Luận văn: Giải pháp du lịch văn hóa tín ngưỡng phía tây Hà Nội

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Giải pháp du lịch văn hóa tín ngưỡng phía tây Hà Nội hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Giải pháp tăng cường quản lý và khai thác loại hình du lịch văn hóa tín ngưỡng tại các huyện phía tây Hà Nội (tỉnh Hà Tây cũ) dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1 Đặc điểm, xu hướng phát triển loại hình du lịch văn hóa tín ngưỡng tại Việt Nam.

3.1.1 Đặc điểm

Du lịch văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam có thể được xem là bộ phận nhánh của du lịch tâm lịch do chúng được thiết kế, tổ chức thực hiện hướng vào thị trường mục tiêu là khách du lịch có nhu cầu “tinh thần”, thỏa mãn việc củng cố lòng tin cá nhân và có gắn với một chuyến đi (hoặc hành hương) mang yếu tố tâm linh. Tuy nhiên du lịch tín ngưỡng có một số đặc điểm riêng biệt: lấy tín ngưỡng và những biểu hiện văn hóa tín ngưỡng làm cơ sở phát triển du lịch trong khi đó du lịch tâm linh lấy cả tôn giáo và tín ngưỡng làm đối tượng khai thác. Du lịch tâm linh trong nước lấy nhân tố đạo Phật làm trung tâm, ngược lại du lịch tín ngưỡng gắn liền với những tín ngưỡng dân gian đa dạng hơn (đình, đền, miếu, phủ, lễ hội truyền thống tín ngưỡng…). Du lịch tín ngưỡng cũng có thể tồn tại dưới nhiều hình thức cụ thể như du  lịch về nguồn (đền Hùng), Du lịch lễ hội tín ngưỡng (phủ Giầy, đền Trần, Đền Và), du lịch di sản văn hóa phi vật thể (hát Soan, hát chèo Tàu Tân Hội)…Đặc điểm chính của du lịch tín ngưỡng là thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người. Nhu cầu này thuộc nhóm nấc thang cao hơn trong bậc thang nhu cầu của Maslow (an toàn – sinh lý – tinh thần – nhu cầu giao tiếp – nhu cầu khẳng định cá nhân). Nhóm nhu cầu càng cao thì tính thiết yếu càng thấp, tuy nhiên nhóm khách thuộc dạng nhu cầu này thường có tâm lý sẵn sàng chi tiêu và trình độ học vấn cao.

Du lịch tâm linh Việt Nam nói chung, du lịch văn hóa tín ngưỡng nói riêng không dựa nhiều vào hoạt động hành hương của thị trường mà dựa vào tập quán đi chùa, lễ bái… trong các dịp nghỉ lễ lớn của khách du lịch nội địa (têt Nguyên Đán, Quốc Khánh) và nhu cầu tìm hiểu, nghiên cứu, giao lưu văn hóa của khách du lịch quốc tế . Hoạt động du lịch thường có mối liên hệ mật thiết với những điểm du lịch là thánh tích, di tích thắng cảnh tôn giáo – tín ngưỡng.

Du lịch văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam có đặc tính bản địa cao do đó tính cá biệt của sản phẩm thường cao hơn so với du lịch tôn giáo – tín ngưỡng trên thế giới. Luận văn: Giải pháp du lịch văn hóa tín ngưỡng phía tây Hà Nội.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

3.1.2 Xu hướng

Việt Nam có nhiều tiềm năng và thế mạnh để phát triển du lịch văn hóa tín ngưỡng thể hiện ở bề dày văn hóa gắn với truyền thống, tín ngưỡng;  số lượng lớn các tín ngưỡng, lễ hội dân gian được tổ chức quanh năm trên phạm vi cả nước. Nhu cầu du lịch văn hóa tín ngưỡng ngày càng tăng của người Việt Nam và một bộ phận khách du lịch quốc tế đang trở thành động lực thúc đẩy loại hình du lịch này phát triển. Du lịch văn hóa tín ngưỡng đang trở thành xu hướng phổ biến dựa trên những cơ sở sau:

Số lượng khách du lịch tín ngưỡng ngày càng tăng, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu khách du lịch, đặc biệt là khách nội địa. Số khách du lịch đến các điểm tín ngưỡng tăng cho thấy du lịch thỏa mãn nhu cầu tâm linh ngày càng giữ vị trí quan trọng trong đời sống xã hội.

Hoạt động kinh doanh, đầu tư vào du lịch khai thác các giá trị văn hóa tín ngưỡng ngày càng được đẩy mạnh qua quy mô, nguồn vốn, tính chất hoạt động của các khu, điểm du lịch tín ngưỡng tiêu biểu như: Đền Hùng (Phú Thọ); Đại Nam Văn Hiến (Bình Dương); Miếu Bà Chúa Xứ (An Giang); Côn Sơn Kiếp Bạc (Hải Dương); Đền Trần-Phủ Dầy (Nam Định); Đền Thượng – Trung Hạ (Ba Vì, Hà Nội)…

Du lịch tín ngưỡng ngày càng đáp ứng được nhu cầu phát triển du lịch trên cả khía cạnh kinh tế và xã hội. Nhà nước ngày càng quan tâm hơn đối với phát triển du lịch tín ngưỡng,  coi đó là một trong những giải pháp nâng cao chất lượng đời sống tinh thần của nhân dân đồng thời thỏa mãn việc bảo tồn, tôn vinh những giá trị truyền thống, suy tôn những giá trị văn hóa dân tộc.

Theo số liệu thống kê, tại Việt Nam, khách du lịch tâm linh chiếm tỷ trọng khá lớn, trong số 32,5 triệu khách du lịch nội địa năm 2012 chỉ tính riêng số khách đến các điểm tâm linh (chùa, đền, phủ, tòa thánh) có khoảng 13,5 triệu người, tương đương 41,5%. Những hoạt động tâm linh chủ yếu là: Hành hương đến những điểm tâm linh; tham quan vãn cảnh, thưởng ngoạn không gian cảnh quan và không gian kiến trúc điêu khắc gắn với điểm tâm linh; tham gia lễ hội tín ngưỡng dân gian…

Trong Hội nghị quốc tế du lịch tâm linh tại Ninh Bình năm 2013, Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan khẳng định: “Sử dụng có trách nhiệm và bền vững các giá trị văn hóa và tự nhiên trong phát triển du lịch tâm linh sẽ mang lại cơ hội việc làm, tạo thu nhập, giảm nghèo, góp phần thúc đẩy giao lưu văn hóa, tăng cường tình đoàn kết hữu nghị, hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, tôn giáo, góp phần gìn giữ hòa bình, mở ra nhiều cơ hội hợp tác, hỗ trợ hiệu quả cho việc tôn vinh, khôi phục và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống, các di sản vật thể và phi vật thể của mỗi quốc gia cũng như của toàn nhân loại”. Cũng trong hội nghị này, Tổng cục trưởng Tổng Cục Du Lịch Nam Nguyễn Văn Tuấn cũng cho biết Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển du lịch tâm linh bởi nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc với nhu cầu hướng tới những giá trị tinh thần cao cả, đức tin, tín ngưỡng và tôn giáo.

3.2 Định hướng phát triển các loại hình du lịch văn hóa tín ngưỡng của Hà Nội đến năm 2030. Luận văn: Giải pháp du lịch văn hóa tín ngưỡng phía tây Hà Nội.

3.2.1 Định hướng của Nhà nước

Trong Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040, du lịch văn hóa gắn với các giá trị tôn giáo – tín ngưỡng được xem là một trong những sản phẩm chủ đạo, được các cơ quan Nhà Nước của Hà Nội quan tâm đầu tư, đưa vào diện những nhóm sản phẩm du lịch được ưu tiên phát triển ở thủ đô. Trong giai đoạn này, ngành du lịch Hà Nội xác định phát triển 6 sản phẩm chủ đạo là: Du lịch sinh thái, Du lịch vui chơi giải trí, Du lịch MICE, Du lịch nghỉ dưỡng, Du lịch mua sắm, Du lịch nông nghiệp và Du lịch văn hóa. Trong phạm vi du lịch văn hóa, ngành du lịch tập trung phát triển các sản phẩm “tham quan di tích lịch sử văn hóa, làng nghề, tham quan phố cổ, du lịch lễ hội, du lịch cộng đồng.

Các cụm du lịch cũng được chia thanh 06 cụm chính, trong đó các cụm du lịch Sơn Tây – Ba Vì, Hương Sơn – Quan Sơn (thuộc địa bàn Hà Tây cũ) đều tập trung vào phát triển du lịch tâm linh – tín ngưỡng và một số loại hình du lịch văn hóa khác. Trong khi đó, các cụm du lịch còn lại đều không được ưu tiên coi trọng loại hình du lịch này mà chủ yếu được tập trung vào các loại hình nghỉ dưỡng cuối tuần, vui chơi giải trí, du lịch ẩm thực, mua sắm  và du lịch sinh thái.

Như vậy, căn cứ theo định hướng phát triển du lịch của các cơ quan quản lý Nhà Nước về du lịch, có thể thấy các tài nguyên được tập trung nguồn lực ở khu vực Hà Tây cũ thường thuộc nhóm nguồn tài nguyên du lịch văn hóa, trong đó du lịch tâm linh (gồm khai thác các giá trị tôn giáo và tín ngưỡng) được nhấn mạnh và đưa lên ưu tiên hàng đầu trong mối tương quan so sánh với các cụm du lịch khác gồm Hà Đông và Phụ cận, trung tâm Hà Nội, núi Sóc – hồ Đồng Quan cụm du lịch Vân trì – Cổ Loa. Có thể nói, địa vực Hà Tây cũ được coi là có sự khác biệt tương đối lớn so với các cụm du lịch khác, thể hiện đặc thù tài nguyên, định hướng phát triển mạnh mẽ sản phẩm du lịch tín ngưỡng. Trong 3 cụm  thuộc Hà Tây cũ chỉ có 1 cụm du lịch Hà Đông – Phụ cận là có nguồn tài nguyên tương tự với khu vực địa lý Hà Nội cũ do sự đồng nhất văn hóa (Văn hóa đồng bằng sông Hồng) và điều kiện tự nhiên. Cũng trong bản quy hoạch này, số lượng phòng dành cho hoạt động du lịch nói chung, du lịch văn hóa tín ngưỡng nói riêng được tăng lên 15.000 phòng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách du lịch trong những năm tới.

3.2.2 Định hướng của doanh nghiệp Luận văn: Giải pháp du lịch văn hóa tín ngưỡng phía tây Hà Nội.

Doanh nghiệp hoạt động du lịch ở Hà Nội đã và đang chú trọng loại hình hình du lịch gắn với tín ngưỡng ở khu vực Hà Tây cũ. Trước khi sáp nhập, doanh nghiệp lữ hành thường khai thác kết hợp các điểm du lịch tôn giáo – tín ngưỡng – làng nghề – du lịch tự nhiên ở khu vực Sơn tây – Ba Vì, Hương Sơn – Quan Sơn nhằm hình thành lên sản phẩm du lịch cuối tuần, thỏa mãn nhu cầu đi du lịch của đối tượng khách sinh sống trong nội thành Hà Nội. Trong giai đoạn trước năm 2022, du lịch gắn với tín ngưỡng đã phát triển mạnh mẽ ở theo vành đai du lịch sông Hồng với các điểm bãi Tự Nhiên, Đền thờ Hai Bà Trưng và một số điểm thờ Mẫu, đức thánh Trần dọc bờ sông Hồng. Khu vực Sơn Tây – Ba Vì thường được các công ty du lịch Hà Nội khai thác mạnh ở các điểm đền thờ đức thánh Tản, khu di tích K9 (nơi thờ Bác Hồ), đình làng cổ, các lễ hội truyền thống. Đối với các công ty du lịch thuộc tỉnh Hà Tây cũ, những tour trọn gói 1 đến 2 ngày được tổ chức thường xuyên nhằm phục vụ nhu cầu du lịch cuối tuần đến từ trung tâm Hà Nội. Qua các bản báo cáo về hoạt động du lịch của Sở Du lịch Hà Tây cũ có thể thấy các công ty du lịch Hà Tây chưa khai thác được triệt để thế mạnh du lịch tín ngưỡng so với các doanh nghiệp ngoài tỉnh, đặc biệt là so với các doanh nghiệp ở Hà Nội. Trong giai đoạn 2010 – 2022, những sản phẩm mang lại doanh thu lớn ở Hà Tây tập trung chủ yếu vào hoạt động du lịch có điểm đến là những trang trại ở Sơn Tây – Ba Vì dọc theo đại lộ Láng – Hòa Lạc, du lịch làng nghề ở khu vực Hà Đông – phụ cận  và du lịch tâm linh do sự phát triển rất mạnh mẽ của cụm di tích Hương Sơn. Cho dù du lịch văn hóa khai thác các điểm tôn giáo – tín ngưỡng rất được coi trọng trong các bản quy hoạch phát triển du lịch (giai đoạn 2009 – 2024) nhưng trong thực tế Sở du lịch Hà Tây mới chỉ bước đầu xúc tiến loại hình du lịch này (đầu tư xây dựng đường nội bộ trong các khu di tích như cụm di tích chùa Trầm – chùa Trăm gian, chùa Tây Phương, lăng Ngô Quyền, Đền Và…). Các doanh nghiệp đang còn trong giai đoạn chờ sự hoàn thiện về cơ sở vật chất phục vụ du lịch. Tuy nhiên, một số điểm du lịch tín ngưỡng truyền thống được khai thác khá tốt; vẫn duy trì lượng khách, doanh thu mặc dù có sự thiếu thốn về cơ sở lưu trú, bất tiện về giao thông vận tải và không có các dịch vụ du lịch bổ sung (khu di tích K9, đền Và, Bãi Tự Nhiên, các di tích ở làng cổ Đường Lâm…).

Sau khi Hà Tây – Hà Nội sáp nhập năm 2022, chiến lược phát triển du lịch mới được ra đời và chính sách đầu tư, xúc tiến hoạt động du lịch ở đây cũng được hình thành dựa trên cơ sở các bản quy hoạch cũ. Đối với các doanh nghiệp, việc sáp nhập tỉnh không có nhiều ảnh hưởng tới hoạt động của họ trong quá trình khai thác du lịch. Hệ thống sản phẩm du lịch của các doanh nghiệp lữ hành thường lấy một số điểm du lịch làm trung tâm, từ đó mở rộng sang các điểm du lịch có vị trí địa lý gần gũi với điểm trung tâm đó (những điểm trung tâm như điểm Hương Sơn, Đền thờ thánh Tản Viên, Đền Và…). Các điểm vệ tinh trong tour du lịch thường đóng vai trò là điểm tham quan và không được xem là địa điểm  lưu trú cho khách du lịch thực hiện tour; thậm chí các điểm lưu trú trong sản phẩm trọn gói của công ty du lịch thường nằm ở thị xã, thị trấn ở Hà Tây hoặc khách du lịch được đưa trở lại trung tâm Hà Nội cho khách lưu trú. Luận văn: Giải pháp du lịch văn hóa tín ngưỡng phía tây Hà Nội.

Hiện nay du lịch tâm linh thường được nhận thức nghiêng về khai thác các điểm tôn giáo. Những điểm du lịch tín ngưỡng thường được bị đánh giá thấp so với giá trị thực của chúng do có quy mô nhỏ và những nhà quản lý du lịch thường nhìn nhận các điểm tín ngưỡng là điểm đến thiếu sức hút đối với khách du lịch so với các điểm tôn giáo.

Thực tế cho thấy, một số điểm du lịch tâm linh trong nước cho dù có rất ít các giá trị truyền thống và mới được xây dựng, tu bổ, mở rộng (ví dụ chùa Bái Đính, trung tâm Phật giáo Sóc Sơn,  Đại Nam Văn hiến…) lại là điểm đến thu hút sự quan tâm của các doanh nghiệp lữ hành nhiều hơn.

 Như vậy đối với định hướng phát triển của doanh nghiệp, kể cả trong thời kỳ trước năm 2022 và sau thời điểm này, các điểm du lịch tín ngưỡng ở Hà Tây chỉ được xác định là điểm du lịch tham quan, được đánh giá thấp hơn so với các điểm du lịch gắn với tôn giáo cụ thể (ở đây là đạo Phật). Yếu tố giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc… chưa thực sự khách quan trong việc  hình thành sản phẩm phục vụ khách du lịch. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng này là sự phát triển cơ sở hạ tầng mới đang trong giai đoạn đầu được đầu tư; công tác marketing chưa thực sự tốt và vị trí địa lý nằm tương đối xa ở trung tâm so với những điểm du lịch tín ngưỡng đã phát triển ở Hà Nội như Phủ Tây Hồ, Đền Quán Thánh, Bia Bà và một số điểm di tích gắn với Phật giáo khác.

Cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong ngành du lịch thường khai thác các điểm tín ngưỡng một cách tự phát. Nghĩa là điểm nào có lượng khách lớn thì được đưa vào quy hoạch, đầu tư phát triển. Điều này dẫn đến tình trạng phát triển du lịch ồ ạt tại một số điểm và phát triển kém tại những điểm khác. Công tác xúc tiến du lịch dựa trên giá trị truyền thống của điểm tín ngưỡng chưa được xác định đúng đắn dẫn đến lãng phí nguồn tài nguyên. Ngoài ra, việc gắn phát triển với bảo tồn chưa được coi trọng và sự chia sẻ lợi ích có được từ du lịch với lợi ích của người dân địa phương chưa được điều phối hợp lý. Tất cả những nguyên nhân trên là nhân tố tạo ra môi trường phát triển chưa thực sự cân đối, bền vững và chưa khai thác được triệt để lợi thế nguồn tài nguyên gắn với tín ngưỡng.

3.3 Giải pháp tăng cường quản lý và khai thác loại hình du lịch văn hóa tín ngưỡng tại khu vực phía Tây Hà Nội (Hà Tây cũ) đến năm 2030.

3.3.1 Áp dụng linh hoạt các bài học kinh nghiệm của các địa phương vào thực tiễn khu vực phía Tây Hà Nội (tỉnh Hà Tây cũ).

Bài học kinh nghiệm từ Phú Thọ: Lấy đền Hùng là điểm du lịch trọng tâm, từ đó mở rộng mô hình ra các điểm nhỏ hơn, lấy điểm trung tâm làm cơ sở phát triển các điểm ngoại biên. Luận văn: Giải pháp du lịch văn hóa tín ngưỡng phía tây Hà Nội.

Ngành du lịch Phú Thọ hợp tác với nhiều tổ chức, nhà nghiên cứu thuộc nhiều chuyên ngành khác nhau tiến hành khảo sát toàn diện tiềm năng du lịch văn hóa tín ngưỡng của tỉnh. Căn cứ vào cơ sở đó, ngành đưa ra những chiến lược du lịch hết sức dài hạn, theo lộ trình định sẵn. Sự kiện Hát Soan và tín ngưỡng thờ vua Hùng được UNESCO công nhận di sản nhân loại thế giới là kết quả của một quá trình bền bỉ đánh giá giá trị văn hóa – du lịch, làm gia tăng giá trị sẵn có. Trên phương diện tài nguyên du lịch, di sản thế giới luôn là một giá trị lớn có thể khẳng định năng lực du lịch và tạo đà để các nguồn tài nguyên khác phát triển. Chúng cũng tạo ra tính hiệu quả trong công tác tuyên truyền quảng bá du lịch đối với khách du lịch quốc tế.

Qua kinh nghiệm phát triển du lịch Phú Thọ, Hà nội có thể nghiên cứu những giá trị văn hóa và di tích tiêu biểu nhằm xây dựng một hình ảnh điểm đến thân thiện, nổi tiếng và mang tầm quốc tế. Các điểm du lịch tâm linh tín ngưỡng như hệ thống đền thờ Tản Viên và nhóm loại hình biểu diễn dân gian (hát chèo Tàu Tân Hội, hát Dô…)hoàn toàn có thể áp dụng hướng đi này để đẩy nhanh tốc độ xúc tiến du lịch, tạo nên giá trị mới cho các di tích cấp quốc gia vốn chiếm số lượng khá lớn ở khu vực Hà Tây cũ.

Khu vực phía Tây Hà Nội (Hà Tây cũ) và Phú Thọ có nhiều điểm tương đồng về tài nguyên và định hướng phát triển du lịch. Ví dụ như nguồn tài nguyên chủ yếu là tài nguyên văn hóa, du lịch văn hóa tín ngưỡng lấy một điểm trung tâm làm cơ sở phát triển hệ thống vệ tinh các điểm nhỏ hơn. Từ căn cứ này, một số kinh nghiệm phát triển du lịch tín ngưỡng đã thành công ở Phú Thọ cần được Hà Nội tham khảo áp dụng trong định hướng, quy hoạch phát triển du lịch của thành phố.

Áp dựng linh hoạt kinh nghiệm phát triển du lịch văn hóa tín ngưỡng tại Nam Định: Hà Nội có thể tập trung nguồn lực vào một số sản phẩm du lịch tín ngưỡng đặc thù của địa bàn là tín ngưỡng thờ Tản Viên Sơn thần, Chử Đồng Tử, tín ngưỡng thờ thành hoàng làng và lễ hội truyền thống (Ba đền thờ thánh Tản ở núi Ba Vì). Đây là những hình thức tín ngưỡng đặc trưng xứ Đoài, có thể được đầu từ mạnh để phát triển du lịch nội địa. Trong quá trình lập quy hoạch cấp tỉnh, thành phố cần tách biệt các khu vực dịch vụ để chuyên nghiệp hóa hoạt động du lịch tín ngưỡng trong mùa cao điểm.

Hà Nội cần áp dụng kinh nghiệm tôn tạo, xây mới, mở rộng không gian di tích vốn đã nổi tiếng trong nước với tư cách là một địa danh văn hóa. Kèm theo đó là tổ chức các hoạt động biểu diễn dân gian với thời gian dài hơn thông thường, đầy đủ các nghi lễ trong thời gian lễ hội. Việc đưa các hình thức biểu diễn dân gian phát triển mạnh hơn nhằm thu hút khách du lịch lưu lại điểm lâu hơn và tạo ra được dấu ấn trong tâm trí khách.

3.3.2 Các giải pháp cụ thể Luận văn: Giải pháp du lịch văn hóa tín ngưỡng phía tây Hà Nội.

3.3.2.1 Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức đối với khách du lịch Văn hóa tín ngưỡng.

Nhận thức của khác du lịch đóng vai trò quan trọng đối với việc bảo tồn, tôn tạo, giữ gìn di tích và nâng cao chất lượng trải nhiệm tuyến du lịch của họ.

Khi hiểu biết của khách đạt mức độ nhất định, họ cũng có nhu cầu mua các tour du lịch có đặc điểm tương đồng sau khi thực hiện chuyến du lịch tín ngưỡng.

  • Dưới đây là một số giải pháp chính:

Tạo điều kiện cho các ban quản lý di tích, các công ty du lịch tham gia vào các hội chợ du lịch quốc tế nhằm giới thiệu, cung cấp thông tin về những giá trị văn hóa, tín ngưỡng, kiến trúc cho thị trường khách du lịch nước ngoài.

Các điểm có di tích, tín ngưỡng có sức hấp dẫn du lịch lớn cần được đầu tư xây dựng Website riêng giới thiệu sản phẩm du lịch. Kinh phí do ngân sách địa phương cấp hoặc được hỗ trợ từ Tổng cục Du lịch. Nếu địa phương không đủ điều kiện xây dựng  trang mạng internet riêng,  cần phải phối hợp với các chuyên trang du lịch như dulichvietnam, vietnamtourism, vietnamtourism, dulichvn … nhằm đẩy mạnh hoạt động quảng bá sản phẩm du lịch tín ngưỡng. Các trang Web này thường dễ tiếp cận đối với các cơ quan, tổ chức địa phương do chính sách  phát triển du lịch của đất nước. Ngoài ra, việc thành lập các trang Web qua mạng xã hội như Facebook, Twitter, Google + … cũng là một hình thức tiếp cận thị trường dễ dàng, miễn phí, phù hợp với xu thế phát triển mạng lưới thông tin trên thế giới và của Việt Nam. + Tham gia các hội chợ du lịch được tổ chức tại Việt Nam: trong đó các hội chợ du lịch du lịch Quốc tế VITM tại Hà Nội, Hội chợ du lịch quốc tế TP. HCM ITE HCMC, liên hoan du lịch theo chủ đề Du lịch biển, du lịch làng nghề, ẩm thực.. Trong tương lai các điểm du lịch tín ngưỡng cần phối hợp với Hiệp hội du lịch Việt Nam, Hiệp hội Du lịch Hà Nội và các công ty tổ chức sự kiện lập kế hoạch, tổ chức chương trình quảng bá du lịch với chủ đề  chính là du lịch tín ngưỡng – tôn giáo nhằm kích thích và mở rộng thị trường du lịch.

Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu khoa học: trong đó các văn bản Hán Nôm như sắc phong, gia phả dòng họ, văn bản ghi chép trùng tu và những nghiên cứu về giá trị kiến trúc, lịch sử, văn hóa cần được gìn giữ, bảo lưu tại di tích hoặc được số hóa trên thư viện, các chuyên trang du lịch nhằm cung cấp thông tin cho khách du lịch đồng thời chuẩn hóa chất lượng hướng dẫn du lịch và kích thích nhu cầu tìm hiểu về điểm của khách du lịch. Luận văn: Giải pháp du lịch văn hóa tín ngưỡng phía tây Hà Nội.

 Các điểm du lịch tín ngưỡng cần thiết kế, in ấn tờ rơi, tập gấp phát miễn phí cho khách du lịch đến điểm nhằm khuyến khích khách du lịch giới thiệu cho bạn bè, người thân về điểm sau khi kết thúc chuyến du lịch. Cung cấp thông tin đầy đủ cho khách du lịch cũng nâng cao hiểu biết của họ về điểm từ đó họ tự nguyện tuân thủ những nguyên tắc bảo vệ di sản khi tiến hành hoạt động du lịch tại điểm. Hoạt động này nhất thiết phải do các tổ chức, cơ quan nhà nước tiến hành nhằm huy động sự tham gia của các nhà nghiên cứu lịch sử – văn hóa – kiến trúc và đảm bảo chất lượng tri thức về điểm di tích – các hình thức tôn giáo, tín ngưỡng truyền thống ở Hà Tây.

3.3.2.2 Xây dựng và tạo hành làng pháp lý cho phát triển loại hình Du lịch văn hóa tín ngưỡng.

Hành làng pháp lý là một trong những điều kiện tiên quyết trong phát triển kinh tế nói chung, du lịch nói riêng bởi chúng quyết định đến môi trường bên ngoài của doanh nghiệp, các tổ chức quản lý nhà nước cấp thấp và môi trường bên trong của mỗi quốc gia. Để xây dựng hành lang pháp lý thuận tiện, thỏa mãn nhu cầu phát triển thực tiễn tại địa bàn thuộc Hà tây (cũ), Hà Nội cần tập trung vào một số nội dung sau:

Ban hành các văn bản pháp quy dựa trên cơ sở Luật Di sản, Luật Du lịch: hệ thống văn bản này tạo hành lang pháp lý cho việc khai thác di sản văn hóa tín ngưỡng theo những tiêu chuẩn bảo vệ chúng trong quá trình phát triển du lịch. Văn bản dưới luật cần quy định rõ ràng về chức năng quản lý, những pháp nhân có thể tham gia khai thác du lịch, quản lý nguồn thu; quy định rõ đối tượng nào là người quản lỹ quỹ di sản nhằm xây mới, mở rộng hoặc trùng tu di tích phục vụ cho nhu cầu của người dân địa phương và phát triển du lịch.

Hệ thống văn bản pháp quy cần xây dựng cơ chế khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư vào du lịch văn hóa tín ngưỡng. Xây dựng cơ chế cần tập trung vào việc giảm thuế đất, thuế doanh nghiệp, đơn giản hóa thủ tục hành chính (giấy phép thành lập công ty, quy trình nộp thuế)… theo từng giai đoạn dự án phát triển du lịch.

Phân biệt ranh giới giữa khai thác và bảo tồn: Quy định rõ những di tích – biểu hiện tín ngưỡng nào có thể khai thác du lịch, những hình thức tín ngưỡng nào không được phép khai thác nhằm bảo vệ những giá trị văn hóa của dân tộc trước tác động của du lịch.

Xây dựng những bản quy hoạch chi tiết, quy hoạch tổng thể: các bản quy hoạch cần được xây dựng, duyệt theo định kỳ để tạo môi trường đầu tư minh bạch. Luận văn: Giải pháp du lịch văn hóa tín ngưỡng phía tây Hà Nội.

Có cơ chế tổ chức thực hành văn hóa tín ngưỡng theo định hướng phát triển du lịch: Cần xây dựng cơ chế – chính sách hỗ trợ cho người dân địa phương trong quá trình tổ chức lễ hội, tu sửa di tích, không gian tổ chức các nghi lễ – biểu diễn dân gian; khuyến khích họ chủ động tham gia vào hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch.

Chính sách cần xác định rõ những biểu hiện của tín ngưỡng lành mạnh và hoạt động mê tín dị đoan: trong nội dung này cần đưa ra những tiêu chuẩn phân biệt giữa tín ngưỡng truyền thống với những biểu hiện trá hình nhằm trục lợi lòng tin của con người, gây nên những đức tin lệch lạc không phù hợp với lối sống hiện đại.

3.3.2.3 Phát triển du lịch văn hóa tín ngưỡng một cách bền vững nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa.

Du lịch là hoạt động có tính liên ngành, liên vùng và định hướng tài nguyên cao. Trong phạm vi du lịch văn hóa nói chung, du lịch tín ngưỡng nói riêng, ngành du lịch sử dụng và khai thác các nguồn tài nguyên văn hóa có yêu cầu bảo tồn rất cao. Trước khi ngành văn hóa – du lịch – thể thao sáp nhập, việc quản lý các di tích tín ngưỡng thường khá chồng chéo, gây cản trở cho mục tiêu bảo tồn và phát triển du lịch. Vấn đề này không chỉ xảy ra ở Hà Tây trước khi sáp nhập mà còn tồn tại ở nhiều địa phương khác trên cả nước. Việc ngành du lịch sử dụng, khai thác các đối tượng quản lý của ngành khác tạo nên mâu thuẫn giữa phát triển và bảo tồn trong khai thác phát triển du lịch. Những tác động tích cực của ngành du lịch đối với các địa phương trên phương diện kinh tế – xã hội là không thể phủ nhận; tuy nhiên đối với những di sản văn hóa quý báu, hoạt động du lịch ồ ạt và phát triển không thống nhất, không được quy hoạch có thể mang lại những hệ quả lớn đến công tác bảo tồn, tôn tạo di tích thậm chí gây lên sự xuống cấp và biến mất các hệ giá trị.

Ô nhiễm môi trường sinh thái cũng là vấn đề nổi cộm trong công tác quản lý di tích ở những điểm được đưa vào khai thác du lịch.

Sự biến đổi môi trường nhân văn gây lên ảnh hưởng lớn trên phương diện văn hóa – xã hội tại địa phương có điểm du lịch tín ngưỡng.

Du lịch bền vững và những nguyên tắc của xu hướng phát triển du lịch bền vững là lời giải cho bài toán bảo tồn – phát triển không chỉ trên thế giới mà còn ở Việt Nam. Với ba mục tiêu phát triển gắn liền với duy trì, bảo tồn (mục tiêu kinh tế, mục tiêu bảo vệ môi trường tự nhiên và mục tiêu gìn giữ môi trường xã hội nhân văn). Hiện nay nguyên tắc phát triển này không chỉ là tiêu chuẩn mà còn trở thành mục đích và xu hướng của ngành du lịch Việt Nam.

Để phát triển du lịch tín ngưỡng một cách bền vững, ngành văn hóa – thể thao – du lịch và chính quyền địa phương cần tập trung vào những giải pháp sau: Luận văn: Giải pháp du lịch văn hóa tín ngưỡng phía tây Hà Nội.

Xây dựng quỹ bảo tồn dựa trên cơ sở doanh thu từ du lịch: quỹ bảo tồn này tỷ lệ thuận với mức độ hoạt động du lịch diễn ra tại điểm, từ đó có thể đáp ứng nhu cầu bảo tồn các nguồn tài nguyên văn hóa, vốn rất nhạy cảm đối với sự xuất hiện dầy đặc của con người trong hoạt động du lịch. Thông thường, việc gây quỹ bảo tồn thường gặp khó khăn do hạn chế ngân sách, số lượng di tích tín ngưỡng quá lớn ở Hà Nội nói chung, địa bàn Hà Tây cũ nói riêng. Sử dụng một phần lợi nhuận có được từ hoạt động du lịch cho mục đích bảo tồn mang lại sự cân bằng giữa ngành có lợi nhuận cao, nhấn mạnh vào khai thác(du lịch) với ngành phi lợi nhuận những đảm bảo duy trì được giá trị của nguồn tài nguyên đồng thời cũng là di sản văn hóa.

Nâng cao nhận thức của người dân địa phương về hoạt động du lịch và bảo tồn văn hóa: người dân địa phương là người làm chủ các nguồn tài nguyên tín ngưỡng. Những thế hệ trước và chính bản họ là người sáng tạo những công trình kiến trúc, những thực hành văn hóa ở điểm du lịch. Trong thời hiện đại họ vẫn là những người chủ và là người quyết định đến việc gìn giữ những công trình kiến trúc, thực hành văn hóa truyền thống đó. Do đó, thông qua công tác tuyên truyền, giáo dục và chia sẻ lợi nhuận từ du lịch có thể góp phần bảo tồn những giá trị tín ngưỡng, hoạt động rất khó thực hiện đối với các nhà quản lý, nghiên cứu, bảo tồn văn hóa nếu như không có sự hợp tác, hỗ trợ của người dân bản địa.

Có chính sách phân chia lợi ích kinh tế theo nguyên tắc công bằng cho người dân địa phương: một trong những mục đích quan trọng của hoạt động du lịch là nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân địa phương. Đây là căn cứ cho việc cân bằng thu nhập giữa ngành du lịch, chính quyền xã huyện, các công ty lữ hành và người dân bản địa nhằm góp phần đạt được mục tiêu phát triển du lịch và hiện thực hóa mục tiêu phát triển bền vững do người dân được đảm bảo về mặt thu nhập, lợi ích phúc lợi trong việc thực hành, gìn giữ những giá trị tín ngưỡng của chính họ. Nguyên tắc phân chia lợi ích giữa các chủ thể hoạt động du lịch và người dân bản địa ban đầu là nguyên lý của mô hình du lịch cộng đồng được đưa vào Việt Nam ở một số điểm dân tộc thiểu số. Sau đó, với lợi ích có được từ cộng đồng, nguyên lý này được mở rộng và được chứng thực bởi tính hiệu quả của nó trong mục tiêu phát triển du lịch bền vững ở các điểm du lịch khác không thuộc mô hình du lịch cộng đồng. Để thực hiện giải pháp này, người dân không chỉ nhận được lợi ích của mình một cách thụ động mà còn là người chủ động tham gia vào việc xây dựng các kế hoạch quản lý, quy hoạch du lịch ở địa phương.

Xây dựng quy chế, nội quy bảo vệ môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn tại điểm du lịch tín ngưỡng: có những biện pháp hành chính nhằm đảm bảo cho sự duy trì môi trường trong lành và môi trường văn hóa lành mạnh tại những điểm du lịch tín ngưỡng. Quy chế, nội quy cần phải được xây dựng hoàn thiện và được cụ thể hóa thông qua việc đầu tư, xây dựng những công trình đảm bảo vệ sinh công cộng như nhà vệ sinh, các thùng rác, nơi tập kết rác thải và hình thành lập các tổ vệ sinh – môi trường do ban quản lý di tích quản lý, trả lương; có sự hỗ trợ ngân sách từ các cấp chính quyền cao hơn. Các tổ chức lữ hành, công ty du lịch khi đưa khách đến thực hiện tour du lịch cần phải hướng dẫn khách du lịch có trách nhiệm đối với các điểm di tích, ngoài việc công đức hoặc mua đồ lưu niệm ở các điểm du lịch tín ngưỡng tại địa phương.

Cần tách bạch hoạt động văn hóa có tính truyền thống, đảm bảo nhu cầu tinh thần của người dân địa phương với hoạt động văn hóa mang yếu tố công nghiệp văn hóa: Điều này có nghĩa là những nghi lễ, các hình thức biểu diễn truyền thống (hát Văn, nghi lễ rước tượng, múa rối nước, hát cửa đình…) cần được hoạt động trong một câu lạc bộ và có thể hoạt động quanh năm nhằm phục vụ khách du lịch. Thông thường những nghi lễ, trình diễn dân gian thường chỉ được tổ chức trong các lễ hội mỗi năm 1-2 lần, thậm chí một số điểm chỉ tổ chức theo chu kỳ 3-5 năm hoặc 25 năm theo lịch lễ hội của di tích.Việc tách bạch hoạt động văn hóa phục vụ du lịch với hoạt động văn hóa thuần túy phục vụ nhu cầu địa phương là nhằm đảm bảo cho công tác bảo tồn các giá trị truyền thống (cách ly tác động của thương mại hóa, du lịch hóa) đồng thời vẫn khai thác hiệu quả những giá trị đó với mục đích phát triển du lịch, giới thiệu chúng đến với những du khách hiếu kỳ từ bên ngoài đến, đặc biệt là nhóm khách du lịch quốc tế (tổ chức những nghi lễ, biểu diễn có tính thiêng phục vị mục đích thế tục). Luận văn: Giải pháp du lịch văn hóa tín ngưỡng phía tây Hà Nội.

Có sự hợp tác chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, ngành du lịch – văn hóa và người dân địa phương trong công tác bảo tồn di sản văn hóa tại các điểm tín ngưỡng: Việc hợp tác này được thể hiện thông qua các chức năng hoạt động của các bên liên quan. Ngành Văn hóa – Thể Thao – Du lịch thực hiện chức năng chuyên môn trên cơ sở đánh giá văn hóa và giá trị di tích từ đó giới thiệu cho các công ty du lịch tổ chức xây dựng sản phẩm du lịch đến điểm. Chức năng của ngành Du lịch – Văn hóa cũng tập trung vào việc nghiên cứu những giá trị truyền thống (ví dụ kiến trúc, vật liệu xây dựng, không gian văn hóa truyền thống) từ đó đưa ra những địnhhướng cho việc trùng tu, tôn tạo tại điểm có di tích không để người dân địa phương tự ý tu bổ, xây mới những di tích có giá trị. Chính quyền địa phương thực hiện những biện pháp quản lý di tích hiệu quả, đầu tư cơ sở hạ tầng cơ bản và làm việc trực tiếp với người dân địa phương trong quá trình phát triển du lịch. Người dân địa phương cần nắm bắt chính sách của chính quyền, những nguyên tắc bảo tồn di tích và tham gia phục vụ hoạt động du lịch có trách nhiệm. Du lịch là ngành kinh tế – xã hội có tính liên ngành, liên vùng cao do đó việc hợp tác chặt chẽ giữa những bên liên quan có thể làm thuận tiện hóa quá trình xúc tiến phát triển du lịch nói chung, việc phát triển du lịch bền vững nói riêng.

Du lịch bền vững nhấn mạnh đến sự cân bằng giữa nhiều mục tiêu phát triển khác nhau: thỏa mãn nhu cầu khách du lịch, mang lại lợi ích kinh tế cho điểm, thỏa mãn nhu cầu đi du lịch của xã hội và việc gìn giữ những giá trị văn hóa, cảnh quan môi trường hướng tới duy trì tốc độ và khả nẳng phát triển đó trong tương lai. Việc thực hiện những giải pháp trên là thỏa mãn tính chất “ba chân kiềng” – là nguyên tắc chính của pháp triển bền vững trong hoạt động du lịch.

3.3.2.4 Phát triển bộ máy, đội ngũ quản lý văn hóa, lễ hội, tài nguyên.

  • Thực tiễn và nhu cầu đối với bộ máy, đội ngũ quản lý văn hóa tín ngưỡng:

 Nhiệm vụ quản lý văn hóa tại các điểm tín ngưỡng hiện nay thuộc về các tổ chức quản lý nhà nước chuyên ngành (Bộ Văn hóa – Thể Thao và Du lịch) và quản lý nhà nước theo lãnh thổ (UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Chính Phủ).

Lực lượng biên chế trong các cơ quan này là những cán bộ quản lý văn hóa cấp cơ sở,  ban quản lý di tích và nhân lực quản lý di tích của cộng đồng (người trông coi di tích). Đối với những di tích quan trọng, có tầm cỡ quốc gia (quốc tế), Bộ Văn hóa – thể thao và du lịch trực tiếp quản lý về vấn đề tu bổ, tôn tạo, phục hồi và nghiên cứu (Cục văn hóa cơ sở); những di tích cấp địa phương được giao cho UBND tỉnh, huyện, xã quản lý với sự hỗ trợ chuyên môn của Bộ. Phân chia trách nhiệm quản lý rõ ràng như vậy tạo điều kiện thuận lợi cho việc thống kê, nghiên cứu, bảo tồn, tôn tạo các di tích văn hóa và những hình thức tín ngưỡng gắn với chúng. Tuy nhiên, để phục vụ cho phát triển du lịch, những tổ chức, cá nhân trong bộ phận quản lý di tích phải có  nhận thức tương đối cởi mở về việc khai thác chúng thành sản phẩm du lịch. Điều này đồi hỏi hệ thống quản lý cần nâng cao trình độ kinh tế, quản lý du lịch. Luận văn: Giải pháp du lịch văn hóa tín ngưỡng phía tây Hà Nội.

  • Giải pháp phát triển bộ máy, đội ngũ quản lý văn hóa tín ngưỡng:

Tuyển chọn những cá nhân có trình độ chuyên môn cao, được đào tạo chính quy tại những cơ sở đào tạo có uy tín trong nước vào cơ quan quản lý văn hóa theo lãnh thổ hoặc ngành. Quá trình tuyển chọn cần thức hiện nghiêm túc, đúng quy định. Tiêu chuẩn tuyển chọn nguồn nhân lực quản lý cần đảm bảo người được tuyển có hiểu biết chuyên sâu về văn hóa, tín ngưỡng, kinh tế du lịch, quản lý công…

Tổ chức hoặc khuyến khích cán bộ quản lý tham gia vào khóa học về quản lý – quy hoạch du lịch bền vững, du lịch cộng đồng, du lịch lễ hội… Các khóa học nhất thiết phải được tổ chức thường xuyên với sự tham gia của các Giáo sư giảng dạy kinh tế, du lịch ở các trường đại học uy tín hoặc thuê các tổ chức chuyên nghiệp thực hiện.

Thông qua nghiên cứu nhu cầu thực tiễn, ấn định số lượng biên chế phù hợp để lực lượng quản lý không bị quá tải hoặc phải kiêm nghiệm nhiều nhiệm vụ khác nhau trong quản lý văn hóa cơ sở ở các điểm tín ngưỡng.

Có cơ chế, chính sách tăng nguồn thu cho cán bộ quản lý cần căn cứ vào thành quả phát triển du lịch tín ngưỡng. Mức độ tăng nguồn thu này tỷ lệ thuận với lợi ích kinh tế mà hoạt động du lịch mang lại cho chính quyền, tổ chức quản lý du lịch địa phương có tín ngưỡng.

Nâng cao trình độ ngoại ngữ – tin học của cán bộ quản lý văn hóa hiện có: giải pháp này nhằm tăng khả năng khai thác khối lượng tri thức khổng lồ từ mạng toàn cầu (world wide web), áp dụng thực tiễn vào phát triển du lịch tại điểm di tích có tín ngưỡng; đồng thời cũng giúp cho cán bộ học hỏi hoặc tham khảo mô hình nước ngoài để áp dụng vào tổ chức thực hành văn hóa tín ngưỡng tịa địa bàn.

Khuyến khích cán bộ quản lý tham gia vào các hội thảo khoa học về văn hóa tín ngưỡng, đầu tư du lịch và hội chợ du lịch được tổ chức trong nước và ngoài nước. Chi phí cho các chuyến đi nâng cao năng lực quản lý được lấy từ ngân sách hàng năm dành cho du lịch và phát triển kinh tế của địa phương.

3.3.2.5 nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Luận văn: Giải pháp du lịch văn hóa tín ngưỡng phía tây Hà Nội.

Lập hồ sơ thống kê, quản lý nguồn nhân lực hoạt động trong ngành du lịch: Giải pháp này nhằm vào mục tiêu tạo cơ sở dữ liệu. Thông tin thực tế về nguồn nhân lực có thể sử dụng làm căn cứ quy hoạch nguồn nhân lực đủ chất và lượng cho ngành du lịch nói chung, du lịch văn hóa tín ngưỡng nói riêng. Để thực hiện giải pháp này, UBND tỉnh huyện (Sở, phòng Văn hóa – Thể thao – Du lịch) và Bộ Văn hóa Thể Thao – Du lịch cần tiến hành thống kê, khảo sát thực trạng nhân lực trong ngành.

Xây dựng cơ chế thu hút nhân tài, lao động có trình độ, năng lực cao về hoạt động trong ngành du lịch và quản lý văn hóa: Để thu hút lao động có trình độ cao, chính quyền và doanh nghiệp cần tạo được những ưu đãi về tiền lương và triển vọng thăng tiến dành người lao động. Gây dựng môi trường lao động thân thiện, kích thích mong muốn được góp sức vào sự nghiệp phát triển du lịch chung của điểm, của thành phố. Nhân lực dành cho phát triển văn hóa tín ngưỡng cần có tri thức chuyên sâu về văn hóa truyền thống, nghiệp vụ du lịch thành thạo, thái độ lao động nghiêm túc, thái độ phục vụ khách du lịch đạt tiêu chuẩn chung của ngành.

Nâng cao năng lực, trình độ của đội ngũ lao động hiện có: Phối hợp với các tổ chức đào tạo quốc tế, trong nước tổ chức các khóa học ngắn hạn về quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ, tin học, ngoại ngữ … cho lực lượng lao động hiện đang làm việc trong ngành. Các khóa học cần nhấn mạnh vào nâng cao trình độ hiểu biết sâu về kiến trúc đình làng, đền, những danh nhân văn hóa được thờ và các hình thức biểu diễn dân gian gắn với tín ngưỡng.

Xây dựng tiêu chuẩn chất lượng nhân lực: các tổ chức quản lý nhà nước và doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch cần xây dựng những bộ tiêu chuẩn đánh giá năng lực nhân sự. Bộ tiêu chuẩn này cần được áp dụng vào đánh giá nhân lực hiện có, làm thước đo khi tuyển dụng, thay thế, đề bạt hoặc thay đổi chính sách về phúc lợi.

Đưa ra dự báo và lập chiến lược phát triển nguồn nhân lực: trên cơ sở dữ liệu đã có, căn cứ vào thực trạng du lịch văn hóa tín ngưỡng hiện tại; các tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp liên quan đến văn hóa – du lịch cần định hướng phát triển nguồn nhân lực, dự báo nhu cầu về nhân lực trong ngành. Như vậy sẽ thỏa mãn được nhu cầu nhân lực trong tương lai, không tạo ra những khoảng trống lực lượng lao động trong quá trình phát triển du lịch. Luận văn: Giải pháp du lịch văn hóa tín ngưỡng phía tây Hà Nội.

3.3.2.6 Quy hoạch hạ tầng, quản lý hoạt động dịch vụ và cơ sở vật chất kỹ thuật tại các điểm đến Du lịch văn hóa tín ngưỡng.

Các điểm di tích tín ngưỡng thường cách xa quốc lộ và có hệ thống đường nội bộ chưa đáp ứng được nhu cầu di chuyển, giao thông thông suốt của các xe du lịch chuyên dụng. Do đó, để tạo thuận tiện cho việc tiếp cận (Accessible) các điểm du lịch tín ngưỡng, các điểm này cần có hệ thống đường giao thông thỏa mãn nhu cầu tối thiểu cho hoạt động du lịch đồng thời đáp ứng tốt nhu cầu di chuyển của người dân địa phương. Ngoài ra các công trình quy mô nhỏ cũng cần được xây dựng như đường liên xã, các công trình quy hoạch cảnh quan trong phạm vi không gian di tích cũng cần được nâng cấp và phù hợp với kiến trúc truyền thống của các di tích. Trước năm 2022, Sở Du lịch Hà Tây đã có những đề án, quy hoạch khá chi tiết cho việc phát triển cơ sở hạ tầng tại các điểm du lịch văn hóa. Tuy nhiên việc thực hiện này bị ngắt quãng sau khi sáp nhập với Hà Nội hình thành lên thành phố Hà Nội hiện nay. Những công trình tiêu biểu được tỉnh đầu tư cho các điểm du lịch tâm linh gồm có dự án nạo vét suối Yến chùa Hương (Mỹ Đức), xây dựng đường liên xã nối từ đường quốc lộ 6 vào các cụm di tích chùa Trầm – chùa Trăm Gian (Chương Mỹ), hoàn thiện đường vào các di tích K9, đền Và, đền Thượng – đền Trung, làng cổ Đường Lâm … (Sơn Tây – Ba Vì). Các dự án cải tạo đường vào các điểm di tích tôn giáo – tín ngưỡng được Sở Du lịch Hà Tây chủ trì, sử dụng nguồn ngân sách Nhà Nước dành cho du lịch và kết hợp với Sở Kế hoạch – Đầu Tư, Sở Giao Thông và Sở Khoa học – Công nghệ – Môi Trường.Các dự án trọng điểm này đóng vai trò xúc tác, tạo điều kiện phát triển du lịch và kích thích các thành phần doanh nghiệp tham gia đầu tư vào thị trường du lịch. Sau khi sáp nhập, thời gian đầu công tác đầu tư ở khu vực Hà Tây cũ bị trì hoãn do tái cơ cấu, sắp xếp và hoàn thiện bộ máy hành chính. Hiện nay hoạt động đầu tư đã được tái khởi động với các dự án lớn gắn với cơ sở hạ tầng, một số dự án độc lập được các công ty tư nhân, nhà nước có nguồn vốn lớn tham gia như dự án Làng Dân tộc Việt Nam, dự án điểm du lịch sinh thái – văn hóa Bãi Tự nhiên (Thường Tín), Phát huy giá trị làng cổ gắn với xây dựng điểm đến du lịch tại 3 làng Cao Thành, Tảo Khê và Bặt (Ứng Hòa),tổ hợp khách sạn Nam Cường (Dương Nội)…. Những dự án lớn thường có ảnh hưởng mạnh đến các điểm du lịch vệ tinh trong đó có các điểm du lịch tín ngưỡng, đặc biệt là trên phương diện cơ sở hạ tầng và dòng khách du lịch.

  • Giải pháp:

Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch cần tiến hành nghiên cứu thực trạng cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển du lịch. Hoạt động nghiên cứu cần tập trung vào những điểm có giá trị văn hóa – du lịch cao, có thể thỏa mãn số lượng lớn khách du lịch. Dữ liệu tin cậy về cơ sở hạ tầng có thể được dùng làm căn cứ để đầu tư phát triển hệ thống đường nội bộ, đường liên xã và các công trình gây dựng cảnh quan tại điểm tín ngưỡng phục vụ cho hoạt động du lịch theo lộ trình định trước.

Tiến hành phân bổ nguồn ngân sách địa phương, ưu tiên nguồn vốn vào những điểm du lịch lớn nhằm góp phần xây dựng sản phẩm chiến lược: các điểm cần ưu tiên xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng gồm đình Chu Quyến, khu di tích thờ Tản Viên Sơn Thánh, đền Đức Thánh Cả, đền Và … và một số điểm di tích cấp quốc gia có giá trị khác.

Đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư cơ bản vào những điểm có di tích – tín ngưỡng phục vụ du lịch: khuyến khích doanh nghiệp, nhân dân trong vùng có di tích góp vốn xây dựng đường, nhà hàng, quán ăn, dịch vụ tín ngưỡng… Có thể tiếp tục nghiên cứu trường hợp đền Thượng – đền Trung – đền Hạ để mở rộng quá trình xã hội hóa trong định hướng phát triển du lịch tín ngưỡng.

Nghiên cứu nhu cầu khách du lịch về cơ sở vật chất, dịch vụ du lịch tại các điểm du lịch tín ngưỡng từ đó không ngừng hoàn thiện dịch vụ cơ bản và bổ trợ cho điểm: các dịch vụ cần tập trung vào nhu cầu thiết yếu của khách du lịch như ăn, ở, đi lại, vui chơi giải trí, dịch vụ viễn thông, đổi tiền, dịch vụ tâm linh… Luận văn: Giải pháp du lịch văn hóa tín ngưỡng phía tây Hà Nội.

Trong quá trình lập quy hoạch cần xác định không gian cố định của di tích: điều này góp phần giữ nguyên trạng phần đất của di tích, ngăn cản người dân địa phương kinh doanh lấn chiếm vào di tích; tạo không gian cho hoạt động hướng dẫn, di chuyển, lễ bái của khách du lịch.

Xây dựng quy định, nội quy tại điểm du lịch tín ngưỡng: xây dựng các mức phạt dành cho trộm cắp, mở các dịch vụ thế tục tại điểm di tích; phân vùng khu vực cấm các đối tượng bán rong, ăn xin, cờ bạc, chèo kéo khách, buôn thần bán thánh… Nghiêm cấm việc xây dựng di tích giả, tự tiện để hòm công đức và xây dựng những công trình dân dụng xâm phạm đến di tích.

3.3.2.7 Xây dựng cơ chế phối hợp các chủ thể để xây dựng sản phẩm Du lịch văn hóa phù hợp

  • Yêu cầu giải pháp:

Cơ chế phối hợp cần thống nhất giữa các chủ thể chính quyền địa phương – doanh nghiệp – người dân địa phương.

Cơ chế phối hợp cần đáp ứng được tính hiệu quả trong khai thác phát triển du lịch và gìn giữ giá trị văn hóa.

Đảm bảo lợi ích của các bên tham gia, trong đó việc phân chia lợi ích kinh tế cần đảm bảo công bằng giữa các chủ thể phía cung ứng du lịch; đảm bảo lợi ích của khách du lịch khi tiến hành du lịch tại điểm.

  • Giải pháp:

Tuyên truyền, giải thích cho người dân địa phương,doanh nghiệp về chính sách phát triển du lịch, đường lối quản lý văn hóa của Đảng, Nhà Nước về tín ngưỡng: Chính quyền địa phương có trách nhiệm xây dựng các bản quy hoạch chi tiết phù hợp với quy hoạch tổng thể của thành phố, Nhà nước; đồng thời phải cung cấp thông tin quy hoạch và quan điểm phát triển du lịch tín ngưỡng đến với doanh nghiệp du lịch và nhân dân địa phương.

Xây dựng chính sách thuế phù hợp: chính sách thuế cần đảm bảo khuyến khích đầu tư bước đầu và doanh nghiệp du lịch không phải chịu gánh nặng thuế, phí hoặc phí chồng phí khi đã phát triển. Quy định cụ thể về trách nhiệm của doanh nghiệp và nhân dân đối với bảo vệ di tích, các loại hình tín ngưỡng truyền thống cũng như việc duy trì, tôn tạo, xây mới di tích.

Khuyến khích người dân địa phương, doanh nghiệp du lịch tham gia nhiều hơn vào công tác quy hoạch, lập kế hoạch phát triển: giải pháp này nhằm sử dụng hiệu quả tri thức tập thể và đảm bảo lợi ích của doanh nghiệp, người địa phương; lợi ích không chỉ trong lĩnh vực du lịch mà còn trong những lĩnh vực khác như tiêu chuẩn, điều kiện sống khi xuất hiện hoạt động du lịch và khách du lịch. Doanh nghiệp có thể mở rộng lĩnh vực kinh doanh mà không đi ngược lại đường lối, quy hoạch của Nhà nước.

Xây dựng cơ chế khuyến khích người dân tham gia vào lực lượng lao động du lịch: động viên người dân tham gia vào các dịch vụ tại điểm như bán đồ lưu niệm, hàng thủ công mỹ nghệ. Khuyến khích doanh nghiệp du lịch sử dụng lao động địa phương và trả lương phù hợp với cống hiến của họ cho ngành du lịch. Luận văn: Giải pháp du lịch văn hóa tín ngưỡng phía tây Hà Nội.

Chính quyền cơ sở cần tổ chức những buổi thảo luận, trao đổi thường xuyên với doanh nghiệp, cộng đồng địa phương:chủ đề các buổi đối thoại cần tập trung vào chính sách, cơ chế, định hướng phát triển du lịch và áp dụng những mô hình, loại hình du lịch mới tại các điểm du lịch tín ngưỡng. Việc thường xuyên thảo luận góp phần gắn kết doanh nghiệp – chính quyền địa phương – phân dân phối hợp hành động vì mục tiêu chung là phát triển du lịch và bảo tồn tài sản văn hóa tín ngưỡng giá trị của dân tộc.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

Giải pháp phát triển du lịch cần thỏa mãn những mục tiêu chính là phù hợp với mục tiêu quy hoạch của ngành trên phạm vi cả nước, khắc phục được những tồn tại hạn chế hiện có và thúc đẩy sản phẩm du lịch tăng trưởng từ đó mang lại những kết quả về kinh tế – xã hội – văn hóa. Các giải pháp trong chương đã cơ bản đưa ra được những phương án thỏa mãn những mục tiêu trên. Tuy nhiên, do giới hạn của một luận văn thạc sỹ, tác giả chưa thể đi sâu vào phân tích những biện pháp cụ thể và phương pháp chi tiết hơn trong quá trình áp dụng vào thực tế.

Các nhóm giải pháp trong chương này đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau của việc phát triển một sản phẩm du lịch cụ thể – du lịch văn hóa tín ngưỡng. Trong đó, bao gồm các khía cạnh đứng dưới góc nhìn của phía cung ứng du lịch, khách du lịch và các nhà quản lý. Về mặt ảnh hưởng tác động qua lại giữa du lịch và văn hóa các giải pháp cũng giải quyết được những vấn đề cơ bản trong xu hướng phát triển du lịch hiện đại là phát triển du lịch bền vững, cân bằng giữa mục tiêu đạt được thành tựu kinh tế với mục tiêu xã hội – thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch và nâng cao vai trò của người dân địa phương. Về tính thực tiễn, căn cứ của giải pháp được rút ra từ thực trạng phát triển du lịch văn hóa tín ngưỡng được trình bày và phân tích chi tiết trong chương 2, đó chính là cơ sở để áp dụng những giải pháp đó vào thực tiễn trong tình hình mới và không phải là một sản phẩm đơn thuần của lý luận khoa học, mà là những tri thức được đúc kết từ thực tiễn nhằm mục đích đưa hoạt động du lịch văn hóa tín ngưỡng đạt được mức phát triển mới phù hợp với tiềm năng vốn có.

Do hệ thống giải pháp đưa ra tương đối nhiều, thuộc cả nhóm giải pháp vĩ mô và giải pháp cụ thể nên một số vấn đề về yêu cầu giải pháp, những người thực hiện giải pháp, nguồn kinh phí thực hiện chưa được đề cập chi tiết. Tuy nhiên các nhóm giải pháp này cũng đưa ra được hướng phát triển chung cho du lịch văn hóa tín ngưỡng trong hiện tại và tương lai.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp du lịch văn hóa tín ngưỡng phía tây Hà Nội.

Đối với một sản phẩm du lịch giầu tiềm năng nhưng có tốc độ phát triển thấp; các giải pháp do các cơ quan quản lý nhà nước, các tập đoàn công ty du lịch đưa ra thường nhấn mạnh đến thúc đẩy việc hình thành sản phẩm, gia tăng lượt khách  và doanh thu từ hoạt động du lịch. Tuy nhiên, nếu những giải pháp chỉ tập trung vào chỉ số kinh tế và xúc tiến phát triển du lịch; tất yếu những điểm du lịch nằm trong quy hoạch thường có vòng đời sản phẩm ngắn và khó có khả năng kiểm soát hay phục hồi, duy trì tốc độ phát triển trong tương lai gần.

Tỉnh Hà Tây cũ là một tỉnh giầu tiềm năng du lịch văn hóa tín ngưỡng với số lượng, chất lượng nguồn tài nguyên cao. Vấn đề đặt ra cho khu vực địa lý này là việc đưa hoạt động du lịch gắn với tín ngưỡng phát triển phù hợp với giá trị nguồn tài nguyên sẵn có; đáp ứng mục tiêu phát triển của ngành. Tuy nhiên trong thực tế du lịch văn hóa tín ngưỡng vẫn chưa thực hiện được mục tiêu lớn đó theo tiêu chí lượt khách, doanh thu du lịch, số lượng điểm tín ngưỡng mới được đưa vào khai thác du lịch và ảnh hưởng của ngành du lịch lên kinh tế – xã hội.

Trong luận văn này, tác giả đưa ra một số giải pháp cụ thể dựa trên những tri thức được học và tự nghiên cứu về quy tắc phát triển du lịch bền vững, nguyên lý quản lý điểm đến, nguyên lý xây dựng – phát triển nguồn nhân lực. Hệ thống nguyên lý này được xây dựng dựa trên  tiêu chuẩn khai thác tài nguyên du lịch và dựa trên những tri thức khoa học du lịch hiện đại được rút ra từ thực tiễn tại các điểm du lịch đã, đang, chưa phát triển và những điểm đã bị suy thoái do quản lý du lịch chưa đạt yêu cầu.

Giải pháp phát triển một sản phẩm du lịch đặc thù cho một khu vực địa lý thường gặp nhiều khó khăn. Khó khăn điển hình là tính phức tạp trong việc tách biệt giữa giải pháp vĩ mô và giải pháp cụ thể; Do đó, tác giả luận văn cố gắng đưa ra những giải pháp kết hợp gắn với ba chủ thể chính phía cung ứng du lịch là Chính quyền – Doanh nghiệp – Người dân bản địa. Các giải pháp này hướng tới mục tiêu thỏa mãn tối đa nhu cầu khách du lịch và mang lại lợi ích kinh tế lớn nhất cho các chủ thể du lịch mà không gây lên những tác động tiêu cực đến điểm tín ngưỡng. Những giải pháp đưa ra được dựa trên phần thực trạng tài nguyên và thực trạng phát triển du lịch gắn với tín ngưỡng. Trong quá trình thực hiện, với nhận thức còn hạn chế, chắc chắn chưa thể đưa ra giải pháp đầy đủ, khách quan cả về mặt bảo tồn di sản văn hóa và khoa học du lịch. Tác giả mong nhận được ý kiến đóng góp của các thầy, cô và những người quan tâm để luận văn được hoàn thiện hơn. Luận văn: Giải pháp du lịch văn hóa tín ngưỡng phía tây Hà Nội.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giá trị văn hóa tín ngưỡng ở phía tây Hà Nội

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *