Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại KDL Cát Bà

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại KDL Cát Bà hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng chính sách phát triển du lịch bền vững tại khu du lịch Cát Bà, thành phố Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát chung về Khu du lịch Cát Bà, thành phố Hải Phòng

2.1.1. Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu

  • Vị trí địa lý, địa hình:

Khu du lịch Cát Bà bao gồm khu Dự trữ Sinh quyển Cát Bà, Vườn quốc gia Cát Bà và quần đảo Long Châu, thuộc huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng. Khu du lịch Cát Bà cách thành phố Hải Phòng 45 km về phía Đông và cách thủ đô Hà Nội 150km về phía Đông – Nam. Phía Bắc và phía Đông giáp Vịnh Hạ Long; phía Nam giáp Vịnh Bắc Bộ; phía Tây giáp đảo Cát Hải.

  • Địa hình:

Khu du lịch Cát Bà có diện tích là 33.670 ha, bao gồm 13.478 ha đất tự nhiên và 20.192 ha mặt biển và được bảo vệ bởi Vùng đệm rộng lớn nằm ở phía Tây Bắc và Tây Nam với diện tích là 13000 ha, bao gồm 3.984 ha đất tự nhiên và 9016 ha mặt nước. Phần lớn diện tích Khu du lịch Cát Bà là đảo đá vôi. Địa hình đặc trưng là các vách dốc đứng lởm chởm tai mèo, các đỉnh, chóp của các khối núi đá vôi hiểm trở với các hang động trong các khối núi đá vôi. Các thung lũng karst hẹp bị bao quanh bởi dãy núi kéo dài chủ yếu theo phương Tây Bắc – Đông Nam. Các tùng, áng khoét sâu vào bờ đảo. Các bãi triều bùn rộng lớn và khá bằng phẳng, trên bề mặt bãi phát triển rừng ngập mặn tươi tốt. Các bãi cát vỏ vôi sinh vật và mảnh cành san hô.

Khu du lịch Cát Bà có đặc trưng đa dạng sinh học cao với chức năng là Vườn quốc gia và Khu Dự trữ sinh quyển thế giới Cát Bà, có nhiều kiểu rừng mưa nhiệt đới xanh quanh năm (Hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi, rừng ngập nước ngọt, rừng ngập mặn), còn có 1045,2 ha rừng nguyên sinh trên đảo đá vôi lớn nhất của Việt Nam, với nhiều loài quý hiếm, trong đó Voọc Đầu Trắng là đặc hữu và biểu tượng của đảo. Vùng triều và biển xung quanh đảo có khu hệ động thực vật phong phú, cạnh ngư trường đánh bắt hải sản lớn.

  • Khí hậu:

Khu du lịch Cát Bà thuộc ven bờ Hải Phòng có khí hậu vừa mang đặc điểm chung của đồng bằng Bắc Bộ, vừa có những đặc điểm vi khí hậu của một đảo đá vôi ven biển, với đặc điểm cơ bản vùng nhiệt đới có mùa đông lạnh. Là đảo ven bờ, khu vực còn chịu sự chi phối của biển dưới tác động của gió biển – đất làm điều hoà khí hậu, tạo nên mùa đông ấm hơn và mùa hè mát hơn so với đất liền. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại KDL Cát Bà.

Chất lượng nước biển Cát Bà thuộc loại tốt. Nhiệt độ nước biển thay đổi trong khoảng 15oC đến 31oC, oxy hòa tan  từ 5,12mg/l – 7,27 mg/l. pH của nước biển biến đổi trong một khoảng khá hẹp, từ 7,9 đến 8,3. Độ muối dao động từ 19‰  đến 34‰. Hàm lượng kim loại nặng trong nước nằm trong giới hạn cho phép.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2.1.2. Tài nguyên thiên thiên

Khu du lịch Cát Bà có 388 hòn đảo lớn, nhỏ được bao phủ bởi thực vật nhiệt đới. Do còn lưu giữ được vẻ hoang sơ hài hòa giữa cảnh quan rừng xanh và biển xanh như một miền ký ức sống động về lịch sử hình thành và phát triển của trái đất còn lưu giữ được – Khu du lịch Cát Bà được biết đến với tên gọi thân thương là “Cát Bà – Đảo Ngọc”.

Khu du lịch Cát Bà là nơi hệ sinh thái đa dạng nổi bật toàn cầu với nhiều hệ sinh thái (7 hệ sinh thái) như: rừng mưa nhiệt đới trên núi đá vôi, hang – động, rừng ngập mặn, bãi triều, hồ nước mặn, động thực vật đáy mềm và các rạn san hô rộng lớn.

Khu du lịch Cát Bà còn là trung tâm đa dạng sinh học cao của thế giới có giá trị toàn cầu được Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN) xếp loại. Tiêu biểu là sự có mặt của 3.860 loài thực vật và động vật trên cạn và dưới biển. Có tới 130 loài được xác định là các loài quý hiếm, được đưa vào sách đỏ Việt Nam và thế giới, trong đó có 76 loài nằm trong dach mục quý hiếm của IUCN, 21 loài đặc hữu. Đặc biệt loài Voọc Cát Bà (Trachypithecus poliocephalus) là loài đặc hữu, hiện nay chỉ còn một quần thể với 63 cá thể phân bố duy nhất ở Cát Bà. Voọc Cát Bà cùng với một số loài thực vật và động vật được IUCN xếp hạng ở cấp cực kỳ nguy cấp.

Khu hệ sinh vật biển của Khu du lịch Cát Bà cũng hết sức phong phú. Cho đến nay, đã phân loại được 177 loài san hô, trong đó có 166 loài san hô cứng (hard coral) và 11 loài còn lại thuộc các nhóm các bộ san hô bò (Stolonifera), san hô mềm (Alcyonaria), san hô sừng (Gorgonacea). Bên cạnh đó, vùng biển Cát Bà còn là nơi sinh sống và phát triển của 196 loài cá biển (marine fish), 102 loài rong biển (alga), 131 loài động vật phù du (zooplankton), 400 loài thực vật phù du (Phytoplankton) và 658 loài động vật đáy (zoobenthos). Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại KDL Cát Bà.

Khu du lịch Cát Bà có 388 hòn đảo lớn nhỏ, đã hình thành lên các quần thể vịnh biển đẹp và cảnh quan thơ mộng thu hút hàng trăm nghìn lượt khách du lịch đến thăm quan các năm như: vịnh Cát Bà, Vịnh Lan Hạ, Khu vực đảo Long Châu. Đan giữa các vịnh hình thành lên các bãi tắm tự nhiên. Theo thống kê hiện có 40 bãi tắm (bãi triều cát) lớn nhỏ, trong đó có các bãi tắm đẹp là bãi tắm Cát Cò I, Cát Cò 2, Cát Cò 3, bãi Cát Dứa, bãi Ba Trái Đào…

Hang động ở Cát Bà mà một dạng sinh cảnh tiêu biểu của địa hình karst. Hơn thế nữa, hệ thống hang động ở Cát Bà rất độc đáo do nó chứa đựng cả hang trên cạn và hang dưới biển. Các loài động vật phổ biến ở hang động là dơi, chân bụng và côn trùng. Đặc biệt, các hang động ở Cát Bà còn là nơi có nhiều di chỉ khảo cổ quan trọng. Quần đảo Cát Bà cò nhiều hệ thống hang động đẹp, kỳ thú. Là địa điểm thu hút nhiều du khách đến thăm quan. Hiện nay, có 4 hang, động đang được vào khai thác du lịch đó là: Động Thiên Long, Hang Đá Hoa, Động Trung, Hang Quân Y.

Với những giá trị vô cùng quý báu về đa dạng sinh học như trên, Khu du lịch Cát Bà đã được Chính phủ Việt Nam ra quyết định lập Vườn quốc gia năm 1984; Khu bảo tồn biển quốc gia năm 2018; Danh lam thắng cảnh – di tích quốc gia đặc biệt cấp quốc gia năm 2021 và được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới năm 2012. Hiện nay Hồ sơ đề cử Quần đảo Cát Bà là Di sản thiên nhiên

Thế giới đã được hoàn thiện trình lên Thủ tướng Chính phủ đề xem xét gửi đến UNESCO vào thời điểm thích hợp. 

2.2. Khái quát về chính sách phát triển du lịch bền vững tại Khu du lịch Cát Bà, thành phố Hải Phòng

2.2.1. Cơ sở pháp lý xây dựng chính sách phát triển du lịch bền vững tại khu du lịch Cát Bà, thành phố Hải Phòng 

Chính sách phát triển du lịch bền vững tại khu du lịch Cát Bà, thành phố Hải Phòng được xây dựng dựa trên các văn bản sau:

  • Luật Du lịch số 44/2013/QH11 ngày 14/06/2013;
  • Nghị định số 92/2015/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 01/06/2015 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch;
  • Nghị định số 180/2021/NĐ- CP của Chính phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 92/2015/NĐ- CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch;
  • Quyết định số 201/2021//QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 22/01/2021 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển Du lịch Việt Nam đến năm 2040, tầm nhìn đến năm 2050;
  • Quyết định số 271/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 27/11/2014 về việc phê duyệt “Điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội thành phố Hải Phòng đến năm 2040”;
  • Quyết định số 1448/2017/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 16/09/2017 về việc phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng thành phố Hải Phòng đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2070;
  • Quyết định số 142/2016/QĐ-UBND của UBND thành phố Hải Phòng ban hành ngày 17/01/2016 về việc phê duyệt “Rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch tổng thể phát triển du lịch thành phố Hải Phòng đến năm 2040”;

 2.2.2. Nội dung chính sách phát triển du lịch bền vững Khu du lịch Cát Bà, thành phố Hải Phòng Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại KDL Cát Bà.

2.2.2.1. Mục tiêu

Phát triển du lịch bền vững tại Khu du lịch Cát Bà phải trở thành động lực kinh tế cho phát triển kinh tế- xã hội của thành phố Hải Phòng và vùng đồng bằng sông Hồng.

Khai thác có hiệu quả các tiềm năng và lợi thế so sánh về nguồn lực du lịch, tạo ra được sự khác biệt về sản phẩm du lịch để nâng cao tính cạnh tranh của du lịch Cát Bà trong mối quan hệ gắn kết phát triển du lịch với Đồ Sơn, Hạ Long, Vân Đồn và các trung tâm du lịch khác ở vùng đồng bằng sông Hồng và cả nước, khu vực và quốc tế.

Phát triển Cát Bà trở thành đảo “Ngọc bích” nơi du khách sẽ có những trải nghiệm tốt nhất về các giá trị sinh thái- cảnh quan toàn cầu; nơi nỗ lực bảo gồm sẽ được hỗ trợ bởi những công nghệ “xanh” hiện đại và những hoạt động dựa trên nguyên tắc của du lịch bền vững mà nòng cốt là du lịch sinh thái và du lịch cộng đồng.

Bảo tồn và tôn tạo các giá trị tài nguyên. Phát triển du lịch phải chú trọng bảo tồn các giá trị mang tầm quốc tế về sinh thái, đa dạng sinh học, về cảnh quan môi trường, giá trị địa chất cũng như các giá trị di sản văn hóa, lịch sử cho phát triển du lịch bền vững ở Cát Bà.

2.2.2.2. Các giải pháp

Một là, nâng cao nhận thức về du lịch. Nhận thức đúng về du lịch, đặc biệt là du lịch bền vững đối với phát triển kinh tế, gắn với bảo tồn và phát triển cộng đồng thông qua hoạt động tọa đàm, tập huấn, tham quan học tập, thông tin sẽ tạo ra sự đồng thuận.

Hai là, giải pháp về quản lý. Cần thành lập các cơ quan chuyên trách phát triển du lịch tại Cát Bà. Trong đó tổ chức bộ máy quản lý bao gồm: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại KDL Cát Bà.

  • Sở Du lịch: Chủ trì phối hợp với các Sở, ban, ngành thành phố và UBND huyện Cát Hải chỉ đạo việc thực hiện chính sách phát triển bền vững khu lịch Cát Bà.
  • Sở Kế hoạch và Đầu tư: chủ trì, phối hợp với Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch, UBND huyện Cát Hải xây dựng các chính sách đặc thù nhằm thu hút vốn đầu tư phát triển du lịch.
  • UBND huyện Cát Hải: quản lý việc thực hiện chính sách phát triển bền vững khu lịch Cát Bà.

Ba là, giải pháp về cơ chế, chính sách. Cần thực hiện đồng bộ chính sách phát triển du lịch bền vững với các chính sách khác như chính sách thuế, chính sách thu hút vốn đầu tư, chính sách bảo vệ môi trường…

Bốn là, giải pháp về quảng bá và tiếp thị du lịch, trong đó, cần nâng cao năng lực của Trung tâm xúc tiến du lịch Hải Phòng.

Năm là, giải pháp về phát triển nguồn nhân lực, nhấn mạnh tới đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, tay nghề, kĩ năng của lao động du lịch tại Cát Bà.

Sáu là, giải pháp về tài chính, thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước để phát triển du lịch bền vững tại Cát Bà.

Bảy là, giải pháp liên kết phát triển du lịch với các lãnh thổ khác nhau nhằm cho phép khai thác lợi thế tương đối của nhau về tài nguyên du lịch, về vị trí trong giao thông, về hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật và các nguồn lực khác cho phát triển du lịch.

2.3. Đánh giá chung về chính sách phát triển du lịch bền vững Khu du lịch Cát Bà, thành phố Hải Phòng thông qua phân tích swot

2.3.1. Điểm mạnh

2.3.1.1. Đã xác định mục tiêu phát triển du lịch gắn với bảo vệ môi trường và bảo tồn các giá trị văn hóa- lịch sử tại Khu du lịch Cát Bà.

Cụ thể, về phát triển du lịch với mục tiêu Cát Bà trở thành viên ngọc xanh, bộ mặt du lịch nơi đây đã có nhiều khởi sắc. Mục tiêu trên được xây dựng dựa trên những tiềm năng có sẵn tại đây.

Thứ nhất, về tài nguyên du lịch nhân văn

Đạt được kết quả này một phần cũng do Cát Bà được thiên nhiên ưu đãi với nhiều hệ thống di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh thu hút được khách du lịch. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại KDL Cát Bà.

Hiện nay đảo Cát Bà có 11 di tích được xếp hạng, trong đó có 3 di tích được xếp hạng di tích cấp quốc gia: (1) Di tích lịch sử văn hóa Bác Hồ về thăm Làng cá, Di tích khảo cổ Cái Bèo (2) và Quần đảo Cát Bà được xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt – Danh lam thắng cảnh (3) và 8 di tích được xếp hạng cấp thành phố là (1)Di tích lịch sử kháng chiến Đình, xã Trân Châu, (2) Di tích Đồn Cổ, xã  Xuân Đám, (3) Di tích lịch sử văn hóa xã Phù Long, (4) Di tích lịch sử Đình – Chùa Gia Lộc, (5) Di tích lịch sử – văn hóa Đình Nghĩa Lộ, (6) Di tích lịch sử văn hóa Cụm đình chùa Văn Chấn, xã Văn Phong, (7), Di tích lịch sử văn hóa Chùa Hòa Hy, thị trấn Cát Hải, (8) Di tích lịch sử văn hóa Đình Hoàng Châu, xã Hoàng Châu…

Bên cạnh các di tích được xếp hạng, trên đảo Cát Bà còn có một số đình chùa tuy chưa được xếp hạng song hàng năm thu hút đông khách du lịch và nhân dân địa phương đến thăm quan, vãn cảnh và hành hương như: Chùa Thiên Ứng, Chùa Linh Ứng xã Trân Châu, Đền Áng Ván, Đền Tùng Rinh thị trấn Cát Bà, Đền Hiền Hào, xã Hiền Hào, Đền Bến, xã Gia Luận, Hệ thống đền, miếu xã Xuân Đám, Pháo đài Thần Công đỉnh cao 177, thị trấn Cát Bà…

Cùng với hệ thống các di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh, Cát Bà còn có rất nhiều các lễ hội gắn với văn hóa biển. Các làng, xã trên đảo Cát Bà nằm giáp biển nên các hoạt động Lễ hội của cư dân vùng đảo Cát Bà mang đặc trưng văn hóa tâm linh của người dân vùng biển như: chèo thuyền, đua thuyền là sinh hoạt văn hoá, hội đua thuyền chính là ngày hội xuống nước của các làng chài Cát Hải. Chính ở nơi đầu sóng ngọn gió, với sức sống, tinh thần lao động sáng tạo, người dân ở đây đã để lại những giá trị văn hoá độc đáo. Ngoài các lễ hội xuân đầu năm gắn với các hoạt động tín ngưỡng tâm linh đầu năm tại các đền, chùa còn có một số lễ hội truyền thống được tổ chức hàng năm thu hút đông đảo du khách và nhân dân tham gia là Lễ hội làng cá Cát Bà, Lễ hội cầu ngư của nhân dân thị trấn Cát Hải; lễ hội Xa Mã, xã Hoàng Châu…

Lễ hội Làng cá Cát Bà gắn với sự kiện kỷ niệm ngày Bác Hồ về thăm Làng cá và Kỷ niệm ngày Truyền thống ngành thủy sản Việt Nam được tổ chức vào dịp 31.3 và ngày 01.4 dương lịch hàng năm. Lễ hội được tổ chức với nhiều hoạt động văn hóa truyền thống đặc trưng của người dân vùng biển là đua thuyền rồng, đua thuyền thúng, lễ cầu ngư, rước nước, rước kiệu và nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ khác.

Lễ hội cầu ngư thị trấn Cát Hải là lễ hội truyền thống lâu đời của nhân dân thị trấn Cát Hải và các xã lân cận, được tổ chức vào ngày 21 tháng Giêng hàng năm. Lễ hội được tổ chức với các hoạt động như: lễ tế Thủy Thần Long Vương, cầu cho mưa thuận, gió hòa, mùa biển bội thu. Vào ngày lễ hội diễn ra, nhân dân trong xã có tục làm bánh trôi nước để thờ cúng thần linh, tổ tiên và mời bạn bè, du khách ở xa đến chơi thưởng thức. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại KDL Cát Bà.

Lễ hội Xa Mã xã Hoàng Châu vào ngày 10 tháng 6 âm lịch là hoạt động lễ hội tâm linh lâu đời của nhân dân xã Hoàng Châu. Lễ hội với hoạt động trò thi kéo ngựa chiến hay còn gọi là xa mã (rước kiệu) diễn ra giữa trai tráng trong làng. Lễ hội là dịp để nhân dân trong xã thờ cúng thần hoàng làng, đồng thời để thanh niên trai tráng trong làng thể hiện sức mạnh trai tráng và tinh thần thượng của võ dân tộc trong đấu tranh làm chủ thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm. Nhìn chung các Lễ hội ở cư dân vùng đảo Cát Bà tuy không nhiều song là những lễ hội có nhiều dấu ấn đặc sắc và thu hút đông đảo khách du lịch và nhân dân tham gia.

Thứ hai, về nguồn nhân lực hoạt động trong ngành du lịch

Đảo Cát Bà có dân số năm 2023 là 16.456 người, trong đó có 12.539 người trong độ tuổi lao động. Đây được xem là thời điểm dân số lý tưởng của đảo Cát Bà. Qua số liệu thống kê có thể thấy dân số Cát Bà là dân số trẻ, có số người trong độ tuổi lao động ở tỷ  lệ cao. Cát Bà có nguồn nhân lực dồi dào để phục vụ cho hoạt động du lịch. Theo kinh nghiệm tại Nhật Bản dân số trẻ là tài nguyên lao động quý giá, tạo sinh khí, động lực cho du lịch Cát Bà phát triển.

Hiện nay, mỗi năm du lịch Cát Bà thu hút từ 3.000 đến 3.500 lao động trực tiếp. Vào những tháng cao điểm, số lao động trực tiếp làm việc trong ngành du lịch khoảng 5.000 lao động, đủ sức tải phục vụ cho khoảng 12.000 lượt khách du lịch/ngày.

Hình 2.1. Biểu đồ cơ cấu độ tuổi lao động du lịch Cát Bà

Về cơ cấu độ tuổi: Theo kết quả điều tra lao động trong ngành du lịch Cát Bà năm 2023, cho thấy lao động của du lịch Cát Bà là lao động trẻ, có khoảng 45% lao động có tuổi đời từ 15 đến 34 tuổi, có gần 50% lao động có độ tuổi từ 35 đến 55, còn lại là độ tuổi trên 55 và dưới 15.

Thứ ba, về cơ sở vật chất, tài chính

Kết cấu hạ tầng như đường giao thông, điện, nước, bưu chính, viễn thông là những điều kiện không thể thiếu được trong quá trình khai thác tài nguyên phục vụ du lịch.

Trong những năm gần đây, hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật: đường giao thông, điện nước được đầu tư và ngày càng hoàn thiện. Nhiều dự án đầu tư về cơ sở hạ tầng kỹ thuật được đầu tư và đưa vào sử dụng đã tạo đà thuận lơi phục vụ phát triển du lịch Cát Bà, tiêu biểu như: Dự án đường xuyên đảo Đình vũ – Cát Hải – Cát Bà, dự án đường Cát Cò 3 – Gia Luận; dự án mở rộng mặt bằng khu Trung tâm du lịch; các dự án cung cấp nước ngọt về thị trấn Cát Bà, dự án tuyến phà Gia Luận – Tuần Châu, Dự án điện lưới quốc gia 35KV ra đảo Cát Hải…và hiện nay Nhà nước đang triển khai các dự án Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng và dự án đường ô tô cầu Tân Vũ – Lạch Huyện trên địa bàn huyện Cát Hải. Các dự án đầu tư đem đến cho Cát Bà một diện mạo mới, ngày càng văn minh, hiện đại, bước đầu tạo nên vóc dáng của một đô thị du lịch hiện đại, một trung tâm du lịch sinh thái của cả nước và quốc tế nhằm khai thác có hiệu quả tiềm năng kinh tế biển để phục vụ phát triển kinh tế.

Bảng 2.1.Thống kê cơ sở vật chất trong phục vụ du lịch giai đoạn 2017 – 2023

Stt Các chỉ tiêu Năm 2017 Năm 2019 Năm 2021 Năm 2022 Năm 2023
1. Tổng số khách sạn, nhà nghỉ 112 122 148 154 165
1.1 Khách sạn 4 sao 0 0 0 0 01
1.2 Khách sạn 3 sao 0 01 03 03 03
1.3 Khách sạn 2 sao 12 13 13 14 15
1.4 Khách sạn 1 sao 08 09 09 10 13
2. Tổng số phòng nghỉ 1.985 2.234 2.531 2.769 3.060
3. Tổng số giường nghỉ 4.050 4.500 4.942 5.315 5.803
4 Xe ô tô 71 56 60 69 68
5 Tàu du lịch 40 63 57 55 77
6 Tổng số nhà hàng (gồm cả bè nổi) 31 33 40 45 55
7 Tổng số lao động phục vụ du lịch 2.400 2.750 3.000 3.300 3.500

Nguồn Phòng Văn hóa Thông tin thể thao và Du lịch huyện Cát Hải

Số lượng các khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng và phương tiện vận tải du lịch tăng nhanh về số lượng và chất lượng dịch vụ trong những năm gần đây. Năm 2017, đảo Cát Bà có 112 khách sạn, nhà nghỉ với 1.985 phòng nghỉ và 31 nhà hàng.

Qua từng năm, số lượng khách sạn và nhà nghỉ, nhà hàng đều được tăng nhanh. Một số khách sạn được đầu tư, nâng cấp mở rộng quy mô diện tích sử dụng, tăng số phòng nghỉ. Tính đến hết năm 2023, du lịch Cát Bà có tổng số 165 khách sạn và nhà nghỉ với tổng số 3.060 phòng nghỉ và 5.803 giường. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại KDL Cát Bà.

Nhìn chung, Khu vực đảo Cát Bà có 55 nhà hàng kinh doanh chuyên biệt. Ngoài ra, tại hầu hết các khách sạn, nhà nghỉ đều phục vụ ăn, uống tại khách sạn với các món ăn từ bình dân đến các món đặc sản. Phần lớn các nhà hàng trên địa bàn đảo Cát Bà đã được ngành y tế cấp giấy chứng nhận đủ vệ sinh.

Nhiều nhà hàng, khách sạn đã được gắn biểu tượng Dự trữ Sinh quyển Thế giới, thể hiện đạt chuẩn về dịch vụ của cơ sở kinh doanh. Qua điều tra phỏng vấn người địa phương, hơn 70% câu trả lời đều cho rằng hiện tại Cát Bà có đủ cơ sở lưu trú và nhà hàng để phục vụ nhu cầu ăn nghỉ của khách.

Số phương tiện tham gia hoạt động du lịch – dịch vụ trên địa bàn tăng cả về số lượng và chất lượng.

Về đường bộ: Huyện Cát Hải có 119,125 km đường bộ, trong đó có 28,04 km đường tỉnh, 48,38 km đường huyện và 29,5 km đường xã. Hệ thống giao thông đường tỉnh, huyện được rải nhựa, toàn bộ hệ thống đường giao thông xã và liên xã được bê tông hóa. Hệ thống đường giao thông cơ bản đáp ứng yêu cầu phục vụ dân sinh và phục vụ du lịch. Các tuyến đường giao thông chính là:

  • Đường du lịch ven biển từ thị trấn Cát Bà đến Cái Viềng qua các xã Trân Châu, Xuân Đám, Hiền Hào, Phù Long dài  trên 30 km. Đây là tuyến đường du lịch kết hợp dân sinh, là tuyến giao thông chính của huyện Cát Hải.
  • Cầu Tân Vũ- Lạch Huyện vừa được thông xe kĩ thuật vào tháng 5/2025 đã tạo thuận lợi cho phát triển du lịch Cát Bà.
  • Tuyến đường Cát Bà – Gia Luận – Tuần Châu tuyến đường đạt tiêu chuẩn đường giao thông miền núi cấp, dài 24 km.
  • Tuyến đường Vườn Quốc gia Cát Bà – Cái viềng 14km; tuyến đường này nối với tuyến đường du lịch ven biển từ thị trấn Cát Bà đến Cái Viềng tạo thành tuyến giao thông thứ 2 từ Hải Phòng đi đến trung tâm du lịch Cát Bà.

Về đường thủy: 

Do điều kiện đặc thù là đảo nên giao thông đường thủy là giao thông được khá nhiều du khách ưu thích. Giao thông đường thủy đến với Cát Bà bao gồm các tuyến: Bến Bính – thị trấn Cát Bà;  Hải Phòng – Cát Hải – Cát Bà đi qua 2 phà Đình Vũ – Ninh Tiếp và Bến Gót – Cái Viềng; Gia Luận – Tuần Châu; Liên vận kết hợp chạy liên thông bằng xe ô tô và tàu thủy tuyến Hải Phòng – Cát Bà.

Đội tàu vận tải du lịch đã phát triển theo hướng hiện đại và hoạt động có hiệu quả. Chủ các phương tiện đã tích cực chủ động đóng mới, nâng cấp các phương tiện phục vụ đa dạng nhu cầu du lịch của du khách, nhiều phương tiện đã có buồng cho khách lưu trú qua đêm, tham quan và thưởng thức ẩm thực trên vịnh.

Về đường hàng không:  Tại đỉnh cao 177, cách Trung tâm thị trấn Cát Bà 1 km có một sân bay trực thăng bảo đảm đầy đủ yêu cầu về kỹ thuật để các máy bay trực thăng hoạt động an toàn. Hiện nay, sân bay trực thăng này vẫn đang được sử dụng.

Thứ tư, về cấp điện Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại KDL Cát Bà.

Từ năm 2016, dự án đường giây tải điện 35 KV đã hoàn thành và đưa điện lưới quốc gia về Cát Bà, tạo ra đông lực thúc đẩy ngành du lịch Cát Bà phát triển.  Hiện nay dự án đường dây tải điện 110kv Chợ Rộc (Quảng Ninh) – Cát Bà đang được gấp rút hoàn thành, sẽ bảo đảm nguồn cung cấp điện ổn định cho khu vực đảo Cát Bà.

Thứ năm, về cấp nước

Nước sử dụng cho khu vực Cát Bà hiện nay chủ yếu là nước ngầm được khai thác tại đảo Cát Bà và nước tại các suối trên đảo Cát Bà. Tuy nhiên nguồn nước cung cấp hiện nay chưa bảo đảm đáp ứng đầy đủ nhu cầu tiêu dùng và phục vụ du lịch.

Hiện nay, trên địa bàn huyện có 4 hồ chứa nước ngọt, trong đó có 01 hồ chứa đã hoàn thành và đưa vào sử dụng với dung tích hồ chứa từ 250.000m đến 280.000m3; có 03 hồ chứa đang được triển khai xây dựng tại xã Trân Châu, Xã Xuân Đám và xã Phù Long theo Quyết định số 439/QĐ-TTg ngày 03/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ. Theo thiết kế các dự án, sau khi hoàn thành, tổng dung tích các hồ chứa nước ngọt trên đảo Cát Bà là 1.024.850 m3. Toàn bộ những hồ chứa nước này sẽ bảo đảm cung cấp đầy đủ nước cho sản xuất, sinh hoạt và kinh doanh của khu vực đảo Cát Bà.

Thứ sáu, về bưu chính, viễn thông

100% các xã, thị trấn khu vực đảo Cát Bà có điểm Bưu điện văn hoá, có nhà văn hóa xã. Hệ thống các mạng điện thoại viễn thông phát triển mạnh mẽ với nhiều dịch vụ tiện ích cho người sử dụng, nhất là các dịch vụ của mạng điện thoại di động. Hiện nay, mạng di động Vinaphone, Mobile phone và mạng Viettel đã được phủ sóng toàn bộ trên địa bàn đảo Cát Bà. Hệ thống đường truyền cáp quang internet tốc độ cao được kết nối đến Cát Bà, bảo đảm cung cấp đầy đủ các dịch vụ sử dụng internet cho người sử dụng.

Từ năm 2021, tại trung tâm du lịch Cát Bà được lắp đặt WiFi tốc độ cao miễn phí cho người sử dụng.

Về chỉ tiêu máy điện thoại: Từ năm 2017 đến nay, dân cư khu vực đảo Cát Bà đã đạt chỉ tiêu 30 máy điện thoại/ 100 dân.

Thứ bảy, về dịch vụ chăm sóc y tế

Việc cung cấp các dịch vụ y tế ở Cát Bà còn hạn chế. Khu vực đảo Cát Bà có 1 bệnh viện (Bệnh viện Đa khoa Cát Bà), nên việc chăm sóc sức khoẻ ở tuyến ban đầu cho người dân chủ yếu thông qua các trạm xá ở thị trấn và các xã.

Thứ tám, về nguồn vốn đầu tư phát triển du lịch

  • Nguồn vốn ngân sách: Từ năm 2014 đến nay, trên địa bàn thành phố Hải Phòng có 17 dự án thuộc nguồn vốn ngân sách với tổng số vốn 622,294 tỉ đồng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng công cộng phục vụ du lịch, trong đó gần 50% là đầu tư vào Khu du lịch Cát Bà. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại KDL Cát Bà.
  • Nguồn vốn ngoài ngân sách: có 19/34 dự án đầu tư vào thành phố được triển khai ở khu du lịch Cát Bà với số vốn đăng ký đầu tư 52.559,857 tỉ đồng và 173,5 triệu USD. Các lĩnh vực đầu tư chủ yếu là khách sạn, nhà hàng, khu nghỉ dưỡng, khu vui chơi giải trí, sân golf…
  • Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài: có 15 dự án đầu tư vào du lịch từ nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng số vốn 931,54 triệu USD.

Thứ chín, về quảng bá du lịch

Hoạt động quảng bá du lịch Cát Bà đã được quan tâm với nhiều hình thức đa dạng.

  • Xây dựng sản phẩm du lịch mới và tạo dựng thương hiệu du lịch

Loại hình du lịch cơ bản của Cát Bà được lựa chọn và tập trung đầu tư và phát triển trong thời gian qua là du lịch sinh thái biển kết hợp với du lịch nghỉ dưỡng, thể thao; du lịch cộng đồng; du lịch hội nghị, hội thảo và văn hóa, lễ hội.

  • Về phương thức quảng bá du lịch

Thực hiện theo phương pháp truyền thống: phát hành tập gấp, áp phích, bài thuyết minh tour du lịch, đĩa hình, sách hướng dẫn du lịch, bản đồ du lịch… bằng nhiều thứ tiếng;

Duy trì và nâng cấp website du lịch, truyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng trong nước và quốc tế.

Với mục tiêu khai thác tiềm năng du lịch, du lịch Cát Bà đóng góp lớn đối với  sự phát triển của du lịch Hải Phòng, là cực quan trọng góp phần thúc đẩy du lịch Hải Phòng phát triển. Năm 2019, khách du lịch đến Hải Phòng đạt 4.172.000 lượt (có 558.000 khách quốc tế) trong đó khách du lịch đến Cát Bà là 1.203.000 lượt ( có 310.000 lượt khách quốc tế). Năm 2023, khách du lịch đến Hải Phòng đạt 4.500.000 lượt (568.000 khách quốc tế), trong đó khách du lịch đến Cát Bà là 1.324.000 lượt (có 340.000 lượt khách quốc tế).

Qua số liệu thống kê cho thấy số khách du lịch đến Cát Bà trung bình chiếm khoảng 30% tổng số khách du lịch đến với thành phố Hải Phòng, song số khách quốc tế đến Cát Bà hàng năm chiếm trên 60% tổng số khách quốc tế đến Hải Phòng. Để du lịch Hải Phòng vươn ra tầm quốc tế thì du lịch thành phố Hải Phòng cần đặt du lịch Cát Bà vào vị trí trung tâm.

Bên cạnh đó, với vị trí tự nhiên, Cát Bà còn là cầu nối giữa hai thành phố Hải Phòng – Quảng Ninh và là một trong ba trung tâm du lịch lớn của khu vực là Cát Bà – Đồ Sơn – Hạ Long. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại KDL Cát Bà.

Bảng 2.2. Cơ cấu các ngành kinh tế của huyện Cát Hải giai đoạn 2017- 2023 (%)

Nội dung Năm 2017 Năm 2019 Năm 2021 Năm 2022 Năm 2023
Tỷ trọng ngành du lịch – dịch vụ 63,4 64 66 67 68,4
Tỷ trọng ngành CN – xây dựng 13,2 13 16 17 16,8
Tỷ trọng ngành nông nghiệp 23,4 23 18 16 14,8

Nguồn: Chi cục Thống kê huyện Cát Hải

Du lịch là ngành kinh tế trung tâm của huyện Cát Hải, ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế xã hội của huyện Cát Hải. Du lịch đóng góp lớn vào tổng giá trị sản phẩm của cơ cấu kinh tế huyện Cát Hải.

Qua bảng thống kê 2.2 cho thấy: Tỷ trọng ngành du lịch tăng dần đều qua các năm,  năm 2017 tỷ trọng ngành du lịch là 63,4% thì đến năm 2023,tỷ trọng ngành du lịch chiếm 68,4% cơ cấu kinh tế của huyện. Tỷ trọng ngành du lịch đóng góp bình quân 65,7% trong cơ cấu kinh tế của huyện.

Du lịch với vị trí là ngành kinh tế trung tâm có tác động thúc đẩy các ngành kinh tế khác của huyện Cát Hải phát triển, nhất là các ngành khai thác, nuôi trồng hải sản và nông nghiệp. Du lịch phát triển thu hút ngày càng đông du khách đến với Cát Bà, qua đó đòi hỏi phải có thêm nguồn thực phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của du khách. Để đáp ứng nhu cầu về thực phẩm phục vụ du lịch thì các ngành khai thác và nuôi trồng hải sản và nông nghiệp cũng phát triển. Đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp và hải sản được bảo đảm. Các sản phẩm của nông nghiệp, ngư nghiệp như: hải sản, nông sản được các nhà, hàng, khách sạn trên địa bàn thu mua làm nguyên liệu chế biến món ăn phục vụ khách du lịch.

Bên cạnh các nhu cầu về ăn, nghỉ thì nhu cầu về vui chơi, giải trí, thể thao, giao lưu, cung ứng các dịch vụ y tế cũng là những nhu cầu của số đông khách du lịch, do đó tác động thúc đẩy các hoạt động vui chơi, giải trí, thể thao, y tế phát triển.

Quần đảo di sản Cát Bà – Khu dự trữ sinh quyển thế giới – Danh lam thắng cảnh di tích quốc gia đặc biệt với những giá trị tài nguyên du lịch tự nhiên phong phú, hấp dẫn, giá trị đặc biệt mang tính toàn cầu được đông đảo du khách trong và ngoài nước yêu thích. Trong giai đoạn 2017 – 2023, du lịch Cát Bà đã có bước phát triển tích cực trên lộ trình trở thành một trung tâm du lịch sinh thái Quốc gia và hướng đến quốc tế sau năm 2025.

Bảng 2.3: Thống kê kết quả hoạt động kinh doanh du lịch Cát Bà giai đoạn 2017 – 2023

TT Chỉ tiêu Đơn vị tính Thực hiện qua các năm
Năm 2017 Năm 2019   Năm 2021 Năm 2022   Năm 2023
1. Tổng số lượt khách L/k 1.005.000 1.126.500 1.203.000 1.335.000 1.324.000
1.1 Khách quốc tế L/k 286.200 303.500 310.000 320.500 340.400
1.2 Khách nội địa L/k 718.800 823.000 893.000 1.014.500 983.600
2. Tổng doanh thu từ DL-DV Tỷ.đồng 335,4 369,8 541,0 590,7 587,9
3 Tốc độ tăng trưởng lượng khách % 132,2% 112% 106,8% 111% 99,17%
4 Tỷ trọng giá trị sản xuất ngành du lịch trong cơ cấu ngành kinh tế % 63,4% 64% 66% 67% 68,4%

Nguồn: Chi cục Thống kê huyện Cát Hải Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại KDL Cát Bà.

Năm 2017, du lịch Cát Bà đạt mốc đón một triệu khách du lịch trong một năm. Đánh dấu một bước phát triển của du lịch Cát Bà. Từ năm 2017 đến năm 2023, mỗi năm du lịch Cát Bà đều đón trên một triệu khách du lịch trong  đó có trung bình là 26,17 % là khách du lịch quốc tế. Du lịch dịch vụ đóng góp tỷ lệ lớn trong tổng giá trị sản xuất theo cơ cấu ngành kinh tế của huyện Cát Hải.

Bảng 2.4. Thống kê số lượng khách du lịch thành phố Hải Phòng  giai đoạn 2017 – 2023

TT Chỉ tiêu Đơn vị tính Thực hiện qua các năm
Năm 2017  Năm 2019   Năm 2021 Năm 2022   Năm 2023
1. Tổng số lượt khách L/k 4.003.000 4.075.000 4.228.000 4.500.000 4.921.000
1.1 Khách quốc tế L/k 593.000 546.000 564.000 568.000 568.000
1.2 Khách nội địa L/k 3.410.000 3.529.000 3.664.000 3.932.000 4.353.000

Nguồn: Cổng thông tin điện tử thành phố Hải Phòng

Du lịch Cát Bà ngày càng khẳng định vị thế là ngành kinh tế trung tâm của huyện Cát Hải.

Quần đảo Cát Bà với những giá trị đặc biệt toàn cầu về đa dạng sinh học, mỹ học, cấu trúc địa chất, địa mạo và di chỉ khảo cổ học …được đông đảo du khách trong nước và quốc tế biết đến là một trong những trung tâm du lịch sinh thái hấp dẫn nhất của đất nước và hướng đến quốc tế.

Từ năm 2017, mỗi năm du lịch Cát Bà đón trên một triệu khách du lịch, trong đó có trung bình 26% là khách quốc tế. Doanh thu từ hoạt động du lịch – dịch vụ bình quân đạt 484,9 tỷ đồng. Ngành du lịch – dịch vụ đóng góp bình quân 66,6% trong cơ cấu tổng giá trị sản xuất của huyện Cát Hải. Tỷ trọng nhóm ngành du lịch – dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của huyện Cát Hải ngày càng tăng cao từ  63,4% năm 2017 đến năm 2023 tăng lên 68,4%.

Du lịch đã đã đóng góp lớn cho thu ngân sách của huyện Cát Hải. Số thu ngân sách từ du lịch năm sau cao hơn năm trước. Trung bình mỗi năm, thu ngân sách từ du lịch đạt trên 27.122 triệu đồng, trong đó có trên 17.199 triệu đồng thu thuế ngoài quốc doanh. Năm 2023, số thu ngân sách từ du lịch đạt 41.243 triệu đồng, bằng  50% kế hoạch thu ngân sách của huyện Cát Hải trong năm 2023. Điều đáng phấn khởi bởi nguồn thu ngân sách từ du lịch là nguồn thu có tính ổn định cao. Thu từ du lịch đã góp phần quan trọng trong việc điều tiết ngân sách chi cho đầu tư các dự án phát triển kinh tế, hạ tầng giao thông, kỹ thuật và chi cho sự nghiệp văn hóa, xã hội của huyện Cát Hải. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại KDL Cát Bà.

Bảng 2.5. Thống kế số thu ngân sách từ du lịch giai đoạn 2017 – 2023

Triệu đồng

Số TT Chỉ tiêu Thực hiện qua các năm
2017 2019 2021 2022 2023
1 Thu thuế ngoài quốc doanh 8.636 10.854 18.883 19.359 28.267
2 Thu thuế từ du lịch 3.454 4.342 6.609 6.776 7.076
3 Thu phí tham quan 983 2.635 3.795 3.887
4 Tổng cộng 14.099 18.189 30.138 31.942 41.243

Nguồn: Phòng Tài chính  – Kế hoạch huyện Cát Hải

Du lịch phát triển đã thúc đẩy các ngành nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển. Các sản phẩm nông nghiệp, thuỷ sản được sản xuất và tiêu thụ thuận lợi hơn.

Các dự án đầu tư về hạ tầng du lịch đã góp phần làm thay đổi diện mạo, cảnh quan của huyện, đồng thời vừa phục vụ phát triển du lịch, vừa phục vụ dân sinh của nhân dân trên địa bàn thị trấn Cát Bà. Du lịch đã tạo ra số thu cho ngân sách, lợi nhuận cho các doanh nghiệp và thu nhập của nhân dân địa phương. Du lịch đã góp phần từng bước cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân trên địa bàn đảo Cát Bà.

2.3.1.2. Đã quan tâm tới mục tiêu bảo vệ môi trường và tôn tạo di tích lịch sử, văn hóa 

Du lịch là ngành kinh tế trung tâm của đảo Cát Bà nói riêng và huyện Cát Hải nói chung. Phát triển du lịch Cát Bà bền vững vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế – xã hội của huyện Cát Hải. Phát triển du lịch gắn với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa là trách nhiệm của chính quyền và nhân dân các xã, thị trấn trên đảo Cát Bà. Đây là một điểm mạnh trong chính sách phát triển du lịch tại địa bàn. Trên thực tế, xây dựng chính sách phát triển du lịch nhưng gắn với bảo vệ môi trường và tôn tạo di tích lịch sử là một yêu cầu rất khó khăn.

Với tiềm năng, lợi thế về phát triển du lịch sinh thái, trong những năm qua việc phát triển du lịch ở đảo Cát Bà được gắn chặt với các hoạt động bảo vệ môi trường và bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử văn hóa. Nhận thức của các cấp chính quyền, cộng đồng dân cư về những giá trị của Quần đảo Cát Bà và ý nghĩa của việc bảo vệ môi trường Quần đảo Cát Bà trong cộng đồng ngày càng được nâng lên. Bảo vệ môi trường được xem là tiêu chí hàng đầu trong việc triển khai các dự án đầu tư trên địa bàn; mọi dự án đầu tư, kinh doanh vào địa bàn đảo Cát Bà đều phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường của các cơ quan có thẩm quyền phê duyệt. Chính quyền huyện Cát Hải có chủ trương không chấp nhận các dự án phát triển công nghiệp trên địa bàn thị trấn Cát Bà. Công tác bảo vệ rừng, bảo vệ các hệ sinh thái và nguồn lợi thủy sản được triển khai hiệu quả với nhưng việc làm cụ thể như:  thực hiện tiếp giảm 50% số ô lồng nuôi trồng hải sản trên vịnh Lan Hạ vì gây ô nhiễm môi trường; trồng bổ sung rừng; phá bỏ bờ đê bao đầm, hồ nuôi trồng thủy sản khu vực rừng ngập mặn xã Phù Long để hoàn trả, phục hồi môi trường tự nhiên; Tổ chức các cuộc thi cấp huyện về tìm hiểu về giá trị tài nguyên thiên nhiên Quần đảo Cát Bà; Tổ chức ngày toàn dân chung tay vì quần đảo Cát Bà xanh, sạch, đẹp; triển khai các dự án bảo vệ nguồn lợi thủy sản ven bờ.

Đi đôi với bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, hoạt động bảo vệ, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa cũng được triển khai thực hiện có hiệu quả. Tiếp tục bảo vệ và đưa vào khai thác các điểm di tích lịch sử văn hóa phục vụ khách tham quan, du lịch như: Di chỉ khảo cổ Bến Bèo, Pháo đài Thần Công, Hang Quân Y…Hoàn thiện các thủ tục hồ sơ và đề nghị nhà nước và thành phố Hải Phòng xếp hạng nhiều di tích lịch sử có giá trị như: Di tích lịch sử văn hóa Bác Hồ về thăm Làng cá, Di tích khảo cổ Cái Bèo,  Di tích quốc gia đặc biệt – Danh lam thắng cảnh Quần đảo Cát Bà… Đặc biệt hiện nay hồ sơ đề cử công nhận Cát Bà là di sản thiên thiên thế giới đã được hoàn thiện và đang được Chính phủ xem xét để gửi đến UNESCO vào thời điểm thích hợp.

2.3.1.3.  Mục tiêu chính sách phát triển du lịch bền vững Khu du lịch Cát

Bà đã gắn chặt với phát triển văn hóa, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.

Du lịch Cát Bà phát triển là điều kiện thuận lợi để phát triển văn hóa, giải quyết việc làm và nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho nhân dân. Mỗi năm ngành du lịch thu hút trên 3.500 lao động làm việc, vào những tháng cao điểm có đến 5.000 lao động làm việc trong lĩnh vực du lịch Cát Bà. Bên cạnh đó, du lịch cũng có tác động thúc đẩy các ngành, nghề kinh tế khác phát triển qua đó cũng tạo thêm việc làm và thu nhập cho người dân.

Du lịch phát triển là điều kiện thuận lợi để mở rộng giao lưu các nền văn hóa của các dân tộc trong nước và văn hóa các nước trên thế giới thông qua những người khách du lịch. Du lịch phát triển cũng là điều kiện để cộng đồng địa phương được tiếp cận với nhiều thành tựu khoa học tiên tiến và các giá trị văn hóa tiến bộ của các nước, các dân tộc trên thế giới thông qua khách du lịch đến Cát Bà. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại KDL Cát Bà.

Mặt khác do yêu cầu của phát triển du lịch và nhiều công trình dự án hạ tầng kỹ thuật được đầu tư nhằm phục vụ du lịch, đồng thời phục vụ dân sinh. Các dịch vụ văn hóa, văn nghệ, y tế, giáo dục cũng có điều kiện để cải thiện và nâng cao. Phát triển du lịch Cát Bà là điều kiện để tổ chức và nâng tầm quy mô của các lễ hội gắn với việc tổ chức các sự kiện du lịch. Ở đảo Cát Bà, huyện Cát Hải, Lễ hội Làng Cá thường được tổ chức gắn với sự kiện khai trương du lịch vào dịp ngày 31/3 đến ngày 01/4 hàng năm.

2.3.1.4. Phát triển du lịch còn hướng tới góp phần tăng cường hợp tác và hội nhập quốc tế đã được đề ra trong mục tiêu của chính sách

Phát triển du lịch đã góp phần tăng cường sự hợp tác và hội nhập quốc tế. Hoạt động giao lưu, hợp tác quốc tế được thực hiện thông qua hoạt động của các tổ chức phi chính phủ, các quốc gia, vùng lãnh thổ trong các khuôn khổ hợp tác quốc tế về những vấn đề liên quan đến phát triển du lịch và bảo vệ các giá trị tài nguyên thiên nhiên Quần đảo Cát Bà. Quần đảo Cát Bà với những giá trị tàu nguyên thiên nhiên đặc hữu mang tính toàn cầu đã thu hút sự quan tâm của nhiều tổ chức quốc tế, các tổ chức truyền thông, các cơ quan thông tấn, báo chí trong nước và quốc tế đã góp phần thúc đẩy quá trình hợp tác quốc tế của huyện đảo Cát Hải nói riêng và thành phố Hải Phòng nói chung. Trên bình diện Quốc tế, Quần đảo Cát Bà được xem như biểu tượng của thành phố Hải Phòng. Mặt khác, phát triển du lịch là điều kiện quan trọng để thu hút sự quan tâm và thiện cảm của cộng đồng quốc tế đối với các vấn đề quốc tế của Việt Nam, trong đó có vấn đề ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với việc bảo vệ chủ quyền biển đảo Quần đảo Cát Bà.

Bên cạnh đó du lịch là phương thức hiệu quả nhất trong việc phát triển các hoạt động đối ngoại nhân dân. Thông qua du lịch, nhân dân bản địa có sự tiếp xúc, đối thoại, giao lưu với du khách quốc tế, qua đó tăng cường sự hiểu biết, tình cảm hữu nghị lẫn nhau giữa dân tộc Việt Nam với bạn bè quốc tế. Sự hiếu khách, thân thiện của cư dân Cát Bà và đội ngũ nhân viên hoạt động ở du lịch Cát Bà góp phần tạo nên những ấn tượng, tình cảm tốt đẹp của mỗi người khách quốc tế đối với Thành phố Hải Phòng và đất nước.

Bảng 2.6  Bảng tổng hợp điều tra về mức độ hài lòng  đối với các dịch vụ du lịch Cát Bà (%)

Dịch vụ Rất hài lòng Hài lòng Không hài lòng Rất không hài lòng Ý kiến khác
Toàn chuyên đi 40 56,66 2 1 0,33
Phong cảnh 58,66 38,33 2 0,66 0,33
Môi trường 51,33 40,66 6,66 1 0,33
Quà lưu niệm 11,66 57 25,33 3 3
Giao thông 22,66 64 10,33 2,33 0,667
Dich vụ giải trí, thể thao 32,33 54 9 2,33 2,33
Món ăn 31 57,33 9,33 2,33 0
Phong ngủ 33 60,66 4,66 0,66 1
Chất lượng của nhân viên 35,66 55,33 6,66 2,33 0
Các tour du lịch 30,33 58,66 8 1 2
Môi trường an ninh 41,33 56 2,33 0 0,333
Sự thân thiện của cư dân 42,66 53 3,33 0,33 0,66

Nguồn: Tác giả

Với 200 phiếu khảo sát với đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức, khách du lịch và người dân địa phương về mức độ hài lòng đối với các dịch vụ du lịch Cát Bà, số lượng người hài lòng chiếm tỉ lệ khá cao (khoảng từ 38 đến trên 60%). Điều này cho thấy chính sách phát triển du lịch bền vững Cát Bà đã có những tác động tích cực tới bức tranh du lịch nơi đây.

2.3.2. Điểm yếu Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại KDL Cát Bà.

2.3.2.1. Mục tiêu phát triển du lịch gắn với phát triển bền vững đã được xây dựng nhưng chưa được hiện thực hóa trong thực tế

Một là, về Quy hoạch phát triển du lịch

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội của huyện Cát Hải được xây dựng và phê duyệt vào năm 2012. Qua 10 năm thực hiện, do sự tác động của nhiều nguyên nhân nên đến nay một số nội dung quy hoạch không còn phù hợp, đòi hỏi cần điều chỉnh, bổ sung quy hoạch làm căn cứ để hoạch định chiến lược, giải pháp và lựa chọn các mục tiêu ưu tiên cho phát triển kinh tế – xã hội của huyện Cát Hải cũng sự phát triển du lịch Cát Bà.

Xây dựng và hoàn thiện quy hoạch phát triển du lịch Cát Bà bền vững là căn cứ để xây dựng chiến lược, kế hoạch tổng thể và giải pháp phát triển du lịch Cát Bà; đồng thời là điều kiện kiên quyết để phát triển du lịch Cát Bà bền vững trong tương lai. Ngày 05 tháng 12 năm 2022, UBND thành phố Hải Phòng đã ban hành Quyết định 2732/QĐ-UBND phê duyệt “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch bền vững quần đảo Cát Bà đến năm 2023, tầm nhìn đến năm 2040” với mục tiêu phát triển du lịch tại Cát Bà phải trở thành động lực kinh tế cho phát triển kinh tế- xã hội của thành phố Hải Phòng và cho phát triển du lịch ở vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc.

Du lịch là ngành kinh tế liên quan đến tổng thể các lĩnh vực của đời sống xã hội, do đó để phát triển du lịch ngoài việc xây dựng các quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, quy hoạch du lịch cần xây dựng quy hoạch ngành liên quan để bảo đảm sự phát triển hài hòa, bền vững của du lịch. Đối với Cát Bà, đó là các quy hoạch về nuôi trồng hải sản, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch kiến trúc không gian đô thị, quy hoạch về địa điểm xử lý rác thải, chất thải…

Hình 2.3. Biểu đồ cơ cấu trình độ lao động du lịch Cát Bà

Mặc dù số lượng nhân lực làm việc trong ngành du lịch ở Cát Bà chiếm tỉ lệ lớn, tuy nhiên chất lượng của lao động hoạt động trong ngành nhìn chung còn hạn chế; số lao động đã qua đào tạo đạt tỷ lệ thấp. Có 76% lao động chưa qua đào tạo, 8% lao động đã qua đào tạo nhưng không có chứng chỉ, 5% trình độ là sơ cấp, 9% trình độ là trung cấp, còn lại là trình độ đại học, cao đẳng. Chất lượng lao động thấp, là nguyên nhân dẫn đến chất lượng dịch vụ lao động Cát Bà còn hạn chế.

Ba là, về cơ sở vật chất, tài chính Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại KDL Cát Bà.

Mặc dù số lượng khách sạn về cơ bản đáp ứng được nhu cầu của du khách, nhưng chất lượng các khách sạn ở du lịch Cát Bà còn thấp, số lượng khách sạn đạt chuẩn chưa nhiều; có 32 khách sạn đạt tiêu chuẩn 1 đến 4 sao.  Hầu hết các khách sạn, cơ sở kinh doanh lưu trú tại Cát Bà do tư nhân quản lý đều có giấy phép kinh doanh, chấp hành tốt chính sách thuế đối với nhà nước. Các khách sạn, nhà nghỉ trên địa bàn nhiều về số lượng nhưng chủ yếu vẫn là cơ sở có quy mô nhỏ, phần lớn chỉ từ 10 đến 30 phòng. Các cơ sở lưu trú đạt chất tiêu chuẩn từ một sao trở lên ít về số lượng. Bên cạnh đó, còn một số những cơ sở xây dựng từ nhiều năm trước nên đang bị xuống cấp, kinh doanh kém hiệu quả, chất lượng phục vụ kém.

Ngoài hệ thống khách sạn và nhà hàng ăn uống, các cơ sở dịch vụ vui chơi, giải trí ở Cát Bà hầu như rất nghèo làn, chất lượng không cao. Khách du lịch đến Cát Bà chủ yếu để tham quan và ngắm cảnh, hoạt động vui chơi, giải trí phục vụ khách du lịch ở Cát Bà vào ban đêm còn rất hạn chế. Hiện nay, vào buổi tối khách du lịch chủ yếu tham gia các hoạt động: mua quà lưu niệm, đi dạo bằng xe đạp quanh khu du lịch, hát karaoke, nghe nhạc ở các quán bar, vũ trường hoặc trải nghiệm các dịch vụ mát xa, tẩm quất… Khu vực trung tâm du lịch Cát Bà hiện có 17 cơ sở kinh doanh karaoke, 06 quán bar (trong đó có 02 vũ trường nhỏ) và 06 cơ sở kinh doanh dịch vụ mát xa.

Về vận chuyển, mặc dù đa dạng các loại hình đường bộ, đường thủy, tuy nhiên, vào những ngày cao điểm mùa hè thì số lượng phương tiện tàu, xe trên đảo vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại của du khách, đặc biệt là qua hai tuyến phà Đình Vũ – Ninh Tiếp, Bến Gót – Cái Viềng còn mất quá nhiều thời gian gây tâm lý khó chịu cho du khách. Các hãng tàu, xe chưa có sự phối hợp chặt chẽ, thống nhất nhau về thời gian chạy, thường hay tập trung vào một thời điểm nên xảy ra tình trạng lúc thì thiếu phương tiện, lúc thì thiếu khách.

Bốn là, về dịch vụ y tế: các trạm xá ở đảo không chỉ thiếu về đội ngũ cán bộ y tế mà các trang thiết bị khám chữa bệnh cũng rất nghèo nàn

2.3.2.2. Các giải pháp phát triển du lịch đã được xây dựng cụ thể trong chính sách, song chưa giúp du lịch Cát Bà phát triển tương xứng với tiềm năng, lợi thế hiện có

So sánh với du lịch Hạ Long thì du lịch Cát Bà có nhiều điểm tương đồng về tài nguyên thiên nhiên, địa lý, khí hậu và sản phẩm du lịch. Nếu Hạ Long được du khách trong và ngoài nước biết đến là một Di sản thiên nhiên thế giới với những giá  trị ngoại hạng mang tính toàn cầu về thẩm mỹ, địa chất, sinh học và văn hoá – lịch sử, vịnh Hạ Long gắn liền với thành phố Hạ Long thì Cát Bà cũng được biết đến là Khu dự trữ sinh quyển thế giới với những giá trị đặc biệt mang tính toàn cầu về đa dạng sinh học, mỹ học, cấu trúc địa chất, địa mạo và di chỉ khảo cổ học. Song việc khai thác các tiềm năng, lợi thế cho phát triển du lịch Cát Bà so với Hạ Long còn nhiều hạn chế.

So sách các chỉ tiêu về số lượng khách và doanh thu giữa du lịch Cát Bà và du lịch Hạ Long ta nhận thấy các chỉ tiêu của du lịch Cát Bà rất hạn chế. Năm 2017, tổng số khách du lịch đến Cát Bà đạt 1.005.000 lượt, bằng 36,34% so với số khách du lịch đến Hạ Long; doanh thu từ hoạt động du lịch đạt 335 tỷ đồng bằng 23,94% doanh thu du lịch Hạ Long. Năm 2023, số khách du lịch đến Cát Bà đạt 1.324.000 lượt khách du lịch bằng 27,76% tổng số khách du lịch đến Hạ Long; doanh thu đạt 587,9 tỷ đồng bằng 24,24% doanh thu du lịch Hạ Long. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại KDL Cát Bà.

Biểu 2.7.  Số liệu so sánh về du lịch Cát Bà và du lịch Hạ Long giai đoạn 2017 – 2023

Du lịch Cát Bà Du lịch Hạ Long Cát Bà/ Hạ Long
Năm 2017 Tổng số khách 1.005.000 2.765.000 36,34%
Số khách quốc tế 286.000 1.422.000 20,11%
Khách trong nước 718.000 1.344.000 53,42%
Doanh thu 335 tỷ đồng 1.399 tỷ đồng 23,94%
Năm 2019 Tổng số khách 1.126.500 3.500.000 32,18%
Số khách quốc tế 303.000 1.800.000 16,83%
Khách trong nước 823.000 1.700.000 48,41%
Doanh thu 370 tỷ đồng 1.944 tỷ đồng 19,03%
Năm 2021 Tổng số khách 1.203.000 4.031.000 29,84%
Số khách quốc tế 310.000 2.063.000 15,03%
Khách trong nước 893.000 1.968.000 45,37%
Doanh thu 541 tỷ đồng 2.236 tỷ đồng 24,19%
Năm 2022 Tổng số khách 1.335.000 4.323.000 30,88%
Số khách quốc tế 320.000 2.345.000 13,64%
Khách trong nước 1.015.000 1.978.000 51,31%
Doanh thu 598 tỷ đồng 2412 tỷ đồng 24,79%
Năm 2023 Tổng số khách 1.324.000 4.768.000 27,76%
Số khách quốc tế 340400 2.464.000 13,81%
Khách trong nước 983600 2.304.000 42,69%
Doanh thu 587,9 tỷ đồng 2.425 tỷ đồng 24,24%

Nguồn: Tổng hợp từ các Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội của TP Hạ Long và 

Các sản phẩm du lịch của huyện Cát Hải đơn điệu, thiếu hấp dẫn, chủ yếu là các sản phẩm du lịch sinh thái như tắm biển, tham quan rừng, vịnh, đảo… còn thiếu các sản phẩm du lịch cao cấp, khu vui chơi giải trí tổng hợp có chất lượng cao.

Du lịch Cát Bà còn thiếu những dịch du lịch và các khu nghỉ dưỡng cao cấp. Trong tổng số 165 khách sạn, nhà nghỉ chỉ có 01 khách sạn đạt tiêu chuẩn 4 sao, còn lại là 31 khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 1 đến 3 sao. Chất lượng dịch vụ du lịch còn thấp.

Theo kết quả điều tra về mức độ hài lòng về các sản phẩm và dịch vụ Cát Bà năm 2020 của Chi cục Thống kê huyện Cát Hải, trong số 635 khách du lịch được hỏi có 37,1% cho rằng dịch vụ du lịch Cát Bà chưa phong phú.

2.3.2.3. Chính sách phát triển du lịch bền vững Khu du lịch Cát Bà chưa gắn với quy hoạch, chiến lược phát triển du lịch tại địa bàn trong tương lai dài hạn. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại KDL Cát Bà.

Do đó, các cơ quan quản lý nhà nước không tính toán được sức tải không gian và giới hạn “đỏ” của sự phát triển, vì vậy, chưa có biện pháp để xác định được sức tải du lịch Cát Bà để có pháp khắc phục những hạn chế cho phù hợp. Trong năm 2024, Trung tâm Xúc tiến đầu tư, thương mại và du lịch thành phố Hải Phòng đã được thành lập với mục tiêu tạo ra diện mạo mới cho du lịch Hải Phòng nói chung và du lịch Cát Bà nói riêng thông qua xúc tiến, kêu gọi các nhà đầu tư.

Du lịch Cát Bà hoạt động còn mang nặng tính thời vụ; đông khách du lịch đến vào mùa hè nhưng vắng về mùa đông.

Bảng 2.8. Thống kê  tổng số lượng khách du lịch qua các tháng giai đoạn 2017 – 2023

Hình 2.6. Đồ thị biểu diễn tổng số lượng khách du lịch đến Cát Bà qua các tháng giai đoạn 2017 – 2023

Qua  phân tích bẳng thống kê số khách du lịch đến Cát Bà chia cho từng tháng giai đoạn 2017- 2023 cho thấy khách du lịch đến Cát Bà chủ yếu từ tháng 4 cho đến tháng 9 hàng năm. Khách du lịch đến Cát Bà đông nhất vào các tháng 6 (19,17%), tháng 7 (22,64%) và ít nhất là vào tháng 1 (2,87%), tháng 3 (2,79).  Các tháng 4, 5, 8 và tháng 9 khách đến du lịch Cát Bà ở mức trung bình đạt từ 6 đến 12%. Các tháng còn là tháng 2, tháng 10,11 và tháng 12 khách du lịch đến không đáng kể, chủ yếu là khách ngoại quốc.

Tuy nhiên có một điểm rất đáng chú ý là mặc dù khách du lịch đến ít vào các tháng mùa đông song lại là tháng có khách du lịch quốc tế đến nhiều nhất trong năm. Theo biểu thống kê khách du lịch quốc tế cho thấy tháng 12 là tháng có số lượng khách du lịch quốc tế đến Cát Bà đông nhất (12,78%), tháng 11 đứng thứ 2 chiếm 11,78%, các tháng 1, 2, 3, 4, 9 và tháng 10 đều đạt từ trên 7% đến 10%. Các tháng mùa hè 4,5,6 và tháng 7 số lượng khách quốc tế đến Cát Bà ít hơn so các tháng còn lai. Song qua phân tích biểu đồ thống kê cho thấy khách du lịch quốc tế đến Cát Bà có biên độ giao động không lớn, được trải đều qua các tháng.

Bảng 2.9: Thống kê  tổng số lượng khách quốc tế qua các tháng giai đoạn 2017 – 2023

Sự biến động khách du lịch trong nước tỷ lệ thuận với sự biến động của tổng số khách du lịch. Số khách du lịch trong nước đến Cát Bà đông nhất vào tháng 7 chiếm 28,50%, tiếp đến là các tháng 6 chiếm 23,50%, tiếp theo lần lượt là các tháng  5 là 14,04%, tháng 8 là 12,64%, tháng 9 là 7,54%, tháng 4 là 5,63%. Các tháng còn lại  vào mùa đông (1,2,3,10,11,12) khách du lịch trong nước đến Cát Bà không đáng kể từ 1,23 đến 1,50%. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại KDL Cát Bà.

Qua phân tích bảng thống kê số lượng khách du lịch đến Cát Bà chia cho các tháng trong năm cho thấy du lịch Cát Bà chia ra làm hai mùa rõ rệt. Khách đến đông vào thời điểm mùa hè (từ tháng 4 đến tháng 9) và ít về mùa đông (từ tháng 1,2,3 và tháng 10,11 và tháng 12). Nguyên nhân của việc này là do du lịch Cát Bà là du lịch sinh thái tắm biển nên du khách đến Cát Bà đông vào mùa hè chủ yếu là khách trong nước đến để du lịch nghỉ mát và tắm biển vào mùa hè. Do đó, khiến lượng khách du lịch đến Cát Bà tăng cao vào các tháng mùa hè. Vào mùa đông khách du lịch trong nước ít đi du lịch, do thời tiết lạnh, song đây lại là thời điểm khách du lịch quốc tế đến Cát Bà đông hơn cả. Do đó, việc thu hút khách du lịch Quốc tế đến với Cát Bà chính là giải pháp cho hoạt động du lịch vào mùa đông của du lịch Cát Bà.

Bảng 2.10: Thống kê tổng số lượng khách trong nước qua các tháng giai đoạn 2017 – 2023

Hình 2.8 .Đồ thị biểu diễn lượng khách du lịch  trong nước  đến Cát Bà  qua các tháng giai đoạn 2017 – 2023

Giao thông đi lại khó khăn, chi phí cho các nhu cầu cơ bản khi đến du lịch Cát Bà đắt hơn so với các trung tâm du lịch trong khu vực. Giao thông là vấn đề bất lợi và hạn chế của du lịch Cát Bà. Hiện nay, khách du dến Cát Bà chủ yếu đi bằng 3 tuyến đường chính.

Một là, tuyến đường bộ Đình Vũ – Cát Hải – Cát Bà, đi qua tuyến phà  là tuyến phà Đình Vũ – Ninh Tiếp và Bến Gót – Cái Viềng.  Chiều dài hành trình từ trung tâm thành phố đến Cát Bà  khoảng 55 km; Tổng thời gian đi từ trung tâm thành phố Hải Phòng đến Cát Bà khoảng 03 giờ.

Hai là, Tuyến Phà Tuần Châu – Gia Luận – Cát Bà. Chiều dài hành trình khoảng 30 km; thời gian hành trình 02h.

Ba là, Tuyến đường Thủy từ Bến Bính đi Cát Bà bằng tàu cao tốc;  chiều dài hành trình khoảng 41 km; thời gian hành trình khoảng 01 giờ.

Việc di chuyển từ trung tâm thành phố đến Cát Bà hoặc từ Tuần Châu (Hạ Long) về đến Cát Bà dù tuyến đường không dài song thời gian hành trình tốn nhiều thời gian. Mặt khác, vào các mùa cao điểm du lịch các tháng hè, tình trạng quá tải khách thường xuyên xảy ra, nên các doanh nghiệp và các đơn vị kinh doanh vận tải không đáp ứng yêu cầu đi lại của nhân, nhất là hai việc di chuyển bằng đường bộ tuyến Cát Bà – Cát Hải – Hải Phòng qua hai phà  Đình Vũ – Ninh Tiếp và Bến Gót – Cái Viềng và Tuyến đường Cát Bà – Tuần Châu qua phà Gia Luận – Tuần Châu.

Vào những ngày cao điểm khách đi đường bộ qua hai tuyến phà phà Đình Vũ – Ninh Tiếp và Bến Gót – Cái Viềng và Tuyến đường Cát Bà – Tuần Châu thường phải đợi phà từ 1 đến 4 giờ nên gây tâm lý bức xúc và phản cảm cho khách du lịch.

Mặt khác cước phí giao thông đi Cát Bà so với một số trung tâm du lịch khác đắt hơn 2 lần. Theo số liệu điều tra chi tiêu khách du lịch năm 2020 của Chi Cục Thống kê huyện Cát Hải, mức cước phí trung bình cho một khách du lịch đến Cát Bà tính từ thành phố Hải Phòng là 262.000 đồng cho cả 2 chiều. Nếu tính cho giá thực tế năm 2021 ta được như sau:

Chi phí cước phí giao trung bình năm 2021 cho khách du lịch = Chi phí cước phí năm 2020  +  Chi phí cước phí năm 2020  x  chỉ số CPI 2021. = 262.000 + 262.000  x 6,04%  =  278.000 đồng/2 lượt  = 139.000 đồng.

Qua khảo sát thực tế giá vé phương tiện vận chuyển hành khách tuyến Cát Bà – Hải Phòng cho thấy giá vé thấp nhất là 130.000đ/người/lượt và giá vé cao nhất 220.000đ/người/lượt. Ngoài ra, khi khách du lịch đến Cát Bà họ muốn di chuyển trong nội bộ đảo Cát Bà khi đi tham quan du lịch họ phải chi thêm tiền mua vé xe buýt hoặc đi xe ôm. Do đó khiến chi phí cho việc đi lại đến Cát Bà cũng tăng cao hơn so với nhiều trung tâm du lịch khác trong khu vực.

Bảng 2.11: Bảng giá vé tàu, xe tuyến Cát Bà – Hải Phòng và ngược lại

SốTT Công ty kinh doanh vận chuyển hành khách Giá vé/ người/ lượt Hình thức vận chuyển Thời gian hành trình
1 Công ty Cổ phần vận tải và du lịch Cát Bà 130.000đ Liên vận  Xe ô tô – Tàu – Xe ô tô 02 giờ 15 phút
2 Công ty cổ phần Phát triển Hải Phòng 150.000đ Liên vận Tàu – Xe ô tô 02 giờ 00 phút
3 Công ty Cổ phần Vận Tải và Du lịch Hải Phòng 200.000đ Tàu tốc hành 01 giờ 00 phút
4 Công ty Cổ phần khu du lịch đảo Cát Bà 220.000đ Tàu tốc hành 50 phút

Nguồn: Tác giả 

Nếu so sánh từ  thời gian hành trình và chi phí từ  Hà Nội  đi đến một số trung tâm du lịch khu vực miền Bắc và đến Cát Bà cho ta thấy rõ vấn đề giao thông  đã và đang là vấn đề thách thức của du lịch Cát Bà. Với khoản cách là 150 km từ Hà Nội đi Cát Bà, thời gian hành trình là 5 giờ,  dài gấp 1,66 lần so với thời gian đi Hạ Long – Quảng Ninh và 2,5 lần thời gian đi Tràng An – Ninh Bình. Cước phí giao thông từ Hà Nội đi Cát Bà bình quân mất 209.000 đồng, đắt gấp 2 lần cước phí đi thành phố Hạ Long và Khu du lịch Trang An – Ninh Bình. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại KDL Cát Bà.

Bảng 2.12: Bảng so sáng độ dài, chi phí và thời gian hành trình từ Hà Nội đi một số điểm trung tâm du lịch và Cát Bà

Tuyến giao thông Độ dài Thời gian hành trình trung bình Cước phí
HN – HP – Cát Bà 150 km 5 giờ 209.000
HP  – TP  Hạ Long 150 km 3 giờ 100.000đ
HN – Khu du lịch Tràng An – Ninh Bình 100km 2 giờ 100.000đ

Nguồn: Tác giả 

Chí phí Giao thông Hà Nội – Cát Bà = Chí phí tuyến HN – HP + Chi phí HP – Cát Bà  = 70.000  + 139.000 =  209.000 đ.      

Cước phí giao thông đến Cát Bà đắt gấp 2 lần so với đi Hạ Long, Quảng Ninh và Tràng An – Ninh Bình khiến chi phí chi cho nhu cầu cơ bản của khách du lịch khi đi Cát Bà tăng cao hơn khi đến tham quan các Trung tâm du lịch trong khu vực miền Bắc.

2.3.2.4. Chính sách phát triển du lịch bền vững Khu du lịch Cát Bà được dự báo được những hệ lụy về xã hội và môi trường khi đẩy nhanh tốc độ phát triển du lịch.

Việc phát triển du lịch tại Quần đảo Cát Bà khiến khoảng cách giàu nghèo trong giai tầng dân cư ngày càng gia tăng. Những người được hưởng lợi ích từ du lịch có điều kiện phát triển và trở nên giàu có, khiến khoảng cách về thu nhập của người hưởng lợi ích từ du lịch và những người lao động không được hưởng lợi ích từ lao động gia tăng. Mặt khác, do tác động của du lịch nên giá cả hàng hóa dịch vụ tăng cao trong mùa du lịch, khiến những người lao động hưởng lương (công chức, viên chức, người lao động …) và một bộ phận nông dân, ngư dân phải chịu tác động của việc tăng giá hàng hóa dịch vụ tiêu dùng. Do đó, dẫn đến tiềm ẩn nguy cơ về mâu thuẫn xã hội, gây mất ổn định giữa những người hưởng lợi từ du lịch và những người lao động, người hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Đây là yếu tố đe dọa đến việc phát triển bền vững xã hôi của du lịch Cát Bà.

Mặt khác, ô nhiễm môi trường, nhất là ô nhiễm môi trường trên biên trên các vịnh thuộc Quần đảo Cát Bà là rất đáng quan ngại, đe dọa đến sự phát triển bền vững của huyện.

2.3.3. Cơ hội Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại KDL Cát Bà.

Quần đảo Cát Bà được UNESCO công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới năm 2012.  Năm 2021, Quần đảo Cát Bà được xếp hạng Di tích Quốc gia đặc biệt – Danh lam thắng cảnh Quần đảo Cát Bà, Quần đảo Cát Bà có phần lớn diện tích là Vườn Quốc Gia, Khu bảo tồn biển. Những danh hiệu này là công cụ hữu hiệu để quảng bá du lịch Cát Bà đến với du khách trong nước và quốc tế.

Phát triển du lịch Cát Bà bền vững nhận được sự quan tâm đầu tư, ủng hộ lớn của các tổ chức quốc tế, Chính phủ, TP Hải Phòng. Nhiều dự án đầu tư đã và đang được triển khai đầu tư trên địa bàn đảo Cát Bà.

Quần đảo Cát Bà có vị trí thuận lợi nằm trong tam giác tăng trưởng năng động nhất khu vực miền Bắc là Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh. Quần đảo Cát Bà có vị trí liền kề với hai trung tâm du lịch Đồ Sơn và Hạ Long, đặc biệt là nằm  kề vịnh Hạ Long – Di sản thiên nhiên thế giới, một thương hiệu du lịch mạnh đã được được đông đảo du khách trong nước và Quốc tế biết đến. Đây là điều kiện để thuận lợi để liên kết du lịch và thu hút khách du lịch theo “dòng chảy” khách du lịch giữa các trung tâm du lịch.

2.3.4. Thách thức

Du lịch Cát Bà phát triển tự phát, thiếu các quy hoạch quản lý ngành và quy hoạch không gian đô thị, do đó, việc phát triển đô thị du lịch thiếu mỹ quan, không tương xứng với định hướng là trung tâm du lịch sinh thái của cả nước và quốc tế. Do đó dẫn đến khó khăn trong công tác quản lý nhà nước về du lịch và bảo vệ tài nguyên môi trường.

Chưa xây dựng được chiến lược phát triển du lịch qua từng giai đoạn, dài hạn, trung hạn và ngắn hạn. Do đó chưa có giải pháp phát triển cho du lịch được hiệu quả.

  • Hoạt động quảng bá du lịch không có tính kế hoạch, còn mang tính cục bộ.

Các cơ quan chức năng chưa làm tốt công tác phổ biến thông tin du lịch và quảng bá tài nguyên du lịch tịch tại chỗ, trực quan. Du khách chưa được tư vấn kịp thời và cung cấp đầy đủ về thông tin du lịch.

Du lịch Cát Bà còn mang nặng tính thời vụ, do đó dẫn đến lãnh phí nguồn lực đầu tư xã hội. Các khách sạn, nhà nghỉ và các cơ sở du lịch chỉ hoạt động chủ yếu và mùa hè, và hoạt động cầm chừng vào mùa đông, do đó, dẫn đến lãng phí về cơ sở vật chất của cơ sở kinh doanh du lịch do không có thu nhập vào mùa đông nhưng chi phí bảo dưỡng, khấu hao, nhất là hao mòn vô hình về cơ sở vật chất vẫn tiếp diễn. Giao thông đi lại cách trở, khó khăn.

Cơ chế phân chia lợi ích từ du lịch giữa các doanh nghiệp, chính quyền và cộng đồng dân cư địa phương còn bất cập, do đó không động viên, khuyến khích cộng đồng dân cư, nhất là cộng đồng dân cư các xã, thị trấn sinh sống ở vùng đệm Vườn Quốc gia tích cực tham gia bảo vệ môi trường và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Tình trạng săn bắt chim, thú, khai thác gỗ chưa được khắc phục triệt để.

Phần lớn cư dân sinh sống tại các xã vùng đệm của Vườn Quốc gia Cát Bà chưa được hưởng lợi ích trực tiếp từ hoạt động du lịch.

  • Du lịch Cát Bà chịu sự cạnh tranh trực tiếp của du lịch Hạ Long.
  • Quần đảo Cát Bà chịu ảnh hưởng sâu sắc của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và bão và triều cường. Mùa du lịch Cát Bà vào mùa hè, nhưng mùa hè cũng là mùa của Bão, nếu bão xảy ra nhiều sẽ ảnh hưởng đến việc thu hút khách du lịch đến với Cát Bà.
  • Biến đổi và suy thoái tài nguyên môi trường biển do tác động của các dự án đầu tư ở khu vực quần đảo Cát Bà, nhất là sự tác động do việc xây dựng dự án Cảng cửa ngõ quốc tế Hải Phòng.

2.3.5. Nguyên nhân của điểm yếu Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại KDL Cát Bà.

2.3.5.1. Nguyên nhân chủ quan

Nhận thức của xã hội đối với vai trò phát triển du lịch nói chung và phát triển du lịch bền vững nói riêng còn hạn chế, quản lý nhà nước về du lịch còn thụ động, thiếu chuyên nghiệp.

Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với ngành du lịch thiếu tính ổn định, chưa phát huy hiệu lực, hiệu quả; quản lý liên ngành, liên vùng còn hạn chế. Không có tổ chức quản lý du lịch ở cấp huyện, dẫn đến sự thiếu hụt về thông tin quản lý và các biện pháp cần thiết để thực hiện quản lý nhà nước.

Sự phối hợp các ngành, các cấp chưa được thường xuyên trong việc quản lý các hoạt động xung quanh và trong các khu, điểm tham quan du lịch, nên nhiều hoạt động dịch vụ tự phát gay mất trật tự, mỹ quan, không phù hợp theo quy hoạch phát triển du lịch.

Trình độ năng lực cán bộ quản lý, điều hành tour còn hạn chế, chưa tạo được nhiều thiện cảm đối với du khách trong và ngoài nước đến với Cát Bà.

2.3.5.2. Nguyên nhân khách quan

Ngành Du lịch chịu tác động tiêu cực của những bất ổn chính trị, xung đột, khủng bố, dịch bệnh, thiên tai, khủng hoảng kinh tế- tài chính của các quốc gia trong khu vực và các thị trường truyền thống.

Sự cạnh tranh giữa các địa phương có sự tương đồng về nguồn tài nguyên và loại hình du lịch đã ảnh hưởng trực tiếp đến các dòng khách truyền thống của Cát Bà. Các sản du lịch còn trùng lắp với các địa phương trong vùng, chưa thực hiện các giải pháp để đa dạng hóa sản phẩm tạo sản phẩm đặc thù riệng biệt, thị trường còn hạn hẹp. Đầu tư còn giới hạn và trình độ năng lực của nguồn nhân lực chưa đáp ứng kịp yêu cầu đổi mới, phát triển ngành.

Môi trường ô nhiễm, giá cả không được quản lý… cũng tác động tới du lịch Cát Bà.

Tiềm năng du lịch khá phong phú, nhưng vốn đầu tư khai thác thiếu, biện pháp huy động vốn, kêu gọi đầu tư chưa kịp thời để động viên mọi nguồn vốn, mọi thành phần kinh tế tham gia.

Công tác xúc tiến du lịch chưa được đẩy mạnh, chưa đi vào chiều sâu và chưa nhắm đến các thị trường mục tiêu. Chưa phối hợp các tổ chức cũng như cung cấp thông tin cần thiết hỗ trợ các doanh nghiệp tìm biện pháp đẩy mạnh thực hiện trực tiếp kinh doanh lữ hành quốc tế, nên dù lượng khách tăng cao mà hiệu quả không cao.

Tiểu kết chương 2

Qua những nội dung đã nghiên cứu ở chương 2 và căn cứ vào thực trạng chính sách phát triển du lịch bền vững Khu du lịch Cát Bà, thành phố Hải Phòng, có thể đưa ra một số kết luận sau:

  • Việc phát triển du lịch bền vững ở Khu du lịch Cát Bà trong những năm gần đây đã có những đóng góp tích cực về mặt kinh tế, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân địa phương.
  • Tuy nhiên sự phát triển du lịch một cách mạnh mẽ cũng gây ra những tác động tiêu cực tới tài nguyên, môi trường và đời sống xã hội của người dân địa phương, phát triển du lịch chưa đi cùng với bảo vệ môi trường. Đó là dấu hiệu của phát triển du lịch chưa bền vững.

Đây là cơ sở để tác giả nghiên cứu và tìm ra các cách thức và giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách phát triển du lịch bền vững Khu du lịch Cát Bà trong tương lai. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại KDL Cát Bà.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch bền vững tại KDL Cát Bà

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *