Luận văn: Thực trạng phát triển Du lịch sinh thái đảo Quan Lạn

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng phát triển Du lịch sinh thái đảo Quan Lạn hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Đặc điểm địa lý, tài nguyên đảo Quan Lạn phục vụ phát triển Du lịch sinh thái dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Vị trí địa lý

Đảo Quan Lạn là một đảo thuộc chuỗi đảo vành ngoài vịnh Bái Tử Long, có dạng hẹp kéo dài theo hướng Đông Bắc – Tây Nam tới hàng chục km. Quan Lạn nằm trong tọa độ từ 20o40’ đến 20o12’ độ vĩ bắc và 107o27’ đến 107o33’độ kinh đông.

  • Phía bắc giáp đảo Ba Mùn
  • Phía đông giáp đảo Trà Bản
  • Phía nam giáp đảo Phượng Hoàng.

Đảo có tổng diện tích tự nhiên tương đối lớn là 24.142km2, với 2 xã thuộc huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, đó là xã Quan Lạn và xã Minh Châu.

Đảo Quan Lạn được nối với đảo Cái Bầu thông qua cảng Cái Rồng, và kết nối trực tiếp với thành phố Hạ Long – trung tâm của tỉnh Quảng Ninh, thông qua tầu cao tốc. Thuận lợi cho các hoạt động du lịch, vận chuyển du khách ra đảo thăm quan, nghỉ dưỡng.

Quan Lạn nằm sát cạnh phía Đông đảo khá lớn Trà Bản (76,46km2) với  khoảng cách nơi gần nhất qua sông Mang khoảng 600m, nên còn có thể liên kết chặt chẽ với đảo này (có thể thông qua cầu nối đảo) để cùng phát triển Du lịch sinh thái.

Quan Lạn có vị trí tiếp giáp trực tiếp với vùng biển thoáng rộng suốt dọc 19 km sườn phía Đông của đảo, nơi thường có sóng lớn, với không khí trong lành, là điều kiện rất thuận lợi cho xây dựng nhiều khu du lịch nghỉ  dưỡng , cùng với các loại hình du lịch thể thao, mạo hiểm. Bên cạnh đó Đảo Quan Lạn trong  một giai đoạn dài của lịch sử nhiều thế kỷ (Lý – Trần – Lê) đã là một thành phần quan trọng của thương cảng Vân Đồn; nay đã 865 tuổi chính nhờ vị trí địa lý cũng như vai trò che chắn sóng gió của nó cho vùng biển Quan Lạn và Sông Mang bên trong. Và nhờ ưu thế đó đã có thể tạo lập được các bến cảng kín gió cũng như các kho bãi trên một loạt các đảo trong vùng, trong đó có bến Cái Làng và bến Cống Cái.

Hình 2. 1: Bản Đồ Hành Chính Đảo Quan Lạn

Ngày nay Quan Lạn vẫn còn lưu trữ rất nhiều di chỉ khảo cổ qua các thời kì, đặc biệt là khu vực thương cảng cổ Vân Đồn, chưa kể tại đây còn có Khu đình-chùa-miếu-nghè được công nhận là cụm Di tích lịch sử và kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia, nơi thờ vua Lý Anh Tông , tướng Trần Khánh Dư và những người có công với nước, cùng với các khu làng mạc trên đảo biển khá xa bờ, là những đối tượng  cho du lịch nhân văn. Luận văn: Thực trạng phát triển Du lịch sinh thái đảo Quan Lạn.

Do vị trí gần với ngư trường trung tâm vịnh Bắc Bộ, đảo Quan Lạn một mặt có điều kiện thuận lợi cho phát triển ngư nghiệp đánh bắt và nuôi trồng hải sản, đồng thời còn có khả năng tổ chức các dịch vụ hậu cần nghề cá , như cung cấp xăng dầu, thực phẩm, thu mua hải sản, làm nơi tránh gió bão, v.v.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên

2.2.1. Điều kiện tự nhiên

2.2.1.1. Đặc điểm đia hình

Đối với hoạt động du lịch nói chung và đặc biệt là du lịch sinh thái, điều quan trong nhất là đặc điểm hình thái địa hình, nghĩa là các dấu hiệu bên ngoài của địa hình và các dạng đặc biệt của địa hình có sức hấp dẫn với hoạt động du lịch.

Địa hình của Quan Lạn khá đa dạng có rừng, có biển, có đồi núi thấp, đảo đá vôi và một phần nhỏ diện tích có kiểu địa hình đồng bằng ven biển với độ cao trung bình 40m so với mực nước biển. Chính những kiểu địa hình ấy đã tạo cho cảnh quan thiên nhiên Quan Lạn có những nét đặc trưng hấp dẫn riêng biệt.

Bảng 2. 2: Một số cảnh quan tiêu biểu ở đảo Quan Lạn 

2.2.1.2. Khí hậu

Khí hậu là thành phần quan trọng của tự nhiên đối với hoạt động du lịch. Nhìn chung những nơi có khí hậu điều hòa thường được khách du lịch ưu thích. Tuy nhiên, với mỗi loại hình du lịch lại đòi hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau. Đối với du khách nghỉ biển, đòi hỏi môi trường thời tiết nắng ấm, có số ngày mưa ít tại nơi du lịch, số giờ nắng trung bình trong ngày cao để có thể tắm biển được lâu hơn…Theo các nghiên cứu về chỉ tiêu khí hậu phục vụ du lịch cho thấy nhiệt độ thích hợp đối với con người là 18-26oC, độ ẩm 30-60%, tốc độ gió 0,1-0,2m. Đặc biệt đối với người Việt Nam, chế độ khí hậu mùa hè thích hợp nhất là 27-29oC Đảo có chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh mang tính chất khí hậu hải dương. Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 230C dao động từ 15 – 280C. Là vùng hải đảo ven bờ biển Đông Bắc nên gió mùa đông bắc ở Quan Lạn khá lạnh, nhiệt độ trung bình thấp nhất 12,50C, nhiệt độ buổi tối thấp tuyệt đối là 60C. Bù lại đảo có mùa hè khá mát mẻ.

Lượng mưa trung bình hàng năm ở mức 2625,8mm, năm cao nhất lên đến 3640 mm. Lượng mưa phân bố không đồng đều trong năm và được chia làm hai mùa:

Mùa mưa nhiều thường tập trung từ tháng 5 đến tháng 1, chiếm 75 – 80 % tổn lượng mưa cả năm, cao nhất là tháng 6 và tháng 7 đạt khoản 650,7mm. Luận văn: Thực trạng phát triển Du lịch sinh thái đảo Quan Lạn.

Mùa mưa ít thường từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau chiếm 20 – 25% tổng lượng mưa cả năm, tháng ít nhất là tháng 12 và tháng 1 khoảng 15,7 – 25,3mm.

Hàng năm có từ 3-5 cơn bão ảnh hưởng đến đảo Quan Lạn gây mưa lớn, lũ lụt ở vùng núi và ven sông, gây thiệt hại về hoa màu, cơ sở hạ tầng, ảnh hưởng đến các hoạt động du lịch.

2.2.1.3. Thủy, hải văn

Hệ thống sông suối: trên đảo hệ thống sông suối ngắn, dốc. Đảo Quan Lạn có địa hình hẹp nên chỉ hình thành các dòng chảy tạm thời. Mạng lưới suối kém phát triển, mật độ trung bình là 0,32km/km2. Hàng năm trên đảo nhận được tổng lượng mưa là 31,2 triệu m3 nước, sinh ra lượng dòng chảy là 10,7 triệu m3 tương ứng với hệ số dòng chảy là 0,34.

Hệ thống hồ: trên đảo Quan Lạn có 3 hồ nước nhạt được đắp chặn các khe suối để lấy nước ăn uống, sinh hoạt và trồng trọt:

Hồ Thái Hoà: nằm trên địa phận xã Quan Lạn, thuộc eo núi sườn Tây Bắc núi Thái Hoà. Hồ có chiều dài 180m đến 190m, rộng 50m đến 100m, dung tích hồ hiện tại vào khoảng 10.000m3. Độ sâu hiện tại của hồ Thái Hoà 7m đến 8m. Nước hồ trong không mùi, vị nhạt. Hồ Thái Hoà dùng chứa nước tưới cho cánh đồng lúa phía Tây Nam Thái Hoà. Hệ thống mương tưới đã được bê tông hoá dài gần 100m. Nguồn cung cấp cho hồ chủ yếu là nước mưa. Về mùa khô nước hồ bị cạn chỉ còn đọng ít nước giữa hồ, sâu từ 0,4m đến 0,5m.

Hồ Minh Châu (hồ Chươn Sam): nằm tại địa bàn xã Minh Châu, dung tích hồ hiện tại vào khoảng 5.000m3 nhưng về mùa mưa nước mặt cấp nhiều dung tích hồ tăng lên gấp 3-4 lần. Nguồn cung cấp cho hồ chủ yếu là nước mưa.

Hồ nước nhỏ: có hình dạng tương đối tròn, đường kính 15m sâu 1m đến 2m.Về mùa khô nước trong hồ cạn hết hoặc còn rất ít nước. Nước hồ trong, mát, không màu, không mùi, vị nhạt.

Bảng 2. 3: Diện tích, chiều sâu, dung tích, độ khoáng hóa của các hồ nước trên đảo Quan Lạn

TT Tên hồ Diện tích (m2) Chiều sâu (m) Dung tích (m3) Độ tổng khoáng hóa (g/l)
1 Hồ Thái Hòa 10.000 5 50.000 0,11
2 Hồ Minh Châu 5.000 4 20.000 0,098
3 Hồ nhỏ 200 1,5 300 0,126
Tổng cộng 70.300

Nguồn: Hồ Đảo – Uông Đình Khanh[18] Luận văn: Thực trạng phát triển Du lịch sinh thái đảo Quan Lạn.

Chế độ nước: mùa lũ trên đảo trùng với mùa mưa, nước chảy tràn các khe suối tạo nên các dòng chảy tạm thời, xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 12. Mùa kiệt từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau là thời kỳ ít nước của đảo, suối cạn kiệt không có nước, nguồn cung cấp nước chủ yếu là nước ngầm.

Chế độ triều: vùng biển quanh đảo có chế độ nhật triều thuần nhất. Biên độ dao động trên 3m: triều lớn nhất 4,59m, triều nhỏ nhất 1,8m. Triều mạnh trong năm rơi vào các tháng 1, 6, 7, 12 và yếu vào các tháng 3, 4, 8, 9.

2.2.1.4. Đất và lớp phủ thổ nhưỡng

Tổng diện tích đất tự nhiên của Quan Lạn là 2414 ha.

  • Do tính đa dạng của nền địa chất và địa hình kết hợp với điều kiện khí hậu tạo cho nơi đây nhiều loại đất có những đặc điểm khác nhau:
  • Đất đỏ vàng tầng mỏng trên các đỉnh đồi phiến sét phân bố hạn chế trên các gờ đỉnh ở phần trung tâm đảo.
  • Đất đỏ vàng tầng mỏng và trung bình trên các sườn dốc đứng phía Đông Bắc đảo.
  • Đất đỏ vàng tầng trung bình và dày trên các sườn dốc trung bình, đất được bảo tồn tương đối tốt, ít đá lẫn.
  • Đất đỏ vàng tầng dày trên các sườn dốc thoải, phân bố rất hạn chế ở các sườn thấp nằm rải rác ở phần sườn rìa đảo.
  • Đất dốc tụ trên đá phiến sét phân bố hạn chế trong các thung lũng, chân sườn đồi.
  • Đất cát xen lẫn đất dốc tụ phân bố rải rác thường tiếp xúc với các nón phóng vật ở cửa các thung lũng suối cạn.
  • Đất cát trắng vàng phân bố trên các mặt thềm tích tụ bậc 1, thường cao 2-3m
  • Bãi bãi ngập triều chu kỳ
  • Bãi bùn cát ngập triều thường xuyên, thành phần chủ yếu là bùn cát, đôi nơi phủ trên các bãi đá.
  • Đất xói mòn trơ sỏi đá, phân bố chủ yếu ở phía Nam đảo.

Đặc điểm chung:

  • Đất nông: bề dày của các lớp đất kể trên thường không lớn, từ vài chục đến trên 1m, trừ các thành tạo cát thủy tinh có bề dày tới 9.5m.
  • Độ bạc màu, phì nhiêu: đất mặn sú vẹt và đất dốc tụ thường có các chỉ tiêu độ phì nhiêu lớn, tích đất cát và đất feralit.
  • Xói mòn: hiện tượng xói mòn xảy ra mạnh mẽ đối với đất feralit, đặc biệt trên các sườn đồi nứt nghèo lớp thực vật.

2.2.1.5. Sinh vật trên đảo.

  • Thảm thực vật:

Hệ thực vật có 785 loài trong 146 họ thuộc 5 nghành thực vật bậc cao có mạch; trong số 785 loài có 502 loài tự nhiên, 4 loài cây trồng mọc hoang không sử dựng trong trồng trọt, 18 loài vừa có mặt trong tự nhiên và trồng trọt, 261 loài cây trồng lâu đời hay nhập nội. Luận văn: Thực trạng phát triển Du lịch sinh thái đảo Quan Lạn.

Thảm thực vật tự nhiên trên đất ngập triều có rừng, trảng cây bụi trên đồi núi đất; rừng, trảng cỏ trên bãi cát; trên đất ngập triều có rừng ngập mặn, trảng cây bụi cỏ chịu ngập nước lợ hay mặn. Thảm thực vật có rừng trồng trên đồi núi và cát ven biển, các quần xã cây trồng nông nghiệp trong các thung lũng bằng phẳng. Rừng trên đồi núi là kiểu rừng kín cây lá rộng thường xanh nhiệt đới ẩm, chỉ còn có các mảng nhỏ, phân bố ở phần cao của đồi, ở tình trạng bị khai thác mạnh và thường xuyên.

Độ che phủ hiện tại của đảo là 42% Trên đảo có sự xuất hiện của hệ sinh thái rừng ngập mặn với quy mô khoảng 30 ha, thuộc địa bàn xã Quan Lạn có vai trò điều hóa khí hậu, bảo vệ cảnh quan ven bờ, chống xói mòn và hạn chế ảnh hưởng của các cơn bão lên đảo.

  • Động vật hoang dã:

Các giống loài chính: nai, lợn rừng, khỉ, sóc, chuột, dơi…đang dần trở nên khan hiếm do bị săn bắn nhiều.

  • Sinh vật vùng biển ven đảo:

Khoảng 10 loài thực vật ngập mặn; 20 loài rong biển; 25 loài giun nhiều tơ; 140 loài thân mềm; 22 loài giáp xác; 15 loài da gai.

Có 2 hệ sinh thái tiêu biểu:

  • Hệ sinh thái bãi triều: chiếm phần diện tích đáng kể ven đảo, trong đó nguồn lợi sá sùng có sản lượng đáng kể mang giá trị kinh tế cao, ngoài ra còn một số loài động vật thân mềm như hầu, sò, ốc, cua, tù hài…
  • Hệ sinh thái rừng ngập mặn: cỏ biển,…chủ yếu ở bờ tây bờ đông, và tại một số eo vũng. Tuy có nhiều nỗ lực bảo vệ, nhưng thực trạng thảm thực vật ngập mặn mới chỉ là các cây nhỏ, cao dưới 2,5m.

2.2.1.6. Khoáng sản

  • Khi nói đến đảo Quan Lạn là nói đến mỏ cát Vân Hải nổi tiếng về chất lượng sản xuất thủy tinh cao cấp, cũng như trữ lượng lớn (trên 5,5 triệu tấn) đã được biết đến và khai thác từ thời Pháp – Nhật. Chính điều này đã đưa địa danh Quan Lạn vào bản đồ thế giới từ những năm thời kì Pháp thuộc. Do đó, Quan Lạn đã trở thành điểm đến quen thuộc của du khách trên thế giới, đặt biệt là các nước châu Âu.
  • Cùng với nguồn cát phong phú đó do đá kết của vùng đảo bị phong hóa hóa học trong điều kiện nhiệt đới, bị phá hủy bóc mòn, rồi do mưa gió và biển di chuyển, sàng lọc và tích tụ mà tạo thành các bãi tắm tuyệt đẹp với cát trắng mịn và nước biển trong xanh như: Minh Châu, Quan Lạn và Sơn Hào…

2.2. Tài nguyên du lịch tự nhiên Luận văn: Thực trạng phát triển Du lịch sinh thái đảo Quan Lạn.

Các điều kiện tự nhiên của đảo Quan Lạn đã tạo cho nơi đây một nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên khá phong phú và hấp dẫn với các loại hình có thể khai thác như: du lịch tham quan, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, khám phá… Đáng chú ý trong số đó phải kể đến các địa điểm sau:

  • Các bãi tắm tự nhiên: Minh Châu, Cồn Khơi, Sơn Hào, Quan Lạn nằm dọc theo chiều dài đảo, mỗi bãi tắm mang một nét tự nhiên riêng biệt nhưng đều có chung đặc điểm là đẹp hoang sơ, chưa bị tác động nhiều của các yếu tố nhân tạo. Trong số các bãi tắm này, có bãi tắm Minh Châu từng lọt vào danh sách 10 bãi biển đẹp nhất Việt Nam.
  • Trung tâm bảo tồn VQG Bái Tử Long: Trung tâm bảo tồn VQG Bái Tử Long được thành lập năm 2010, thuộc vùng đệm của VQG Bái Tử Long, nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản vịnh Bái Tử Long và phụ trách các hoạt động giáo dục, bảo vệ môi trường.
  • Bãi Rùa Đẻ: Nằm ở gần cực Bắc của đảo Quan Lạn, không chỉ là nơi bảo tồn thiên nhiên, mà còn có thể đưa vào phục vụ du lịch sinh thái, cho du khách thăm quan, ngắm cảnh.
  • Bãi Sá Sùng: Nằm ở phía Tây đảo Quan Lạn, thường được người dân địa phương khai thác để phục vụ nhu cầu ăn uống hàng ngày cũng như bán cho khách du lịch. Đây là loài hải sản có giá trị cao, đem lại hiệu quả kinh tế cho đảo.
  • Hệ sinh thái rừng Trâm: Nằm trên địa bàn xã Minh Châu, có với độ thuần chủng cao trên 90%, được đánh giá là rừng Trâm lớn nhất Việt Nam với diện tích 14 ha. Địa điểm này có thể trở thành nơi tham quan, học tập, sinh hoạt cho học sinh trong các chuyến du lịch cắm trại.
  • Eo gió Gót Beo: Eo gió cách trung tâm xã đảo Quan Lạn 10km, là một đỉnh núi hướng thẳng ra biển. Nơi đây vẫn giữ nguyên vẹn vẻ hoang sơ, bình yên hùng vĩ mà tạo hóa ban tặng cho đảo. Tuy nhiên đường đến eo gió chưa được tu sửa nên rất gập ghềnh, khó di chuyển.
  • Ngoài ra, dưới tác động của biển cả, trên bờ đảo Quan Lạn đã hình thành nhiều mũi đá, vách đá, hang động cảnh quan hấp dẫn thu hút khách du lịch như: bãi Đá Trời, cồn Chân Tiên, hang Bà Sáng, hang Vòi Voi.

Hình 2. 2: Bản đồ tài nguyên du lịch tự nhiên đảo Quan Lạn

Nhìn chung tài nguyên du lịch tự nhiên của Quan Lạn khá phong phú, hấp dẫn. Tuy nhiên để có thể trở thành các điểm du lịch hấp dẫn khách du lịch và mang lại doanh thu cao đóng góp vào kinh tế cho người dân trên đảo cần phải có sự đầu tư và quan tâm đúng mức của các cấp chính quyền, đặc biệt là về cơ sở hạ tầng và giao thông để tăng khả năng tiếp cận cho du khách.

2.3. Điều kiện kinh tế – xã hội và tài nguyên du lịch nhân văn Luận văn: Thực trạng phát triển Du lịch sinh thái đảo Quan Lạn.

2.3.1. Điều kiện kinh tế – xã hội

2.3.1.1. Dân cư

  • Dân số:

Hiện nay toàn đảo có khoảng 4513 người sinh sống trên địa bàn 2 xã Quan Lạn và Minh Châu. Trong đó, xã Quan Lạn có 7 thôn (Thái Hòa, Đông Nam, Đoài, Bắc, Tân Phong, Yến Hải, Sơn Hào) với số dân là 3313 người; xã Minh Châu có 4 thôn (Quang Trung, Ninh Hải, Nam Hải, Tiền Hải) với số dân là 1200 người.

  • Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên của đảo: 2.23%/năm.
  • Dân tộc:

Toàn đảo có 9 dân tộc anh em sinh sống gồm: Kinh, Hoa, Tày, Sán Dìu, Sán Chỉ, Mường, Cao Lan, Nùng, Dao. Trong đó chủ yếu là dân tộc Kinh có 4428 người, chiếm 98,12% dân số; dân tộc khác có 85 người, chiếm 1,88% dân số.

  • Lao động:

Số lao động trong độ tuổi trên đảo Quan Lạn là 2371 người.

Nhìn vào cơ cấu lao động trên hình 2.2 ta thấy: số lao động tham gia vào sản xuất nông- lâm- ngư nghiệp chiếm 87%; thương mại, dịch vụ chiếm 12,5%; các ngành nghề khác là ,5%.

Tỷ lệ lao động được đào tạo là: 426 người chiếm 17,97%, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo là: 1945 người chiếm 72,03%. Nhìn chung, chất lượng và trình độ lao động được chuyên môn hóa trên đảo còn thấp, số lượng lao động chiếm 52,5% tổng số người, nhưng số đã qua đào tạo mới chỉ chiếm tỷ lệ 17,97% trong lực lượng lao động toàn đảo.

2.3.1.2. Văn hóa – xã hội Giáo dục:

Bảng 2. 4: Số lượng các cở sở giáo dục trên địa bàn đảo Quan Lạn

Cơ sở Số lượng Số phòng học Số lượng giáo viên
Trường liên cấp II-III 1 10 34
Trường tiểu học 1 08 37
Trường liên cấp I-II 1 10 20
Trường mầm non 2 10 18

Ngoài ra trên đảo hiện có 2 trung tâm học tập cộng đồng đã đi vào hoạt động nhưng chưa có trụ sở nên phải mượn phòng của trụ sở UBND xã Quan Lạn và Minh Châu. Luận văn: Thực trạng phát triển Du lịch sinh thái đảo Quan Lạn.

  • Y tế:

Các chương trình mục tiêu y tế được thực hiện có hiệu quả, công tác phòng chống dịch bệnh được quan tâm không để dịch bệnh lớn, nguy hiểm xảy ra trên địa bàn toàn đảo. Hệ thống cơ sở vật chất tiếp tục được đầu tư đảm bảo việc sơ cấp cứu và khám chữa bệnh kịp thời cho nhân dân. Công tác phòng chống dịch bệnh vệ sinh môi trường thường xuyên được quan tâm bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Làm tốt công tác chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình.

Toàn đảo có 1 Phân viện Bệnh viện đa khoa, 1 trạm y tế nằm ở xã Quan Lạn với 3 y sỹ; 1 trạm y tế nằm ở xã Minh Châu với 1 bác sĩ và 3 y sỹ.

Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế đạt 65% xã Minh Châu và 35% xã Quan Lạn.

Văn hóa:

  • Trên đảo có 1 nhà văn hóa xã đặt tại xã Minh Châu; 11/11 thôn đều có nhà văn hóa thôn.
  • Chợ: trên đảo chưa có chợ tại trung tâm các xã, chỉ có các chợ tạm.
  • Bưu điện: trên đảo có 02 bưu điện văn hóa xã nhưng chưa có các điểm truy cập internet ở các thôn, bản.

Vệ sinh, môi trường:

  • Trên đảo đã có hệ thống thu gom, xử lý rác thải và thoát nước bẩn đặt xã Quan Lạn nhưng vận hành chưa thường xuyên, kịp thời nên còn gây ô nhiễm môi trường; xã Minh Châu chưa có hệ thống thu gom, xử lý rác thải mà do dân tự đốt hoặc chôn lấp nên còn gây ô nhiễm môi trường.
  • Toàn đảo hiện có 3 nghĩa trang nhân dân, trong đó xã Quan Lạn có 2 nghĩa trang và xã Minh Châu có 1 nghĩa trang.

Chính sách xã hội:

Được quan tâm thực hiện tốt chế độ chính sách đối với người có công, gia đình chính sách và các đối tượng nghèo, đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa bàn xã, làm tốt công tác tuyên truyền các chỉ tiêu tuyển dụng xuất khẩu lao động đến người lao động.

2.3.1.3. Kinh tế

  • Nghành nghề truyền thống và việc làm:

Tồng trọt; chăn nuôi; trồng rừng; đánh bắt, nuôi trồng thủy sản; thương mại và dịch vụ.

  • Các nghành kinh tế: Luận văn: Thực trạng phát triển Du lịch sinh thái đảo Quan Lạn.

Nông nghiệp: Trồng trọt: diện tích trồng lúa mùa khoản 15 ha. Năng suất lúa bình quân đạt 22 tạ/ha. Hoa màu các loại là 9 ha, ước tính sản lượng đạt 45,5 tấn.

Chăn nuôi: tổng số đàn trâu 150 con, đàn bò 210 con, tổng số đàn lợn 330 con, tổng số đàn gia cầm trên địa phương là 1.500. Chính quyền địa phương luôn chỉ đạo các ngành kiểm tra theo dõi dịch bệnh và nghiêm cấm giết mổ, buôn bán gia súc, gia cầm bị dịch bệnh. Hàng năm xuất chuồng trên 80 tấn thịt hơi.

Lâm nghiệp: Diện tích rừng tương đối lớn, khoảng 1.843,35 ha, đã giao cho 64 hộ với 570 ha đất trồng rừng. Rừng ngập mặn có 550 ha, với 230 ha bãi triều cạn. Hiện nay đang trồng một số diện tích phi lao trên đất cát ven biển và rừng thông đuôi ngựa.

Ngư nghiệp: Khai thác thủy sản được duy trì ổn định, chủ yếu là khai thác sá sùng ước tính tổng thu nhập từ khai thác sá sùng khoảng 7,5 tỉ đồng/năm; khai thác sứa và các loại hải sản khác ước tính khoảng 15 tỉ đồng /năm.

Tổng diện tích nuôi trồng thuỷ sản của xã hiện có 182,90 ha, trong đó hộ gia đình quản lý 182,90 ha; chủ yếu được sử dụng để nuôi hàu, tu hài, ngao với năng suất hơn 25 tấn/năm. Sản lượng nuôi trồng trong vài năm gần đây bị suy giảm do bệnh dịch khiến đời sống người dân nhiều khó khăn.

  • Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp:

Chủ yếu là các hộ tự phát, có hình thành cơ sở, tổ sản xuất như: xẻ gỗ, sửa chữa xe máy. Hiện tại có một số ngành nghề sau: khai thác cát pha lê, cát titan; sửa chữa tầu thuyền; sửa chữa xe máy; sản xuất đổ gỗ; … và một số ngành nghề khác. Tuy nhiên sửa chữa tàu thuyền trên đảo chỉ có khả năng sửa chữa tầu thuyền nhỏ.

Đã có dịch vụ có thể cung cấp một phần nước ngọt, lương thực, thực phẩm và dịch vụ nghề cá; có một số bến bãi neo đậu cho tầu thuyền tránh trú bão.

2.3.1.4. Cơ sở hạ tầng, vật chất lỹ thuật

  • Giao thông trên đảo:

Một trong những điều kiện quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của du lịch là cơ sở hạ tầng của khu vực. Cơ sở hạ tầng có ý nghĩa nhất đối với du lịch bao gồm mạng lưới và phương tiện giao thông, mạng lưới cấp điện, nước.

  • Tình trạng giao thông với bên ngoài:

Các luồng lạch ra vào đảo, các bến bãi: quanh đảo có các luồng lạch sau:

  • Phía Tây và Tây Bắc đảo có luồng Sông Mang độ sâu từ 6-9m
  • Phía Bắc đảo có Cửa Đối, độ sâu từ 12-16m
  • Phía Đông và Đông Nam giáp biển mở vịnh Bắc

Bộ Cầu cảng:

  • Cảng Quan Lạn nằm ở phía Tây đảo, thuộc địa phận xã Quan Lạn.
  • Bến tàu Cửa Đối ở phía Bắc đảo thuộc địa phận xã Minh Châu

Các tuyến giao thông chính:

  • Tuyến giao thông Quan Lạn – Hạ Long:

Tàu cao tốc Quan Lạn – Hòn Gai của công ty cổ phần du lịch quốc tế Phúc Thịnh – Việt Anh và tàu gỗ chạy hàng ngày.

  • Tuyến giao thông Quan Lạn – Vân Đồn: Luận văn: Thực trạng phát triển Du lịch sinh thái đảo Quan Lạn.

Tàu cao tốc Phúc Thịnh – Việt Anh và tầu cao tốc Quang Minh, sáng 8h và chiều 14h từ Vân Đồn đi Quan Lạn, sáng 7h và chiều 13h từ Quan Lạn về Vân Đồn. Ngoài ra còn có tàu gỗ khởi hành sáng 7h và chiều 13h.

  • Tuyến giao thông Vân Đồn – Minh Châu:

Tàu cao tốc Chung Hướng, Tàu Minh Châu, sáng 7h30 và chiều 13h30 từ Vân Đồn đi Minh Châu, sáng 6h30 và chiều 13h từ Minh Châu về Vân Đồn.

  • Tình trạng giao thông trên đảo:
  • Trên đảo có hai đường giao thông liên xã từ bến tàu Đông Hồ đến giáp xã Minh Châu với chiều dài 8km và từ bến tàu Cửa Đối đến giáp xã Quan Lạn với chiều dài 6,8km, cả hai đã được rải nhựa 100% tạo điều kiện cho nhân dân đi lại
  • Hệ thống đường giao thông liên thôn ở xã Quan Lạn có 3 tuyến, kích thước mặt đường rộng từ 1-2m; tống chiều dài 8,7km trong đó đã kiên cố hóa 2,6km, đặt 29,88%. Ở xã Minh Châu có tổng chiều dài 6,3km, tuy nhiên chưa kiên cố hóa được nhiều.
  • Tuyến đường nội đồng hoàn toàn là đường đất có chiều dài 9,5km ở xã Quan Lạn và 2km ở xã Minh Châu.
  • Số cống qua đường hiện có 27 cái.
  • Phương tiên di chuyển chủ yếu của người dân là xe máy và xe đạp. Nhưng hiện tại trên đảo vẫn chưa có trạm xăng cố định, nên nhiên liệu được cung cấp thông qua các hộ dân buôn bán nhỏ lẻ.

Hình 2. 3: Bến tàu Quan Lạn

  • Cơ sở lưu trú:

Xã Quan Lạn có 5 khách sạn, 18 nhà nghỉ, 3 công ty kinh doanh dịch vụ du lịch với trên 415 phòng nghỉ, cơ bản đáp ứng được nhu cầu nghỉ cho khách du lịch ra thăm quan địa phương. Ngoài ra, một số hộ dân có hình thức cho khách du lịch ở tại nhà theo hình thức “homestay”, các hộ này chưa đăng ký kinh doanh nên chưa thể thống kê cụ thể số lượng.

Xã Minh châu có 4 khách sạn lớn là: Minh Chau beach resort, khách sạn Lepont, khách sạn Phương Nam và khách sạn Huy Hoàng. Có 10 nhà nghỉ do người dân dựng lên.

  • Dịch vụ vận tải:

Trên đảo hiện có 2 công ty và 6 hộ kinh doanh dịch vụ vận tải khách đường thủy để đảm bảo việc đưa đón, phục vụ khách cũng như người dân địa phương thuận tiện. Việc đi lại trên đảo của khách du lịch được phục vụ chủ yếu bằng xe điện (hay còn gọi là xe tuk tuk). Đây là một phương tiện sử dụng điện, có thể chuyên chở số lượng hàng khách từ 10 đến 20 người trên một chuyến, được đánh giá là phương tiện thân thiện, không gây ô nhiễm môi trường. Hiện trên đảo có 160 chiếc xe tuk tuk, trong đó 120 chiếc ở xã Quan Lạn, còn lại ở xã Minh Châu

2.3.2. Tài nguyên dịch vụ nhân văn Luận văn: Thực trạng phát triển Du lịch sinh thái đảo Quan Lạn.

2.3.2.1. Tài nguyên du lịch vật thể

  • Các di tích thời tiền sử

Vân Đồn (hay còn gọi là làng Vân) – một thương cảng lớn được hình thành vào thế kỷ thứ XII (1149) – vốn là tên gọi cổ xưa của xã Quan Lạn ngày nay, tính đến nay cũng đã gần 900 năm tồn tại và phát triển. Do vậy, Đảo Quan Lạn còn lưu giữ những giá trị văn hóa thuộc các thời kỳ.

Tháng 3 năm 1968, Viện khảo cổ học Việt Nam đã tiến hành khai quật khu mộ thời Đông Hán tại dãy núi Đá Bạc, địa phận xã Minh Châu, cách khu trung tâm thương cảng cổ “Cái Làng” khoảng 7km về phía đông bắc. Kết quả, đã thu được nhiều hiện vật rất quý để có thể kết luận vị trí kinh tế quan trọng của khu đảo Vân Hải. Số lượng gần 2000 hiện vật các loại trong hai ngôi mộ M2, M3, không kể ngôi mộ M1 bị hư hại. Ngoài ra, qua khảo cổ còn phát hiện rất nhiều hiện vật của các bộ tộc người làm ăn sinh sống trước đó, những kết quả đó cho chúng ta thấy:

Con người đã cư trú, làm ăn trên khu vực đảo Vân Hải trước đó một thời gian khá dài, sau đó trang Vân Đồn mới được ra đời.

Dấu vết qua các triều đại Lý, Trần, Lê: Trên mặt đất bằng phẳng, trên các triền đồi, trong các thung lũng trên đảo Quan Lạn trước đây là rừng cây tự nhiên đan xen với các khóm nứa, lau. Đến thập kỷ 70 của thế kỷ XX, do điều kiện kinh tế người dân trong vùng gặp khó khăn, dãy núi khu vực thương cảng cổ Vân Đồn được phát quang để làm rẫy tra hạt lúa nương, dấu vết nền nhà cổ được lộ rõ, mỗi nền nhà cổ cách nhau khoảng 30m, cứ thế kéo dài theo triền núi, trên dưới như ruộng bậc thang được chia thành cụm, mỗi cụm có từ 30 đến 40 nền nhà, các nền nhà đều được bao đá. Đặc biệt có một nền nhà dài rộng khá riêng biệt trên một mặt đồi bằng phẳng, nhiều cây đa cổ thụ vẫn còn, đồi này dân địa phương thường gọi là đồi Đình, có lẽ đình Quan Lạn xưa được dựng tại đây, sau này mới chuyển về Quan Lạn khi thương cảng không còn tác dụng trong việc giao thương buôn bán nữa. Cách đồi Đình không xa, có nhiều nền nhà có diện tích khá rộng, các nhà khảo cổ học cho rằng đó là nền chùa, nền nghè v.v… Đáng chú ý, có một nền miếu qua khảo sát tầng văn hóa 0,50m còn lớp gạch ngói bị đất vùi lấp, có chỗ gạch đã quá mục, màu gạch trộn lẫn với màu đất.

Dọc theo chiều dài bến cảng Vân Đồn xưa, các mảnh vỡ: sành, sứ, gốm đại diện cho các triều đại: Lý; Trần; Lê; đầu đời Nguyễn còn rất nhiều, có chỗ dài tới 50m, các hiện vật không những trải dọc trên bãi biển mà còn nằm ở trong những mảnh ruộng, vườn, dưới độ sâu đến 1 mét, dân trong vùng còn thu nhặt được: bát sứ, đĩa sứ, hũ sành, lọ gốm, chì lưới, chân kê, gương đồng, quả cân, bạc thoi, tiền nước ngoài, tiền Tây Ban Nha, tiền Việt Nam, v.v… Qua kết luận của các đoàn khảo cổ Việt Nam, Việt – Nhật, Việt – Pháp, cùng các giáo sư: Đỗ Văn Ninh, Trần Quốc Vượng, chúng ta được biết rằng: Những hiện vật gốm, sứ, sành có niên đại đời Trần và đời Lê là chủ yếu, hiện vật đời Lý cũng nhiều nhưng không nhiều bằng đời Trần, Lê. Qua khảo sát khai quật hai điểm: một điểm 32m2 tầng văn hóa 1 mét, một điểm 20m2 tầng văn hóa 1 mét. Vào tháng 8 năm 2003 đã tìm thấy điểm 32m2 tầng văn hóa 1 mét thành kè cảng cổ có bản rộng 0,70m, chiều dài theo hướng Nam – Bắc, đá được xếp mộc thành khối chắc. Điểm 20m2 tầng văn hóa 1 mét, phát hiện một cống thoát nước cũng được xây bằng chất liệu vôi vữa bị phân hóa quện với đất, do vậy đoàn khai quật phải dùng bay xây bới từng tí nhỏ trong mạch vữa xây. Đặc biệt trong đợt khai quật này ngoài những hiện vật triều Lý, Trần, Lê và đầu thời Nguyễn, đoàn còn tìm thấy một số hiện vật thời Bắc thuộc (khoảng thế kỷ VII, VIII, IX). Qua hai cuộc khảo sát nói trên, chắc chắn là một hạ tầng kiến trúc thuộc thương cảng cổ Vân Đồn. “Từ trước tới nay ở Vân Đồn, cũng như ở tất cả các bến cảng có ở miền Trung chưa hề tìm được một dấu tích bờ kè, cầu cảng tương tự” (Theo Tiến sĩ Phạm Như Hồ [8]). Luận văn: Thực trạng phát triển Du lịch sinh thái đảo Quan Lạn.

  • Các di tích lịch sử, văn hóa

Đền Vân Hải, đền Vân Sơn, thương cảng cổ Vân Đồn, Đình chùa miếu, nghè thờ Trần Khánh Dư, đền Cao Sơn, miếu Bà Hang, đền Cậu Bé Cửa Đông.

Tính trên xã đảo Quan Lạn trong diện tích 11km2 có tới gần 20 điểm gồm cả đền, chùa và miếu được phân bổ khắp từ cửa biển, cửa sông, vùng đồi, núi, lạch, doi cát và đặc biệt là khu vực đông dân cư sinh sống hiện nay.

  • Thương cảng cổ Vân Đồn:

Được thành lập vào năm 1149, dưới thời vua Lý Anh Tông. Đây được xem là một trung tâm  thương  mại có quy mô lớn, một khu vực có vị trí quân sự chiến lược gắn liền với quá trình đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và xây dựng, phát triển đất nước của dân tộc ta trong lịch sử.

Thương cảng cổ Vân Đồn không phải là một bến cảng với những cầu tàu nối tiếp trên một vũng biển như hiện nay mà gồm nhiều bến thuyền phân bố trên chiều dài hàng chục km từ Nam lên Bắc:

Bến Cái Làng: Nằm trên địa phận xã Quan Lạn. Suốt bờ vụng phía Đông, một khoảng dài tới 200m có rất nhiều mảnh đồ gốm các loại thuộc nhiều thời khác nhau. Người dân ở đây còn tìm thấy nhiều chồng bát đĩa còn nguyên vẹn và một số tiền đồng thời Đường (Khai nguyên thông bảo 712 – 756). Trên sườn núi còn nhiều dấu tích nền nhà và một nền đình cổ, một giếng cổ – giếng Hệu.

Bến Cống Cái: Nằm ở bờ Tây đảo Vân Hải, nay thuộc xã Quan Lạn. Cửa vụng mở ra một con sông do đảo Vân Hải và núi Man chạy song song ngăn một dải nước tạo thành. Bến này cách bến Cái Làng khoảng 2km, nước sâu, kín gió thuận lợi cho thuyền bè neo đậu. Suốt bờ Bắc một dải dài hơn 100m là nơi tích tụ rất nhiều mảnh gốm các loại giống như ở Cái Làng.

Bến Con Quy: Nay thuộc xã Minh Châu. Tại địa điểm này người ta cũng tìm thấy rất nhiều mảnh gốm như vò, hũ, các chồng bát đĩa còn nguyên vẹn và tiền đồng Trung Quốc từ thời Đường – Tống và tiền Việt các thời Lý, Trần, Lê mà nhiều hơn cả là tiền Tây Sơn.

Ngày nay, Thương cảng cổ Vân Đồn là một điểm đến của du khách bốn phương.

  • Đình Quan Lạn

Đình là nơi thờ Thành hoàng làng, đồng thời là nơi hội họp, bàn việc của dân làng. Đình được coi là trung tâm sinh hoạt văn hóa gắn bó với một cộng đồng cư dân và mang đặc trưng của nền văn minh lúa nước Việt Nam.

Đình Quạn Lạn còn là một biểu tượng văn hóa, tâm linh, tín ngưỡng quan trọng trong đời sống làng xã người Việt nói chung và đối với cư dân Quan Lạn nói riêng.

  • Đình mang ba chức năng chính:

Đình Quan Lạn là nơi thờ thành hoàng làng, thờ các Đức khai sinh, khai cơ và một số vị có công xây dựng nên làng xã.

Thờ vua Lý Anh Tông đời vua thứ 6 của triều đại nhà Lý, một triều đại hưng thịnh nhất của Đại Việt xưa có công ra chỉ thành lập Trang Vân Đồn. Luận văn: Thực trạng phát triển Du lịch sinh thái đảo Quan Lạn.

Đình cũng là nơi diễn ra các ngày đại sự trong năm: như việc thờ, cúng, tế lễ… đặc biệt là nơi diễn ra “Lễ sắc phong, rước thần” tại Lễ hội truyền thống Vân Đồn lịch sử diễn ra từ ngày 10-19/6 (âm lịch) hàng năm.

  • Chùa Quan Lạn

Nằm ngay bên trái đình Quan Lạn có tên chữ là Vân Quan tự. Tên Vân Quan đã thể hiện mối quan hệ giữa Thương cảng Vân Đồn và xã Quan  Lạn ngày nay. Chùa gồm 3 gian về phía sau, ba gian hậu cung kết cấu kiến trúc dựa trên nguyên tắc kết cấu các vì kèo, xà dọc, xà ngang, cột sau, cột trước. Thành phần chịu lực là các hàng cột được trang trí kiến trúc chùa hết sức sơ giản, thưa thoáng với một số hoạ tiết tiêu biểu như: Hoa, lá, mây mưa được hiện thực với hình thức chạm nông là chính. Hệ thống tượng chùa bày đặt theo thứ tự tầng cao trên cùng tính từ hậu cung ra là bộ tượng Tam thế, tầng thứ hai tiếp theo là tượng Thích ca niêm hoa, hai bên trái phải có văn phù Bồ Tát và phổ hiền Bồ Tát, tầng thứ ba tiếp phía dưới là tượng Thích ca, tầng thứ tư là tượng Thích ca sơ sinh được tạc trong thế đứng một tay chỉ lên trời – một tay chỉ đất bao xung quanh ông là hình chín con rồng uốn lượn, tầng thứ năm lớp ngoài cùng là bát nhang lớn có 2 hình con Hạc chầu bên phải (quay vào hậu cung thờ Đức Ông – bên trái phải có đắp 2 tượng bán thân “ Ông thiện -Ông ác” trang trí ngoài gắn bằng các mảnh gốm.

Hiện nay Chùa Quan Lạn còn lưu giữ được 19 pho tượng cổ và pho tượng cụ Hậu người Quan Lạn. Cụ người làng Vân, lấy chồng không có con, đến tuổi già cụ bán ruộng đất và số tiền cụ có đưa vào tu sửa chùa, đúc chuông, tạc tượng. Nhân dân nhớ công ơn cụ đã tạc tượng cụ đưa vào chùa hương đăng. Chùa Quan Lạn là nơi tâm linh được nhân dân rất trọng vọng, tháng đôi tuần mọi người ra đây nghe tiếng chuông chùa cầu phật bớt đi phần nào trong những giờ phút lao động nặng nhọc để ổn định tư tưởng.

  • Đền thờ ba vị tướng họ Phạm

Đền thờ 3 tướng họ phạm hiện nay hay còn được nhân dân Quan Lạn gọi là “Miếu Đức ông” gồm: Phạm Công Chính  (là người anh cả), Phạm Thuần Dụng và Phạm Quý Công. Ba ông là người Vân Đồn và là ba vị tướng của Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư, có công đánh giặc phương Bắc.Trong trận thuỷ chiến với tướng giặc Trương Văn Hổ tại Phòng tuyến Vân Đồn dưới sự chỉ huy của Phó đô Tướng quân Trần Khánh Dư, 3 ông đã có nhiều công bảo vệ phòng tuyến Đông Bắc của Tổ Quốc. Đặc biệt, chiến công của 3 ông đánh đoàn thuyền vận tải với 100 chiến thuyền chở 70 vạn hộc lương và binh khí giới của quân Nguyên Mông trên dòng sông Mang lịch sử góp phần vào đại thắng chiến dịch Bạch Đằng dưới triều đại nhà Trần chấm dứt mưu đồ xâm lược nước ta của quân Nguyên Mông vào mùa xuân năm 1288.

Đền thờ Phạm Công Chính “Miếu Đức ông” được lập nên sau vài năm ông hy sinh, đền lợp bằng cỏ tranh, vách đất rát bằng lá. Mấy chục năm sau, các bô lão bên thôn Liễu Mai “Cái Làng” đón chân nhang rước vong sang thương cảng cổ Cái Làng thờ, từ đó gọi đền theo nền cũng tại thương cảng. Luận văn: Thực trạng phát triển Du lịch sinh thái đảo Quan Lạn.

Đền là nơi diễn ra các hoạt động tâm linh, thờ cúng thắp hương thỉnh cầu của cư dân và du khách thập phương để được sức khoẻ, bình an, gia đình hạnh phúc. Đặc biệt, đền gắn bó mật thiết trong Lễ hội truyền thống Vân Đồn lịch sử. Đền là nơi tập trung làm thủ tục tế lễ phong hai bên văn, võ, cũng như các hoạt động quan trọng khác của hai hàng giáp trước và sau khi xuống thu bơi thuyền.

  • Nghè thờ nhân huệ vương Trần Khánh Dư

Nghè là một công trình kiến trúc độc đáo có mối quan hệ chặt chẽ với trong đời sống tinh thần của cư dân địa phương. Đối với cư dân trên làng đảo Nghè còn là nơi diễn ra các hoạt động đại sự trong năm, đặc biệt là ngày rước sắc Đức thánh Trần Khánh Dư trong Lễ hội truyền thống Vân Đồn lịch sử. (ông cũng được gọi là Thành Hoàng làng)

Đây là một công trình kiến trúc, được bài trí sắp xếp bố cục độc đáo dựa trên kết cấu ngôi đền cũ tại khu Thương cảng cổ Vân Đồn. Đây là công trình được tôn thờ trọng vọng có mối quan hệ gắn bó mật thiết trong đời sống tinh thần của cư dân địa phương trong các ngày đại sự diễn ra trong năm, đặc biệt là ngày rước sắc Đức thánh Trần Nghè và Đình Quan Lạn, đám rước Đức thánh Trần từ Nghè về Đình trong Lễ hội truyền thống Vân Đồn lịch sử

  • Miếu Cao Sơn

Được lập tại một gồ núi cộc ở xóm ruộng (nay là thôn Thái Hòa, xã Quan Lạn). Nghiên cứu dấu tích xung quanh ngôi miếu ngày nay, có thể đưa ra nhận định rằng, miếu có thể được lập nên từ khi cư dân ở thương cảng Cái Làng chuyển về, ban đầu miếu được dựng bằng gỗ, lợp cỏ tranh, hoặc cây giàng – một loại cây sẵn có ở các khu rừng, núi tại địa phương. Đây là nơi mà cuối năm, hoặc đầu năm mới, dân làng thường đến cầu bình an. Cũng là nơi ngư dân, trước mỗi chuyến ra khơi đều đến đây, thắp hương cầu cho chuyến đánh bắt được nhiều cá tôm, hải sản, kể cả người đi làm ăn buôn bán xa cũng ghé đến.

  • Đền thờ Vân Hải

Ngôi đền này thờ vọng Đức Thánh Trần (Trần Triều Hiển Thánh). Để nhớ ơn những người đã hy sinh trong cuộc thủy chiến trên sông Mang vào năm 1288.

Ngôi đền cổ làm bằng gỗ lợp mái tranh, sau mãi đến cuối đời hậu Lê, đầu đời Nguyễn mới được xây bằng gạch. Vào năm 1952, thực dân Pháp san lấp làm mặt bằng xây đồn bốt trên núi Con Quy, nên Đền thờ không còn nguyên vẹn. Đền bị phá hủy chỉ còn lại bức tường sau, cùng với thời gian, bức tường đã bị đất đá vùi lấp. Mãi tới thập kỷ 60 (thế kỷ XX) nhân dân thôn Sơn Hào mới dựng lại đền, cột kèo bằng cây, mái lợp cỏ để tháng đôi tuần hương đăng.

Vào năm 1980, xí nghiệp Cát Vân Hải (nay là Công ty Cát Vân Hải) đã tôn tạo xây lại ngôi đền. Đền được xây dựng trên nền cũ, phần trước được nới rộng ra, bức tường sau được dựng theo nguyên bản, bốn chữ Trần Triều Hiển Thánh được tô đậm lại, phần ngoài mặt tiền làm hai câu đối mới khắc nổi.

  • Miếu Bà Hang Luận văn: Thực trạng phát triển Du lịch sinh thái đảo Quan Lạn.

Từ xa xưa đến nay, dân trong vùng rất tôn thờ, nhất là các ngư dân làm nghề chài lưới, hoặc ra khơi đánh cá. Trước khi ra khơi đều đến đây làm nghi lễ cúng bái, cầu xin cho chuyến đi an toàn được nhiều tôm cá. Đối với người đi biển, khi đi xin âm dương đã được bà cho phép thì họ yên tâm đậu neo trên biển mà làm ăn và trong thâm tâm họ lúc nào cũng nghĩ một điều, đã có bà và các hương hồn trôi dạt trên biển phù hộ, che chở.

2.3.2.2. Tài nguyên du lịch phi vật thể:

Quan Lạn là nơi dân cư sinh sống từ lâu đời, qua quá trình sinh sống ở đây họ đã sáng tạo ra nhiều giá trị văn hoá mang tính địa phương như: đánh bắt, chế biến thuỷ hải sản, sử dụng tài nguyên rừng, phong tục tập quán ăn sóng, nói gió. Cùng với sự chịu thương, chịu khó lao động, phẩm chất chất phác của cư dân biển đã hình thành và bảo tồn tới ngày nay. Ở Quan Lan hiện nay, một số lễ hội và các hình thức nghệ thuật biểu diễn truyền thống như Hội đình Quan Lạn với các trò chơi dân gian mang văn hoá biển như tế thần biển, đua thuyền và hò biển vẫn được tổ chức hàng năm.

  • Lễ hội Đình Quan Lạn:

Nguồn gốc: Lễ hội đình Quan Lạn (Còn gọi là hội đua bơi Quan Lạn), là hội làng của người dân xã đảo Quan Lạn. Lễ hội được tổ chức vào ngày 18 tháng 6 (âm lịch) hàng năm, nhưng hội kéo dài từ ngày 10 đến hết ngày 20 tháng 6. Lễ hội đình Quan Lạn vừa kỷ niệm chiến thắng giặc Nguyên Mông năm 1288 (trên sông Mang) và chiến công của Trần Khánh Dư (danh tướng của nhà Trần), vừa là ngày hội cầu được mùa của cư dân vùng biển đảo.

Địa điểm: hội được tổ chức trên bến Đình, nơi có đình Quan Lạn.

Các nghi lễ: Theo tục lệ ngày 10 tháng 6 “khoá làng” (một tục làm trong lễ hội của người Việt), dân trong làng không được đi bất cứ đâu nhưng những người làm ăn ở xa và khách thập phương lại có thể về làng dự hội. Hội đình Quan Lạn có tục đua thuyền khác với bơi trải. Dân làng chia làm 2 phe Đông Nam Văn và Đoài Bắc Võ lập doanh trại riêng từ ngày 13 để luyện quân, chuẩn bị đua thuyền. Thuyền đua thường là thuyền đi biển trọng tải năm, sáu tấn, rộng và sâu lòng, được hạ buồm, trang trí đầu rồng ở mũi thuyền. Ngày 16 làm lễ nghinh thần. Dâng lễ rước bài vị của Trần Khánh Dư từ nghè về đình. Dưới bến đôi thuyền đua tập luyện tạo một không khí tưng bừng náo nhiệt. Ngày 18 tháng 6 vào 3 giờ chiều (năm nào cũng vậy thường lúc này nước triều lên tới sát bến của đình) hai bên bắt đầu xuất phát. Lính bên Văn áo trắng quần xanh, chân quấn xà cạp xanh, lính bên Võ quần áo xám hoặc đen. Tiếng chiêng trống, tiếng hô vang, cờ bay phần phật đầy khí thế. Mỗi khi 2 đàn giáp nhau ở sân đình, quân lính cùng dân chúng hét lớn vang dậy cả một vùng. Hai tướng múa những đường đao đẹp mắt, hai đoàn quân gặp nhau 3 lần, tượng trưng cho 3 lần đánh thắng quân Nguyên thời Trần. Tới lần thứ 3 hai đoàn quân tập hợp trước miếu, 2 vị tướng vào tế, khi quay trở ra thì cuộc đua thuyền mới chính thức bắt đầu. Lễ hội đình Quan Lạn mạng dấu ấn của một hội làng truyền thống nhưng đặc biệt hoành tráng thể hiện tinh thần thượng võ của dân tộc chống giặc ngoại xâm bảo vệ chủ quyền đất nước của những người dân vùng biển.

  • Lễ Cầu Gió: Luận văn: Thực trạng phát triển Du lịch sinh thái đảo Quan Lạn.

Nguồn gốc: Lễ Cầu gió bắt nguồn từ một câu chuyện buồn của một vị quan lớn trong triều đình thời xa xưa. Vị quan này sau những tháng năm sống trong cảnh tranh giành, đấu đá để giành quyền lực, không đạt được mục đích phải mang đồ thờ cúng tổ tiên chạy tới một đảo vắng với một vài tùy tùng trung thành để tạm lánh một thời gian. Ngài chọn mùa gió Tây Nam thổi, xuống thuyền, giương buồm nhằm hướng Đông thẳng tiến, để lại nỗi nhớ thương cho bao người ở lại. Không biết câu chuyện thực hư ra sao mà lại có cái tên Quan Lạn, nhiều người trong đất liền ra đảo không khỏi băn khoăn cái tên này và họ cho rằng đảo này trước đây có ông quan “chạy nạn” nên mới đặt tên là Quan Lạn. Cũng xuất phát từ câu chuyện nửa thực, nửa hư đó mà ở làng Quan Lạn có tục lệ cúng tế cầu gió vào trung tuần tháng ba hằng năm.

Địa điểm: Lễ Cầu gió được tổ chức tại bến nước trước cửa đình làng, hàng năm tại Quan Lạn vào trung tuần tháng 3 âm lịch.

Các nghi lễ: Lễ Cầu gió diễn ra từ tối đến sáng, ngoài các bô lão đại diện cho các giáp vào tế thần, như giáp Đông, giáp Nam, giáp Đoài, giáp Bắc, còn đồ cúng cầu gió gồm một mâm xôi gà, một thủ lợn kèm bốn chân, (dọ đàn) đuôi lợn, một mâm hương vàng, một mâm hoa quả, một thúng gạo từ 5kg đến 10kg, 3kg đến 5kg muối, hai thuyền làm bằng cây nứa dán giấy ngũ sắc, thuyền có chiều dài 2 mét, rộng 0,5 mét, mỗi thuyền làm thêm một thuyền nhỏ gọi là “xuồng” trang bị buồm cánh dơi, hai bên mạn thuyền dán nhiều hình nhân bằng giấy, mỗi hình nhân được gắn một mái chèo.

Ngoài ra, hàng năm trên đảo Quan Lạn người dân còn tổ chức một số lễ hội khác như: Lễ Cầu Bình vào tháng giêng (6 -1 âm lịch), Hội Chùa vào hè ( 14 – 4 âm lịch), Hội Chùa ra hè (15-7 âm lịch), Cầu an (kháp ấn, 25-12 âm lịch).

Hình 2. 4: Bản đồ tài nguyên du lịch nhân văn Đảo Quan Lạn

Tiểu kết chương 2: Luận văn: Thực trạng phát triển Du lịch sinh thái đảo Quan Lạn.

Từ việc phân tích về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và điều kiện kinh tế xã hôi, tài nguyên nhân văn tại đảo Quan Lạn cho thấy răng tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn của Quan Lạn rất đa dạng và phong phú. Quan Lạn có rất nhiều bãi biển, cồn cát đẹp, cánh rừng nguyên sinh với tính đa dạng sinh học cao; khí hậu mát mẻ, môi trường trong lành, phong cảnh đẹp; bên cạnh đó Quan Lạn còn có nhiều di tích lịch sử – văn hoá quý, một số di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia; Quan Lạn có nhiều lễ hội trong năm mô tả cuộc sống dân dã của người miền biển, nghề truyền thống yêu nước bảo vệ tổ quốc của cộng đống dân địa phương, đây thực sự là những tài nguyên du lịch kỳ thú có sức hấp dẫn, thu hút du khách mà không phải địa phương nào cũng có được. Từ đó, luận văn đã xây dựng hai bản đồ thể hiện sự phân bố của các dạng tài nguyên này trên địa bàn đảo Quan Lạn, cụ thể là  bản đồ tài nguyên du lịch tự nhiên và bản đồ tài nguyên du lịch nhân văn. Qua hai bản đồ này, ta thấy có sự phân hóa các dạng tài nguyên trên đảo: tài nguyên tự nhiên phân bố tập trung hơn tại khu vực xã Minh Châu và phân bố rải rác tại xã Quan Lạn; các dạng tài nguyên nhân văn như đình, chùa, miếu, các lễ hội chủ yếu phân bố tại khu vực xã Quan Lạn.

Về hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuật cho phát triển du lịch: Mạng lưới giao thông trên đảo chưa thực sự phát triển, đường đi từ đất liền điểm du lịch còn nhiều khó khăn, không thể di chuyển trong mùa mưa bão. Mạng lưới đường liên xã chủ yếu là đường đất nhỏ, chưa có bảng ghi chú chỉ dẫn cho khách du lịch. Bên cạnh đó, nhận thức của cộng đồng dân cư về vai trò của hoạt động du lịch đối với lợi ích của cộng đồng và địa phương chưa đúng mức, vẫn còn tình trạng chèo kéo khách, nạn “cò mồi”, ăn chặn, ép giá… làm cho du khách chưa thật sự hài lòng. Luận văn: Thực trạng phát triển Du lịch sinh thái đảo Quan Lạn.

Trong tương lai, tài nguyên du lịch (tự nhiên và văn hóa) rất cần được đánh giá, hoạt động du lịch nói chung cũng như du lịch sinh thái nói riêng rất cần được tổ chức hợp lý hơn, khắc phục những ngược điểm trên thì Quan Lạn sẽ là một điểm hình du lịch sinh thái hấp dẫn, thu hút khách du lịch hơn, và mang lại hiệu quả kinh tế cho địa phương.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp phát triển Du lịch sinh thái đảo Quan Lạn

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *