Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Hoạt động kinh tế du lịch thành phố Uông Bí hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Hoạt động kinh tế du lịch thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh (1996 -2023) dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Cơ sở phát triển du lịch ở thành phố Uông Bí
2.1.1. Chủ trương đường lối của Đảng, các cấp chính quyền
Trong tiến trình đổi mới đất nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12/1996) là bước đột phá đầu tiên về đổi mới tư duy của Đảng trong phát triển kinh tế. Đó là việc xác lập, xây dựng cơ cấu kinh tế phù hợp với sự vận động của quy luật khách quan và trình độ của nền kinh tế. Đại hội có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của đất nước, tạo ra sự ổn định về chính trị, xã hội, giữ vững an ninh – quốc phòng. Về kinh tế, vấn đề đổi mới cơ cấu kinh tế (cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu thành phần kinh tế) được đặt trong tổng thể đường lối đổi mới toàn diện và đồng bộ về kinh tế – xã hội, với những hình thức, biện pháp, bước đi tuần tự phù hợp với đặc điểm kinh tế – xã hội đất nước trong chặng đường đầu thời kỳ quá độ. Đây là cơ sở thực tiễn, lý luận quan trọng cho Đại hội VII đề ra chủ trương hoàn thiện cơ cấu kinh tế và Đại hội VIII, IX đề ra chủ trương đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH- HĐH.
Đến nay, chúng ta đã có cơ cấu kinh tế tương đối hợp lý và đang chuyển dịch theo hướng CNH- HĐH, với sự tham gia của mọi thành phần kinh tế trong xã hội, giá trị sản xuất của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại, dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong GDP, công nghiệp đã tăng từ 21,6% (1998) lên 41% (2015), dịch vụ từ 33,1% lên 38,5%, nông nghiệp đã giảm từ 46,3% xuống còn 20,5%, các vùng kinh tế và vùng kinh tế trọng điểm đã hình thành, phát triển trên cả nước.
Cùng với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, Đảng bộ và nhân dân Uông Bí quán triệt đầy đủ sâu sắc và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách, mục tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI. Đầu năm 1997 Ban chấp hành Đảng bộ thị xã đã ra Nghị quyết về 3 chương trình kinh tế lớn của thị xã nhằm cụ thể hóa và thực hiện cơ cấu kinh tế công – nông – lâm nghiệp của Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ XII đề ra. Tập trung sức sản xuất lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội VI của Đảng đề ra, từ ngày 16 đến ngày 18/1/1999, Đảng bộ thị xã Uông Bí tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ XIII. Kiểm điểm việc thực hiện nhiệm vụ 2 năm 1997-1998, đề ra phương hướng nhiệm vụ 2 năm 1999-2000: “Ra sức phấn đấu, góp phần từng bước ổn định tình hình kinh tế – xã hội, cơ cấu kinh tế của thị xã là công – nông – lâm nghiệp”. Luận văn: Hoạt động kinh tế du lịch thành phố Uông Bí.
Đảng bộ thị xã đã tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ XIV (từ ngày 23 đến 25/9/2001): Với tinh thần “Trí tuệ, đổi mới, dân chủ, kỷ cương và đoàn kết”. Đại hội đề ra phương hướng nhiệm vụ chủ yếu của nhiệm kỳ XIV (2001-2005) là: “Phát triển mạnh mẽ các thành phần kinh tế, giải phóng sức sản xuất, tập trung khai thác những tiềm năng. Phát triển mạnh mẽ nông, lâm, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá”. Thực chất là tiếp tục thực hiện chương trình lương thực, thực phẩm mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đề ra.
Từ ngày 6 đến ngày 7/2/2006, Đảng bộ thị xã Uông Bí đã tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ XV. Đại hội đề ra phương hướng và nhiệm vụ chủ yếu nhiệm kỳ XV là: “Khuyến khích phát triển mạnh các thành phần kinh tế, giải phóng sức sản xuất, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở rộng hoạt động thương mại, dịch vụ du lịch, mở ra các điều kiện thuận lợi cho người lao động, giải quyết việc làm, tăng thu ngân sách; đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng, kinh tế và cơ sở hạ tầng đô thị, thực hiện tốt các chính sách xã hội, tiếp tục giảm nhịp độ tăng dân số hàng năm phát triển sự nghiệp văn hóa, y tế, giáo dục đào tạo; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng bộ, hiệu lực quản lý của chính quyền các cấp, hoạt động của Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân; phấn đấu xây dựng thị xã phát triển mạnh về mọi mặt theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa với mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh”. Tổng thu ngân sách Nhà nước hàng năm tăng 15,8% so với chỉ tiêu Đại hội đề ra, đáp ứng nhiệm vụ chính trị và yêu cầu thiết yếu phát triển kinh tế- xã hội và địa phương. Trên cơ sở kinh tế phát triển, công tác quy hoạch, quản lý đô thị bắt đầu hoạt động theo chiều sâu như: di tích danh thắng Yên Tử, khu du lịch hồ Yên Trung, Lựng Xanh, Hang Son, khu công nghiệp (khai thác than, nhà máy điện, xi măng, cảng…) khu hành chính – thương mại – văn hóa được Trung ương phê duyệt. Với tinh thần phát huy nội lực, huy động vốn đóng góp của nhân dân, cùng với các tổ chức kinh tế – xã hội, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của Trung ương và tỉnh, thị xã tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, đã làm cho cảnh quan thị xã thay đổi, phục vụ đắc lực cho sản xuất kinh doanh, nâng cao mức hưởng thụ của nhân dân. Từ ngày 7- 9 tháng 11 năm 2010, Đảng bộ thị xã Uông Bí đã tiến hành Đại hội lần thứ XVI. Đại hội được đánh giá là Đại hội trí tuệ, dân chủ, đoàn kết, thể hiện ý chí của Đảng bộ và nhân dân thị xã bước vào thiên niên kỷ mới. Đây thực sự là một đại hội đánh dấu bước chuyển mình của kinh tế thành phố Uông Bí.
Căn cứ vào những quan điểm, định hướng của Trung ương, của tỉnh, phát huy những thành tích và kinh nghiệm giành được trong 15 năm đổi mới, từ khả năng thực tế, những yêu cầu trước mắt và triển vọng của thị xã, phương hướng nhiệm vụ, mục tiêu cơ bản giai đoạn 2011 – 2015 của Đảng bộ thị xã là: “Tiếp tục sự nghiệp đổi mới, khuyến khích phát triển mạnh các thành phần kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa, tập trung khai thác những tiềm năng, thế mạnh của thị xã theo cơ cấu kinh tế: Công nghiệp- TTCN, du lịch dịch vụ, thương mại và nông, lâm, ngư nghiệp. Kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu quả cao và bền vững với vấn đề xã hội. Tăng nguồn thu ngân sách, đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và cơ sở hạ tầng đô thị. Tiếp tục phát triển và nâng cao chất lượng của sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế, thực hiện tốt các chính sách xã hội…”. Nhiệm vụ chung: Tiếp tục phát huy nguồn lực tại chỗ, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ và đề nghị Trung ương, tỉnh, đẩy nhanh thực hiện dự án tôn tạo di tích Yên Tử, khu du lịch Hồ Yên Trung, mở rộng nhà máy Nhiệt điện Uông Bí, xi măng Lam Thạch, dây chuyền may, cầu Đá Bạc, các tuyến đường quốc lộ 10, quốc lộ 18A, quốc lộ 18B, đường sắt Hà Nội – Bãi Cháy và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Tập trung khai thác tiềm năng, những lĩnh vực lợi thế để xây dựng thị xã với tốc độ nhanh, ổn định và bền vững hơn. Xây dựng và phát triển cơ cấu kinh tế: Công nghiệp, TTCN – Du lịch, dịch vụ – thương mại và nông lâm ngư nghiệp. Trong đó: Du lịch, dịch vụ là mũi nhọn. Luận văn: Hoạt động kinh tế du lịch thành phố Uông Bí.
Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Đảng bộ đã ra các nghị quyết chuyên đề, các chương trình phát triển kinh tế – xã hội như: Nghị quyết về “Tăng cường đầu tư và phát triển công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp địa phương giai đoạn 2011- 2015”; Chương trình hành động thực hiện nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX) “Về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể”, chương trình hành động thực hiện nghị quyết của Ban Thường vụ Tỉnh ủy “Về một số chủ trương, biện pháp tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài và khu công nghiệp giai đoạn 2011 – 2015”, “Về tăng cường đầu tư và phát triển kinh tế – xã hội miền núi, hải đảo giai đoạn 2011 – 2015”, Chương trình hành động “Về đổi mới và phát triển du lịch Quảng Ninh” tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển.
Đảng bộ thị xã tổ chức đại hội đại biểu Đảng bộ thị xã lần thứ XVII (từ ngày 27 – 29/9/2015), nhiệm kỳ 2015 – 2020. Đại hội xác định phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản trong nhiệm kỳ lần thứ XVII (2015 – 2020) là: “Đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, tập trung xây dựng Thị xã phát triển nhanh theo hướng bến vững với cơ cấu kinh tế: “Công nghiệp, TTCN – Dịch vụ thương mại, Du lịch và nông, lâm, ngư nghiệp”. Thu hút các nhà đầu tư các dự án phát triển kinh tế, xã hội trên địa bàn, khuyến khích phát triển mạnh các thành phần kinh tế theo hướng sản xuất hàng hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ thương mại, du lịch. Đại hội đại biểu Đảng bộ thị xã Uông Bí lần thứ XVII với tinh thần “Đổi mới, trí tuệ, dân chủ và đoàn kết” thể hiện ý chí thống nhất, tập trung dân chủ của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc thị xã. Phát huy những thành tựu đạt được, trong những năm đầu của thiên niên kỷ mới, tiếp tục vững bước tiến lên đạt được nhiều thành tựu to lớn hơn góp phần xứng đáng vào sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Đại hội Đảng bộ thị xã Uông Bí (nay là thành phố Uông Bí) lần thứ XVIII đã xác định mục tiêu tổng quát giai đoạn 2020-2025 là: “Tiếp tục đổi mới toàn diện, huy động mọi nguồn lực, tập trung cao độ các giải pháp nhằm phát triển kinh tế đạt tốc độ cao, ổn định; gắn với đẩy mạnh phát triển các lĩnh vực văn hoá-xã hội; tăng cường củng cố an ninh, quốc phòng, giữ vững sự ổn định về chính trị, trật tự an toàn xã hội… phát triển theo cơ cấu kinh tế: công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp; du lịch – dịch vụ – thương mại; nông – lâm nghiệp”. Hội nghị giữa nhiệm kỳ 2020-2025, Ban chấp hành Đảng bộ thành phố bổ sung mục tiêu nhiệm vụ: Tiếp tục đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại nền kinh tế chuyển từ tăng trưởng “nâu” sang tăng trưởng “xanh” theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ, du lịch. Tập trung cụ thể hóa một cách thiết thực, khoa học nhằm thực hiện có hiệu quả 3 khâu đột phá: “cải cách hành chính; đào tạo nguồn nhân lực; nâng cấp đô thị”.
Tiếp tục kế thừa những thành quả của công cuộc đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, trong những năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố đã quyết tâm đồng lòng, nỗ lực phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, tổ chức thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết đại hội Đảng các cấp, đã đạt được những kết quả quan trọng, tạo ra bước phát triển mạnh mẽ để hoàn thành nhiệm vụ chiến lược thành lập thành phố vào năm 2021, nâng cấp thành phố lên đô thị II vào cuối năm 2023, tạo tiền đề vững chắc để trở thành thành phố động lực phát triển trong chuỗi đô thị, công nghiệp xanh phía Tây của tỉnh. Luận văn: Hoạt động kinh tế du lịch thành phố Uông Bí.
Ngày 25/2/2021, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 12/NQ-CP thành lập thành phố Uông Bí thuộc tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Uông Bí. Thành phố Uông Bí được thành lập ban đầu có 11 đơn vị hành chính (7 phường và 4 xã) với diện tích tự nhiên 25.630,77ha và 157,779 nhân khẩu (dân số quy đổi).
Thành phố Uông Bí được thành lập là sự kiện chính trị trọng đại, bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của vùng đất Uông Bí và của tỉnh Quảng Ninh, là niềm tự hào, động viên khích lệ cán bộ, đảng viên, nhân dân thành phố tập trung nguồn lực xây dựng thành phố Uông Bí giàu đẹp, văn minh, xứng tầm là đô thị trung tâm miền Tây của tỉnh Quảng Ninh, góp phần đưa tỉnh Quảng Ninh cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp vào năm 2025.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.1.2. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch
Để phát triển du lịch thì các điều kiện cơ sở hạ tầng chính là những đòn bẩy quan trọng cho khả năng khai thác các tài nguyên du lịch, phát triển du lịch thành một ngành kinh tế bền vững.
Uông Bí có vị trí địa lý đặc biệt thuận lợi, là đầu mối giao thông quan trọng vùng Đông Bắc và tâm điểm của tam giác vùng động lực, phát triển năng động trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh). Có hệ thống đường bộ với 2 tuyến quốc lộ lớn giao cắt nhau (Quốc 18A và Quốc lộ 10), có đường sắt quốc gia, có hệ thống đường sông; cảng thuỷ nội địa quan trọng, vùng cửa sông Bạch đằng.
Tổng chiều dài đường bộ là 310km, đường chính đô thị (kể cả quốc lộ qua đô thị) là 176,1 km, đường nhánh đô thị là 100,4 km. Diện tích đất giao thông đường bộ là 511,6ha = 21,2 % diện tích đất xây dựng đô thị. Mật độ giao thông chính: 7,3 km/km2. Tỷ lệ phục vụ hành khách công cộng đạt 10,4 %. Tổng chiều dài đường sắt là 33,5km, 1 ga tuyến Quốc gia và 2 ga chuyên dùng. Đường thủy nội địa 27,8km và 5 cảng thủy nội địa.
Giao thông vận tải ngày càng có sự bước phát triển vượt bậc. Thành phố đã hoàn thành việc nâng cấp mở rộng quốc lộ 18, tuyến đường liên huyện Uông Bí – Quảng Yên. Các tuyến đường trong khu vực nội thành, khu dân cư của thành phố đã được mở rộng, xây dựng mới, bê tông hoá và thảm nhựa atsphan. Tuyến đường Yên Tử – Ngoạ Vân (Đông Triều) đang gấp rút hoàn thành, tuyến đường Uông Bí – Hoành Bồ hiện tại đã hoàn thành. Tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế – xã hội và nâng cao chất lượng, đa dạng hoá các loại hình vận tải hàng hoá và hành khách. Doanh thu dịch vụ vận tải địa phương năm 2020 đạt 170 tỉ đồng, đến năm 2023 đạt khoảng hơn 400 tỉ đồng. Tốc độ tăng bình quân đạt 19,8%/năm.
Các phương tiện vận chuyển của những hãng taxi danh tiếng như Mai Linh, Phúc Xuyên, Phú Bình…. được đẩy mạnh đầu tư. Chất lượng xe được cải thiện, tiện nghi hơn, đặc biệt khâu phục vụ, đưa đón khách đảm bảo nhu cầu đi lại, tham quan vừa tạo sự thoải mái, an toàn, hài lòng đối với khách du lịch. Luận văn: Hoạt động kinh tế du lịch thành phố Uông Bí.
Đặc biệt tại khu di tích Yên Tử các cơ sở dịch vụ được đầu tư, xây mới tập trung chủ yếu tại khu vực bến xe Giải Oan, khu vực nhà ga cáp treo, chùa Hoa Yên, An Kỳ Sinh và điểm trên tuyến hành hương do tư nhân đầu tư. Dịch vụ cáp treo Yên Tử được phát huy tốt, dịch vụ xe điện được đưa vào sử dụng góp phần tích cực trong việc vận chuyển khách du lịch.
Trong cơ sở hạ tầng còn phải đề cập đến hệ thống công trình điện nước.
Các sản phẩm của nó phục vụ trực tiếp cho việc nghỉ ngơi, giải trí của du khách.
Về hệ thống cấp nước, hiện nay hành phố Uông Bí có 2 nhà máy nước, 3 giếng khoan xử lý, cấp nước cục bộ với tổng công suất 13.000 m3/ngày đêm (nhà máy Lán Tháp: 5000m3/ngày đêm, nhà máy Đồng Mây: 6000m3/ngày đêm, 3 giếng khoan nước ngầm: 2010m3/ngày đêm. Dân số nội thị được sử
dụng nước sạch: 100% (dùng nước máy đạt 86%).
Như vậy, công trình cấp nước đã đảm bảo phục vụ sản xuất, sinh hoạt của dân cư, và hệ thống thoát nước, xử lý nước thải đã đáp ứng đầy đủ yêu cầu vệ sinh môi trường: Hệ thống dùng chung (thoát nước thải đô thị và thoát nước mưa), tổng chiều dài là 142.600m (cống hộp có tiết diện 600x800mn). Có 3 sông chính phục vụ thoát nước, mật độ hệ thống thoát nước chính đạt 5,9km/km2. Hệ thống xử lí nước thải của dân xử lý được 54% trước khi thải ra hệ thống công cộng. Đối với các doanh nghiệp đều có trạm xử lý nước thải trước khi xã thải ra môi trường.
Hệ thống lưới điện ở khu vực tương đối đồng bộ, tính đến thời điểm này, 90% số dân được dùng điện lưới quốc gia, nguồn điện đảm bảo cung cấp về cơ bản đáp ứng đầy đủ nhu cầu sử dụng nguồn năng lượng điện của các khu du lịch, điểm du lịch và nhu cầu của du khách. Nguồn cung cấp: Nhà máy Điện Uông Bí, 2 trạm trung gian Cầu Sến, trạm Lán Tháp và trên 100 trạm hạ áp. Tỷ lệ hộ dân nội thị dùng điện: 100%. Hệ thống chiếu sáng đô thị: 168,2km. Tỷ lệ đường phố chính được chiếu sáng: 79/79 = 100%. Tổng lượng điện tiêu thụ năm 2022: 271,54 triệu KWh, đạt 949Kwh/người/năm.
Hệ thống thông tin bưu điện được đầu tư đáp ứng tốt nhu cầu thông tin, liên lạc của thành phố và khu vực lân cận, hệ thống Internet, điện thoại di động phát triển mạnh. Đến năm 2022, số thuê bao khu vực nội thị đạt 31,8 máy/100 dân (không tính thuê bao trả trước).
Công tác vệ sinh môi trường cũng được đặc biệt quan tâm: Có 2 đơn vị và gần 300 công nhân làm công tác vệ sinh môi trường. Tỷ lệ chất thải rắn thu gom được xử lý: đạt 100%. Thành phố đầu tư xây dựng nhà máy xử lý chất thải rắn công suất 100 tấn/ngày đã đưa vào vận hành xử lý rác. Luận văn: Hoạt động kinh tế du lịch thành phố Uông Bí.
Công tác y tá là một phần quan trọng trong việc xử lý các tình huống bất thường của các du khách. Hiện nay thành phố có hệ thống y tế đảm bảo cho việc chăm sóc sức khỏe dân địa phương cũng như du khách đến với thành phố: Có 1 Bệnh viện Việt Nam- Thụy Điển với 800 giường, 1 bệnh viện ngành than 300 giường. Có 1 trung tâm y tế dự phòng, 11 trạm y tế xã, phường, 10 trạm y tế của doanh nghiệp với trên 800 y, bác sỹ. Đến năm 2022: 11/11 phường xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế.
Hệ thống tài chính, ngân hàng, bảo hiểm phát triển nhanh về số lượng mạng lưới, đa dạng hoá về loại hình và tiện ích, các sản phẩm dịch vụ ngày càng được mở rộng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các thành phần kinh tế và nhân dân, tăng cường nguồn lực tài chính xã hội. Năm 2020, trên địa bàn thành phố có 07 chi nhánh Ngân hàng thương mại đến năm 2023, đã có 24 chi nhánh và điểm giao dịch của các Ngân hàng thương mại, góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy đầu tư, phát triển kinh tế. Ngành ngân hàng và các tổ chức tài chính trên địa bàn thành phố đã thực hiện nghiêm túc sự chỉ đạo của Chính phủ, góp phần tích cực trong việc phát triển kinh tế – xã hội trên địa bàn. Ngoài ra với hệ thống tài chính ngân hàng thuận tiện sẽ giúp các du khách được tiếp cận với các hình thức thanh khoản dễ dàng, nhanh chóng và hữu ích nhất.
Bảng 2.1: Cơ sở vật chất phục vụ du lịch
| STT | Địa phương | Đơn vị tính | Số lượng | Nhà hàng ăn uống | Cơ sở lưu trú | Khu du lịch |
| 1 | Phường Vàng Danh | Cơ sở | 8 | 5 | 1 | 2 |
| 2 | Phường Quang Trung | Cơ sở | 35 | 10 | 20 | 5 |
| 3 | Phường Nam Khê | Cơ sở | 23 | 9 | 14 | 0 |
| 4 | Phường Trưng Vương | Cơ sở | 30 | 3 | 25 | 2 |
| 5 | Phường Thanh Sơn | Cơ sở | 26 | 3 | 22 | 1 |
| 6 | Phường Yên Thanh | Cơ sở | 31 | 15 | 14 | 2 |
| 7 | Phường Bắc Sơn | Cơ sở | 3 | 2 | 0 | 1 |
| 8 | Phường Phương Nam | Cơ sở | 14 | 5 | 6 | 3 |
| 9 | Phường Phương Đông | Cơ sở | 33 | 3 | 25 | 5 |
| 10 | Xã Điền Công | Cơ sở | 4 | 1 | 0 | 3 |
| 11 | Xã Thượng Yên Công | Cơ sở | 26 | 5 | 18 | 3 |
| Tổng | 11 | 233 | 61 | 145 | 27 |
(Nguồn: Phòng VH$TT thành phố Uông Bí năm 2023) Luận văn: Hoạt động kinh tế du lịch thành phố Uông Bí.
Cơ sở vật chất kỹ thuật bao gồm các cơ sở lưu trú, cơ sở phục vụ ăn uống, các cơ sở thể thao và vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển và các cơ sở phục vụ du lịch khác. Đây là các yếu quan trọng có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của du lịch, quy định nên sản phẩm du lịch và hiệu quả kinh tế của du lịch. Đó cũng là một trong những tiêu chí cho sự lựa chọn của du khách đến hay không đến các điểm du lịch. Như vậy với 233 cơ sở phục vụ du lịch năm 2023. Ngành dịch vụ du lịch có 145 cơ sở lưu trú với hơn 1.000 phòng phục vụ tốt nhu cầu của khách địa phương cũng như khách du lịch. Cơ sở phục vụ ăn uống ở khu vực khá phong phú, đa dạng gồm hệ thống nhà hàng, quán cà phê, quán giải khát các nhà hàng đủ năng lực phục vụ nhu cầu ăn uống của khách. Tại các làng văn hóa, các khu di tích và khu du lịch sinh thái các điểm lưu trú tại đây đã được đầu tư để phục vụ nhu cầu du lịch cộng đồng của du khách… Ngoài ra, các cơ sở dịch vụ phục vụ du lịch của các thành phần kinh tế tư nhân ở khu vực rất đa dạng, phòng nghỉ, nhà hàng… Tại các khách sạn các loại hình giải trí được đầu tư hiện đại và đủ năng lực thỏa mãn nhu cầu tại chỗ của du khách. Ngoài ra tại các xã, phường còn có các quán nhỏ phục vụ các món ăn bình dân.
Các khu vui chơi giải trí trong khu vực để phục vụ mục đích du lịch được đầu tư phát triển đồng bộ: Thành phố có 1 khu liên hợp văn hóa thể thao, diện tích 11ha, 1 trung tâm văn hoá, 1 khu vui chơi thanh thiếu niên, 2 sân vận động, 4 nhà thi đấu đa năng đạt tiêu chuẩn cấp Quốc gia, 1 rạp chiếu phim, 5 nhà thư viện và phòng đọc, 3 trạm thu phát chuyển tiếp truyền hình VTV1, VTV2, VTV3 và Đài truyền hình Quảng Ninh, 1 Nhà hát khu vực miền Tây tỉnh Quảng Ninh và đang đầu tư xây dựng trung tâm triển lãm văn hóa thể dục thể thao. Nhờ đó công tác thông tin, tuyên truyền được phát huy, hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao được khai thác và sử dụng có hiệu quả.
2.1.3. Nguồn nhân lực
Tỉnh Quảng Ninh cùng với sự ra đời và hoạt động của ngành du lịch, việc đào tạo nhân lực cho ngành du lịch được chú ý từng bước. Hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề trên địa bàn từng bước được nâng cấp. Phân hiệu Trường Đại học Ngoại thương được thành lập, đi vào hoạt động, ngày càng phát triển quy mô trường lớp và số lượng sinh viên. Ngày 20/12/2024, Trường Đại học Hạ Long chính thức được công bố thành lập và đi vào hoạt động. Khoa Du lịch của trường gồm 11 cán bộ giáo viên (100% thạc sĩ), 200 sinh viên, chia thành 2 hệ đào tạo là Đại học và Cao đẳng. Trong đó, Hệ Đại học chính quy đào tạo ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành. Sinh viên tốt nghiệp và đạt chuẩn đầu ra của ngành Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành của Trường Đại học Hạ Long có thể làm việc tại các bộ phận: hoạch định chiến lược, chính sách và kế hoạch kinh doanh, quản trị nhân lực doanh nghiệp du lịch, quản trị điều hành tour du lịch, quản trị khách hàng và marketing du lịch.. Bên cạnh đó, sinh viên cũng có khả năng và cơ hội làm việc phù hợp ở các loại hình và tổ chức doanh nghiệp khác: Các loại hình doanh nghiệp thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư và sở hữu trí tuệ, các bộ phận có liên quan đến quản lý thị trường và thương mại ở các cơ quan quản lý nhà nước các cấp.
Hệ cao đẳng chính quy đào tạo 4 ngành, gồm: Việt Nam học, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Quản trị kinh doanh khách sạn nhà hàng và Quản trị chế biến món ăn. Sinh viên sau tốt nghiệp làm việc tại tất cả các bộ phận của khách sạn như: Lễ tân, đặt phòng, buồng, phòng kinh doanh, marketing hoặc làm tại các bộ phận lễ tân đón tiếp, bàn, bar của nhà hàng và các bộ phận của bếp nhà hàng, bếp khách sạn như: bánh Âu- Á, chế biến món ăn Việt, Á, Âu, buffe.
Có thể thấy, với các ngành kể trên, khoa Du lịch của trường Đại học Hạ Long đào tạo một nguồn nhân lực toàn diện, chuyên nghiệp, có năng lực, đáp ứng các nhu cầu của ngành công nghiệp du lịch, bao gồm: hướng dẫn viên, nhân viên thiết kế và điều hành chương trình Du lịch tại các công ty du lịch, quản lý, tham gia tư vấn du lịch cho các cơ sở kinh doanh du lịch, nhân viên tại các cơ sở kinh doanh dịch vụ vui chơi, giải trí (khu du lịch, công viên giải trí), vận chuyển, hàng không (điều hành, bán vé máy bay, phục vụ) hay phục vụ ở bộ phận lễ tân trong các doanh nghiệp, thuyết minh viên tại các khu du lịch, bảo tàng, di tích. Thông qua việc đào tạo nguồn nhân lực có nhiệt huyết, trách nhiệm, chuyên nghiệp, làm hài lòng du khách, trường Đại học Hạ Long góp phần quan trọng trong việc nâng cao chất lượng, đưa Quảng Ninh nói chung trở thành một trung tâm du lịch quốc tế, một trọng điểm du lịch hàng đầu quốc gia. Luận văn: Hoạt động kinh tế du lịch thành phố Uông Bí.
Trên cơ sở đó, ban lãnh đạo thành phố Uông Bí đã đưa ra kế hoạch “Xây dựng đội ngũ Hướng dẫn viên Du lịch đáp ứng đủ số lượng và chất lượng phục vụ du khách” được nêu ra trong ” Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội thành phố Uông Bí đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2040″ [72]. Những năm gần đây thành phố chú trọng hơn đến đội ngũ thuyết minh viên tại khu di tích và danh thắng Yên Tử, tổ chức thành công các khóa đào tạo, du khách đến Yên Tử được hướng dẫn và qua các thuyết minh viên họ đã thực sự hiểu và cảm nhận sâu sắc về nơi họ đến thăm quan.
Bảng 2.2: Lao động trong các ngành kinh tế địa bàn Uông Bí năm 2020 – 2023
Đơn vị tính: Người
| Năm | 2020 | 2021 | 2022 | 2023 |
| Lao động có việc làm | 53.400 | 54.400 | 55.280 | 58.186 |
| Lao động nông – lâm – thủy sản | 15.750 | 14.960 | 14.400 | 15.156 |
| Lao động công nghiệp – xây dựng | 25.330 | 26.350 | 26.650 | 27.956 |
| Lao động thương mại – dịch vụ | 12.230 | 13.090 | 14.230 | 15.074 |
(Nguồn: Báo cáo tình hình kinh tế- xã hội thành phố Uông Bí 2020-2023)
Qua bảng thống kê cho thấy lao động trong các ngành kinh tế đã có sự thay đổi rõ rệt. Uông Bí có xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động nông nghiệp theo hướng phù hợp với yêu cầu của quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp. Tập trung thực hiện có hiệu quả chương trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, cơ cấu mùa vụ, cơ cấu lao động, cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tăng tỷ trọng các ngành chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm dần nông nghiệp thuần nông, tăng lao động công nghiệp, xây dựng, dịch vụ. Năm 2023, thành phố có 58.186 lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân, riêng lao động trong ngành thương mại – dịch vụ là 15.074 người.
2.1.4. Lượng khách du lịch Luận văn: Hoạt động kinh tế du lịch thành phố Uông Bí.
Ngày 20-7-1980 Hội đồng Bộ trưởng đã ra quyết định lấy năm 2000 là năm du lịch Việt Nam. Năm du lịch của chúng ta có những nét chung giống năm du lịch các nước khác. Đồng thời có những nét riêng biệt không giống với nước nào. Chúng ta xuất phát từ một nền móng non yếu và thấp hơn rất nhiều so với các nước khác. Ở thời điểm này, trong khi các nước khác tính số khách du lịch quốc tế bằng con số hàng triệu, thì Việt Nam mới chỉ tính bằng con số hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn. Về mở mang thị trường, cánh tay họ đã vươn xa ra toàn thế giới trong khi đó còn không ít người nghĩ rằng Việt Nam là một xứ sở chưa thể đến bằng con đường du lịch. Năm du lịch Việt Nam thực chất là một năm tập dượt trên tất cả các mặt, các hướng của ngành du lịch, nhằm tạo dựng những gì cần thiết mà ta chưa có, thúc đẩy những gì chúng ta còn chậm chạp, củng cố và chấn chỉnh lại những gì chúng ta còn lỏng lẻo, chắp vá… Đến thời điểm đó, dấu hiệu của triển vọng đã in hình.
“Năm du lịch Việt Nam 2000”, với những bước đi của ngành du lịch Quảng Ninh chắc chắn góp đường nét đẹp cho diện mạo của toàn ngành du lịch Việt Nam. Nhân dân Việt Nam nói chung và nhân dân Uông Bí nói riêng vui mừng được đón tiếp những vị khách mang bất kỳ quốc tịch nào và sẽ cố gắng thoả mãn những yêu cầu của khách du lịch theo khả năng cho phép và làm cho thời gian lưu trú của họ được thoải mái và bổ ích.
Từ năm 2010 trở về trước, số lượng khách đến với Uông Bí còn khá thấp, hàng năm chỉ khoảng vài trăm nghìn người. Tính trung bình từ năm 2010- 2015, tổng lượt khách du lịch là 349.126 người. Trong giai đoạn từ 2016 – 2023 khách du lịch quốc tế đến nước ta tăng và kinh tế du lịch nước ta cũng phát triển nhanh chóng, du lịch Uông Bí cùng du lịch Quảng Ninh đón tiếp số lượng khách lớn. Từ năm 2020, công tác tổ chức Hội xuân Yên Tử và các lễ hội khác trên địa bàn thành phố Uông Bí được tiến hành chu đáo, tổng lượng khách tăng rõ rệt: 1750.000 người. Năm 2021, tổng lượt khách cũng gia tăng đáng kể: 1820.000 người (trong đó khách tham quan về Yên Tử là 1638.000 người). Năm 2022, thành phố đón được 1915.000 lượt khách (khách tham quan về Yên Tử: 1723.500 người). Năm 2023, thành phố đã tập trung triển khai các văn bản chỉ đạo của Tỉnh, triển khai các giải pháp phát triển du lịch phục vụ nhiệm vụ đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại nền kinh tế chuyển từ tăng trưởng “nâu” sang tăng trưởng “xanh” theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ, du lịch, tập trung phối hợp triển khai các dự án thành phần thuộc Đề án mở rộng, phát triển khu di tích- danh thắng Yên Tử. Chỉ đạo các ngành chức năng, các địa phương làm tốt công tác chuẩn bị và triển khai tổ chức các lễ hội gắn với việc đón khách du lịch đến với thành phố, đảm bảo tối đa các điều kiện phục vụ nhu cầu vãn cảnh du xuân, hành hương lễ Phật của du khách thập phương. Trong năm 2023, toàn thành phố đón khoảng 2152.000 lượt khách, khách tham quan về Yên Tử: 1936.800 lượt khách (trong đó khách nước ngoài khoảng 30.000 lượt khách).
Những năm qua, Yên Tử luôn được coi là một trong bốn “Phúc địa” (Mảnh đất linh thiêng) của Việt Nam và được coi là Danh sơn, lưu truyền trong sách cổ. Ngày 18 tháng 2 năm 2023, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 334/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án mở rộng và phát triển Khu di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử, tỉnh Quảng Ninh. Khu di tích Yên Tử sẽ được quy hoạch và đầu tư phát triển với quy mô lớn và dự kiến sẽ trở thành trung tâm du lịch văn hóa, lịch sử, tâm linh. Lượng khách về Yên Tử ngày càng đông và chiếm phần lớn trong tổng số lượng khách toàn thành phố.
Biểu đồ 2.1. Lượng khách du lịch đến Uông Bí từ năm 2019 đến năm 2023
2.2. Các sản phẩm du lịch đặc trưng của Thành phố Luận văn: Hoạt động kinh tế du lịch thành phố Uông Bí.
Ngay từ khi ngành du lịch Việt Nam được hình thành năm 1960 thì đã xuất hiện các loại hình du lịch. Tuy nhiên các loại hình du lịch hình thành trước 1996 chỉ mang tính chất tổng hợp, chưa có gì nổi trội, và khái niệm du lịch chỉ mang nghĩa đơn thuần. Đó là các chuyến đi nghỉ do các tổ chức, các ban ngành đứng ra tổ chức cho nhân viên đi. Việc đi du lịch lúc này mang tính nghỉ ngơi thuần nhất mà chưa thực sự xuất phát tù nhu cầu của con người. Từ 1996 đến nay, các loại hình du lịch ở Việt Nam phong phú hơn rất nhiều giai đoạn trước. Điều này có thể thấy rằng, tiềm năng du lịch của chúng ta đã và đang được khai thác một cách có hiệu quả phù hợp với từng nhu cầu du lịch của khách du lịch.
Với đặc điểm về tự nhiên, dân cư, xã hội của thành phố Uông Bí và theo quy hoạch của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh nói chung và thành phố nói riêng, hiện nay loại hình du lịch tâm linh là loại hình chủ đạo khi du khách được đến với Yên Tử, Ba Vàng…. Ngoài ra còn có du lịch văn hóa, du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, du lịch thể thao…
2.2.1. Du lịch tâm linh
Du lịch tâm linh là một khái niệm mới đối với ngành du lịch Việt Nam.
Du lịch tâm linh là gắn liền với yếu tố “thiêng liêng”, con người đến với loại hình du lịch này để thỏa mãn nhu cầu giao tiếp với môi trường tự nhiên, giao tiếp với tâm linh, hưởng thụ sinh hoạt văn hóa làm cho họ cảm nhận được sự gần gũi với thiên nhiên.
Điều lý thú của du lịch tâm linh còn ở chỗ tất cả du khách đều như nhau trong vai trò của một tín đồ, không phân biệt thành phần xã hội, giai cấp, không phân biệt sang hèn, giới tính, tuổi tác, địa vị xã hội… Du lịch tâm linh vì vậy có thể giúp mỗi người gỡ bỏ vai diễn kẻ lạ mặt trong đời để sống hòa hợp tự nhiên như tất cả chúng sinh trên mặt đất.
Khi mà đời sống vật chất ngày càng được nâng cao, xã hội ngày càng hiện đại thì con người ta lại càng có nhu cầu hướng tới việc nâng cao đời sống tinh thần. Việc tìm đến với du lịch tâm linh như là một sự việc tất yếu, đặc biệt là với một quốc gia có truyền thống thờ cúng mang hơi hướng của văn hóa Phật giáo như Việt Nam thì việc tìm hiểu du lịch tâm linh là gì lại càng là một xu thế tất yếu. Cựu Tổng thống Ấn Độ, tiến sĩ A.P.J Abdul Kalam đã từng khẳng định: “Du lịch tâm linh hoàn toàn khác với việc tham quan các địa danh và ngắm nhìn các chiều kích vật lý. Du lịch tâm linh có nghĩa là thăm viếng trái tim và tâm trí của những bậc hiền triết…”. Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Hồ Anh Tuấn phát biểu tại Hội nghị du lịch quốc tế về tâm linh vì sự phát triển bền vững: “Trên thế giới này, dù chúng ta khác nhau về màu da, tôn giáo, song niềm tin mà chúng ta gửi gắm, tôn thờ đều gặp nhau ở tinh thần nhân ái, khoan dung và triết nhân bản. Chính đặc tính không biên giới và chung hướng đích đã làm nên sự giao thoa, ngưỡng vọng về tâm linh và nhu cầu tìm hiểu lẫn nhau. Đó vừa là nhu cầu, là cơ hội, là mảnh đất vô cùng sinh động để du lịch phát triển. Loại hình du lịch tâm linh vốn luôn sẵn có tiềm năng”.
Việc đến các địa điểm tôn giáo của du khách trong loại hình Du lịch tâm linh không chỉ đơn giản là vãn cảnh, hay tìm hiểu một nền văn hóa khác. Du lịch tâm linh đến các di tích của đạo Phật sẽ giúp con người tháo gỡ được các cảm xúc khổ đau, vun bồi tâm trí và tinh thần minh triết. Du lịch tâm linh rất cần thiết cho tinh thần con người trong xã hội hiện đại. Như vậy, có thể thấy tâm linh chính là con đường rộng để du lịch phát triển. Luận văn: Hoạt động kinh tế du lịch thành phố Uông Bí.
Trong những năm gần đây du lịch tâm linh đã xuất hiện và phát triển ở nhiều quốc gia châu Á như Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan… Việt Nam là một trong số những quốc gia được đánh giá là có tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch tâm linh. Việt Nam là một quốc gia rất giàu có các thánh tích: chùa Trấn Quốc (Hà Nội), chùa Hương (Hà Tây), Yên Tử (Quảng Ninh),
Phát Diệm (Ninh Bình) hay Thánh thất Cao Đài (Tây Ninh). Trong đó Yên Tử (Quảng Ninh) trở thành trung tâm của Phật giáo từ khi vua Trần Nhân Tông từ bỏ ngai vàng khoác áo cà sa tu hành và thành lập một dòng Phật giáo đặc trưng của Việt Nam, đó là dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử và trở thành vị tổ thứ nhất với pháp danh Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông (1258-1308).
Ông đã cho xây dựng hàng trăm công trình lớn nhỏ trên núi Yên Tử để làm nơi tu hành và truyền kinh, giảng đạo. Sau khi ông qua đời, người kế tục sự nghiệp là Pháp Loa Đồng Kiên Cương (1284-1330), vị tổ thứ hai của dòng Trúc Lâm. Trong 19 năm tu hành, ông đã soạn ra bộ sách Thạch thất mị ngữ và cho xây dựng 800 ngôi chùa, am, tháp lớn nhỏ trong nước với hàng nghìn pho tượng có giá trị. Tại trung tâm truyền giáo của Pháp Loa còn có Huyền Quang Lý Đạo Tái (1254-1334), vị tổ thứ ba của phái Trúc Lâm. Ngày 17/5/2018, Yên Tử và Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) đã cùng với chùa Bái Đính ở Cố đô Hoa Lư (Ninh Bình) là những địa danh của Việt Nam được chọn là những thắng tích phật giáo cho các đại biểu tham dự đại lễ phật đản thế giới lần đầu tiên tại Việt Nam đến tham quan.
Đến nơi đây du khách có cơ hội tìm hiểu nghiên cứu văn hóa phật giáo, được thực sự hòa mình và tìm hiểu phái tại các Di tích và Thiền viện Trúc lâm Yên Tử, được có những giây phút lắng lại để suy ngẫm về bản thân và cuộc đời thông qua các khóa tu thiền ngay tại Thiền viện. Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử thường xuyên đón những Phật tử lên tu thiền, học cách sống chậm và sống có ý nghĩa hơn. Các khóa tu thường kéo dài từ 7 đến 10 ngày, tuy nhiên, có một số người tự nguyện kéo dài khóa tu nhiều tháng liền. Đặc biệt trong mùa hè, nhiều bậc phụ huynh đưa con lên chùa tham gia khóa Học tu. Cùng với Yên tử, di tích lịch sử văn hóa và danh thắng chùa Ba Vàng góp phần không nhỏ sự thịnh vượng của Phật giáo Việt Nam, vào sự phát triển du lịch tâm linh của thành phố.
2.2.2. Du lịch văn hóa
Theo Luật du lịch Việt Nam “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống” [37, tr9]. Du lịch văn hóa dựa trên các tài nguyên du lịch là các giá trị văn hóa của một quốc gia, đó là các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể. Du lịch văn hóa dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc kể cả phong tục tín ngưỡng… để tạo ra sức hút đối với khách du lịch bản địa và từ khắp mọi nơi trên thế giới. Luận văn: Hoạt động kinh tế du lịch thành phố Uông Bí.
Trên cơ sở nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ thành phố Uông Bí và Quy hoạch phát triển văn hóa, thể thao và Du lịch Uông Bí cùng các tài nguyên nhân văn phong phú, độc đáo (27 di tích và danh lam thắng cảnh) đã đưa những nơi này thành nơi tham quan, vãn cảnh lý tưởng và chiêm ngưỡng những giá trị văn hóa đặc sắc đáng trân trọng.
- Các di tích văn hóa điển hình:
Khu di tích lịch sử văn hóa Yên Tử
Hơn 700 năm qua, danh sơn Yên Tử gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp phi thường của Đức Hoàng Đế anh hùng Trần Nhân Tông. Sau hai lần lãnh đạo nhân dân Đại Việt kháng chiến chống giặc Nguyên Mông thắng lợi năm 1285 và năm 1288, Ngài đã truyền ngôi cho con, từ bỏ lầu son điện ngọc xuất gia về Yên Tử tu hành với pháp danh Hương Vân Đại Đầu Đà, đạo hiệu Trúc Lâm Đại Sĩ và đã sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm, một dòng thiền mang đậm bản sắc dân tộc, trở thành đạo Phật của quốc gia Đại Việt và có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của Phật giáo Việt Nam ngày nay. Đến Yên Tử, du khách được tìm hiểu lịch sử hệ thống di tích gồm 10 ngôi chùa, hàng trăm Am tháp, hàng ngàn di vật, cổ vật quý có giá trị lịch sử cao gắn liền với sự tồn tại và phát triển của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Dấu tích thời Trần đặc sắc nhất là lăng
Quy Đức và tháp Huệ Quang, trong tháp có tượng đá và xá lị Trần Nhân Tông, quanh có tường xây bằng gạch và lợp ngói mũi hài kép thời Trần. Khu di tích Yên Tử là kết tinh, hội tụ của nền văn hoá dân tộc với kiến trúc, hoa văn trang trí và các mảng chạm khắc mang đậm dấu ấn văn hoá của các thời đại Lý, Trần, Lê, Nguyễn. Từ chùa Giải Oan lên đến Chùa Đồng, du khách được chiêm ngưỡng đường tùng cổ kính với hơn 200 cây tùng 700 tuổi, bia Phật, tượng An Kỳ Sinh thiên tạo, chùa Đồng cao 1.068m so với mặt nước biển, tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông (được khánh thành ngày 3/12/2023 tức ngày 01 tháng 11 năm Quý Tỵ), thác Ngự Dội, nền am Hoa, am Dược, am Thiền Định… gắn liền với những huyền thoại về vua Trần Nhân Tông. Khu di tích lịch sử văn hóa và danh thắng Yên Tử được xếp hạng bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia, đến năm 2022 được Nhà nước công nhận là di tích quốc gia đặc biệt.
Chùa Ba Vàng
Chùa Ba Vàng nằm trên địa bàn phường Quang Trung, cách Trung tâm Thành phố gần 2km, nằm cạnh khu du lịch sinh thái Lựng Xanh, với hệ thống giao thông đường bộ mới được đầu tư, rất thuận tiện cho du khách di chuyển trong tuyến du lịch Yên Tử – Hồ Yên Trung – Hồ Công Viên – Ba Vàng- Lựng Xanh. Chùa Ba Vàng còn có tên là Bảo Quang Tự, được xây dựng năm Ất Dậu, triều vua Lê Dụ Tông tức năm 1676. Chùa nằm ở độ cao 340m, so với mặt nước biển, trên một vị thế hết sức đẹp của thành phố Uông Bí. Đến với khu di tích, danh thắng này, du khách sẽ được thăm các công trình kiên trúc lớn, khu đồi thông bao quanh với không khí trong lành, tươi mát. Hơn nữa, tại đây, nhìn xuống, du khách có thể bảo quát trung tâm Thành phố, hướng ra xa là sông Bạch Đằng và thưởng thức bức tranh Uông Bí toàn cảnh. Với những đặc điểm về địa thế cũng như bề dày lịch sử, Chùa Ba Vàng được xếp hạng di tích cấp Tỉnh năm 2017. Để phát huy giá trị di tích, chùa đã và đang được đầu tư xây dựng, tôn tạo, nâng cấp nhiều hạng mục, công trình kiến trúc với quy mô lớn.
Năm 2024, Chùa Ba Vàng được tổ chức kỷ lục Việt Nam ghi nhận là “Ngôi chùa có Tòa chính điện trên núi lớn nhất Đông Dương”. Luận văn: Hoạt động kinh tế du lịch thành phố Uông Bí.
Đền, Chùa Hang Son
Cách trung tâm Thành phố 6 km về phía tây nam, cách quốc lộ 18A, quốc lộ 10 gần 2 km, Đền Hang Son thờ Thánh Hang Son – Bát Hải Đại Vương. Cái tên “Hang Son” mang dấu ấn của Trần Hưng Đạo khi ngài đưa quân về đây mai phục, tích trữ lương thảo chuẩn bị cho trận đánh quân Nguyên Mông trên dòng sông Bạch Đằng năm 1288. Đến thế kỷ XVI, nhân dân quanh vùng đã góp công, của dựng thêm Phật điện và từ đó đền Son mang tên Chùa Son là sự kết hợp Phật giáo với tín ngưỡng của nhân dân. Hang Son là động do thiên nhiên tạo nên, nằm cạnh một nhánh của sông Bạch Đằng, gồm một dãy núi cao, đủ các hình dáng. Nơi đây sơn thuỷ hữu tình, cảnh đẹp nên thơ, ngày xưa từng là nơi du ngoạn của các vua, quan các triều đại phong kiến Việt Nam. Phía trong hang tạo hình vòm và thắt lại ở phía trên trông giống như một gác chuông, phía bên trái của hang có một vòm nhỏ được gọi là Vọng Cung. Phía trong cùng của Vọng Cung có một vòm nhỏ được gọi là
Cung cấm, cạnh đó có một lối nhỏ đi xuống phía dưới được gọi là Cửa xuống địa ngục và một lối nhỏ đi lên và thông trên đỉnh núi gọi là Cửa lên thiên đường. Di tích lịch sử văn hóa và danh thắng Hang Son được UBND tỉnh Quảng Ninh ra quyết định bảo vệ năm 2009.
Đình Đền Công
Đình Đền Công trên địa bàn xã Điền Công, cách trung tâm thành phố 4km về phía nam, bên dòng sông Bạch Đằng lịch sử. Trên diện tích đất hơn 4000m2, Đình Đền Công gồm một ngôi đình thờ chính và hai nhà tả vu, hữu vu.
Đình Đền Công được làm trên gò đất nơi phát hỏa hiệu lệnh của chiến trận Bạch Đằng, là nơi thờ Thành hoàng của làng Điền Công gồm các vị thần: Trần Hưng Đạo là Thượng đẳng thần và bốn vị Tướng quân đã giúp Trần Hưng Đạo làm nên đại thắng năm 1288 là: Cao Sơn Quý Minh, Nam Hải Tôn Thần , Phi Bồng Tướng quân và Bạch Thạch Tướng quân. Đình lưu giữ nhiều hiện vật quý: Bài vị, kiếm gỗ, kiêu long đỉnh, đại tự, giữ được Văn bia, hệ thống kiến trúc thời Nguyễn. Năm 2010, Đình Đền Công được xếp hạng bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa cấp quốc gia và đến năm 2022, được Thủ tướng Chính phủ công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt (nằm trong cum di tích chiến thắng Bạch Đằng).
Cụm di tích đình – chùa – nghè LạcThanh Luận văn: Hoạt động kinh tế du lịch thành phố Uông Bí.
Giáp trung tâm thành phố, đình Lạc Thanh nằm giữa khu Lạc Thanh, phường Yên Thanh, đây là ngôi đình cổ thuộc tổng Bí Giàng xưa còn lại cho đến ngày nay, được xây dựng vào thời Hậu Lê. Đình thờ 12 vị Thành hoàng, trong đó có hai vị là Cao Sơn và Quý Minh được thờ tại Đình, 10 vị được thờ tại mười nơi khác nhau, mỗi vị trông coi, cai quản một xứ, nhân dân gọi đó là Nghè. Tại khu Lạc Thanh, phường Yên Thanh có 7 vị Thành hoàng được thờ ở 7 ngôi nghè: Nghè Cụ thờ Phạm Năng Nhẫn (vị quan Đại thần triều Hậu Lê), Nghè Thất Tích thờ Hiển Tích đại thần (thần Tích xưa), Nghè Trung Lang thờ Lương Trung đại thần (thần Lương thiện, trung hiếu), Nghè Lung Cung thờ Long Cung đại thần (thần Thủy Cung), Nghè Cửa Thờ thờ Đống Hiếu đại thần (thần gò, đống tốt), Nghè Đống Sếu thờ Bản Thổ đại thần (thần Thổ Công bản xã), Nghè Cây đa thờ Linh Thung đại thần (thần Tôn kính). Tại khu 5, phường Quang Trung có 2 vị Thành hoàng được thờ ở 2 ngôi nghè: Nghè Bà Chúa thờ Thái Trưởng công chúa tôn thần (Công chúa con vua), Khe Nghè thờ Ma Tuyền đại thần (thần Thác nước). Tại khu vực Công ty than Nam Mẫu, xã Thượng Yên Công có Nghè Gốc Lim thờ 1 vị Thành hoàng là Côn Hiếu đại thần (thần Núi tốt). Ngoài các nghè: Nghè Cụ, Trung Lang, Lung Cung, Cửa Thờ, Bà Chúa, các nghè còn lại không còn di tích gốc, di vật, cổ vật gì. Cụm di tích đình, nghè, chùa Lạc Thanh xây dựng để tưởng nhớ công lao của các vị Thành hoàng đã có công với làng xã và là nơi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của nhân dân. Di tích đình, nghè, chùa Lạc Thanh được UBND tỉnh Quảng Ninh xếp hạng cụm di tích lịch sử cấp Tỉnh năm 2021.
Chùa Phổ Am
Chùa Phổ Am nằm trên địa bàn phường Bắc Sơn, cách trung tâm Thành phố 2 km. Chùa được xây dựng ở chân núi Duật Vân vào thời Lê Dụ Tông, nằm trên mảnh đất cao, thoáng mát, sáng sủa mang yếu tố dương. Xa xa trước cửa Chùa có dòng sông Uông uốn lượn tạo ra yếu tố âm. Âm dương kết hợp tạo ra muôn loài, do vậy trong chùa cây cối quanh năm tươi tốt, khắc thêm cho Chùa cảnh linh thiêng, huyền bí làm tôn kính nơi cửa Phật. Theo truyền thuyết kể lại: Vua Trần Nhân Tông lên tu ở núi Yên Tử, Ngài đã từng đi qua đây, thấy nơi đây cảnh rất đẹp, núi sông hài hòa ẩn chứa nhiều giá trị văn hóa, Ngài đã quyết định đặt tên núi đó là núi Duật Vân. Chùa đã và đang được xây dựng với các hạng mục công trình: Tòa chính điện (300 m2), nhà thờ Tổ (300 m2), nhà thờ Mẫu (300 m2), nhà khách (200 m2), Lầu Cô, Lầu Cậu… Chùa là nơi Thờ Phật đồng thời là nơi sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của nhân dân quanh vùng.
Nhà máy điện Uông Bí
Thuộc địa bàn phường Quang trung, Nhà máy điện Uông Bí cách trung tâm Thành phố 1 km. Đây là di tích cách mạng, là một trong những trọng điểm đánh phá của Mỹ, được xây dựng vào năm 1961, từng là nhà máy điện lớn nhất Đông Nam Á. Hiện nay, nhà máy điện đã được sửa chữa, nâng cấp và mở rộng với tổng diện tích 407.665 m2. Ngày 02/02/1965 (ngày mồng một tết Ất Dậu), cán bộ công nhân nhà máy và nhân dân Uông Bí được vinh dự đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm. Trong suốt hơn 50 năm xây dựng và phát triển, đã có 4 thế hệ kề vai sát cánh xây dựng Nhà máy: Thế hệ kháng chiến chống Pháp (1959 – 1964); Thế hệ chống Mỹ cứu nước (1965 – 1975); Thế hệ vượt khó thời bao cấp (1976 – 1996); Thế hệ đổi mới và hội nhập quốc tế (1997 đến nay). Nhà máy đã được Đảng, Chính phủ và Nhà nước tặng thưởng nhiều phần thưởng cao quý như: Danh hiệu Anh hùng lao động năm 1973; Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 2008; Huân chương kháng chiến hạng Nhì năm 1973; Huân chương lao động hạng Nhất năm 1973 và 1975; Huân chương độc lập hạng Nhì năm 2006 và 2016…
2.2.3. Du lịch lễ hội Luận văn: Hoạt động kinh tế du lịch thành phố Uông Bí.
Lễ hội là một hoạt động văn hóa truyền thống mang tính phổ quát, trong khi đó du lịch là một hoạt động kinh tế mang tính tổng hợp, trong bước đường phát triển ngành du lịch cũng phải tìm đến, khai thác và sử dụng lễ hội với tư cách là một sản phẩm văn hóa đạt hiệu quả cao nhiều mặt. Việc tổ chức các tour du lịch tới các địa phương trên khắp miền đất nước, trong một khoảng thời gian nhất định trong năm mà thời gian đó trùng với thời gian mở hội của địa phương. Hoạt động này giúp cho du khách cảm nhận được những giá trị văn hóa về nhiều mặt thông qua hoạt động lễ hội của địa phương. Du lịch lễ hội là hoạt động du lịch gắn với thời gian mở hội, do vậy cũng giống với lễ hội nó chỉ diễn ra theo thời gian, mùa vụ, thường tập trung vào các tháng mùa xuân và cuối thu. Du lịch lễ hội thường diễn ra trong một không gian, thời gian nhất định nên người tổ chức phải nắm chắc thời gian và không gian, hoạt động của lễ hội cùng với nhân dân để khai thác phù hợp, đúng hướng, có hiệu quả. Trong quá trình phát triển người dân Việt Nam ngày càng có điều kiện về thời gian, kinh tế, nhu cầu vui chơi giải trí, thẩm nhận các giá trị văn hóa cũng không ngừng nâng cao. Đến với lễ hội dân gian truyền thống của thành phố Uông Bí, du khách sẽ được đến với lễ hội Yên Tử là một lễ hội hành hương lớn vào mùa xuân ở nước ta. Các lễ hội khác với các hình thức: rước sắc, lễ Thượng nguyên tại chùa giương sao giải hạn cho cả làng, các trò chơi dân gian như đánh đu, cờ tướng, cờ người, chọi gà, dân làng tổ chức hội vật trước khi giã hội… tất cả những hình thức nghệ thuật này góp phần tạo nên sức hấp dẫn của lễ hội.
Các lễ hội truyền thống hàng năm:
- Lễ hội Yên Tử
Được tổ chức vào ngày 10 tháng giêng hàng năm, Hội xuân Yên Tử là một trong những lễ hội lớn nhất ở miền Bắc Việt Nam kéo dài trong 3 tháng, mỗi năm thu hút hàng triệu lượt khách thập phương về đây hành hương lễ Phật, chiêm bái cõi tâm linh Tam Tổ Trúc Lâm và thưởng ngoạn vẻ đẹp thiên nhiên kỳ vĩ của danh sơn Yên Tử. Điểm nổi bật của Lễ hội là các hoạt động văn hóa truyền thống (múa rồng lân, biểu diễn võ thuật, biểu diễn âm nhạc truyền thống) và các trò chơi dân gian (ném còn, đẩy gậy…).
- Lễ hộ Luận văn: Hoạt động kinh tế du lịch thành phố Uông Bí.
Hội chùa Ba Vàng bắt đầu diễn ra từ ngày 09 tháng Giêng hàng năm. Lễ hội bao gồm phần lễ dâng hương, cầu nguyện quốc thái dân an và phần hội với màn múa rồng lân và các hoạt động văn hóa, văn nghệ dân gian. Chùa thường xuyên tổ chức các sinh hoạt văn hóa, các nghi lễ tôn giáo, tín ngưỡng, đáp ứng nhu cầu văn hóa tâm linh của đông đảo nhân dân.
- Lễ hội Đền, chùa Hang Son
Lễ khai hội Đền, chùa Hang Son được tổ chức vào ngày mùng 6 tháng giêng hàng năm. Với chương trình biểu diễn nghệ thuật trong Lễ khai hội với phần hát múa “Diễn tích chùa Hang Son” có ý nghĩa giáo dục sâu sắc về lịch sử chùa Hang Son, truyền thống dựng nước và giữ nước của Dân tộc.
- Lễ hội Đình- chùa- nghè Lạc Thanh
Năm 2022, Ủy ban nhân dân Thành phố đã tổ chức phục dựng lễ hội Đình Lạc Thanh (bị gián đoạn từ năm 1945) và được duy trì tổ chức hàng năm. Lễ hội chính của Đình được diễn ra vào ngày 14,15 tháng 3 âm lịch hàng năm với nhiều nghi lễ, nghi thức rước Thành hoàng từ các nghè về Đình dự hội, đây là lễ hội có nhiều đoàn rước nhất trong các lễ hội tín ngưỡng dân gian ở Quảng Ninh. Với các nghi lễ: Lễ nhập tịch, lễ an vị Thành hoàng tại Đình, lễ tế Thành hoàng, nghi thức đấu vật tượng trưng… thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn của dân tộc, ướng vọng của nhân dân về cuộc sống thanh bình no đủ, hạnh phúc. Đến với Lễ hội Đình, nghè, chùa Lạc Thanh, du khách sẽ được hoà mình vào lễ hội tín ngưỡng dân gian, tìm hiểu lịch sử vùng đất cổ Lạc Thanh xưa và nét sinh hoạt văn hoá của nhân dân địa phương hôm nay.
- Lễ hội Đình Đền Công
Lễ hội Đình Đền Công được tổ chức vào ngày 14,15 tháng giêng hàng năm, Đình mở hội khai xuân tế lễ đầu năm cầu mong cho một năm mới nhiều tài lộc, bình an, may mắn.
2.2.4. Du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái là một khái niệm mới mẻ, đang thu hút được sự quan tâm của nhiều người, thuộc các lĩnh vực khác nhau. Du lịch sinh thái được bắt nguồn từ những cuộc dạo ngoài trời với mục đích thư giãn và mong muốn gần gũi với thiên nhiên. Nó bao gồm những người đến các khu tự nhiên hoang dã hay các khu bảo tồn, những người đi leo núi, đi bộ xuyên rừng hay đi thuyền trên suối, những người đi cắm trại, ngủ nghỉ trong những lều bạt hay trong nhà của người dân địa phương, những người chụp ảnh tự nhiên hay quan sát chim thú… có thể được coi đây là những khách du lịch sinh thái đầu tiên. Du lịch sinh thái là một khái niệm rộng lớn, được hiểu khác nhau từ những cách nhìn khác nhau của các cá nhân, tổ chức nghiên cứu. Du lịch sinh thái có khi được hiểu chỉ là sự kết hợp ý nghĩa của 2 từ ghép “du lịch” và “sinh thái” vốn đã quen thuộc với nhiều người. Cũng có những quan niệm cho rằng du lịch sinh thái là loại hình du lịch có lợi cho sinh thái, ít có những tác động tiêu cực đến sự tồn tại và phát triển của các hệ sinh thái – nơi diễn ra các hoạt động du lịch. Luận văn: Hoạt động kinh tế du lịch thành phố Uông Bí.
Ở Việt Nam, định nghĩa về du lịch sinh thái được đưa ra trong Luật Du lịch Việt Nam là: “Du lịch sinh thái là hình thức du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn với bản sắc văn hóa địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm phát triển bền vững”[37, tr9]. Định nghĩa này đã nêu lên khái quát về đặc tính và mục tiêu của Du lịch sinh thái.
Tại thành phố Uông Bí khai thác sản phẩm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng ở khu sinh thái Hồ Yên Trung, Lựng Xanh, rừng quốc gia Yên tử (vườn Tùng, vườn Trúc, vườn Mai, vườn thuốc nam, Thác vàng, Thác bạc, Am Dược, Am Diêm…). Phát triển dịch vụ chăm sóc sức khỏe bằng phương pháp Thiền, dịch vụ sử dụng lá tắm, dịch vụ ngâm chân, chăm sóc sức khỏe bằng thuốc nam tại Yên Tử. Khai thác, phát huy lợi thế về sinh thái của 2 dòng sông: Sông Sinh, Sông Uông gắn với trang trại vườn đồi (vải chín sớm, Thanh Long đỏ…), nuôi trồng thủy sản (các đầm, ao, hồ nuôi tôm sú, hào, hà, cua, ghẹ, bề bề…).
Các khu sinh thái, nghỉ dưỡng:
- Khu rừng Quốc gia Yên Tử
Yên tử là dãy núi thấp, thuộc hệ thống cánh cung Đông Triều, một vùng địa chất với các loại đá gốc như sa thạch , sỏi kết sạn và phù sa cổ. Địa hình, địa chất phức tạp đã tạo nên nhiều cảnh quan kỳ vĩ: Thác Ngự dội, thác Vàng, thác Bạc, cổng trời…Rừng quốc gia Yên Tử với diện tích 2.783ha, chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá, hệ sinh thái đa dạng, nguyên sinh gồm nhiều loại động, thực vật quý hiếm. Hệ động vật ở đây vô cùng phong phú với 35 loài thú, 77 loài chim, 34 loài bò sát,15 loài lưỡng cư. Một số loài động vật quý hiếm cần được bảo vệ ở Yên Tử: cu li lớn, khỉ mặt đỏ, voọc mũi hếch, khỉ mốc, sơn dương, hổ mang bành, hổ mang chúa, rùa vàng…Hệ thực vật ở Yên Tử có 830 loại, trong đó có 38 loài cây đã ghi vào sách đỏ Việt Nam là gụ lau, nhọc lá dài, thông tre, thông tre lá ngắn, tùng La Hán, lim xanh, hồng tùng… Nét độc đáo của Yên Tử không chỉ là đường tùng với 242 cây tùng cổ được trồng cách đây hơn 700 năm gắn liền với Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử mà còn là rừng trúc xanh bạt ngàn, vườn mai vàng nở hoa rực rỡ hai bên đường hành hương của khách du lịch. Ngoài ra, rừng còn có nhiều loại dược liệu quý (sa nhân, lá khôi tía, trầu tiên một lá, hoằng đằng…) thuận lợi cho phát triển du lịch tham quan, du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng.
- Khu sinh thái Hồ Yên Trung
Khu sinh thái Hồ Yên Trung nằm ở phía tây Thành phố, trên địa bàn phường Phương Đông, cách Trung tâm Thành phố 4,5 km, cách chân núi Yên Tử (Chùa Giải Oan) 10 km. Từ quốc lộ 18A đi theo đường Yên Trung 500m thì tới khu Du lịch sinh thái Hồ Yên Trung. Với tổng diện tích hơn 1.000 ha, nơi đây có phong cảnh đẹp và thơ mộng, hồ nước quanh năm xanh mát. Hồ nằm trọn trong một thung lũng đồi bao quanh. Phía bắc hồ là dãy núi cao, phía Nam là những đồi thấp. Bốn phía bao quanh hồ, các ngọn đồi đều được trồng thông, xen kẽ dưới những gốc thông là những bụi sim, mua khoe sắc càng làm tăng thêm vẻ thơ mộng cho cảnh đẹp nơi đây. Giữa hồ nổi lên hai hòn đảo, một lớn, một nhỏ gọi là đảo con Quy. Toàn bộ phong cảnh hồ nhìn trên cao ta sẽ thấy gần như một số 8 khổng lồ. Từ nơi dừng chân, du khách có thể xuống thuyền bơi ra đảo. Đứng từ đảo con Quy lớn nhìn lên bờ phía nam, phía bên trái Hòn Ngọc là núi Mắt Rồng, bên phải là Hòn Nóc (con Sóc) cùng với con Quy ở giữa chầu lên. Có thể nói Hồ Yên Trung là một điểm đến hấp dẫn và lý tưởng cho du khách đến tham quan, vãn cảnh trong tuyến du lịch Yên Tử – Hồ Yên Trung – Hồ Công viên – Lựng Xanh – Ba Vàng.
- Khu sinh thái Lựng Xanh Luận văn: Hoạt động kinh tế du lịch thành phố Uông Bí.
Cách trung tâm thành phố hơn 2km về phía bắc là khu du lịch sinh thái Lựng Xanh, tiếp giáp với điểm du lịch tâm linh sinh thái Ba Vàng. Lựng Xanh có dòng suối trong xanh bắt nguồn từ lưng chừng núi Ba Vàng chảy quanh co, uốn lượn, quanh các hẻm núi với ba tầng thác tuyệt đẹp. Từ đầu nguồn cho tới thác thứ nhất dài khoảng 300m. Làn nước từ trên cao 10m đổ xuống vách đá nhô ra tạo thành một tấm lụa nước trắng xoá. Thác nước thứ hai và thác nước thứ ba, từ trên cao 15m, dòng nước dội vào các gờ đá, rơi xuống những hòn đá cuội lớn trồi lên tạo thành một bức tranh hùng vĩ, nên thơ. Từ ba dòng thác nước dồn về tụ lại thành một lựng nước rộng, tạo thành một bể bơi tự nhiên trong xanh vì vậy nhân dân quanh vùng từ lâu đặt tên là Lựng Xanh. Đến với Lựng Xanh, du khách được đắm mình trong cảnh đẹp của thiên nhiên, trong làn nước xanh mát. Cùng với chùa Ba Vàng, khu vực này trở thành một điểm đến lý tưởng của du khách gắn du lịch tâm linh với du lịch sinh thái.
2.2.5. Du lịch cộng đồng
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch cộng đồng, thường tùy thuộc vào tác giả, khu vực địa lí hoặc nghiên cứu. Cách hiểu phổ biển về du lịch cộng đồng là loại hình du lịch mang lại cho du khách những trải nghiệm về bản sắc cộng đồng địa phương, trong đó cộng đồng địa phương tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch, được hưởng lợi ích kinh tế- xã hội từ hoạt động du lịch và có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên, môi trường, bản sắc văn hóa cộng đồng. Khoảng mười năm trở lại đây, du lịch cộng đồng được biết đến ở Việt Nam tại một số địa phương như Sapa (Lào Cai), bản Lác (Mai Châu – Hòa Bình) mà mô hình phổ biến là loại hình homestay- loại hình du lịch gắn với cộng đồng theo xu hướng tích cực khám phá, tìm hiểu văn hóa bản địa, cùng làm, cùng sống và trao đổi trực tiếp với người dân bản xứ. Homestay không chỉ có tác động tích cực đến sự phát triển chung của du lịch mà còn có tác động sâu sắc đến xã hội như: Tăng cường giáo dục ý thức về bảo vệ môi trường, bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa, lịch sử của người dân bản địa và du khách, tạo ra sự giao lưu văn hóa, phong tục tập quán giữa các dân tộc và các quốc gia khác nhau, tăng cường mối quan hệ trong cộng đồng người dân, sự gắn bó của chính quyền địa phương và người dân bản xứ, giáo dục ý thức về phong cách ứng xử trong cộng đồng người dân. Đồng thời loại hình du lịch này cũng có tác động đến kinh tế, thu hút các nhà đầu tư vào du lịch và các lĩnh vực khác như hệ thống giao thông, trường học, mở rộng và nâng cấp các làng nghề truyền thống, trùng tu các di tích lịch sử…tạo ra nguồn thu nhập cho người dân, tạo cơ hội việc làm cho nhiều hộ gia đình tại địa phương.
Uông Bí đã và đang tích cực phát triển loại hình du lịch này với các sản phẩm như: Thưởng ngoạn cảnh đẹp Yên Tử, Ba Vàng về đêm, tìm hiểu nghiên cứu văn hóa Phật giáo, Thiền tông Việt Nam… thưởng thức trà đạo, tham quan Thiền viện Trúc lâm yên Tử, trường quay phim cổ trang, trải nghiệm cuộc sống cộng đồng của người Dao Thanh Y (Thôn Khe Sú, Thượng Yên Công).
Tiểu kết chương 2 Luận văn: Hoạt động kinh tế du lịch thành phố Uông Bí.
Trong những năm qua, Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh và lãnh đạo thành phố Uông Bí cũng như các địa phương có liên quan đã đặc biệt quan tâm đến ngành du lịch. Chủ trương đường lối của Đảng, các cấp chính quyền được triển khai và thực hiện hiệu quả. Công tác nghiên cứu, quy hoạch phát triển ngắn hạn và dài hạn được đầu tư, đồng thời tổ chức lập hồ sơ đề nghị các cơ quan có thẩm quyền xét công nhận khu di tích và danh thắng Yên Tử là di tích quốc gia đặc biệt, rừng Yên Tử được công nhận là rừng quốc gia đặc biệt… Nguồn tài chính to lớn từ ngân sách nhà nước, ngân sách địa phương và huy động từ nhiều nguồn khác nhau đã được ưu tiên đầu tư để tôn tạo, bảo tồn và phát huy giá trị của toàn bộ vùng non thiêng Yên Tử cùng với hệ thống các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể.
Sự đầu tư và hoạt động của ngành du lịch đã làm cho các sản phẩm du lịch đặc trưng ở Uông Bí như: du lịch tâm linh, du lịch văn hóa, du lịch sinh thái…luôn cuốn hút được lượng lớn các du khách đến tham quan, vãn cảnh, nghỉ ngơi và tận hưởng sự thư thái trong tâm hồn.
Trong quá khứ khu di tích và danh thắng Yên Tử đã có những khoảng thời gian dài gần như đã chìm vào quên lãng, thậm chí phần lớn đã trở thành phế tích. Phải đến sau khi những năm tháng khó khăn nhất của giai đoạn đầu thời kỳ đổi mới qua đi thì khu di tích – danh thắng và di sản này mới được đánh thức thêm lần nữa, được hồi sinh và ngày càng trở nên giàu sức hấp dẫn. Đến ngày hôm nay, khu di tích và danh thắng Yên Tử đã trở thành địa chỉ du lịch nổi tiếng trong nước và trên thế giới. Nguồn lực khai thác được thông qua phát triển du lịch văn hóa – tâm linh ngày càng to lớn, đóng góp ngày càng đáng kể hơn vào sự nghiệp phát triển bền vững của địa phương. Theo thống kê tất cả các lễ hội trong cả nước và các danh lam thắng cảnh thu hút khách du lịch hiện nay thì chúng ta thấy tỉ lệ du lịch tâm linh trong tổng thể nền du lịch của nước ta là không nhỏ, nếu không muốn nói du lịch tâm linh chiếm một tỷ trọng ngang bằng với các loại hình du lịch khác cộng lại. Số lượng khách du lịch tăng, khách đi du lịch thường kết hợp với mục đích tâm linh. Hoạt động du lịch tâm linh ngày càng đa dạng, có chiều sâu nên đã trở thành nhu cầu rất thiết thực trong đời sống tinh thần của đa số người Luận văn: Hoạt động kinh tế du lịch thành phố Uông Bí.
Đến với nhưng công trình, di tích lịch sử văn hóa ở thành phố Uông Bí khách du lịch được đắm mình trong những di tích lịch sử độc đáo, phong phú và đầy sức lay động làm say mê lòng người. Mỗi di tích là một minh chứng sống động cho những quãng thời gian đã đi qua trong quá khứ. Giá trị đặc biệt của di tích được thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, mỗi khía cạnh là những mảng màu giúp cho du khách “sắp xếp, lắp ghép” để tạo ra khối tổng hòa chung trong một không gian du lịch địa phương, vùng, lãnh thổ và cao hơn là quốc gia và quốc tế. Nhân dân Uông Bí luôn tự hào về hệ thống di tích phong phú và độc đáo của mình.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Tác động kinh tế du lịch tại thành phố Uông Bí
