Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. Giới thiệu chung về tỉnh Phú Thọ

3.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội tỉnh Phú Thọ

3.1.1.1. Điều kiện tự nhiên

Phú Thọ là một tỉnh thuộc vùng Trung du miền núi Bắc Bộ, được tái lập ngày 01/01/1997 trên cơ sở tách ra từ tỉnh Vĩnh Phú.

Ranh giới tỉnh phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Tuyên Quang; phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Yên Bái; phía Đông  giáp tỉnh Vĩnh Phúc; phía Đông Nam giáp thủ đô Hà Nội; phía Tây giáp tỉnh Sơn La; phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Hòa Bình. Diện tích tự nhiên toàn tỉnh khoảng 3.533,4 km2 (chiếm 1,2% diện tích cả nước).

Thành phố Việt Trì, đô thị loại I, là trung tâm hành chính, kinh tế chính trị văn hoá giáo dục của tỉnh, cách trung tâm thủ đô Hà Nội 80 km và sân bay quốc tế Nội Bài 50 km về phía Tây Bắc. Thành phố Việt Trì nằm đối diện với huyện Ba Vì, Hà Nội qua sông Hồng.

Vị trí địa lý đã tạo điều kiện thuận lợi để Phú Thọ liên kết vùng phát triển du lịch. Du lịch Phú Thọ giữ vai trò là cửa ngõ phía Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội, cầu nối du lịch giữa vùng Đồng bằng sông Hồng và vùng Trung du miền núi Bắc Bộ, Đông và Tây Bắc; điểm kết nối quốc tế trong hành lang kinh tế Quảng Ninh – Hà Nội – Côn Minh; kết nối tuyến du lịch tâm linh với các tỉnh duyên hải. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ.

Điểm nổi bật của địa hình Phú Thọ là chia cắt tương đối mạnh vì nằm ở cuối dãy Hoàng Liên Sơn, nơi chuyển tiếp giữa miền núi cao và miền núi thấp, gò đồi, độ cao giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, diện tích đồi núi chiếm 64% tổng diện tích tự nhiên, sông suối nhiều (chiếm 4,1%).

Về góc độ du lịch, Phú Thọ có địa hình đa dạng, vừa có miền núi, vừa có trung du và đồng bằng ven sông là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch. Trung du là dạng địa hình đặc trưng có giá trị phát triển du lịch sinh thái. Tuy nhiên, do địa hình chia cắt nên việc đầu tư khai thác tiềm năng du lịch khó khăn khi phát triển hạ tầng.

Khí hậu Phú Thọ mang đậm đặc trưng của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, với hai mùa rõ rệt: mùa hè nắng nòng, mưa nhiều từ tháng 5 tới tháng 10 và mùa đông lạnh, mưa ít từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình trong năm xấp xỉ  23o C, lượng mưa trung bình: 1.500 mm – 1.700 mm, độ ẩm bình quân: 80% – 90%.

Nhìn chung, khí hậu tỉnh Phú Thọ tương đối thuận lợi cho sinh hoạt và các hoạt động kinh tế – xã hội, đặc biệt điều kiện thời tiết rất phù hợp cho việc sinh trưởng và phát triển đa dạng các loại cây trồng lâu năm, cây ăn quả và chăn nuôi gia súc, cung cấp nguồn thực phẩm và có ảnh hưởng tích cực đến phát triển du lịch.

Phú Thọ có tài nguyên nước rất dồi dào, phong phú với năm sông lớn chảy qua: sông Chảy, sông Hồng (sông Thao), sông Đà, sông Lô, sông Bứa và 41 phụ lưu đủ cung cấp cho tưới tiêu trong cả tỉnh.

Ngoài ra, Phú Thọ còn có 130 suối nhỏ cùng hàng ngàn hồ, ao phân bố đều khắp trên lãnh thổ,chứa nguồn nước mặt dồi dào. Nguồn nước ngầm của tỉnh phân bố ở nhiều huyện như Lâm Thao, Đoan Hùng, thị xã Phú Thọ với trữ lượng lớn.

Ngoài khả năng cung cấp nước cho sinh hoạt, hệ thống sông ngòi Phú Thọ với các dòng sông lớn như sông Hồng, sông Lô, sông Đà là nguồn tài nguyên du lịch trên sông rất có giá trị, đặc biệt là trong điều kiện khai thác kết hợp với văn hóa dân gian Phú Thọ và ẩm thực.

3.1.1.2. Điều kiện kinh tế – xã hội  

Dân số và nguồn nhân lực: Theo thống kê của Trung tâm thông tin và dự báo Kinh tế – Xã hội Quốc gia, tính đến hết năm 2021 dân số toàn tình Phú Thọ là 1.340.813 người, mật độ dân số bình quân 379,5 người/km2, tốc độ tăng dân số tự nhiên là 0,98% và tăng cơ học là 0,1% .

Trong tổng số dân tỉnh Phú Thọ, dân số thành thị chiếm 244.322 người, tương đương hơn 18%, thấp hơn mức trung bình cả nước (22%), chủ yếu tập trung ở thành phố Việt Trì, thị xã Phú Thọ và các thị trấn huyện lỵ, các khu công nghiệp. Dân số nam ở Phú Thọ có khoảng 661.116 người, tương đương 49,3%. Dân số thành thị, nông thôn liên quan đến mức thu nhập và khả năng đi du lịch của người dân. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ.

Dân cư Phú Thọ có đặc điểm là dân số trẻ chiếm tỷ lệ cao, mặt bằng dân trí cao hơn mặt bằng chung cả nước, dân cư năng động, sáng tạo là điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch.

Tỉnh Phú Thọ có sự đa dạng văn hóa dân tộc. Trên địa bàn tỉnh có 28 dân tộc sinh sống, đông nhất là dân tộc Kinh, chiếm 85,89% số dân toàn tỉnh, dân số là người dân tộc thiểu chiếm 14,11%. Trong số các dân tộc thiểu số dân tộc Mường chiếm 13,62%; dân tộc Dao chiếm 0,92%; dân tộc Sán Chay chiếm 0,22%; dân tộc Tày chiếm 0,15%; dân tộc Mông chiếm 0,05%; dân tộc Thái chiếm 0,04%; dân tộc Nùng chiếm 0,03%; dân tộc Hoa có chiếm 0,02%; dân tộc Thổ chiếm 0,01%; dân tộc Ngái chiếm 0,008%..

Tuy điều kiện kinh tế khác nhau nhưng mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa riêng thể hiện qua các lễ hội, làng nghề, văn hóa dân gian, ẩm thực là nguồn tài nguyên để khách du lịch tham quan, tìm hiểu. Bên cạnh đó, các dân tộc thiểu số thường sống ở vùng sâu, vùng xa, các khu vực có hệ sinh thái tự nhiên còn hoang sơ, thuận lợi việc phát triển du lịch cộng đồng, du lịch có trách nhiệm.

Quy mô tăng trưởng kinh tế: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) năm 2023 đạt 5,63%; thu nhập bình quân đầu người 26,9 triệu đồng; tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt 3.288 tỷ VNĐ.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

3.1.2. Những lợi thế của Phú Thọ trong phát triển du lịch

Phú Thọ là một tỉnh hội tụ đầy đủ các yếu tố, điều kiện thuận lợi để phát triển nhanh và bền vững ngành du lịch.

Ví trí địa lý là lợi thế so sánh của tỉnh trong giao lưu kinh tế, liên kết phát triển  du lịch.

Khí hậu Phú Thọ mang đậm đặc trưng của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ảnh hưởng tích cực đến phát triển du lịch.

Phú Thọ có tài nguyên nước rất dồi dào, ngoài khả năng cung cấp nước cho sinh hoạt, hệ thống sông ngòi Phú Thọ là nguồn tài nguyên du lịch trên sông rất có giá trị, đặc biệt là trong điều kiện khai thác kết hợp với văn hóa dân gian Phú Thọ và ẩm thực.

Chính các điều kiện tự nhiên thuận lợi đã tạo cho Phú Thọ một nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên khá phong phú và hấp dẫn với các loại hình có thể khai thác như du lịch tham quan, vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng chữa bệnh, du lịch sinh thái… Đáng chú ý trong số đó phải kể đến vườn quốc gia Xuân Sơn (huyện Tân Sơn); nước khoáng nóng Thanh Thủy (huyện Thanh Thủy); đầm Ao Châu, Ao Giời – Suối Tiên (huyện Hạ Hòa).

Vườn quốc gia Xuân Sơn có hệ thống núi cao từ 1.000-1.400 mét, với tổng diện tích 15.048 ha, trong đó có trên 8.700 ha rừng tự nhiên, nhiều loại động vật, thực vật quy hiếm, nhiều suối, thác nước và nhiêu cảnh quan hang động. Đây là tài nguyên sinh thái hấp dẫn nhất của tỉnh. Ngoài ra tại đây còn có các dân Mường, Dao cư trú từ lâu đời và cách biệt với các địa phương khác nên còn giữ được nhiều phong tục, tập quán và các nét văn hóa bản địa chưa bị pha tạp. Chính vì những đặc điểm trên, tỉnh có thể khai thác phát triển du lịch sinh thái với nhiều loại hình như: nghỉ dưỡng, tham quan, nghiên cứu, leo núi, khám phá hang động, tìm hiểu văn hóa của đồng bào dân tộc. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ.

Nước khoáng nóng Thanh Thủy có qui mô diện tích khoảng 3 km2, nhiệt độ trung bình của nước nóng 37 – 400 C, chất lượng nước tốt với nhiều chất vi lượng có lợi cho sức khoẻ,  trong đó có hàm chất Radon quý hiếm; phù hợp để khai thác phát triển du lịch nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe, chữa bệnh…

Đầm Ao Châu là hồ nước cảnh quan sơn thủy hữu tình, môi trường trong lành, thích hợp khai thác phát triển du lịch nghỉ dưỡng, bơi thuyền và câu cá.

Ao Giời – Suối Tiên có độ cao từ 1.000 – 1.200 mét, còn tồn tại nhiều động, thực vật quý hiếm. Từ trên núi Nả có các dòng suối chảy quanh năm, nhiều tầng, bậc tạo thành gần 20 dòng thác bạc thích hợp cho việc khai thác phát triển du lịch sinh thái với các sản phẩm leo núi, cắm trại, nghỉ dưỡng.

Ngoài ra còn có thể kể đến các điểm tài nguyên du lịch khác như núi Ten (Xuân Sơn – nhiệt độ vào mùa hè không quá 280C), Thác Cự Thắng, Thác Ba Vực (Thanh Sơn); hồ Phượng Mao (Thanh Thủy); hồ Đồng Đào, Tiên Động (Sông Thao); hồ Đồng Mậu, hồ Liên Phương (Đoan Hùng).

Nhìn chung, tài nguyên du lịch tự nhiên của Phú Thọ khá phong phú, hấp dẫn và được phân bố đều trên toàn toàn tỉnh. Tuy nhiên, những tài nguyên này chủ yếu còn đang ở dạng tiềm năng. Để có thể trở thành các điểm du lịch hấp dẫn khách du lịch cần phải có sự quan tâm đầu tư khai thác đúng hướng.

Hơn thế, Phú Thọ còn là vùng đất “địa linh nhân kiệt”, nơi cội nguồn của dân tộc Việt Nam với hàng nghìn di tích và các điểm liên quan đến di tích. Trong đó 1 di tích cấp quốc gia đặc biệt, 72 di tích cấp quốc gia và 226 di tích cấp tỉnh.

Khu di tích lịch sử  Đền Hùng là nơi thờ cúng các Vua Hùng, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận là di tích lịch sử văn hóa đặc biệt của quốc gia.  Toàn bộ khu di tích có bốn đền, một chùa và một lăng hài hòa trong phong cảnh thiên nhiên, có địa thế cao hùng vĩ. Ngoài ra còn có Đền Tổ Mẫu Âu Cơ trên núi Vặn, đền Lạc Long Quân được đầu tư xây dựng mới tạo cho quần thể khu di tích đầy khí thiêng của sơn thủy hội tụ. Tại đây hàng năm diễn ra lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương. Khu Di tích Đền Hùng với khả năng khai thác thành khu du lịch văn hóa, lễ hội cấp quốc gia.

Khu di tích khảo cổ Làng Cả  là một khu trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội sầm uất có tính liên tục từ thời kỳ Hùng Vương, thời kỳ Bắc thuộc và thời kỳ phong kiến tự chủ, một kinh đô của nhà nước sơ khai thời Hùng Vương ở vùng ngã ba sông Bạch Hạc, Việt Trì ngày nay, trong đó di tích khảo cổ Làng Cả là dấu tích nổi bật và duy nhất về cố đô Văn Lang. Khu Di tích khảo cổ Gò Mun là di tích tiêu biểu cho văn hóa Gò Mun ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ, thuộc thời đại đồng thau ở Việt Nam, bước chuẩn bị tiền đề cho việc hình thành văn hóa Đông Sơn – thời kỳ đồ sắt. Văn hóa Gò Mun đã trở thành một nhân tố quan trọng nhất, một bước ngoặt trong quá trình hình thành văn hóa Đông Sơn sau này.

Đền Mẫu Âu Cơ là di tích thờ Quốc Mẫu quan trọng trong hệ thống di tích lịch sử văn hóa của tỉnh Phú Thọ. Đền có từ thời Hậu Lê với kiến trúc chạm gỗ quý giá được coi như những tiêu bản của nền nghệ thuật đương đại. Tượng Mẫu Âu Cơ trong đền được tạo tác từ thời Lê có giá trị nghệ thuật cao. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ.

Đây là địa điểm khai thác du lịch tâm linh, về nguồn.

Ngoài các điểm tài nguyên nổi bật nêu trên, Phú Thọ còn có hệ thống các đình như Hùng Lô, Đào Xá, Hy Cương, Lâu Thượng, chùa Xuân Lũng có giá trị kiến trúc nghệ thuật cao, với khả năng khai thác phục vụ khách tham quan, nghiên cứu.

Ngoài ra, Phú Thọ là một trong những miền đất của lễ hội. Hiện ở Phú Thọ có 260 lễ hội, trong đó có 228 lễ hội truyền thống, 32 lễ hội lịch sử – cách mạng, có 92 lễ hội được bảo lưu hoàn toàn cả phần lễ, phần hội và trò diễn trong đó có 30 lễ hội xếp loại A, 1 lễ hội cấp quốc gia là lễ hội Đền Hùng.

Các lễ hội được phân bố không đều theo lãnh thổ và thời gian và có những nét đặc trưng riêng. Về thời gian, lễ hội chủ yếu được tổ chức vào mùa xuân. Về địa bàn, lễ hội chủ yếu tập trung ở khu vực Đền Hùng, thành phố Việt Trì (31 lễ hội); Lâm Thao (24 lễ hội); Phù Ninh (24 lễ hội); Tam Nông (31 lễ hội) và Cẩm Khê (30 lễ hội).

Hội phết Hiền Quan là lễ hội dân gian được tổ chức ngày 12-13 tháng Giêng tại xã Hiền Quan huyện Tam Nông. Lễ hội được tổ chức để tưởng nhớ và tôn vinh công lao của nữ tướng Thiều Hoa công chúa – Đức Thánh Mẫu Đại Vương, người giúp Hai Bà Trưng đánh giặc cứu nước. Trong lế hội diễn ra những trò chơi dân gian mang đậm nét văn hóa Hùng Vương như chọi gà, đánh đu…

Hội chải” Bạch Hạc được tổ chức hàng năm vào ngày 19 – 20/5 âm lịch, nhưng sau này được chuyển tới ngày 9 – 10/3 âm lịch để phù hợp với ngày Giỗ Tổ Hùng Vương. Lễ hội bơi chải Bạch Hạc là ngày hội vui khoẻ của dân làng Bạch Hạc, thể hiện tinh thần thượng võ của dân tộc ta và nó trở thành môn thể thao không thể thiếu tại Lễ hội Đền Hùng.

Trong gia sản to lớn về dân ca và nghệ thuật sân khấu cổ truyền hát Xoan và hát Ghẹo là hình thức rất độc đáo. Ngoài giá trị về nghệ thuật, âm nhạc trong hát Xoan, hát Ghẹo còn ẩn chứa tư tưởng bên trong của loại hình nghệ thuật này. Đó là tình, là nghĩa đối với nhau và dành cho nhau. Từ khi Hát xoan được UNESCO công nhận Di sản văn hóa phi vật thể (năm 2020) lễ hội càng trở nên hấp dẫn khách du lịch tham quan, nghiên cứu.

Ngoài các lễ hội đặc sắc trên còn có hội mở cửa rừng, hội đánh cá, Tết nhảy của dân tộc Dao, hội cồng chiêng của người Mường, hội rước Ông Khiu, Bà Khiu…của các dân tộc thiểu số đều có khả năng khai thác phát triển du lịch.

Tình hình chính trị tại tỉnh ổn định, an ninh trật tự, an toàn xã hội được giữ vững; kinh tế phát triển đạt mức tăng trưởng khá; hệ thống cơ chế chính sách ngày càng hoàn thiện tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư; công tác xã hội hóa ngày càng được đẩy mạnh thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia hoạt động du lịch.

3.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch ở tỉnh Phú Thọ Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ.

3.1.3.1. Tài nguyên du lịch

Phú Thọ có tài nguyên du lịch khá đa dạng, cả về tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn.

Các điều kiện tự nhiên của  đã tạo cho Phú Thọ có nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên khá phong phú và hấp dẫn. Vườn quốc gia Xuân Sơn là một trong những khu vực có đa dạng sinh học cao; nước khoáng nóng Thanh Thủy được xác định có trữ lượng và hàm lượng nguyên tố vi lượng thích hợp cho việc  nghỉ dưỡng, chăm sóc sức khỏe; Đầm Ao Châu, Ao Giời – Giếng Tiên, Đầm Vân Hội… là những danh thắng đẹp có sức hấp dẫn du khách.

Theo truyền thuyết, Phú Thọ là nơi các vua Hùng chọn làm đất đóng đô, đặt tên là kinh đô Văn Lang (kinh đô đầu tiên của dân tộc Việt Nam). Khu di tích lịch sử Đền Hùng hiện nay là di tích lịch sử đặc biệt quan trọng của quốc gia, gắn với Giỗ tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng, hàng năm thu hút hàng triệu khách du lịch người Việt Nam từ khắp mọi miền trên đất nước. Đặc biệt Hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại và nhiều tài nguyên du lịch nhân văn có giá trị khác là cơ hội cho du lịch tạo được những bước đột phá trong những năm tiếp theo.

3.1.3.2. Cơ chế, chính sách đối với phát triển du lịch

Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với phát triển du lịch được thể hiện qua  các Nghị quyết các kỳ Đại  hội đảng  lần  thứ VII, VIII,  IX, X và XI, Chỉ thị, Nghị quyết của Chính phủ. Qua đó, du lịch được nhận thức đúng hơn với vai trò là ngành kinh tế quan trọng của đất nước.

Du lịch tỉnh Phú Thọ luôn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các Bộ, Ngành ở Trung ương thông qua các chương trình các dự án đầu tư phát triển du lịch trên địa bàn trong giai đoạn vừa qua. Đặc biệt, với Quyết định số 99/2017/QĐ-TTg ngày 14 tháng 7 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế Phú Thọ đến năm 2030 với mục tiêu xây dựng Việt Trì là Thành phố lễ hội về nguồn của dân tộc Việt Nam. Trong Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040, đã định hướng Việt Trì là thành phố lễ  hội, Phú Thọ là một trong những địa bàn trọng điểm du lịch cả nước; Đền Hùng là khu du lịch quốc gia để đầu tư phát triển, tỉnh Phú Thọ thành một trong những địa phương có ngành du lịch phát triển. Đây là cơ sở quan trọng, là kim chỉ nam cho định hướng phát triển du lịch của tỉnh Phú Thọ.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XVII, nhiệm kỳ 2019 –  2024 đã khẳng định: Tạo bước phát triển vượt bậc về du lịch, dịch vụ trên cơ sở  phát huy lợi thế trung tâm vùng, lợi thế vùng đất Tổ; phấn đấu xây dựng Phú Thọ thành trung tâm du lịch về cội nguồn với hạt nhân là Đền Hùng, thành phố lễ hội  Việt Trì, hệ thống các di tích gắn với giá trị văn hóa thời kỳ Hùng Vương,… Chủ trương đó được Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh cụ thể hóa thành các Nghị quyết, quyết định, đề án, kế hoạch, chương trình và quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ trong từng giai đoạn. Đây là cơ sở cho việc xây dựng các kế hoạch và định hướng  đầu tư phát triển du lịch của tỉnh, trong đó xác định dự án trọng điểm đầu tư là Khu du lịch Đền Hùng. Bên cạnh đó, tỉnh Phú Thọ cũng ban hành  một  số chính sách thu hút, ưu đãi đầu tư đối với các dự án du lịch nói chung và du lịch cội nguồn nói riêng, nhằm tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các nhà đầu tư như hỗ trợ về đất, hạ tầng, phí hạ tầng, hỗ trợ các dịch vụ xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại và cải cách thủ tục hành chính như Quyết định số 04 năm 2021 về việc hỗ trợ đầu tư đối với các dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ.

Các chính sách liên quan đến phát triển du lịch cội nguồn của tỉnh Phú Thọ được ban hành từ năm 2019-2024 được tổng hợp trong bảng 3.1:

Bảng 3.1. Một số chính sách liên quan đến phát triển du lịch

Chính sách Văn bản thể hiện Nội dung Đối tượng tác động của chính sách
Chính sách phát triển du lịch Nghị quyết số 09-NQ/TU của BCH Đảng bộ tỉnh khóa XVII Phát triển du lịch giai đoạn 2020 – 2024 Cụm, khu, tuyến du lịch; Cơ sở kinh doanh dịch  vụ du lịch; Khách du lịch,…
Nghị quyết số 30/2021/NQ- HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2020 – 2030, định hướng đến năm 2040 Cụm, khu, tuyến du lịch; Cơ sở kinh doanh dịch  vụ du lịch; Khách du lịch,…
Kế hoạch số 654/KH- UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Phát triển du lịch giai đoạn 2021-1015 Cụm, khu, tuyến du lịch; Cơ sở kinh doanh dịch  vụ du lịch; Khách du lịch,…
Quyết định số 3651 của UBND tỉnh Phê duyệt Quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2020-2030, định hướng đến năm 2040 Khách du lịch; Tuyến du lịch; Chương trình du lịch; Đầu tư, lao động, xúc tiến,…
Chính sách kinh doanh du lịch Quyết định số 943 của UBND tỉnh Ban hành quy định một số điểm về quản lý hoạt  động  xây dựng trong khu Di tích  lịch sử Đền Hùng Cơ sở kinh doanh dịch vụ  du lịch
Đề án số 3020 của Ủy ban nhân dân tỉnh Xây dựng điểm du lịch tạo tuyến du lịch trên địa bàn tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2018-2030 của UBND tỉnh Điểm, tuyến du lịch; Cơ sở kinh doanh dịch vụ  du lịch; Khách du  lịch
Chính sách đầu tư Quyết định số 04 của UBND tỉnh Hỗ trợ đầu tư đối với các  dự án đầu tư trên địa bàn  tỉnh  Phú Thọ Cơ sở kinh doanh dịch vụ  du lịch

3.1.3.3. Cơ sở hạ tầng

  • Hệ thống giao thông

Giao thông đường bộ: Phú Thọ là một trong những địa phương có hệ thống giao thông đường bộ phát triển so với các tỉnh thuộc vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ và được phân bố tương đối đều, hợp lý. Mật độ đường ô tô đạt 1.09 km/km2, cao hơn của cả vùng Đông Bắc (0.62 km/km2). Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ.

Toàn bộ hệ thống đường bộ của tỉnh Phú Thọ dài hơn 11.483 km.

Trong đó, có 5 tuyến quốc lộ (2; 32; 32B; 32C; 70) với chiều dài qua tỉnh là 262 km, 35 tuyến đường tỉnh (13 tuyến chính và 22 tuyến nhánh) với chiều dài 735 km; 137 tuyến đường huyện dài 785 km, 322 km đường đô thị, 54 km đường chuyên dùng; 2.350 km đường xã và liên xã… Ngoài ra còn hàng nghìn km đường dân sinh và lâm nghiệp.

Nhìn chung mạng lưới giao thông đường bộ khá thuận tiện để tiếp cận các điểm tài nguyên, chất lượng đảm bảo vận chuyển khách du lịch. Hiện nay hệ thống giao thông đường bộ đang được đầu tư nâng cấp đảm bảo kết nối để 100%  xã có đường ô tô đến trung tâm.

Dự án đường Hồ Chí Minh đoạn qua tỉnh Phú Thọ, đường Xuyên Á, tuyến đường cao tốc Nội Bài – Lào Cai đang được triển khai xây dựng cũng là điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ thời gian tới.

Giao thông đường sắt: Trên địa bàn tỉnh Phú Thọ có một tuyến đường sắt thuộc mạng đường sắt quốc gia là tuyến Hà Nội – Lào Cai và 3 tuyến nhánh phục vụ các khu công nghiệp, nhà máy, với tổng triều dài 89,5 km.

Tuyến đường sắt Hà Nội – Lào Cai dài 296 km, riêng đoạn qua Phú Thọ dài 74,9 km, giao thông đường sắt góp phần vận chuyển một lượng lớn hành khách và hàng hoá, tạo sự giao lưu giữa Phú Thọ và các tỉnh. Đây là tuyến đường sắt nối Hà Nội với các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc và từ đó sang Trung Quốc, một phần của tuyến du lịch đường sắt xuyên Á. Chất lượng đường sắt đã được nâng cấp đạt tốc độ cần thiết phục vụ vận chuyển khách nói chung và khách du lịch nói riêng.

Giao thông đường sông: Tỉnh Phú Thọ có ba con sông lớn chảy qua: Sông Hồng, Sông Lô, Sông Đà, gặp nhau tại thành phố Việt Trì. Ngoài ra, còn có một số sông nhánh như Sông Chảy, Sông Bứa… Hầu hết các huyện, thị xã đều có sông chảy qua tạo thành một mạng lưới đường thuỷ rất thuận lợi cho việc giao lưu, phát triển kinh tế đặc biệt là giao thông đường thuỷ của tỉnh. Tổng chiều dài đường sông trên các sông chính của Phú Thọ dài 227 km có thể vận chuyển với  phương tiện vận tải từ 50 tấn trở lên.

Dọc các đường sông, đặc biệt khu vực thành phố Việt Trì có thể xây dựng các cảng tàu du lịch nhỏ phục vụ tuyến du lịch đường sông.

  • b. Hệ thống cung cấp điện

Tại tỉnh Phú Thọ, có nguồn điện quốc gia và nguồn điện tại chỗ đảm bảo chất lượng cung cấp điện cho sản suất và sinh hoạt. Cụ thể:

Nguồn điện quốc gia: Bao gồm các nguồn 220 KV và 110 KV.

  • Nguồn 220 KV được cấp từ hệ thống điện miền Bắc thông qua đường dây 220 KV Hoà Bình-Việt Trì-Sóc Sơn, cấp cho trạm 220/110 Việt Trì công suất 125MVA. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ.
  • Nguồn 110KV của tỉnh được cấp từ hai tuyến dây Việt Trì- Đông Anh và Việt Trì-Thác Bà cấp điện cho các trạm 110KV trên địa bàn tỉnh.

Nguồn điện tại chỗ: Tỉnh Phú Thọ có nguồn điện tại chỗ là nhà máy điện của Công ty giấy Bãi Bằng.

  • Hệ thống bưu chính, viễn thông

 Mạng bưu chính, viễn thông thời gian gần đây đã được quan tâm phát triển. Số máy điện thoại cố định tăng nhanh, năm 2019 có gần 300 nghìn máy, đạt 22,5 máy trên 100 dân. Dịch vụ internet (Dial-up và ADSL), hộp thư thoại… được hình thành, phát triển rộng khắp. Năm 2019 có gần 39.000 thuê bao internet. Chất lượng thông tin liên lạc của tỉnh có bước tiến vượt bậc, cơ bản đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, mạng điện thoại di động đã phủ sóng tới hầu hết các trung tâm của huyện, thị. Sự phát triển về dịch vụ bưu chính viễn thông nhìn chung rất thuận lợi cho phát triển du lịch trên địa bàn.

  • d. Hệ thống cấp nước

Nguồn nước mặt ở Phú Thọ khá dồi dào nhờ hệ thống ba sông lớn chảy qua. Hệ thống cấp nước sạch được quan tâm đầu tư phát triển. Phú Thọ đã cho xây dựng và đưa vào sử dụng hiệu quả nhiều nhà máy nước và trạm cấp nước với công suất lớn như: Nhà máy nước Việt Trì với công suất 60.000m3/ngđ, Nhà máy nước Phú Thọ lấy từ nguồn nước sông Hồng, công suất 6.000 m3/ngđ… Hệ thống cung cấp nước sạch của tỉnh Phú Thọ cơ bản đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của dân cư , hoạt động sản xuất và phát triển du lịch trên địa bàn.

  • Hệ thống nhà hàng, khách sạn

Tỉnh Phú Thọ trong thời gian vừa qua đã xây dựng và nâng cấp rất nhiều nhà hàng, khách sạn trong tỉnh, nâng cao chất lượng phục vụ. Khách sạn  thường được kiến trúc kiên cố, có nhiều tầng, nhiều phòng ngủ được trang bị các thiết bị, tiện nghi, đồ đạc chuyên dùng nhằm mục đích kinh doanh các dịch vụ lưu trú, phục vụ ăn uống tổ chức các hội nghị, hội thảo, phục vụ vui chơi, giải trí và các dịch vụ bổ sung khác. Hệ thống nhà hàng cũng được đầu tư nhiều với đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, không gian thoáng, đẹp và phục vụ nhiều đặc sản vùng. Đây cũng là một điểm mạnh thu hút khách du lịch đến với tỉnh Phú Thọ.

3.2. Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2019 – 2024 Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ.

3.2.1. Tóm lược tình hình phát triển du lịch giai đoạn từ 2019 về trước

Ngày 02/01/2015 Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã ban hành Nghị quyết số 01-NQ/TU về phát triển du lịch giai đoạn 2015 – 2019 và phương hướng nhiệm vụ phát triển du lịch giai đoạn 2020 – 2024. Sau khi Nghị quyết được ban hành, UBND tỉnh đã ban hành: Chương trình số 987/CTr-UBND ngày 01/06/2015 về phát triển du lịch giai đoạn 2015 – 2019; Đề án số 3020/ĐAUBND ngày 28/9/2018 về xây dựng điểm du lịch tạo các tuyến du lịch lễ hội giai đoạn 2018 – 2024; kế hoạch tổ chức chương trình du lịch về cội nguồn và chương trình Giỗ tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng hàng năm; ban hành các văn bản chỉ đạo riêng biệt hoặc lồng ghép vào các chương trình kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội.

Theo Nghị quyết số 94/2015/NQ-HĐND ngày 08/12/2015 của Hội đồng nhân dân tỉnh về Quy hoạch điều chỉnh phát triển du lịch Phú Thọ giai đoạn 2015 -2019, tổng số vốn đầu tư phát triển du lịch giai đoạn là 789 tỷ VNĐ (đạt 26,3% so với nhu cầu vốn trong Chương trình 987/CTr-UBND để phát triển du lịch là 3.000 tỷ VNĐ). Trong đó: Nguồn vốn ngân sách trung ương hỗ trợ là 189 tỷ VNĐ (chiếm 23,95%), nguồn vốn ngân sách địa phương là 27 tỷ VNĐ (chiếm 3,47%), nguồn vốn xã hội hóa do các doanh nghiệp và thành phần kinh tế là 572 tỷ VNĐ (chiếm 72,58%). Tổng số vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng du lịch giai đoạn 2015 – 2019 là 210 tỷ VNĐ (đạt 17,7% so với nhu cầu vốn cho 05 khu du lịch theo quy hoạch là 1.192 tỷ VNĐ); trong đó dự án đầu tư vào hạ tầng: Khu du lịch Văn Lang là 85,6 tỷ VNĐ (đạt 49,1% tổng vốn dự án), dự án đường vào khu du lịch Ao Châu – Hạ Hòa là 29,5 tỷ VNĐ (đạt 100% tổng vốn dự án), dự án đầu tư xây dựng hạ tầng khu du lịch sinh thái Vườn Quốc gia Xuân Sơn là 44 tỷ VNĐ (đạt 14,67% tổng vốn dự án), dự án đầu tư xây dựng hạ tầng khu du lịch dịch vụ Nam Đền Hùng là 26 tỷ VNĐ (đạt 7,1% tổng vốn dự án), dự án đầu tư xây dựng hạ tầng khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy là 25 tỷ VNĐ (đạt 9,15% tổng vốn dự án).

Tỷ trọng GDP du lịch trong tổng GDP toàn tỉnh trong giai đoạn này còn thấp và tăng trưởng chưa ổn định. GDP du lịch năm 2015 là 138,9 tỷ VNĐ đến năm 2019 là 250 tỷ VNĐ, tăng 1,79 lần, tốc độ tăng trưởng bình quân là 15,80%/năm. Cơ cấu GDP du lịch trong tổng GDP của tỉnh năm 2015 là 1,71% đến năm 2019 là 1,53%, đạt 20,6% so với mục tiêu Nghị quyết số 01-NQ/TU (mục tiêu là 7,4%). Cơ cấu ngành du lịch trong khối ngành dịch vụ tăng trưởng không ổn định: Năm 2015 là 4,93% đến năm 2019 là 4,29%, đạt 22,5% so với mục tiêu của Nghị quyết (mục tiêu là 19%).

Các sự kiện lớn như Giỗ tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng, Chương trình du lịch Về cội nguồn đã thu hút lượng khách tham quan lớn, năm 2015 khách du lịch đạt 3,0 triệu lượt đến năm 2019 đạt 5,89 triệu lượt, tốc độ tăng trưởng 18,37%/năm. Chỉ tiêu khách du lịch đạt được mục tiêu Nghị quyết đề ra.

Công tác xã hội hóa du lịch được thực hiện, thu hút được các thành phần kinh tế đầu tư vào hệ thống cơ sở lưu trú tạo nên tốc độ phát triển khá nhanh: Năm 2015 toàn tỉnh có 75 cơ sở (23 khách sạn, 52 nhà nghỉ) với tổng số 1.292 phòng, đến năm 2019 có 158 cơ sở (26 khách sạn và 132 nhà nghỉ) với tổng số 2.266 phòng, đạt mục tiêu Nghị quyết đề ra (mục tiêu là 1.600 phòng nghỉ). Công suất sử dụng phòng tăng đều, ổn định: Năm 2015 là 41,3 % đến năm 2019 là 55,1%, đạt mục tiêu Nghị quyết đề ra (mục tiêu là từ 55 – 60%). Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ.

Doanh thu du lịch năm 2015 là 403 tỷ VNĐ đến năm 2019 là 652 tỷ VNĐ với tốc độ tăng trưởng bình quân là 12,7%/năm, đạt 72,6% so với mục tiêu Nghị quyết (mục tiêu 43,5 triệu USD).

Có thể thấy, trong giai đoạn trước năm 2019, phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ đã đạt được một số kết quả nhất định: 

Nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về vị trí, vai trò của du lịch được nâng lên, khẳng định du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng có tính chiến lược lâu dài góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

Những chỉ tiêu đạt được trong 05 năm qua của du lịch Phú Thọ tuy còn thấp và chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu GDP toàn tỉnh nhưng bước đầu tạo được sự chuyển biến tích cực trong hoạt động kinh doanh du lịch của các doanh nghiệp, các hộ kinh doanh; góp phần tích cực vào nỗ lực đưa hình ảnh vùng Đất Tổ thân thiện, an toàn và mến khách đến với đồng bào và du khách; bảo tồn, phát triển các giá trị văn hóa truyền thống, bảo vệ tài nguyên du lịch, giải quyết công ăn việc làm và xóa đói giảm nghèo…

Công tác xúc tiến, quảng bá tiềm năng du lịch đã được quan tâm chú trọng; đã thu hút được các nhà đầu tư chiến lược vào các khu du lịch (Công ty TNHH Thương mại – Quảng cáo – Xây dựng – Địa ốc Việt Hân, Doanh nghiệp xây dựng Xuân Trường, Công ty cổ phần Ao Vua, Công ty cổ phần Tập đoàn Hà Đô…). Thông qua tổ chức các sự kiện đã góp phần thu hút được lượng du khách lớn đến với Phú Thọ.

Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch và các quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết các khu du lịch và các dự án lớn đã được xây dựng, phê duyệt là định hướng cho công tác quản lý và thực hiện các hoạt động đầu tư, kinh doanh, quản lý tài nguyên du lịch.

Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được quan tâm đầu tư xây dựng từ nguồn vốn ngân sách và xã hội hóa đã đặt nền móng quan trọng cho sự phát triển du lịch Phú Thọ.

Sản phẩm du lịch bước đầu được hình thành đó là các điểm tham quan, các di tích lịch sử văn hóa, các lễ hội, các cảnh quan thiên nhiên (Vườn quốc gia Xuân Sơn, Đầm Ao Châu, Ao Giời – Suối Tiên,..), các tuyến du lịch văn hóa tâm linh, khu du lịch sinh thái, khu du lịch nghỉ dưỡng, các dịch vụ phục vụ ăn nghỉ của du khách ngày càng hoàn thiện (hệ thống cơ sở lưu trú, nhà hàng), các làng nghề truyền thống được khôi phục đã khẳng định du lịch Phú Thọ có tiềm năng để xây dựng sản phẩm du lịch đặc thù là sản phẩm du lịch văn hóa, nghỉ dưỡng, sinh thái – danh thắng và tạo tiền đề phát triển du lịch trong giai đoạn tiếp theo.

Công tác đào tạo nguồn nhân lực du lịch được quan tâm, chú trọng: Hệ thống đào tạo nguồn nhân lực du lịch bước đầu được hình thành tại các trường Đại học Hùng Vương, Cao đẳng nghề Phú Thọ, Trung cấp Văn hóa – Du lịch… Chương trình đào tạo nghề du lịch từng bước được hoàn thiện nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch của tỉnh.

Công tác quản lý nhà nước về du lịch đã được quan tâm: Chất lượng và hiệu quả công tác quản lý nhà nước dần từng bước được nâng cao, đội ngũ cán bộ, công chức được bồi dưỡng về trình độ nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học và lý luận chính trị. Thực hiện tiêu chuẩn hóa trong quản lý nhà nước các hoạt động du lịch. Công tác thanh, kiểm tra được tiến hành thường xuyên giúp các doanh nghiệp, hộ kinh doanh du lịch hoạt động đúng pháp luật.

Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những hạn chế:  Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ.

Kết quả đạt được của Du lịch Phú Thọ giai đoạn 2015 – 2019 còn thấp chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có; chưa bố trí được các nguồn lực đầu tư biến các tiềm năng thành sản phẩm du lịch đưa vào khai thác phục vụ khách du lịch.

Có 08/12 mục tiêu chưa thực hiện được như Nghị quyết đề ra trong đó một số chỉ tiêu đạt ở mức thấp. Tỷ lệ đóng góp GDP du lịch trong tổng GDP toàn tỉnh trong những năm qua còn hạn chế, trong giai đoạn 2015 – 2019 tỷ lệ này luôn dao động trong khoảng từ 1,43 – 1,95%.

Bố trí nguồn lực đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng các khu du lịch không tương ứng, không tạo được sức hấp dẫn thu hút đầu tư. Xây dựng cơ sở hạ tầng khu du lịch Văn Lang, khu du lịch Bạch Hạc – Bến Gót, khu du lịch Đền Hùng gắn với xây dựng thành phố Việt Trì trở thành thành phố lễ hội về với cội nguồn dân tộc Việt Nam không hoàn thành theo tiến độ. Các dự án du lịch triển khai chậm, không tạo được cơ sở vật chất kỹ thuật và sản phẩm du lịch cần thiết để thu hút khách tạo động lực cho phát triển du lịch.

Sản phẩm du lịch mờ nhạt, nghèo nàn chưa tạo được sức hấp dẫn cho du khách; chưa xây dựng được tuyến du lịch hoàn chỉnh mang tính đặc sắc, độc đáo. Chất lượng sản phẩm du lịch thấp, chưa có khách sạn, nhà hàng, khu dịch vụ cao cấp, trung tâm vui chơi giải trí; thiếu các doanh nghiệp có thương hiệu.

Thiếu sự gắn kết giữa du lịch với thương mại, chưa xây dựng được các trung tâm thương mại, chợ đầu mối, làng nghề truyền thống… là nơi tham quan và mua sắm hàng hóa của du khách.

Công tác tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch hiệu quả thấp, nội dung còn chung chung, thiếu tính chuyên nghiệp; chưa gắn với các khu, điểm và sản phẩm du lịch để thu hút các doanh nghiệp lữ hành lớn trong nước và quốc tế liên doanh liên kết với các doanh nghiệp của tỉnh đưa khách tới Phú Thọ. Các doanh nghiệp du lịch của tỉnh chưa tích cực tham gia vào công tác xúc tiến du lịch.

Công tác quản lý nhà nước về du lịch còn nhiều hạn chế; sự phối hợp giữa các cấp các ngành trong việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ, giải pháp phát triển du lịch thiếu chặt chẽ, thụ động; đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước khả năng tác nghiệp chưa cao, chưa kịp thời tham mưu cho tỉnh ban hành các cơ chế, chính sách, chương trình, đề án… phát triển du lịch có hiệu quả.

Nguồn nhân lực cho du lịch Phú Thọ còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng. Thiếu trầm trọng đội ngũ doanh nhân có tài, hướng dẫn viên và thuyết minh viên du lịch. Trình độ tác nghiệp, tay nghề, khả năng ứng xử của đội ngũ cán bộ công nhân kỹ thuật du lịch trực tiếp tại doanh nghiệp còn rất yếu.

3.2.2. Một số chính sách phát triển du lịch của Phú Thọ giai đoạn 2019 – 2024 Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ.

Nghị quyết 09-NQ/TU của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVII về phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2020 – 2024 đã tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho du lịch Phú Thọ phát triển. Việc triển khai thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TU được các cấp, các ngành quan tâm.

UBND tỉnh Phú Thọ đã ban hành Kế hoạch số 654/KH-UBND về phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2021 – 2024; phê duyệt Quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2021 – 2024, định hướng đến năm 2040; kiện toàn Ban Chỉ đạo phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ. Các sở, ngành, huyện, thành, thị cụ thể hóa Nghị quyết bằng các đề án, kế hoạch, chương trình phát triển du lịch phù hợp với chức năng nhiệm vụ của ngành, tiềm năng, thế mạnh của địa phương.

Hoạt động quản lý nhà nước về du lịch được tăng cường, việc hướng dẫn, thanh kiểm tra các đơn vị doanh nghiệp hoạt động kinh doanh du lịch dịch vụ được thực hiện thường xuyên tạo môi trường kinh doanh lành mạnh đúng pháp luật. Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch và các quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết các khu du lịch được xây dựng làm định hướng cho công tác quản lý, thực hiện các hoạt động đầu tư, kinh doanh, quản lý tài nguyên du lịch.

Các chính sách ưu đãi, thu hút đầu tư của tỉnh và công tác xúc tiến, quảng bá tiềm năng du lịch được thực hiện có trọng tâm, trọng điểm. Từ các nguồn vốn đầu tư đã hình thành cơ bản kết cấu hạ tầng du lịch thiết yếu và đưa vào khai thác các dự án thành phần tại các khu du lịch trọng điểm của tỉnh. Hình thành các khu, điểm du lịch với các sản phẩm du lịch đặc trưng (Du lịch văn hóa tâm linh gắn với di sản văn hóa phi vật thể của thế giới hát Xoan Phú Thọ, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái – danh thắng). Hình thành được một số tuyến du lịch chính (Bảo tàng Hùng Vương – Khu di tích lịch sử Đền Hùng – đình Thét, thưởng thức hát Xoan – Siêu thị BigC – Khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy; Khu di tích lịch sử Đền Hùng – Vườn quốc gia Xuân Sơn – Khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy; Bảo tàng Hùng Vương – Khu di tích lịch sử Đền Hùng – Đền Mẫu Âu Cơ – Đầm Ao Châu, Ao Giời Suối Tiên…). Phát triển các làng nghề trên địa bàn tỉnh để tạo ra những sản phẩm đưa vào phục vụ khách du lịch như: Làng nghề thủ công mỹ nghệ ủ ấm Sơn Vi (Lâm Thao), làng nghề nón lá Sai Nga (Cẩm Khê), làng nghề dệt thổ cẩm Chiềng (Tân sơn)… Hệ thống cơ sở và chương trình đào tạo nguồn nhân lực du lịch mở rộng từng bước được hoàn thiện. Phương thức, nội dung hoạt động xúc tiến đầu tư, liên kết hợp tác phát triển du lịch được tiến hành có trọng tâm; tổ chức một số cuộc xúc tiến du lịch, khảo sát học tập kinh nghiệm tại Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan và tham gia các hội nghị xúc tiến đầu tư khu vực, các hội chợ chuyên đề về du lịch…Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng tuyên truyền, quảng bá tiềm năng, hình ảnh du lịch Phú Thọ và các dự án kêu gọi đầu tư. Năm 2023 đã thành lập Trung tâm Thông tin và Xúc tiến du lịch Phú Thọ; khai trương trang Web Du lịch Phú Thọ. Chương trình hợp tác phát triển du lịch 8 tỉnh Tây Bắc mở rộng được triển khai thực hiện đã tạo điểm nhấn “Du lịch Tây Bắc” trên bản đồ du lịch Việt Nam trong đó Phú Thọ được coi là điểm đến đầu tiên của Cung đường Tây Bắc. Tài nguyên du lịch nhân văn tiếp tục được làm giàu và phát triển với việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể Hát Xoan Phú Thọ và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương. Với sản phẩm du lịch đặc trưng là du lịch văn hóa tâm linh về với cội nguồn dân tộc Việt Nam, chương trình Giỗ tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng hàng năm được tổ chức với nhiều sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch phong phú, mang bản sắc vùng đất Tổ; du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng với Khu du lịch sinh thái Vườn quốc gia Xuân Sơn và Khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy trở thành điểm đến cuối tuần của du khách trong nước và quốc tế. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ.

3.2.3. Tình hình phát triển du lịch giai đoạn 2019 – 2023

3.2.3.1. Các chỉ tiêu phát triển du lịch chủ yếu 

  • Khách du lịch

Với lợi thế về vị trí và đặc điểm tài nguyên du lịch, trong đó nổi bật là tài nguyên du lịch nhân văn, Phú Thọ được đánh giá là điểm đến không thể thiếu cho du khách, đặc biệt là cháu con đất Việt.

Thông qua công tác chỉ đạo phát triển du lịch, chú trọng công tác tuyên truyền quảng bá, tổ chức các sự kiện, lễ hội như: Chương trình Giỗ tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng hàng năm, chương trình về miền lễ hội cội nguồn các dân tộc Việt Nam, chương trình hợp tác phát triển du lịch 8 tỉnh Tây Bắc mở rộng… nên lượng khách du lịch đến Phú Thọ liên tục tăng với mức tăng trưởng tương đối cao. Năm 2019 Phú Thọ đón được 5.890.000 lượt khách trong đó có 414.005 lượt khách lưu trú; đến năm 2023 đạt 7.043.782 lượt khách, trong đó khoảng 684.100 lượt khách lưu trú.

Lượng khách lưu trú chiếm tỷ lệ thấp (chiếm tỷ trọng 7,03% năm 2019; 7,74% năm 2020; 9,34% năm 2021, 9,81% năm 2022 và 9,71% năm 2023). Tỷ trọng trên có xu hướng tăng do lượng khách tham quan có lưu trú tăng nhanh thời gian qua và chủ yếu là khách du lịch nội địa (chiếm trên 99%).

Khách du lịch quốc tế có lưu trú: Năm 2019, Phú Thọ đón được 3.184 lượt khách, đến năm 2023 đạt 5.000 lượt. Khách du lịch quốc tế đến Phú Thọ chủ yếu là khách du lịch công vụ, một lượng nhỏ là khách tham quan, nghiên cứu, nghỉ dưỡng. Thời gian lưu trú trung bình của khách quốc tế xấp xỉ 1,3 ngày.

Khách du lịch nội địa có lưu trú: Các khu du lịch trọng điểm của tỉnh cơ bản được hình thành với các sản phẩm du lịch văn hóa tâm linh, nghỉ dưỡng, sinh thái danh thắng đã thu hút được một lượng lớn khách du lịch nội địa đến Phú Thọ. Giai đoạn 2019 – 2023 tăng từ gần 410.821 lượt lên 679.100 lượt. Đây là kết quả đáng ghi nhận, đặc biệt là sau khi Giỗ Tổ Hùng vương được công nhận là Quốc giỗ từ năm 2015.

Khách trong ngày: Tăng từ gần 5,5 triệu năm 2019, đến năm 2023 đạt trên 6,3 triệu lượt.

Bảng 3.2: Diễn biến hiện trạng khách du lịch đến Phú Thọ  giai đoạn 2019 – 2023

Đơn vị: Lượt khách

Chỉ tiêu 2019 2020 2021 2022 2023
Tổng lượt khách 5.890.000 6.005.000 6.132.890 6.255.215 7.043.782
1.  Khách trong ngày 5.475.995 5.540.307 5.560.046 5.641.275 6.359.682
2.  Khách có lưu trú 414.005 464.693 572.844 613.940 684.100
Tỷ trọng (%) 7,03 7,74 9,34 9,81 9,71
2.1.Khách quốc tế 3.184 4.256 4.089 4.747 5.000
% so cả tổng (2) 0,77 0,92 0,71 0,77 0,73
2.2.Khách nội địa 410.821 460.437 568.755 609.193 679.100
% so cả tổng (2) 99,23 99,08 99,29 99,23 99,27

(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Phú Thọ các năm từ 2019 – 2023)

  • Tổng thu từ khách du lịch Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ.

Tổng thu từ khách du lịch bao gồm tất cả các khoản thu do khách du lịch chi trả gồm thu từ dịch vụ lưu trú, ăn uống, đi lại, mua sắm và từ các dịch vụ khác.

Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã áp dụng hệ thống thống kê cho các nước thành viên về thu nhập du lịch được tính bằng toàn bộ số tiền mà khách du lịch phải chi trả khi đi thăm một nước khác (trừ vận chuyển hàng không quốc tế). Tuy nhiên, ở nước ta nói chung và Phú Thọ nói riêng, hệ thống thống kê chưa được hoàn chỉnh nên toàn bộ các khoản chi trả của khách du lịch chưa tập hợp được. Vì vậy, theo thống kê sự đóng góp của ngành du lịch trong nền kinh tế nói chung còn thấp.

Cùng với sự tăng trưởng về lượng khách, nguồn thu từ du lịch của Phú Thọ giai đoạn 2019 đến nay có mức tăng trưởng với nhịp độ bình quân hàng năm đạt 16.35%/năm. Tổng thu du lịch năm 2019 là 968 tỷ VNĐ đến năm 2023 đạt 1.761 tỷ VNĐ.

Bảng 3.3: Tổng thu từ khách du lịch của Phú Thọ  giai đoạn 2019-2023

Đơn vị: Tỷ VNĐ

Chỉ tiêu 2019 2020 2021 2022 2023
Doanh thu du lịch, dịch vụ
(khách sạn,lữ hành, nhà hàng) 968 1.214 1.414 1.668 1.761
Tốc độ tăng trưởng hàng năm 25,41 16,47 17,96 5,56
Tốc độ tăng trưởng bình quân 16,35
– Trong đó:
Doanh thu tại cơ sở lưu trú 99 112 127 134 154
Tỷ trọng (%) 10,23 9,23 8,98 8,01 8,73

(Nguồn: Niên giám Thống kê Phú Thọ các năm từ 2019 – 2023)

Có thể nhận thấy, mặc dù khách du lịch tăng nhanh, nhưng vì lượng khách tham quan trong ngày lớn; lượng khách quốc tế và khách nội địa có lưu trú còn ít nên tổng thu từ cơ sở lưu trú không cao (tỷ trọng giảm từ 10,23% năm 2019 xuống 8,73% năm 2023).

Nguyên nhân: Lượng khách lưu trú (cả quốc tế và nội địa) ít hơn, ngày lưu trú trung bình ngắn hơn và mức chi tiêu thấp hơn so với dự báo. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ.

So với mặt bằng chung của du lịch Việt Nam, tổng thu từ du lịch Phú Thọ đứng 4/14 tỉnh trong vùng và 20/63 tỉnh, thành cả nước.

Để khắc phục tình trạng trên, ngành du lịch Phú Thọ cần có chiến lược đầu tư thâm nhập thị trường khách quốc tế, khách nội địa và nâng cao chất lượng dịch vụ để thu hút nhiều khách du lịch có sử dụng dịch vụ lưu trú, kéo dài thời gian lưu trú. 

  • Giá trị gia tăng ngành du lịch (GDP du lịch)

Bảng 3.4: Giá trị gia tăng ngành du lịch (GDP du lịch) tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2019-2023

Đơn vị: Tỷ VNĐ

Chỉ tiêu 2019 2020 2021 2022 2023
Tổng sản phẩm nội địa (GDP) 21.955,0 27.475,7 30.596,8 34.175,2 37.431,7
Giá trị gia tăng ngành du lịch (GDP du lịch) 968,217 1226 1467 1668,5 1923,5
Tỷ trọng 4,41 4,46 4,79 4,88 5,14

(Nguồn: Niên giám Thống kê Phú Thọ các năm từ 2019 – 2023)

Giá trị gia tăng GDP du lịch Phú Thọ năm 2019 là 968,2 tỷ VNĐ đến năm 2023 là 1923,5 tỷ VNĐ.

Tỷ trọng GDP du lịch trong tổng GDP toàn tỉnh còn thấp nhưng thời gian gần đây đang có xu hướng tăng. Năm 2019 đạt 4,41% đến năm 2023 là 5,14%, đạt 69,46% so với mục tiêu Nghị quyết tại đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ 17 (mục tiêu là 7,4%).

GDP từ du lịch đạt khiêm tốn do tổng thu từ du lịch đạt thấp so với các ngành kinh tế khác. Một trong những nguyên nhân ảnh hưởng nguồn thu do vốn  đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch còn ít. Một số dự án lớn về du lịch như dự án khu du lịch Đầm Ao Châu của Công ty Đồng Doanh (Đài Loan), các dự án vào khu nước khoáng nóng Thanh Thủy… không được thực hiện.

  • Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch

Cơ sở lưu trú: Trong thời gian gần đây, công tác xã hội hóa du lịch được thực hiện, thu hút được các thành phần kinh tế đầu tư vào hệ thống cơ sở lưu trú tạo nên tốc độ phát triển khá nhanh. Năm 2019 toàn tỉnh có 158 cơ sở (26 khách sạn, 132 nhà nghỉ) với tổng số 2.264 buồng, đến năm 2023 có 240 cơ sở (37 khách sạn và 201 nhà nghỉ) với tổng số 3.300 buồng. Công suất sử dụng buồng tăng đều, ổn định: năm 2019 là 45,3 % đến năm 2023 là 56,1%.

Bảng 3.5: Số lượng cơ sở lưu trú du lịch tỉnh Phú Thọ  giai đoạn 2019 – 2023

Chỉ tiêu 2019 2020 2021 2022 2023
Cơ sở lưu trú 158 181 202 213 240
Tổng số buồng 2.264 2.505 2.754 2.959 3.300

Trong đó: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ.

– Khách sạn 26 28 29 34 37
Buồng KS 873 898 872 1.128 1.354
– Nhà nghỉ 132 153 173 189 201
Buồng NN 1.391 1.607 1.882 1.831 1.946

(Nguồn: Niên giám Thống kê Phú Thọ các năm từ 2019 – 2023)

Cơ sở ăn uống: Các cơ sở ăn uống bao gồm nhà hàng, quán cà phê, bar, quán ăn nhanh… Các tiện nghi phục vụ ăn uống có thể nằm trong các cở sở lưu trú nhằm phục vụ nhu cầu ăn uống, nghỉ ngơi, hội họp và giao lưu của khách đang lưu trú tại các khách sạn hoặc có thể nằm độc lập bên ngoài các các cơ sở lưu trú, ở các điểm tham quan du lịch, trong các cơ sở vui chơi giải trí nhằm phục vụ khách du lịch cũng như các tầng lớp dân cư địa phương.

Các tiện nghi ăn uống bên ngoài khách sạn, tại các điểm tham quan trong những năm qua cũng đã bước đầu phát triển. Tuy nhiên một số nhà hàng thường có quy mô nhỏ, khó có khả năng đón các đoàn khách lớn; bài trí của nhà hàng đơn giản, không có khu chế biến riêng biệt, món ăn chưa phong phú và vấn đề vệ sinh thực phẩm cũng chưa được chú trọng đúng mức.

Các tiện nghi thể thao, vui chơi giải trí, các điểm tham quan và các tiện nghi phục vụ du lịch khác: Toàn tỉnh có 11 bể bơi, 52 sân quần vợt… các tiện nghi này góp phần tạo nên sự hấp dẫn, thu hút du khách và kéo dài thời gian lưu trú, khuyến khích sự chi tiêu của du khách.  

Các cơ sở phục vụ nhu cầu vui chơi giải trí như: Công viên, sân thể thao, nhà thi đấu, nhà văn hóa… đã bước đầu được quan tâm đầu tư. Nhìn chung hầu hết các điểm vui chơi giải trí có quy mô nhỏ, các loại hình sản phẩm đơn điệu, các phương tiện vui chơi giải trí, tham quan còn quá thiếu chưa thu hút được du khách cũng như kéo dài thời gian lưu trú của khách.

  • Lao động ngành du lịch

Lao động ngành du lịch năm 2019 là 6.800 người (trong đó, lao động trực tiếp là 1.700 người và lao động gián tiếp là 5.100 người) và năm 2023 là 11.500 người (trong đó, lao động trực tiếp là 3.280 người, lao động gián tiếp là 8.220 người).

Bảng 3.6: Số lượng lao động ngành du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2019 – 2023

Đơn vị: Người

Chỉ tiêu 2019 2020 2021 2022 2023
Lao động 6.800 7.520 9.161 10.800 11.500
Lao động trực tiếp 1.700 1.880 2.250 2.740 3.280
Lao động gián tiếp 5.100 6.100 6.911 8.060 8.220

(Nguồn: Niên giám Thống kê Phú Thọ các năm từ 2019 – 2023)

Theo tiêu chuẩn của ngành, lượng lao động nói chung so với số buồng khách sạn là tương đối phù hợp. Tuy nhiên cơ cấu không hợp lý, số lao động trong cơ sở lưu trú (lao động trực tiếp) ít so với số buồng (năm 2023 có 3.280 lao động trực tiếp/ 3.300 buồng, tức 0,99 người/buồng, quy định là 1,5-người /buồng), trong khi lao động dịch vụ gián tiếp khác quá nhiều. Đây là bất cập ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ nhưng phản ánh đúng thực tế là ở Phú Thọ tỷ lệ khách tham quan trong ngày không sử dụng dịch vụ lưu trú quá lớn. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ.

Các doanh nghiệp kinh doanh du lịch năng lực hoạt động còn chưa cao, sử dụng lao động gia đình và lao động kết hợp nhiều công việc do đó lao động trực tiếp ngành du lịch thiếu về số lượng, yếu về chất lượng; lao động phổ thông chiếm tỷ lệ cao.

Ngành du lịch Phú Thọ đã chú trọng tới công tác đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công nhân viên. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, trước yêu cầu hội nhập nền kinh tế thế giới, yêu cầu công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, lực lượng lao động ngành du lịch Phú Thọ chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của ngành.

3.2.3.2. Đầu tư phát triển du lịch

Tổng số vốn đầu tư cho phát triển du lịch của tỉnh đến 2023 là 798,63 tỷ VNĐ. Trong đó: Nguồn vốn ngân sách trung ương hỗ trợ là 198 tỷ đồng, nguồn vốn ngân sách địa phương là 27,1 tỷ VNĐ, nguồn vốn xã hội hóa do các doanh nghiệp và thành phần kinh tế là 573,53 tỷ VNĐ. Tổng số vốn đầu tư cho cơ sở hạ tầng du lịch giai đoạn 2019-2023 là 210 tỷ VNĐ; trong đó dự án đầu tư vào hạ tầng: Khu du lịch Văn Lang là 85,6 tỷ đồng, dự án đường vào khu du lịch Ao Châu-Hạ Hòa là 29,5 tỷ VNĐ, dự án đầu tư xây dựng hạ tầng khu du lịch sinh thái Vườn quốc gia Xuân Sơn là 44 tỷ VNĐ, dự án đầu tư xây dựng hạ tầng khu du lịch, dịch vụ Nam Đền Hùng là 26 tỷ VNĐ, dự án đầu tư xây dựng hạ tầng khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy là 25 tỷ VNĐ.

Ủy ban nhân dân tỉnh đã cấp phép đầu tư cho 09 dự án du lịch và đang xem xét thủ tục cấp phép cho 08 dự án du lịch đầu tư vào các khu du lịch đã được quy hoạch.

Tại 13 huyện, thành, thị việc đầu tư tôn tạo di tích lịch sử, phục dựng các lễ hội truyền thống, phát triển các làng nghề thủ công mỹ nghệ, các sản phẩm đặc trưng của vùng nhằm phát triển du lịch bước đầu được chú trọng.

Tổng kinh phí tu bổ, tôn tạo di tích giai đoạn 2019 – 2023 là 29,8 tỷ VNĐ (trong đó nguồn ngân sách sự nghiệp là 6,4 tỷ đồng chiếm 21%, nguồn đầu tư phát triển là 23,4 tỷ VNĐ, chiếm 79%).

3.2.3.3. Thị trường và sản phẩm du lịch

  • Thị trường khách du lịch

Thị trường khách du lịch quốc tế chiếm tỷ trọng nhỏ, chiếm chưa đầy 1% tổng lượng khách đến Phú Thọ. Khách quốc tế đến Phú Thọ bằng nhiều đường khác nhau, nhưng chủ yếu là theo đường bộ từ Hà Nội – trung tâm phân phối khách cho các tỉnh phía Bắc. Ngoài ra, còn một phần theo tuyến đường sắt từ Vân Nam (Trung Quốc -Lào Cai – Hà Nội. Sở thích của khách du lịch quốc tế là khám phá, tìm hiểu bản sắc văn hóa địa phương, du lịch sinh thái ở vườn Quốc gia Xuân Sơn, nước khoáng nóng Thanh Thủy và một số là khách thương mại công vụ tại các khu công nghiệp. Đặc điểm là có khả năng chi trả cao và đòi hỏi chất lượng dịch vụ, môi trường tốt.

Thị trường khách nội địa chiếm tỷ lệ lớn, chiếm hơn 99% thị phần.

Khách nội địa đến từ khắp nơi trên cả nước, đặc biệt là các tỉnh đồng bằng sông Hồng và khu vực phía Bắc.

Khách nội địa đến Phú Thọ những năm gần đây chủ yếu với mục đích lễ hội, tín ngưỡng, hành hương về cội nguồn, tham quan di tích lịch sử, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng chữa bệnh. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ.

  • Hệ thống sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch Phú Thọ ngày càng được đa dạng hóa và nâng cao chất lượng, trong đó nổi bật là các sản phẩm gắn với du lịch văn hóa.

Các sản phẩm du lịch văn hóa Phú Thọ gắn liền với hệ thống di tích thời đại Hùng Vương, bao gồm: Lễ hội, tham quan di tích, vui chơi giải trí, ẩm thực, hội thảo… Từ khi Giỗ Tổ Hùng Vương thành Quốc giỗ (năm 2015), lễ hội và các hoạt động liên quan đến lễ hội là hình thức du lịch thu hút khách của Phú Thọ.

Bên cạnh lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương, các lễ hội văn hóa khác cũng hấp dẫn khách du lịch như: đền Mẫu Âu Cơ, Hội phết Hiền Quan, bơi chải Bạch Hạc. (Năm 2018, UBND tỉnh đã ban hành Đề án 3020/ĐA-UBND ngày 29/9/2018 của UBND tỉnh Phú Thọ xây dựng điểm du lịch gồm 8 điểm lễ hội).

Năm 2020, hát Xoan Phú Thọ được UNESCO công nhận Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp của nhân loại và năm 2021, Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại, các sản phẩm du lịch dựa trên loại hình nghệ thuật và tín ngưỡng này đang được phục dựng và thu hút khách du lịch tham quan, nghiên cứu.

Ngoài du lịch văn hóa, du lịch sinh thái Phú Thọ cũng có những dấu ấn riêng nhờ những điểm tài nguyên như hệ sinh thái trung du, vườn Quốc gia Xuân Sơn, đầm Ao Châu, nước khoáng nóng Thanh Thủy… Sản phẩm du lịch gắn với sinh thái là tham quan, nghiên cứu, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, thể thao, vui chơi giải trí..gắn với văn hóa bản địa.

Du lịch gắn với sự kiện cũng là sản phẩm đang được quan tâm của ngành du lịch Phú Thọ. Thành phố Việt Trì ngày càng chứng tỏ vị trí thích hợp tổ chức các sự kiện quan trọng như hội nghị, hội thảo, hội chợ, thể thao…

Du lịch tham làng nghề cũng đã được hình thành tại các làng nghề như ủ ấm Sơn Vi, nón lá Sai Nga, mây tre đan Đỗ Xuyên… gắn việc tham quan với mua bán hàng lưu niệm.

Bên cạnh việc phát triển sản phẩm, hệ thống các dịch vụ đi kèm gồm ăn uống và mua bán các sản vật tự nhiên như bưởi Đoan Hùng, hồng Hạc Trì, cá Lăng, cá Anh Vũ… đã góp phần làm hấp dẫn thêm các chương trình du lịch.

3.2.3.4. Tổ chức không gian du lịch

Do sự phân bố tài nguyên, hệ thống giao thông trên địa bàn tỉnh Phú Thọ,thực trạng phát triển du lịch Phú Thọ thời gian qua đã hình thành ba cụm du lịch tập trung:

  • Cụm thành phố Việt Trì và phụ cận.
  • Cụm thị trấn Hạ Hòa.
  • Cụm thị trấn La Phù. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ.

Trong đó cụm thành phố Việt Trì với hướng phát triển du lịch văn hóa, lễ hội, du lịch MICE là trọng tâm phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ và đang từng bước trở thành địa bàn trọng điểm du lịch của vùng và cả nước.

Bên cạnh đó, hệ thống khu, điểm du lịch cũng đã được hình thành trong hệ thống quốc gia và vùng như:

  • Khu di tích lịch sử Đền Hùng, thành phố Việt Trì.
  • Khu du lịch sinh thái Vườn quốc gia Xuân Sơn, huyện Tân Sơn.
  • Khu du lịch Văn Lang, thành phố Việt Trì.
  • Khu Du lịch nghỉ dưỡng nước khoáng nóng Thanh Thủy, huyện Thanh Thủy.
  • Khu du lịch đầm Ao Châu, huyện Hạ Hòa.
  • Khu du lịch Bạch Hạc-Bến Gót, thành phố Việt Trì.

Trên cơ sở tổ chức hệ thống khu, điểm du lịch, hệ thống các tuyến đã hình thành và đạt hiệu quả nhất định. Hệ thống tuyến, điểm du lịch đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp tổ chức hợp lý các chương trình du lịch đặc biệt là các tour du lịch chuyên đề góp phần khai thác có hiệu quả các tiềm năng du lịch của tỉnh. Một số chương trình du lịch hấp dẫn đã tạo nên các sản phẩm du lịch độc đáo thu hút khách du lịch như tour du lịch sinh thái, tour du lịch văn hoá, lễ hội, về nguồn…

Tuy nhiên do điều kiện kinh tế còn khó khăn, khả năng đầu tư còn hạn chế nên một số tuyến, điểm du lịch mặc dù được quy hoạch xác định có tiềm năng lớn trên địa bàn như các tuyến du lịch đường sông (dọc theo sông Đà, sông Lô và sông Thao…) điểm du lịch sinh thái Vườn quốc gia Xuân Sơn (huyện Tân Sơn), điểm du lịch thác và Chiến khu lòng chảo Minh Hòa (thuộc huyện Yên Lập)… nhưng vẫn chưa được đưa vào khai thác phục vụ khách du lịch hoặc khai thác nhưng còn manh mún. Đây là một trong những hạn chế ảnh hưởng đến việc đa dạng hóa sản phẩm du lịch tỉnh Phú Thọ trong thời gian qua.

3.2.3.5. Công tác quản lý nhà nước về du lịch 

Công tác quản lý về du lịch đã có sự thay đổi quan trọng về tổ chức bộ máy quản lý nhà nước du lịch từ Trung ương đến địa phương. Trong cơ chế quản lý đa ngành, ngành văn hóa, thể thao và du lịch Phú Thọ đã không ngừng nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội trong phát triển du lịch, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch. Những kết quả đạt được như sau:

  • Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý nhà nước về du lịch, đội ngũ cán bộ, công chức được bồi dưỡng về trình độ nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học và lý luận chính trị. Tổ chức các lớp tập huấn đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch như Luật Du lịch, các Nghị định triển khai Luật.
  • Giáo dục nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của ngành kinh tế du lịch cho các tầng lớp nhân dân góp phần thúc đẩy du lịch phát triển.
  • Phối hợp với các Sở, Ngành, chính quyền các địa phương điều tra, đánh giá tài nguyên để quản lý khai thác và bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ.
  • Trên cơ sở quy hoạch tổng thể phát triển du lịch toàn tỉnh, Sở đã tiến hành xây dựng các quy hoạch chi tiết, đề án, chương trình, dự án phát triển du lịch, phê duyệt là các định hướng cho công tác quản lý và phát triển các hoạt động du lịch phù hợp quy hoạch tổng thể.
  • Từng bước thực hiện tiêu chuẩn hóa trong quản lý nhà nước các hoạt động du lịch. Công tác cải cách thủ tục hành chính được triển khai tích cực, áp dụng tiêu chuẩn ISO trong việc thẩm định, xếp cấp loại, hạng cơ sở lưu trú, nhà hàng đạt tiêu chuẩn kinh doanh du lịch và hướng dẫn viên du lịch. Tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ trong công tác thống kê du lịch để từng bước phù hợp với yêu cầu phát triển chung của cả nước.
  • Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra các hoạt động du lịch và tiến hành xử lý, nhắc nhở các đơn vị thực hiện theo đúng quy định pháp luật.

3.2.3.6. Xúc tiến, quảng bá và đào tạo nguồn nhân lực

  • Xúc tiến, quảng bá

Công tác tuyên truyền quảng bá, xúc tiến tiềm năng, thế mạnh về du lịch được quan tâm, hình thức tuyên truyền đa dạng: quảng bá trên các phương tiện thông tin đại chúng, đài phát thanh truyền hình tỉnh Phú Thọ, các tỉnh bạn và Trung ương.

Thông qua tổ chức các sự kiện lớn như Giỗ Tổ Hùng Vương, chương trình du lịch về cội nguồn, chương trình về miền lễ hội cội nguồn dân tộc Việt Nam, Ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch các dân tộc vùng Đông Bắc, Hội khỏe Phù Đổng… đã quảng bá hình ảnh con người, du lịch Phú Thọ tới đồng bào, du khách trong nước và quốc tế; nâng cao hình ảnh Đất Tổ.

Hợp tác phát triển du lịch ba tỉnh Phú Thọ-Yên Bái-Lào Cai bước đầu tạo ấn tượng tốt, tạo dựng được thương hiệu trên thị trường du lịch. Chương trình hợp tác và phát triển du lịch 8 tỉnh Tây Bắc mở rộng tiếp tục được triển khai thực hiện, đã xây dựng logo du lịch Phú Thọ để quảng bá tại thị trường du lịch trong và ngoài nước.

Công tác xúc tiến, quảng bá có nhiều tiến bộ, tuy nhiên do kinh phí ít, thiếu sự hỗ trợ của doanh nghiệp nên hiệu quả chưa tương xứng với yêu cầu đặt ra.

  • Đào tạo nhân lực

Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước về du lịch đã được quan tâm. Ngành du lịch tỉnh đã tổ chức cho cán bộ dự các lớp tập huấn trong và ngoài nước, các chương trình dự án đào tạo nguồn nhân lực EU, hợp tác với Tây Ban Nha và Tổng cục Du lịch tổ chức. Trình độ lý luận chính trị cũng được nâng cao: Lãnh đạo các phòng du lịch cấp tỉnh, phòng văn hóa – thông tin cấp huyện có trình độ trung cấp và cao cấp lý luận chính trị.

Công tác đào tạo, đào tạo lại đội ngũ công nhân kỹ thuật tại các doanh nghiệp được chú trọng. Ngành du lịch Phú Thọ đã phối hợp với Tổng cục Du lịch, Phòng Thương mại công nghiệp Việt Nam tổ chức lớp bồi dưỡng nghiệp vụ thuyết minh viên, mở các lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ buồng, bàn, bar, bếp cho các cán bộ của các doanh nghiệp kinh doanh du lịch.

Chương trình đào tạo chuyên ngành du lịch đang được triển khai thực hiện ở Đại học Hùng Vương, Cao đẳng kinh tế-kỹ thuật Phú Thọ, Cao đẳng Công nghiệp thực phẩm, Cao đẳng nghề Phú Thọ… Trong thời gian tới sẽ có nhiều học sinh tốt nghiệp sẽ bổ sung nguồn nhân lực cho ngành du lịch.

3.2.4. Thực trạng du lịch tỉnh Phú Thọ năm 2024 Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ.

Năm 2024 đón được 6 nghìn lượt khách du lịch quốc tế và 7,25 triệu lượt khách nội địa (trong đó có 6,5 triệu lượt khách tham quan trong ngày và 744 nghìn khách lưu trú); đạt mức tăng trưởng bình quân của khách lưu trú 17,4%/năm, trong đó khách quốc tế 14,4%/năm.

Tổng thu nhập từ du lịch đạt khoảng 1.845 tỷ VNĐ, trong đó, GDP du lịch đạt 1.923 tỷ VNĐ; chiếm tỷ trọng 6,05% tổng GDP toàn tỉnh, tăng trưởng trung bình đạt hơn 17,8%/năm.

Năm 2024 có tổng số 3.220 buồng lưu trú với khoảng 12% đạt tiêu chuẩn xếp hạng 3 sao trở lên, tạo viêc̣ làm cho khoảng 20,6 ngàn lao đôṇg (trong đó 5,15 ngàn lao động trực tiếp).

Có thể thấy, sau 5 năm thực hiện Nghị quyết 09-NQ/TU của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVII về phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2020 – 2024, kết cấu hạ tầng du lịch được cải thiện, từng bước đưa vào khai thác các dự án thành phần tại các khu du lịch trọng điểm của tỉnh như: Khu di tích lịch sử Đền Hùng; Khu du lịch Văn Lang; Quảng trường Hùng Vương; Trung tâm thương mại Vincom và các điểm du lịch tại thành phố Việt Trì; Khu du lịch nước khoáng nóng Thanh Thủy; Khu du lịch Vườn Quốc gia

Xuân Sơn; Khu đô thị sinh thái – du lịch – nghỉ dưỡng – thể thao Tam Nông. Nguồn vốn xã hội hóa hoạt động du lịch đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh lưu trú du lịch tăng nhanh. Gắn với đó là các sản phẩm du lịch đặc trưng của tỉnh về du lịch văn hóa tâm linh, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái được xây dựng, đưa vào khai thác bước đầu có hiệu quả, thu hút lượng khách đến tham quan ngày càng tăng, tạo những chuyển biến mới cho du lịch Phú Thọ.

3.3. Đánh giá chung về thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ

3.3.1. Những kết quả đạt được

Thời gian vừa qua, cùng với sự quan tâm chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, sự phối hợp, tạo điều kiện của các cấp, các ngành trong tỉnh, sự cố gắng phấn đấu của ngành du lịch, du lịch tỉnh Phú Thọ đã đạt được những kết quả sau: – Các chỉ tiêu phát triển chủ yếu về lượng khách, thu nhập, GDP từ du lịch tăng với tốc độ khá cao góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.

  • Thị trường khách du lịch ngày càng được mở rộng, đặc biệt là thị trường khách du lịch là cộng đồng người Việt Nam.
  • Nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về vị trí, vai trò của du lịch được nâng lên, khẳng định du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng có tính chiến lược lâu dài góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh.
  • Công tác xúc tiến, quảng bá, hợp tác phát triển du lịch đạt được những thành tựu đáng khích lệ góp phần nâng cao hình ảnh tiềm năng và triển vọng phát triển du lịch, thu hút được nhiều nhà đầu tư (Công ty TNHH Thương mại-Quảng cáo-Xây dựng-Địa ốc Việt Hân, Doanh nghiệp xây dựng Xuân Trường, Công ty cổ phần Ao Vua, Công ty cổ phần Tập đoàn Hà Đô…) và lượng lớn khách du lịch.
  • Đã thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh du lịch. – Bước đầu đã thu hút được một số nhà đầu tư lớn, có thương hiệu về dịch vụ, du lịch và thương mại như Big C, Sài Gòn Tourist, Sài Gòn Co.Op Mart, Đream City… và tạo được sự chuyển biến tích cực trong hoạt động kinh doanh góp phần tích cực vào nỗ lực đưa hình ảnh vùng Đất Tổ thân thiện, an toàn và mến khách đến với đồng bào và du khách; bảo tồn, phát triển các giá trị văn hóa truyền thống, bảo vệ tài nguyên du lịch, giải quyết công ăn việc làm và xóa đói giảm nghèo…
  • Công tác quy hoạch tổng thể phát triển du lịch; các quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết các khu du lịch và các dự án lớn đã được xây dựng, phê duyệt là định hướng cho công tác quản lý và thực hiện các hoạt động đầu tư, kinh doanh, quản lý tài nguyên du lịch. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ.

3.3.2. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

3.3.2.1. Tồn tại, hạn chế

Bên cạnh những thành tựu đạt được, đánh giá thực trạng phát triển du lịch Phú Thọ thời gian qua, có thể nhận thấy những tồn tại sau:

  • Kết quả đạt được của Du lịch Phú Thọ trong thời gian vừa qua còn thấp chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có; chưa bố trí được các nguồn lực đầu tư biến các tiềm năng thành sản phẩm du lịch đưa vào khai thác phục vụ khách du lịch.
  • Nhận thức về vai trò của du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp tại một số nơi còn hạn chế do đó chưa được quan tâm đầu tư đúng mức; thiếu các giải pháp cụ thể để khuyến khích, hỗ trợ du lịch dịch vụ phát triển. Hầu hết tại các huyện, thành, thị chưa có cán bộ chuyên trách theo dõi về du lịch.
  • Công tác quản lý các khu, điểm du lịch, nhất là các khu, điểm du lịch đang đầu tư chưa thống nhất quản lý một cách có hiệu quả. Công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực còn chậm, chưa xây dựng được kế hoạch phát triển cụ thể; việc liên kiết giữa cơ quan du lịch, các doanh nghiệp và các đơn vị đào tạo còn hạn chế.
  • Khách du lịch lưu trú chiếm tỷ lệ thấp so với khách du lịch đến Phú Thọ; thời gian lưu trú bình quân và mức chi tiêu bình quân của khách còn thấp so với mặt bằng chung của cả nước. Tỷ lệ lao động trong ngành du lịch (cả trực tiếp và gián tiếp) vẫn còn thấp so với nhu cầu phát triển.
  • Các đơn vị kinh doanh du lịch dịch vụ quy mô ở mức vừa và nhỏ, trình độ đội ngũ nhân viên phục vụ, cơ sở vật chất và dịch vụ phục vụ khách du lịch còn hạn chế, hiệu quả kinh doanh chưa cao.
  • Thiếu các doanh nhân giỏi và đội ngũ lao động có tay nghề, tính chuyên nghiệp cao trong hoạt động du lịch.
  • Sản phẩm du lịch mờ nhạt, nghèo nàn chưa tạo được sức hấp dẫn cho du khách; chưa xây dựng được tuyến du lịch hoàn chỉnh mang tính đặc sắc, độc đáo. Chất lượng sản phẩm du lịch thấp, chưa có khách sạn, nhà hàng, khu dịch vụ cao cấp, trung tâm vui chơi giải trí; thiếu các doanh nghiệp có thương hiệu.
  • Thiếu sự gắn kết giữa du lịch với thương mại, chưa xây dựng được các trung tâm thương mại, chợ đầu mối, làng nghề truyền thống…. là nơi tham quan và mua sắm hàng hóa của du khách.
  • Công tác tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch hiệu quả thấp, nội dung còn chung chung, thiếu tính chuyên nghiệp; chưa gắn với các khu, điểm và sản phẩm du lịch để thu hút các doanh nghiệp lữ hành lớn trong nước và quốc tế liên doanh liên kết với các doanh nghiệp của tỉnh đưa khách tới Phú Thọ. Các doanh nghiệp du lịch của tỉnh chưa tích cực tham gia vào công tác xúc tiến du lịch.
  • Công tác quản lý nhà nước về du lịch còn nhiều hạn chế; sự phối hợp giữa các cấp các ngành trong việc thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ, giải pháp phát triển du lịch thiếu chặt chẽ, thụ động; đội ngũ cán bộ, công chức quản lý nhà nước khả năng tác nghiệp chưa cao, chưa kịp thời tham mưu cho tỉnh ban hành các cơ chế, chính sách, chương trình, đề án.. phát triển du lịch có hiệu quả.
  • Đầu tư còn thiếu, hệ thống cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch còn thiếu đồng bộ, chưa đáp ứng yêu cầu của du lịch, chưa có sản phẩm du lịch có thương hiệu mạnh, mang tính cạnh tranh cao.
  • Phát triển du lịch còn ẩn chứa nhiều yếu tố thiếu bền vững (kinh doanh mang tính chộp giật, cạnh tranh thiếu lành mạnh…). Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ.

Trong đó, các nguyên nhân nổi cộm chính là:

  • Thứ nhất, hỗ trợ ngân sách đối với các hoạt động nghiên cứu thị trường du lịch còn hạn hẹp.
  • Thứ hai, công tác đào tạo nguồn nhân lực đảm bảo chất lượng, phù hợp đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch còn chưa được quan tâm đúng mực.
  • Thứ ba, việc tuyên truyền, quảng cáo, đào tạo, giáo dục môi trường còn chưa thường xuyên và hiệu quả.

3.3.2.2. Nguyên nhân

Những hạn chế, tồn tài du lịch Phú Thọ thời gian qua chủ yếu do những nguyên nhân khách quan và chủ quan sau:

a) Nguyên nhân khách quan:

  • Phú Thọ là tỉnh miền núi nghèo, cơ sở hạ tầng còn nhiều bất cập, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch còn thiếu, chất lượng thấp, chưa tạo được những sản phẩm du lịch đặc thù có chất lượng cao. Nội lực của Phú Thọ không thể bố trí được các nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng du lịch.
  • Thiếu các doanh nghiệp lớn mạnh có đủ năng lực đầu tư xây dựng các dự án du lịch lớn, tạo chuyển biến lớn cho phát triển du lịch. Các doanh nghiệp trong tỉnh có quy mô nhỏ và vừa, năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh thấp, nguồn vốn chủ yếu tập trung vào lĩnh vực nhanh thu hồi vốn hoặc khai thác những cái sẵn có. Các doanh nghiệp lữ hành yếu kém không có khả năng khai thác các nguồn khách từ ngoài về thăm quan tại tỉnh.
  • Đầu tư cho phát triển du lịch là lĩnh vực đầu tư dài hạn cần nguồn vốn lớn và đòi hỏi nhà đầu tư phải thực sự tâm huyết. Các dự án đầu tư lớn về du lịch trên địa bàn tỉnh đều là các nhà đầu tư ngoại tỉnh nên khó khăn trong công tác thúc đẩy nhanh tiến độ thực hiện dự án.
  • Ảnh hưởng cả tính thời vụ đối với du lịch Phú Thọ cao.
  • Ảnh hưởng của các yếu tố khách quan như thời tiết, dịch bệnh, khủng hoảng kinh tế toàn cầu…

b) Nguyên nhân chủ quan:

  • Công tác dự báo, dự đoán để xây dựng các chỉ tiêu phát triển du lịch giai đoạn 2015-2019 chưa lường trước được hết những khó khăn, diễn biến phức tạp của tình hình quốc tế và trong nước; một phần là do nhận thức về phát triển du lịch chưa đầy đủ, chưa thấy rõ phát triển du lịch cần phải đầu tư lâu dài với nhu cầu vốn lớn, chậm thu hồi vốn…
  • Các cấp, các ngành chưa đề ra các biện pháp cụ thể, thiết thực, hiệu quả để thúc đẩy phát triển du lịch; thiếu kinh nghiệm thực tế. Chủ trương, giải pháp thực hiện và hệ thống chính sách nhằm tạo môi trường thuận lợi cho phát triển du lịch với tư cách là một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh chưa đồng bộ và thống nhất. Nhận thức của một số cấp ủy, chính quyền và nhân dân về vai trò kinh tế du lịch còn hạn chế.
  • Kết cấu hạ tầng yếu kém, thiếu đồng bộ dẫn tới khả năng tiếp cận điểm đến du lịch gặp khó khăn; sản phẩm du lịch đơn điệu, chất lượng thấp dẫn tới sức cạnh tranh yếu, kém hấp dẫn. Vai trò và năng lực của khối kinh tế tư nhân chưa được phát huy đúng mức, chưa có chính sách hỗ trợ và khuyến khích phát triển cho các doanh nghiệp đầu tư và kinh doanh du lịch.
  • Chưa đào tạo được đội ngũ chuyên gia đầu ngành, lực lượng quản lý tinh thông và trình độ cao; đội ngũ hướng dẫn viên, thuyết minh viên chuyên nghiệp…
  • Môi trường đầu tư chưa thực sự hấp dẫn để thu hút được các doanh nghiệp trong tỉnh có nguồn vốn lớn đầu tư phát triển du lịch. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ.
  • Công tác chỉ đạo phối hợp liên kết với các tỉnh và doanh nghiệp chưa chặt chẽ, phiến diện. Sự liên kết phát triển du lịch mới dừng lại ở các cơ quan quản lý nhà nước, sự liên kết giữa các doanh nghiệp của các tỉnh còn yếu kém.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch tỉnh Phú Thọ đến năm 2030

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537