Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng nghiên cứu về một số phẩm chất tâm lý cơ bản của hướng dẫn viên du lịch dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1 Vài nét về khách thể nghiên cứu:
- Tỉ lệ % khách thể nghiên cứu theo giới tính:
Bảng 2.1: Tỉ lệ % khách thể nghiên cứu theo giới tính
| Khách thể
Giới tính |
SV | HDVDL | KDL | Tổng cộng | ||||
| SL | % | SL | % | SL | % | SL | % | |
| Nam | 23 | 23 | 69 | 69 | 53 | 53 | 145 | 48.3 |
| Nữ | 77 | 77 | 31 | 31 | 47 | 47 | 155 | 51.7 |
| Tổng cộng | 100 | 100 | 100 | 100 | 100 | 100 | 300 | 100 |
Luận văn nghiên cứu trên tổng mẫu 300, trong đó có 145 khách thể nghiên cứu là nam chiếm 48.3% (145 nam) và 155 nữ chiếm 51.7%.
- Tỉ lệ % SV được khảo sát theo biến trường (trên 100 khách thể là SV)
- Có 66 SV trường ĐH Văn Lang chiếm 66%
- Có 34 SV trường ĐH Tôn Đức Thắng chiếm 34%
- Tỉ lệ % hướng dẫn viên du lịch hướng dẫn khách nội địa hay quốc tế:
Trong 100 mẫu hướng dẫn viên được khảo sát, có 60 hướng dẫn viên đang trực tiếp HD khách nội địa chiếm 60%. 40 hướng dẫn viên đang đảm trách nhiệm vụ HD cho khách quốc tế chiếm 40% Tỉ lệ % khách thể nghiên cứu theo nhóm tuổi:
Bảng 2.2: Tỉ lệ % khách thể nghiên cứu theo nhóm tuổi
| Khách thể
Nhóm tuổi |
HDVDL | KDL | Tổng cộng | |||
| SL | % | SL | % | SL | % | |
| Dưới 25 tuổi | 5 | 5 | 20 | 20 | 25 | 12.5 |
| 25 – dưới 40 tuổi | 75 | 75 | 64 | 64 | 139 | 69.5 |
| 40 – dưới 60 tuổi | 18 | 18 | 11 | 11 | 29 | 14.5 |
| 60 trở lên | 2 | 2 | 5 | 5 | 7 | 3,5 |
| Tổng cộng | 100 | 100 | 100 | 100 | 200 | 100 |
- Tỉ lệ % theo mức độ thường xuyên đi du lịch của khu du lịch (100 mẫu nghiên cứu):
Có 22 khu du lịch lựa chọn mức độ thỉnh thoảng chiếm 22%
Có 75 khu du lịch lựa chọn mức độ thường xuyên chiếm 77% Chỉ có 3 khu du lịch có mức độ đi du lịch rất thường xuyên chiếm 3% Và không có khu du lịch nào lựa chọn mức độ hiếm khi đi du lịch.
- Tỉ lệ % theo thâm niên công tác của hướng dẫn viên du lịch (100 mẫu nghiên cứu)
Có 67% hướng dẫn viên du lịch có thâm niên công tác từ 1 – dưới 5 năm 28% hướng dẫn viên du lịch có thâm niên công tác từ 5 – dưới 10 năm Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
Có 4 hướng dẫn viên đã làm công tác HD trên 10 năm chiếm 4%
Và chỉ có 1 hướng dẫn viên mới gia nhập vào đội ngũ HD chiếm 1%.
Như vậy, trên tổng mẫu là 300 khách thể nghiên cứu (chia đều ra 3 nhóm), được phân biệt với nhau theo giới tính, SV, nhóm tuổi, mức độ thường xuyên đi du lịch hay thâm niên công tác trong ngành HD, chúng tôi có những kết quả như trên.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.2. Mô tả Cách thức thu thập và xử lý số liệu
- Bước 1: Phát phiếu thăm dò ý kiến.
- Bước 2: Thu số liệu và kiểm tra, loại bỏ những phiếu không hợp lệ.
- Bước 3: Nhập và xử lý số liệu.
Khi tiến hành khảo sát: “Một số phẩm chất tâm lý cơ bản của hướng dẫn viên du lịch”, chúng tôi sử dụng 42 câu hỏi với thang đo 5 mức theo qui ước sau:
- Hoàn toàn không cần thiết = 1
- Ít cần thiết = 2
- Bình thường = 3
- Cần thiết = 4
- Rất cần thiết = 5
Tổng điểm tối đa của tính tích cực là 210 điểm. Người đạt số điểm tối đa của tính tích cực là người có mức độ biểu hiện cao. Theo quan điểm của chúng tôi, nếu người trả lời chỉ đạt từ 1/3 tổng số điểm trở xuống thì được xem là mức rất thấp. Nếu người trả lời đạt 2/3 tổng số điểm thì được xem là trung bình. Do đó, dưới 2/3 tổng điểm là thấp.
Như vậy dưới 2/3 tổng điểm là dưới trung bình. Ta có thể phân chia làm 3 đẳng loại: thấp, khá thấp, trung bình. Chia khoảng điểm trên trung bình thành hai đẳng loại: khá cao và cao như sau:
Bảng 2.3: Các mức độ biểu hiện các phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch
Dựa trên bảng Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
| Mức độ | 1 | 2 | 3 | 4 | 5 |
| Tên mức độ | Thấp | Khá Thấp | Trung bình | Khá cao | Cao |
| Điểm biểu hiện | 42 – 70 | 71 –105 | 106 – 140 | 141- 175 | 176 – 210 |
| Đẳng loại | 1.0→1.66 | 1.67→ 2.5 | 2.51→3.34 | 3.35→4.17 | 4.18→5.0 |
Bảng 2.3: chúng tôi cho rằng:
- TB > 3.34 = mức độ cần thiết cao => Phẩm chất tâm lý cơ bản.
- 5 ≤ TB ≤ 3.34 = mức độ trung bình = Phẩm chất tâm lý cần thiết nhưng không cơ bản.
- TB < 2.5 = mức độ thấp => Phẩm chất tâm lý không cơ bản.
Với tất cả các số liệu thu được, nhóm nghiên cứu sử dụng phần mềm máy tính SPSS 11.5 để tính độ TB điều hòa (TB); so sánh sự khác biệt ý nghĩa giữa các nhóm khách thể điều tra với số lượng mẫu từ 2 nhóm trở lên (kiểm nghiệm Anova với mức ý nghĩa α = 0.05):
- P ≥ 0.05 = không có ý nghĩa về mặt thống kê (không có sự khác biệt giữa các nhóm khách thể khi đánh giá về mức độ cần thiết của các Phẩm chất tâm lý).
- P < 0.05 = có ý nghĩa về mặt thống kê (có sự khác biệt giữa các nhóm khách thể khi đánh giá về mức độ cần thiết của các Phẩm chất tâm lý).
Bước 4: Tổng hợp tài liệu, viết hoàn thành luận văn nghiên cứu.
2.3. Phân tích kết quả điều tra thực trạng. Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
2.3.1. Kết quả của giai đoạn điều tra mở về một số Phẩm chất tâm lý cần có ở hướng dẫn viên du lịch
Trong giai đoạn điều tra mở (mẫu 1a, 1b; phụ lục 1), chúng tôi trưng cầu lấy ý kiến của 2 CBQL&ĐT có thâm niên công tác trên 10 năm; 5 CBQL&ĐT có thâm niên công tác trên 5 năm; 25 hướng dẫn viên du lịch hiện đang công tác tại các công ty lữ hành trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh; 10 khu du lịch được đánh giá có mức độ du lịch thường xuyên từ công ty du lịch Fiditour; 50 SV hiện đang học tập tại trường Đại học dân lập Văn Lang bằng các mẫu phiếu mở. Tuy cách dùng từ, dùng câu văn có khác nhau nhưng nhìn chung phần lớn ý kiến đều tập trung vào một số Phẩm chất tâm lý cần có của hướng dẫn viên du lịch. Đó là:
PC đạo đức: Lòng tự hào dân tộc, trung thành với đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, tôn trọng pháp luật, tôn trọng khách hàng, tôn trọng nghề,…
PC Trí tuệ – năng lực: Năng lực tổ chức, quản lý đoàn tốt, nắm bắt tâm lý khách hàng tốt, bình tĩnh trước mọi tình huống, khả năng truyền đạt tốt, có khả năng thích nghi với mọi hoàn cảnh và môi trường, biết lắng nghe khách hàng,…
PC Ý chí – tính cách: trung thực; hòa nhã, niềm nở, thân thiện với khách; hài hước, hóm hình; vui vẻ, hoạt bát; tận tâm với nghề nghiệp chuyên môn;…
Như vậy, sau khi ghép các PC tương tự lại với nhau và so sánh với phần cơ sở lý luận trong đề tài, chúng tôi nhận thấy rằng những Phẩm chất tâm lý qua giai đoạn điều tra mở (chủ yếu dựa trên ý kiến của các chuyên gia (CBQL&ĐT và hướng dẫn viên du lịch)) nêu ra đều phù hợp. Đó là những Phẩm chất tâm lý cơ bản mà hướng dẫn viên du lịch cần có. Tuy nhiên, như thế vẫn chưa đủ. Trên cơ sở các kết luận rút ra về Phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch cùng với ý kiến của các chuyên gia, chúng tôi có được 42 Phẩm chất tâm lý mà hướng dẫn viên du lịch cần có để hoàn thành nhiệm vụ của mình. 42 PC này bao gồm 3 nhóm, đó là:
- Nhóm PC đạo đức, bao gồm 9 PC:
- Lòng yêu quê hương đất nước
- Trung thành với đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước
- Lòng yêu nghề
- Tôn trọng khách hàng
- Tôn trọng đồng nghiệp
- Tôn trọng pháp luật
- Tôn trọng nghề
- Tinh thần đồng đội cao
- Ý thức cộng đồng cao
Nhóm PC trí tuệ – năng lực: bao gồm 15 PC:
- Trí nhớ tốt
- Tư duy nhanh nhạy
- Xử lý tình huống tốt
- Khả năng ngôn ngữ tốt
- Khả năng lắng nghe tốt
- Khả năng nói trước đám đông tốt
- Khả năng truyền đạt tốt
- Khả năng thuyết phục cao
- Nắm bắt tâm lý khách hàng tốt
- Năng lực tổ chức, quản lý đoàn tốt 11. Khả năng phán đoán tốt
- Khả năng thích nghi, hòa nhập cao
- Thông minh
- Khả năng quan sát tốt
- Tư duy sáng tạo
Nhóm PC ý chí – tính cách: bao gồm 18 PC:
- Tinh thần trách nhiệm cao
- Tận tâm với công việc
- Tính thận trọng
- Tính kế hoạch
- Lịch sự với khách hàng
- Thân thiện tạo được sự tin tưởng nơi khách hàng
- Tính khiêm tốn
- Tính ham học hỏi
- Tính trung thực
- Tính hài hước, hóm hỉnh
- Chu đáo với khách hàng
- Vui vẻ, hoạt bát
- Tinh thần chịu đựng gian khổ
- Tính kiên nhẫn
- Tinh thần cầu tiến
- Năng động
- Tác phong đứng đắn
- Tính độc lập
Căn cứ vào 42 PC trên, chúng tôi xây dựng bảng khảo sát (phụ lục 2, 3, 4) và tiến hành điều tra nhằm hoàn thành các nhiệm vụ đặt ra trong đề tài. Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
2.3.2. Phân tích kết quả điều tra thực trạng nhận thức của các khách thể về mức độ cần thiết của một số Phẩm chất tâm lý cần có của hướng dẫn viên du lịch.
Với các mẫu phiếu khảo sát (phụ lục 2, 3, 4) thăm dò ý kiến của 300 khách thể về mức độ cần thiết của các Phẩm chất tâm lý trên. Kết quả nghiên cứu được phản ánh ở bảng 2.4.
Bảng 2.4: Đánh giá của các khách thể về Phẩm chất tâm lý cơ bản của hướng dẫn viên du lịch.
| Stt | SV | HDVDL | KDL | Tổng cộng | |||||
| TB | Thứ bậc | TB | Thứ bậc | TB | Thứ bậc | TB | Thứ bậc | ||
| 1 | Khả năng truyền đạt tốt | 4.42 | 1 | 4.39 | 4 | 4.43 | 2 | 4.41 | 1 |
| 2 | Khả năng ngôn ngữ tốt | 4.23 | 5 | 4.52 | 1 | 4.44 | 1 | 4.40 | 2 |
| 3 | Tinh thần trách nhiệm cao | 4.33 | 2 | 4.36 | 5 | 4.39 | 3 | 4.36 | 3 |
| 4 | Khả năng nói trước đám đông tốt | 4.26 | 4 | 4.32 | 6 | 4.43 | 2 | 4.34 | 4 |
| 5 | Xử lý tình huống tốt | 4.29 | 3 | 4.41 | 3 | 4.31 | 5 | 4.33 | 5 |
| 6 | Khả năng lắng nghe tốt | 4.09 | 11 | 4.43 | 2 | 4.38 | 4 | 4.30 | 6 |
| 7 | Khả năng thuyết phục cao | 4.16 | 8 | 4.31 | 7 | 4.23 | 8 | 4.23 | 7 |
| 8 | Lòng yêu nghề | 4.22 | 6 | 4.30 | 8 | 4.06 | 14 | 4.19 | 8 |
| 9 | Tôn trọng khách hàng | 4.09 | 11 | 4.22 | 12 | 4.22 | 9 | 4.18 | 9 |
| 10 | Tận tâm với công việc | 4.16 | 8 | 4.11 | 20 | 4.23 | 8 | 4.17 | 10 |
| 11 | Lịch sự với khách hàng | 3.93 | 15 | 4.21 | 13 | 4.25 | 7 | 4.13 | 11 |
| 12 | Chu đáo với khách hàng | 4.12 | 10 | 4.13 | 19 | 4.13 | 12 | 4.13 | 11 |
| 13 | Vui vẻ, hoạt bát | 4.13 | 9 | 3.99 | 23 | 4.27 | 6 | 4.13 | 11 |
| 14 | Lòng yêu quê hương đất nước | 3.87 | 17 | 4.29 | 9 | 4.20 | 10 | 4.12 | 12 |
| 15 | Tôn trọng pháp luật | 3.92 | 16 | 4.18 | 15 | 4.25 | 7 | 4.12 | 12 |
| 16 | Thân thiện tạo được sự tin tưởng nơi khách hàng | 3.94 | 14 | 4.19 | 14 | 4.17 | 11 | 4.10 | 13 |
| 17 | Tôn trọng nghề | 3.94 | 14 | 4.28 | 10 | 4.01 | 16 | 4.08 | 14 |
| 18 | Nắm bắt tâm lý khách hàng tốt | 3.93 | 15 | 4.15 | 17 | 4.13 | 12 | 4.07 | 15 |
| 19 | Năng động | 4.17 | 7 | 4.09 | 21 | 3.94 | 18 | 4.07 | 15 |
| 20 | Khả năng thích nghi, hòa nhập cao | 3.93 | 15 | 4.24 | 11 | 4.03 | 15 | 4.07 | 15 |
| 21 | Tác phong đứng đắn | 3.87 | 17 | 4.16 | 16 | 4.01 | 16 | 4.01 | 16 |
| 22 | Năng lực tổ chức, quản lý đoàn tốt | 3.87 | 17 | 4.14 | 18 | 3.86 | 21 | 3.99 | 17 |
| 23 | Tính trung thực | 3.92 | 16 | 3.94 | 26 | 4.09 | 13 | 3.98 | 18 |
| 24 | Tư duy nhanh nhạy | 3.97 | 13 | 4.05 | 22 | 3.86 | 21 | 3.96 | 19 |
| 25 | Tính hài hước, hóm hỉnh | 4.08 | 12 | 3.76 | 30 | 3.94 | 18 | 3.93 | 20 |
| 26 | Tính kế hoạch | 3.78 | 19 | 4.11 | 20 | 3.87 | 20 | 3.92 | 21 |
| 27 | Khả năng quan sát tốt | 3.83 | 18 | 3.85 | 27 | 4.00 | 17 | 3.89 | 22 |
| 28 | Ý thức cộng đồng cao | 3.76 | 20 | 3.96 | 24 | 3.89 | 19 | 3.87 | 23 |
| 29 | Tinh thần chịu đựng gian khổ | 3.65 | 22 | 3.95 | 25 | 3.78 | 22 | 3.79 | 24 |
| 30 | Tính kiên nhẫn | 3.75 | 21 | 3.78 | 28 | 3.76 | 23 | 3.76 | 25 |
| 31 | Tính độc lập | 3.62 | 23 | 3.77 | 29 | 3.78 | 22 | 3.72 | 26 |
| 32 | Khả năng phán đoán tốt | 2.95 | 29 | 3.57 | 31 | 3.42 | 25 | 3.31 | 27 |
| 33 | Tính thận trọng | 3.28 | 25 | 3.36 | 33 | 3.08 | 27 | 3.24 | 28 |
| 34 | Tính ham học hỏi | 2.92 | 30 | 3.29 | 34 | 3.43 | 24 | 3.21 | 29 |
| 35 | Thông minh | 3.25 | 26 | 2.93 | 36 | 3.37 | 26 | 3.18 | 30 |
| 36 | Tinh thần cầu tiến | 2.61 | 32 | 3.42 | 32 | 3.08 | 27 | 3.04 | 31 |
| 37 | Tư duy sáng tạo | 3.23 | 27 | 3.15 | 35 | 2.59 | 32 | 2.99 | 32 |
| 38 | Tinh thần đồng đội cao | 3.30 | 24 | 2.61 | 38 | 2.90 | 29 | 2.93 | 33 |
| 39 | Tính khiêm tốn | 3.28 | 25 | 2.73 | 37 | 2.61 | 31 | 2.87 | 34 |
| 40 | Trung thành với đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước | 2.88 | 31 | 2.53 | 41 | 3.04 | 28 | 2.82 | 35 |
| 41 | Tôn trọng đồng nghiệp | 2.97 | 28 | 2.50 | 39 | 2.85 | 30 | 2.77 | 36 |
| 42 | Trí nhớ tốt | 2.50 | 33 | 2.68 | 40 | 2.56 | 33 | 2.58 | 37 |
Kết quả trên cho thấy: Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
Theo đánh giá của SV, trong 42 Phẩm chất tâm lý trên, “Khả năng truyền đạt tốt” đạt 4.42đ (thứ bậc 1/42); “Tinh thần trách nhiệm cao” đạt 4.33đ (thứ bậc 2/42); “Xử lý tình huống tốt” đạt 4.29đ (thứ bậc 3/42); “Khả năng nói trước đám đông tốt” đạt 4.26đ (thứ bậc 4/42); “Khả năng ngôn ngữ tốt” đạt 4.23đ (thứ bậc 5/42);… là những PC được xếp vào nhóm có mức điểm TB cao cần có của hướng dẫn viên du lịch – những Phẩm chất tâm lý cơ bản (điểm TB > 2/3 tổng điểm tối đa).
Nhóm các Phẩm chất tâm lý có điểm số TB bao gồm các PC: “Tinh thần đồng đội cao” đạt 3.30đ (thứ bậc 24/42); “Tính thận trọng” và “Tính khiêm tốn” cùng đạt 3.28đ (thứ bậc 25/42); “Thông minh” đạt 3.24đ (thứ bậc 26/42); “Tư duy sáng tạo ”đạt 3.23đ (thứ bậc 27/42); “Tôn trọng đồng nghiệp”đạt 2.97đ (thứ bậc 28/32); “Khả năng phán đoán tốt” đạt 2.95đ (thứ bậc 29/42); “Tính ham học hỏi” đạt 2.92đ (thứ bậc 30/42); “Trung thành với đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước” đạt 2.88đ (thứ bậc 31/42); “Tinh thần cầu tiến” đạt 2.61đ (thứ bậc 32/42); “Trí nhớ tốt” đạt 2.17đ (thứ bậc 33/42).
Như vậy, theo đánh giá của SV, nhóm các Phẩm chất tâm lý có điểm số TB trên thuộc nhóm PC cần thiết của nghề hướng dẫn viên du lịch nhưng không phải là những Phẩm chất tâm lý cơ bản.
HDVDL lại cho rằng: “Khả năng ngôn ngữ tốt” là PC cần thiết nhất mà người làm công tác HD cần phải có đạt mức điểm TB là 4.52đ; “Khả năng lắng nghe tốt” có mức cần thiết thứ 2 với 4.43đ; “Xử lý tình huống tốt” có mức cần thiết thứ 3 với số điểm TB là 4.41đ; kế tiếp là “Khả năng truyền đạt tốt” với 4.39đ xếp vị trí thứ 4; “Tinh thần trách nhiệm cao” đạt 4.36đ (thứ bậc 5/42)…. Đây là nhóm Phẩm chất tâm lý có mức điểm TB cao, cần có của hướng dẫn viên du lịch – được đánh giá là những Phẩm chất tâm lý cơ bản (điểm TB > 2/3 tổng điểm tối đa).
PC “Tính thận trọng” đạt 3.36đ (thứ bậc 33/42); “Tính ham học hỏi” đạt 3.29đ (thứ bậc 34/42); “Tư duy sáng tạo” đạt 3.15đ (thứ bậc 35/42); “Thông minh” đạt 2.93đ (thứ bậc 36/42); “Tính khiêm tốn” đạt 2.73đ (thứ bậc 37/42); “Tinh thần đồng đội cao” đạt 2.61đ (thứ bậc 38/42); “Tôn trọng đồng nghiệp” đạt 2.48đ (thứ bậc 39/42); “Trí nhớ tốt” đạt 2.36đ (thứ bậc 40/42); “Trung thành với đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước” đạt 2.53đ (thứ bậc 41/42) là những Phẩm chất tâm lý thuộc nhóm PC có điểm số đánh giá TB và là những PC cần có của hướng dẫn viên du lịch nhưng vẫn chưa phải là những Phẩm chất tâm lý cơ bản.
Trong khi đó, khu du lịch lại đánh giá “Khả năng ngôn ngữ tốt” là PC cần thiết nhất mà hướng dẫn viên du lịch cần có, đạt 4.44đ (thứ bậc 1/42); “Khả năng truyền đạt tốt”; “Khả năng nói trước đám đông tốt” cùng đạt 4.43đ (thứ bậc 2/42); tiếp theo là “Tinh thần trách nhiệm cao” đạt 4.39 (thứ bậc 3/42); “Khả năng lắng nghe tốt” đạt 4.83đ (thứ bậc 4/42); “Xử lý tình huống tốt” đạt 4.31đ (thứ bậc 5/42)….là những Phẩm chất tâm lý cơ bản của hướng dẫn viên du lịch (điểm TB > 2/3 tổng điểm tối đa).
Những Phẩm chất tâm lý được khu du lịch xếp vào nhóm PC có mức điểm đánh giá TB bao gồm: PC “Thông minh” đạt 3.37đ (thứ bậc 26/32); “Tính thận trọng”, “Tinh thần cầu tiến” cùng đạt 3.08đ (thứ bậc 27/42); “Trung thành với đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước” đạt 3.04đ (thứ bậc 28/42); “Tinh thần đồng đội cao” đạt 2.90đ (thứ bậc 29/42); “Tôn trọng đồng nghiệp” đạt 2.85đ (thứ bậc 30/42); “Tính khiêm tốn” đạt 2.61đ (thứ bậc 31/42); “Tư duy sáng tạo” đạt 2.59đ (thứ bậc 32/42); “Trí nhớ tốt” đạt 2.31đ (thứ bậc 33/42). Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
Những Phẩm chất tâm lý này được khu du lịch đánh giá là cần thiết nhưng chưa thật sự là những PC cơ bản của nghề hướng dẫn viên du lịch.
Dựa trên kết quả tổng hợp đánh giá của SV, hướng dẫn viên du lịch và khu du lịch, chúng tôi nhận thấy các khách thể nghiên cứu đều cho rằng: “Khả năng truyền đạt tốt” là PC cao nhất mà hướng dẫn viên du lịch cần có, đạt 4.41đ (thứ bậc 1/42); “Khả năng ngôn ngữ tốt” đạt 4.40đ (thứ bậc 2/42); “Tinh thần trách nhiệm cao” đạt 4.36đ (thứ bậc 3/42); “Khả năng nói trước đám đông tốt” đạt 4.34đ (thứ bậc 4/42); “Xử lý tình huống tốt”đạt 4.33đ (thứ bậc 5/42). Những PC này được xếp trong nhóm 5 Phẩm chất tâm lý cần thiết có thứ bậc cao và phần lớn đều là những PC thuộc về nhóm trí tuệ – kỹ năng, trong đó kỹ năng giao tiếp đóng vai trò cơ bản nhất. Những Phẩm chất tâm lý khác đều được đánh giá ở mức điểm cao và cùng được xếp vào nhóm những Phẩm chất tâm lý cơ bản cần có của hướng dẫn viên du lịch (điểm TB trên 2/3 mức điểm tối đa).
Trong khi đó, những PC được xếp vào nhóm có điểm đánh giá TB: PC “Khả năng phán đoán tốt” đạt 3.31đ (thứ bậc 27/42); “Tính thận trọng” đạt 3.24đ (thứ bậc 28/42); “Tính ham học hỏi” đạt 3.21đ (thứ bậc 29/42); “Thông minh” đạt 3.18đ (thứ bậc 30/42); “Tinh thần cầu tiến” đạt 3.04đ (thứ bậc 31/42); “Tư duy sáng tạo” đạt 2.99đ (thứ bậc 32/42); “Tinh thần đồng đội cao” đạt 2.93đ (thứ bậc 33/42); “Tính khiêm tốn” đạt 2.87đ (34/42); “Trung thành với đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước” đạt 2.82đ (thứ bậc 35/42); “Tôn trọng đồng nghiệp” đạt 2.77đ (thứ bậc 36/42); “Trí nhớ tốt” đạt 2.28đ (thứ bậc 37/42) được xếp vào nhóm những Phẩm chất tâm lý cần thiết của người làm công tác HD nhưng chưa phải là những Phẩm chất tâm lý cơ bản của hướng dẫn viên du lịch (điểm TB dưới 2/3 mức điểm tối đa).
Như vậy, có thể khẳng định với 42 Phẩm chất tâm lý được khảo sát, các khách thể đều đánh giá đây là những PC cần thiết mà người hướng dẫn viên du lịch cần có. Tuy nhiên, trong 42 PC đó, chỉ có 31 Phẩm chất tâm lý được đánh giá ở mức cần thiết cao – là những Phẩm chất tâm lý cơ bản cần có của hướng dẫn viên du lịch, bao gồm các PC: Khả năng truyền đạt tốt; Khả năng ngôn ngữ tốt; Tinh thần trách nhiệm cao; Khả năng nói trước đám đông tốt; Xử lý tình huống tốt; Kỹ năng lắng nghe tốt; Khả năng thuyết phục cao; Lòng yêu nghề; Tôn trọng khách hàng; Tận tâm với công việc; Lịch sự với khách hàng; Chu đáo với khách hàng; Vui vẻ, hoạt bát; Lòng yêu quê hương đất nước; Tôn trọng pháp luật; Thân thiện tạo được sự tin tưởng nơi khách hàng; Tôn trọng nghề; Nắm bắt tâm lý khách hàng tốt; Năng động; Khả năng thích nghi, hòa nhập cao; Tác phong đứng đắn; Năng lực tổ chức, quản lý đoàn tốt; Tính trung thực; Tư duy nhanh nhạy; Tính hài hước, hóm hỉnh; Tính kế hoạch; Khả năng quan sát tốt; Ý thúc cộng đồng cao; Tinh thần chịu đựng gian khổ; Tính kiên nhẫn; Tính độc lập.
Mức độ cần thiết của các nhóm Phẩm chất tâm lý được phân tích dưới đây.
2.3.2.1. Đánh giá của các khách thể về mức độ cần thiết của nhóm Phẩm chất tâm lý thuộc về Đạo đức
- Nhóm Phẩm chất tâm lý thuộc về đạo đức đóng vai trò định hướng cho hoạt động HD du lịch của hướng dẫn viên.
- Mức độ cần thiết của từng PC được thể hiện ở bảng 2.5
Bảng 2.5: Mức độ cần thiết của các Phẩm chất tâm lý thuộc nhóm PC đạo đức
Dựa trên bảng 2.5, chúng tôi nhận thấy cả 3 nhóm khách thể đều cho rằng những Phẩm chất tâm lý thuộc nhóm đạo đức có mức cần thiết cao (4.09đ) đối với yêu cầu của nghề nghiệp. Trong đó, SV đánh giá mức cần thiết của những PC này với điểm trung bình là 3.97đ, khu du lịch đánh giá ở mức 4.10đ, cao nhất là hướng dẫn viên đánh giá ở mức 4.20đ.
Cụ thể như sau: Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
- Lòng yêu nghề (P6):
Mỗi một nghề nghiệp bao giờ cũng có những đòi hỏi nhất định riêng của nó. Khi lựa chọn một nghề chúng ta thường xem xét trên 2 khía cạnh chính: năng lực và niềm đam mê. Nghề hướng dẫn viên là nghề đòi hỏi phải có kiến thức tổng quát trên nhiều lĩnh vực và hoạt động trên nhiều địa bàn, với khối lượng công việc tương đối cao. Tuy nhiên xét về mặt tính chất, HD lại được coi là nghề có tính chất nhàm chán, đơn điệu nên dễ tạo ra sự chán nản đối với những ai tham gia vào hoạt động này.
Do đó, để có tồn tại và phát triển cùng nghề đòi hỏi hướng dẫn viên phải có niềm đam mê về nó thật sự. Ở đây, chính là lòng yêu nghề.
Cả 3 nhóm khách thể nghiên cứu đều nhận thức rất rõ về điều này và đánh giá PC “Lòng yêu nghề” có điểm TB là 4.19đ (thứ bậc 1/6).
- Tôn trọng khách hàng (P29):
Tôn trọng khách được thể hiện thông qua việc tôn trọng nhân cách và lòng tự trọng của khách. Yêu cầu được tôn trọng là một nhu cầu rất cao của con người, hết sức nhạy bén, mẫn cảm và đó là điều bình thường của tất cả du khách. Do đó, hướng dẫn viên cần tôn trọng những ý kiến, nhu cầu riêng và những sinh hoạt cá nhân của khách thông qua những hành vi và thái độ rất cụ thể. Một khi chúng ta tôn trọng khách hàng thì khách hàng sẽ tôn trọng và hợp tác với chúng ta. Đó cũng là cách chúng ta thể hiện sự tôn trọng đối với chính bản thân mình và nghề nghiệp của mình.
Kết quả điều tra cho thấy, PC “Tôn trọng khách hàng”có mức cần thiết với số điểm TB là 4.18đ (thứ bậc 2/6; trong đó SV và khu du lịch cùng xếp thứ bậc 2/6, hướng dẫn viên du lịch xếp thứ bậc 4/6).
- Lòng yêu quê hương đất nước (P1):
PC này được thể hiện qua việc hướng dẫn viên đặt tình cảm xen lẫn niềm tự hào dân tộc vào từng câu văn, lời nói khi giới thiệu với du khách về danh lam, thắng cảnh mà đoàn đi qua. PC này đánh giá có mức cần thiết cao (4.12đ), cùng xếp vị trí thứ ba trong 10 Phẩm chất tâm lý cần có thuộc nhóm PC trên. (SV xếp thứ bậc 5/6, hướng dẫn viên du lịch xếp thứ bậc 2/6, khu du lịch xếp thứ bậc 3/6).
- Tôn trọng pháp luật (P31): Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
Vì là người đại diện cho một dân tộc, một quốc gia, một lãnh thổ, hoặc chỉ đơn thuần đại diện cho một địa phương để giới thiệu với du khách những nét đẹp văn hóa, thẩm mỹ về đất nước và con người Việt Nam nên đòi hỏi hướng dẫn viên bên cạnh những kiến thức cơ bản về văn hóa, lịch sử,…, hướng dẫn viên du lịch cần phải thấm nhuần tư tưởng về chính trị – tư tưởng. Một trong những PC cần có đó là “Tôn trọng pháp luật”.
Một thực tế không thể chối cãi là ngày càng nhiều hướng dẫn viên, vì lợi ích kinh tế, vì nhu cầu của bản thân, dễ rơi vào những cám dỗ về mặt vất chất nên đã đi trái lại với yêu cầu của nghề nghiệp và quy định của pháp luật, có những hành vi xâm hại đến văn hóa, trật tự an toàn xã hội ở nơi du lịch nói riêng và đất nước nói chung.
Do đó, với vai trò là người giới thiệu, diễn thuyết và đưa văn hóa vùng miền đến gần với du khách hơn, hướng dẫn viên du lịch cần phải mẫu mực trong các hoạt động xã hội, một trong những yêu cầu cao trong cuộc sống cá nhân là phải tôn trọng pháp luật.
PC này xếp ở vị trí thứ ba dựa trên nhận định của cả 3 nhóm khách thể với số điểm TB là 4,12đ (SV xếp thứ bậc 4/6, hướng dẫn viên du lịch xếp thứ bậc 5/6; khu du lịch xếp thứ bậc 1/6).
- Tôn trọng nghề(P38):
Để tồn tại và phát triển cùng nghề, hướng dẫn viên chỉ có lòng yêu nghề không chưa đủ, mà cần phải biết tôn trọng chính nghề nghiệp mình đang hoạt động, thể hiện qua việc hướng dẫn viên có lối sống lành mạnh, giữ gìn được bản sắc dân tộc, thuần phong mỹ tục để du khách hiểu rõ và tôn trọng chính chúng ta. Đây là cách thức thể hiện sự tôn trọng đối với nghề nghiệp. PC này được đánh giá có mức điểm TB cao: 4.08đ (thứ bậc 4/6; trong đó SV và hướng dẫn viên du lịch xếp thứ bậc 3/6, khu du lịch xếp thứ bậc 5/6).
- Ý thức cộng đồng cao (P42):
Là PC thể hiện qua việc hướng dẫn viên có ý thức bảo vệ và tích cực tuyên truyền việc bảo vệ môi trường, di sản văn hóa, tham gia du lịch Xanh …đến khách du lịch. Các nhóm khách thể nghiên cứu đánh giá mức cần thiết của PC này là 3.87đ và cùng xếp thứ bậc 5/6.
Tóm lại, PC đạo đức là một trong những nhóm Phẩm chất tâm lý cơ bản, quan trọng của hướng dẫn viên du lịch được các khách thể nghiên cứu đánh giá mức độ cần thiết cao, thể hiện qua các PC như: Lòng yêu nghề; Tôn trọng khách hàng; Lòng yêu quê hương đất nước; Tôn trọng pháp luật; Tôn trọng nghề; Ý thức cộng đồng cao.
2.3.2.2. Đánh giá của các khách thể về mức độ cần thiết của nhóm Phẩm chất tâm lý thuộc về Trí tuệ – Năng lực
Mức độ cần thiết của các PC Trí tuệ – Năng lực của hướng dẫn viên du lịch được thể hiện ở bảng 2.6
Bảng 2.6: Mức độ cần thiết của các Phẩm chất tâm lý thuộc nhóm PC Trí tuệ – Năng lực
Theo kết quả điều tra cho thấy, SV đánh giá nhóm PC Trí tuệ – Năng lực có mức cần thiết cao là 4.10đ; hướng dẫn viên du lịch đánh giá ở mức 4.26đ; khu du lịch cho rằng nhóm PC này được 4.19đ; tổng hợp nhận thức của cả 3 nhóm này có mức điểm TB là 4.18đ có mức cần thiết cao. Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
Trong tổng số 11 Phẩm chất tâm lý thuộc nhóm PC Trí tuệ – Năng lực, chúng tôi nhận thấy các PC xếp thứ bậc cao đều thuộc về nhóm kỹ năng giao tiếp và sử dụng ngôn ngữ:
- Khả năng truyền đạt tốt (P13):
PC này đòi hỏi người hướng dẫn viên phải có khả năng truyền tải được ý tưởng, hình ảnh, nét đẹp của thắng cảnh đến với du khách, đạt 4.41đ (thứ hạng 1/11; trong đó SV xếp thứ bậc 1/11, khu du lịch xếp thứ bậc 2/11, hướng dẫn viên du lịch xếp thứ bậc 4/11).
- Khả năng ngôn ngữ tốt (P10):
Đây là PC đòi hỏi hướng dẫn viên phải có khả năng sử dụng ngôn ngữ tốt để tránh không bị trùng lắp hay tối nghĩa, gây sự nhàm chán khi hướng dẫn viên giới thiệu hoặc giải thích thắc mắc của du khách. PC này có mức điểm TB là 4.40đ (thứ bậc 2/15: hướng dẫn viên du lịch cùng xếp thứ bậc 1/11, SV xếp thứ bậc 4/11).
- Khả năng nói trước đám đông tốt (P12):
PC này được đánh giá với mức điểm TB là 4.34đ (thứ bậc 3/11). Vì tính chất công việc bắt buộc hướng dẫn viên phải tiếp xúc, gặp gỡ và giới thiệu những danh lam thắng cảnh trước nhiều người, hoặc đôi khi tổ chức trò chơi theo yêu cầu của đoàn khách, do đó, một trong những điều kiện cần là có khả năng nói trước đám đông, tự tin vào chính tài ăn nói của mình.
Trong đó, khu du lịch xếp thứ bậc 2/11, SV xếp thứ bậc 3/11, hướng dẫn viên du lịch xếp thứ bậc 5/11.
- Xử lý tình huống tốt (P9):
PC này đòi hỏi, dù trong hoàn cảnh nào, hướng dẫn viên cũng phải luôn trong tâm thế sẵn sàng đưa ra những quyết định kịp thời nhằm thay đổi tình hình, hoàn cảnh, tạo niềm tin cho khách hàng. Khách thể nghiên cứu đánh giá PC này ở mức 4.33đ (thứ bậc 4/11; trong đó SV xếp thứ bậc 2/11, hướng dẫn viên du lịch xếp thứ bậc 3/11, khu du lịch xếp thứ bậc 4/11).
- Kỹ năng lắng nghe tốt (P11): Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
Được xếp ở vị trí thứ năm với số điểm TB là 4.30đ (HDVDL xếp thứ bậc 2/11, khu du lịch xếp thứ 3/11, SV xếp thứ 6/11).
PC này là một trong những kỹ năng cơ bản cần có để giao tiếp đạt hiệu quả, đặc biệt trong kinh doanh. Du lịch là ngành công nghiệp không khói, sản phẩm kinh doanh của du lịch không phải là vật chất được qui định rõ ràng mà chính là sự hài lòng của khách về phong cách phục vụ của nhân viên du lịch.
- Khả năng thuyết phục cao (P14):
PC này đạt được 4.23đ (thứ bậc 6/11với SV và khu du lịch cùng xếp thứ bậc 5/11, hướng dẫn viên du lịch xếp thứ bậc 6/11).
Đôi khi trong công việc, hướng dẫn viên gặp phải những tình huống ngoài dự kiến, bắt buộc phải thay đổi chương trình đã định. Nếu trong đoàn khách có những người khó tính, tạo áp lực đối với hướng dẫn viên thì PC này là một trong những PC ưu tiên hàng đầu.
Như vậy, các khách thể được nghiên cứu đều nhận thức tầm quan trọng của các PC thuộc kỹ năng giao tiếp của hướng dẫn viên du lịch. Đây là những kỹ năng cơ bản, không thể thiếu dành cho những người làm công tác du lịch – đặc biệt là hướng dẫn viên du lịch. Theo như những phân tích ở phần cơ sở lý luận, tất cả những hành vi và kỹ năng giao tiếp của hướng dẫn viên, từ giai đoạn đầu tiên tại nơi đón tiếp (sân bay, bến cảng, tại khách sạn hay văn phòng công ty,…) cho đến giây phút cuối cùng tiễn khách, kết thúc một chương trình du lịch, phải được thực hiện một cách chuẩn mực, mang lại sự thoải mái và hài lòng cho du khách. Ngoài những kiến thức được trang bị và khả năng ngôn ngữ (khoa ăn nói và kỹ năng hoạt náo), điều này sẽ được thể hiện qua phong cách giao tiếp và nghệ thuật ứng xử của hướng dẫn viên du lịch.
Thực tế đã được chứng minh qua kết quả khảo sát trên.
- Nắm bắt tâm lý khách hàng tốt (P16):
HDV là người sống và làm việc cùng du khách trong thời gian du lịch, nên cần hiểu và nắm bắt được phần nào tâm tư tình cảm của du khách; hỗ trợ kịp thời về mặt tâm lý sẽ cải thiện mối quan hệ giữa hướng dẫn viên và du khách nhiều hơn. “Nắm bắt tâm lý khách hàng”có điểm số TB là 4.07đ (thứ bậc 7/11; trong đó khu du lịch xếp thứ 6/11, SV và hướng dẫn viên du lịch cùng xếp thứ bậc 8/11).
- Khả năng thích nghi hòa nhập cao (P27):
Điểm số đánh giá của các khách thể nghiên cứu dành cho PC này là 4.07đ (thứ bậc 7/11; trong đó hướng dẫn viên du lịch và khu du lịch cùng xếp thứ bậc 7/11, SV xếp thứ bậc 8/11).
Vì tính chất công việc bắt buộc hướng dẫn viên phải di chuyển nhiều, thường xuyên thay đổi môi trường và khí hậu nơi làm việc nên PC này là cần thiết bên cạnh yêu cầu về sức khỏe.
- Năng lực tổ chức và quản lý đoàn tốt (P17):
Với số điểm đạt được là 3.99đ (cùng được cả 3 nhóm khách thể xếp thứ bậc 8/11); PC này thể hiện ở khả năng sắp xếp, tổ chức, thay đổi chương trình phù hợp với từng đối tượng cụ thể.
- Tư duy sáng tạo (P39): Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
PC này đạt mức điểm TB cần thiết là 3.96đ (thứ bậc 9/11; trong đó SV xếp thứ bậc 7/11, khu du lịch xếp thứ bậc 9/11, hướng dẫn viên du lịch xếp thứ bậc 10/11). Dù công việc của hướng dẫn viên đã được sắp xếp, lên chương trình từ trước nhưng có khoa học đến mấy đôi khi cũng có những khiếm khuyết cần phải khắc phục. Khách du lịch lại đa dạng về trình độ, văn hóa, tính cách, sức khỏe, …nên rất dễ phát sinh nhiều vấn đề. Do đó, xử lý một cách linh hoạt sáng tạo sẽ tạo sự yên tâm, thoải mái cho du khách.
- Khả năng quan sát tốt (P34):
Đây là PC đòi hỏi người hướng dẫn viên có khả năng quan sát, bao quát toàn bộ đoàn khách mà mình HD để tránh tình trạng lạc hay nhầm lẫn giữa các du khách từ nhiều đoàn khác nhau trong các mùa cao điểm. Mức cần thiết của “Khả năng quan sát” là 3.89đ (thứ bậc 10/11; trong đó khu du lịch xếp thứ bậc 8/11, SV xếp thứ bậc 10/11, hướng dẫn viên du lịch xếp thứ bậc 11/11).
Như vậy, nhóm Phẩm chất tâm lý thuộc về Trí tuệ – Năng lực là một trong những nhóm Phẩm chất tâm lý cơ bản, đóng vai trò quan trọng đến chất lượng, hiệu quả hoạt động HD của hướng dẫn viên du lịch. Dựa trên kết quả nghiên cứu có thể khẳng định 11 Phẩm chất tâm lý được nói đến trong bảng 2.6 đều là những Phẩm chất tâm lý cơ bản cần có của hướng dẫn viên du lịch. Nổi trội lên trong nhóm PC đó là các Phẩm chất tâm lý: Khả năng truyền đạt tốt, Khả năng ngôn ngữ tốt, Khả năng nói trước đám đông, Xử lý tính huống tốt, Kỹ năng lắng nghe tốt, Khả năng thuyết phục cao, ….
2.3.2.3. Đánh giá của các khách thể về mức độ cần thiết của nhóm Phẩm chất tâm lý thuộc về Ý chí – Tính cách
Đánh giá của các khách thể về sự cần thiết của các PC Ý chí – Tính cách được thể hiện ở bảng 2.7
Bảng 2.7: Mức độ cần thiết của các Phẩm chất tâm lý thuộc nhóm PC Ý chí – Tính cách
| Stt | SV | HDVDL | KDL | Tổng cộng | |||||
| TB | Thứ bậc | TB | Thứ bậc | TB | Thứ bậc | TB | Thứ bậc | ||
| 1 | Tinh thần trách nhiệm cao | 4.33 | 1 | 4.36 | 1 | 4.39 | 1 | 4.36 | 1 |
| 2 | Tận tâm với công việc | 4.16 | 3 | 4.11 | 6 | 4.23 | 4 | 4.17 | 2 |
| 3 | Lịch sự với khách hàng | 3.93 | 8 | 4.21 | 2 | 4.25 | 3 | 4.13 | 3 |
| 4 | Chu đáo với khách hàng | 4.12 | 5 | 4.13 | 5 | 4.13 | 6 | 4.13 | 3 |
| 5 | Vui vẻ, hoạt bát | 4.13 | 4 | 3.99 | 8 | 4.27 | 2 | 4.13 | 3 |
| 6 | Thân thiện tạo được sự tin tưởng nơi khách hàng | 3.94 | 7 | 4.19 | 3 | 4.17 | 5 | 4.10 | 4 |
| 7 | Năng động | 4.17 | 2 | 4.09 | 7 | 3.94 | 9 | 4.07 | 5 |
| 8 | Tác phong đứng đắn | 3.87 | 10 | 4.16 | 4 | 4.01 | 8 | 4.01 | 6 |
| 9 | Tính trung thực | 3.92 | 9 | 3.94 | 10 | 4.09 | 7 | 3.98 | 7 |
| 10 | Tính hài hước, hóm hỉnh | 4.08 | 6 | 3.76 | 13 | 3.94 | 9 | 3.93 | 8 |
| 11 | Tính kế hoạch | 3.78 | 11 | 4.11 | 6 | 3.87 | 10 | 3.92 | 9 |
| 12 | Tinh thần chịu đựng gian khổ | 3.65 | 13 | 3.95 | 9 | 3.78 | 11 | 3.79 | 10 |
| 13 | Tính kiên nhẫn | 3.75 | 12 | 3.78 | 11 | 3.76 | 12 | 3.76 | 11 |
| 14 | Tính độc lập | 3.62 | 14 | 3.77 | 12 | 3.78 | 11 | 3.72 | 12 |
| Tổng | 4.00 | 4.03 | 4.04 | 4.01 | |||||
Bảng 2.7 cho thấy, SV đánh giá mức độ cần thiết của nhóm PC này có điểm TB là 4.00đ; hướng dẫn viên du lịch đánh giá mức cần thiết với số điểm TB là 4.03đ; khu du lịch đánh giá ở mức điểm TB là 4.04đ; tổng hợp điểm đánh giá của ba nhóm khách thể về mức độ cần thiết của các PC này là 4.01đ, đạt mức cần thiết cao.
Mức độ cần thiết của từng PC được đánh giá cụ thể như sau:
- Tinh thần trách nhiệm cao (P3): Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
Đây là PC thể hiện sự ý thức đầy đủ về vị trí, vai trò cũng như trách nhiệm, quyền hạn của hướng dẫn viên trong lĩnh vực hoạt động HD. Nghề hướng dẫn viên ngoài những quyền hạn, vai trò và trách nhiệm được quy định rõ ràng, cụ thể, còn có những công việc không tên mà chỉ có trải nghiệm thực tế mới biết và hiểu một cách cụ thể. Do đó, chỉ những ai xác định rõ trách nhiệm và có tinh thần trách nhiệm cao mới có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình không chỉ trong công tác HD mà còn rất nhiều ngành nghề khác.
Nhận thức được điều này, các khách thể khi được hỏi đều đồng ý xếp PC này ở vị trí thứ nhất với số điểm đạt được là 4.36đ (thứ bậc 1/14).
- Tận tâm với công việc (P5):
Là PC thể hiện sự siêng năng, chăm chỉ, luôn tìm tòi sáng tạo hết mình vì công việc. Các khách thể đánh giá PC này đạt 4.17đ (thứ bậc 2/14; trong đó, SV xếp thứ bậc 3/14, khu du lịch xếp thứ bậc 4/14, hướng dẫn viên du lịch xếp thứ bậc 6/14).
“Lịch sự”(P19), “Chu đáo” (P25), “Vui vẻ với khách hàng” (P26) là 3 PC được các khách thể đánh giá ở mức điểm TB là 4.13 và cùng xếp thứ bậc 3/14 PC trong nhóm PC Ý chí – Tính cách. Những PC này đòi hỏi hướng dẫn viên trong mọi cử chỉ, lời nói, trong các hoạt động HD đều phải coi trọng khách hàng bằng những thông tin chính xác, bằng sự ân cần, bằng những ứng xử có văn hóa được rèn luyện và giáo dục một cách nề nếp. Bên cạnh đó, sự lạc quan, vui vẻ cũng tạo nên nhiều lợi thế cho hướng dẫn viên khi HD đoàn. Một câu chuyện vui, một ví von gây cười (vô hại) sẽ giúp mọi người cảm thấy thoải mái hơn rất nhiều. Những phân tích trên được khẳng định thông qua kết quả nghiên cứu. Ngoài ra, những PC khác cũng được các khách thể nghiên cứu đánh giá ở mức cần thiết cao và tương đối cao như:
Thân thiện tạo được sự tin tưởng nơi khách hàng (P20): với số điểm TB là 4.10đ (thứ bậc 4/14; trong đó, hướng dẫn viên du lịch xếp thứ bậc 3/14, khu du lịch xếp thứ bậc 5/14, SV xếp thứ bậc 7/14). PC này được thể hiện thông qua phong cách và thái độ khi tiếp xúc với khách hàng.
- Năng động (P36):
Với mức điểm TB là 4.07đ (thứ bậc 5/11), PC này thể hiện phong thái, bản lĩnh của hướng dẫn viên. Do đó các khách thể đánh giá có mức cần thiết cao. SV xếp PC này thứ bậc 2/14; hướng dẫn viên du lịch xếp thứ bậc 7/14; khu du lịch xếp thứ bậc 9/14.
- Tác phong đứng đắn (P37): Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
Với số điểm TB là 4.01đ (thứ bậc 6/11; trong đó, hướng dẫn viên du lịch xếp thứ bậc 4/14, khu du lịch xếp thứ bậc 8/14; SV xếp thứ bậc 10/14). Đây là sự thể hiện phong thái chững chạc, điềm tĩnh trong xử lý giải quyết các tình huống trong hoạt động du lịch. Bên cạnh sự vui vẻ, thân thiện, hài hước khi tiếp xúc, tác phong đứng đắn chính là cách thể hiện bản lĩnh của mình.
- Tính trung thực (P23):
Là PC thể hiện sự khách quan, luôn phản ánh đúng những gì xảy ra trong thực tế, không bóp méo hay làm sai lệch đi sự thật. Đây cũng là PC thể hiện tư cách của hướng dẫn viên du lịch. PC này có mức điểm cần thiết là 3.98đ (thứ bậc7/14; trong đó khu du lịch xếp thứ bậc 7/14, SV xếp thứ bậc 9/14, hướng dẫn viên du lịch xếp thứ bậc 10/14).
- Tính hài hước, hóm hỉnh (P24):
Đây là PC thể hiện sự duyên dáng trong từng câu chuyện kể, trong cách giao tiếp của hướng dẫn viên với khách du lịch. PC này có điểm số đánh giá là 3.93đ (thứ bậc 8/11: SV xếp thứ bậc 6/14, khu du lịch xếp thứ bậc 9/14, hướng dẫn viên du lịch xếp thứ bậc 13/14).
- Tính kế hoạch (P15)
Là PC thể hiện khả năng hoạch định, sắp xếp một cách đầy đủ, chính xác cả về mục đích, nội dung, phương pháp, phương tiện, thời gian, địa điểm,…cho các công việc trong quá trình hoạt động. PC này đạt được là 3.92đ (thứ bậc 9/14; trong đó, hướng dẫn viên du lịch xếp thứ bậc 6/14, khu du lịch xếp thứ bậc 10/14, SV xếp thứ bậc 11/14).
- Tinh thần chịu đựng gian khổ (P28):
Công việc của hướng dẫn viên bắt buộc phải thức khuya, dậy sớm, đôi khi nhận những lời phàn nàn, chê trách của khách mà không biết lý do tại sao. Có những lúc hướng dẫn khách đến những nơi hoang vu, hiểm trở trong một khoảng thời gian dài, lại không có gia đình bên cạnh nên hướng dẫn viên dễ rơi vào trạng thái hoang mang, mệt mỏi và chán nản. Điểm đánh giá của các khách thể dành cho PC này là 3.79đ (thứ bậc 10/11: hướng dẫn viên du lịch xếp thứ bậc 9/14, khu du lịch xếp thứ bậc 13/14, SV xếp thứ bậc 13/14).
- Tính kiên nhẫn (P33):
PC này thể hiện qua thái độ nhẫn nại trong quá trình tiếp xúc với khách. Với phương châm “Khách hàng là trên hết”, có đôi khi hướng dẫn viên phải biết cách kiềm chế cảm xúc trước những đòi hỏi quá mức của khách hoặc những lời châm chọc của khách hàng. “Tính kiên nhẫn” đạt mức điểm TB là 3.76đ (thứ bậc 11/14; trong đó, hướng dẫn viên du lịch xếp thứ bậc 11/14, SV và khu du lịch cùng xếp thứ bậc 12/14). Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
- Tính độc lập (P40):
Tùy theo qui mô của đoàn khách mà công ty lữ hành có thể sắp xếp số lượng hướng dẫn viên, tuy nhiên, thông thường, 1 hướng dẫn viên du lịch sẽ đảm trách công việc từ khâu lên kế hoạch, bố trí thời gian, chương trình cụ thể để tạo sự thoải mái, hấp dẫn và gây ấn tượng thật sự với tất cả các thành viên trong đoàn được quyết định do khả năng làm việc độc lập của hướng dẫn viên. Do đó, PC này cũng được đánh giá có mức cần thiết là 3.72đ (thứ bậc 12/14: khu du lịch xếp thứ bậc 11/14, hướng dẫn viên du lịch xếp thứ bậc 12/14, SV xếp thứ bậc 14/14).
Như vậy, PC thuộc về Ý chí – Tính cách của hướng dẫn viên du lịch là những PC đặc trưng thể hiện thái độ, tình cảm của hướng dẫn viên du lịch trong hoạt động nghề nghiệp được SV, hướng dẫn viên du lịch và khu du lịch đánh giá ở mức cần thiết cao (14 Phẩm chất tâm lý được nói đến trong bảng 2.7 đều là những Phẩm chất tâm lý cơ bản của hướng dẫn viên du lịch). Nổi trội lên là những PC: Tinh thần trách nhiệm cao, Tận tâm với công việc, Lịch sự với khách hàng, Chu đáo với khách hàng, Vui vẻ, hoạt bát, Thân thiện tạo được sự tin tưởng nới khách hàng, Năng động,….
2.3.2.4. So sánh đánh giá của 3 nhóm khách thể về mức độ cần thiết của 31 Phẩm chất tâm lý cơ bản (bảng 1, phụ lục 2).
Để xem xét sự đánh giá của ba nhóm khách thể về các Phẩm chất tâm lý cơ bản được xác định có tương ứng với nhau không, qua đó có thêm cơ sở để khẳng định độ tin cậy của kết quả nghiên cứu, chúng tôi dùng phương pháp phân tích phương sai Anova đối với điểm TB đánh giá của ba nhóm khách thể về 31 Phẩm chất tâm lý được lựa chọn để kiểm định có hay không có sự khác biệt giữa các nhóm khách thể về vấn đề nghiên cứu. Chấp nhận độ tin cậy là 95% (α = 0.05), kiểm định cho kết quả: P3, P5, P6, P7, P9, P12, P13, P14, P16, P17, P19, P20, P23, P24, P25, P26, P27, P28, P29, P33, P34, P36, P37, P40, P42 được ba nhóm khách thể đánh giá gần như đồng nhất, tương ứng với nhau (P ≥ 0.05). Còn 6 PC: P1, P10, P11, P15, P31, P38 được ba nhóm khách thể đánh giá có sự khác nhau về mức độ nhận thức (P < 0.05). Cụ thể là:
P1: Lòng yêu quê hương đất nước: Nhóm SV đánh giá thấp nhất chỉ có 3.87đ, khu du lịch đánh giá PC này có mức cần thiết là 4.24đ, cao nhất là hướng dẫn viên du lịch đánh giá với mức điểm 4.29đ. Điều này có lý do khách quan do hướng dẫn viên có sự trải nghiệm thực tế nhiều nên có nhận định rõ ràng hơn so với SV. Tuy có sự chênh lệch giữa các nhóm nhưng điểm đánh giá của nhóm SV cũng ở mức tương đối cao, do đó sự khác biệt không ảnh hưởng nhiều.
P10: Khả năng ngôn ngữ tốt: PC này được hướng dẫn viên du lịch đánh giá cao nhất, có điểm TB là 4.52đ; khu du lịch đánh giá mức 4.38đ, SV đánh giá ở mức 4.23đ. Mức chênh lệch giữa các điểm số nhỏ nên không ảnh hưởng nhiều. PC này được cả 3 nhóm khách thể xếp vào loại quan trọng bậc nhất. Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
P11: Khả năng lắng nghe tốt: Nhóm SV đánh giá PC ở mức 4.09đ; khu du lịch đánh giá 4.38đ; cao nhất là đánh giá của nhóm hướng dẫn viên du lịch 4.43đ. Mức chênh lệch không cao nên cũng không ảnh hưởng nhiều.
P15: Tính kế hoạch: Nhóm SV đánh giá PC này có điểm số TB là 3.78đ, khu du lịch đánh giá cao hơn 3.87đ; trong khi đó hướng dẫn viên đánh giá cao nhất: 4.11đ. Sự đánh giá có chênh lệch ở mức có ý nghĩa, nhưng điểm đánh giá của SV cũng ở mức cao, PC này vẫn được xếp vào nhóm quan trọng bậc nhất.
P31: Tôn trọng pháp luật: SV đánh giá ở mức thấp nhất: 3.92đ; hướng dẫn viên du lịch đánh giá ớ mức: 4.18đ; cao nhất là khu du lịch đánh giá ở mức: 4.25đ. Có sự chênh lệch giữa các điểm số nhưng vẫn nằm trong khoảng chấp nhận được nên ảnh hưởng không nhiều đến việc đánh giá PC này.
P38: Tôn trọng nghề: PC này đước SV đánh giá ở mức 3.94đ; HDDLV đánh giá ở mức 4.28đ; khu du lịch đánh giá ớ mức 4.01đ. Theo nhận định của cả 3 nhóm khách thể, hướng dẫn viên vẫn là nhóm có sự đánh giá về mức độ cao nhất dành cho các PC. “Tôn trọng nghề” cũng vậy. Tuy có sự khác biệt nhưng vẫn không ảnh hưởng nhiều đến kết quả cuối cùng của các nhóm.
Nếu so sánh sự đánh giá của ba nhóm khách thể theo từng nhóm PC (biểu đồ 2.1; 2.2; 2.3), có thể thấy rõ sự chênh lệch về điểm số đánh giá giữa các khách thể phần lớn mang tính ngẫu nhiên, cụ thể là nhóm PC Ý chí – Tính cách được đánh giá là nhóm có mức chênh lệch ít nhất (chỉ có một PC P15 có điểm số đánh giá ở mức có ý nghĩa); sau đó là nhóm PC Trí tuệ – Năng lực (2 PC 10, 11 có sự đánh giá ở mức chênh lệch có ý nghĩa); nhóm PC Đạo đức có sự đánh giá chênh lệch nhiều nhất (3 PC 1, 31, 38 có sự đánh giá chênh lệch ở mức có ý nghĩa),nhưng điều quan trọng là tuy có sự chênh lệch về điểm đánh giá giữa 3 nhóm khách thể nhưng tất cả các điểm đánh giá đều ở mức cao, có nghĩa là tất cả các PC đều được đánh giá cao về mức cần thiết đối với hướng dẫn viên du lịch.
- Biểu đồ 2.1
- Biểu đồ 2.2
- Biều đồ 2.3
Tóm lại, đánh giá giữa ba nhóm khách thể về mức độ cần thiết của 31 Phẩm chất tâm lý nêu trên nhìn chung không có sự khác biệt lớn, những PC không được đánh giá tương ứng cũng có mức chênh lệch không cao và đều cao hơn 2/3 mức điểm tối đa. Điều đó cho phép kết luận 31 Phẩm chất tâm lý trên đều được cả 3 nhóm khách thể trên xác định, thẩm định là những Phẩm chất tâm lý cơ bản cần có của hướng dẫn viên du lịch. Trong đó, các Phẩm chất tâm lý thuộc nhóm PC Trí tuệ – Năng lực có mức cần thiết cao nhất (4.18đ), thứ hai là nhóm PC Đạo đức (4.09đ) và cuối cùng là nhóm PC Ý chí – Tính cách (4.01đ).
2.3.1.5. Kết quả so sánh các nhóm PC theo các thông số điều tra.
2.3.1.5.1. Kết quả so sánh các nhóm PC theo thông số giới tính.
Bảng 2.8 thể hiện sự khác biệt về mức độ nhận thức các Phẩm chất tâm lý cần có của hướng dẫn viên. Kết quả cho thấy: Bảng 2.8: So sánh các nhóm PC theo thông số giới tính Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
| Nhóm Phẩm chất tâm lý
Giới tính |
Đạo đức | Trí tuệ – năng lực | Ý chí – tính cách | |
| Nam | TB | 4.18 | 4.23 | 4.06 |
| Thứ bậc | 2 | 1 | 3 | |
| Nữ | TB | 4.00 | 4.13 | 3.97 |
| Thứ bậc | 2 | 1 | 3 | |
| Tổng | TB | 4.09 | 4.18 | 4.01 |
| Thứ bậc | 2 | 1 | 3 | |
Cả hai phái đều có sự đánh giá như nhau về mức độ cần thiết của 3 nhóm PC Đạo đức, Trí tuệ – Năng lực và Ý chí – Tính cách.
- Thứ bậc đánh giá mức độ cần thiết của các nhóm PC tương tự như thứ bậc đánh giá của toàn mẫu.
- Nhóm PC Đạo đức có mức chênh lệch cao hơn 2 nhóm PC còn lại theo đánh giá của nam và nữ về điểm số.
Qua xử lý thông kê, cho ra kết quả (bảng 2.9): có ý nghĩa về mặt thống kê trong nhóm PC Đạo đức.
Tuy nhiên, mức khác biệt ý nghĩa trong nhóm này với P = 0.025 là mức ý nghĩa không cao.
Bảng 2.9: Ý nghĩa khác biệt giữa các nhóm PC theo đánh giá của nam và nữ.
| STT | Nội dung | P |
| 1 | Nhóm Phẩm chất tâm lý thuộc về đạo đức | 0.025 |
| 2 | Nhóm Phẩm chất tâm lý thuộc về trí tuệ – năng lực | 0.157 |
| 3 | Nhóm Phẩm chất tâm lý thuộc về ý chí – tính cách | 0.235 |
Nghề du lịch, đặc biệt là hướng dẫn viên du lịch đang thịnh hành, thu hút nhiều bạn trẻ đến với nghề trong thời đại ngày nay. Với lòng đam mê, sự nhiệt tình, nền tảng kiến thức, tinh thần cầu tiến và một số kỹ năng cần thiết được trang bị, chắc chắn chúng ta sẽ gặt hái được nhiều thành công. Thông qua việc lấy ý kiến của các CBQL, hướng dẫn viên đang công tác trong ngành du lịch và kết quả khảo sát cho thấy có sự chênh lệch của đánh giá của nam và nữ về mức độ cần thiết của nhóm PC Đạo đức nhưng chênh lệch này không nhiều. Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
Thực tế cho thấy, ngày càng nhiều hướng dẫn viên du lịch đang dần đánh mất đi hình ảnh của “những xứ giả văn hóa” bởi những quan niệm sống sai lệch, những vụ làm ăn phi pháp, những hình thức mua bán, trao đổi (vật chất lẫn tinh thần),…, dẫn đến việc không tôn trọng chính bản thân người HD, không tôn trọng khách hàng và không tôn trọng đạo đức nghề nghiệp.
Do đó, việc có sự khác biệt giữa nam và nữ khi nhận thức về các Phẩm chất tâm lý cần thiết thuộc về đạo đức là cơ sở để chúng ta đánh giá việc tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng đội ngữ hướng dẫn viên DDL trong những năm qua. Từ đó có phương thức điều chỉnh, phát triển loại hình nghề nghiệp này.
2.3.1.5.2. Kết quả so sánh các nhóm PC theo đánh giá của SV các trường.
Khảo sát trên 100 SV đang học năm thứ 4 chuyên ngành HD tại hai trường ĐH Tôn Đức Thắng và ĐHDL Văn Lang (trên 300 khách thể nghiên cứu), chúng tôi thu được kết quả sau (bảng 2.10):
Bảng 2.10: So sánh các nhóm PC theo đánh giá của SV các trường
| Nhóm Phẩm chất tâm lý
Trường |
Đạo đức | Trí tuệ – năng lực | Ý chí – tính cách | |
| Tôn Đức Thắng | TB | 4.11 | 4.26 | 4.10 |
| Thứ bậc | 2 | 1 | 3 | |
| Văn Lang | TB | 3.89 | 4.01 | 3.88 |
| Thứ bậc | 2 | 1 | 3 | |
| Tổng | TB | 3.97 | 4.10 | 3.96 |
| Thứ bậc | 3 | 1 | 2 | |
Thứ tự ưu tiên từ thấp đến cao của ba nhóm PC được SV các trường đánh giá theo trình tự: nhóm PC Trí tuệ – năng lực (thứ bậc 1/3), nhóm PC Ý chí – tính cách (thứ bậc 2/3), nhóm PC Đạo đức (thứ bậc 3/3).
Xét về mặt điểm số, SV 2 trường có sự đánh giá tương đối khác nhau về mức độ cần thiết của các nhóm PC. Tuy nhiên, qua xử lý thống kê, cho thấy:
- Không có sự khác biệt về ý nghĩa thống kê (bảng 2.11)
Bảng 2.11: Ý nghĩa khác biệt giữa các nhóm PC theo đánh giá của SV các trường
| STT | Nội dung | P |
| 1 | Nhóm Phẩm chất tâm lý thuộc đạo đức | 0.183 |
| 2 | Nhóm Phẩm chất tâm lý thuộc về trí tuệ – năng lực | 0.078 |
| 3 | Nhóm Phẩm chất tâm lý thuộc về ý chí – tính cách | 0.188 |
Mỗi một nghề nghiệp luôn có những yêu cầu nhất định, Phẩm chất tâm lý là một trong những yêu cầu được quan tâm hàng đầu. Nhận thức được điều này, thông quá trình khảo sát, chúng tôi nhận thấy SV ở trường công lập hay dân lập đều nhận thức như nhau về mức độ cần thiết của các Phẩm chất tâm lý.
2.3.1.5.3. Kết quả so sánh các nhóm PC theo loại hình hướng dẫn viên du lịch
Bảng 2.12 thể hiện sự khác biệt trong việc đánh giá mức độ cần thiết của các Phẩm chất tâm lý dựa trên sự đánh giá của hướng dẫn viên du lịch:
Bảng 2.12: So sánh các nhóm PC theo loại hình hướng dẫn viên du lịch
| Nhóm Phẩm chất tâm lý
HDVDL |
Đạo đức | Trí tuệ – năng lực | Ý chí – tính cách | |
| Nội địa | TB | 4.14 | 4.10 | 3.95 |
| Thứ bậc | 1 | 2 | 3 | |
| Quốc tế | TB | 4.30 | 4.50 | 4.17 |
| Thứ bậc | 2 | 1 | 3 | |
| Tổng | TB | 4.20 | 4.26 | 4.03 |
| Thứ bậc | 2 | 1 | 3 | |
- Thứ bậc đánh giá của nhóm hướng dẫn viên nội địa: PC đạo đức (1/3), PC trí tuệ – năng lực (2/3), PC ý chí – tính cách (3/3). Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
- Bậc đánh giá của nhóm hướng dẫn viên quốc tế: PC trí tuệ – năng lực (1/3), PC đạo đức (2/3), nhóm PC ý chí – tính cách (3/3).
- Thứ bậc đánh giá theo cách thức phân loại hướng dẫn viên trùng với thứ bậc đánh giá trên toàn mẫu.
Đối chiếu với bảng 2.13 chúng tôi nhận thấy có sự khác biệt về mặt thống kê trong nhóm PC Trí tuệ – Năng lực.
Bảng 2.13: Ý nghĩa khác biệt giữa các nhóm PC theo loại hình hướng dẫn viên du lịch
| STT | Nội dung | P |
| 1 | Nhóm Phẩm chất tâm lý thuộc đạo đức | 0.240 |
| 2 | Nhóm Phẩm chất tâm lý thuộc về trí tuệ – năng lực | 0.000 |
| 3 | Nhóm Phẩm chất tâm lý thuộc về ý chí – tính cách | 0.075 |
Mức ý nghĩa khác biệt trong nhóm PC Trí tuệ – năng lực: P =0.000 < 0.05 là mức ý nghĩa cao. Thông qua việc lấy ý kiến các CBQL và hướng dẫn viên đang công tác trong ngành du lịch, đều cho rằng: trong khi hướng dẫn viên nội địa quan tâm đến các nhóm kỹ năng: khả năng ngôn ngữ, kỹ năng tổ chức và quản trò, khả năng xử lý tình huống thì hướng dẫn viên quốc tế lại đặt khả năng thông thạo, lưu loát trình độ ngoại ngữ lên hàng đầu.
Thực tế khảo sát cũng chứng minh nhận định này: dựa trên biểu đồ 2.4, chúng ta dễ dàng nhận thấy các PC: 9 – 10 – 12 – 13 – 14 – 16 – 27 có sự chênh lệch cao hơn các PC khác về điểm số, tuy sự chênh lệch này không cao nhưng cũng đủ tạo ra sự khác biệt giữa hướng dẫn viên nội địa và quốc tế về những Phẩm chất tâm lý cơ bản thuộc nhóm PC Trí tuệ – Năng lực.
Biểu đồ 2.4:
2.3.1.5.4. Kết quả so sánh các nhóm PC theo thông số độ tuổi.
Khảo sát 200 khách thể với thông số độ tuổi, chúng tôi thu được kết quả (bảng 2.14): Bảng 2.14: So sánh các nhóm PC theo thông số độ tuổi
| Nhóm Phẩm chất tâm lý
Độ tuổi |
Đạo đức | Trí tuệ – năng lực | Ý chí – tính cách | |
| Dưới 25 |
TB |
4.17 | 4.26 | 4.11 |
| Thứ bậc | 2 | 1 | 3 | |
| 25 – dưới 40 | TB | 4.16 | 4.19 | 4.02 |
| Thứ bậc | 2 | 1 | 3 | |
| 40 – dưới 60 | TB | 4.00 | 4.27 | 3.93 |
| Thứ bậc | 2 | 1 | 3 | |
| Trên 60 | TB | 4.69 | 4.67 | 4.64 |
| Thứ bậc | 1 | 2 | 3 | |
| Tổng
|
TB | 4.16 | 4.22 | 4.03 |
| Thứ bậc | 2 | 1 | 3 | |
- Thứ bậc đánh giá của nhóm khách thể có độ tuổi dưới 25, từ 25 – dưới 40 và từ từ 40 – dưới 60 tuổi như nhau.
- Thứ bậc đánh giá của nhóm khách thể có độ tuổi trên 60 có thứ tự lần lượt từ thấp đến cao là: PC Ý chí – Tính cách (2/3), PC Đạo đức và PC Trí tuệ – Năng lực cùng xếp thứ bậc 1/3.
- Thứ bậc đánh giá mức độ cần thiết giữa các nhóm PC trùng với thứ bậc đánh giá trên toàn mẫu.
Qua xử lý thông kê, kết quả cho thấy không có sự khác biệt về mặt ý nghĩa (bảng 2.15) giữa các nhóm PC theo đánh giá của các khách thể có ở các độ tuổi khác nhau. Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
Bảng 2.15: Ý nghĩa khác biệt giữa các nhóm PC theo độ tuổi điều tra
| STT | Nội dung | P |
| 1 | Nhóm Phẩm chất tâm lý thuộc đạo đức | 0.106 |
| 2 | Nhóm Phẩm chất tâm lý thuộc về trí tuệ – năng lực | 0.142 |
| 3 | Nhóm Phẩm chất tâm lý thuộc về ý chí – tính cách | 0.050 |
Mỗi một nghề nghiệp bao giờ cũng đòi hỏi những Phẩm chất tâm lý tương ứng để xây dựng, củng cố và phát triển ngành nghề của mình, nghề hướng dẫn viên du lịch cũng vậy. Phẩm chất tâm lý lại là một trong những yếu tố nền tảng, cơ bản để phát triển nghề, cho nên, dù ở lứa tuổi nào đi nữa, những nhóm PC trên luôn được quan tâm hàng đầu và nhìn nhận như nhau. Thực tế khảo sát đã chứng minh. 2.3.1.5.5. Kết quả so sánh các nhóm PC theo thâm niên công tác của hướng dẫn viên.
Chúng tôi phân chia thâm niên công tác của hướng dẫn viên du lịch theo 4 loại: dưới 1 năm; từ 1 – dưới 5 năm; từ 5 – dưới 10 năm và hướng dẫn viên du lịch có thâm niên công tác từ 10 năm trở lên.
Bảng 2.16 cho thấy sự khác biệt trong đánh giá của các hướng dẫn viên du lịch theo từng nhóm thâm niên công tác khác nhau:
Bảng 2.16: So sánh các nhóm PC theo thông số thâm niên công tác
| Nhóm Phẩm chất tâm lý
Thâm niên công tác |
Đạo đức | Trí tuệ – năng lực | Ý chí – tính cách | |
| Dưới 1 năm | TB | 3.67 | 4.27 | 3.93 |
| Thứ bậc | 3 | 1 | 2 | |
| 1 – dưới 5 năm | TB | 4.18 | 4.19 | 4.00 |
| Thứ bậc | 2 | 1 | 3 | |
| 5 – dưới 10 năm | TB | 4.28 | 4.42 | 4.17 |
| Thứ bậc | 2 | 1 | 3 | |
| Trên 10 năm | TB | 4.08 | 4.18 | 4.06 |
| Thứ bậc | 2 | 1 | 3 | |
| Tổng
|
TB | 4.20 | 4.26 | 4.04 |
| Thứ bậc | 2 | 1 | 3 | |
- Nhóm hướng dẫn viên công tác dưới 1 năm đánh giá mức độ cần thiết của các nhóm PC như sau: PC Trí tuệ – Năng lực (1/3); PC Ý chí – Tính cách (2/3); PC Đạo đức (3/3).
- Thứ bậc của các nhóm PC dựa trên thâm niên công tác của hướng dẫn viên du lịch tương tự như thứ bậc đánh giá của toàn mẫu. Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
- Nếu so sánh sự đánh giá của hướng dẫn viên theo từng nhóm tuổi trên cùng 1 PC (bảng 2.17), có thể kết luận:
Bảng 2.17: So sánh các nhóm thâm niên công tác của hướng dẫn viên du lịch trên cùng 1 nhóm PC
| Thâm niên công tác
Nhóm Phẩm chất tâm lý |
Dưới 1 năm | 1 – dưới 5 năm | 5 – dưới 10 năm | Trên 10 năm | |
| Đạo đức | TB | 3.67 | 4.18 | 4.28 | 4.08 |
| Thứ bậc | 4 | 2 | 1 | 3 | |
| Trí tuệ – năng lực | TB | 4.27 | 4.19 | 4.42 | 4.18 |
| Thứ bậc | 2 | 3 | 1 | 4 | |
| Ý chí – tính cách | TB | 3.93 | 4.00 | 4.17 | 4.06 |
| Thứ bậc | 4 | 3 | 1 | 2 | |
HDVDL có thâm niên công tác từ 5 – dưới 10 năm có sự đánh giá mức cần thiết của các nhóm PC đồng đều và cao hơn hướng dẫn viên có thâm niên HD thuộc các nhóm khác. Khoảng thời gian từ 5 – 10 năm chưa phải là cột mốc để xác định sự chín chắn trong suy nghĩ và nhận thức của hướng dẫn viên du lịch nhưng với thời gian công tác và kinh nghiệm thực tiễn tương đối nhiều như vậy, cũng đủ để hướng dẫn viên có những nhận định về mức độ cần thiết của các nhóm Phẩm chất tâm lý.
Đối chiếu với bảng 2.18, cho thấy chỉ số P không có ý nghĩa khác biệt về mặt thống kê của các nhóm PC theo thâm niên công tác.
Kết quả trên cho thấy không có khác biệt giữa các nhóm hướng dẫn viên mới gia nhập vào đôị ngũ hướng dẫn viên du lịch hay đã có thâm niên HD khách từ 1 – 5 năm, hoặc lâu hơn từ 5 – 10 năm, thậm chí là trên 10 năm.
Bảng 2.18: Ý nghĩa khác biệt giữa các nhóm PC theo thông số thâm niên công tác
| STT | Nội dung | P |
| 1 | Nhóm Phẩm chất tâm lý thuộc đạo đức | 0.729 |
| 2 | Nhóm Phẩm chất tâm lý thuộc về trí tuệ – năng lực | 0.335 |
| 3 | Nhóm Phẩm chất tâm lý thuộc về ý chí – tính cách | 0.592 |
2.3.1.5.6. Kết quả so sánh các nhóm PC theo mức độ thường xuyên đi du lịch của khu du lịch.
Bảng 2.19: thể hiện đánh giá của khu du lịch theo mức độ thường xuyên tham gia du lịch. Kết quả cụ thể:
Bảng 2.19: So sánh các nhóm PC theo mức độ thường xuyên đi du lịch (n = 100)
| Nhóm Phẩm chất tâm lý
Mức độ du lịch |
Đạo đức | Trí tuệ – năng lực | Ý chí – tính cách | |
| Hiếm khi | TB | 0 | 0 | 0 |
| Thứ bậc | 0 | 0 | 0 | |
| Thỉnh thoảng | TB | 4.25 | 4.32 | 4.19 |
| Thứ bậc | 2 | 1 | 3 | |
| Thường xuyên | TB | 4.05 | 4.04 | 3.99 |
| Thứ bậc | 1 | 2 | 3 | |
| Rất thường xuyên | TB | 4.38 | 4.55 | 4.33 |
| Thứ bậc | 1 | 2 | 3 | |
| Tổng | TB | 4.10 | 4.19 | 4.04 |
| Thứ bậc | 2 | 1 | 3 | |
- Không có khách thể nghiên cứu nào nằm trong diện hiếm khi đi du lịch.
- Thứ bậc đánh giá của nhóm khu du lịch có mức thỉnh thoảng tương ứng với đánh giá của toàn mẫu.
- Mức độ thường xuyên và rất thường xuyên đi du lịch được các khách thể sắp xếp theo thứ bậc ưu tiên: nhóm PC Đạo đức (1/3); nhóm PC Trí tuệ – Năng lực (2/3); nhóm PC Ý chí – Tính cách (3/3).
Như vậy, có sự đánh giá khác nhau về thứ bậc ưu tiên giữa các nhóm mức độ thường xuyên đi du lịch khi khảo sát trên 100 khu du lịch. Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
Bảng 2.20: Ý nghĩa khác biệt giữa các nhóm PC theo mức độ thường xuyên đi du lịch
| STT | Nội dung | P |
| 1 | Nhóm Phẩm chất tâm lý thuộc đạo đức | 0.397 |
| 2 | Nhóm Phẩm chất tâm lý thuộc về trí tuệ – năng lực | 0.196 |
| 3 | Nhóm Phẩm chất tâm lý thuộc về ý chí – tính cách | 0.304 |
Thế nhưng, bảng 2.20 cho thấy không có sự khác biệt về ý nghĩa thống kê (P > 0.05) nên kết luận: tuy các nhóm mức độ thường xuyên du lịch có sự sắp xếp thứ bậc khác nhau nhưng theo sự đánh giá của khu du lịch là thống nhất với nhau về sự cần thiết của các Phẩm chất tâm lý thuộc ba nhóm PC trên.
Tóm lại, dựa trên kết quả so sánh giữa các nhóm PC với các thông số điều tra cho thấy: phần lớn đều nhận định không có sự khác nhau khi đánh giá về mức độ cần thiết của các nhóm PC, tuy nhiên, vẫn có sự khác biệt về mặt ý nghĩa thống kê nếu so sánh theo thông số “giới tính” và “loại hình hướng dẫn viên du lịch”. Nhưng mức ý nghĩa này chỉ tập trung trong 1 nhóm PC nhất định, không phân bổ đều ra các nhóm PC còn lại.
Mặt khác, nếu kiểm nghiệm sự khác biệt giữa các nhóm PC (bảng 2, phụ lục 2) cũng cho kết quả như trên. Do đó, có thể khẳng định không có sự khác biệt giữa các nhóm khách thể khi đánh giá về mức độ cần thiết của các Phẩm chất tâm lý cần có của hướng dẫn viên du lịch.
2.3.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển Phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch. Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
Như đã trình bày trong cơ sở lý luận, các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các Phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch bao gồm yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan. Hai nhóm yếu tố này được cụ thể thành 20 biểu hiện trong phiếu khảo sát. Qua xử lý chúng tôi thu được kết quả sau: Bảng 2.21: Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển các Phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch
| Stt | SV | HDVDL | KDL | Tổng cộng | |||||
| TB | Thứ bậc | TB | Thứ bậc | TB | Thứ bậc | TB | Thứ bậc | ||
| 1 | Hoạt động thực hiện các nhiệm vụ của hướng dẫn viên du lịch | 4.49 | 1 | 4.39 | 1 | 4.37 | 1 | 4.42 | 1 |
| 2 | Vốn hiểu biết văn hóa | 4.33 | 2 | 4.10 | 2 | 4.23 | 2 | 4.22 | 2 |
| 3 | Chế độ đãi ngộ của doanh nghiệp nơi HD đang công tác | 4.00 | 6 | 3.96 | 3 | 4.16 | 3 | 4.04 | 3 |
| 4 | Điều kiện làm việc | 3.95 | 7 | 3.95 | 4 | 4.15 | 4 | 4.02 | 4 |
| 5 | Bầu không khí tâm lý nơi làm việc | 3.90 | 8 | 3.75 | 7 | 4.16 | 3 | 3.94 | 5 |
| 6 | Trình độ đào tạo | 4.04 | 5 | 3.80 | 6 | 3.97 | 7 | 3.94 | 6 |
| 7 | Quản lý và hỗ trợ từ các doanh nghiệp nơi hướng dẫn viên đang công tác | 4.05 | 4 | 3.72 | 9 | 3.99 | 6 | 3.92 | 7 |
| 8 | Kinh nghiệm HD đoàn | 4.06 | 3 | 3.83 | 5 | 3.84 | 9 | 3.91 | 8 |
| 9 | Tình trạng sức khỏe | 3.86 | 9 | 3.46 | 13 | 4.05 | 5 | 3.79 | 9 |
| 10 | Đặc điểm đối tượng khách trực tiếp hướng dẫn | 3.79 | 11 | 3.58 | 11 | 3.90 | 8 | 3.76 | 10 |
| 11 | Công tác giáo dục | 3.79 | 11 | 3.53 | 12 | 3.68 | 11 | 3.67 | 11 |
| 12 | Ảnh hưởng từ đồng nghiệp | 3.81 | 10 | 3.74 | 8 | 3.46 | 13 | 3.67 | 11 |
| 13 | Điều kiện kinh tế chính trị xã hội | 3.65 | 12 | 3.40 | 14 | 3.83 | 10 | 3.63 | 12 |
| 14 | Năng khiếu bản thân | 3.59 | 13 | 3.69 | 10 | 3.59 | 12 | 3.62 | 13 |
| 15 | Thành tích doanh nghiệp nơi HDV đang công tác | 3.41 | 14 | 3.23 | 16 | 3.20 | 15 | 3.28 | 14 |
| 16 | Ảnh hưởng từ thầy cô | 3.08 | 16 | 3.16 | 17 | 3.41 | 14 | 3.22 | 15 |
| 17 | Tuổi đời | 2.99 | 17 | 3.36 | 15 | 3.02 | 16 | 3.12 | 16 |
| 18 | Hoàn cảnh gia đình | 3.12 | 15 | 3.09 | 19 | 2.87 | 18 | 3.03 | 17 |
| 19 | Tính cách cá nhân | 2.55 | 19 | 3.14 | 18 | 2.99 | 17 | 2.89 | 18 |
| 20 | Giới tính | 2.92 | 18 | 2.82 | 20 | 2.56 | 19 | 2.77 | 19 |
Bảng 2.21 cho biết thứ bậc các yếu tố có mức độ ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các Phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch. Những yếu tố có ảnh hưởng nhiều như: hoạt động thực hiện các nhiệm vụ của hướng dẫn viên du lịch; vốn hiểu biết văn hóa; chế độ đãi ngộ của doanh nghiệp nơi hướng dẫn viên đang công tác; điều kiện làm việc; bầu không khí tâm lý nơi làm việc;…. Các yếu tố có mức độ ảnh hưởng ít: ảnh hưởng từ thầy, cô; tuổi đời; hoàn cảnh gia đình; tính cách cá nhân; giới tính. Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
2.3.3.1. Ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan đến sự hình thành, phát triển các Phẩm chất tâm lý của HDVDL
Kết quả trưng cầu ý kiến cho thấy mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan đến sự hình thành và phát triển các Phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch được thể hiện ở bảng 2.22
Bảng 2.22: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan
| Stt | SV | HDVDL | KDL | Tổng cộng | |||||
| TB | Thứ bậc | TB | Thứ bậc | TB | Thứ bậc | TB | Thứ bậc | ||
| 1 | Hoạt động thực hiện các nhiệm vụ của hướng dẫn viên du lịch | 4.49 | 1 | 4.39 | 1 | 4.37 | 1 | 4.42 | 1 |
| 2 | Vốn hiểu biết văn hóa | 4.33 | 2 | 4.10 | 2 | 4.23 | 2 | 4.22 | 2 |
| 3 | Trình độ đào tạo | 4.04 | 4 | 3.80 | 4 | 3.97 | 4 | 3.94 | 3 |
| 4 | Kinh nghiệm HD đoàn | 4.06 | 3 | 3.83 | 3 | 3.84 | 6 | 3.91 | 4 |
| 5 | Tình trạng sức khỏe | 3.86 | 5 | 3.46 | 6 | 4.05 | 3 | 3.79 | 5 |
| 6 | Năng khiếu bản thân | 3.59 | 6 | 3.69 | 5 | 3.59 | 7 | 3.62 | 6 |
| 7 | Tuổi đời | 2.99 | 8 | 3.36 | 7 | 3.02 | 8 | 3.12 | 7 |
| 8 | Tính cách cá nhân | 2.55 | 10 | 3.14 | 8 | 2.99 | 9 | 2.89 | 9 |
| 9 | Giới tính | 2.92 | 9 | 2.82 | 10 | 2.56 | 10 | 2.77 | 10 |
Các ý kiến đã chỉ ra 10 yếu tố cụ thể thuộc chủ thể có ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển các Phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch với các mức độ khác nhau:
“Hoạt động thực hiện các nhiệm vụ của hướng dẫn viên du lịch” được đánh giá có mức ảnh hưởng lớn nhất (4.42đ) cùng xếp ở bậc 1/9 và 1/20 các yếu tố ảnh hưởng đến Phẩm chất tâm lý của người hướng dẫn viên du lịch: có 152 ý kiến (chiếm 50.7%) cho là rất ảnh hưởng, 121 ý kiến cho là ảnh hưởng (chiếm 40.3%), chỉ có 27 ý kiến cho là bình thường (chiếm 9%), không có ý kiến nào đánh giá ở mức ít ảnh hưởng và hoàn toàn không ảnh hưởng (bảng 3, phụ lục 5).
Đánh giá này cũng phù hợp với quan điểm về hoạt động trong tâm lý học cho rằng tâm lý được hình thành và phát triển trong hoạt động và thông qua hoạt động.
HDVDL trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ cơ bản của mình thực chất là tiến hành những công việc cụ thể đối với đối tượng giao tiếp trực tiếp và chủ yếu là khách du lịch. Để có thể hoàn thành tốt tất cả các nhiệm vụ của mình đòi hỏi hướng dẫn viên phải có những Phẩm chất tâm lý đáp ứng, mặt khác, chính trong quá trình hoạt động thực hiện các nhiệm vụ đó, các Phẩm chất tâm lý của họ lại được phát triển và hoàn thiện hơn.
“Vốn hiểu biết văn hóa” có mức điểm đánh giá là 4.22đ (thứ bậc 2/9 và 2 /20): có 139 ý kiến cho là ảnh hưởng rất nhiều (chiếm 46.3%), 114 ý kiến cho là ảnh hưởng (chiếm 38%), 27 ý kiến cho là bình thường (chiếm 9%), 20 ý kiến cho là ít ảnh hưởng và hoàn toàn không ảnh hưởng (chiếm 6.7%) (bảng 3, phụ lục 5). Điều này khẳng định tất cả các khách thể đều nhận thức tầm quan trọng của nền tảng tri thức sẽ ảnh hưởng đến việc hướng dẫn viên du lịch hình thành các Phẩm chất tâm lý và phát triển các PC này trong tương lai. Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
“Trình độ đào tạo” theo đánh giá của các khách thể nghiên cứu có mức ảnh hưởng xếp thứ ba sau “Vốn hiểu biết văn hóa” với 3.94đ: có 100 ý kiến cho là ảnh hưởng rất nhiều (chiếm 33.3%), 125 ý kiến cho là ảnh hưởng (chiếm 41.7%), 46 ý kiến cho là bình thường (chiếm 15.3%), 29 ý kiến cho là ít ảnh hưởng và hoàn toàn không ảnh hưởng (chiếm 9.7%) (bảng 3, phụ lục 5).
Giai đoạn đào tạo nghề hướng dẫn viên du lịch trong nhà trường tập trung chủ yếu vào việc định hướng mục tiêu, giáo dục động cơ, đạo đức nghề nghiệp và rèn luyện những Phẩm chất tâm lý cần thiết cho người học. Sau giai đoạn này, người học sẽ thực sự tham gia vào hoạt động HD dựa trên nền tảng tri thức đã có và kinh nghiện thực tiễn của cá nhân.
Tất cả những gì hướng dẫn viên du lịch tiếp thu được trong quá trình đào tạo nghề tại nhà trường sẽ làm cơ sở cho hoạt động nghề và là điểm xuất phát mới có ảnh hưởng đến quá trình hình thành và phát triển các Phẩm chất tâm lý của họ trong tương lai.
Các yếu tố: “Kinh nghiệm hướng dẫn đoàn”, “Tình trạng sức khỏe”, “Năng khiếu bản thân” cũng được đánh giá ở mức ảnh hưởng cao:
“Kinh nghiệm hướng dẫn đoàn” đạt 3.91đ (4/9) với 90 ý kiến cho rằng rất ảnh hưởng (chiếm 30%), 118 ý kiến cho rằng cần thiết (chiếm 39.3%), 70 ý kiến cho rằng bình thường (chiếm 23.3%), còn lại 22 ý kiến cho rằng ít ảnh hưởng và hoàn toàn không ảnh hưởng (chiếm 7.3%) (bảng 3, phụ lục 5).
“Tình trạng sức khỏe” đạt 3.79đ (5/9) với: 129 ý kiến cho rằng ảnh hưởng rất nhiều (chiếm 43%), 98 ý kiến cho rằng có ảnh hưởng (chiếm 32.7%), 42 ý kiến cho rằng ảnh hưởng bình thường (chiếm 14%), 31 ý kiến cho rằng ít và hoàn toàn không ảnh hưởng (chiếm 10.7%) (bảng 3, phụ lục 5).
“Năng khiếu bản thân” đạt 3.62đ (thứ bậc 6/9): có 55 ý kiến cho rằng ảnh hưởng rất nhiều (chiếm 18.3%), 116 ý kiến cho rằng có ảnh hưởng (chiếm 38.7%), 98 ý kiến cho rằng ảnh hưởng bình thường (chiếm 92.7%), 31 ý kiến cho rằng ít ảnh hưởng và hoàn toàn không ảnh hưởng (chiếm 10.4%) (bảng 3, phụ lục 5).
Kết quả trưng cầu ý kiến về mức độ ảnh hưởng của nhóm các yếu tố chủ quan cho thấy ngoài những yếu tố có mức độ ảnh hưởng nhiều còn có các yếu tố: “Tuổi đời”, “Tính cách cá nhân”, “Giới tính” đều ít nhiều ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các Phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
Như vậy, có nhiều yếu tố chủ quan tác động đến sự hình thành, phát triển các Phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch, trong đó 3 yếu tố: “Hoạt động thực hiện các nhiệm vụ của hướng dẫn viên du lịch”, “Vốn hiểu biết cá nhân”, “Trình độ đào tạo” có ảnh hưởng nhiều, các yếu tố khác đều ảnh hưởng ở mức cao và TB.
2.3.3.2. Ảnh hưởng của các yếu tố khách quan đến đến sự hình thành, phát triển các Phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
Bảng 2.23: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khách quan
| Stt | SV | HDVDL | KDL | Tổng cộng | |||||
| TB | Thứ bậc | TB | Thứ bậc | TB | Thứ bậc | TB | Thứ bậc | ||
| 1 | Chế độ đãi ngộ của doanh nghiệp nơi HD đang công tác | 4.00 | 2 | 3.96 | 1 | 4.16 | 1 | 4.04 | 1 |
| 2 | Điều kiện làm việc | 3.95 | 3 | 3.95 | 2 | 4.15 | 2 | 4.02 | 2 |
| 3 | Bầu không khí tâm lý nơi làm việc | 3.90 | 4 | 3.75 | 3 | 4.16 | 1 | 3.94 | 3 |
| 4 | Quản lý và hỗ trợ từ các doanh nghiệp nơi hướng dẫn viên đang công tác | 4.05 | 1 | 3.72 | 5 | 3.99 | 3 | 3.92 | 4 |
| 5 | Đặc điểm đối tượng khách trực tiếp hướng dẫn | 3.79 | 6 | 3.58 | 6 | 3.90 | 4 | 3.76 | 5 |
| 6 | Công tác giáo dục | 3.79 | 6 | 3.53 | 7 | 3.68 | 6 | 3.67 | 6 |
| 7 | Ảnh hưởng từ đồng nghiệp | 3.81 | 5 | 3.74 | 4 | 3.46 | 7 | 3.67 | 6 |
| 8 | Điều kiện kinh tế chính trị – xã hội | 3.65 | 7 | 3.40 | 8 | 3.83 | 5 | 3.63 | 7 |
| 9 | Thành tích doanh nghiệp nơi HDV đang công tác | 3.41 | 8 | 3.23 | 9 | 3.20 | 9 | 3.28 | 8 |
| 10 | Ảnh hưởng từ thầy cô | 3.08 | 10 | 3.16 | 10 | 3.41 | 8 | 3.22 | 9 |
| 11 | Hoàn cảnh gia đình | 3.12 | 11 | 3.09 | 11 | 2.87 | 10 | 3.03 | 10 |
Bảng 2.23 cho thấy mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khách quan đến sự hình thành và phát triển các Phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch. Trong đó:
Yếu tố “Chế độ đãi ngộ của doanh nghiệp nơi hướng dẫn viên đang công tác” là yếu tố có mức ảnh hưởng cao nhất với 4.04đ (thứ bậc 1/11): có 119 ý kiến cho rằng ảnh hưởng rất nhiều (chiếm 39.7%), 110 ý kiến cho rằng có ảnh hưởng (chiếm 36.7%), 42 ý kiến cho rằng ảnh hưởng bình thường (chiếm 14%), 29 ý kiến cho rằng ít và hoàn toàn không ảnh hưởng (chiếm 9.6%) (bảng 3, phụ lục 5). Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
Điều kiện làm việc” đạt 4.02đ (thứ bậc 2/11) với 99 ý kiến cho rằng ảnh hưởng rất nhiều (chiếm 33%), 133 ý kiến cho rằng có ảnh hưởng (chiếm 44.3%), 44 ý kiến cho rằng ảnh hưởng bình thường (chiếm 14.7%), 24 ý kiến cho rằng ít và hoàn toàn không ảnh hưởng (chiếm 8.0%) (bảng 3, phụ lục 5).
Bầu không khí tâm lý nơi làm việc” đạt 3.94đ (thứ bậc 3/11): có 91 ý kiến cho rằng ảnh hưởng rất nhiều (chiếm 30.3%), 131 ý kiến cho rằng có ảnh hưởng (chiếm 43.7%), 53 ý kiến cho rằng ảnh hưởng bình thường (chiếm 17.7%), 25 ý kiến cho rằng ít và hoàn toàn không ảnh hưởng (chiếm 8.3%) (bảng 3, phụ lục 5).
Các yếu tố: “Quản lý và hỗ trợ từ các doanh nghiệp” đạt 3.93đ (thứ bậc 4/11), “Đặc điểm đối tượng khác trực tiếp HD” với 3.76đ (thứ bậc 5/11), “Công tác giáo dục” và “Ảnh hưởng từ đồng nghiệp” cùng đạt 3.67đ (thứ bậc 6/11), “Điều kiện kinh tế chính trị – xã hội” đạt 3.63đ (thứ bậc 7/11) cũng được đánh giá ở mức ảnh hưởng cao.
Còn “Thành tích doanh nghiệp nơi hướng dẫn viên đang công tác”; “Ảnh hưởng từ thầy, cô” và “Hoàn cảnh gia đình” được các nhóm khách thể khảo sát xếp vào nhóm có mức ảnh hưởng thấp nhất trong nhóm:
“Thành tích doanh nghiệp nơi hướng dẫn viên đang công tác” đạt 3.28đ (thứ bậc 8/11) với 32 ý kiến cho rằng ảnh hưởng rất nhiều (chiếm 10.7%), 96 ý kiến cho rằng có ảnh hưởng (chiếm 32%), 116 ý kiến cho rằng ảnh hưởng bình thường (chiếm 38.7%), 56 ý kiến cho rằng ít và hoàn toàn không ảnh hưởng (chiếm 18.7%) (bảng 3, phụ lục 5).
Ảnh hưởng từ thầy, cô” đạt 3.22đ (thứ bậc 9/11) với 51 ý kiến cho rằng ảnh hưởng rất nhiều (chiếm 17%), 76 ý kiến cho rằng có ảnh hưởng (chiếm 25.3%), 86 ý kiến cho rằng ảnh hưởng bình thường (chiếm 28.7%), 87 ý kiến cho rằng ít và hoàn toàn không ảnh hưởng (chiếm 29%) (bảng 3, phụ lục 5).
Hoàn cảnh gia đình” đạt 3.03đ (thứ bậc 10/11) với 32 ý kiến cho rằng ảnh hưởng rất nhiều (chiếm 10.7%), 70 ý kiến cho rằng có ảnh hưởng (chiếm 23.3%), 107 ý kiến cho rằng ảnh hưởng bình thường (chiếm 35.7%), 91 ý kiến cho rằng ít và hoàn toàn không ảnh hưởng (chiếm 29.4%) (bảng 3, phụ lục 5).
Qua cách sắp xếp thứ bậc như trên chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy môi trường làm việc, lợi ích mà hướng dẫn viên du lịch có được khi tham gia hoạt động trong môi trường đó có tác động mạnh mẽ đến sự hình thành Phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên. Nếu hướng dẫn viên thật sự được tham gia sinh hoạt trong môi trường năng động, bầu không khí thoải mái, được hưởng những quyền lợi xứng đáng với công sức họ bỏ ra thì việc phát triển những PC cần thiết của nghề theo chiều hướng tích cực là việc đương nhiên.
Bên cạnh đó, chúng ta cũng thấy được hướng dẫn viên du lịch đánh giá cao tầm quan trọng của việc tham gia vào các hoạt động thực tiễn hơn là việc chỉ tiếp thu kiến thức từ Thầy, cô; từ môi trường giáo dục. Có lẽ vì vậy mà yếu tố “Ảnh hưởng từ Thầy, cô” được đánh giá có mức ảnh hưởng tương đối thấp trong nhóm này. Việc này đòi hỏi chúng ta phải xem xét lại nội dung, chương trình đào tạo và phương pháp truyền đạt kiến thức từ người dạy đến người học vì đáng lý ra Thầy, cô phải là người vừa định hướng mục tiêu, phương pháp và phong cách làm việc; vừa là mục tiêu và hình mẫu để những người hướng dẫn viên du lịch tương lai soi vào và phấn đấu. Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
Hoàn cảnh gia đình cũng có ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các Phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch, tuy nhiên yếu tố này lại được đánh giá có mức ảnh hưởng thấp nhất. Điều đó cho thấy, các khách thể nhận thấy tầm quan trọng của “gia đình” nhưng nó chưa phải là điều kiện đủ để hướng dẫn viên du lịch có thể phát triển các Phẩm chất tâm lý của mình. Tránh những trường hợp có một số cá nhân thường mượn yếu tố hoàn cảnh gia đình để thực hiện những hành động đi ngược lại với đạo đức nghề nghiệp và quy định của pháp luật.
Nói chung, có nhiều yếu tố khách quan ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các Phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên trong đó yếu tố “Đãi ngộ của doanh nghiệp nơi hướng dẫn viên đang công tác” là quan trọng nhất, có mức ảnh hưởng nhiều nhất.
Tóm lại, các yếu tố khách quan và chủ quan đều có mức độ ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các Phẩm chất tâm lý của người hướng dẫn viên du lịch. Các yếu tố khách quan làm tiền đề bên ngoài để hình thành nên các yếu tố bên trong và định hướng cho sự phát triển của các Phẩm chất tâm lý; các yếu tố chủ quan lại tác động trở lại các yếu tố khách quan làm thay đổi và phát triển các Phẩm chất tâm lý theo những chiều hướng khau nhau. Vì vậy, có thể nói hai nhóm yếu tố ảnh hưởng này (cụ thể thành 20 biểu hiện) có sự tác động qua lại hài hòa và khắng khít với nhau. Trong đó, yếu tố “Hoạt động thực hiện các nhiệm vụ của hướng dẫn viên du lịch” đóng vai trò chủ yếu.
2.3.3.3. Kết quả so sánh các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các Phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch với các thông số điều tra.
2.3.3.3.1. Kết quả so sánh các yếu tố ảnh hưởng với thông số giới tính.
Kết quả thể hiện qua bảng 2.24:
Bảng 2.24: So sánh các yếu tố ảnh hưởng theo thông số giới tính
| Yếu tố ảnh hưởng | Nam | Nữ |
P |
||
| TB | DLC | TB | DLC | ||
| Khách quan | 3.70 | 0.47 | 3.60 | 0.58 | 0.157 |
| Chủ quan | 4.19 | 0.48 | 4.11 | 0.58 | 0.158 |
- Độ chênh lệch theo đánh giá giữa nam và nữ trong từng nhóm yếu tố ảnh hưởng không cao.
- Cả phái nam và nữ đều đánh giá nhóm các yếu tố chủ quan ảnh hưởng nhiều hơn so với nhóm các yếu tố khách quan.
- Không có ý nghĩa về mặt thống kê.
Do đó, có thể khẳng định không có sự khác biệt giữa nam và nữ về việc nhận thức các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các Phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
2.3.3.3.2. Kết quả so sánh các yếu tố ảnh hưởng theo đánh giá của SV các trường. Bảng 2.25: So sánh các yếu tố ảnh hưởng theo đánh giá của SV các trường Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
| Yếu tố ảnh hưởng | Tôn Đức Thắng | Văn Lang |
P |
||
| TB | DLC | TB | DLC | ||
| Khách quan | 3.60 | 0.62 | 3.53 | 0.56 | 0.570 |
| Chủ quan | 4.24 | 0.44 | 4.01 | 0.63 | 0.059 |
Bảng 2.25 cho thấy:
- Sinh viên của cả 2 trường Tôn Đức Thắng và Văn Lang đều đánh giá nhóm các yếu tố chủ quan cao hơn nhóm các yếu tố khách quan.
- Không có ý nghĩa về mặt thống kê (P ≥ 0.05).
Từ đó có thể khẳng định không có sự khác biệt giữa SV trường đại học Tôn Đức Thắng và đại học Văn Lang về nhóm các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển các Phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
2.3.3.3.3. Kết quả so sánh các yếu tố ảnh hưởng theo loại hình hướng dẫn viên du lịch.
Kết quả so sánh các yếu tố ảnh hưởng theo loại hình hướng dẫn viên du lịch thể hiện qua bảng 2.26: Bảng 2.26: So sánh các yếu tố ảnh hưởng theo loại hình hướng dẫn viên du lịch
| Yếu tố ảnh hưởng | Nội địa | Quốc tế |
P |
||
| TB | DLC | TB | DLC | ||
| Khách quan | 3.66 | 0.50 | 3.72 | 0.47 | 0.572 |
| Chủ quan | 4.01 | 0.53 | 4.46 | 0.44 | 0.000 |
- HDV nội địa và hướng dẫn viên quốc tế cùng đánh giá nhóm các yếu tố khách quan có mức ảnh hưởng ít hơn nhóm các yếu tố chủ quan. Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
- Có sự khác biệt giữa nhóm hướng dẫn viên nội địa và hướng dẫn viên quốc tế về mức độ nhận thức các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển các Phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch trong nhóm chủ quan.
“Tình trạng sức khỏe” là yếu tố đầu tiên có thể cho thấy sự khác biệt rõ ràng giữa hướng dẫn viên nội địa và hướng dẫn viên quốc tế. Sức khỏe là một trong những điều kiện “cần” đầu tiên để của người hướng dẫn viên du lịch, tuy nhiên, tùy tuyến điểm, chương trình du lịch khác nhau mà đòi hỏi cũng khác nhau. Đối với những chuyến đi dài ngày và nằm ngoài phạm vi lãnh thổ nước ta, đòi hỏi hướng dẫn viên du lịch phải có sức khỏe thật tốt và ổn định để đáp ứng yêu cầu của nước sở tại và “chăm lo”khách hàng thật tốt.
“Hoạt động thực hiện các nhiệm vụ của hướng dẫn viên du lịch” cũng có những đòi hỏi khác nhau với từng loại hình HD. Với những hướng dẫn viên du lịch quốc tế, công việc có thể nhẹ nhàng hơn nhờ sự trợ giúp của các hướng dẫn viên nội địa tại chỗ nên yêu cầu về chuyên môn và hoạt động thực tế có thể không nhiều hơn hướng dẫn viên nội địa là bao. Còn đối với hướng dẫn viênD nội địa, vì đối tượng khách là những người đã có sự hiểu biết ít nhiều về văn hóa, nghệ thuật, ẩm thực của những miền đất nước nên sẽ có đòi hỏi cao về kiến thức chuyên môn, về nghiệp vụ hướng dẫn và kinh nghiệm thực tế
Do đó, có thể khẳng định có sự chênh lệch về mức độ cần thiết trong nhóm các yếu tố chủ quan của 2 nhóm hướng dẫn viên nội địa và hướng dẫn viên quốc tế.
2.3.3.3.4. Kết quả so sánh các yếu tố ảnh hưởng theo độ tuổi.
Bảng 2.27 cho thấy kết quả so sánh các yếu tố ảnh hưởng theo độ tuổi điều tra:
Bảng 2.27: So sánh các yếu tố ảnh hưởng theo thông số độ tuổi
| Yếu tố ảnh hưởng | Dưới 25 | 25 – dưới 40 | 40 – dưới 60 | Trên 60 |
P |
||||
| TB | DLC | TB | DLC | TB | DLC | TB | DLC | ||
| Khách quan | 3.83 | 0.48 | 3.69 | 0.49 | 3.58 | 0.54 | 3.92 | 0.50 | 0.181 |
| Chủ quan | 4.13 | 0.50 | 4.15 | 0.52 | 4.26 | 0.49 | 4.56 | 0.29 | 0.154 |
Tất cả các khách thể có độ tuổi dưới 25; từ 25 – dưới 40; từ 40 – dưới 60 và trên 60 đều đánh giá nhóm khách quan có mức ảnh hưởng ít hơn so với nhóm các yếu tố chủ quan. Không có ý nghĩa về mặt thống kê (P ≥ 0.05)
Từ đó cho thấy không có sự khác biệt giữa các khách thể thuộc 4 nhóm tuổi khác nhau về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển các Phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
2.3.3.3.5. Kết quả so sánh các yếu tố ảnh hưởng theo thâm niên công tác của hướng dẫn viên du lịch.
Kết quả thể hiện qua bảng 2.28: Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
Bảng 2.28: So sánh các yếu tố ảnh hưởng theo thâm niên công tác của hướng dẫn viên du lịch
| Yếu tố ảnh hưởng | Dưới 1 năm | 1 – dưới 5 năm | 5- dưới 10 năm | Trên 10 năm |
P |
||||
| TB | DLC | TB | DLC | TB | DLC | TB | DLC | ||
| Khách quan | 3.82 | 0.00 | 3.68 | 0.47 | 3.74 | 0.56 | 3.34 | 0.33 | 0.497 |
| Chủ quan | 4.11 | 0.00 | 4.16 | 0.50 | 4.40 | 0.56 | 4.01 | 0.71 | 0.207 |
Nhóm hướng dẫn viên du lịch có thâm niên công tác dưới 1 năm hay từ 1 – dưới 5 năm hoặc từ 5 năm – dưới 10 năm; thậm chí trên 10 năm đều cho rằng nhóm các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển Phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch nhiều hơn so với nhóm các yếu tố khách quan.
Kết quả thống kê cho thấy không có sự khác biệt giữa các hướng dẫn viên du lịch theo từng nhóm thâm niên công tác về mức độ ảnh hưởng của nhóm các yếu tố khách quan và chủ quan.
Một cách khách quan, chúng ta có thể khẳng định đánh giá trên là tương đối hợp lý, bởi với những hướng dẫn viên mới vào nghề, thời gian công tác chưa đến 1 năm, sẽ có rất nhiều bỡ ngỡ, lo lắng liệu rằng kiến thức như thế này đã đủ để có thể hướng dẫn đoàn? Làm thế nào để tạo không khí vui vẻ, thoải mái giữa những người lạ với nhau? Kinh nghiệm HD khách chưa nhiều có làm có làm cho du khách thất vọng về mình hay không? Và nhiều, nhiều những câu hỏi tương tự như vậy xuất hiện, tất cả sẽ được giải quyết nếu hướng dẫn viên tự tin vào chính mình.
Đến giai đoạn sau này, từ 1 – 5 năm, thậm chí nhiều hơn nữa, khi vốn kiến thức, kinh nghiệm thực tế ngày càng nhiều, lúc đó hướng dẫn viên du lịch bắt đầu nghĩ đến những yếu tố khác: công ty nào đãi ngộ tốt hơn, nơi nào có điều kiện làm việc thoải mái và phong cách chuyên nghiệp hơn,….. Những yếu tố này sẽ chi phối và ảnh hưởng đến việc phát triển các Phẩm chất tâm lý theo những hướng khác nhau.
Tuy nhiên, muốn trở thành một hướng dẫn viên du lịch giỏi, ngoài những đòi hỏi về kiến thức và chuyên môn nghiệp vụ, hướng dẫn viên cần phải đảm bảo những yếu tố khác như: sức khỏe, năng khiếu, cá tính riêng,… Kết hợp hài hòa những yếu tố trên sẽ mang lại thành tích cao trong hoạt động HD của hướng dẫn viên du lịch.
Từ đó khẳng định không có sự khác biệt giữa các hướng dẫn viên du lịch ở các nhóm tuổi khi đánh giá các yếu tố đến sự hình thành và phát triển những Phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
2.3.3.3.6. Kết quả so sánh các yếu tố ảnh hưởng theo mức độ thường xuyên đi du lịch của du khách.
Bảng 2.29: So sánh các yếu tố ảnh hưởng theo mức độ thường xuyên đi du lịch của du khách
| Yếu tố ảnh hưởng | Thỉnh thoảng | Thường xuyên | Rất thường xuyên | P | |||
| TB | DLC | TB | DLC | TB | DLC | ||
| Khách quan | 3.76 | 0.59 | 3.70 | 0.49 | 3.70 | 0.29 | 0.871 |
| Chủ quan | 4.27 | 0.65 | 4.08 | 0.43 | 4.52 | 0.17 | 0.103 |
Bảng 2.29 thể hiện kết quả khảo sát các yếu tố ảnh hưởng theo thông số mức độ thường xuyên đi du lịch của du khách:
- Cả 3 nhóm du khách có mức độ thỉnh thoảng; thường xuyên; rất thường xuyên đều đánh giá nhóm yếu tố chủ quan có mức ảnh hưởng nhiều hơn nhóm các yếu tố khách quan đến sự hình thành và phát triển những Phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
- Không có ý nghĩa về mặt thống kê (P > 0.05)
Do đó có thể kết luận, không có sự khác biệt giữa các nhóm du khách có mức độ du lịch khác nhau về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành, phát triển những Phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
Tóm lại, dựa trên kết quả so sánh các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các Phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch với các thông số điều tra cho thấy: phần lớn các khách thể đều tập trung nhấn mạnh nhóm các yếu tố ảnh hưởng chủ quan và cho rằng không có sự khác biệt giữa các khách thể về mức độ ảnh hưởng của 2 nhóm yếu tố khách quan và chủ quan. Tuy nhiên, nếu so sánh theo thông số “loại hình hướng dẫn viên du lịch” cho thấy có ý nghĩa về mặt thống kê trong nhóm các yếu tố chủ quan. Nhưng mức ý nghĩa này chỉ thể hiện trong một nhóm các yếu tố ảnh hưởng mà không phân bổ sang các nhóm khác nên chúng ta có thể kết luận: các nhóm khách thể đều thống nhất trong việc đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố thuộc 2 nhóm chủ quan và khách quan, trong đó, nhóm các yếu tố chủ quan có mức ảnh hưởng cao hơn nhóm các yếu tố khách quan. Luận văn: Thực trạng phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Giải pháp phẩm chất tâm lý của hướng dẫn viên du lịch
