các công ty 100% vốn nhà nước đó là tình trạng minh bạch thông tin chưa được thực hiện một cách nghiêm túc. Chất lượng thông tin cũng là một vấn đề rất quan trọng quyết định chất lượng của việc công khai thông tin. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng thông tin bằng cách gắn trách nhiệm với những thông tin được công bố. Quy định trách nhiệm cụ thể đối với từng bộ phận, cá nhân tránh tình trạng quy định chung chung chỉ mang tính hình thức thì sẽ không gây ra sức ép buộc những vị lãnh đạo trong công ty làm việc một cách công tâm và trung thực. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn.
VNPT công khai hóa những đánh giá, dự báo của HĐTV( Chủ tịch công ty) về tiềm năng phát triển, và nhất là các rủi ro có thể xảy đến với công ty và mức độ của những rủi ro đó.
Mô hình tổ chức của VNPT còn cồng kềnh, VNPT có nhiều tổng công ty con, tổng công ty con có nhiều chi nhánh , tất cả 63 tỉnh thành đều có các chi nhánh của các tổng công ty. Mối quan hệ giữa công ty mẹ, công ty con được thể hiện ra một số nét sau:
Một là: Tùy thuộc vào loại hình pháp lý của công ty con, công ty mẹ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình với tư cách là thành viên, chủ sở hữu hoặc cổ đông trong quan hệ với công ty con.
Hai là: Vì cả công ty mẹ và công ty con đều có tư cách pháp nhân nên quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con được thiết lập chủ yếu thông qua hợp đồng và các giao dịch khác.
Ba là: Trường hợp công ty mẹ can thiệp ngoài thẩm quyền của chủ sở hữu, thành viên hoặc cổ đông buộc công ty con phải thực hiện hoạt động kinh doanh trái với thông lệ kinh doanh bình thường hoặc thực hiện hoạt động kinh doanh gây thiệt hại cho công ty con thì công ty mẹ phải chịu trách nhiệm.
Tháng 5/2015, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) đã tổ chức buổi Lễ công bố các quyết định thành lập 3 Tổng công ty Theo Tập đoàn VNPT, theo Quyết định số 888/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án tái cơ cấu Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT). Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn.
Theo đó, Công ty hạ tầng mạng (VNPT Net) là Tổng ty hạch toán phụ thuộc và 2 Tổng công ty con hạch toán độc lập là Tổng Công ty TNHH MTV Dịch vụ viễn thông (VNPT Vinaphone) và Tổng Công ty TNHH MTV Truyền thông (VNPT Media).
Với mô hình tổ chức hiện tại của VNPT, Nhà nước vừa đóng vai trò là chủ sở hữu vừa đóng vai trò là cơ quan quản lý đối với các doanh nghiệp này. Kinh nghiệm ở một số nước có nền kinh tế chuyển đổi cho thấy, đã có rất nhiều nỗ lực để tách bạch hai chức năng này của Nhà nước. Ở Hungary, từ năm 1990, quyền chủ sở hữu của Nhà nước đối với toàn bộ doanh nghiệp nhà nước đã được chuyển từ các bộ của Chính phủ cho cơ quan quản lý tài sản nhà nước (State Property Agency). Malayxia đã thực hiện một số đổi mới như công ty hóa, thuê những vị đại diện từ bên ngoài không thuộc cơ quan nhà nước, vào các vị trí thành viên Hội đồng quản trị hoặc các vị trí quản lý cao cấp khác v.v…
Thực tế hiện tại, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên VNPT, vai trò quản lý của chủ sở hữu và quản lý Nhà nước không có sự phân biệt rạch ròi, Chính phủ là đại diện chủ sở hữu, giao Ủy ban quản lý vốn Nhà nước, thay mặt toàn dân quản lý tài sản của doanh nghiệp, đồng thời lại là người quản lý nhà nước, đưa ra những quy định về luật thông qua hệ thống pháp lý. Điều này đẩy Nhà nước vào nhiều tình huống khó xử. Đơn cử khi nội bộ doanh nghiệp có tranh chấp phát sinh, với tư cách chủ sở hữu tài sản, chính quyền phải lo hòa giải, can thiệp. Tuy nhiên, chức năng hòa giải và sự can thiệp hành chính nhà nước nhiều khi không có sự phân biệt. Nếu không cẩn thận, Nhà nước sẽ vi phạm chính luật chơi đã được vạch ra, vi phạm quyền tự chủ của doanh nghiệp, đã được quy định tại Nghị định 132/2005/NĐ-CP về thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà nước đối với công ty nhà nước. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn.
Với ba tổng công ty, cả ba đều có đầy đủ chi nhánh hoạt động tại 63 tỉnh thành trên cả nước theo ngành dọc, lộ rõ bất cập về việc thông nhất cung cấp một đầu mối dịch vụ Viễn thông cho khách hàng. Vì nếu là khách hàng, thì chỉ cần quan tâm đến duy nhất một nhà cung cấp, một đầu mối cung cấp dịch vụ để dễ dàng và đơn giản hóa việc sử dụng dịch vụ.
Việc này dẫn đến việc không tối ưu được bộ máy nhân sự, số lượng cán bộ nhân viên làm việc trung gian nhiều, giảm năng suất lao động, gây khó khăn cho việc cạnh tranh nội bộ của ngành Dịch vụ Viễn thông.
Giải pháp đưa ra là có duy nhất một đầu mối đại diện tại một tỉnh thành, quy tụ tất cả các tác nghiệp, nội dung cung cấp dịch vụ cho khách hàng về một đầu mối, một nhân viên tiếp cận chăm sóc và tư vấn dịch vụ cho khách hàng. Điều này sẽ phải yêu cầu một cuộc cải tổ thực sự, một sự cơ cấu lại bộ máy tổ chức của VNPT tại các tỉnh thành phố, dẫn đến thay đổi cơ bản mô hình công ty mẹ và các tổng công ty con của VNPT, nhằm đến mục tiêu cuối cùng là mang đến sự thỏa mãn, hài long của khách hàng khi sử dụng dịch vụ Viễn thông CNTT của VNPT.
KẾT LUẬN Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn.
Hiện nay Việt Nam đang trong quá trình đổi mới và hội nhập kinh tế toàn cầu, có thể nhận thấy không một quốc gia nào có thể phát triển một cách biệt lập và nằm ngoài guồng máy của sự phát triển. Tất cả các nước đều tham gia vào nền kinh tế thế giới và liên hệ với nhau thông qua hoạt động thương mại và tài chính, trong đó, sự đóng góp của cộng đồng doanh nghiệp là rất quan trọng.
Đối với công ty TNHH một thành viên, để loại hình công ty này có thể phát triển mạnh mẽ và phù hợp hơn với môi trường kinh doanh tại Việt Nam trong thời gian tới, Nhà nước nên có quy định lại ngành nghề, định mức vốn điều lệ để hạn chế rủi ro cho khách hàng, chủ nợ của công ty TNHH một thành viên (trong trường hợp công ty không có khả năng thanh toán và chỉ chịu TNHH trên vốn góp). Bên cạnh đó, cần có những quy định pháp luật kinh tế cho phép chuyển đổi từ công ty TNHH một thành viên thành các loại hình khác thuộc sự điều chỉnh của Luật Doanh nghiệp, đồng thời, đơn giản hóa các thủ tục phát hành trái phiếu của loại hình doanh nghiệp này nhằm phát huy khả năng huy động vốn khi cần mở rộng sản xuất kinh doanh của công ty.
Tóm lại, công ty TNHH một thành viên là một loại hình doanh nghiệp tồn tại trong cộng đồng DN ở Việt Nam. Việc ghi nhận công ty TNHH một thành viên trong Luật Doanh nghiệp năm 1999 đến Luật Doanh nghiệp năm 2020 là một sự đổi mới các quy định pháp lý phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội của Việt Nam hiện nay. Để tạo điều kiện về mặt pháp lý cho các nhà kinh doanh đầu tư làm ăn lâu dài, nhà làm luật cần mở rộng đối tượng điều chỉnh của công ty TNHH một thành viên và tạo ra cơ chế hoạt động phù hợp. Từ đó, các nhà đầu tư có đầy đủ các yếu tố cần thiết để thực hiện quyền tự do kinh doanh của mình, phát huy thế mạnh cũng như bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nhân hoặc tổ chức khi thành lập công ty. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Pháp luật Việt Nam về công ty trách nhiệm hữu hạn

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về công ty trách nhiệm hữu hạn […]