Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái tại Quan Lạn Quảng Ninh

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái tại Quan Lạn Quảng Ninh hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Cơ sở địa lý cho phát triển du lịch sinh thái khu vực Quan Lạn, Minh Châu, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Du lịch sinh thái (DLST) hiện nay đang nhận được sự quan tâm một cách đáng kể. Một khi ống khỏi của các khu công nghiệp, các tòa nhà cao ốc càng vươn cao lên trên bầu trời, thực trạng ô nhiễm môi trường ở các thành phố lớn, dân số gia tăng…đang là vấn nạn thì nhu cầu tìm về với tự nhiên là một tất yếu. Du lịch sinh thái từ đó đã và đang phát triển dưới góc độ này ở nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Nằm ở địa đầu phía Đông Bắc của tổ quốc, lãnh thổ Quảng Ninh trải dài 120km, với hơn 80% địa hình là đồi núi, được chia làm 2 miền: vùng núi miền Đông và vùng trung du và đồng bằng ven biển. Quảng Ninh được đánh giá là nơi có nhiều cảnh quan đặc sắc, đặc biệt vùng biển và hải đảo của Quảng Ninh là một vùng địa hình độc đáo. Hơn 2000 hòn đảo, chiếm 2/3 số đảo cả nước (2078/2779), đảo trải dài theo đường ven biển hơn 250km chia thành nhiều lớp. Trên vịnh Hạ Long và Bái Tử Long có hàng ngàn đảo đá vôi nguyên là vùng địa hình Karst bị nước bào mòn tạo nên muôn nghìn hình dáng bên ngoài và trong lòng là những hang động kì thú. Có những đảo rất lớn như đảo Cái Bầu, Bản Sen, lại có đảo rất nhỏ chỉ như hòn non bộ. Đặc biệt có hai huyện hoàn toàn là đảo là huyện Cô Tô và huyện Vân Đồn.

Vân Đồn được biết đến với các địa danh Bãi Dài, bến cảng Vạn Hoa, các khu vực văn hóa, tâm linh như đền Cặp Tiên, chùa Cái Bầu, nhiều khu hệ sinh thái biển rừng, các lễ hội, di tích lịch sử văn hóa hàng năm được tổ chức trên địa bàn huyện. Đây chính là những tiềm năng tài nguyên đặc sắc tạo nên sự thuận lợi phát triển Du lịch sinh thái ở Vân Đồn nói chung và đảo Quan Lạn nói riêng.

Đảo Quan Lạn hay còn gọi là Cảnh Cước (gồm hai xã đảo: xã Quan Lạn và xã Minh Châu) là một địa phương có điều kiện khí hậu và cảnh quan môi trường thuận lợi cho phát triển du lịch và du lịch nghỉ dưỡng. Bên cạnh đó, đảo Quan Lạn còn có tiềm năng Du lịch sinh thái rất lớn, nhờ vào vị trí địa lý nằm cách biệt với đất liền, vẫn giữ được các hệ sinh thái rừng, rừng ngập mặn, bãi biển đẹp, nguyên sơ; khí hậu quanh năm mát mẻ tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loài sinh vật phát triển. Đảo Quan Lạn mang những giá trị đặc sắc không chỉ về đa dạng sinh học, cảnh quan , mà còn về giá trị lịch sử, văn hóa, nhiều các lễ hội tâm linh được tổ chức hàng năm tại đây mang đậm nét đặc sinh của người dân địa phương sinh sống trên đảo. Các tiềm năng trên là tiềm năng và thế mạnh của đảo Quan Lạn để phát triển du lịch nói chung và du lịch sinh thái nói riêng, với nhiều loại hình: du lịch sinh thái biển, du lịch sinh thái rừng ngập mặn, du lịch sinh thái nhân văn.

Tuy nhiên, việc đầu tư khai thác các loại hình Du lịch sinh thái ở đảo Quan Lạn vẫn còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng của mình. Các điểm du lịch cũng mới chỉ dừng lại ở việc khai thác phục vụ du lịch tự nhiên và đang bắt đầu bộc lộ một số tác động ảnh hưởng xấu đến môi trường, cảnh quan, hệ sinh thái. Nguyên nhân là do: quy mô đầu tư còn nhỏ, chưa đồng bộ, chưa có đủ những cơ sở lý luận vững chắc về du lịch sinh thái, chưa tiến hành điều tra, khảo sát toàn diện về tài nguyên du lịch tự nhiên, điều kiện địa hình, địa mạo cũng như các yếu tố tự nhiên khác.

Xuất phát từ thực tiễn trên, việc tiến hành nghiên cứu cơ sở địa lý để phát triển du lịch sinh thái, đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp phù hợp cho phát triển du lịch sinh thái trên địa bàn đảo Quan Lạn là vấn đề cấp thiết. Do đó, học viên lựa chọn đề tài nghiên cứu: Cơ sở địa lý cho phát triển du lịch sinh thái khu vực Quan Lạn, Minh Châu, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh”.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Nhận Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Xác lập cơ sở khoa học địa lý và đánh giá tài nguyên Du lịch sinh thái tại đảo Quan Lạn (cụ thể là 2 xã Quan Lạn và Minh Châu), làm cơ sở cho việc đề xuất định hướng phát triển du lịch sinh thái tại đảo Quan Lạn.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái tại Quan Lạn Quảng Ninh.

  • Đối tượng nghiên cứu: bao gồm những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển Du lịch sinh thái ở đảo Quan Lạn như: điều kiện tự nhiên, trong đó chú trọng đến tài nguyên thiên nhiên; điều kiện kinh tế xã hội và tài nguyên nhân văn.
  • Phạm vi nghiên cứu:
  • Pham vi không gian: nghiên cứu được thực hiện tại các xã Quạn Lạn và Minh Châu, thuộc đảo Quan Lạn, huyện Vân Đồn, Tỉnh Quảng Ninh.
  • Phạm vi thời gian: Các số liệu trong đề tài được cập nhật đến năm 2023.

4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

  • Ý nghĩa khoa học: Xây dựng được cơ sở tiếp cận địa lý cho việc phát triển Du lịch sinh thái tại khu vực Quan Lạn, Minh Châu.
  • Ý nghĩa thực tiễn: Việc đánh giá được thực trạng và đề xuất các giải pháp sẽ giúp cho các nhà quản lý và cộng đồng địa phương tại khu vực nghiên cứu nói riêng và các địa điểm Du lịch sinh thái nói chung tại Việt Nam có được những biện pháp phù hợp để phát triển Du lịch sinh thái trong tương lai.

5. Nội dung nghiên cứu

  • Đặc điểm điều kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế – xã hội của đảo Quan Lạn.
  • Phân bố tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn tại hai xã Quan Lạn và Minh Châu trên đảo Quan Lạn.
  • Hiện trạng phát triển du lịch tại đảo Quan lạn: các sản phẩm du lịch, cơ sở vật chất phục vụ du lịch…
  • Đề xuất giải pháp phát triển du lịch sinh thái đảo Quan Lạn: phát triển cơ sở vật chất; giáo dục ý thức…

6. Cấu trúc luận văn Gồm 5 phần:

Ngoài mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc thành 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
  • Chương 2: Đặc điểm địa lý, tài nguyên đảo Quan Lạn phục vụ phát triển Du lịch sinh thái
  • Chương 3: Đánh giá tổng hợp điều kiện địa lý và đề xuất giải pháp phát triển Du lịch sinh thái đảo Quan Lạn.

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1. Một số khái niệm Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái tại Quan Lạn Quảng Ninh.

Ngày nay,toàn thế giới coi du lịch nói chung và Du lịch sinh thái nói riêng như là nguồn tài nguyên quý giá. Du lịch sinh thái đã và đang trở nên phổ biến, đặc biệt là đối với những người yêu thiên nhiên, môi trường tự nhiên. Xuất phát từ những trăn trở về những vấn đề liên quan đến môi trường, kinh tế và xã hội, Du lịch sinh thái như là một trong những cách thức để trả nợ cho môi trường tự nhiên và làm tăng giá trị cho các khu bảo tồn thiên nhiên còn lại.

DLST tuy là một khái niệm tương đối mới nhưng đã nhanh chóng thu hút được sự quan tâm của nhiều người hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau. Đối với một số người, Du lịch sinh thái chỉ đơn giản là sự ghép nối ý nghĩa của 2 khái niệm “du lịch” và “sinh thái” vốn đã quen thuộc từ lâu. Tuy nhiên, đứng ở góc nhìn rộng hơn thì một số người quan niệm rằng: Du lịch sinh thái là loại hình du lịch hòa mình vào thiên nhiên. Với cách tiếp cận này, mọi hoạt động liên quan đến thiên nhiên như: tắm biển, leo núi…đều được hiểu là Du lịch sinh thái.

DLST có thể được biết đến dưới nhiều cách gọi khác nhau, trong đó có thể kể đến: Có người quan niệm Du lịch sinh thái là loại hình du lịch có lợi cho sinh thái, hoặc ít nhất không có những tác động tiêu cực đến sự tồn tại và phát triển của hệ sinh thái tại nơi diễn ra các hoạt động du lịch. Cũng có ý kiến cho rằng Du lịch sinh thái đồng nghĩa với du lịch hướng tới đạo lý, du lịch có trách nghiệm, có lợi hay mang lại tính bền vững cho môi trường.

1.1.1. Định nghĩa về Du lịch sinh thái của một số tổ chức trên thế giới

  • Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN: International Union for Conservation of Nature):

DLST là tham quan và du lịch có trách nghiệm với môi trường tại các điểm tự nhiên không bị tàn phá để thưởng thức thiên nhiên và các đặc điểm văn hóa đã tồn tại trong quá khứ hoặc đang hiện hành, qua đó khuyến khích hoạt động bảo vệ, hạn chế những tác động tiêu cực do khách tham quan gây ra và tạo ra lợi ích cho những người dân địa phương (ceballos-lascurain ,1996)  Hiệp hội Du lịch sinh thái thế giới:

DLST là du lịch có trách nghiệm đối với các khu thiên nhiên, nơi môi trường được bảo tồn và lợi ích của nhân dân địa phương được đảm bảo.

  • Hiệp hội du lịch Hoa Kỳ:

DLST là du lịch có mục đích với các khu tự nhiên, hiểu biết về lịch sử văn hóa và lịch sử tự nhiên của môi trường, không làm biến đổi tình trạng của hệ sinh thái, đồng thời có cơ hội để phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường.

  • Hiệp hội du lịch Australia: Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái tại Quan Lạn Quảng Ninh.

DLST là du lịch dựa vào thiên nhiên định hướng về môi trường tự nhiên và nhân văn, được quản lý một cách bền vững và có lợi cho sinh thái.

1.1.2. Định nghĩa về Du lịch sinh thái của ngành du lịch Việt Nam

Trên cơ sở kế thừa những thành quả nghiên cứu của các nhà khoa học quốc tế, hội thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lượt phát triển Du lịch sinh thái ở Việt Nam” từ ngày 7 đến ngày 9/9/1999 được tổ chức tại Hà Nôi đã đưa ra định nghĩa về Du lịch sinh thái như sau:

DLST là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”

Cho đến nay, khái niệm Du lịch sinh thái vẫn còn được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, với nhiều tên gọi khác nhau. Mặc dù những tranh luận vẫn còn đang diễn ra để tìm một định nghĩa chung nhất về Du lịch sinh thái, nhưng đa số ý kiến của các chuyên gia về Du lịch sinh thái đều cho rằng: Du lịch sinh thái là một loại hình dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn và được nuôi dưỡng, quản lý theo hướng bền vững về mặt sinh thái. Du lịch sinh thái dù theo định nghĩa nào chăng nữa vẫn phải hội đủ các yếu tố: sự quan tâm đến thiên nhiên và môi trường; trách nghiệm với xã hội và cộng đồng của những người tham gia.

Chính vì vậy, cứu thiên nhiên bằng cách đưa du lịch vào trong điều kiện phù hợp với thiên nhiên không còn là cách thức mới mẻ đối với các doanh nghiệp lữ hành cũng như các cấp quản lý văn hóa, du lịch tại địa phương. Bên cạnh đó, Du lịch sinh thái hướng vào tài nguyên và nhân công địa phương, đây chính là một sự thu hút hấp dẫn đối với các nước đang phát triển trong bối cảnh thiếu việc làm và dân số ngày càng gia tăng. Du lịch sinh thái tạo nên những khao khát và sự thỏa mãn tìm hiểu thiên nhiên, kích thích lòng yêu mến thiên nhiên, từ đó thôi thúc được ý thức bảo tồn và phát triển nhằm ngăn ngừa các tác động tiêu cực lên tự nhiên, văn hóa và thẩm mỹ.

1.1.3. Các đặc trưng của Du lịch sinh thái

Du lịch sinh thái có tất cả các đặc trưng cơ bản của mọi hoạt động du lịch nói chung bao gồm:

  • Tính đa ngành:

Thể hiện ở đối tượng được khai thác để phục vụ du lịch như: sự hấp dẫn về cảnh quan tự nhiên, giá trị văn hóa lịch sử…Thu nhập xã hội từ Du lịch sinh thái cũng mang lại nhiều nguồn thu cho các ngành kinh tế thông qua các sản phẩm cung cấp cho khách du lịch như: điện, nước, các sản phẩm từ nông ngư nghiệp, bưu chính viễn thông, thủ công mỹ nghệ,…

  • Tính đa thành phần: Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái tại Quan Lạn Quảng Ninh.

Biểu hiện ở tính đa dạng trong thành phần khách du lịch, ở những người phục vụ, ở những cộng đồng cư dân địa phương tham gia vào hoạt động du lịch.

  • Tính liên vùng:

Biểu hiện thông qua các tour, tuyến du lịch đến các khu, điểm du lịch trong một khu vực hay một quốc gia hoặc giữa các quốc gia với nhau.

  • Tính mùa vụ:

Biểu hiện ở thời gian diễn ra hoạt động du lịch tập trung cao trong năm. Tại Việt Nam, mùa du lịch thường là vào mùa hè đối với du lịch nghỉ dưỡng, và mùa xuân đối với du lịch văn hóa, tâm linh.

  • Tính xã hội hóa:

Thể hiện ở sự thu hút nhiều người, nhiều ngành, nhiều cấp trong xã hội tham gia trực tiếp và gián tiếp vào hoạt động du lịch.

  • Tính đa mục tiêu:

Biểu hiện những lợi ích đa dạng về bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan, di tích lịch sử – văn hoá, nâng cao chất lượng cuộc sống của người tham gia hoạt động du lịch, của cộng đồng cư dân địa phương, của khách du lịch; qua đó mở rộng được sự giao lưu văn hóa, kinh tế và nâng cao ý thức, trách nhiệm của mọi thành viên trong xã hội.

DLST còn chứa đựng các đặc trưng riêng, trong khi du lịch thiên nhiên thuần túy chỉ giới hạn trong khuôn khổ khai thác các điều kiện tự nhiên để tạo ra các sản phẩm, các hoạt động du lịch phục vụ du khách thì Du lịch sinh thái là một khái niệm rộng lớn hơn, tổng hợp hơn nhằm đạt được các mục tiêu ở tầm vĩ mô trong công tác quản lý Nhà nước và quản lý khai thác kinh doanh du lịch.

  • Tính Phát triển:

Môi trường: Du lịch sinh thái hướng con người tiếp cận gần hơn với các vùng tự nhiên, các khu bảo tồn nơi rất nhạy cảm về mặt môi trường. Hoạt động du lịch gây nên những áp lực lớn đối với môi trường, mà Du lịch sinh thái được coi là nhằm mở đường cho sự cân bằng giữa mục tiêu phát triển du lịch với mục tiêu bảo vệ môi trường.

Giáo dục: hoạt động Du lịch sinh thái có tác dụng giáo dục con người bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường, qua đó đáp ứng được nhu cầu phát triển bền vững. Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái tại Quan Lạn Quảng Ninh.

Xã hội: Phát triển Du lịch sinh thái cần có sự tham gia của cộng đồng người dân địa phương vì cộng đồng các cư dân địa phương chính là những người chủ sở hữu các nguồn tài nguyên tại địa phương mình

  • Tính bền vững:

Bền vững về kinh tế: Du lịch sinh thái phát triển ổn định lâu dài, tạo ra nguồn thu đáng kể, góp phần tích cực vào tăng trưởng kinh tế của xã hội, đem lại lợi ích cho cộng đồng, đặc biệt là người dân địa phương.

Bền vững về tài nguyên và môi trường: Du lịch sinh thái sử dụng các tài nguyên không vượt quá khả năng phục hồi của nó, đáp ứng nhu cầu phát triển hiện tại song không làm suy yếu khả năng tái tạo trong tương lai, đáp ứng được nhu cầu của thế hệ mai sau.

Bền vững về văn hóa xã hội: khai thác đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch hiện tại không làm tổn hại, suy thoái các giá trị văn hóa truyền thống để lại cho các thế hệ tiếp theo.

1.1.4. Các nguyên tắc của Du lịch sinh thái

DLST không chỉ đơn giản là vấn đề thay tên tour tuyến hay tổ chức các tour đến các khu tự nhiên. Việc tổ chức các tour Du lịch sinh thái thực sự không dễ dàng. Muốn có tour Du lịch sinh thái bền vững cần có sự cân bằng giữa các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường trong khuôn khổ các nguyên tắc và giá trị đạo đức. Theo Annalisa Koeman (cố vấn dự án du lịch bền vững) cho rằng để có tour Du lịch sinh thái bền vững cần phải thực hiện 11 nguyên tắc cơ bản sau:

  • Tăng cường và khuyến khích trách nhiệm đạo đức của mọi người đối với môi trường, cụ thể là giáo dục nâng cao hiểu biết cho du khách về môi trường tự nhiên, tạo ý thức tham gia của du khách vào các nỗ lực bảo tồn.
  • Không làm tổn hại đến tài nguyên, môi trường, không những đối với từng yếu tố mà cả sự cân bằng sinh thái của các yếu tố đó
  • Tập trung chú trọng đến sự cân bằng sinh thái của tổng thể các yếu tố của môi trường hơn đối với từng yếu tố của tài nguyên.
  • Du khách chấp nhận tự nhiên theo đúng nghĩa của nó và chấp nhận sự hạn chế của nó hơn là làm nó biến đổi môi trường cho sự thuận tiện cá nhân.
  • Đảm bảo lợi ích lâu dài đối với tài nguyên, đối với địa phương và đối với ngành (lợi ích về bảo tồn hoặc lợi ích về kinh tế, xã hội, văn hóa hay khoa học).
  • Khi tiếp xúc với môi trường tự nhiên nhằm hòa đồng làm tăng sự hiểu biết hơn là đi tìm cảm giác mạnh hay mục đích tăng cường thể trạng.
  • Đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ càng thông qua kinh nghiệm của cả người hướng dẫn và các thành viên tham gia.
  • Cần có sự đào tạo đối với tất cả các ban ngành chức năng: địa phương, chính quyền, tổ chức đoàn thể, hãng lữ hành và khách du lịch (trước, trong và sau chuyến đi).
  • Dựa vào sự tham gia của địa phương, tăng cường sự hiểu biết và sự phối hợp với các ban ngành chức năng.
  • Đòi hỏi cơ quan giám sát của ngành phải đưa ra các nguyên tắc và các tiêu chuẩn được chấp nhận và giám sát toàn bộ hoạt động.
  • Thiết lập một khuôn khổ quốc tế đa ngành vì Du lịch sinh thái là một hoạt động mang tính quốc tế.

1.1.5. Các điều kiện hình thành hệ thống Du lịch sinh thái Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái tại Quan Lạn Quảng Ninh.

  • Triển khai thực hiện việc bảo tồn thiên nhiên tại điểm mà du khách tới:

Để thực hiện Du lịch sinh thái bền vững, điều kiện tiên quyết là tiến hành các bước một cách hợp lý để tránh sự tác động hủy hoại đến môi trường hoặc làm suy thoái môi trường sinh thái của điểm tới thăm.

  • Hướng dẫn viên am hiểu về địa phương:

Các chương trình Du lịch sinh thái cần các hướng dẫn viên có thể phiên dịch và giảng giải về môi trường thiên nhiên và văn hóa địa phương của vùng để làm tăng thêm kiến thức cho khách tham quan.

Những người thích hợp cho công việc này là cư dân địa phương hoặc những người đã sống ở đó một thời gian. Tuy nhiên, họ phải được đào tạo thì mới thực hiện được vai trò hướng dẫn viên. Các hướng dẫn viên giữ vai trò, vị trí quan trọng trong phát triển Du lịch sinh thái bền vững và họ phải có được quyền lợi và trách nhiệm tương xứng với vai trò của họ.

  • Giới hạn về việc sử dụng đất đai:

Thiết lập khả năng chịu đựng của vùng là điều quan trọng để giảm đến mức tối thiểu tác động đến thiên nhiên.

Muốn vậy, cần phải nhận định rõ ràng các vùng, các khu vực theo định hướng khai thác, bảo vệ như: vùng sử dụng, vùng sử dụng hạn chế và vùng cấm sử dụng theo đặc điểm của khu vực và các yêu cầu bảo vệ tài nguyên tự nhiên ở các điểm Du lịch sinh thái.

  • Các chương trình hoạt động Du lịch sinh thái được thiết lập dựa trên tài nguyên thiên nhiên, văn hóa của khu vực:

Các chương trình hoạt động cũng cần được lập ra bởi các hướng dẫn viên địa phương, những người có kiến thức sâu rộng và kinh nghiệm về tài nguyên thiên nhiên xung quanh họ và lối sống của cư dân địa phương đã có tiếp xúc lâu năm với những tài nguyên này.

1.2. Tổng Quan Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái tại Quan Lạn Quảng Ninh.

1.2.1. Tổng quan về Du lịch sinh thái trên thế giới

Du lịch sinh thái là một trong những ngành du lịch phát triển nhanh nhất, được ghi nhận tăng trưởng 10 – 15% hàng năm trên toàn thế giới, gấp ba lần mức trung bình trong toàn ngành du lịch [18].

Thuật ngữ Du lịch sinh thái xuất hiện vào cuối những năm 1980 là kết quả trực tiếp của việc nâng cao nhận thức về môi trường. Loại hình du lịch này đã phát triển đáng kể trong những năm qua, được hỗ trợ bởi các yếu tố khác nhau: yếu tố tăng thu nhập và thời gian giải trí ở các hộ gia đình, nhu cầu hiểu biết về môi trường tự nhiên ngày càng tăng ở các nước phát triển; yếu tố nhận thức của chính phủ về cơ hội tận dụng loại hình du lịch này ở các nước đang phát triển Theo tổ chức du lịch thế giới (WTO), Du lịch sinh thái là một trong những ngành phát triển nhanh nhất thế giới và là nguồn thu nhập ngoại hối lớn ở các nước đang phát triển. Du lịch sinh thái có thể được xem là một chiến lược tiềm năng để bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên, đồng thời, để thúc đẩy sự phát triển bền vững KT-XH của địa phương. Du lịch sinh thái là một thị trường thích hợp đang phát triển trong ngành công nghiệp du lịch lớn hơn, với tiềm năng là một công cụ phát triển bền vững quan trọng.

  • Một số khảo sát liên quan đến Du lịch sinh thái:

Trang web booking.com đã thực hiện hai cuộc khảo sát lớn vào năm 2022, mô tả rõ tình hình du lịch hiện tại: trong số 10.000 khách du lịch, 42% cho rằng họ là khách du lịch bền vững, nhưng 65% cho biết họ đã không ở hoặc không biết họ có ở chỗ ở thân thiện với môi trường hay không; cuộc khảo sát thứ hai bao gồm 5700 nơi phục vụ du lịch và 25% báo cáo rằng họ đã có những ý tưởng du lịch bền vững [20].

Trip Advisor thực hiện một cuộc khảo sát năm 2023 về việc ảnh hưởng của sự hỗ trợ mà khách sạn dành cho cộng đồng địa phương tới quyết định lựa chọn khách sạn của du khách, cho kết quả như sau: 71% cho biết họ dự định đưa ra nhiều lựa chọn thân thiện với môi trường và địa phương hơn trong 12 tháng tới, so với 65% đã làm như vậy trong 12 tháng qua [23].

Khảo sát của Nielsen cho kết quả 66% người tiêu dùng trên thế giới nói rằng họ thích mua sản phẩm và dịch vụ từ các công ty đã triển khai chương trình để trả lại cho xã hội, môi trường [19]

Du lịch sinh thái ở một số quốc gia:

  • Du lịch sinh thái ở Hoa Kỳ:

DLST ở Hoa Kỳ thường được thực hiện ở các khu vực được bảo vệ như công viên quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên. Các nguyên tắc và hành vi của du lịch sinh thái đã trở nên phổ biến ở quốc gia này; ví dụ: khách sạn ở một số vùng phấn đấu để hoạt động thân thiện hơn với môi trường. 417 địa điểm công viên quốc gia tại Hoa Kỳ thuộc quản lý chung của Dịch vụ Công viên Quốc gia (NPS) mang đến cho du khách cơ hội tham gia các hoạt động du lịch sinh thái đích thực. Tổng cộng, các đơn vị NPS đã nhận được 330,8 triệu lượt truy cập giải trí trong năm 2022 [21].

  • Du lịch sinh thái ở Nam Phi:

Nam Phi đã sử dụng du lịch sinh thái để duy trì và cải thiện sự đa dạng sinh học rộng lớn của mình, cũng như tiếp thêm nguồn lực cho nền kinh tế. Du lịch đem đến nguồn ngoại hối lớn thứ tư ở Nam Phi, và du lịch sinh thái là ý tưởng khuyến khích du khách đồng thời thúc đẩy và hỗ trợ đa dạng sinh học của một quốc gia này. Nam Phi nổi tiếng về sự đa dạng sinh học, vì vậy du lịch sinh thái là cách để đất nước này được hưởng lợi từ động vật hoang dã một cách không tiêu tốn và hợp pháp, trái ngược với các hoạt động phi pháp như săn trộm và buôn bán động vật hoang dã ở nhiều nước cùng trong khu vực Châu Phi [17].

1.2.2 Tổng quan về Du lịch sinh thái ở Việt Nam Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái tại Quan Lạn Quảng Ninh.

  • Sự đa dạng sinh thái ở Việt Nam

Với 134 khu rừng đặc dụng, trong đó có 31 vườn quốc gia, 69 khu bảo tồn thiên nhiên và 34 khu rừng văn hoá, lịch sử nên Việt Nam có lợi thế hơn nhiều nước trong khu vực trong việc phát triển du lịch sinh thái.

Hệ sinh thái ở Việt Nam bao gồm 12 loại điển hình: hệ sinh thái rừng nhiệt đới, hệ sinh thái rừng rậm gió mùa ẩm thường xanh trên núi đá vôi, hệ sinh thái rừng khô hạn, hệ sinh thái núi cao, hệ sinh thái đất ngập nước, hệ sinh thái đầm lầy, hệ sinh thái đầm phá, hệ sinh thái san hô, hệ sinh thái ngập mặn ven biển, hệ sinh thái biển – đảo, hệ sinh thái cát ven biển, hệ sinh thái nông nghiệp.

Với 350 loài san hô, trong đó có 95 loài ở vùng biển phía Bắc và 225 loài ở vùng biển phía Nam. Bên cạnh 60 vạn ha đất cát ven biển, trong đó có 77.000 ha hệ sinh thái cát đỏ tập trung tại Bình Thuận, Ninh Thuận và tổng diện tích đất ngập mặn của nước ta có khoảng từ 7 – 10 triệu ha nhiều hệ sinh thái điển hình có giá trị cao về khoa học và du lịch với Đồng Tháp Mười là vùng ngập nước tiêu biểu cho khu vực Đông Nam Á. Hệ thống rừng đặc dụng và rừng ngập mặn Việt Nam thuộc loại rừng giàu có về tính đa dạng sinh học với 12.000 loài thực vật ,15.575 loài động vật. Với tiềm năng phong phú và đa dạng, nên ngay từ thời gian đầu của quá trình đổi mới đất nước, việc phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam đã được coi trọng [22].

Theo quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Vịêt Nam đến năm 2025 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đã xác định 7 khu vực trọng điểm ưu tiên phát triển du lịch, trong số đó đã có tới 5 khu vực là thuộc vùng ven biển:

Không gian du lịch sinh thái vùng núi và ven biển Đông Bắc bao gồm một phần các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Cạn, Bắc Thái; các hệ sinh thái điển hình và có giá trị cao được chọn khu vực này là khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Sơn, Hữu Liên (Lạng Sơn); rừng văn hoá lịch sử Pắc Bó; Trùng Khánh (Cao Bằng); VQG Ba Bể (BắcCạn); hồ núi Cốc (Bắc Thái) và hệ sinh thái rừng ngập mặn Quảng Ninh, Hải Phòng.

Không gian hoạt động của du lịch sinh thái vùng núi Tây Bắc và Hoàng Liên Sơn chủ yếu phần phía Tây của 2 tỉnh Lào Cai và Lai Châu với vùng sinh thái núi cao Sapa – Phanxiphăng và Khu bảo tồn Mường Nhé – nơi đang tồn tại 38 loài động vật quý hiếm cần được bảo vệ như Voi, Bò tót, Gấu chó, Hổ, Sói đỏ…

Du lịch sinh thái Đồng Bằng Sông Hồng với không gian chủ yếu thuộc các tỉnh Hà Tây, Vĩnh Phúc, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình và Thanh Hoá. Các khu bảo tồn thiên nhiên điển hình được chọn cho vùng này là Tam Đảo, Cúc Phương, Ba Vì, Xuân Thuỷ (khu bảo vệ vùng đất ngập nước đầu tiên ở Việt Nam).

Không gian du lịch sinh thái vùng Bắc Trung Bộ bao gồm phần phía Tây Nam Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Đà Nẵng và phía Đông Nam Thừa Thiên Huế. So với các nước trong khu vực Đông Nam Á, đây là địa bàn được đánh giá cao nhất về tính đa dạng sinh học với Khu bảo tồn thiên nhiên Phong Nha – Kẻ Bàng được xếp vào loại lớn trên thế giới và nhiều khu rừng nguyên sinh có giá trị phía tây của Tây Nguyên, một phần bắc Lâm Đồng kéo dài đến tỉnh Khánh Hoà thuộc không gian du lịch sinh thái vùng Nam Trung Bộ và Tây nguyên. Các hệ sinh thái điển hình của vùng nay bao gồm rừng khộp ở Yok đôn, đất ngập nước Hồ Lắc, hệ sinh thái Ngọc Linh, Biodup – Núi Bà; hệ sinh thái san hô Nha Trang.

Vùng chuyển tiếp từ cao nguyên Tây nguyên cực Nam Trung Bộ xuống đồng bằng Nam Bộ với không gian du lịch sinh thái bao trùm khu vực Vườn quốc gia Nam Cát Tiên (Lâm Đồng – Bình Dương, Đồng Nai), Côn Đảo, Bình Châu-Phước Bửu (Bà Rịa-Vũng Tàu), Biển Lạc – Núi Ông (Bình Thuận).

Dựa vào hai hệ sinh thái là đất ngập mặn và rừng ngập mặn thuộc các tỉnh dọc sông Mê Kông đến Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang, không gian du lịch vùng này sẽ tập trung chủ yếu vào rừng ngập mặn Cà Mau, Tràm Chim Đồng Tháp, Cù lao sông Tiền, sông Hậu và Khu bảo tồn thiên nhiên Phú Quốc. Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái tại Quan Lạn Quảng Ninh.

  • Thực trạng phát triển Du lịch sinh thái ở Việt Nam

Tình hình khách du lịch tham gia vào Du lịch sinh thái

Số lượng khách Du lịch sinh thái ở Việt Nam trong những năm gần đây gia tăng nhanh chóng. Nếu coi du khách đến các điểm du lịch có ưu thế nổi trội về môi trường tự nhiên là khách Du lịch sinh thái thì con số này ước tính chiếm khoảng 30% tổng lượng khách quốc tế và gần 50% lượng khách du lịch nội địa.

Số liệu thống kê về lượng khách du lịch được thực hiện ở một số vườn quốc gia như: Cát Bà, Cúc Phương, Ba Vì, Bạch Mã và các khu bảo tồn thiên nhiên cho thấy xu hướng này. Riêng năm 2021 tổng lượng khách tới các điểm này khoảng 1.840.000 lượt người.

Khách nội địa đi du lịch chủ yếu dựa vào thiên nhiên nhiều hơn là Du lịch sinh thái, bởi thời gian cho các chuyến Du lịch sinh thái của khách nội địa thường ngắn ngày. Mức chi tiêu của du khách ít. Khách Du lịch sinh thái nội địa có thời gian lưu trú trung bình từ 1 đến 3 ngày. Tại các VQG, khách sử dụng các cơ sở lưu trú trung bình như nhà sàn và chi cho lưu trú từ 60.000 đ đến 150.000 đ. Do vậy, nếu như ở các nước phát triển, khách Du lịch sinh thái là loại khách du lịch chi trả nhiều cho các chuyến đi của mình, thì khách du lịch ở nước ta chi trả các khu dịch vụ, vui chơi giải trí, hay các khu nghỉ mát nhiều hơn so với Du lịch sinh thái. Nguyên nhân là do, khách du lịch nội địa chưa có ý thức cao về giữ gìn môi trường, nên sự đóng góp còn hạn chế.

Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam với mục đích ban đầu từ Du lịch sinh thái hầu như chưa có. Song các kết quả điều tra cho thấy khuynh hướng tham gia vào các hoạt động Du lịch sinh thái của khách quốc tế rất cao. Khách Du lịch sinh thái quốc tế có khả năng chi trả cao hơn rất nhiều so với khách du lịch nội địa. Khách quốc tế tham gia hoạt động Du lịch sinh thái ở Việt Nam có khả năng chi trả 500 – 2.000 USD cho một chuyến đi du lịch. Thời gian lưu trú trung bình của họ từ 17 tới 25 ngày và có nhu cầu kết hợp nhiều điểm du lịch trong cùng một chuyến.

  • Những thành công trong phát triển Du lịch sinh thái

Trong số 31 vườn quốc gia trên cả nước thì Cúc Phương, Bạch Mã, Cát Tiên đã tổ chức hoạt động du lịch sinh thái khá tốt. Cụ thể 3 vườn này đã xây dựng được một số tuyến du lịch sinh thái, một số tuyến đường mòn thiên nhiên, một số hướng dẫn viên là kiểm lâm được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về du lịch sinh thái. Các vườn còn lại cũng tổ chức hoạt động thăm quan du lịch nhưng chưa có bài bản và định hướng rõ ràng.

Để hạn chế gây tình trạng ách tắc giao thông và làm giảm đáng kể lượng khí thải CO2 vào môi trường, nhiều địa phương đã cho triển khai sử dụng các phương tiện thân thiên với môi trường để đưa đón du lịch tại các điểm, cũng như trong quá trình tham quan du lịch, ví dụ như việc sử dụng xe điện tại các đảo Quan Lạn, Cô tô, khu du lịch tâm linh Ninh Bình; sử dụng thuyền gỗ thay vì thuyền máy tại danh thắng Tràng An, Vân Long… Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái tại Quan Lạn Quảng Ninh.

  • Những khó khăn, thách thức

Tuy có tiềm năng to lớn, nhưng du lịch sinh thái trong phạm vi cả nước nói chung và trong các khu bảo tồn nói riêng còn đang trong giai đoạn đầu của sự phát triển. Các hoạt động đa số mang tính tự phát, chưa có sản phẩm và đối tượng phục vụ rõ ràng, chưa có sự đầu tư quảng bá, nghiên cứu thị trường và công nghệ phuc vụ cho du lịch sinh thái, chưa có sự quan tâm, quản lý chặt chẽ của các cấp các ngành do vậy mà thực tế là sự đa dạng sinh học đang bị de doạ.

Theo ước tính ở Việt Nam có hơn 12.000 loài cây, 275 loài động vật có vú, 800 loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài động vật lưỡng cư, 2.470 loài cá và hơn 5.500 loài côn trùng, với ước tính hơn 10% đang mắc các bệnh đặc trưng ở các loài động vật có vú, chim và cá. Điều đáng buồn là hơn 28% thuộc động vật có vú, 10% loài chim và 21% loài động vật lưỡng cư và loài bò sát được liệt kê là đang ở tình trạng hết sức nguy hiểm [22]. Một nguyên nhân to lớn là môi trường sống bị mất đi do nạn phá rừng.

Đối với các di sản vật thể, đặc biệt là các di sản có giá trị toàn cầu nổi bật thì sự bùng nổ số lượng khách thăm quan đã và đang trở thành mối nguy cơ đe doạ việc bảo vệ các di sản này. Sự có mặt quá đông du khách trong một thời điểm ở một di sản đã tạo nên những tác động cơ học, hoá học đã cùng với các yếu tố khí hậu nhiệt đới gây nên những sự huỷ hoại đối với các di sản.

Sự phát triển các dịch vụ du lịch thiếu sự kiểm soát và sự bùng nổ số lượng du khách còn tác động mạnh mẽ đến cảnh quan văn hoá và môi trường sinh thái tại các khu du lịch như: khắc tên lên các vách đá, các bộ phận di tích, xả rác bừa bãi…

1.3. Cở sở địa lý cho phát triển du lịch sinh thái

1.3.1. Quan điểm về du lịch sinh thái

Sinh thái tự nhiên (nature ecology) và sinh thái nhân văn (human ecology) được xem như là điều kiện quan trọng nhất để phát triển Du lịch sinh thái. Các yếu tố này, chính là các “tài nguyên Du lịch sinh thái” [11].Như vậy, có thể cho rằng điều kiện tự nhiên chính là tài nguyên Du lịch sinh thái đóng vai trò chủ đạo. Yếu tố về sinh thái nhân văn trong tài nguyên Du lịch sinh thái là một bộ phận có vai trò gắn kết các đặc điểm/điều kiện được khai thác để phục vụ phát triển Du lịch sinh thái.

1.3.2. Tài nguyên du lịch sinh thái

Tài nguyên du lịch tự nhiên là các thành phần và các thể tổng hợp tự nhiên trực tiếp hoặc gián tiếp được khai thác sử dụng để tạo ra các sản phẩm du lịch.

Du lịch phát triển dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, vì vậy, tài nguyên Du lịch sinh thái là một bộ phận quan trọng trong tài nguyên du lịch bao gồm các giá trị tự nhiên thể hiện trong một hệ sinh thái cụ thể và các giá trị văn hóa bản địa tồn tại và phát triển không tách rời hệ sinh thái tự nhiên đó. Tuy nhiên, không phải mọi giá trị tự nhiên và văn hóa bản địa đều được coi là tài nguyên Du lịch sinh thái mà chỉ có các thành phần và các thể tổng hợp tự nhiên, các giá trị văn hóa bản địa gắn với một hệ sinh thái cụ thể được khai thác và sử dụng để tạo ra các sản phẩm Du lịch sinh thái nói riêng, phục vụ cho mục đích phát triển du lịch nói chung mới được xem là tài nguyên Du lịch sinh thái. Tài nguyên Du lịch sinh thái bao gồm các tài nguyên đang khai thác và các tài nguyên chưa khai thác. Mức độ khai thác tiềm năng tài nguyên Du lịch sinh thái phụ thuộc vào:

  • Khả năng nghiên cứu phát hiện và đánh giá các tiềm năng tài nguyên vốn đang tiềm ẩn;
  • Yêu cầu phát triển các sản phẩm nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của Du lịch sinh thái;
  • Trình độ quản lý đối với việc khai thác các tài nguyên Du lịch sinh thái, đặc biệt là ở những nới có các hệ sinh thái nhạy cảm;
  • Khả năng tiếp cận để khai thác các tiềm năng tài nguyên. Tài nguyên Du lịch sinh thái rất đa dạng tuy nhiên, một số loại tài nguyên Du lịch sinh thái chủ yếu thường được nghiên cứu khai thác để phát triển các sản phẩm, đáp ứng các nhu cầu của du khách bao gồm:
  • Các hệ sinh thái tự nhiên đặc thù, đặc biệt nơi có tính đa dạng sinh học cao với nhiều loài đặc hữu, quý hiếm (như các VQG, khu dự trữ sinh quyển…) – Các hệ sinh thái nông nghiệp (vườn cây ăn quả, trang trại, làng hoa, cây cảnh, nhà vườn…) Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái tại Quan Lạn Quảng Ninh.

Có ý kiến cho rằng, đa dạng sinh học còn bao gồm cả đa dạng văn hóa, là sự thể hiện của con người, một thành viên của thế giới sinh vật, đồng thời là nhân tố quan trọng thuộc hệ sinh thái.

Theo toàn thư quốc tế về phát triển văn hóa của UNESCO “Văn hóa là một tập hợp các hệ thống biểu tượng, nó quy định ứng xử của con người và làm cho một số đông người có thể giao tiếp với nhau, liên kết họ lại thành một cộng đồng riêng biệt”.

 Văn hóa bản địa là các giá trị về vật chất và tinh thần được hình thành trong quá trình phát triển của một cộng đồng dân cư, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa thế giới tự nhiên với con người trong một không gian sinh thái tự nhiên cụ thể như các phương thức canh tác, các lễ hội, sinh hoạt truyền thống gắn với các truyền thuyết của cộng đồng… Văn hóa bản địa là một bộ phận đặc biệt của đa dạng văn hóa – một cấu thành quan trọng của đa dạng sinh học, góp phần tạo nên nền văn hóa nói chung của một cộng đồng, một quốc gia. Bản sắc dân tộc của văn hoá là các giá trị đặc trưng tiêu biểu phản ánh diện mạo, cốt cách, phẩm chất và bản lĩnh của mỗi nền văn hoá. Đối với Việt Nam, bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện tập trung ở lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự lực, tự cường, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, đức tính cần cù, sáng tạo trong lao động, sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống…

1.3.3. Phân loại tài nguyên du lịch sinh thái chính

Nằm ở vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, lãnh thổ Việt Nam trải dài trên 15 độ vĩ tuyến với 3/4 là địa hình đồi núi và cao nguyên, với hơn 3200 km đường bờ biển, hàng ngàn hòn đảo…, trên lãnh thổ đó là nơi sinh sống của cộng đồng nhiều dân tộc với lịch sử hàng nghìn năm dựng nước, đấu tranh giữ nước với nhiều truyền thống có những nét đặc trưng riêng, nhiều di tích văn hóa lịch sử nên Việt Nam có tài nguyên Du lịch sinh thái rất đa dạng và phong phú mà tiêu biểu là một số loại sau: a. Tài nguyên Du lịch sinh thái tự nhiên – Địa hình:

Đối với du lịch, địa hình còn tạo nên phong cảnh… Địa hình miền núi có không khí trong lành, có nhiều đối tượng hoạt động du lịch như suối, thác, hang động, sinh vật và các dân tộc ít người. Ở nước ta gồm các dạng và kiểu địa hình sau:

Các vùng núi có phong cảnh đẹp: Đà Lạt, Sa Pa, Tam Đảo, Ba Vì…. Các hang động: Phong Nha, Hương Tích, Tam Cốc – Bích Động (Ninh Bình), các hang động của Vịnh Hạ Long…

Các di tích tự nhiên như: núi Vọng Phu, Hòn Trống Mái, hòn Đá Chông, giếng Giải Oan, hồ Ba Bể, hồ Tơ Nưng…

  • Khí hậu:

Tài nguyên khí hậu thích hợp với sức khoẻ con người. Khí hậu là sự thay đổi thao chu kỳ của thời tiết. Tài nguyên khí hậu phục vụ du lịch là tổng hợp các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm, áp suất không khí, gió, ánh nắng mặt trời thích hợp nhất đối với sức khoẻ con người. Ảnh hưởng của khí hậu đối với du lịch được thể hiện: người sống ở nơi khi hậu khắc nghiệt thường thích đi du lịch ở nơi có khí hậu thích hợp hơn; các nước phương bắc thường thích đi du lịch xuống phương nam; khách ở các đới xứ nóng muốn đi nghỉ biển hoặc ở nơi núi cao. Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái tại Quan Lạn Quảng Ninh.

  • Tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc chữa bệnh, an dưỡng

Tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc triển khai các loại hình du lịch thể thao, giải trí. Các loại hình du lịch thể thao vui chơi giải trí như nhảy dù, tàu lượn, khinh khí cầu, thả diều, thuyền buồn… rất cần có các điều kiện khí hậu thích hợp như hướng gió, tốc độ gió, quang mây, không có sương mù.

Tài nguyên khí hậu phục vụ cho việc triển khai các hoạt động du lịch: mùa du lịch cả năm đối với loại hình du lịch chữa bệnh suối khoáng; mùa du lịch vào mùa đông như du lịch trượt tuyết trên núi, du lịch tham quan các tài nguyên du lịch nhân văn; mùa du lịch vào mùa hè như du lịch leo núi, du lịch tắm biển và các loại hình du lịch ngoài trời.

Tóm lại, tài nguyên khí hậu tác động lớn đến sức khoẻ con người, đến loại hình du lịch phục vụ chữa bệnh an dưỡng và việc triển khai các loại hình du lịch.

  • Thuỷ văn:

Các bãi biển hoặc bãi ven hồ sử dụng để tắm mát, dạo chơi, hoạt động thể thao như bơi lội, du thuyền, lướt ván.

Là mặt thoáng tạo nên phong cảnh đẹp yên bình

Các dòng song lớn cùng với núi non, rừng cây, mây trời, ánh nắng, công trình kiến trúc soi bóng nƣớc là những phong cảnh hữu tình

Các điểm nước khoáng, suối nước nóng phục vụ loại hình du lịch tắm nước nóng, đắp bùn,chữa bệnh. Công dụng: chữa bệnh ngoài da, thần kinh, phụ khoa: mỏ Quang Hanh (thị xã Cẩm Phả – Quảng Ninh) và Tiên Lãng (Hải Phòng).

  • Các hệ sinh thái tự nhiên điển hình và đa dạng sinh học

Trong các kiểu hệ sinh thái trên cạn thì rừng có sự đa dạng về thành phần loài cao nhất, đồng thời đây cũng là nơi cư trú của nhiều loài động, thực vật hoang dã và vi sinh vật có giá trị kinh tế và khoa học. Các kiểu hệ sinh thái tự nhiên khác có thành phần loài nghèo hơn. Kiểu hệ sinh thái nông nghiệp và khu đô thị là những kiểu hệ sinh thái nhân tạo, thành phần loài sinh vật nghèo nàn.

Xét theo tính chất cơ bản là thảm thực vật bao phủ đặc trưng cho rừng mưa nhiệt đới ở Việt Nam, có thể thấy các kiểu rừng tiêu biểu: rừng kín vùng thấp, rừng thưa, trảng truông, rừng kín vùng cao, quần hệ lạnh vùng cao. Trong đó, các kiểu và kiểu phụ thảm thực vật sau đây có tính ĐDSH cao hơn và đáng chú ý hơn cả: kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới; kiểu rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới; kiểu rừng kín cây lá rộng, ẩm á nhiệt đới núi thấp; kiểu phụ rừng trên núi đá vôi.

Hệ sinh thái đất ngập nước : đất ngập nước Việt Nam rất đa dạng về loại hình và hệ sinh thái, thuộc 2 nhóm đất ngập nước: nội địa và ven biển. Trong đó một số kiểu có tính ĐDSH cao: rừng ngập mặn ven biển; đầm lầy than bùn, đầm phá; rạn san hô, cỏ biển; vùng biển quanh các đảo ven bờ. Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái tại Quan Lạn Quảng Ninh.

Hệ sinh thái biển: Việt Nam có đường bờ biển dài 3.260 km và vùng đặc quyền kinh tế rộng trên 1 triệu km2 với nguồn tài nguyên sinh vật biển khá phong phú.

  • Văn hóa bản địa

 Ở nước ta, cùng với sự phát triển của một đất nước với 54 dân tộc, từ lâu đã hình thành những địa vực cư trú truyền thống từ thế hệ này sang thế hệ khác với các vùng sinh thái khác nhau trải qua các quá trình: thích nghi – tồn tại – phát triển với những kiến thức, văn hóa bản địa đặc trưng. Các giá trị văn hóa bản địa này thể hiện rõ đặc trưng sinh thái nơi cộng đồng cư trú. Việc đưa các giá trị văn hóa bản địa vào các chương trình Du lịch sinh thái ở từng vùng không lẫn với du lịch văn hóa, càng không thể tách rời với Du lịch sinh thái. Các giá trị văn hóa bản địa thường được khai thác với tư cách là tài nguyên Du lịch sinh thái bao gồm:

  • Kiến thức canh tác, khai thác, bảo tồn và sử dụng các loài sinh vật phục vụ cuộc sống cộng đồng;
  • Đặc điểm sinh hoạt văn hóa với các lễ hội truyền thống gắn vơi tự nhiên. Lễ hội là một hình thức văn hoá đặc sắc phản ánh đời sống tâm linh của một dân tộc. Lễ hội là một hình thức sinh hoạt tập thể của nhân dân sau những ngày lao động vất vả, hoặc là một dịp mọi người hướng về một sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước hoặc liên quan đến những sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân. Do vậy, lệ hội có tính chất cao đối với du khách Việt Nam; – Kiến trúc dân gian, công trình gắn với truyền thuyết, đặc điểm tự nhiên của khu vực;
  • Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ truyền thống được sản xuất từ các nguyên liệu tự nhiên gắn với đời sống cộng đồng tại địa bàn cư trú thể hiện tài khéo léo của nhân dân lao động và những tư duy triết học, những tâm tư tình cảm của con người;
  • Các di tích lịch sử – văn hóa, khảo cổ gắn liền với lịch sử phát triển, tín ngưỡng của cộng đồng[11].

1.4. Cơ sở tài liệu

Để nghiên cứu, đánh giá thực trạng Du lịch sinh thái tại khu vực nghiên cứu và có thể đề xuất được giải pháp, luận văn sử dụng 2 nguồn tài liệu chính phục vụ nghiên cứu là: i. Thu thập, tổng hợp tài liệu từ các kết quả nghiên cứu của các đề tài dự án đã được thực hiện ở địa phương – đảo Quan Lan trong thời gian qua; ii. Điều tra, khảo sát thực địa ở Quan Lạn của bản thân học viện, tiếp xúc cộng đồng dân cư, những người làm công tác quản lý du lịch địa phương, hướng dẫn viên du lịch…

  • Tài liệu thu thập

Học viên thu thập và tổng hợp các kết quả và phương pháp nghiên cứu từ rất nhiều các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước như: các bài báo khoa học, luận văn thạc sĩ, khóa luận tốt nghiệp về hiện trạng khai thác du lịch, hiện trạng môi trường, hiện trạng Du lịch sinh thái như: điều kiện về tự nhiên, kinh tế – xã hội, các văn bản, số liệu liên quan đến việc xây dựng, phát triển DLST,…

  • Tài liệu điều tra, khảo sát

Khảo sát thực địa khu vực nghiên cứu để có những đánh giá khách quan và chính xác về hiệu quả của Du lịch sinh thái tại địa phương.

1.5. phương pháp nghiên cứu Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái tại Quan Lạn Quảng Ninh.

1.5.1 Phương pháp thu thập, xử lí số liệu, tài liệu

Phương pháp này cho phép học viên kế thừa, tích lũy các kết quả điều tra, nghiên cứu trong quá khứ. Đây là phương pháp được sử dụng hầu như thường xuyên trong suốt đề tài, bao gồm hai giai đoạn thu thập và xử lí tài liệu. Nguồn tài liệu sử dụng bao gồm các dạng: số liệu thống kê từ các cơ quan ban ngành liên quan, số liệu thống kê của huyện; kết quả nghiên cứu của các đề tài Nhà nước, đề tài cấp tỉnh, các dự án phát triển du lịch của Quảng Ninh nói chung và của đảo Quan Lạn nói riêng; một số luận văn, luận án, một số trang tạp trí, báo điện tử.

1.5.2 Phương pháp thực địa

Đây là phương pháp mà học viên sẽ có cái nhìn trực quan, xác thực và toàn diện về vấn đề để từ đó tránh đưa ra các kết luận chủ quan, thiếu cơ sở thực tiễn. Đồng thời, qua phương pháp thực địa thì học viên con có cơ hội so sánh, kiểm tra được độ chính xác của các tài liệu thu thập từ sách vở, tài liệu. Quá trình thực hiện đề tài học viên đã tiến hành 2 đợt thực địa đến đảo Quan Lạn (đợt 1 từ 22 đến 24 tháng 7 năm 2023; đợt 2 từ 15 đến 18 tháng 8 năm 2024) để trực tiếp thu thập thông tin về tự nhiên, tài nguyên du lịch, số liệu KT-XH của các xã đảo, tiếp thu kiến thức, thực tế hoạt động du lịch ở đảo (không có trên sách vở) từ người dân bản địa, các cán bộ phụ trách quản lý hoạt động du lịch trên đảo, các ban ngành liên quan.

1.5.3. Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lí

Được sử dụng để xác định những đặc điểm của những hợp phần tự nhiên cùng những quy luật quan hệ tương tác giữa các hợp phần tham gia vào thành tạo và phân hóa lãnh thổ thành các đơn vị phân hóa trong từng lãnh thổ của các khu vực.  Đề tài đã tiến hành xây dựng mới các bản đồ tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn. Các bản đồ này được xây dựng trên cơ sở sử dụng hệ thống thông tin địa lí GIS. Cùng với đó là các biểu đồ, sơ đồ, bảng biểu có liên quan đến nội dung nghiên cứu. Trong đề tài đã vận dụng phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lí để phân tích tiềm năng tự nhiên và nhân văn của đảo Quan Lạn, trên cơ sở đó so sánh, đối chiếu, đánh giá và lựa chọn loại hình phát triển Du lịch sinh thái cho phù hợp.

1.5.4. Phương pháp đánh giá tài nguyên

Để xác định, đánh giá và so sánh nguồn tài nguyên cho phát triển Du lịch sinh thái (du lịch sinh thái tự nhiên và du lịch sinh thái nhân văn) học viên đã vận dụng phương pháp đánh giá kỹ thuật các đơn vị địa lý tự nhiên [ Nguyễn Cao Huần, 2008]– trong trường hợp của luận văn chính là hai xã đảo Quan Lạn và Minh Châu. Trong phương pháp này học viên đã sử dụng thang điểm có trọng số đánh giá riêng đối với từng loại tài nguyên du lịch và đánh giá chung – đánh giá tổng hợp đối với từng xã đảo;

1.5.5. Phương pháp phân tích SWOT Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái tại Quan Lạn Quảng Ninh.

Phân tích điểm mạnh, điểm yếu là sự đánh giá các đặc điểm bên trong, tự đánh giá khả năng của nội bộ trong việc thực hiện mục tiêu, lấy mục tiêu làm chuẩn để xếp một đặc trưng nào đó là điểm mạnh hay điểm yếu. Phân tích cơ hội, thách thức là các yếu tố bên ngoài nội bộ chi phối đến việc đạt được mục tiêu, lấy mục tiêu làm chuẩn để xếp một đặc trưng nào đó của môi trường bên ngoài là cơ hội hay thách thức. Trong quá trình xây dựng chiến lược quản lý, phân tích SWOT đóng vai trò là một công cụ căn bản để có cái nhìn tổng thể không chỉ về tiềm năng du lịch mà còn về những yếu tố luôn ảnh hưởng và quyết định tới sự thành công của việc khai thác du lịch và quản lý hiệu quả.

Bảng 1. 1: cấu trúc phân tích SWOT

Phân tích SWOT Tích cực/có lợi Tiêu cực/gây hại
Tác nhân bên trong

(hiện trạng, yếu tố phát sinh từ nội bộ)

Điểm mạnh(S)

Cần phải duy trì sử dụng chúng làm nền tảng và đòn bẩy

Điểm yếu(W)

Cần được khắc phục, thay thế hoặc chấm dứt

Tác nhân bên ngoài

(hiện trạng, yếu tố phát sinh từ môi trường xung quanh)

Cơ hội(O)

Cần được tận dụng ưu tiên, nắm bắt kịp thời, xây dựng và phát triển trên những cơ hội này

Thách thức(T)

Cần đưa những thách thức vào kế hoạch nhằm đề ra các phương án phòng bị, giải quyết và quản lý

Trên cơ sở các nguồn thông tin, tài liệu đã thu thập và đánh giá, luận văn áp dụng phân tích SWOT nhằm xác định các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức cho sự phát triển du lịch tại khu vực nghiên cứu là đảo Quan Lạn với mục tiêu là: Khai thác du lịch hiệu quả hơn theo hướng Du lịch sinh thái và bảo vệ môi trường.

Tiểu kết chương 1:

Du lịch sinh thái là khái niệm mới nhưng đã nhanh chóng thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Theo quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam, Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường , có đóng  góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương.  Có nhiều phương pháp để đánh giá điều kiện phát triển Du lịch sinh thái những trong khuôn khổ của  luận văn, học viên dã sử dụng phương pháp đánh giá kỹ thuật hai đơn vị địa lý tự nhiên là hai xã Quan Lạn và xã Minh Châu với việc xác định 6 tiêu chí đánh giá, 4 cấp cho mỗi tiêu chí, điểm cụ thể cho mỗi cấp và hệ số cho các tiêu chí để làm cơ sở cho việc đánh giá các khu vực Du lịch sinh thái. Luận văn: Phát triển du lịch sinh thái tại Quan Lạn Quảng Ninh.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng phát triển Du lịch sinh thái đảo Quan Lạn

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537