Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tiềm năng và thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Tiềm năng phát triển
2.1.1. Vị trí địa lý
Tây Ninh là tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, nằm trong tọa độ địa lí 10độ57’ đến 11độ47’ vĩ độ Bắc và 105độ49’ đến 106độ23’ kinh độ Đông. Lãnh thổ trải dài theo hướng bắc- nam khoảng 88 km, và đông- tây khoảng 50 km. Ở phía đông, Tây Ninh giáp tỉnh Bình Phước và Bình Dương với ranh giới tự nhiên là sông Sài Gòn và hồ Dầu Tiếng có tổng chiều dài hơn 66 km. Phía đông nam giáp thành phố Hồ Chí Minh với đường ranh giới dài hơn 20 km, tiếp giáp về phía nam là tỉnh Long An với chiều dài hơn 30 km. Về phía Bắc và phía tây, Tây Ninh tiếp giáp hai tỉnh Svay Riêng và Công Pông Chàm của Campuchia có đường biên giới dài 240 km với hai cửa khẩu quốc tế là Mộc Bài và Xa Mát cùng hàng chục cửa khẩu tiểu ngạch.
Bảng 2.1. Phạm vi lãnh thổ tỉnh Tây Ninh
| Cực | Tiếp giáp | Xã, huyện | Tọa độ |
| Bắc | Campuchia | Thạnh Bắc- Tân Biên | 11độ47’B |
| Nam | TP.HCM và Long An | Phước Chỉ- Trảng Bàng | 10độ57’B |
| Đông | Bình Dương, Bình Phước | Tân Hòa- Tân Châu | 106độ23’Đ |
| Tây | Campuchia | Tân Bình- Tân Biên | 105độ49’Đ |
Nguồn : Địa lý Tây Ninh- NXB Giáo dục, năm 2014 Toàn tỉnh có diện tích tự nhiên là 4028,12km2 bằng 1,22% diện tích tự nhiên của cả nước với số dân 1.075.341 người (năm 2025) bằng 1,25% dân số cả nước. Nằm ở phía tây nam của tổ quốc, cách thủ đô Hà Nội 1.818 km, cách thành phố Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế của khu vực phía Nam 99 km, Tây Ninh có vị trí chiến lược quan trọng trong mối quan hệ giao thương quốc tế giữa nước ta với Campuchia và xa hơn, với các nước trong khu vực Đông Nam Á. Tây Ninh lại nằm ở vị trí trung chuyển giữa hai trung tâm kinh tế lớn vào bậc nhất của bán đảo Đông Dương là thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Phnompenh (Campuchia), đồng thời nằm trên tuyến đường xuyên Á, có cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, Xa Mát. Điều đó tạo điều kiện cho Tây Ninh trở thành đầu mối xuất nhập khẩu hàng hóa cũng như thu hút khách du lịch quan trọng của nước ta với Campuchia. [25]
Vào thời Nguyễn, tỉnh Tây Ninh thuộc trấn Phiên An của Gia Định thành. Thời Pháp thuộc là hạt Tây Ninh, thuộc vùng Sài Gòn Nam Kỳ và đã có diện tích tương đương như ngày nay (khoảng 4200 km2), dân số 122.000 người với hai quận trực thuộc là Trảng Bàng và Thái Bình. Thời kì Mỹ- Ngụy, tỉnh Tây Ninh gồm 4 quận là Phú Khương, Phước Ninh, Hiếu Thiện và Khiêm Hanh. Sau khi đất nước tái thống nhất, Tây Ninh về đại thể vẫn giữ nguyên về diện tích và ranh giới. [25]
Về mặt hành chính, hiện nay Tây Ninh có 9 huyện, thị xã. Đó là thị xã Tây Ninh và các huyện: Châu Thành, Trảng Bàng, Gò Dầu, Bến Cầu, Dương Minh Châu, Hòa Thành, Tân Biên, Tân Châu với 82 xã, 5 phường, 8 thị trấn, trong đó có 5 huyện và 19 xã biên giới giáp với Campuchia. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Bảng 2.2. Các đơn vị hành chính tỉnh Tây Ninh
| Các huyện, thị xã | Diện tích (km2) | Đơn vị hành chính | ||
| Số xã | Số phường | Thị trấn | ||
| Toàn tỉnh | 4035,45 | 82 | 5 | 8 |
| Thị xã Tây Ninh | 140 | 5 | 5 | – |
| Tân Biên | 853,33 | 9 | – | 1 |
| Tân Châu | 1110,39 | 11 | – | 1 |
| Dương Minh Châu | 453,11 | 10 | – | 1 |
| Châu Thành | 571,25 | 14 | – | 1 |
| Hòa Thành | 83,12 | 7 | – | 1 |
| Bến Cầu | 250,7 | 8 | – | 1 |
| Gò Dầu | 233,32 | 8 | – | 1 |
| Trảng Bàng | 340,33 | 10 | – | 1 |
Nguồn : Niên giám thống kê Tây Ninh năm 2025
Bản đồ 2.2. Hành chính tỉnh Tây Ninh
Tây Ninh lại là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía nam, một trung tâm kinh tế năng động và phát triển mạnh nhất của Việt Nam. So với các tỉnh trong vùng trọng điểm, Tây Ninh có những lợi thế so sánh nhất định để phát triển du lịch, dịch vụ.
Thứ nhất, Tây Ninh cách Thành phố Hồ Chí Minh 99 km là thị trường có nhu cầu lớn về nghỉ ngơi giải trí, du lịch sinh thái… Ngoài ra vị trí tiếp giáp với thành phố Hồ Chí Minh cũng tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tại Tây Ninh có thể sử dụng các công trình kỹ thuật hạ tầng như cảng biển, sân bay… hiện có của thành phố Hồ Chí Minh.
Thứ hai, Tây Ninh có lợi thế rất lớn trong việc thông thương và kết nối tour, tuyến du lịch với Campuchia và các nước ASEAN khác. Tây Ninh có đường biên giới quốc gia dài 240km, giáp 3 tỉnh của Campuchia với 14 cửa khẩu (bao gồm 2 cửa khẩu quốc tế, 4 cửa khẩu chính và 8 cửa khẩu phụ) thông sang nước bạn, trong đó 2 cửa khẩu quốc tế là Mộc Bài ở phía nam và Xa Mát ở phía bắc tỉnh, là những nguồn cung cấp khách du lịch quốc tế cho Tây Ninh. Đặc biệt với 2 cửa khẩu quốc tế là Xa Mát và Mộc Bài, Tây Ninh có hai cửa ngõ thuận lợi nhất của khu vực để kết nối với Campuchia, Thái Lan và xa hơn có thể kết nối với Ấn Độ. Cửa khẩu Mộc Bài là cửa khẩu thuận lợi nhất để đến thủ đô Phom Penh khi cách Phom Penh khoảng 150 km, còn cửa khẩu Xa Mát là cửa khẩu từ Việt Nam đến Khu di tích Angkor – Di sản văn hoá thế giới được UNESCO công nhận- có khoảng cách ngắn nhất chỉ khoảng 300 km. Như vậy 2 cửa khẩu này có thể giúp khách du lịch từ Tây Ninh có thể đi lại một cách thuận lợi theo đường bộ đến thủ đô Phom Penh, Khu di tích Angkor, biển hồ Tonle Sap và xa hơn đến với Thái Lan, Ấn Độ. Đây là điều kiện thuận lợi để phát triển loại hình du lịch caravan – loại hình du lịch đang được ưa thích hiện nay.
Trong tương lai, Tây Ninh sẽ trở thành một trong những cửa ngõ quan trọng trong việc phát triển các mối quan hệ kinh tế và thương mại giữa Việt Nam với các nước trong khu vực ASEAN, cũng như các nước vùng Trung Á thông qua tuyến đường bộ Xuyên Á. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Như vậy trong thời kì đất nước mở cửa với xu thế hội nhập quốc tế, cùng với cả nước phát triển kinh tế- xã hội năng động theo hướng công nghiệp hóa- hiện đại hóa, Tây Ninh có những ưu thế để phát triển các ngành kinh tế tổng hợp, không chỉ công nghiệp mà du lịch ngày càng được chú trọng trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Trong thời gian vừa qua, Đảng, Nhà nước và chính quyền tỉnh đã đẩy mạnh khai thác những lợi thế sẵn có về vị trí địa lý của Tây Ninh để thu hút khách du lịch trong và ngoài nước nhằm tạo một diện mạo mới cho du lịch tỉnh nhà trong thời kì hội nhập quốc tế và khu vực.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.1.2. Tài nguyên du lịch tự nhiên
- Địa hình
Tây Ninh nằm trong vùng chuyển tiếp giữa các cao nguyên Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long nên vừa mang đặc điểm của một cao nguyên, vừa có dáng dấp của một vùng đồng bằng. Tuy là vùng chuyển tiếp nhưng địa hình ít phức tạp, tương đối bằng phẳng và có độ dốc không lớn : địa hình nhìn chung thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam.
Ở phía bắc của tỉnh kể từ thị xã trở lên có nhiều đồi núi với độ cao không lớn, xen giữa các đồng bằng xâm thực tích tụ rộng, có độ cao phổ biến từ 20- 50m. Cao nhất tỉnh và cũng cao nhất Nam Bộ là núi Bà Đen cao 986m. Phần trung tâm tỉnh có độ cao 10- 20m, từ đó giảm dần về phía Nam (khu vực Bến Cầu) chỉ còn 1- 2m. Đây là khu vực thấp nhất nên có nhiều chổ bị ngập úng trong mùa mưa.
Địa hình ở Tây Ninh có thể chia thành 4 dạng chính : địa hình núi, đồi, đồi dốc thoải và địa hình đồng bằng. [7]
Địa hình núi : chủ yếu thuộc khu vực núi Bà Đen với diện tích 15 km2, đỉnh cao nhất 986m.
Địa hình đồi : dạng địa hình này phân bố khá phổ biến ở Tây Ninh, tập trung ở thượng nguồn sông Sài Gòn, dọc theo ranh giới hai tỉnh Tây Ninh và Bình Phước.
Địa hình đồi dốc thoải : độ cao thay đổi từ 15- 20m, có nơi cao 3m so với mặt nước biển. Dạng địa hình này có một ít ở phía nam Tân Biên và xuất hiện nhiều ở các huyện : Dương Minh Châu, Hòa Thành, Trảng Bàng, Gò Dầu và một ít ở Bến Cầu.
Địa hình đồng bằng : là dạng địa hình ở các bãi bồi tạo thành từng dãy rộng từ 20-150 m và chiều dài chỉ vài km. Phân bố dọc hai bờ sông Vàm Cỏ, thuộc địa bàn các huyện Châu Thành, Hòa Thành, Bến Cầu và Trảng Bàng.
Như vậy, xét trên góc độ tài nguyên du lịch, Tây Ninh tuy không phong phú về các dạng địa hình nhưng lại có ưu thế là cảnh quan gắn với địa hình núi non thuận lợi cho việc khai thác phục vụ các hoạt động du lịch như : leo núi, du lịch khám phá, du lịch sinh thái… Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
- Khí hậu
Nằm ở vùng nhiệt đới ẩm, ở những vĩ độ thấp, chịu ảnh hưởng của gió mùa nên Tây Ninh có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, thể hiện rõ tính chất cận xích đạo.
Khí hậu vùng Đông Nam Bộ nói chung, Tây Ninh nói riêng có nhiều khác biệt với các vùng phía Bắc của đất nước : đó là không có mùa đông lạnh, chỉ có mùa mưa và mùa khô rõ rệt trong năm. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5- 11 và mùa khô từ tháng 12- 4 năm sau . [7]
Chế độ bức xạ : tổng lượng bức xạ dồi dào, trung bình từ 130- 135 kcal/ cm2/ năm, cán cân bức xạ đạt 70- 75 kcal/cm2/năm. Lượng bức xạ phân bố không đồng đều, cao nhất vào tháng 3 (16 kcal/cm2) và thấp nhất vào tháng 8 (9 kcal/cm2). Lượng bức xạ cao là yếu tố thuận lợi để phát triển kinh tế.
Chế độ nhiệt : Tây Ninh có chế độ nhiệt cao và ổn định, nhiệt độ trung bình từ 26-27 độ C. Duy chỉ có khu vực núi Bà Đen do ảnh hưởng của độ cao địa hình nên có những tháng nhiệt độ xuống dưới 20 độ C. Nhìn chung chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa các tháng trong năm ở Tây Ninh không lớn từ 2- 3 độ C, trong khi biên độ dao động nhiệt độ ngày lại khá cao, vào các tháng mùa khô có thể lên đến 10- 12 độ C. Mặt khác ở Tây Ninh có sự khác biệt về chế độ nhiệt giữa các tiểu vùng, ở vùng phía bắc tỉnh có nhiệt độ trung bình thấp hơn các tiểu vùng phía nam từ 0,5- 1,4 độ C.
Chế độ nắng : Lượng ánh sáng quanh năm dồi dào, mỗi ngày trung bình có 6 giờ nắng, số giờ nắng trung bình năm từ 2700- 2800 giờ
Chế độ gió : có 2 loại gió thịnh hành ở Tây Ninh, đó là gió mùa mùa Đông và gió mùa mùa Hạ, phù hợp với chế độ gió trong khu vực.
Chế độ mưa : Lượng mưa khá lớn, trung bình từ 1900- 2300mm, phân bố không đều trong năm. Vào mùa mưa, có tới 130 ngày có mưa chiếm khoảng 85%- 90% tổng lượng mưa trong năm.
Chế độ ẩm : độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình 82- 83%, cực đại có thể lên tới 86- 87%. Mùa mưa độ ẩm không khí thường cao hơn mùa khô từ 10- 20%. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Căn cứ vào chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với sức khỏe con người, có thể đánh giá mức độ thích hợp của khí hậu Tây Ninh là :
- Nhiệt độ trung bình năm từ 26- 27 độ C → khá thích nghi (hạng 2)
- Nhiệt độ tháng nóng nhất từ 28- 29 độ C → khá thích nghi (hạng 2)
- Tổng lượng mưa năm từ 1900 – 2300mm → khá thích nghi (hạng 2)
- Biên độ nhiệt năm : 2- 3 độ C → thích nghi (hạng 1)
Như vậy, 4/4 chỉ tiêu chủ yếu của khí hậu Tây Ninh được xếp vào hạng 1 và 2, có nghĩa là thích nghi và khá thích nghi phù hợp cho sức khỏe con người và có thể phục vụ tốt cho du lịch.
Bảng 2.3. Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người
| Hạng | Ý nghĩa | Nhiệt độ | Nhiệt độ | Biên độ | Lượng mưa |
| TB năm (độ C) | TB tháng nóng nhất (độ C) | nhiệt TB năm (độ C) | TB năm (mm) | ||
| 1 | Thích nghi | 18- 24 | 24- 27 | <6 | 1250- 1900 |
| 2 | Rất thích nghi | 24- 27 | 27- 29 | 6- 8 | 1900- 2550 |
| 3 | Nóng | 27- 29 | 29- 32 | 8- 14 | > 2500 |
| 4 | Rất nóng | 29- 32 | 32- 35 | 14- 19 | < 1250 |
| 5 | Không thích nghi | >32 | >35 | >19 | < 650 |
Nguồn : Địa lý du lịch- NXB TP. HCM, 2014
Nhìn chung khí hậu ở Tây Ninh tương đối ôn hòa, với chế độ bức xạ dồi dào, nền nhiệt độ cao và ổn định, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và hoạt động du lịch. Mặc dù vậy, hạn chế của khí hậu ở đây là sự biến động và phân hóa rõ rệt của các yếu tố theo mùa, sự tương phản khá sâu sắc giữa mùa mưa và mùa khô.
- Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt : Nguồn nước mặt ở Tây Ninh phụ thuộc chủ yếu vào chế độ hoạt động của hệ thống hai con sông lớn chảy qua là sông Sài Gòn và sông Vàm Cỏ Đông.
Sông Sài Gòn là nhánh chính, cấp 1 của hệ thống sông Đồng Nai. Nó bắt nguồn từ Lộc Ninh (Bình Phước) chảy theo hướng Đông Bắc- Tây Nam, dọc theo ranh giới Tây Ninh với hai tỉnh Bình Phước và Bình Dương. Đoạn hạ lưu chảy theo hướng Tây Bắc- Đông Nam đến Tân Thuận (Thành phố Hồ Chí Minh) hợp với sông Đồng Nai chảy ra biển, phần lưu vực sông Sài Gòn có diện tích 4500 km2. Những phụ lưu chính của sông thuộc địa phận Tây Ninh gồm : suối Bà Chim (suối Ngô), suối Sanh Đôi. Tổng chiều dài của sông là 280 km, đoạn qua tỉnh là 135 km. Lưu lượng nước trung bình là 85m3/giây, độ dốc của lòng sông là 0,7%. Đặc trưng chủ yếu của sông Sài Gòn là lưu vực hẹp, lượng nước chủ yếu ở nhánh chính nhưng do độ dốc của lòng sông nhỏ nên khả năng gây lũ chậm. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Sông Vàm Cỏ Đông bắt nguồn từ tỉnh Kong Pong Chàm theo hướng Tây Bắc-Đông Nam đến Quảng Xuyên (Long An) hợp với sông Vàm Cỏ Tây đổ ra biển Đông với tổng chiều dài 220 km. Đoạn chảy qua tỉnh Tây Ninh là 151 km, đi qua các huyện : Tân Biên, Châu Thành, Hòa Thành, Bến Cầu, Gò Dầu và Trảng Bàng. Các phụ lưu chính của sông gồm : rạch Bến Đá, rạch Tây Ninh và rạch Trảng Bàng.
Hồ Dầu Tiếng được xây dựng tại thượng nguồn sông Sài Gòn, là công trình thủy lợi lớn nhất cả nước có diện tích 27000 ha với dung tích 1,5 tỉ m3. Hồ gồm hai hệ thống kênh chính : kênh Đông và kênh Tây, có khả năng tưới cho 175.000 ha đất canh tác. Bên cạnh đó, hồ Dầu Tiếng có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến nguồn nước mặt, nước ngầm, môi trường sinh thái của tiểu vùng. Đồng thời đây còn là một trong những nơi quan trọng cho phát triển ngư nghiệp và có cảnh quan sinh thái hấp dẫn khách du lịch.
Cùng với hai hệ thống sông chính, Tây Ninh còn có nhiều suối, kênh rạch tạo ra một mạng lưới thủy văn phân bố tương đối đồng đều trên địa bàn tỉnh.
Nguồn nước ngầm : Do cấu tạo địa chất đã tạo cho trữ lượng nước ngầm ở Tây Ninh khá phong phú, độ sâu của mạch nước ngầm trung bình từ 4- 11m (độ sâu của mạch nước nhỏ dần từ phía Bắc xuống phía Nam tỉnh). Đây là nguồn nước có chất lượng tốt, có thể phục vụ cho sản xuất, sinh hoạt và du lịch. Ngoài ra ở Tây Ninh còn có nguồn nước khoáng ở Ninh Điền huyện Châu Thành với trữ lượng 838m3/ngày, đây là nước khoáng nóng Silic cấp (B+C1+C2) với hàm lượng khoáng chất có lợi cho sức khỏe con người. [7]
Như vậy có thể thấy nguồn nước phục vụ phát triển du lịch của Tây Ninh khá phong phú. Ngoài việc khai thác cho sản xuất, sinh hoạt, các mặt hồ, sông còn được khai thác phục vụ hoạt động du lịch nhưng tỉ lệ khai thác còn quá ít so với tiềm năng. Tuy nhiên song song với khai thác cần quan tâm đến việc chống ô nhiễm môi trường nước để đảm bảo phát triển du lịch theo quan điểm phát triển bền vững.
- Sinh vật
Rừng ở Tây Ninh mang nhiều đặc tính sinh thái của rừng nhiệt đới miền Đông Nam Bộ với thực vật rừng đa dạng gồm nhiều chủng loại, phần lớn thuộc loại rừng thưa ít ẩm cây lá rộng, rừng hỗn giao tre nứa và cây gỗ, phân bố chủ yếu ở các huyện phía Bắc tỉnh. Thảm thực vật rừng nguyên sinh bị chiến tranh tàn phá nên hầu như không còn, thay vào đó chủ yếu là thảm thực vật rừng thứ sinh với các cây họ dầu chiếm ưu thế, ngoài ra còn có các loại cây khác như dáng hương, trắc, cẩm lai, gỗ đỏ…[7]
Hiện nay rừng ở Tây Ninh bị suy giảm nhiều cả về số lượng và chất lượng. Diện tích đất có rừng che phủ chỉ khoảng 10% diện tích đất tự nhiên, trong đó chủ yếu rừng thứ sinh và rừng trồng. Theo số liệu thống kê năm 2017, tổng diện tích rừng của Tây Ninh là 53300 ha, trong đó rừng trồng là 7100 ha. [25] Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Tài nguyên sinh vật nổi bật nhất ở Tây Ninh là Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát nằm trên địa phận 3 xã Tân Lập, Tân Bình, Hoà Hiệp thuộc huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, cách thị xã Tây Ninh khoảng 30km về phía bắc tây bắc. Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát có hệ động thực vật phong phú đặc biệt là hệ chim nước quý hiếm, nằm ở phía tây vùng đất thấp miền Đông Nam Bộ, chủ yếu là rừng nguyên sinh, địa hình khá bằng phẳng. Với diện tích 18.765ha, nằm ở độ cao từ 5-10m so với mực nước biển và là khu vực có rừng che phủ lớn nhất tại tỉnh Tây Ninh, được chia thành ba phân khu.
Lò Gò – Xa Mát có thảm thực vật rừng dạng như rừng bán rụng lá, rừng rụng lá trên đất thấp và các dải hẹp rừng thường xanh ven sông suối và rừng tràm. Gần biên giới với Campuchia là các dải rộng đồng cỏ đất lầy với các thảm cói lác. Hệ thực vật phong phú có giá trị như: các cây họ dầu: dầu nước, dầu cát, dầu chai, dầu song nàng, sao đen, nến mủ, một số loài đã có tên trong sách đỏ như: gõ cà te, giáng hương, mạc sưa… Khu hệ chim tại vườn quốc gia này rất đặc trưng, tại các sinh cảnh đất ngập nước đã ghi nhận nhiều loài chim nước quý hiếm như giang sen, già đẫy nhỏ và cò nhạn, gà lôi lông tía, gà tiền mặt đỏ, chích chạch má xám… Ngoài ra, Lò Gò – Xa Mát còn là nơi dừng chân bay qua của loài sếu đầu đỏ, trên tuyến di cư về nơi sinh sản tại Campuchia. Lò Gò-Xa Mát được công nhận là một trong các vùng chim quan trọng của Việt Nam.
Về động vật, do săn bắn bừa bãi và phá hủy rừng tự nhiên, Tây Ninh không còn các loài thú lớn. Hiện nay chỉ còn một số loài động vật thông thường như nai, heo rừng, báo, nhím, khỉ, chồn…
Nhìn chung tài nguyên sinh vật ở Tây Ninh là một trong những yếu tố quan trọng đối với phát triển du lịch. Tây Ninh có tiềm năng lớn về du lịch sinh thái với núi Bà Đen, rừng đặc dụng Lò Gò- Xa Mát với diện tích 16.754 ha rừng nguyên sinh á nhiệt đới ở phía bắc tỉnh.
Như vậy tài nguyên du lịch tự nhiên của Tây Ninh là tiền đề cho việc phát triển các hoạt động du lịch với các loại hình đa dạng như tham quan nghiên cứu, du lịch leo núi, thể thao, du lịch sinh thái…
2.1.3 .Tài nguyên du lịch nhân văn
2.1.3.1. Dân số và lao động
Dân số Tây Ninh đứng hàng thứ 3 ở Đông Nam Bộ sau thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai (năm 2024 là 1.067.674 người bằng 1,25% dân số cả nước).
Tốc độ gia tăng dân số của Tây Ninh tương đối cao, mặc dù có xu hướng giảm trong thời gian gần đây. Năm 2005, mức gia tăng tự nhiên là 2,02%, Năm 2010 giảm xuống còn 1,81%, năm 2015 còn 1,6%, năm 2018 là 1,45% và năm 2024 giảm xuống chỉ còn 1,09%. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Về cơ cấu dân số theo độ tuổi, giới tính: dưới độ tuổi lao động chiếm 33,92%, trong độ tuổi lao động chiếm 58,54% và trên độ tuổi lao động chiếm 7,54%. Về mặt giới tính, Tây Ninh có 49,81% dân số là nam, 50,19% là nữ. Cụ thể, số nam là 531761 người, nữ là 535913 người.[5]
Về lực lượng lao động, chất lượng nguồn lao động: Tây Ninh có lực lượng lao động khá dồi dào với hơn 600000 lao động trong tổng số hơn 1 triệu dân của tỉnh. Số dân trong độ tuổi lao động hầu hết có khả năng lao động với bản tính cần cù chịu khó, khả năng tiếp thu khoa học kĩ thuật tốt nhưng trình độ chuyên môn còn hạn chế. Hiện nay, Tây Ninh có hơn 80% lực lượng lao động thường xuyên chưa qua đào tạo. Số lượng lao động qua đào tạo có trình độ từ đại học và cao đẳng trở lên chỉ có trên 3%, thấp hơn nhiều so với mức trung bình cả nước và của vùng Đông Nam Bộ.
Về phân bố dân cư, theo số liệu thống kê năm 2024, dân số toàn tỉnh là 1067674 người. Mật độ dân số bình quân toàn tỉnh là 264,57 người/ km2. Dân số Tây Ninh chủ yếu phân bố ở vùng nông thôn, dân số nông thôn chiếm 84,21% tổng dân số, dân số đô thị chỉ chiếm 15,79%.
Bảng 2.4. Dân số, mật độ dân số của Tây Ninh năm 2024
| Các huyện, thị xã | Số dân (người) | Chia ra | Mật độ dân số (người/ km2) | |
| Thành thị | Nông thôn | |||
| Cả tỉnh | 1067674 | 168590 | 899084 | 264,57 |
| Thị xã Tây Ninh | 126539 | 69798 | 56741 | 903,85 |
| Tân Biên | 91946 | 12633 | 79313 | 107,75 |
| Tân Châu | 121333 | 8145 | 113188 | 109,27 |
| Dương Minh Châu | 104492 | 5641 | 98851 | 230,61 |
| Hòa Thành | 139482 | 15299 | 124183 | 1678,08 |
| Châu Thành | 129605 | 8843 | 120762 | 226,88 |
| Bến Cầu | 62900 | 7401 | 55499 | 269,59 |
| Gò Dầu | 137803 | 26733 | 111070 | 549,67 |
| Trảng Bàng | 153574 | 14097 | 139477 | 451,38 |
Nguồn: Niên giám thống kê Tây Ninh năm 2025 Về cơ cấu nghề nghiệp, khu vực I (nông- lâm- ngư nghiệp) thu hút phần lớn lao động. Khu vực này chiếm tới hơn 50% tổng số lao động trong các ngành kinh tế.
Bảng 2.5. Cơ cấu nghề nghiệp của lực lượng lao động Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Về cơ cấu dân tộc,Tây Ninh là một tỉnh có diện tích không lớn (diện tích chỉ chiếm 1,22% cả nước) nhưng trên địa bàn tỉnh lại có khá nhiều dân tộc khác nhau sinh sống (khoảng 17 dân tộc), chủ yếu là các dân tộc Kinh, Chăm, Khơ me và Hoa . Đồng bào người Kinh chiếm tỉ lệ đông nhất (98,4%). Phần lớn người kinh có nguồn gốc từ các tỉnh miền Bắc, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Thuận theo đường sông lên Tây Ninh buôn bán, trao đổi hàng hóa với người địa phương rồi dần dần tụ lại làm ăn sinh sống. Dân tộc Kinh phát triển nhanh, ngày càng đông, khai thác đất đai từ Trảng Bàng lên Gò Dầu đến chân núi Bà để khẩn đất lập làng, hình thành những vùng cư dân đầu tiên của người Việt ở Tây Ninh. Địa bàn sinh sống của người Kinh chủ yếu ở các Thị xã, Thị trấn, các khu vực có kinh tế văn- hóa phát triển hơn.
Người Khơ me (chiếm 0,65% dân số) ở xen kẽ với người Kinh, không còn chia thành xóm, làng riêng nữa. Họ chủ yếu sống bằng nghề làm ruộng và buôn bán, phần lớn theo đạo Phật dòng Tiểu Thừa. Người Hoa (chiếm 0,62% dân số) tập trung đông nhất ở thị xã Tây Ninh và thị trấn Gò Dầu, hoạt động kinh tế chủ yếu là thương mại. Người Chăm (chiếm khoảng 0,22% dân số) từ miền Trung Trung Bộ tiến dần về phía Nam đến định cư ở Tây Ninh, cư trú chủ yếu ở xóm Chăm Đông Tác thị xã Tây Ninh và xóm Chăm Tạo Tác xã Tân Hưng huyện Tân Châu. Lối sống của họ còn ảnh hưởng nhiều bởi chế độ mẫu hệ, phần lớn theo đạo Hồi thuộc phái Pani. Các dân tộc còn lại như Tày, Thái, Mường, Nùng, Dao, Hmong, Gia Rai, Ê Đê… chiếm khoảng 0,11% dân số tỉnh.
Mỗi dân tộc có phong tục tập quán riêng nhưng lại có mối quan hệ gắn bó với nhau về nhiều mặt, có chung địa bàn cư trú (xã, phường, khóm, ấp…), có quan hệ mật thiết về kinh tế, đời sống, kể cả quan hệ gia đình. Các dân tộc đều có truyền thống cần cù lao động, truyền thống yêu nước chống ngoại xâm
Nhìn chung Tây Ninh là một tỉnh có lợi thế về nguồn nhân lực, với lực lượng lao động trẻ và có nhiều tiềm năng. Tuy nhiên lực lượng lao động ở Tây Ninh chưa được đầu tư đúng mức, việc sử dụng lao động chưa đem lại hiệu quả cao, cơ cấu lao động có chuyên môn nghiệp vụ thấp và mất cân đối. Do vậy, vấn đề trước mắt là phải làm tốt chiến lược đào tạo, có như vậy thì mới đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội, trong đó có phát triển du lịch cho tỉnh nhà trong thời kì đất nước hội nhập.
2.1.3.2. Di tích lịch sử- văn hóa
Tây Ninh có lịch sử hình thành và phát triển lâu đời, trải qua nhiều triều đại chính trị khác nhau, là vùng đất vốn có truyền thống anh hùng suốt quá trình dựng nước và giữ nước với đức tính cần cù lao động sáng tạo và khéo léo, lớp nghệ nhân xưa đã tạo nên những công trình kiến trúc độc đáo được thể hiện tại nhiều đình chùa, thánh thất. Trong cuộc hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, người dân Tây Ninh đã xây dựng nhiều căn cứ địa cách mạng. Vì vậy Tây Ninh là tỉnh có nhiều di tích văn hóa lịch sử từ lâu đời, cho đến nay toàn tỉnh có 22 di tích được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia và có rất nhiều di tích văn hóa cấp địa phương đã và đang được xếp hạng. (phụ lục 4)
- Theo tính chất của các di tích có thể phân chia thành bốn nhóm chính :
Nhóm di tích khảo cổ học : bao gồm di tích Dành Xáng, di tích cổ Lâm Tự, các ngôi đền tháp cổ như Bình Thạnh, Chót Mạt…Tháp Bình Thạnh – một trong số ít những tháp còn lại ở Nam Bộ tiêu biểu cho nền văn hóa Óc Eo.
Về chất lượng di tích, mỗi di tích đều có những sắc thái và dấu ấn lịch sử riêng biệt. Các di tích phần nhiều là các công trình nghệ thuật đắc sắc với kiến trúc độc đáo. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, một số di tích nhất là các di tích cách mạng không còn giữ được nguyên trạng. Hiện nay việc phục chế và tôn tạo các di tích này đang được tiến hành vì đó là di sản vô giá của nhân dân. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Nhóm di tích kiến trúc cổ tiêu biểu: thuộc vào nhóm kiến trúc này chủ yếu là các đình phân bố rải rác ở các địa phương, có thể kể ra một số đình tiêu biểu như: Đình An Tịnh, Đình Hòa Lộc, Đình Long Thành, Đình Hiệp Ninh, Đình Thái Bình…
Nhóm kiến trúc tôn giáo : Ở Tây Ninh có nhiều tôn giáo khác nhau nhưng nổi bật nhất là đạo Cao Đài. Số người theo đạo Cao Đài đông nhất. Ngoài ra còn có đạo Thiên Chúa, đạo Phật, đạo Tin Lành, đạo Hồi …. Về số lượng nơi thờ tự, nhiều nhất là đạo Phật (81 chùa) và Cao đài (57 thánh thất), đạo Thiên Chúa (25 nhà thờ). Các tôn giáo khác nơi thờ tự ít hơn nhiều. Mỗi tôn giáo có một kiểu kiến trúc riêng làm cho các nơi thờ tự rất đa dạng. Đây là một lợi thế của Tây Ninh trong việc thu hút khách du lịch.
Nổi bật lên trong số các công trình kiến trúc tôn giáo của Tây Ninh là Toà thánh Tây Ninh, một công trình kiến trúc lớn có sự kết hợp giữa kiến trúc phương tây và phương đông tạo thành một công trình kiến trúc độc đáo.
Cùng với Toà thánh Tây Ninh, các ngôi chùa ở núi Bà Đen là những công trình kiến trúc được xây dựng kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên của thắng cảnh núi Bà Đen với sự khéo léo, tài tình của bàn tay con người, tất cả tạo thành một quần thể di tích có giá trị với du khách.
Nhóm di tích lịch sử cách mạng : Tây Ninh là nơi giàu truyền thống cách mạng. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nơi đây từng là căn cứ của Trung ương Cục Miền Nam, là Thủ đô của Chính phủ Cách mạng lâm thời. Khu di tích lịch sử căn cứ Trung ương Cục Miền Nam đã được Bộ Văn hóa xếp hạng, thuộc huyện Tân Biên và một phần huyện Tân Châu, diện tích trên 70.000 m2 với nhiều công trình khác nhau. Bao gồm hệ thống giao thông hào, hầm trú ẩn chữ A, hội trường ngầm và công sự chiến đấu bao quanh khu làm việc. Hệ thống rừng nguyên sinh hiện có là địa điểm lý tưởng để cắm trại, nghiên cứu hệ sinh thái của rừng Miền Ðông.
Ngoài khu di tích căn cứ Trung ương Cục Miền Nam đã được Bộ Văn hóa xếp hạng, ở Tây Ninh còn có một số di tích khác như căn cứ Bời Lời (căn cứ Tỉnh ủy Tây Ninh và Sài Gòn – Gia Định), chiến khu Dương Minh Châu, địa đạo An Thới và nhiều di tích khác như căn cứ mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam, căn cứ cách mạng lâm thời cộng hòa Miền Nam Việt Nam, chiến thắng Tua Hai, khu di tích lịch sử danh thắng núi Bà Đen…
Các di tích lịch sử cách mạng này là tiềm năng lớn để phát triển các loại hình du lịch về nguồn, có tác dụng tôn vinh những thành quả của các thế hệ trước và giáo dục các thế hệ trẻ lòng yêu đất nước và lòng biết ơn đối với những người có công trong cuộc kháng chiến cứu nước.
- Một số di tích lịch sử văn hóa tiêu biểu: Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Núi Bà Đen: thuộc xã Ninh Sơn, cách thị xã Tây Ninh 11km về phía đông bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 110 km. Nhìn từ xa núi Bà Ðen như một chiếc nón úp trên đồng bằng. Trải qua nhiều thế kỷ, núi Bà Ðen là nơi thờ cúng của nhân dân trong vùng, trên núi có nhiều hang động, thác nước, suối trong, nhiều chùa chiền đẹp, huyền hoặc, cây cối xanh tươi, hoa rừng nở quanh năm. Núi Bà được bá tánh xem như nơi hành hương thiêng liêng, còn với khách du lịch, là điểm sinh thái và văn hóa hấp dẫn. Núi nằm trong một quần thể di tích văn hóa lịch sử nổi tiếng bởi phong cảnh hữu tình và nhiều huyền thoại tại Tây Quần thể di tích Núi Bà trải rộng 24 km², gồm 3 ngọn núi tạo thành: Núi Heo – Núi Phụng – Núi Bà Đen. Núi Bà Đen cao 986 m, là ngọn núi cao nhất Nam Bộ. Núi còn có tên gọi là núi Điện Bà, còn có tên khác là Vân Sơn, vì thường có mây phủ, ngoài ra còn có một tên gọi khác nữa là núi Một.
Núi Bà Đen không chỉ hấp dẫn du khách bởi phong cảnh núi non hùng vĩ, bởi các chùa chiền, hang động đẹp và gắn với câu chuyện huyền thoại dân gian về vị nữ thánh được thờ Lý Thị Thiên Hương (tức Bà Đen) thời Tây Sơn. Núi Bà Đen còn là một căn cứ địa cách mạng bất khả xâm phạm, nơi lưu giữ nhiều chứng tích anh hùng qua hai cuộc kháng chiến cứu nước của quân và dân Tây Ninh.
Đến với núi Bà Đen, du khách sẽ được chiêm ngưỡng hệ thống các hang động, chùa chiền. Hệ thống chùa Điện Bà ở núi có chùa Hạ, chùa Trung, chùa Thượng, chùa Hang và một số hang động được các tăng ni, phật tử sửa chữa làm nơi thờ tự như động Thanh Long, động Ông Hổ, động Ba Cô, động Ba Tuần, động Thiên Thai, động Ông Tà… Ngọn núi này thu hút khách thập phương vì cảnh núi non hùng vĩ, nhiều hang động, nhiều ngôi chùa nguy nga tráng lệ trước đây vốn là nơi ẩn cư của nhiều sư sãi.
Mùa cao điểm du khách thăm núi Bà Đen là vào tháng Giêng và tháng Tám âm lịch hằng năm, trùng hợp hai sự kiện lớn của tín đồ Cao Đài Tây Ninh: Lễ vía đức Chí Tôn-vị thần linh tối cao trong tín ngưỡng Cao Đài vào Mùng 9 tháng Giêng và Hội yến Diêu trì cung vào lễ Trung Thu. Khách đến Tây Ninh vào dịp này sẽ thưởng thức được không gian lễ hội tín ngưỡng với nhiều nghi lễ lạ mắt.
Tòa thánh Tây Ninh: nằm cách trung tâm thị xã Tây Ninh khoảng 5km về hướng đông. Đây là một công trình kiến trúc nghệ thuật nổi tiếng và là trung tâm hành đạo chính của đạo Cao Đài ở Tây Ninh.
Trong khu thánh thất Cao Đài có nhiều điện thờ, nhà làm việc, nhà ở. Ngoài ra còn có đền thờ Phật mẫu, có vườn kiểng đoàn kết, có cả rừng thiên nhiên. Nổi bật trong quần thể kiến trúc là Đền Thánh, theo kiến trúc của nhà thờ Công giáo có chiều dài 140m, chiều ngang 40m với hai tháp cao. Phía trước đền Thánh, trên cao là hình Thiên Nhãn, biểu tượng của đạo Cao Đài. Kiến trúc Tòa Thánh từ ngoài vào trong thể hiện sự hài hòa giữa mỹ thuật kiến trúc Á Đông và phương Tây với những hàng cột rồng rực rỡ kiểu cung điện, các vòm mái và hoa văn trang trí khéo léo, tinh xảo thể hiện tinh thần Tam Giáo. Kiến trúc Tòa Thánh được thiết kế chạm trỗ tinh vi với các hình Phật, Thánh, Thần, rồng, sư tử, hoa sen… So với các đình, chùa, miếu ở Việt Nam thì Tòa Thánh Tây Ninh có nhiều tượng nhất. Chính diện Tòa Thánh có 2 bức tượng, bên phải là Ông Thiện, bên trái là Ông Ác. Phía trên có kiến trúc hình bán nguyệt, được gọi là Bao Lơn Đài, có các tượng : Sỉ, Nông, Công, Thương, Ngư, Tiều, Canh, Mục tượng trưng cho sinh hoạt thế nhân. Lễ hội lớn nhất hằng năm diễn ra nơi đây là vía Đức Chí Tôn và vía Đức Diêu Trì Kim Mẫu, cuốn hút hàng triệu người từ mọi miền đất nước về dự và chiêm bái thưởng ngoạn cảnh quan nơi đây.
Di tích lịch sử văn hóa Căn cứ Trung ương Cục Miền Nam: là một “địa chỉ đỏ”du lịch về nguồn và nổi tiếng về hệ sinh thái rừng. Căn cứ Trung ương cục Miền Nam nằm cách thị xã Tây Ninh 64 km thuộc xã Tân Lập, huyện Tân Biên tỉnh Tây Ninh. Căn cứ được đặt ở phía bắc Tây Ninh trên một vùng đất rộng lớn : phía nam giáp chiến khu A, phía bắc giáp biên giới Campuchia, phía tây là khu căn cứ của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng. Ngày nay khu di tích đã được quy hoạch khu trung tâm 70ha tại Rùm Đuôn, xã Tân Lập và hiện nay phần lớn nằm trên xã Thạnh Bắc cách biên giới Việt Nam- Campuchia khoảng 3 km. Căn cứ Trung ương Cục miền Nam là khu căn cứ địa của cách mạng miền Nam, nơi quyết định tổng công kích Sài Gòn và đề nghị Bộ Chính Trị đặt tên chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, là nơi lãnh đạo và chỉ đạo nhân dân miền Nam trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Trong thời kỳ kháng chiến, đây là nơi làm việc của các đồng chí lãnh đạo cách mạng, như: Nguyễn Văn Linh, Phạm Hùng, Võ Văn Kiệt, Nguyễn Chí Thanh, Phan Văn Đáng, Phạm Thái Bường, Trần Văn Xô, Trần Nam Trung… Địa hình hiểm trở với nhiều khu rừng già, nên nơi đây trở thành nơi trú ẩn và hoạt động an toàn cho lực lượng cách mạng. Nơi đây được công nhận là di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia vào năm 2005 sau khi căn cứ được phục hồi nguyên trạng. Sau hai lần trùng tu tôn tạo vào năm 2009 và 2020, những di tích được khôi phục lại phục vụ khách tham quan.
- Tháp cổ Bình Thạnh và tháp Chót Mạt:
Tháp cổ Bình Thạnh thuộc xã Bình Thạnh, huyện Trảng Bàng, được xây dựng cách đây hơn 10 thế kỷ. Ngọn tháp cao 10m với kiến trúc Chăm, thuộc nền văn hóa óc eo. Được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia năm 2008.
Tháp Chót Mạt là 1 trong 3 đền tháp còn lại ở Nam Bộ (cùng với Tháp cổ Bình Thạnh- Trảng Bàng, tháp Vĩnh Hưng, Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu), đó là kiến trúc tiêu biểu của nền văn hóa Óc Eo. Được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là di tích lịch sử văn hóa ngày 23/7/2008.
Địa đạo An Thới: An Thới là 1 trong 8 ấp thuộc xã An Tịnh anh hùng, huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh. Nơi đây có địa đạo chiến đấu ở một xã địa đầu của tỉnh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Bộ Văn Hóa Thông Tin trước đây công nhận là di tích lịch sử văn hóa.
Địa đạo là nhân chứng của lòng dũng cảm, tinh thần yêu nước, tình đoàn kết quân dân bởi chiến tranh nhân dân là sáng tạo muôn hình muôn vẻ của nghệ thuật chiến tranh. Từ hầm chông, tầm vông vạt nhọn, giàn thun phóng lựu đạn, ong vò vẻ, cách đánh trái gai, trái tự tạo…đến địa đạo là hình thức phát triển nghệ thuật chiến tranh rất đặc biệt, rất Việt Nam, rất phù hợp với chiến trường Tây Ninh. Địa đạo chiến đấu ở ngay cửa ngõ căn cứ Bắc Tây Ninh đã kiên cường chống giặc góp phần xây dựng nên một xã An Tịnh anh hùng. Ngày nay khu di tích địa đạo An Thới đã là một di tích lịch sử khắc họa những hình tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chống Mỹ cứu nước.
Ngoài các điểm tham quan trên, du khách đến với Tây Ninh là đến với một miền đất anh hùng với biết bao chiến tích và địa danh đã đi vào lịch sử như căn cứ Bời Lời, di tích Tua Hai Đồng Khởi và một loạt căn cứ khác nằm rải rác trên địa bàn tỉnh và nhiều nhất là nằm trên vùng biên giới Việt Nam- Campuchia.
Bên cạnh các di tích lịch sử văn hóa, các lễ hội ở Tây Ninh cũng là một trong những nét văn hóa đáng chú ý, lễ hội ở đây thường gắn liền với tín ngưỡng tôn giáo. Các dịp lễ hội có khả năng thu hút một lượng lớn du khách đến tham quan, nghiên cứu.
Lễ hội nổi tiếng nhất và hấp dẫn nhiều du khách trong và ngoài nước là Hội Núi Bà vào dịp tháng Giêng âm lịch. Đây là một trong những lễ hội lớn nhất khu vực phía nam và cả Việt Nam hàng thu hút gần 1,5 triệu lượt khách (năm 2025).
Mùa cao điểm của lễ hội trên núi Bà Đen là vào tháng Giêng và tháng Tám âm lịch hàng năm, trùng hợp hai sự kiện lớn của tín đồ đạo Cao Đài: lễ vía Đức Chí Tôn-vị thần linh tối cao trong tín ngưỡng Cao Đài vào Mùng 9 tháng Giêng và Hội yến Diêu trì cung vào lễ Trung Thu. Hàng năm cứ đến rằm tháng Tám âm lịch tại Toà Thánh Cao Đài Tây Ninh lại tổ chức Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung. Trước đêm rằm tháng Tám có lễ hội trái cây, quy tụ hàng trăm loại trái cây với những hình thù rất đẹp mắt. Bên cạnh đó còn tái hiện lại các sự tích dân gian thật độc đáo sinh động.
Khách đến Tây Ninh vào dịp này sẽ thưởng thức được không gian lễ hội tín ngưỡng với nhiều nghi lễ lạ mắt. Các tín đồ trong bộ trang phục áo dài trắng chiêm bái tại Đền Thánh và Đền thờ Phật Mẫu. Thích thú nhất dịp này là trưng bày các mô hình, kết trái cây và kết hoa nghệ thuật cùng biểu diễn múa tứ linh (Long, Lân, Quy, Phụng). Múa tứ linh trong tín ngưỡng Cao Đài khác với lân sư rồng thường thấy, tạo cảm giác lạ mắt đối với khách. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Các lễ hội của đạo Cao đài như hội yến Diêu Trì nơi Tòa Thánh Cao Đài vào rằm tháng 8 âm lịch, lễ hội Đấng Chí Tôn (8,9 tháng 1), Thượng ngươn (15 tháng 1), Phật Mẫu (15 tháng 6), Trung ngươn (15 tháng 8), Hạ ngươn (15 tháng 10)… cũng là những dịp sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo và tâm linh. Ngoài ra, Tây Ninh còn có nhiều lễ cúng đình, cúng dinh mang đậm bản sắc dân tộc và sắc thái địa phương. Các lễ hội này là những sự kiện văn hoá đầy màu sắc và đặc trưng văn hoá dân tộc có giá trị hấp dẫn khách du lịch đặc biệt là khách du lịch quốc tế.
Tây Ninh là một tỉnh đa dân tộc, các đặc trưng văn hoá của các dân tộc thiểu số cũng được coi là một trong những tài nguyên nhân văn phục vụ cho mục đích du lịch. Mỗi dân tộc có những phong tục, tập quán riêng có thể hấp dẫn du khách. Ngoài người Kinh chiếm đa số, Tây Ninh còn có nhiều dân tộc thiểu số khác như Hoa, Khơme, Chăm, Mường, Tày, Nùng, Thái, Xinh mun, Phù lá, Bana và một số dân tộc khác với những sắc thái văn hóa riêng biệt cũng có thể khai thác phục vụ du lịch.
2.1.3.3. Ngành nghề thủ công truyền thống
Trải qua hàng trăm năm cùng với nghề nông là căn bản, vùng đất Tây Ninh có rất nhiều ngành nghề truyền thống thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau. Tây Ninh có các làng nghề truyền thống như bánh tráng phơi sương Trảng Bàng, bánh canh Trảng Bàng, muối ớt Tây Ninh, mây, tre, nứa, chằm nón, nghề mộc… để giới thiệu và phục vụ khách du lịch.
Trảng Bàng là một trong những địa phương có nhiều làng nghề, phố nghề thủ công truyền thống. Nổi tiếng nhất vẫn là bánh tráng và bánh canh Trảng Bàng với nhiều lò bánh thủ công gắn liền với các hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch.
Phố nghề, làng nghề truyền thống bánh canh và bánh tráng Trảng Bàng đang là những thông tin cho du khách nước ngoài muốn tìm hiểu về giá trị văn hóa ẩm thực Việt Nam, sự khác nhau của hương vị 3 miền đất nước Bắc Trung Nam.
Riêng sản phẩm bánh tráng phơi sương, quá trình xây dựng chỉ dẫn địa lý đã xác định được những điểm đặc thù khiến cho bánh tráng ở các nơi khác sản xuất có chất lượng không thể nào bằng được với bánh tráng phơi sương ở tại xứ Trảng Bàng.
Bánh tráng phơi sương thì nơi nào cũng làm được bởi vì quy trình chế biến chẳng có gì phức tạp, công nghệ thì đơn giản và công cụ thì đơn sơ. Thế nhưng vì sao bánh tráng phơi sương ở Trảng Bàng lại tồn tại lâu đời và có vị ngon đặc biệt? Theo nghiên cứu của nhà tư vấn thì có nhiều yếu tố đặc thù khiến bánh tráng phơi sương Trảng Bàng có chất lượng đặc biệt, trong đó yếu tố căn cơ nhất là do đặc thù về điều kiện địa lý tại đây. Ở Trảng Bàng, ban ngày vào buổi trưa thì nhiệt độ thường khoảng từ 30- 33độC, thích hợp cho công đoạn phơi nắng bánh sau khi tráng; ban đêm nhiệt độ thường thấp- từ khoảng 20độC và có độ ẩm trung bình khá cao- từ 80 đến 90% nên khu vực này mùa nào đêm cũng có sương. Sương đêm ở Trảng Bàng có khi đến 5- 6 giờ sáng vẫn còn vương. Đây là điều kiện địa lý tự nhiên giúp cho khu vực thị trấn Trảng Bàng sản xuất bánh tráng phơi sương quanh năm bất kể mùa nào, đồng thời có chất lượng đặc biệt hơn những khu vực khác trong tỉnh do có độ ẩm phù hợp.
Từ nhiều yếu tố đặc thù như vậy, sản phẩm bánh tráng phơi sương Trảng Bàng ngày càng có danh tiếng và ngày càng được nhiều người biết đến. Theo con đường tham quan, du lịch mà hiện nay người dân hầu hết các tỉnh, thành trong cả nước đều biết và có thưởng thức sản phẩm bánh tráng phơi sương Trảng Bàng.
Ngoài hai ngành nghề truyền thống là bánh canh và bánh tráng phơi sương Trảng Bàng, Tây Ninh còn có nhiều ngành nghề khác được thực hiện trong các hộ nông dân như xay xát lúa gạo, làm bánh tráng muối và đặc biệt là nghề làm muối ớt- một đặc sản nổi tiếng Trảng Bàng và Gò Dầu. Tây Ninh còn có nghề đánh bắt và nuôi thủy sản lồng- bè trong lòng hồ Dầu Tiếng và trên sông Vàm Cỏ Đông; các ngành nghề thủ công tre trúc ở làng Kim, làng nón ở Ninh Sơn…
2.1.4. Cơ sở hạ tầng- vật chất kỹ thuật du lịch Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
2.1.4.1. Mạng lưới và phương tiện giao thông vận tải
GTVT là ngành rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân và được xem là trung tâm của kết cấu hạ tầng. Tây Ninh là tỉnh nằm trong tiểu vùng Đông Nam Bộ, một tiểu vùng quan trọng nhất của cả nước. Một lợi thế rất lớn đối với Tây Ninh là tỉnh nằm kế cận với thành phố Hồ Chí Minh, một trung tâm KT- XH lớn nhất của cả nước, một đầu mối giao lưu quan trọng của vùng Đông Nam Á.
Tây Ninh còn là cửa ngõ giao lưu quốc tế quan trọng của miền Đông Nam Bộ cũng như của cả nước đối với các nước láng giềng như Campuchia và Thái Lan. Tây Ninh giữ vị trí cầu nối giữa trung tâm thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Phnom Penh.
Lãnh thổ Tây Ninh còn là phần đất chuyển tiếp giữa khu vực cao nguyên Nam Trung Bộ và đồng bằng Sông Cửu Long nên địa hình bằng phẳng, ít dốc nên mạng lưới GTVT của tỉnh khá phát triển, bao gồm các loại hình vận tải đường bộ và đường sông (chủ yếu trên hệ thống sông Vàm Cỏ Đông và sông Sài Gòn) được phân bố khá hợp lý, đáp ứng nhiệm vụ cơ bản là phát triển KT- XH của tỉnh, trong đó có phát triển du lịch.
Đường bộ: mạng lưới đường bộ có vị trí trí quan trọng hàng đầu trong hệ thống GTVT của tỉnh Tây Ninh, hoạt động vận tải đường bộ chiếm 98,76% cơ cấu vận tải của tỉnh[5]. Tuyến giao thông quan trọng nhất là tuyến quốc lộ 22, nối từ thành phố Hồ Chí Minh đến Tây Ninh rồi sang tận Campuchia, bao gồm :
Quốc lộ 22A : bắt đầu từ suối Sâu (huyện Trảng Bàng) đến cửa khẩu Mộc Bài (huyện Bến Cầu), dài 28 km, là tuyến nâng cấp thành tuyến quốc tế xuyên Á. Đây là tuyến huyết mạch lưu thông quốc gia, quốc tế cũng như của tỉnh.
Quốc lộ 22B : nối quốc lộ 22A (tại thị trấn Gò Dầu) qua thị xã Tây Ninh, đến cửa khẩu Xa Mát (huyện Tân Biên). Tuyến này có ý nghĩa chiến lược trong phát triển KT- XH, an ninh quốc phòng đối với tỉnh, có chiều dài 77km.
Ngoài hai tuyến quốc lộ, Tây Ninh còn có hơn 30 đường tỉnh, hàng chục đường đô thị, hơn 200 đường huyện và hệ thống đường giao thông nông thôn phường, xã với tổng chiều dài trên 4000km. Các tuyến đường này đan chéo nhau và phân bố đều khắp trên địa bàn tỉnh, giúp cho việc vận chuyển, đi lại của nhân dân khi buôn bán, trao đổi, giao lưu về kinh tế, xã hội, văn hóa khá thuận lợi. Hệ thống quốc lộ và tỉnh lộ đều được dải nhựa hoặc bê tông hóa nhựa, phân bố khá hợp lý. Phần lớn các tuyến đường đều xuất phát từ trục dọc quốc lộ 22, đi trung tâm các huyện lỵ, thị xã, các khu cụm công nghiệp, các khu du lịch với các tỉnh thành lân cận, tạo điều kiện thuận lợi cho sự giao lưu của tỉnh với các khu vực xung quanh.
Phương tiện vận tải :đã có sự phát triển nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng, cơ bản đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế và đời sống nhân dân. Mạng lưới vận tải không những phân bố rộng khắp toàn tỉnh mà còn vươn tới các tỉnh khác, đây là điều kiện thuận lợi cho hoạt động du lịch phát triển. Trên địa bàn tỉnh, có nhiều loại hình vận tải hành khách, hệ thống xe khách được đầu tư trang bị mới, tăng tính cơ động, tiện nghi; các loại hình taxi đã xuất hiện và khá phát triển ở thị xã Tây Ninh và hiện nay có xu hướng lan sang các huyện, kể cả các huyện biên giới như Tân Biên, Tân Châu. Đặc biệt từ năm 2021, hệ thống xe buýt đã phát triển khá mạnh, đã hình thành nên các tuyến xe buýt đi khắp các huyện, các khu du lịch và đến tận các cửa khẩu vùng biên giới. Chính các tuyến xe buýt này đã đón một lượng du khách không nhỏ từ Campuchia sang tham quan các điểm du lịch ở Tây Ninh, sang đi chiều họ lại trở về bên kia biên giới. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Đường thủy: Tây Ninh có mạng lưới sông rạch phân bố đều khắp với hai hệ thống sông lớn : Vàm Cỏ Đông và Sài Gòn với diện tích lưu vực lớn, lượng nước dồi dào… Toàn tỉnh có tổng chiều dài kênh rạch là 617 km, với hai hệ thống chính:
Sông Vàm Cỏ Đông chảy qua địa bàn tỉnh có điểm đầu là ranh giới với Campuchia, điểm cuối là ranh giới với tỉnh Long An, chiều dài trên địa bàn tỉnh là 151 km. Trên sông Vàm Cỏ đã hình thành nên cảng Bến Kéo với năng lực thiết kế không quá 100000 tấn/ năm, khả năng tiếp nhận tàu từ 200 đến 2015 tấn neo cập; mới đây nhất là cảng Fico Tây Ninh đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện.
Sông Sài Gòn có điểm xuất phát là hồ Dầu Tiếng và điểm kết thúc là xã Lộc Hưng (huyện Trảng Bàng), với chiều dài đoạn qua tỉnh là 135 km. Tuyến này vừa có thể phục vụ trực tiếp cho giao thông vận tải, vừa có thể phục vụ cho du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái ở khu vực hồ Dầu Tiếng.
Ngoài ra tỉnh cũng có nhiều kênh rạch phù hợp cho các phương tiện nhỏ từ 5- 10 tấn, với chiều dài 202 km. Nhìn chung hệ thống đường thủy của Tây Ninh rất thuận lợi cho việc vận chuyển trong và ngoài tỉnh.
2.1.4.2. Hệ thống thông tin liên lạc
Trong những năm vừa qua, hệ thống thông tin liên lạc đã có những bước tiến bộ vượt bậc, về cơ bản đã đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các ngành kinh tế – xã hội, thúc đẩy nhanh quá trình hội nhập với khu vực và thế giới. Hiện mạng điện thoại di động đã được phủ sóng trên địa bàn toàn tỉnh . Hiện nay hầu như các mạng điện thoại di động lớn trên cả nước đều đã có mặt ở Tây Ninh với mức độ sóng có thể sử dụng tốt cho cả những khu vực biên giới.
Các dịch vụ về bưu chính viễn thông ngày càng đa dạng, số lượng bưu cục, dung lượng của tổng đài, số máy điện thoại ngày càng tăng nhanh,tỷ lệ số máy điện thoại /1000 dân năm 2016: 44; năm 2017: 54; năm 2018: 77; năm 2019: 100 và số máy lũy kế đến 31/12/2019 là 105.000 máy; năm 2020 đạt tỷ lệ 177 máy/1000 dân ;đến năm 2025 đạt tỷ lệ 350 máy trên 1000 dân. Hiện nay khi mà công nghệ thông tin ngày càng bùng nổ, trên địa bàn Tây Ninh sẽ có một số lượng lớn điện thoại di động được sử dụng trong dân chúng chưa thể thống kê được, ước tính con số này lớn hơn số liệu thống kê được rất nhiều. Mạng viễn thông ngày càng được bố trí hợp lý hơn, chất lượng dịch vụ ngày càng tốt hơn, đặc biệt là tốc độ truy cập Internet, tốc độ truyền số liệu ngày càng được cải tiến, phục vụ đầy đủ, kịp thời cho mọi nhu cầu sinh hoạt và phục vụ cho các khu công nghiệp, khu kinh tế cửa khẩu và các khu du lịch. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 100% xã, phường, thị trấn đã có bưu điện hoặc bưu cục. Các dịch vụ thông tin hiện đại như máy Fax, chuyển tiền nhanh, chuyển phát nhanh EMS, truyền hình số, Internet… đáp ứng tốt hơn nhu cầu thông tin liên lạc phục vụ đời sống. Hiện nay nhu cầu liên lạc giữa Tây Ninh với các vùng trong cả nước và quốc tế được đáp ứng một cách dễ dàng và nhanh chóng, đặc biệt phục vụ cho hoạt động du lịch, thông tin liên lạc giữa các điểm, tuyến và các khu du lịch hết sức thuận lợi. Đây là tiền đề quan trọng trong liên lạc trao đổi, cung cấp và tìm kiếm thông tin du lịch hữu ích.
2.1.4.3. Hệ thống cung cấp điện- nước sạch
Hệ thống cấp điện: Hiện tại Tây Ninh được cung cấp điện từ Nhà máy thủy điện Thác Mơ qua đường dây 110 KV Thác Mơ – Tây Ninh và được kết nối với trạm 210/110 KV Hóc Môn qua đường dây 110 KV Hóc Môn – Củ Chi – Trảng Bàng (Tây Ninh). Hệ thống trạm biến áp chính của Tây Ninh bao gồm:
- Trạm 110 KV Trảng Bàng cung cấp điện cho các huyện Trảng Bàng ,Gò Dầu, Bến Cầu.
- Trạm 110 KV Trà Phí (Tây Ninh) có nhiệm vụ cung cấp điện cho khu vực thị xã Tây Ninh, huyện Hòa Thành, Dương Minh Châu và Châu Thành.
- Trạm 110 KV Tân Hưng có nhiệm vụ cung cấp điện cho 02 huyện Tân Biên và Tân Châu và hỗ trợ cho việc cấp điện cho thị xã Tây Ninh.
Hiện 100% các xã (trên 90% hộ dân) thuộc tỉnh đã có điện lưới quốc gia với cơ sở hạ tầng của ngành điện tương đối tốt, vừa phục vụ cho sản xuất vừa phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày của người dân.
Hệ thống cấp nước: Hiện nay, hệ thống cấp nước cho sinh hoạt của Tây Ninh sử dụng 2 nguồn nước chính:
Nước mặt của hồ Dầu Tiếng được đưa về nhà máy nước Tây Ninh ở thị xã Tây Ninh với công suất 7.000 m3/ngày đêm
Nước ngầm được khai thác ở các trạm cấp nước Hoà Thành, Gò Dầu, Trảng Bàng, Bến Cầu để cung cấp cho các khu vực đô thị lân cận với tổng công suất các trạm là 6.300 m3/ngày đêm.
Hiện nay tỉ lệ sử dụng nước sạch của Tây Ninh còn khá thấp, theo ước tính của ngành nước số hộ dân sử dụng nước sạch của Tây Ninh chiếm chưa đến 50% số hộ, tập trung chủ yếu ở huyện Hòa Thành và thị xã Tây Ninh và khu vực thị trấn của các huyện, khu vực nông thôn phần lớn sử dụng nước giếng đào.
Phương hướng đầu tư phát triển hệ thống cấp nước của tỉnh năm 2025 và đến năm 2035 là tập trung nâng cấp các nhà máy nước hiện tại và đầu tư xây dựng mới các nhà máy nước để phục vụ các trung tâm đô thị, các khu kinh tế trọng điểm của tỉnh như Khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài, Khu kinh tế cửa khẩu Xa Mát. Định hướng chính tập trung vào:
Đầu tư nâng cấp năng lực nhà máy nước Tây Ninh với công suất thiết kế năm 2025 là 18.000 m3/ngày đêm và đến năm 2035 là 30.000 m3/ngày đêm. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Đầu tư nâng cấp năng lực nhà máy nước Hoà Thành, Gò Dầu, Trảng Bàng, Bến cầu (phục vụ thị trấn Bến Cầu và Khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài với tổng công suất năm 2025 là 42.000 m3/ngày đêm và đến năm 2035 là 90.000 m3/ngày đêm)
Đầu tư xây dựng các nhà máy nước Châu Thành, Tân Biên, Tân Châu, Dương Minh Châu với tổng công suất năm 2025 là 5.000 m3/ngày đêm và đến năm 2035 là 10.000 m3/ngày đêm
Đầu tư xây dựng nhà máy nước Khu kinh tế cửa khẩu Xa Mát có công suất năm 2025 là 6.000 m3/ngày đêm và đến năm 2035 là 11.000 m3/ngày đêm;
Hệ thống thoát nước và xử lý rác thải, vệ sinh môi trường: Hai công trình thủy lợi quan trọng trên địa bàn tỉnh là hệ thống thủy lợi Dầu Tiếng và Tân Hưng .
Hồ Dầu Tiếng diện tích 27.000 ha, dung tích 1,5 tỷ m3 nước được thiết kế tưới tiêu chủ động gồm hai hệ thống kênh chính: kênh Đông, kênh Tây và hệ thống tưới tiêu cấp I, II, III, IV và kênh nội đồng, có khả năng tưới tiêu cho 185.700 ha đất nông nghiệp, trong đó tưới tự chảy được 47.000 ha cây trồng các loại của tỉnh và tưới cho khoảng 20.000 ha của huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, nguồn nước Hồ Dầu Tiếng còn phục vụ cho các nhà máy đường, nhà máy chế biến mì, phục vụ cho nhà máy nước sinh hoạt của tỉnh.
Hệ thống thủy lợi Tân Hưng với 246 kênh tưới (tổng chiều dài 213 km), có 1.912 công trình trên kênh đảm bảo tưới cho khoảng 11.000 ha đất ở phía Tây của tỉnh.
Cùng với hệ thống thủy lợi, hiện nay tỉnh cũng đang tích cực đầu tư hệ thống xử lý nước thải ở các điểm dân cư, các khu công nghiệp, các điểm dịch vụ du lịch… nhằm đảm bảo việc xử lý nguồn nước thải đạt tiêu chuẩn cho phép trước khi xả thải ra môi trường.
Hệ thống thuỷ lợi đã có tác động tích cực đến sản xuất nông nghiệp của Tây Ninh và các tỉnh trong vùng trong nhiều năm qua, tạo điều kiện hình thành các vùng chuyên canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi và tăng năng suất cây trồng. Hiện nay tỉnh đang tiến hành kiên cố hóa hệ thống kênh mương để đảm bảo năng lực tưới tiêu của hệ thống kết hợp với phát triển hệ thống kênh nội đồng, nhằm tận dụng tối đa công năng của hệ thống thuỷ lợi hồ Dầu Tiếng. Ngoài phục vụ sản xuất nông nghiệp, các công trình thủy lợi còn cung cấp nước phục vụ cho nhiều ngành kinh tế, trong đó có du lịch, đảm bảo nhu cầu sinh hoạt và vui chơi giải trí của du khách. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
2.1.4.4. Các công trình phục vụ công cộng khác
- Hệ thống ngân hàng- bảo hiểm- dịch vụ
Ngoài các hệ thống ngân hàng thương mại của nhà nước đang phát triển rộng khắp, còn có sự tham gia của các ngân hàng cổ phần, Quỹ Hỗ trợ phát triển,Quỹ đầu tư phát triển ,Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp nhà nước, ngân hàng chính sách ,các quỹ tín dụng nhân dân cạnh tranh lành mạnh, phục vụ ngày càng tốt hơn nhu cầu về vốn cho sản xuất, kinh doanh của các nhà đầu tư, thủ tục luôn được cải tiến đơn giản, các dịch vụ tiện ích ngày càng phong phú hơn. Du khách đến với Tây Ninh có thể dễ dàng tiếp cận với các dịch vụ đa dạng của hệ thống các ngân hàng trên địa bàn tỉnh.
Các công ty bảo hiểm hoạt động mạnh ở Tây Ninh, dịch vụ bảo hiểm đã trở nên phổ biến, loại hình bảo hiểm đa dạng, góp phần tạo ra môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho các nhà đầu tư. Ngoài ra, các dịch vụ khác như: dịch vụ pháp lý, dịch vụ hành chính công, dạy nghề, giới thiệu việc làm, công chứng nhà nước…. cũng phát triển mạnh.
- Mạng lưới y tế
Mạng lưới y tế được hình thành theo hướng chăm sóc sức khỏe ban đầu ngay tại cơ sở. Ngoài Bệnh viện Ða Khoa tỉnh, các Trung tâm y tế huyện, thị, xã còn có các phòng khám khu vực, trạm y tế và các phòng khám do tư nhân đảm nhiệm hoạt động thường xuyên.
Tỉnh hiện có 12 bệnh viện với hơn 1.200 giường bệnh, 86 trạm y tế xã phường. Khoảng 2.000 dân có một bác sĩ. Trang thiết bị y tế, cơ sở vật chất điều trị đã được đầu tư để nâng cao hiệu quả khám, chữa bệnh. Hiện nay tỉnh đang thực hiện chủ trương xã hội hóa y tế của Trung ương.
- Mạng lưới trường học
Mạng lưới trường học của tỉnh được hoàn thiện dần từ các cấp nhà trẻ, mẫu giáo đến hệ thống các trường cao đẳng và trung cấp nghề, hiện tỉnh chưa có trường đại học. Nhìn chung ở khu vực đô thị mật độ trường học khá cao, đáp ứng được nhu cầu giáo dục cho xã hội, trong khi ở các vùng nông thôn còn thiếu các cơ sở giáo dục cho trẻ em như các nhà trẻ, mẫu giáo.
- Khu văn hóa- thể thao
Tây Ninh hiện nay, hầu hết tất cả các xã đều đã và đang được đầu tư xây dựng các nhà văn hóa, các khu vui chơi thể thao và học tập cộng đồng. Điều này góp phần tạo ra sân chơi lành mạnh cho thanh niên cũng như góp phần nâng cao trình độ văn hóa cho người dân. Đây là một trong những cách giáo dục cho thế hệ trẻ lòng mến khách, thái độ ứng xử văn minh lịch sự.
Nhìn chung Tây Ninh có hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho mục đích phát triển kinh tế, xã hội, trong đó có du lịch khá đa dạng. Từ hệ thống GTVT, TTLL đến hệ thống cung cấp điện, nước sạch…nhìn chung ngày càng được đầu tư, hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế của tỉnh trong bối cảnh cả nước ngày càng hội nhập vào nền kinh tế thế giới và khu vực.
2.1.5. Đánh giá chung về tiềm năng du lịch Tây Ninh Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
2.1.5.1. Những lợi thế
Tài nguyên du lịch Tây Ninh khá phong phú, đậm nét lịch sử, văn hóa, nghệ thuật trải đều trên toàn tỉnh:
- Tây Ninh là tỉnh có địa hình chuyển tiếp, vừa có đồng bằng vừa có núi non với phong cảnh tự nhiên hấp dẫn và nhiều di tích được Bộ Văn Hóa (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) công nhận và xếp hạng.
- Tài nguyên sinh vật khá phong phú với nhiều loại tạo nên sự đa dạng sinh học hấp dẫn, đặc biệt tại vườn quốc gia Lò Gò- Xa Mát, nơi đang bảo tồn được nhiều hệ sinh thái quý hiếm của Việt Nam.
- Khí hậu chịu ảnh hưởng của hai mùa gió: gió mùa Tây Nam và gió mùa Đông Bắc. Gió Tây Nam mát và ẩm gây mưa, còn gió Đông Bắc có độ ẩm không lớn nhưng không tạo ra rét tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển loại hình du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch tham quan hành hương, du lịch về nguồn…
- Tài nguyên nước khá phong phú, đảm bảo cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt, trong đó có nhu cầu du lịch
- Là tỉnh có 240 km đường biên giới với Campuchia với 2 cửa khẩu quốc tế và hàng chục cửa khẩu tiểu ngạch, thuận lợi cho phát triển kinh tế, phát triển du lịch, giao lưu trao đổi và thông thương giữa hai nước. Các cửa khẩu ở Tây Ninh là cửa ngõ quan trọng để tỉnh mở rộng thị trường du lịch, khuyến khích phát triển hình thức du lịch caravan. Hiện nay chính phủ cũng đã áp dụng chính sách khu kinh tế cửa khẩu, phát triển kinh tế biên giới, tạo điều kiện hội nhập khu vực và quốc tế.
- Hệ thống giao thông đường bộ và một phần đường thủy của tỉnh đều đi qua các điểm du lịch, tạo điều kiện thuận lợi rất lớn cho sự phát triển du lịch của tỉnh.
- Các dịp lễ, tết đều kết hợp với các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao thu hút sự tham gia rất lớn của du khách như Lễ hội Bà Đen ở khu DT LSVH núi Bà Đen, Hội Yến Diêu Trì Cung ở Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh đã trở thành sinh hoạt văn hóa không thể thiếu cho người dân khu vực phía nam.
- Tây Ninh còn có một tiềm năng lợi thế khác mà không phải địa phương nào cũng có được, đó là các di tích lịch sử cách mạng như Căn cứ Trung ương Cục Miền Nam, Căn cứ Mặt trận dân tộc, di tích Ban An ninh Miền… Đây vốn là những cơ quan đầu não của cách mạng miền nam, sẽ là một tiềm năng rất lớn cho các hoạt động du lịch về nguồn thăm lại chiến trường xưa.
- Các dịch vụ khác như bưu chính viễn thông, cấp điện, cấp nước, y tế, giáo dục… đều khá tốt, có đủ khả năng đáp ứng nhu cầu của khách du lịch.
2.1.5.2. Những tồn tại
Điều kiện tự nhiên Tây Ninh có một mùa khô kéo dài gây khó khăn cho các hoạt động du lịch, đặc biệt là các loại hình du lịch sinh thái gắn với sông nước. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Danh lam thắng cảnh ở Tây Ninh còn ít, kỹ năng quản lý, hội nhập du lịch Đông Nam Á chưa cao, thiếu hệ thống các nhà hàng khách sạn đạt tiêu chuẩn cao, trình độ và năng lực của đội ngũ hướng dẫn viên trong điều hành tour còn hạn chế, nhận thức về phát triển du lịch chưa đồng đều, hoạt động du lịch còn chưa chuyên nghiệp.
Các khu di tích, văn hóa thu hút đông du khách hình thành nhiều tụ điểm dịch vụ tự phát, việc quản lý theo quy hoạch còn hạn chế, cần có định hướng và chấn chỉnh từng bước. Các thành phần kinh tế tham gia hoạt động du lịch nhiều nhưng phần đông tập trung ở lĩnh vực dịch vụ ăn uống, lưu trú, thiếu đầu tư công trình theo quy hoạch.
Mạng lưới giao thông thuận tiện nhưng chất lượng chưa cao. Giao thông vận tải đường bộ phát triển nhưng chưa đồng bộ, chưa được hiện đại hóa nhất là giao thông nông thôn. Giao thông vận tải đường sông chưa được quan tâm đầu tư đúng mức cũng là một trở ngại cho phát triển du lịch.
2.1.5.3. Thời cơ và thách thức cho du lịch Tây Ninh
Thời cơ: Bước vào những thập niên đầu tiên của thế kỉ XXI, khi mà Việt Nam gia nhập WTO cũng như nhiều tổ chức khu vực và quốc tế khác đã kích thích sự giao lưu giữa nước ta và các nước trên thế giới. Mặt khác hiện nay Việt Nam đã là thành viên của nhiều tổ chức du lịch thế giới, điều đó càng thúc đẩy sự phát triển du lịch trong nước và quốc tế. Bên cạnh đó, xu hướng phát triển du lịch thế giới và Việt Nam đang có nhiều thuận lợi để thúc đẩy sự phát triển du lịch, và du lịch Tây Ninh cũng hưởng lợi không nhỏ từ xu thế trên.
Trước hết vị trí địa lý của Tây Ninh có những lợi thế so sánh so với các tỉnh trong khu vực Đông Nam Bộ, đó là: Nằm ở vùng kinh tế năng động và phát triển nhất của Việt Nam; Tiếp giáp Thành phố Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế khu vực phía nam; nằm trong tuyến đường xuyên Á Phnom Penh – Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là những điều kiện thuận lợi cho Tây Ninh trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế.
Trong bối cảnh cả nước hiện nay có nhiều di tích văn hóa- lịch sử, lễ hội được UNESCO công nhận đã thu hút một lượng lớn du khách quốc tế đến Việt Nam. Tây Ninh tuy tiềm năng du lịch không nhiều nhưng khá độc đáo và có giá trị lớn như Khu du lịch núi Bà Đen với một trong những lễ hội lớn nhất Việt Nam; hồ Dầu Tiếng; Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát; Toà thánh Cao Đài; di tích Trung ương Cục Miền Nam… Điều này càng tạo điều kiện thuận lợi để Tây Ninh có thể phát triển các loại hình du lịch sinh thái, văn hoá, tâm linh tín ngưỡng…
Thách thức: Du lịch Tây Ninh đi lên từ xuất phát điểm rất thấp nhưng lại ít được tiếp nhận sự hỗ trợ của Chính phủ, các cơ quan quản lý nhà nước cấp trên.
Chất lượng dịch vụ, chất lượng các sản phẩm du lịch còn thấp do chưa có chiến lược đầu tư đồng bộ và hiệu quả. Hình ảnh đặc trưng, nổi trội cho sản phẩm của du lịch Tây Ninh chưa được khai thác và phát huy có hiệu quả, một số sản phẩm du lịch truyền thống thiếu sức cạnh tranh do chưa nâng cao chất lượng dịch vụ, quản lý chất lượng dịch vụ, quản lý kinh doanh bất cập, làm giảm sức thu hút du lịch, đầu tư so với một số địa phương trong vùng và cả nước.
Công tác xây dựng chiến lược phát triển du lịch và quản lý phát triển du lịch thông qua hệ thống quy hoạch du lịch từ tổng thể đến chi tiết còn thiếu đồng bộ và thiếu sự liên hệ chặt chẽ, bất cập, chồng chéo, thiếu sự phối hợp giữa các ngành trong quy hoạch phát triển du lịch, quy hoạch phát triển ngành, phát triển lãnh thổ ở tỉnh nên gây ra sự phát triển lệch hướng tại một số điểm du lịch dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Nền kinh tế đang phát triển tích cực nhưng chưa đồng bộ và tiềm ẩn những dấu hiệu thiếu bền vững, năng lực cạnh tranh còn yếu, chậm phát huy các tiềm năng, thế mạnh, khả năng hội nhập chưa cao.
Công tác quy hoạch còn chậm, chất lượng chưa cao, định hướng quy hoạch nhiều mặt chưa rõ, tầm nhìn chưa đủ dài nên chỉ sau thời gian ngắn đã lạc hậu, thiếu gắn kết giữa các quy hoạch. Quản lý nhà nước về quy hoạch, phát triển đô thị còn nhiều yếu kém.
Huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển còn khó khăn. Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xã hội chưa cao. Môi trường đầu tư vẫn còn nhiều vướng mắc, thu hút đầu tư còn yếu so với nhiều địa phương trong cả nước, nhất là nguồn lực đầu tư nước ngoài. Nguồn nhân lực thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, thiếu lao động lành nghề nhất là các chuyên gia đầu ngành và năng lực cán bộ một số cấp, ngành, lĩnh vực còn yếu, nhất là cấp cơ sở, thiếu năng động nhạy bén và sáng tạo trong tổ chức thực hiện, chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trình độ dân trí phát triển chưa đồng đều đã làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng phục vụ tại các khu điểm du lịch.
Hoạt động du lịch mang tính mùa vụ cao, yếu tố khí hậu bất thường như dông bão, lũ lụt… làm ảnh hưởng đến hoạt động du lịch.
Những tồn tại và khó khăn nêu trên đang trở thành những thách thức đối với ngành du lịch Tây Ninh. Vì lẽ đó, Tây Ninh cần có chủ trương, chính sách tạo điều kiện tập trung khai thác có hiệu quả các tài nguyên du lịch nhằm phát triển du lịch trở thành động lực phát triển kinh tế xã hội của tỉnh tương xứng với tiềm năng du lịch của tỉnh.
2.2. Hiện trạng phát triển Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
2.2.1. Lượng khách và nguồn khách
Trong những năm qua cùng với sự phát triển chung của ngành du lịch cả nước, du lịch Tây Ninh có những bước phát triển mạnh mẽ, trở thành một ngành kinh tế quan trọng của tỉnh với nhiều hoạt động phong phú, thu hút không chỉ khách du lịch nội địa mà còn cả khách du lịch quốc tế đến với mảnh đất Tây Ninh nhiều danh thắng và giàu truyền thống cách mạng.
Năm 2015 Tây Ninh đón 953.473 lượt khách, trong đó có 1.165 lượt khách quốc tế; Năm 2022 Tây Ninh đón 1.710.034 lượt khách, trong đó có 2.542 lượt khách quốc tế. Năm 2025 tổng số khách du lịch đến Tây Ninh là 2.955.500 lượt, trong đó khách lưu trú quốc tế là 3.375 lượt. Giai đoạn 2015 – 2025 các chỉ tiêu về khách du lịch Tây Ninh tiếp tục tăng trưởng. Tuy nhiên, tốc độ giảm hơn so với giai đoạn 2011 – 2015, chỉ tiêu tổng số khách tăng trưởng bình quân 11,97%/năm; chỉ tiêu khách quốc tế tăng 11,3%/năm; chỉ tiêu khách nội địa tăng 36,97%/năm, khách tham quan Khu DT LS VH núi Bà Đen tăng 8,27%/năm.
Bảng 2.6. Cơ cấu và số lượng khách du lịch đến Tây Ninh giai đoạn 2015- 2025
Đơn vị: lượt khách
| Năm | 2015 | 2017 | 2019 | 2021 | 2023 | 2025 |
| Tổng số | 953.473 | 1.229.952 | 1.407.320 | 1.939.479 | 2.292.319 | 2.955.500 |
| Khách quốc tế | 1.165 | 2.511 | 3.409 | 1.942 | 3.226 | 3.375 |
| Khách nội địa | 952.308 | 1.227.441 | 1.403.911 | 1.937.537 | 2.289.093 | 2.952.125 |
Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và du lịch Tây Ninh, năm 2026
Hình 2.1. Biểu đồ thể hiện cơ cấu và số lượng khách du lịch đến Tây Ninh giai đoạn 2015- 2025
2.2.1.1. Khách du lịch quốc tế Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Trong cơ cấu khách du lịch Tây Ninh (phân theo khách quốc tế và khách nội địa), khách quốc tế chiếm tỷ lệ rất nhỏ không đáng kể, năm 2025 mới đạt 0,11%. Khách tham quan Khu DT LSVH núi Bà Đen là bộ phận chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng số khách, năm 2025 đạt 68,34%.
Khách du lịch quốc tế của Tây Ninh chiếm tỷ trọng nhỏ bé trong tổng số khách du lịch đến Tây Ninh. Trong giai đoạn 2015 – 2025 ta có thể nhận thấy lượng khách du lịch quốc tế đến Tây Ninh biến động không ổn định và xu hướng chính là xu hướng suy giảm. Đặc biệt trong năm 2021, tốc độ tăng trưởng giảm rất mạnh, đến -32,2%.
Tốc độ tăng trưởng tăng năm sau nhỏ hơn năm trước và chỉ bắt đầu hồi phục vào năm 2022 nhưng cũng không ổn định. Tốc độ tăng trưởng của năm 2016 rất cao đạt 63,95% song từ năm 2017 giảm xuống chỉ còn hơn 30% và giai đoạn từ 2018 – 2025 thể hiện sự biến động trồi sụt giữa hai thái cực: Suy giảm với tốc độ âm vào các năm 2018, 2020, 2021 và tăng trưởng với tốc độ rất cao vào các năm 2019, 2022, 2023, 2025 (đều đạt hơn 30%).
Nguyên nhân của tình trạng này một phần do hai nguyên nhân chính sau :
- Tiềm năng du lịch của Tây Ninh chưa thực sự có giá trị độc đáo hấp dẫn khách du lịch quốc tế.
- Chưa khai thác được tiềm năng từ thị trường Campuchia thông qua 2 cửa khẩu quốc tế Mộc Bài và Xa Mát.
Trên thực tế, con số khách nước ngoài lớn hơn nhiều so với con số thống kê trên: chẳng hạn theo như bản thân tác giả đi khảo sát và hỏi ý kiến của những người hàng ngày có mặt tại Tòa Thánh Cao Đài thì hàng ngày có hàng trăm khách đến đây, tính sơ qua thì chỉ riêng địa điểm này đã thu hút đến vài chục ngàn lượt khách du lịch quốc tế đến Tây Ninh, bên cạnh đó còn có khách đến khu du lịch núi Bà Đen… Điều này cho thấy công tác thống kê của tỉnh còn nhiều bất cập phải giải quyết. Tuy nhiên, tác giả nhận thấy cần thiết phải lấy số liệu từ những nguồn chính thống được phép sử dụng như Cục thống kê tỉnh; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch… để những số liệu được xử lí đồng bộ.
Có thể nói rằng khách du lịch quốc tế đến Tây Ninh là xuất phát từ điều kiện tự nhiên chứ không phải do công tác marketing của tỉnh tác động cho nên lượng khách tăng giảm một cách không theo qui luật.
Tóm lại, khách du lịch quốc đến Tây Ninh còn chưa nhiều, thị trường này chưa được tỉnh chú trọng đầu tư đúng mức, mặc dù nơi đây có tiềm năng phát triển nhiều loại hình du lịch để thu hút khách như du lịch tâm linh, du lịch tham quan các di tích lịch sử văn hóa, du lịch về nguồn.
Xét về yếu tố cơ cấu khách du lịch quốc tế đến Tây Ninh, ta thấy cơ cấu nguồn khách phân bố khá đều
Bảng 2.7. Cơ cấu nguồn khách du lịch quốc tế đến Tây Ninh năm 2024
| Thị trường khách du lịch quốc tế | Cơ cấu (%) |
| Châu Á | 36,3 |
| Châu Âu | 20,6 |
| Châu Mỹ | 16,2 |
| Châu Úc | 12,6 |
| Khác | 14,3 |
Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tây Ninh, năm 2025
Tại Tây Ninh từ trước đến giờ chưa có số liệu chính thức theo quốc gia mà chỉ theo khu vực như bảng 2.10 trên. Ở đây ta thấy cơ cấu khách khá đồng đều và đa dạng. Khách quốc tế châu Á chủ yếu đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Trung Quốc, còn khách Campuchia chủ yếu qua các cửa khẩu Mộc Bài, Xa Mát. Khách châu Âu chủ yếu là từ Anh, Pháp, Mỹ.
- Khách quốc tế từ thị trường Campuchia Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Như đã biết Tây Ninh có khoảng 240 km đường biên giới với Campuchia, lại có 2 cửa khẩu quốc tế là Mộc Bài và Xa Mát, năm 2025 đón hàng triệu lượt khách. Tuy nhiên hiện nay lượng khách này chỉ thuần túy là khách nhập cảnh vào Việt Nam qua đường Tây Ninh, chỉ có một tỷ lệ nhỏ không đáng kể sử dụng các loại hình dịch vụ du lịch ở Tây Ninh (là khách du lịch quốc tế của Tây Ninh). Nguyên nhân của tình trạng này do 2 yếu tố :
Nguyên nhân khách quan: do Tây Ninh gần với Thành phố Hồ Chí Minh, lại có hệ thống đường giao thông thuận lợi, chất lượng tốt do đó khách du lịch quốc tế qua các cửa khẩu Mộc Bài và Xa Mát hầu như không nghỉ lại ở Tây Ninh mà đi thẳng về Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguyên nhân chủ quan: các điểm du lịch và dịch vụ của Tây Ninh còn đơn điệu, do đó chưa thu hút được lượng khách quốc tế nói trên.
Bảng 2.8. Số lượng khách xuất nhập cảnh qua các cửa khẩu biên giới Tây Ninh giai đoạn 2017- 2025
| Năm | 2017 | 2019 | 2021 | 2023 | 2025 |
| Tổng số | 299.550 | 288.785 | 902.747 | 2.104.136 | 2.652.861 |
| Khách xuất cảnh | 138.993 | 160.789 | 443.057 | 1.058.315 | 1.339.426 |
| Khách nhập cảnh | 160.617 | 127.996 | 459.690 | 1.045.821 | 1.313.435 |
Qua bảng số liệu trên cho thấy từ năm 2023, mỗi năm Tây Ninh đón hơn 2 triệu lượt khách nhập cảnh qua các cửa khẩu biên giới. Trong đó phần lớn là khách từ Campuchia, tuy nhiên chỉ có một số ít trong tổng số trên là khách du lịch quốc tế, còn lại phần lớn số khách này chỉ nhập cảnh vào Việt Nam để đến các tỉnh thành khác (nhiều nhất là thành phố Hồ Chí Minh) thông qua các cửa khẩu của Tây Ninh.
2.2.1.2. Khách du lịch nội địa
Khách du lịch nội địa đến Tây Ninh từ khắp mọi miền đất nước nhưng chủ yếu là khu vực Đông Nam Bộ và đồng bằng Sông Cửu Long với số lượng tăng dần theo từng năm. Năm 2015, số khách đến Tây Ninh là 952.308 lượt, năm 2020 là 1.478.458 lượt và đến năm 2025 là 2.952.125 lượt. Tốc độ tăng trung bình giai đoạn 2015- 2020 là 7,6 % , tính chung cả giai đoạn 2015- 2025 là 10,8 %. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Khách du lịch đến Tây Ninh năm sau luôn cao hơn năm trước, kéo theo đó doanh thu du lịch cũng tăng lên. Tuy nhiên doanh thu du lịch trực tiếp do các doanh nghiệp du lịch phục vụ tăng chưa tương xứng với tiềm năng du lịch của tỉnh vì lượng khách đến Tây Ninh chủ yếu vì nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng chỉ đến tập trung vào mùa lễ hội vía Bà Đen, Hội Xuân Núi Bà hàng năm chứ không phải vì nhu cầu tham quan thật sự. Nguyên nhân do ảnh hưởng của việc đầu tư phát triển CSHT tại các điểm du lịch, các loại hình vui chơi giải trí để giữ chân du khách chưa có gì đặc sắc nên chưa tạo được sức hút du khách lâu hơn cũng như du khách chưa chi tiêu nhiều hơn.
Du khách nội địa đến Tây Ninh giai đoạn 2015- 2025 phát triển mạnh mẽ song Tây Ninh do đơn điệu về sản phẩm dịch vụ, đồng thời không phải là điểm đến nổi tiếng ở Việt Nam do đó khách du lịch tăng trưởng chưa đều. Tuy nhiên đến những năm 2023, 2024 do ảnh hưởng của những khó khăn bởi cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới nên cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến khách nội địa của Tây Ninh nhưng xu hướng tăng trưởng dương vẫn giữ vai trò chủ đạo trong những năm gần đây.
2.2.2. Doanh thu
Nhìn vào bảng trên ta thấy doanh thu từ hoạt động kinh doanh du lịch của tỉnh Tây Ninh đều tăng theo các năm. Doanh thu du lịch của tỉnh năm 2015 đạt 63,69 tỉ đồng; năm 2022 đạt 1.047,5 tỉ đồng; và đến năm 2025 đạt 2.660.tỉ đồng. Tỷ lệ tăng trung bình giai đoạn 2015- 2025 là 40,39 %. Từ năm 2018 Tây Ninh bắt đầu đưa vào sử dụng hệ thống cáp treo tại núi Bà Đen, điều này góp phần đáng kể tăng doanh thu du lịch của tỉnh trong giai đoạn sau này.
Hình 2.2. Biểu đồ thể hiện GDP và GDP du lịch của Tây Ninh giai đoạn 2015- 2025
- Tỷ trọng của GDP du lịch trong GDP tỉnh Tây Ninh
GDP du lịch của Tây Ninh qua các năm đều tăng đáng kể, từ 63,69 tỷ đồng (năm 2015) lên 2660 tỷ đồng (năm 2025). Cùng với sự tăng lên đáng kể của GDP du lịch thì tỷ trọng của ngành này cũng có những thay đổi lớn, trong đó xu thế tăng lên là chủ yếu, năm 2015, tỷ trọng trong GDP chỉ chiếm 1,58%, đến năm 2025 con số này tăng lên là 10,55%.
Hình 2.3. Biểu đồ thể hiện tỷ trọng GDP du lịch so với tổng GDP của tỉnh Tây Ninh giai đoạn 2015- 2025
Bảng 2.9. GDP và tỷ trọng GDP du lịch của Tây Ninh giai đoạn 2015- 2025
| Năm | 2015 | 2017 | 2018 | 2019 | 2021 | 2022 | 2024 | 2025 |
| GDP cả tỉnh (tỉ đồng) | 4031 | 5189 | 6232 | 7935 | 12645 | 13110 | 22388 | 25213 |
| GDP du lịch (tỉ đồng) | 63,69 | 433,30 | 428,17 | 422,96 | 800,44 | 1047,5 | 2315 | 2660 |
| Tỉ trọng trong GDP (%) | 1,58 | 8,35 | 6,87 | 5,33 | 6,33 | 7,99 | 10,34 | 10,55 |
Như vậy, tỉ trọng GDP du lịch của Tây Ninh nhìn chung có xu hướng tăng qua các năm và đến năm 2025 chiếm tỉ trọng 10,55%. Nguyên nhân chủ yếu do doanh thu du lịch Tây Ninh đã tăng lên đáng kể trong những năm gần đây, đã làm cho tỉ trọng GDP du lịch tăng hơn so với Quy hoạch 2010. Đồng thời giai đoạn 2015 – 2025 (ngoại trừ năm 2023, 2024) là giai đoạn kinh tế Việt Nam có sự tăng.
Bản đồ 2.3. Hiện trạng tài nguyên và cơ sở hạ tầng du lịch tỉnh Tây Ninh
2.2.3. Cơ sở vật chất kĩ thuật Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
2.2.3.1. Cơ sở lưu trú
Tây Ninh, loại hình cơ sở lưu trú không phong phú, đa dạng, chủ yếu là loại hình khách sạn và nhà nghỉ. Tuy nhiên ý thức được tầm quan trọng của các cơ sở lưu trú trong kinh doanh du lịch nên trong những năm gần đây tỉnh cũng đã chú trọng đầu tư nâng cấp các cơ sở lưu trú trong toàn tỉnh nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho khách du lịch được nghỉ ngơi thoải mái khi đến du lịch ở đây.
Với số lượng giường tổng cộng có chất lượng tương đối là 726, chỉ có 2 khách sạn đạt tiêu chuẩn 2 sao, chưa có khách sạn nào đạt 3 sao trở lên thì chắc chắn trong tương lai không đủ đáp ứng nhu cầu về lưu trú cho cả khách nội địa thì nói chi đến khách quốc tế. Có thể nói phải còn một tương lai rất xa nữa thì Tây Ninh mới có thể là nơi dừng chân lâu ngày cho thị trường khách doanh nhân theo loại hình hội nghị, hội thảo….
Hình thức ở lại của khách du lịch là 69,2 % khách trọ tại các khách sạn từ 1-2 sao, 15,4 % khách trọ tại các nhà khách và 15,4% tại nhà dân. Một điểm yếu rất lớn của Tây Ninh là hiện nay tại tỉnh vẫn chưa có khách sạn từ 3 sao trở lên do quá gần với thành phố Hồ Chí Minh, khách đi du lịch theo tour thường đi trong ngày và về thành phố Hồ Chí Minh vào buổi tối.[28]
Các cơ sở lưu trú của Tây Ninh hiện nay được phân thành hai loại chính: Cơ sở lưu trú đạt hạng sao và các cơ sở lưu trú khác (chủ yếu là nhà trọ). Đa số các cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn chưa được phân loại và xếp hạng sao. Tổng cơ sở lưu trú trên địa bàn 89 cơ sở gồm 1.472 phòng.(Bảng phụ lục 3)
Cơ sở lưu trú được xếp hạng: Tây Ninh có 3 cơ sở gồm: 2 khách sạn đạt tiêu chuẩn 2 sao và 1 khách sạn đạt tiêu chuẩn 1 sao, tổng cộng 128 phòng.
Các cơ sở lưu trú khác: chủ yếu theo mô hình nhà nghỉ, nhà trọ kinh doanh theo mùa vụ (chủ yếu là vào dịp lễ hội tại Khu di tích LSVH núi Bà Đen và Toà thánh Cao Đài), các cơ sở này thực chất là nhà ở kết hợp khai thác kinh doanh lưu trú trong dịp lễ hội nhằm đáp ứng nhu cầu nghỉ trọ của khách tham quan.
Như vậy, so với số lượng khách lưu trú của Tây Ninh (theo thống kê của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch) thì số lượng phòng lưu trú (của các cơ sở lưu trú được xếp hạng) chỉ phần nào đáp ứng nhu cầu của khách lưu trú ở thời điểm hiện tại. Nếu Tây Ninh không đầu tư thêm nhiều cơ sở lưu trú đạt chuẩn thì với tốc độ tăng trưởng lượng khách lưu trú như hiện nay, trong thời gian sắp tới sẽ không thể đáp ứng được nhu cầu lưu trú cho du khách. Bên cạnh đó chất lượng các cơ sở lưu trú hiện nay của Tây Ninh còn thấp, trong giai đoạn tới cần được nâng cấp để đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch trong giai đoạn sau.
Bảng 2.10. Hiện trạng cơ sở lưu trú du lịch Tây Ninh giai đoạn 2015- 2025
2.2.3.2. Dịch vụ lữ hành Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Hiện nay trên toàn tỉnh Tây Ninh chỉ có 9 doanh nghiệp hoạt động du lịch với qui mô khá khiêm tốn.(Bảng phụ lục 2) Ngoài 2 doanh nghiệp có qui mô khá lớn là công ty Cổ phần Cáp treo Tây Ninh và công ty Cổ phần Du lịch – Thương mại Tây Ninh (quy mô lên tới vài chục người), các công ty còn lại qui mô nhỏ và hoạt động kinh doanh còn thiếu tính chuyên nghiệp, chưa có chiến lược phát triển rõ ràng mà nguyên nhân quan trọng nhất vẫn là do thiếu nguồn nhân lực có chuyên môn cao hay phù hợp. Công tác marketing vẫn chưa được chú ý, và họ chưa hiểu rõ tầm quan trọng của việc nghiên cứu nhu cầu và chăm sóc khách hàng. Họ vẫn còn rất thụ động trong việc tham gia tìm đối tác trong những dịp triễn lãm, hội chợ để quảng bá về doanh nghiệp mình. Chính vì những lí do này mà họ đã không phát huy hết được tiềm năng phát triển của doanh nghiệp cũng như du lịch của tỉnh nhà.
Ngoài ra, theo tìm hiểu của tác giả thì trong số khách du lịch đến Tây Ninh thì chỉ có 10,3% khách do các công ty lữ hành tại Tây Ninh dẫn đến, còn 89,7 % do các công ty từ thành phố Hồ Chí Minh mang lại. Điều này cũng khá dễ hiểu vì hiện tại Tây Ninh chỉ có một đơn vị kinh doanh du lịch quốc tế là công ty Cổ phần Du lịch – Thương mại Tây Ninh. Kết quả này cho thấy các doanh nghiệp tại Tây Ninh chưa thật sự đầu tư khai thác mảng thị trường khách du lịch quốc tế do nhiều nguyên nhân khác nhau mà nguyên nhân quan trọng nhất vẫn là nhận thức còn hạn chế và nguồn nhân lực hoạt động du lịch vừa yếu vừa thiếu.
2.2.3.3. Dịch vụ vận chuyển trong du lịch
Thị xã Tây Ninh cách trung tâm thành phố Hồ Chí Minh chưa tới 100 km và thành phố Vũng Tàu 200 km. Khách du lịch quốc tế đến Tây Ninh chủ yếu là theo tour đến từ thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Vũng Tàu mà chủ yếu là từ thành phố Hồ Chí Minh hoặc theo đường biên giới từ cửa khẩu Mộc Bài. Vì vậy, việc Tây Ninh không có sân bay để đón khách quốc tế cũng là điều không quan trọng lắm. Khách quốc tế từ thành phố Hồ Chí Minh thường đến tỉnh Tây Ninh theo đường xuyên Á, đường dễ đi, địa hình không phức tạp nên cũng rất thuận tiện.
Đối với khách không đi theo tour, họ có thể đến Tây Ninh bằng xe máy hoặc xe buýt. Do những điểm du lịch tại Tây Ninh khá gần nhau và nhu cầu về sử dụng các phương tiện vận chuyển cho hành khách cũng không cao nên dịch vụ vận chuyển tại Tây Ninh cũng đang ở giai đoạn được đầu tư bước đầu . Hiện nay hệ thống xe taxi, xe buýt ngày càng hoàn thiện hơn để đáp ứng nhu cầu di chuyển của du khách, đặc biệt trong mùa du lịch các hợp tác xã xe buýt thường tăng chuyến đến các khu du lịch để có thể đưa đón khách kịp thời. Khách du lịch nếu có nhu cầu thường di chuyển bằng xe ôm, xe buýt hoặc taxi nếu đi lẻ và xe nhiều chỗ ngồi nếu sử dụng dịch vụ của các công ty lữ hành.
Bản đồ 2.4. Thương mại- du lịch- dịch vụ Tây Ninh
2.2.3.4. Dịch vụ thương mại Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Ngoài cửa khẩu Mộc Bài có siêu thị miễn thuế GC bắt đầu hoạt động từ 15/12/ 2020, chợ đường biên ở khu C, khu thương mại Hiệp Thành thì gần thị xã Tây Ninh và các khu tham quan thiếu những trung tâm mua sắm và giải trí lớn. Trong cẩm nang giới thiệu về thị trường Tây Ninh, chỉ thấy liệt kê một số chợ như chợ Gò Dầu, Trảng Bàng, chợ cũ Tây Ninh, chợ Bình Thạnh, chợ Phường 3..và lớn nhất là chợ Long Hoa. Và rất tiếc là những chợ này nằm khắp tỉnh Tây Ninh dành cho hoạt động buôn bán thường ngày của dân bản xứ, có vị trí không thật sự thuận tiện cho khách từ các khu du lịch.
Trên thực tế khi đưa khách về thành phố Hồ Chí Minh, khách thường được nhà tổ chức tour cho dừng xe mua hàng dọc các chợ trên đường Xuyên Á, ví dụ Gò Dầu hay Long Hoa. Những chi tiết trên cho thấy rằng khách dù có nhu cầu mua sắm, giải trí nhưng không có nguồn cung. Đây rõ ràng là một thiệt hại rất lớn về phía tỉnh Tây Ninh, tức là tỉnh có khả năng đón tiếp nhiều khách quốc tế đến nhưng không có nơi bán hàng để có thể thu ngoại tệ của họ.
Thực tế cho thấy khách du lịch chủ yếu mua hàng ở chợ, ở các cửa hàng cửa hiệu, một phần từ những người bán hàng rong, và chỉ có một tỉ lệ nhỏ khách mua ở quầy lưu niệm tại các khu du lịch hoặc những địa điểm thường có khách du lịch. Lí do cũng dễ hiểu vì hàng hóa bán ở chợ giá thường rẻ hơn và chủng loại mặt hàng phong phú hơn, tuy chất lượng thường không đồng bộ và vệ sinh không bảo đảm. Có một điều cần lưu ý ở đây là các quầy lưu niệm chưa thật sự phát huy hiệu quả thế mạnh của mình về cơ hội được tiếp xúc khách du lịch do giá còn cao và chủng loại mặt hàng chưa phong phú, cách bày trí không thu hút, chưa bắt mắt. Vì vậy tác giả rút ra kết luận là muốn khách dốc thêm hầu bao của mình thì giá cả phải hợp lý, hàng hóa phải ấn tượng, giàu bản sắc địa phương và phải được đặt ở vị trí phù hợp lịch trình di chuyển của khách.
2.2.4. Lao động và sử dụng lao động du lịch
Với hơn 8000 lao động làm việc trong ngành du lịch Tây Ninh, con số này chỉ chiếm khoảng 1,33% trong tổng số lao động của Tây Ninh (khoảng 600.000 người, năm 2025). Như vậy có thể thấy lao động du lịch trong tổng số lao động của tỉnh khá nhỏ. Mặt khác, số lượng lao động trực tiếp trong ngành du lịch của Tây Ninh còn nhỏ hơn nữa. Đến năm 2022 tổng số lao động trong ngành là 373 người, đến năm 2024 là 451 người. Tốc độ tăng trưởng trung bình giai đoạn 2015 – 2022 đạt 8,70%/năm; giai đoạn 2015 – 2024 đạt 11%/năm. Nhưng số lao động gián tiếp khá đông đảo so với số lao động trực tiếp (năm 2024 gấp 16,88 lần). Số lao động du lịch ở Tây Ninh có tăng lên nhưng chất lượng nguồn lao động còn thấp, phần lớn chưa được đào tạo bài bản. Đây là một khó khăn không nhỏ trong quá trình phát triển du lịch của tỉnh trong thời gian sắp tới.
Bảng 2.11. Số lao động ngành du lịch Tây Ninh giai đoạn 2015- 2024
Đơn vị tính: người
| Năm | 2015 | 2017 | 2019 | 2021 | 2023 | 2024 |
| Số lao động trực tiếp | 208 | 247 | 309 | 356 | 410 | 451 |
| Số lao động gián tiếp | 1.980 | 2.681 | 4.075 | 5.674 | 6.922 | 7.615 |
Nhờ có hoạt động kinh doanh du lịch quốc tế nói riêng và du lịch nói chung, Tây Ninh đã giải quyết được việc làm cho một số lượng lớn người lao động tại tỉnh, góp phần giải quyết tình trạng dư thừa lao động, góp phần hạn chế được tệ nạn xã hội cho tỉnh cũng như tăng thu nhập cho người dân, giúp sức cho nhà nước trong việc nâng cao đời sống người dân.
2.2.5. Đầu tư phát triển du lịch Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Đầu tư cho du lịch là đầu tư cho phát triển, mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội và lợi ích về nhiều mặt. Hiện nay ngành du lịch đang nhận được sự quan tâm của tỉnh và toàn xã hội, nguồn vốn đầu tư cho du lịch được trích một phần ngân sách thu từ hoạt động kinh doanh du lịch. Ngoài ra, tỉnh cũng tranh thủ sự hỗ trợ từ trung ương để đầu tư cho du lịch.
Từ năm 2018 đến 2022, tổng số vốn đầu tư phát triển hạ tầng du lịch của tỉnh mới đạt 21,5 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn hỗ trợ từ trung ương cho Tây Ninh đạt 20 tỷ đồng; nguồn vốn của địa phương hỗ trợ phát triển du lịch là 1,5 tỷ đồng. Nguồn vốn này được tập trung đầu tư cho 2 dự án lớn là dự án phát triển cơ sở hạ tầng khu du lịch núi Bà Đen và dự án phát triển du lịch truyền thống huyện Dương Minh Châu.
Dự án đầu tư cơ sở hạ tầng núi Bà Đen với tổng nhu cầu vốn đầu tư là 91 tỷ đồng nhằm xây dựng hệ thống đường giao thông và hệ thống cấp điện phục vụ phát triển du lịch. Dự án được phân bổ 18,5 tỷ đồng đến nay đã hoàn thiện hạng mục đường cáp điện ngầm lên khu du lịch Ma Thiên Lãnh và đang tiến hành đầu tư hạng mục đường vành đai giai đoạn 1 và đường vành đai giai đoạn 2. Tổng số vốn thực hiện trong giai đoạn 2018 – 2021 là hơn 12 tỷ đồng.
Dự án phát triển du lịch truyền thống Dương Minh Châu bao gồm các hạng mục hạ tầng giao thông và hệ thống cấp điện phục vụ du lịch với tổng vốn 3 tỷ đồng. Giai đoạn từ 2018 – 2021 đã thực hiện được 1,17 tỷ đồng.
Riêng khu du lịch núi Bà, từ khi quy họach đến nay đã đầu tư bằng nguồn lệ phí vé cổng từ năm 2010 đến năm 2022 với tổng vốn đầu tư hơn 32 tỷ đồng với hơn 115 công trình lớn, nhỏ.[24]
Ngoài ra, trong thời gian gần đây tỉnh đã tăng cường đầu tư cho du lịch, đã tiến hành lập quy hoạch và kêu gọi đầu tư với nhiều dự án đã được phê duyệt và đang từng bước được triển khai như :
Dự án hạ tầng cơ sở Khu du lịch núi Bà Đen: (Quyết định phê duyệt số 1926/QĐ-CT ngày 14/11/2017 của Chủ tịch UBND Tây Ninh và quyết định số 1622/QĐ-CT ngày 22/10/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh phê duyệt điều chỉnh bổ sung Quyết định 1926/QĐ-CT). Hiện tỉnh và chương trình mục tiêu của Trung ương đang đầu tư xây dựng các công trình: điện, đường, hàng rào.
Mục tiêu: xây dựng và phát triển khu vực núi Bà Đen thành khu du lịch quan trọng của tỉnh và vùng; khai thác hiệu quả tiềm năng du lịch cảnh quan, lễ hội. Địa điểm: thị xã Tây Ninh
- Vốn đầu tư: dự kiến khoảng 100 tr.USD. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Dự án Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch sinh thái Vườn Quốc gia Lò Gò – Xa Mát: Đã được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 2674/QĐ-UBND ngày 14/11/2023, đang trong giai đoạn chuẩn bị công bố quy hoạch và chuẩn bị triển khai giai đoạn đầu.
- Mục tiêu: xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ tham quan du lịch, xây dựng các tuyến du lịch sinh thái, về nguồn, nghỉ dưỡng, cắm trại, nghiên cứu, tham quan …
- Địa điểm: Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát, huyện Tân Biên.
- Quy mô: Diện tích rừng: 18.803 ha, diện tích khu hành chính: 128 ha
- Vốn đầu tư: 10 triệu USD.
Dự án Quy hoạch phát triển du lịch sinh thái Hồ Dầu Tiếng: Dự án được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 2673/QĐ-UBND ngày 14/11/2023.
- Mục tiêu: xây dựng thành khu nghỉ dưỡng, giải trí, thể thao, công viên nước, sân golf, công viên rừng, khu săn bắn, câu cá, bãi tắm, du thuyền, các môn thể thao trên nước ……
- Địa điểm: Hồ Dầu Tiếng, huyện Dương Minh Châu.
- Quy mô: khoảng 800 ha.
- Dự kiến các loại hình sản phẩm: nghỉ dưỡng; thể thao nước; hội nghị hội thảo; khách sạn sân golf; casino…
Vốn đầu tư: 18,75 triệu USD.
- Dự án phát triển các tuyến du lịch sinh thái:
Mục tiêu: Xây dựng và phát triển các tuyến du lịch về các Khu căn cứ Cách Mạng, Vườn Quốc gia Lò Gò, Xa Mát, du lịch sinh thái, tạo tuyến du lịch nối liền các Khu du lịch trong địa bàn tỉnh và kết nối với các điểm du lịch địa phương lân cận. Địa điểm: huyện Tân Biên.
- Vốn đầu tư: 10 triệu USD.
Khu du lịch sinh thái Trảng Bàng (Trảng Chừa)
Mục tiêu: xây dựng khu nghỉ dưỡng, công viên sinh thái, thương mại dịch vụ, cắm trại kết hợp du lịch sinh thái, du lịch văn hóa (địa đạo văn hóa, ẩm thực địa phương). Nhằm phục vụ nhu cầu du lịch sinh thái, nghỉ cuối tuần của Khu công nghiệp Trảng Bàng và khách du lịch từ Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh.
- Địa điểm: huyện Trảng Bàng.
- Quy mô : 121 ha
- Vốn đầu tư: 20 triệu USD.
Dự án đầu tư phát triển du lịch sinh thái khu vực sông Vàm Cỏ Đông
- Mục tiêu: phát triển các điểm du lịch dọc theo sông Vàm Cỏ Đông để phát triển du lịch sinh thái miệt vườn, nghỉ cuối tuần.
- Địa điểm: khu vực Sông Vàm Cỏ Đông đoạn từ Gò Chai đến Bến Kéo.
- Quy mô: khoảng 100 ha
- Vốn đầu tư: dự kiến khoảng 10 – 20 tr.USD
Dự án khu du lịch Mộc Bài Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
- Mục tiêu: phát triển các loại hình du lịch, dịch vụ vui chơi giải trí phục vụ khách du lịch mua sắm; khách du lịch từ thị trường Campuchia, Thái Lan…
- Địa điểm: Khu vực cửa khẩu Mộc Bài
- Quy mô: khoảng 600 ha
- Vốn đầu tư: dự kiến 50 – 60 tr.USD
Dự án trung tâm thương mại dịch vụ cửa khẩu Xa Mát
- Mục tiêu: phát triển khu vực trung tâm thương mại, dịch vụ phục vụ khách du lịch thương mại, khách du lịch caravan (từ Thái Lan, Campuchia).
- Địa điểm: Khu vực cửa khẩu Xa Mát.
- Vốn đầu tư: dự kiến khoảng 10 – 20 tr.USD
Quy hoạch chi tiết Khu du lịch Ma Thiên Lãnh. (Quyết định phê duyệt số 1417/QĐ-CT ngày 17/9/2019 của Chủ tịch UBND Tây Ninh).
Hiện tỉnh và chương trình mục tiêu của Trung ương đã đầu tư kết cấu hạ tầng cho khu du lịch: Đường điện cáp ngầm trung thế và trạm hạ thế 3 pha (nguồn vốn đầu tư 1,2 tỷ đồng); đường bê-tông nhựa lên khu du lịch (nguồn vốn đầu tư 2,3 tỷ đồng) và đang kêu gọi đầu tư vào khu du lịch này.
Các trạm dừng chân trên các tuyến du lịch:
- Đường xuyên Á : An Tịnh – Trảng Bàng.
- Gò Dầu – Dương Minh Châu : Phước Đông – Bàu Đồn.
- Trên sông Gò Dầu – Bến Kéo : Bến Kéo
- Thị Xã – Tân Biên : Vườn Quốc gia Lò Gò – Xa Mát.
- Thị xã – Khu du lịch Núi Bà : Ninh Thạnh
Dự án Điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh đến 2025 định hướng đến năm 2035: Đã được Hội đồng nhân dân tỉnh phê duyệt tại Nghị quyết số 11/2024/NQ-HĐND ngày 10/4/2024 và được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 36/2024/QĐ-UBND ngày 07/7/2024.
- Dự án “Quy hoạch tổng thể phát triển khu di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh núi Bà Đen đến năm 2030 và định hướng đến năm 2025”: Đang trình UBND tỉnh phê duyệt dự toán và mời đơn vị tư vấn lập quy hoạch.
- Dự án Quy hoạch Khu du lịch Căn cứ Trung ương cục miền Nam: Đã được chủ trương của Quân khu 7 và tỉnh Tây Ninh, hiện đang thông báo mời đơn vị tư vấn lập quy hoạch. [23]
Ngoài việc quy hoạch, kêu gọi đầu tư cho du lịch, tỉnh cũng đã đầu tư cho hoạt động tuyên truyền, quảng bá và xúc tiến du lịch như : Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
- Hỗ trợ Bánh canh Hoàng Minh III tham gia “Ngày Hội Du lịch năm 2024” tại Thành phố Hồ Chí Minh diễn ra từ ngày 03/4 – 05/4/2024, với sự hỗ trợ kinh phí từ quỹ xúc tiến của tỉnh.
- Tham gia “Triển lãm – Hội chợ Văn hoá, Thể thao và Du lịch 2024” tại Hà Nội
- Thực hiện và nghiệm thu đĩa VCD giới thiệu, quảng bá hình ảnh du lịch Tây Ninh…
Như vậy, Tây Ninh cũng đã nhận được sự quan tâm đầu tư của Trung ương cho hoạt động du lịch của tỉnh. Tuy nhiên do ngân sách của tỉnh còn hạn chế nên nguồn vốn dành cho công tác đền bù, giải toả để thực hiện các dự án còn gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện.
2.2.6. Các loại hình du lịch đang hoạt động ở Tây Ninh hiện nay
Du lịch về nguồn : Tây Ninh có nhiều khu di tích được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng đặc biệt như: Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, căn cứ Ban An ninh Miền, căn cứ Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, căn cứ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam… Đây là nơi ở và làm việc của nhều đồng chí lãnh đạo cao nhất của cách mạng miền Nam trong những ngày kháng chiến ác liệt cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng. Đặc biệt là di tích căn cứ xứ ủy Nam Bộ nay thuộc ấp Đồng Rùm, xã Tân Thành, huyện Tân Châu. Căn cứ này có mật danh là X40, nơi đồng chí Lê Duẩn và các đồng chí khác trong xứ ủy Nam Bộ đã sống và làm việc trong những năm 1950. Căn cứ X40 Đồng Rùm là địa điểm thường trực của các cơ quan Trung ương cục, Mặt trận dân tộc giải phóng, Bộ chỉ huy Miền, Quân ủy miền, sư đoàn 9- đơn vị chủ lực đầu tiên của quân giải phóng miền Nam làm nhiệm vụ bảo vệ khu căn cứ Bắc Tây Ninh.
Tại núi Bà Đen, bên cạnh hệ thống chùa chiền cổ kính và cảnh quan thiên nhiên thì đây cũng chính là nơi ghi lại bao chiến tích trong hai cuộc kháng chiến với động Kim Quang, động Huyền Môn, động Thiên Thai, động Cây Đa, động Ông Tà, động Ông Hổ…
Ngoài ra cũng không thể không nhắc đến căn cứ Tua Hai- nơi diễn ra trận đánh có tính lịch sử dẫn đến khởi nghĩa toàn miền Nam.
Du lịch văn hóa: Núi Bà Đen Tây Ninh là một trong những địa điểm được ưa thích tại miền Nam. Trong năm 2025, lượng khách đến núi Bà Đen Tây Ninh đạt hơn 2 triệu lượt người, trong đó có một lượng không nhỏ là khách nước ngoài và gần 1,3 triệu khách tham quan Hội xuân núi Bà. Bên cạnh đó, du khách có thể đến tham quan Tòa Thánh Cao Đài – một công trình kiến trúc tôn giáo độc đáo – nằm trong khuôn viên nội ô thị xã Tây Ninh, rộng 100 ha, được xây dựng từ năm 1926. Ngoài ra, còn có các chương trình lễ hội khác đã đón tiếp được nhiều du khách đến tham dự như lễ giỗ Quan Lớn Trà Vong, lễ hội của đồng bào các dân tộc Khmer, Chăm, Stiêng,… Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Bên cạnh đó, khách du lịch còn có thể nghiên cứu khảo cổ các di tích đình chùa, đặc biệt là ở hai ngôi tháp cổ Bình Thạnh (Trảng Bàng) và Chót Mạt (Tân Biên) thuộc văn hóa Óc Eo, được xây dựng từ thế kỷ thứ 9.
Ngoài ra, du khách có thể đến viếng đền thờ Trần Hưng Đạo ở số 36/14 Cách Mạng Tháng Tám, phường III, thị xã Tây Ninh. Đền nhỏ nhưng từng rất nổi tiếng do nhận được sắc phong từ Vua Bảo Đại. Hoặc như Đình Hiệp Ninh – một trong hai ngôi đình cổ nhất ở Thị xã Tây Ninh, được xây dựng vào khoảng năm 1880 và được sắc phong vào năm Khải Định thứ hai ngày 8.3.1917.
Du lịch sinh thái: Đây chính là một trong những tiềm năng và thế mạnh của du lịch Tây Ninh. Trước tiên là hồ Dầu Tiếng, công trình thủy nông lớn nhất nước, với diện tích 27.000 ha với nhiều đảo và bán đảo tạo nên cảnh quan thơ mộng, rất thu hút. Trong một tương lai gần đây sẽ trở thành điểm du lịch sinh thái lý tưởng với các loại hình du lịch nghỉ dưỡng, săn bắn, câu cá, hoạt động thể thao vui chơi giải trí trên hồ. Hiện nay, khu này đang qui hoạch các tiểu khu du lịch như sau: gồm khu Trung tâm phục vụ; khu hành chính; khu thương mại; khu giải trí thể thao; khu văn hóa; khu du lịch; khu cho khách nước ngoài; khu cho khách trong nước; khu công viên vui chơi giải trí: Rộng 50 ha bao gồm các khu sinh hoạt, giải trí, khu vui chơi của thiếu nhi và sân Golf; khu công viên sinh thái rừng: Bố trí rừng phòng hộ, hồ nước tạo cảnh quan sinh động để khách du ngoạn. Có thể xây dựng và tổ chức huấn luyện ngựa, cho thuê ngựa dạo chơi; khu săn bắn, câu cá trên đảo, khu thể thao nước gồm bãi tắm, thể thao lướt sóng, câu cá…
Kế đến là Vườn Quốc gia Lò Gò-Xa Mát, rộng 18.806 ha trải dài trên 4 xã Tân Lập, Tân Bình, Hòa Hiệp và Thạnh Tây (huyện Tân Biên). Nơi này có hệ sinh cảnh rừng ngập nước ngọt duy nhất trong danh mục rừng đặc dụng ở Việt Nam, với nhiều loài động thực vật quý hiếm, thuận lợi cho việc phát triển loại hình cắm trại, dã ngoại, kết hợp thăm chiến trường xưa. Hàng năm, nơi đây thu hút sếu đầu đỏ (có tên trong Sách đỏ thế giới) về đây sinh sống và tìm nguồn thức ăn.Ngoài ra, ở khu vực Ma Thiên Lãnh nằm trong quần thể di tích danh thắng núi Bà Đen, rừng phòng hộ, rừng lịch sử ở Chàng Riệc, Dương Minh Châu, sông Vàm Cỏ Đông đều có thể khai thác phục vụ cho loại hình du lịch sinh thái.
Du lịch thể thao leo núi, mạo hiểm: Bên cạnh các loại hình du lịch kể trên, Tây Ninh còn có thể khai thác loại hình du lịch thể thao leo núi, mạo hiểm chinh phục đỉnh núi Bà Đen cao 986 m, khám phá các hang động kỳ bí tại núi này cũng như khám phá các khu rừng nguyên sinh, cắm trại…
Du lịch mua sắm: Khu kinh tế Cửa khẩu Mộc Bài nằm trên đường Xuyên Á (con đường bắt đầu từ Myanmar, qua Thái Lan, Lào, Việt Nam, Campuchia và kết thúc ở Quảng Tây – Trung Quốc) , là cửa ngõ qua lại giữa Campuchia và Việt Nam, khu kinh tế Cửa khẩu Mộc Bài có vị trí quan trọng và thu hút được nhiều nhà đầu tư. Từ khi hoạt động, khu kinh tế này trở thành điểm đến để mua sắm và đi du lịch trong ngày đối với nhiều du khách, nhất là người Sài Gòn. Đây lại là nơi có siêu thị miễn thuế GC rất hấp dẫn khách tham quan, mua sắm vào những ngày nghỉ cuối tuần, nhất là du khách đến từ thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận.
Khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài rộng trên 21.000m2 nên khách du lịch có cơ hội ngắm hàng, ngắm cảnh sau khi mua sắm. Ngoài ra, ta có thể đi chợ đường biên để tận hưởng không gian chợ biên giới của những cư dân bản địa với những hàng hóa có xuất xứ từ Trung Quốc, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam… Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Du lịch làng nghề truyền thống: Tây Ninh có các làng nghề truyền thống như bánh canh, bánh tráng phơi sương Trảng Bàng, muối ớt Tây Ninh, mây, tre, nứa, chằm nón, nghề mộc… để giới thiệu và phục vụ khách du lịch.
Nhìn chung, du lịch Tây Ninh đáp ứng được mô hình được ưa thích hiện nay là: hiếu khách, trung thực, nhiều di sản, bề dày lịch sử và truyền thống anh hùng. Như vậy có thể thấy ở Tây Ninh có thể thực hiện đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, đáp ứng nhu cầu đa dạng của du khách khi đặt chân đến miền đất biên giới tây nam này.
2.2.7. Các điểm du lịch
2.2.7.1. Khu di tích lịch sử văn hóa núi Bà Đen
Khu di tích lịch sử văn hóa núi Bà Đen là một trong những điểm du lịch lớn nhất và hấp dẫn khách bậc nhất của khu vực phía nam, đến với điểm du lịch này các hoạt động du lịch về nguồn, du lịch văn hóa, du lịch thể thao leo núi, mạo hiểm… là những loại hình nổi bậc ở đây. Đây là khu du lịch quan trọng nhất của tỉnh nên được ưu tiên đầu tư phát triển, là nơi đầu tiên trên cả nước được đầu tư hệ thống cáp treo và sau đó là hệ thống máng trượt. Hiện nay đây là địa bàn trọng điểm thu hút khách của Tây Ninh, kể cả du khách quốc tế. Khách đến đây có thể thưởng ngoạn cảnh đẹp núi non hùng vĩ giữa vùng đồng bằng rộng lớn, đồng thời có thể thực các hoạt động tâm linh thông qua lễ hội vía Bà cũng như viếng cảnh chùa chiền trên núi.
Khách du lịch tham quan núi Bà Đen là một bộ phận khách quan trọng của Tây Ninh, chiếm tỷ trọng rất lớn (gần 70%) trong tổng số khách du lịch đến Tây Ninh. Năm 2025, khu DT LSVH núi Bà Đen đạt 2.020.021 lượt người, trở thành một trong những nơi hấp dẫn du khách bậc nhất ở Nam Bộ. Nhìn chung trong giai đoạn từ 2015 – 2025, khách tham quan núi Bà Đen ít biến động, không bị tăng trưởng âm trong suốt giai đoạn, tốc độ tăng trưởng thấp nhất là 2,25% năm 2018 và cao nhất là 17,30% năm 2017.
Bảng 2.12. Hiện trạng khách tham quan khu DT LSVH Núi Bà Đen giai đoạn 2018- 2025
Đơn vị: lượt khách
| 2018 | 2019 | 2021 | 2023 | 2025 | |
| Khách tham quan Núi Bà | 1.192.781 | 1.363.860 | 1.563.797 | 1.803.064 | 2.020.021 |
| Trong đó: + Khách hội xuân | 775.330 | 856.687 | 987.764 | 1.181.132 | 1.299.315 |
| + Khách đi cáp treo máng trượt | 578.520 | 669.613 | 851.000 | 961.000 | 1.263.000 |
Nguồn : Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tây Ninh, năm 2026 Hình 2.5. Biểu đồ thể hiện số lượng khách du lịch đến Núi Bà từ năm 2018- 2025 Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Nguyên nhân chính do trong giai đoạn từ 2015 – 2025 là giai đoạn kinh tế trong nước tăng trưởng nhanh chóng (ngoại trừ năm 2023, 2024) đời sống xã hội được nâng cao do đó nhu cầu đi du lịch đặc biệt là nhu cầu du lịch tâm linh, lễ hội ngày càng tăng.
Như vậy qua bảng số liệu và hình trên có thể thấy khách tham quan khu di tích LSVH núi Bà đều tăng qua các năm, số liệu năm sau luôn cao hơn năm trước và đến năm 2025 đã đạt trên 2 triệu lượt, trong đó khách hội xuân Núi Bà đạt gần 1,3 triệu lượt. Từ năm 2018, Tây Ninh đã đưa hệ thống cáp treo, máng trượt vào khai thác và từ đó đến nay số lượng khách sử dụng loại hình dịch vụ này không ngừng tăng lên qua các năm. Đến năm 2025, số lượng khách đi cáp treo máng trượt là 1.263.000 lượt và theo ước tính của ngành chức năng, trong năm 2026 con số này có lẽ sẽ còn lớn hơn nữa khi mà Tây Ninh ngày càng chú trọng đầu tư cho khu di tích này.
2.2.7.2. Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh
Tòa thánh Tây Ninh nằm cách trung tâm thị xã Tây Ninh khoảng 5km về hướng đông, được khởi công xây dựng năm 1936 và hoàn thành năm 1955. Đây là một công trình kiến trúc nghệ thuật nổi tiếng và là trung tâm hành đạo chính của đạo Cao Đài ở Tây Ninh, tọa lạc trong một khuôn viên có diện tích khoảng 1km2. Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh được bao bọc bởi 4000m hàng rào gạch có trang trí hoa văn rất ấn tượng, có tường rào bao bọc xung quanh, cứ 300m có một cửa ra vào.
Có thể thấy, mỗi bộ phận Tòa Thánh Tây Ninh đều mang biểu tượng sâu sắc. Chẳng hạn, trên vòm trần nhà bên trong tòa thánh được ngăn ra làm 9 khoảng có hình bầu trời đầy mây và sao. Khu chính diện thờ Thiên Nhãn nằm trên quả càn khôn có 3.027 ngôi sao (tượng trưng cho 3.072 quả địa cầu). Đạo Cao Đài thờ Trời, tức Đức Chí Tôn qua biểu tượng con mắt trái vì mắt trái là chơn dương. Thờ con mắt cũng ứng hợp với câu thành ngữ : Trời cao có mắt (Thiên nhãn).
Lễ hội lớn nhất hằng năm diễn ra nơi đây là vía Đức Chí Tôn (mùng 8 tháng giêng âm lịch) và vía Đức Diêu Trì Kim Mẫu (Rằm tháng 8 âm lịch). Lễ hội đậm đà bản sắc dân tộc và cuốn hút hàng triệu người từ mọi miền đất nước về dự và chiêm bái thưởng ngoạn cảnh quan nơi đây. Cùng với núi Bà Đen, nơi đây hàng năm đón một lượng lớn du khách đến viếng thăm, hành hương, cúng bái từ các vùng lân cận
2.2.7.3. Căn cứ Trung ương Cục Miền Nam
Di tích lịch sử văn hóa Căn cứ Trung ương cục Miền Nam là một “địa chỉ đỏ”du lịch về nguồn và nổi tiếng về hệ sinh thái rừng. Căn cứ Trung ương cục Miền Nam nằm cách thị xã Tây Ninh 64 km thuộc xã Tân Lập, huyện Tân Biên tỉnh Tây Ninh.
Đến với khu di tích Căn cứ Trung ương cục miền Nam, du khách sẽ được chiêm ngưỡng cảnh thiên nhiên của rừng nhiệt đới với nhiều chủng loại cây, chim muông, thú rừng… Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ nơi đây cũng đã hình thành ba vành đai bảo vệ. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Từ năm 2009 – 2020, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã đầu tư trên 20 tỷ đồng để tu bổ, phục chế tôn tạo 3 khu di tích, thực hiện việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ các cuộc hành hương về nguồn của các bậc lão thành cách mạng, nơi giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ và là địa điểm thu hút khách tham quan, du lịch…Tuy nhiên, công tác bảo tồn, tôn tạo chỉ dừng lại ở việc phục dựng nhà ở và nơi làm việc của các đồng lãnh đạo Cách mạng miền Nam, nhà ăn, hội trường, bếp Hoàng Cầm, một số đoạn giao thông hào… chưa thể hiện được tầm vóc và quy mô của cơ quan đầu não kháng chiến. Nguyên nhân chủ yếu là tư liệu, tài liệu về sinh hoạt và hoạt động tại các khu căn cứ khi đó rất hiếm, chỉ thu thập qua lời kể những người từng sống, chiến đấu tại nơi đây, điều kiện kinh phí đầu tư chưa đáp ứng nhu cầu. Ngoài ra, các cơ sở dịch vụ phục vụ cho việc ăn, ở, nghỉ ngơi, mua sắm hàng lưu niệm… đều chưa có, do đó du khách gặp nhiều khó khăn khi đến tham quan, làm giảm sức thu hút của khu di tích.
Nhằm phát huy giá trị di tích, Ban quản lý các khu di tích lịch sử cách mạng miền Nam cũng đã phác thảo những giải pháp cần phải thực hiện trong giai đoạn 2026 – 2035 như tổ chức hội thảo, xuất bản tài liệu, phim về di tích, tuyên truyền giới thiệu di tích trong hệ thống trường học, lập website… Xây dựng khu di tích trở thành nơi tổ chức các chương trình giáo dục, rèn luyện thanh thiếu niên về kỹ năng sống hoặc tận dụng để làm phim trường; Xây dựng các chương trình hoạt động du lịch văn hoá cách mạng, kết hợp du lịch sinh thái, du lịch hội nghị, du lịch mạo hiểm, du lịch về nguồn…
Căn cứ Trung ương cục miền Nam quả là nhân chứng, là biểu tượng sáng ngời của trí thông minh, tài thao lược và lòng quả cảm của nhân dân miền Nam, là địa chỉ có sức thu hút du khách rất lớn, đặc biệt là những du khách về nguồn và thăm lại chiến trường xưa.
2.2.7.4. Hồ Dầu Tiếng Tây Ninh
Hồ Dầu Tiếng là một biển nước mênh mông do con người tạo ra từ một công trình thủy nông lớn nhất nước. Với diện tích rộng trên 27.000 ha và 1,5 tỷ m3 nước, hồ không những có những khả năng tưới cho hàng trăm ngàn ha đất trồng mà còn là một vùng cảnh quan du lịch hấp dẫn.
Đến với hồ Dầu Tiếng, du khách không khỏi kinh ngạc với khối óc sáng tạo và tinh thần cần cù của nhân dân Việt Nam bởi hàng triệu khối đất đá đã chặn được dòng sông Sài Gòn chảy xiết thành hồ nước khổng lồ, biến Tây Ninh từ một vùng đất khô cằn thành một vùng sông nước. Hồ Dầu Tiếng với một khoảng không gian rộng lớn, sơn thủy hòa quyện, các ốc đảo tự nhiên thoáng mát lạ mắt, không khí trong lành sẽ tạo cho du khách thoải mái trong một chuyến du lịch.
Đến đây du khách còn được thưởng thức các món ăn từ các loại tôm cá đầu nguồn mà chỉ có hồ Dầu Tiếng mới có được. Ngoài ra du khách còn có thể chiêm ngưỡng cảnh quan thiên nhiên “miền biển”với một hồ nước mênh mông sóng vỗ với đập tràn, đập chính, đồi thơ, chùa Cậu…làm say mê lòng người.
Với một vùng hồ rộng lớn như vậy có thể tổ chức những hoạt động thể thao, giải trí dưới nước như các loại thuyền buồm, xuồng máy tốc độ cao hoặc lướt ván. Trong những ngày nghỉ tại hồ, khách có thể tham gia các môn thể thao, giải trí dưới nước hoặc một số môn thể thao lướt ván, thuyền buồm. Ngành du lịch có thể tổ chức biểu diễn nghệ thuật các môn thể thao trên phục vụ nhu cầu giải trí của du khách. Ở nước ta các loại hình thể thao dưới nước còn mới mẻ nên chắc chắn sẽ thu hút được du khách đến chơi, học chơi hoặc xem triển lãm. Điều này không những làm tăng sự hấp dẫn của du lịch mà còn mang lại lợi ích cho du khách, trong những ngày nghỉ ngơi lại học thêm được môn nào đó của thể thao dưới nước.
2.2.7.5 Khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Đi du lịch Tây Ninh, nhiều du khách không bỏ qua cơ hội đến khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài. Đây là khu kinh tế cửa khẩu đường bộ lớn nhất phía Nam, hoạt động từ năm 2019.
Nằm trên đường Xuyên Á (con đường bắt đầu từ Myanmar, qua Thái Lan, Lào, Việt Nam, Campuchia và kết thúc ở Quảng Tây – Trung Quốc) và là cửa ngõ qua lại giữa Campuchia và Việt Nam, khu kinh tế Cửa khẩu Mộc Bài có vị trí quan trọng và thu hút được nhiều nhà đầu tư. Từ khi hoạt động, khu kinh tế này trở thành điểm đến để mua sắm và đi du lịch trong ngày đối với nhiều du khách, nhất là người Sài Gòn.
Đến với khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài, du khách thường lựa chọn siêu thị miễn thuế GC. Mỗi du khách chỉ được mua hàng miễn thuế trị giá 500.000 đồng/ngày, mua nhiều hơn số tiền này thì phải đóng thuế. Khách mua hàng phải mang theo chứng minh nhân dân để được nhận một phiếu mua hàng miễn thuế. Vào các ngày cuối tuần, dịp lễ, du khách đến đây rất đông nên việc xếp hàng nhận phiếu mua hàng có thể kéo dài hàng giờ. Hiện nay để thuận tiện cho việc thanh toán cũng như hạn chế trong việc xếp hàng chờ lấy phiếu, người mua hàng sẽ chỉ cần xuất trình chứng minh thư tại các quầy tính tiền cho nhân viên thu ngân thì sẽ được thanh toán theo chế độ miễn thuế, rất dễ dàng và nhanh chóng.
Khu kinh tế cửa khẩu Mộc Bài rộng trên 21.000m2 nên du khách có thể rong ruổi ngắm hàng, ngắm cảnh sau khi mua sắm. Đứng bên này biên giới, du khách có thể nhìn thấy cửa khẩu phía bên nước bạn với kiến trúc chùa tháp đặc trưng của Campuchia.
2.2.7.6. Vườn quốc gia Lò Gò- Xa Mát
Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát nằm trên địa phận 3 xã Tân Lập, Tân Bình, Hoà Hiệp thuộc huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh, cách thị xã Tây Ninh khoảng 30km về phía bắc tây bắc. Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát có hệ động thực vật phong phú đặc biệt là hệ chim nước quý hiếm, nằm ở phía tây vùng đất thấp miền Đông Nam Bộ, chủ yếu là rừng nguyên sinh, địa hình khá bằng phẳng.
Lò Gò – Xa Mát có thảm thực vật rừng dạng như rừng bán rụng lá, rừng rụng lá trên đất thấp và các dải hẹp rừng thường xanh ven sông suối và rừng tràm. Gần biên giới với Campuchia là các dải rộng đồng cỏ đất lầy với các thảm cói lác. Hệ thực vật phong phú có giá trị như: các cây họ dầu: dầu nước, dầu cát, dầu chai, dầu song nàng, sao đen, nến mủ, một số loài đã có tên trong sách đỏ như: gõ cà te, giáng hương, mạc sưa… Khu hệ chim tại vườn quốc gia này rất đặc trưng, tại các sinh cảnh đất ngập nước đã ghi nhận nhiều loài chim nước quý hiếm như giang sen, già đẫy nhỏ và cò nhạn, gà lôi lông tía, gà tiền mặt đỏ, chích chạch má xám… Ngoài ra, Lò Gò – Xa Mát còn là nơi dừng chân bay qua của loài sếu đầu đỏ, trên tuyến di cư về nơi sinh sản tại Campuchia. Lò Gò-Xa Mát được công nhận là một trong các vùng chim quan trọng của Việt Nam.
Bên cạnh ý nghĩa về bảo tồn sinh học, khu vực này còn có ý nghĩa quan trọng về mặt lịch sử. Trong chiến tranh chống Mỹ, Lò Gò – Xa Mát là cơ sở của Đài phát thanh Giải phóng miền Nam Việt Nam, đồng thời cũng là căn cứ cách mạng của quân giải phóng. Bởi vậy, khu vực này còn được biết đến như một trong những chứng tích của chiến tranh, có ý nghĩa quan trọng về mặt văn hóa lịch sử. Ngoài ra, vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát là nơi có sông Vàm Cỏ bắt nguồn từ Campuchia chảy qua nên rừng ở đây có vai trò quan trọng trong việc phòng hộ đầu sông. Nhiều hộ dân cư sống phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thuỷ sản của con sông này. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Với những tiềm năng lớn lao như vậy, Lò Gò- Xa Mát trong một tương lai không xa sẽ là nơi thu hút các hoạt động du lịch, đặc biệt là loại hình du lịch sinh thái gắn với sự đa dạng của hệ động thực vật nơi đây.
Hiện nay UBND tỉnh Tây Ninh cũng đã thông qua Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch sinh thái vườn quốc gia Lò Gò-Xa Mát. Vườn quốc gia Lò Gò-Xa Mát là một bộ phận của hệ sinh thái rừng Đông Nam Bộ rất giàu tiềm năng du lịch. Trước đây khu rừng Lò Gò-Xa Mát được chú ý đến như một di tích lịch sử và văn hoá hơn là những giá trị đa dạng về tài nguyên sinh học. Hiện nay những giá trị tài nguyên đa dạng về sinh học của khu rừng này ngày càng phát triển. Nhằm phát triển ngành du lịch và bảo vệ môi trường sinh thái bền vững; đồng thời phát huy truyền thống văn hoá dân tộc, bảo tồn di sản lịch sử, ngành chức năng của tỉnh đã phối hợp với Viện Sinh học Nhiệt đới xây dựng dự án “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch sinh thái Vườn quốc gia Lò Gò-Xa Mát”.
Các loại hình du lịch sinh thái ở Vườn quốc gia Lò Gò-Xa Mát: đi bộ trong rừng; đi xe đạp; tham quan nghiên cứu cây cỏ và hoa rừng; quan sát chim, thú; bơi thuyền độc mộc; cắm trại; tham quan căn cứ kháng chiến, di tích lịch sử; tham quan làng nghề và văn hoá cộng đồng…
Dự án du lịch sinh thái vườn quốc gia Lò Gò –Xa Mát khi được thực hiện sẽ tác động đến kinh tế -xã hội: Giá trị đất gia tăng, tạo việc làm và nâng cao trình độ người lao động, phát triển và giao lưu văn hoá, giáo dục và bảo tồn thiên nhiên, tăng mức thu nhập cho người địa phương, tăng nguồn thu của tỉnh, đem lại một vẻ đẹp mới cho vườn quốc gia Lò Gò-Xa Mát, cảnh quan thiên nhiên được quản lý tốt hơn và đem lại bài học quý giá trong việc xây dựng một khu du lịch sinh thái…
2.2.7.7. Khu du lịch Long Điền Sơn
Long Điền Sơn là một khu du lịch mới đi vào hoạt động phục vụ du khách đến với Tây Ninh. Nằm trong phong cảnh hữu tình, nhà đầu tư đã xây dựng nên khu du lịch đậm nét truyền thống và bản sắc của làng quê và văn hóa Việt…
Long Điền Sơn tọa lạc tại ấp Ninh Trung, xã Ninh Sơn, cách thị xã Tây Ninh khoảng 5 km. Mới đưa vào hoạt động vào dịp Tết Nguyên đán năm 2023, khu du lịch đã được nhiều người biết đến và đã xuất hiện trong nhiều chương trình, các tour đến Tây Ninh.
Đến với Long Điền Sơn, du khách sẽ rất ấn tượng với hai bên lối vào khu du lịch là tượng 12 con giáp. Trên dãy phân cách lối đi, có đặt 2 con rồng nằm phun nước tạo ra không gian dịu mát giữa cái nắng của vùng đất cao này. Nhà đầu tư đã làm nên vườn cây lớn và những trảng cỏ rộng đảm bảo màu xanh phủ khắp nội viên. Đá tự nhiên và các công trình kiến trúc được xếp đặt hài hòa bên cạnh những tán cây lớn, hồ nước… Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Nếu muốn tham quan hết khu du lịch cần nhiều thời gian. Khuôn viên Long Điền Sơn rộng khoảng 27 ha với nhiều sản phẩm du lịch phong phú phục vụ du khách cả ngày lẫn đêm. Không hoành tráng như Đầm Sen, Suối Tiên nhưng Long Điền Sơn có một không gian thiên nhiên tươi đẹp và hữu tình. Du khách có thể đến đây vui chơi thưởng ngoạn vào nhiều thời gian khác nhau
Khu du lịch Long Điền Sơn đang được tiếp tục đầu tư xây dựng công viên nước và vườn bách thú. Khi các công trình này hoàn thành, Long Điền Sơn hứa hẹn là điểm du lịch độc đáo của vùng biên giới Tây Ninh. Long Điền Sơn còn là một điểm đến hài hòa trong chuỗi tour du lịch Địa Đạo Củ Chi, siêu thị miễn thuế Mộc Bài, Tòa Thánh Cao Đài, núi Bà Đen, Khu di tích Trung ương cục Miền Nam…
2.2.7.8. Tháp cổ Bình Thạnh
Đây là công trình tháp cổ có niên đại khoảng 1000 năm tọa lạc tại xã Bình Thạnh, huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh. Tháp cổ là di tích thuộc nền văn hóa Ốc Eo đã được nhà nước công nhận xếp hạng di tích lịch sử văn hóa.
Đây là ngôi tháp duy nhất còn tường đá nguyên vẹn (kể từ khi phát hiện 1886). Do vậy kiến trúc đền tháp Bình Thạnh đã trở nên cực kì hiếm hoi và quý giá trong di sản kiến trúc dân tộc. Đền tháp cổ Bình Thạnh được xây dựng bằng gạch với kĩ thuật tương tự như ở các đền tháp Chăm nổi tiếng ở miền Trung nước ta.
Về điêu khắc trang trí đền tháp Bình Thạnh là những tác phẩm tuyệt mĩ, các họa tiết phù điêu không chỉ đẹp về tạo hình tỉ mỉ đến trao chuốt trong tạo tác mà còn mang tính biểu tượng cao.
Từ đền tháp Bình Thạnh và các phế tích đền tháp đương đại, chúng ta có thể hiểu về tôn giáo, tín ngưỡng và tâm linh người xưa cũng như phong tục tập quán và đời sống văn hóa. Do vậy kiến trúc đền cổ tháp Bình Thạnh mang giá trị lịch sử- văn hóa- kiến trúc- nghệ thuật có sức cuốn hút mang giá trị về mặt tham quan du lịch, nghiên cứu khoa học rất lớn đối với du khách trong tỉnh, cả nước và kể cả du khách quốc tế.
2.2.7.9. Địa đạo An Thới
An Thới là 1 trong 8 ấp thuộc xã An Tịnh anh hùng, huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh. Nơi đây có địa đạo chiến đấu ở một xã địa đầu của tỉnh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Bộ Văn Hóa Thông Tin trước đây công nhận là di tích lịch sử văn hóa. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Ngày nay khi đến với địa đạo An Thới, du khách không chỉ ngắm xem một cái “bót Việt cộng”mà còn được chui vào lòng đất, đi dép lốp, đội nón tai bèo, mặc áo bà ba, ăn khoai mì, gạo sấy… để sống lại một thời kì hào hùng của dân tộc trong những giai đoạn ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và hiểu thêm giá trị lịch sử của di tích. Địa đạo là nhân chứng của lòng dũng cảm, tinh thần yêu nước, tình đoàn kết quân dân bởi chiến tranh nhân dân là sáng tạo muôn hình muôn vẻ của nghệ thuật chiến tranh. Từ hầm chông, tầm vông vạt nhọn, giàn thun phóng lựu đạn, ong vò vẻ, cách đánh trái gai, trái tự tạo…đến địa đạo là hình thức phát triển nghệ thuật chiến tranh rất đặc biệt, rất Việt Nam, rất phù hợp với chiến trường Tây Ninh. Ngày nay khu di tích địa đạo An Thới đã là một di tích lịch sử khắc họa những hình tượng cao đẹp của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chống Mỹ cứu nước.
Ngoài các điểm tham quan trên, du khách đến với Tây Ninh là đến với một miền đất anh hùng với biết bao chiến tích và địa danh đã đi vào lịch sử như căn cứ Bời Lời, di tích Tua Hai Đồng Khởi và một loạt căn cứ khác nằm rải rác trên địa bàn tỉnh và nhiều nhất là nằm trên vùng biên giới Việt Nam- Campuchia. Tây Ninh không chỉ có các di tích lịch sử cách mạng mà còn có nhiều địa danh, cảnh đẹp, các làng nghề truyền thống… Tất cả những gì Tây Ninh có, hứa hẹn một tiềm năng du lịch to lớn có thể thu hút du khách từ nhiều vùng trong cả nước cũng như du khách quốc tế từ các nước xung quanh. Nếu được chú trọng và đầu tư khai thác đúng mức, ngành du lịch Tây Ninh sẽ phát triển ngang tầm với những địa phương có tiếng về du lịch trong cả nước, góp phần đẩy nhanh sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế của tỉnh.
2.2.8. Các tuyến du lịch chính
- Các tuyến du lịch nội tỉnh
Tuyến du lịch du lịch thị xã Tây Ninh – núi Bà Đen – hồ Dầu Tiếng: Tùy theo nhu cầu của khách, thời gian tham quan du lịch khoảng 1- 2 ngày hoặc lâu hơn nữa tùy thuộc vào việc đầu tư cơ sở hạ tầng ở hồ Dầu Tiếng. Lộ trình: Thị xã Tây Ninh- Tòa Thánh- núi Bà Đen- hồ Dầu Tiếng, chiều dài lộ trình : 35- 40 km
Là tuyến du lịch tâm linh – sinh thái – nghỉ dưỡng với các điểm du lịch, tham quan chính như: Toà thánh Tây Ninh; Khu du lịch Ma Thiên Lãnh; Công viên văn hoá Bàu Cà Na; Khu di tích LSVH núi Bà Đen; hồ Dầu Tiếng…
Đối tượng tham quan và loại hình cụ thể : Tòa Thánh Tây Ninh : tâm linh, các nghi thức tôn giáo, lễ hội, kiến trúc…; Núi Bà Đen : Leo núi, du lịch sinh thái, chùa chiền, hang động…; Lòng hồ Dầu Tiếng : du lịch sông thái lòng hồ, các hoạt động giải trí, câu cá, thể thao nước…;Khu du lịch Ma Thiên Lãnh : du lịch sinh thái, nghỉ ngơi, giải trí…; Công viên văn hóa Bàu Cà Na : trong tương lai có thể khai thác các hoạt động vui chơi, giải trí…; Khu rừng lịch sử ở Dương Minh Châu : du lịch sinh thái, du lịch về nguồn; Khu núi Cậu : leo núi, dã ngoại…
Sản phẩm du lịch chính: tập trung vào du lịch văn hoá; tâm linh; lễ hội; tín ngưỡng; nghỉ dưỡng; sinh thái; vui chơi giải trí.
Tuyến du lịch phía bắc: Thời gian từ 1- 2 ngày phụ thuộc vào việc đầu tư cơ sở hạ tầng, nhất là hệ thống các khách sạn, nhà nghỉ. Lộ trình : Thị xã Tây Ninh- Thiện Ngôn- Lò Gò Xa Mát- Cửa khẩu quốc tế Xa Mát- Di tích Ban An Ninh Miền- Căn cứ Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam- Căn cứ Trung ương Cục Miền Nam… với chiều dài lộ trình : 60- 65 km
Là tuyến du lịch khai thác các giá trị du lịch sinh thái, các di tích lịch sử cách mạng với các điểm du lịch tham quan chính: Vườn quốc gia Lò Gò – Xa Mát; Di tích Trung ương Cục Miền Nam; Di tích ban An ninh Miền; Di tích căn cứ Mặt trận dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam; cửa khẩu quốc tế Xa Mát. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Sản phẩm du lịch chính: là du lịch sinh thái; du lịch tham quan di tích lịch sử cách mạng; du lịch mua sắm…
Đối tượng tham quan và loại hình cụ thể : Khu vực Thiện Ngôn- Lò Gò Xa Mát: du lịch sinh thái, nghiên cứu khoa học; Cửa khẩu quốc tế Xa Mát và hệ thống các di tích dọc theo biên giới phía bắc : tham quan, về nguồn, dã ngoại…
Tuyến đi cửa khẩu Mộc Bài : Thời gian: 1 ngày, Lộ trình: Thị xã Tây Ninh- Châu Thành- Bến Cầu với chiều dài lộ trình: 25- 30 km
Đối tượng tham quan: Các di chỉ khảo cổ (An Thạch, Bến Cầu); Tháp cổ Bình Thạnh thuộc nền văn hóa Ốc Eo; Tham quan mua sắm ở cửa khẩu Mộc Bài.
Tuyến đi địa đạo An Thới: Thời gian: 1 ngày, Lộ trình: Thị xã Tây Ninh- Gò Dầu- Địa đạo An Thới với chiều dài lộ trình: 55- 60 km
Đối tượng tham quan du lịch: Địa đạo An Thới (giáp với Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh); Căn cứ Bời Lời (Căn cứ của Tỉnh ủy Tây Ninh và khu Sài Gòn- Gia Định trong kháng chiến chống Mỹ)
Tuyến này có thể kết hợp với tuyến đi cửa khẩu Mộc Bài thành một tuyến du lịch ở phía nam của Tây Ninh. Nếu đi từ thành phố Hồ Chí Minh, du khách có thể thăm địa đạo Củ Chi, sau đó tiếp tục tham quan theo tuyến như đã nêu trên.
Tuyến dọc theo tỉnh lộ 4: Thời gian: 1- 2 ngày, Lộ trình: Thị xã Tây Ninh- núi Bà Đen- dọc theo tỉnh lộ 4 đến các di tích cách mạng với chiều dài lộ trình: 60- 65 km
Đối tượng tham quan: Núi Bà Đen; Cơ quan Trung ương Cục X40; Khu Trung ương Cục trước 1972; Căn cứ Quân ủy Miền, Bộ Tư lệnh
- Các tuyến du lịch liên tỉnh và quốc tế của Tây Ninh
Hiện nay, Tây Ninh chỉ chú trọng phát triển các tuyến du lịch nội tỉnh là chủ yếu, các tuyến liên tỉnh còn ít được chú trọng.
Về các tuyến du lịch liên tỉnh, trước hết Tây Ninh cần thiết lập các mối liên hệ chặt chẽ với thành phố Hồ Chí Minh- một trung tâm dịch vụ, du lịch lớn của cả nước- bởi vì đây là nơi đã cung cấp nguồn khách rất lớn cho Tây Ninh trong những năm qua. Sau đó, Tây Ninh cần thiết lập mối liên hệ với các tỉnh trong tiểu vùng du lịch Đông Nam Bộ và xa hơn là các tỉnh, thành khác trong cả nước. Như vậy trong tương lai, Tây Ninh có thể hình thành các tuyến du lịch liên vùng để giới thiệu những nét đặc sắc của tỉnh với các tỉnh bạn trong cả nước.
Về các tuyến du lịch quốc tế, Tây Ninh có đường biên giới dài hơn 240 km tiếp giáp với Campuchia qua hai cửa khẩu quốc tế Mộc Bài, Xa Mát và hàng chục cửa khẩu tiểu ngạch. Đây cũng là một lợi thế so sánh đáng kể của du lịch Tây Ninh so với các địa phương khác. Quan trọng hơn, từ Tây Ninh có thể hình thành nên các tuyến du lịch, đặc biệt là các tuyến trên đường xuyên Á qua hai cửa khẩu quốc tế của Tây Ninh, có thể nối với thủ đô Phnompenh của Campuchia và từ đó có thể đi sang các nước khác trong khu vực cũng như trên thế giới.
2.3 Đánh giá chung về thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
- Những nội dung đã thực hiện được
Về xu thế chung, xu hướng phát triển du lịch thế giới và Việt Nam đang có nhiều thuận lợi để phát triển du lịch cả quốc tế lẫn trong nước và Việt Nam được bình chọn là một trong những điểm đến an toàn, hấp dẫn trong giai đoạn hiện nay. Tổ chức VISA và Hiệp hội du lịch khu vực châu Á – Thái Bình Dương (PATA) công bố “Khảo sát những dự định du lịch châu Á năm 2022”thì có 31% số người được hỏi đã xem Việt Nam là điểm đến tiếp theo trong vòng 2 năm tới [28]. Do đó, Tây Ninh ít nhiều cũng được hưởng lợi từ xu thế này
Về mặt vị trí địa lý, Tây Ninh có những lợi thế so sánh so với các tỉnh trong khu vực phía Nam, đó là: có vị trí thuộc vùng kinh tế năng động và phát triển nhất của Việt Nam (vùng kinh tế trọng điểm phía Nam); tiếp giáp Thành phố Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế khu vực phía nam cũng như cả nước; có biên giới Việt Nam – Campuchia dài 240 km với 2 cửa khẩu quốc tế Mộc Bài và Xa Mát; nằm trên tuyến đường xuyên Á… Đây là những điều kiện thuận lợi cho Tây Ninh trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội và du lịch, đặc biệt là du lịch quốc tế. Mặt khác, Hệ thống giao thông phục vụ cho du lịch quốc tế tương đối thuận lợi với 2 tuyến quốc lộ thông sang Campuchia qua 2 cửa khẩu quốc tế Mộc Bài và Xa Mát, trong đó quốc lộ 22A từ Mộc Bài về Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong tuyến đường xuyên đi Phnom Penh, còn quốc lộ 22B lại là tuyến đường huyết mạch đi qua nhiều huyện, thị trong tỉnh và thông sang Campuchia qua cửa ngõ phía bắc: cửa khẩu Xa Mát.
Về mặt sản phẩm du lịch mà cụ thể là loại hình du lịch, Tây Ninh với thiên nhiên phong phú có thể phát triển nhiều loại hình du lịch khác nhau như du lịch văn hóa, lịch sử tại núi Bà Đen và Tòa Thánh Tây Ninh hay căn cứ Trung ương Cục miền Nam; du lịch lễ hội như lễ hội núi Bà Đen, lễ hội vía Bà, lễ Phật Đản, hội Yến Diêu Trì Cung, ngày vía Đức Chí Tôn, lễ Quan Lớn Trà Vong; du lịch sinh thái tại vườn quốc gia Lò Gò- Xa Mát; du lịch về nguồn như căn cứ Trung ương Cục miền Nam; du lịch nghỉ dưỡng tại hồ Dầu Tiếng; du lịch cửa khẩu, mua sắm tại cửa khẩu quốc tế Mộc Bài; du lịch caravan dọc theo đường Xuyên Á… Nhìn chung, Tây Ninh có địa hình tương đối đa dạng: đồng bằng, đồi núi xen lẫn sông hồ tạo nên vẻ đẹp đặc trưng không phải vùng nào cũng có, tạo cơ hội cho tỉnh nhà phát triển các loại hình du lịch một các dễ dàng hơn.
Về giá cả hàng hóa và dịch vụ cũng như mọi thứ nói chung, Tây Ninh do tốc độ đô thị hóa còn chậm nên giá cả hàng hóa vẫn còn rẻ, thậm chí giá cả hàng hóa tại một số khu vực gần khu công nghiệp Trảng Bàng và khu chế xuất Linh Trung III (gần thành phố Hồ Chí Minh) vẫn cao hơn tại thị xã Tây Ninh và một số khu vực có khách du lịch lui tới. Giá vé vào cửa các khu du lịch như Long Điền Sơn, núi Bà Đen khá thấp, một số khu như căn cứ trung ương cục miền Nam, thánh thất Cao Đài, tháp cổ Bình Thạnh, Chót Mạt…không tính tiền vé. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Về đối tác, Tây Ninh rất gần với hai điểm đến du lịch nổi tiếng của miền Nam là thành phố Hồ Chí Minh và Bà Rịa-Vũng Tàu, có thể đi bằng đường bộ lẫn đường thủy tạo điều kiện cho tỉnh hợp tác dễ dàng với hai điểm này để tạo thành các tour liên vùng, tăng cường thêm sức hấp dẫn để cạnh tranh với các tour du lịch khác.
Về yếu tố nhân lực, gần đây do nhận thức về tầm quan trọng của phát triển du lịch, Sở văn hóa, thể thao và du lịch Tây Ninh đã tổ chức các lớp đào tạo ngắn hạn về du lịch cho các công ty lữ hành, các chủ nhà hàng, khách sạn, các khu du lịch…cũng như tạo điều kiện cho họ tham gia các triễn lãm, hội chợ, hội thảo về du lịch thông qua cung cấp thông tin cũng như tư vấn, hỗ trợ kinh phí..Đây là tín hiệu đáng mừng đầu tiên cho yếu tố nhân lực ngành du lịch của tỉnh.
Về mặt xúc tiến, tỉnh đã hình thành trung tâm xúc tiến đầu tư thương mại du lịch Tây Ninh, xét trong lĩnh vực du lịch có chức năng làm cầu nối cho các doanh nghiệp du lịch tại Tây Ninh và các doanh nghiệp khác trong nước.
- Những hạn chế cần khắc phục
Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính 2023, 2024 có thể làm giảm đáng kể mức cầu về du lịch trên thế giới, do đó ảnh hưởng đến Việt Nam trong đó có Tây Ninh.
Về sản phẩm du lịch, Tây Ninh có tiềm năng về du lịch chủ yếu là dựa trên tính đa dạng về tài nguyên du lịch, tuy nhiên một số khu du lịch vẫn chưa thật sự được hoàn thành ví dụ như dự án Hồ Dầu Tiếng, khu du lịch Ma Thiên Lãnh, khu du lịch văn hóa Bàu Cà Na…Nhiều dịch vụ ở đây vẫn còn thiếu, ví dụ như các khu bán hàng lưu niệm, các trung tâm mua sắm, cung cách phục vụ thiếu tính chuyên nghiệp do trình độ nhân viên còn hạn chế, hệ thống đường sá một số nơi còn kém chất lượng… Về dịch vụ khách sạn, vẫn còn nhiều điều cần cải thiện như hệ thống phòng ốc, chất lượng đội ngũ nhân viên, thái độ phục vụ…Nhìn chung, sản phẩm du lịch đơn điệu khó lòng hấp dẫn du khách quay trở lại.
Về mặt nhân lực, lực lượng quản lí về du lịch tuy có trình độ nhưng vẫn còn mỏng và thiếu kinh nghiệm cũng như kiến thức chuyên môn do du lịch vẫn còn là lĩnh vực mới mẻ, chỉ thật sự bắt đầu được chú ý đầu tư trong khoảng vài năm gần đây. Thậm chí một số dự án quy hoạch lớn chỉ mới được phê duyệt trong thời gian gần đây như hồ Dầu Tiếng được phê duyệt tháng 11 năm 2023, khu du lịch Ma Thiên Lãnh được phê duyệt cuối năm 2019, hay vườn quốc gia Lò Gò-Xa Mát tháng 11/2023… Còn lực lượng hoạt động trong lĩnh vực du lịch như các công ty lữ hành, các khu du lịch, lực lượng nhân viên có chuyên môn cao vẫn còn rất thiếu và hoạt động một cách thiếu chuyên nghiệp. Nói tóm lại, lực lượng nhân sự vừa yếu lẫn vừa thiếu. Riêng người dân bản xứ, tuy có ưu điểm là hiếu khách, ân cần và thân thiện nhưng họ vẫn chưa thật sự làm tròn vai trò đại sứ du lịch cho địa phương mình: họ vẫn chưa nắm được những thông tin cơ bản về các điểm du lịch tại tỉnh do quảng bá của tỉnh còn yếu, nhận thức về vai trò của du lịch đối với việc phát triển kinh tế tỉnh và nâng cao đời sống người dân vẫn còn hạn chế thậm chí là gần như con số “không”, trình độ ngoại ngữ hạn chế, tác phong buôn bán chưa chuyên nghiệp, chưa có ý thức về gìn giữ môi trường để bảo đảm phát triển du lịch bền vững…
Việc tổ chức triển khai thực hiện Chương trình hành động quốc gia về du lịch còn thiếu tính chủ động và thiếu sáng tạo trong xã hội hóa các nguồn lực (nhân, tài, vật lực) cho phát triển du lịch, còn bị bó hẹp chỉ trong phạm vi ngành du lịch là chủ yếu, điều này đang diễn ra ở nhiều địa phương trong cả nước. Và tình trạng này cũng đã diễn ra tại tỉnh Tây Ninh. Ví dụ như các doanh nghiệp hoạt động du lịch, các khu du lịch và Sở Du lịch còn chưa tranh thủ hết các nguồn lực trong nội bộ tỉnh, đặc biệt là tài lực mà chỉ dựa vào kinh phí phần lớn được rót về từ Tổng Cục Du Lịch. Trong thời gian gần đây tình hình này từng bước được cải thiện nhưng để xã hội hóa ngành du lịch, các cơ quan chức năng cần hành động nhiều hơn nữa.
Về xúc tiến du lịch, việc đầu tư cho xúc tiến quảng bá du lịch chưa được nhận thức đúng trong các cấp, các ngành, vẫn còn sự nhầm lẫn với quảng cáo, nên chưa thật sự quan tâm xây dựng cơ chế tạo nguồn kinh phí và phối hợp các lực lượng trong các chiến dịch quảng bá về đất nước, con người và du lịch Việt Nam nói chung và Tây Ninh nói riêng. Khái niệm về marketing du lịch vẫn còn là khái niệm khá mới mẻ và xa lạ đối với các doanh nghiệp hoạt động du lịch, cho nên chưa được chú trọng đầu tư đúng mức. Ngoài ra, do hạn chế về kiến thức chuyên môn nên các doanh nghiệp du lịch tại Tây Ninh, chủ nhà hàng, khách sạn chưa thật sự nhiệt tình trong việc tham gia vào các hội chợ, triển lãm để quảng bá về Tây Ninh và bản thân, họ tham gia một cách qua loa không có sự đầu tư chu đáo và bài bản. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Hiện nay tuy tỉnh Tây Ninh có trang web giới thiệu về du lịch nhưng chưa có hẳn một trang chuyên biệt dành cho nó, có những thông tin được cung cấp một cách sơ sài, không đầy đủ. Nhiều báo cáo của các sở, ban ngành chỉ được đăng lên một phần rất nhỏ, thông tin không đầy đủ, gây không ít phiền hà cho người đọc, đặc biệt là những người muốn du lịch đến Tây Ninh cũng như những người muốn tìm hiểu về một vùng đất giàu tiềm năng nhưng du lịch còn chậm phát triển ở vùng biên giới tây nam của tổ quốc.
Một điểm yếu quan trọng không chỉ Tây Ninh mà thậm chí một số điểm đến du lịch lớn của Việt Nam như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cũng đã và đang mắc phải đó là công tác xây dựng thương hiệu chưa được đầu tư và quan tâm đúng mức. Tỉnh Tây Ninh cũng như các địa phương khác trong nước chưa thật sự xây dựng được hình ảnh đặc trưng, một thương hiệu điểm đến trong mắt khách du lịch trong nước và quốc tế. Tỉnh và các địa phương khác còn rất yếu trong việc hình thành các văn phòng đại diện du lịch ở nước ngoài trong khi các quốc gia khác trong khu vực đã làm được việc này từ khá lâu.
Kinh phí hoạt động còn hạn chế trong khi chưa thật sự khai thác hết khả năng tài trợ của các bên có liên quan, ví dụ như các khu du lịch tại Tây Ninh có thể tài trợ cho các công ty lữ hành bằng nhiều hình thức khác nhau từ giảm giá vé vào cổng đến giảm giá dịch vụ cho khách hay hỗ trợ kinh phí cho các công ty du lịch đi triển lãm, hội chợ du lịch để có cơ hội quảng bá về Tây Ninh hoặc kinh phí phát hành sách hướng dẫn du lịch, băng đĩa giới thiệu về Tây Ninh… Nói chung, hoạt động của các chương trình du lịch quốc gia và địa phương tuy đã bước đầu thu hút được các nguồn lực tham gia nhưng còn ở mức thấp, và họ còn có tư tưởng ỷ lại, trông chờ, cho đó là trách nhiệm của riêng ngành du lịch. Trong khi về mặt nhân lực trong ngành du lịch, sở Giáo Dục và Đào Tạo cần có trách nhiệm hỗ trợ bằng cách định hướng cho học sinh- sinh viên ở Tây Ninh về tầm quan trọng và lợi ích của ngành du lịch, chọn những nghề nghiệp sao cho sau khi ra trường có thể về phục vụ lại trong ngành du lịch tỉnh nhà.
Bên cạnh đó, về mặt đối tác, Tây Ninh vẫn chưa tận dụng hết các mối quan hệ với các sở, ban ngành các tỉnh khác và Tổng cục du lịch để thật sự tham gia vào các chiến dịch quảng bá tại nước ngoài cũng như trong nước. Bên cạnh đó, việc hợp tác với các hãng vận chuyển, các công ty lữ hành từ các tỉnh khác để đưa thêm nhiều khách du lịch theo tour đến Tây Ninh, nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu về vận chuyển hành khách tại tỉnh…còn hạn chế. Hệ thống nhà hàng, khách sạn còn nhỏ lẻ hoạt động theo qui mô gia đình chưa có tính chuyên nghiệp cao cũng như chưa có chiến lược phát triển theo định hướng về du lịch của tỉnh.
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Tây Ninh tuy có chú trọng phát triển nhân lực trong ngành du lịch nhưng việc này chỉ dừng ở cấp quản lí còn lực lượng lao động trực tiếp phục vụ khách thì vẫn còn mỏng và chưa được trang bị kiến thức cần thiết và chưa được tiến hành một cách đều đặn, có hệ thống. Nhận thức trong người dân và các em học sinh-sinh viên về du lịch còn hạn chế. Theo quan điểm từ trước đến giờ trong giới học sinh, ngành du lịch không phải ngành quan trọng nên không được coi trọng lắm và cũng ít người chịu về tỉnh cống hiến cho ngành.
- Nguyên nhân Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Nguyên nhân quan trọng và trước tiên vẫn là sự non trẻ của ngành du lịch Tây Ninh.Ví dụ như tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ngay sau khi thành lập vào 12/8/2006, đã bắt tay ngay vào việc xây dựng đề án, phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch đến năm 2016 và ban hành nghị quyết về các giải pháp phát triển du lịch. Đồng thời, Bà Rịa – Vũng Tàu xác định du lịch là ngành kinh tế quan trọng, nêu rõ các loại hình du lịch cần tập trung phát triển (du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng cuối tuần, du lịch văn hoá kết hợp với thể thao) cũng như đã thành lập Ban Chỉ đạo phát triển du lịch với nhiệm vụ đề ra các chủ trương, giải pháp phát triển du lịch, điều phối hoạt động của các ban, ngành, địa phương trong việc xây dựng và thực hiện các chương trình phát triển chung. Rõ ràng là Tây Ninh đã khá chậm chân trong vấn đề này, mặc dù Tây Ninh cũng đã thực hiện Quy hoạch năm 2010 nhưng hiệu quả còn chưa cao.
Chính vì sự chậm chân này nên tỉnh cũng đã chưa chuẩn bị kịp lực lượng nhân lực để phục vụ cho ngành từ cơ quan chủ quản cho đến các nhà cung cấp có liên quan trong gói du lịch. Những sinh viên người Tây Ninh tốt nghiệp ngành du lịch vẫn chưa được hưởng những ưu đãi khi về tỉnh công tác, điều này dẫn đến tình trạng chảy máu chất xám, người có chuyên môn không muốn về tỉnh công tác trong những tổ chức có liên quan. Các chủ thể kinh doanh thường hoạt động theo kiểu cha truyền con nối chứ chưa chú ý đến thu hút nhân tài để phát triển doanh nghiệp mình.
Nhận thức về du lịch còn hạn chế trong giới hoạt động du lịch cũng như người dân địa phương. Có thể một số người có kinh nghiệm, có nhiệt quyết, có mối quan hệ tốt trong ngành này nhưng bản thân họ vẫn chưa được trang bị những kiến thức có hệ thống, bài bản để có thể lập nên một chiến lược phát triển đồng bộ và hợp lý. Một khi mọi người nhận thức được đầy đủ về tiềm năng du lịch của tỉnh và lợi ích lớn lao của nó thì tin chắc rằng không ai có thể đứng ngoài cuộc của chiến lược phát triển du lịch Tây Ninh sau này.
Qui mô hoạt động của các chủ thể liên quan còn nhỏ lẻ, do chưa thu hút được đầu tư nên bản thân họ cũng ngại phải đầu tư mở rộng thêm do lượng cầu chưa ổn định mà kinh phí đầu tư lại rất nặng. Bên cạnh đó, chi tiêu khách du lịch nội địa còn hạn chế, trong khi thời gian ở lại Tây Ninh của khách du lịch quốc tế còn rất thấp cũng là nguyên nhân hạn chế sự đầu tư, làm cho họ e ngại rủi ro.
Công tác marketing còn chưa được nhận thức đầy đủ, chưa có biện pháp và ý thức tiếp cận các thị trường du lịch, chưa xây dựng được một thương hiệu điểm đến trong lòng du khách. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
Kinh phí cho các hoạt động quảng bá, thiết lập quan hệ còn hạn chế trong khi du lịch Tây Ninh đi lên từ xuất phát điểm rất thấp nhưng lại ít được tiếp nhận sự hỗ trợ của Chính phủ, các cơ quan quản lý nhà nước cấp trên về du lịch.
Một nguyên nhân nữa cũng không kém phần quan trọng xuất phát từ tư duy chưa coi trọng đến thị trường du lịch quốc tế mà chỉ chú trọng đến thị trường nội địa nên trong số gần 3 triệu lượt khách du lịch của Tây Ninh năm 2025 thì chỉ có một số lượng rất ít là du khách quốc tế, còn lại chủ yếu là khách trong nước với mức chi tiêu khá ít.
Nền kinh tế Tây Ninh đang phát triển tích cực nhưng chưa đồng bộ và tiềm ẩn những dấu hiệu thiếu bền vững, năng lực cạnh tranh còn yếu, chậm phát huy các tiềm năng, thế mạnh, khả năng hội nhập chưa cao cũng ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển du lịch.
Công tác quy hoạch còn chậm, chất lượng chưa cao, định hướng quy hoạch nhiều mặt chưa rõ, tầm nhìn chưa đủ dài nên chỉ sau thời gian ngắn đã lạc hậu, thiếu gắn kết giữa các quy hoạch. Quản lý nhà nước về quy hoạch, phát triển đô thị còn nhiều mặt yếu kém ảnh hưởng đến quy hoạch du lịch.
Bên cạnh đó, việc huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển còn khó khăn. Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xã hội chưa cao. Môi trường đầu tư vẫn còn nhiều vướng mắc, thu hút đầu tư còn yếu so với nhiều địa phương trong cả nước, nhất là nguồn lực đầu tư nước ngoài cho các hoạt động du lịch.
Ngoài ra, chất lượng dịch vụ, chất lượng các sản phẩm du lịch còn thấp do chưa có chiến lược đầu tư đồng bộ và hiệu quả. Hình ảnh đặc trưng, nổi trội cho sản phẩm của du lịch Tây Ninh chưa được khai thác và phát huy có hiệu quả, một số sản phẩm du lịch truyền thống thiếu sức cạnh tranh do chưa nâng cao chất lượng dịch vụ, quản lý các loại hình dịch vụ chưa hiệu quả, quản lý kinh doanh bất cập, làm giảm sức thu hút du lịch, đầu tư so với một số địa phương trong vùng và cả nước.
Sau phần phân tích về tình hình phát triển du lịch tại tỉnh Tây Ninh, những kết quả đạt được và hạn chế, người viết có nhận xét chung rằng:
Tiềm năng về du lịch của Tây Ninh còn rất lớn nhưng chưa được khai thác do sự chậm trễ trong nhận thức của nhiều cơ quan, ban ngành và do nguồn lực tài chính còn hạn chế. Bên cạnh đó, tỉnh còn thụ động về nguồn kinh phí hoạt động, chưa phát huy hết các nguồn lực trong và ngoài tỉnh, kể cả nguồn lực nước ngoài, cần tranh thủ tận dụng tất cả các nguồn lực xã hội khác nhau.
Công tác marketing tại tỉnh còn ở giai đoạn sơ khai, mọi thứ đang ở những bước đi đầu tiên và còn nhiều thứ Tây Ninh phải thực hiện nếu muốn khai thác tiềm năng lợi thế của mình, dù là chậm hay muộn thì cũng cần thiết phải thực hiện.
Ấn tượng của khách du lịch về Tây Ninh nhìn chung tốt nhưng chưa thật sự có cái nhìn tổng thể đúng với lợi thế về thiên nhiên, con người Tây Ninh do tỉnh chưa có một chương trình tổng thể để xây dựng hình ảnh và thương hiệu cho riêng mình.
Yếu kém lớn nhất của Tây Ninh vẫn là cơ sở hạ tầng kém và tác phong phục vụ chưa chuyên nghiệp.
Nguồn nhân lực của Tây Ninh vừa yếu vừa thiếu so với yêu cầu phát triển của du lịch trong thời kì hội nhập, vì vậy việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trở thành một nhu cầu vô cùng cấp bách hơn bao giờ. Luận văn: Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch tỉnh Tây Ninh thời kì hội nhập

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

