Luận văn: Phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Ngày nay, nền kinh tế tri thức ngày càng trở nên quan trọng và chiếm vị trí trọng yếu trong sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia với yếu tố con người là một trong những yếu tố góp phần vào sự thành công đó. Đặc biệt trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, nội lực để các quốc gia cạnh tranh với các nước phát triển hơn đó là nguồn nhân lực. Đối với hoạt động du lịch nói riêng, yếu tố con người có vai trò đặc biệt bởi đây là ngành dịch vụ mà ở đó con người chiếm vị trí quyết định đến sự thành công trong kinh doanh. Trước tình hình đó, công tác đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực du lịch của Việt Nam đã được chú trọng trong những năm gần đây góp phần quan trọng vào việc hình thành và phát triển đội ngũ lao động của ngành với 23 vạn lao động trực tiếp và trên 50 vạn lao động gián tiếp, chiếm 2,5% lao động toàn quốc. Tuy nhiên chất lượng của đội ngũ nhân lực vẫn còn nhiều hạn chế, là vấn đề cần quan tâm và đầu tư.

Quảng Ninh là một tỉnh nằm ở vùng Đông Bắc Tổ quốc với nhiều thế mạnh để phát triển du lịch. Trên thực tế, ít nhiều những tiềm năng đó đã đem lại nhiều mặt về lợi ích kinh tế xã hội. Tuy nhiên, hiện nay một trong những vấn đề đáng quan tâm để phát triển du lịch Quảng Ninh nói riêng, du lịch cả nước nói chung một cách hiệu quả và bền vững đó là phát triển và đào tạo nguồn nhân lực như thế nào để đáp ứng những yêu cầu của ngành.

Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu và đóng góp cho phát triển du lịch Quảng Ninh nhưng vấn đề nguồn nhân lực du lịch là vấn đề mới, hầu như chưa có công trình nào được công bố. Từ thực tế đó, tác giả mạnh dạn chọn đề tài: “Phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh” cho luận văn tốt nghiệp thạc sỹ của mình với mong muốn sẽ đóng góp một phần vào sự nghiệp phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh nói riêng và của đất nước nói chung.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nhân lực du lịch, phát triển nguồn nhân lực du lịch trong mối quan hệ với thực tiễn phát triển nhân lực du lịch ở Quảng Ninh

Phạm vi nghiên cứu của luận văn:

  • Về nội dung: Tập trung nghiên cứu về nhân lực và phát triển nguồn nhân lực trực tiếp trong ngành du lịch Quảng Ninh.
  • Về không gian: Địa bàn tỉnh Quảng Ninh (tập trung chủ yếu tại khu vực thành phố Hạ Long).
  • Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực từ năm 2001 đến năm 2006. Đề xuất một số giải pháp cho 5 năm tới (từ năm 2006 đến năm 2010). Luận văn: Phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.

3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích:

  • Góp phần đẩy mạnh công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch cho tỉnh Quảng Ninh.

Nhiệm vụ:

  • Hệ thống hoá cơ sở lý luận về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực du lịch.
  • Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.
  • Đề xuất một số giải pháp góp phần phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.

4. Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu, số liệu
  • Phương pháp điều tra xã hội học
  • Phương pháp phân tích hệ thống
  • Phương pháp chuyên gia
  • Phương pháp điều tra thực địa

5. Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

  • Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển nguồn nhân lực du lịch
  • Chương 2. Thực trạng nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh
  • Chương 3. Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC DU LỊCH

1.1. Một số khái niệm cơ bản

Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực là một trong những vấn đề cốt lõi của sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Đặc biệt trong thời đại nền kinh tế tri thức đang trở nên quan trọng thì nguồn nhân lực càng đóng vai trò quan trọng. Đối với hoạt động du lịch nói riêng thì vấn đề nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực có ý nghĩa trực tiếp đối với hiệu quả hoạt động và mục tiêu phát triển ngành.

1.1.1. Nguồn nhân lực du lịch

1.1.1.1. Nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực là một khái niệm rộng, cho đến nay có rất nhiều quan niệm, nhiều cách tiếp cận khác nhau về nguồn nhân lực. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, những khái niệm về nguồn nhân lực đưa ra là quan niệm xuyên suốt luận văn về nguồn nhân lực. Luận văn: Phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.

Theo nghĩa rộng, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lực con người của một quốc gia, một vùng lãnh thổ (vùng, tỉnh), là một bộ phận của các nguồn lực (nguồn lực tài chính, nguồn lực vật chất, nguồn lực con người …) có khả năng huy động, quản lý để tham gia vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội. [43, tr.65]

Nguồn nhân lực theo cách hiểu của các nhà kinh tế là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động của một quốc gia (một vùng lãnh thổ) trong một thời kỳ nhất định (có thể tính cho 1 năm, 5 năm, 10 năm phù hợp với chiến lược và kế hoạch phát triển).

Theo nghĩa hẹp, với tư cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế xã hội, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn lao động. Khái niệm “nguồn lao động” hiện nay cũng có khác biệt giữa các quốc gia. Nhưng nhìn chung có thể hiểu đó là một bộ phận của dân số bao gồm những người trong độ tuổi quy định có khả năng lao động, đóng góp vào sự phát triển kinh tế – xã hội.

Theo cách hiểu là nguồn lao động, Bộ Luật Lao động Việt Nam quy định nguồn lao động bao gồm số người trong độ tuổi từ 16 đến 60 đối với nam, từ 16 đến 55 đối với nữ có khả năng lao động, trừ những người tàn tật, mất sức không có khả năng lao động.

Nguồn nhân lực được xem xét trên góc độ số lượng và chất lượng. Số lượng nguồn nhân lực được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực. Về chất lượng, nguồn nhân lực được xem xét trên các mặt: tình trạng sức khoẻ, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn và năng lực phẩm chất… Cũng giống như các nguồn lực khác, số lượng và đặc biệt chất lượng nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất và văn hoá cho xã hội.

1.1.1.2. Nguồn nhân lực du lịch

Từ khái niệm nguồn nhân lực, nguồn nhân lực du lịch được hiểu là một nguồn lực bao gồm  toàn bộ lực lượng lao động có khả năng và đủ điều kiện cần thiết tham gia vào hoạt động du lịch, đóng góp vào quá trình phát triển du lịch.

Nguồn nhân lực du lịch bao gồm cả lao động trực tiếp và lao động gián tiếp, lao động hiện có và lao động tiềm năng, bổ sung cho sự phát triển của ngành. Trong hoạt động du lịch, lao động trực tiếp là những người làm việc trong cơ quan quản lý nhà nước về du lịch, các đơn vị sự nghiệp du lịch và các đơn vị kinh doanh du lịch; lao động gián tiếp là những người làm việc trong các ngành, các lĩnh vực có liên quan đến hoạt động du lịch như: văn hoá thông tin, hải quan, giao thông, thương mại, bưu chính viễn thông, dịch vụ công cộng, cộng đồng dân cư…

Ở đây luận văn chỉ đề cập đến đội ngũ lao động trực tiếp trong ngành du lịch.

1.1.2. Phát triển nguồn nhân lực du lịch Luận văn: Phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.

1.1.2.1. Phát triển nguồn nhân lực

Có nhiều nghiên cứu và quan niệm về phát triển nguồn nhân lực nhưng nhìn chung, phát triển nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể các hình thức, phương pháp, chính sách và biện pháp nhằm tăng cường về mặt chất lượng, hoàn thiện và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, được biểu hiện ở việc nâng cao trình độ giáo dục, trình độ chuyên môn, kỹ thuật, sức khoẻ, thể lực cũng như ý thức, đạo đức của nguồn nhân lực (trí tuệ, thể chất, phẩm chất) nhằm đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội trong từng giai đoạn phát triển. [24]

Như vậy, phát triển nguồn nhân lực về thực chất là phát triển về số lượng và chất lượng theo nhu cầu phát triển của một ngành, một vùng, lãnh thổ, quốc gia:

Phát triển nguồn nhân lực về mặt số lượng: Nguồn nhân lực của một vùng lãnh thổ, một quốc gia về mặt số lượng thể hiện ở quy mô dân số, cơ cấu về giới và độ tuổi. Theo đó nguồn nhân lực được gọi là đông về số lượng khi có quy mô dân số lớn, tỷ lệ người trong độ tuổi lao động cao.

Phát triển nguồn nhân lực về mặt chất lượng: Chất lượng nguồn nhân lực được xem xét trên ba mặt: trí lực, thể lực và nhân cách, thẩm mỹ. Phát triển nguồn nhân lực về mặt chất lượng về thực chất là phát triển trên cả ba mặt đó của người lao động.

Phát triển trí lực là phát triển năng lực trí tuệ. Đó là quá trình nâng cao trình độ dân trí, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, sức sáng tạo và kỹ năng, kỹ xảo của người lao động trong hoạt động thực tiễn. Quá trình này chịu ảnh hưởng, tác động của nhiều nhân tố trong đó giáo dục – đào tạo giữ vai trò quyết định. Do vậy trong thời đại nền kinh tế tri thức như hiện nay, đồng thời với việc xem con người là nguồn lực quan trọng nhất thì giáo dục và đào tạo đều được các quốc gia đặt ở vị trí số một trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội và phát triển nguồn nhân lực. Luận văn: Phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.

Phát triển thể lực là sự gia tăng chiều cao, cân nặng, tuổi thọ, sức mạnh và độ dẻo dai của thần kinh, cơ bắp. Vấn đề này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: điều kiện tự nhiên, giống nòi, thu nhập và cách thức phân bố chi tiêu, môi trường, điều kiện làm việc, chế độ nghỉ ngơi, các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cộng đồng (giáo dục, văn hoá, y tế, thể dục thể thao…). Trong đó, ngoài yếu tố giống nòi, thu nhập và các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ giữ một vai trò đặc biệt quan trọng. Những yếu tố này chỉ có thể được cải thiện trên cơ sở phát triển kinh tế xã hội.

Phát triển yếu tố nhân cách, thẩm mỹ là phát triển yếu tố văn hoá, tinh thần và quan điểm sống: tính tích cực, dám nghĩ, dám làm, đạo đức, tác phong, lối sống… của người lao động. Đó là quá trình nâng cao trình độ nhận thức, các giá trị cuộc sống, tinh thần trách nhiệm, khả năng hoà hợp với cộng đồng, đấu tranh với các tệ nạn để xây dựng lối sống lành mạnh và hình thành tác phong công nghiệp trong lao động.

Phát triển nguồn nhân lực có vai trò và ý nghĩa quyết định đối với sự phát triển kinh tế xã hội. Nguồn nhân lực được phát triển bằng nhiều con đường khác nhau nhưng chủ yếu và quan trọng vẫn là qua giáo dục đào tạo.

Mục đích chính của phát triển nguồn nhân lực là sử dụng tối đa nguồn nhân lực. Quá trình phát triển nguồn nhân lực là để chuẩn bị cho con người thực hiện tốt hơn và có am hiểu hơn về công việc của họ, phát triển những kỹ năng, những hiểu biết nhất định, phát triển thái độ làm việc cũng như sự hợp tác tự nguyện trong quá trình lao động.

Mục tiêu cuối cùng của phát triển nguồn nhân lực là đạt được hiệu quả cao nhất về tổ chức.

Mục tiêu cơ bản của phát triển nguồn nhân lực là:

  • Xây dựng và thực hiện một kế hoạch phát triển nguồn nhân lực bằng những hoạt động phát triển và đào tạo, thực hiện phân tích đánh giá nhu cầu cần được đào tạo của người lao động ở mỗi trình độ.
  • Chuẩn bị đội ngũ chuyên gia để quản lý, điều khiển và đánh giá chương trình đào tạo và phát triển.
  • Nghiên cứu về nhân lực, cơ cấu, số lượng, chất lượng và nhu cầu cần đào tạo, phát triển.
  • Xây dựng kế hoạch phát triển cho từng thời kỳ nhất định.

1.1.2.2. Phát triển nguồn nhân lực du lịch

Xuất phát từ quan niệm về phát triển nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực du lịch được hiểu là những hoạt động nhằm tăng cường về số lượng, nâng cao chất lượng, hiệu quả làm việc với cơ cấu hợp lý của lực lượng lao động tham gia làm việc trong ngành du lịch.

Nội dung của phát triển nguồn nhân lực du lịch tập trung vào một số vấn đề cơ bản:

  • Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý và lao động trong ngành
  • Phát triển đội ngũ giáo viên, giảng viên, đào tạo viên du lịch
  • Đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng cường năng lực cho các cơ sở đào tạo du lịch
  • Ứng dụng công nghệ mới trong phát triển nguồn nhân lực du lịch
  • Tăng cường năng lực quản lý phát triển nguồn nhân lực du lịch – Nâng cao nhận thức cộng đồng về du lịch.

1.2. Đặc điểm lao động trong du lịch Luận văn: Phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.

1.2.1. Đặc điểm chung của lao động trong du lịch

Lao động mang tính xã hội hóa cao, liên quan đến nhiều lĩnh vực, nhiều đối tượng khách khác nhau, công việc mang tính phục vụ chịu tác động bởi mối quan hệ người – người Lao động có mức độ chuyên môn hoá cao và tổ chức theo các bộ phận: Trong kinh doanh khách sạn, có nhiều loại hình dịch vụ bao gồm dịch vụ lưu trú, ăn uống và các dịch vụ bổ sung. Vì vậy lao động cũng thường được chia thành nhiều bộ phận: bộ phận quản lý, bộ phận tiền sảnh, bộ phận phục vụ ăn uống, bộ phận tiệc, bộ phận phục vụ buồng, an ninh, kỹ thuật. Mỗi bộ phận trong khách sạn hoạt động theo quy trình, nghiệp vụ riêng và tương đối độc lập.

Trong kinh doanh lữ hành, đội ngũ lao động bao gồm phát triển sản phẩm, marketing, tư vấn và bán, điều hành và hướng dẫn du lịch, quản lý chất lượng sản phẩm. Chẳng hạn, lao động tư vấn và bán sản phẩm lữ hành đòi hỏi có kiến thức rộng, khả năng giao tiếp tốt, tính chuyên nghiệp cao, cập nhật thông tin để thực hiện tư vấn cho khách; người điều hành, hướng dẫn viên phải có khả năng tổ chức và quản lý, có kinh nghiệm, văn hoá giao tiếp cao, đặc biệt văn hoá giao tiếp ứng xử và văn hoá giao tiếp ngôn ngữ. Lao động trong doanh nghiệp lữ hành hội tụ các đặc điểm lao động của nhà nghiên cứu, nhà viết kịch bản, nhà đạo diễn, nhà quản lý, nhà kinh tế, nhà tổ chức, nhà kinh doanh, nhà ngoại giao, nhà tâm lý, nhà giáo và là diễn viên.

Khả năng cơ giới hoá và tự động hoá thấp: Trong ngành dịch vụ, nhân tố con người luôn giữ vai trò quan trọng, trong khi đó sản phẩm chủ yếu của du lịch là dịch vụ, tất nhiên cũng có một số công việc có thể sử dụng các phần mềm quản lý. Đối với ngành khách sạn, con người là yếu tố quyết định sự thành bại của hoạt động kinh doanh do có ảnh hưởng trực tiếp tới mức độ hài lòng của khách. Mọi công đoạn đón tiếp, phục vụ và tiễn khách không thể thiếu sự tham gia trực tiếp của con người, đội ngũ lao động trong khách sạn. Đối với hoạt động của hướng dẫn viên, đây là hoạt động tổ chức và phục vụ khách du lịch, cung cấp các dịch vụ, vì vậy không thể thay thế bằng hệ thống máy móc. Sản phẩm lữ hành được tạo ra theo một quy trình mang tính tổng hợp cao và rất đa dạng nên khả năng cơ giới hoá, tự động hoá trong công việc là rất thấp.

Thời gian lao động phụ thuộc vào nhu cầu của khách: Khách sạn là đơn vị kinh doanh liên tục 24/24 giờ, nhân viên luôn trong trạng thái sẵn sàng phục vụ khách vào mọi thời điểm. Làm việc theo ca là đặc trưng cơ bản của đội ngũ lao động trong khách sạn. Lao động trong du lịch làm việc mọi lúc mọi nơi theo yêu cầu của khách, thậm chí không kể ngày đêm, ngày lễ, tết, ngày nghỉ… Luận văn: Phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.

Lao động mang tính thời vụ cao: Tính thời vụ trong kinh doanh du lịch chịu sự tác động của nhiều yếu tố như: tự nhiên, kinh tế xã hội, tâm lý xã hội. Do tính thời vụ mà cơ cấu lao động du lịch luôn biến đổi. Chính vụ doanh nghiệp cần huy động một đội ngũ lao động lớn như điều hành, hướng dẫn viên, nhân viên tư vấn du lịch, nhân viên phục vụ. Ngoài vụ lại cần một số lượng lớn lao động phát triển thị trường, tư vấn. Điều này gây khó khăn cho việc tổ chức quản lý lao động.

Yêu cầu cao về kiến thức, tính chuyên nghiệp và văn hoá giao tiếp cũng như đòi hỏi cao về thể lực và sức ép tâm lý: Thường xuyên phải tiếp xúc, phục vụ các đối tượng khách đa dạng về lứa tuổi, nghề nghiệp, trình độ, đặc điểm tâm lý, quốc tịch, cùng với các nhu cầu rất khác nhau, người phục vụ du lịch phải đảm bảo đem lại dịch vụ hoàn hảo nhất cho khách, điều đó đặt họ trong trạng thái luôn sẵn sàng phục vụ và phải luôn cân bằng, che giấu những cảm xúc thực của mình đồng thời phải nắm bắt được tâm lý khách làm sao phục vụ họ tốt nhất. Bên cạnh đó người lao động du lịch còn thường xuyên phải tiếp nhận các yêu cầu, phàn nàn, xử lý các tình huống phức tạp, hoạt động kiểm tra, giám sát chặt chẽ trong quá trình làm việc cũng gây nên áp lực tâm lý nặng nề, căng thẳng. Trong kinh doanh khách sạn do đặc trưng làm việc ca kíp, đòi hỏi người lao động phải có sức khoẻ tốt, có sức chịu đựng dẻo dai. Bên cạnh sự đòi hỏi tính chuyên nghiệp trong phục vụ, trình độ tay nghề, nghiệp vụ, người lao động còn phảI am hiểu thêm nhiều lĩnh vực khác để cung cấp thông tin cho khách. Kinh doanh lữ hành đòi hỏi người lao dộng phải có kiến thức rộng trong nhiều lĩnh vực, có chuyên môn giỏi, giao tiếp tốt, sức khoẻ tốt, hình thức bảo đảm theo yêu cầu, có phẩm chất tâm lý nhiệt tình, hăng say, năng động, tư duy sáng tạo và đặc biệt là tinh thần trách nhiệm cao. Ngoại ngữ và tin học được coi như công cụ hành nghề của lao động trong kinh doanh lữ hành. Do đặc thù công việc (về thời gian, không gian, đối tượng phục vụ), lao động trong kinh doanh lữ hành phải hết sức khéo léo, linh hoạt, kiên trì, nhẫn nại và phải có sức khoẻ dẻo dai trong quá trình phục vụ và xử lý các tình huống.

1.2.2. Đặc điểm của nhóm lao động chức năng quản lý nhà nước về du lịch

Nhóm lao động này bao gồm những người làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch từ trung ương đến địa phương. Ở nước ta, nhóm lao động này làm việc ở Tổng cục Du lịch, Sở Du lịch, Sở Thương mại – Du lịch, Sở Du lịch – Thương mại của các tỉnh, thành phố; phòng quản lý du lịch ở các quận, huyện, giữ vai trò trong việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch của quốc gia và địa phương, tham mưu cho các cấp uỷ Đảng và chính quyền trong việc đề ra đường lối và chính sách phát triển du lịch, đại diện cho nhà nước hướng dẫn, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp du lịch kinh doanh có hiệu quả đồng thời kiểm tra, giám sát các hoạt động kinh doanh đó.

Bộ phận lao động này thường chiếm tỉ lệ không lớn trong toàn bộ đội ngũ nhân lực du lịch. Yêu cầu về trình độ của bộ phân này cao, kiến thức rộng, đặc biệt là kiến thức, khả năng về quản lý nhà nước và chuyên môn về du lịch. [9, tr.134]

1.2.3. Đặc điểm của nhóm lao động chức năng sự nghiệp ngành du lịch

Bộ phận này bao gồm những người làm việc ở các cơ sở liên quan đến giáo dục – đào tạo như: cán bộ giảng dạy ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp về du lịch, cán bộ nghiên cứu ở các viện khoa học về du lịch, giữ nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học về du lịch, có vai trò to lớn trong công tác phát triển nguồn nhân lực du lịch. Số lượng và chất lượng nguồn nhân lực du lịch hiện tại và tương lai có đáp ứng được nhu cầu phát triển của ngành hay không là do đóng góp của những người làm công tác đào tạo.

Đây là đội ngũ lao động đòi hỏi phải có trình độ học vấn cao, trình độ chuyên môn sâu về lĩnh vực du lịch, phải được đào tạo cơ bản và lâu dài, có năng khiếu và đạo đức sư phạm, khả năng nghiên cứu khoa học độc lập. [9, tr.135]

1.2.4. Đặc điểm của nhóm lao động chức năng kinh doanh du lịch Luận văn: Phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.

1.2.4.1. Đặc điểm của nhóm lao động chức năng quản lý chung của doanh nghiệp du lịch

Nhóm lao động này là những người đứng đầu (người lãnh đạo) các cơ sở kinh doanh: Kinh doanh khách sạn, hãng lữ hành du lịch, vận tải… (như: Tổng Giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc…). Lao động của những người lãnh đạo là loại lao động trí óc đặc biệt, là người ra và tổ chức thực hiện các quyết định trong doanh nghiệp, đồng thời lao động này mang tính tổng hợp với rất nhiều mối quan hệ khác nhau, vừa là lao động quản lý, vừa là lao động giáo dục, lao động chuyên môn, vừa là lao động của các hoạt động xã hội khác. Với tư cách là người quản lý, người lãnh đạo là người điều hoà các mối quan hệ, là tấm gương cho mọi người về nhiều mặt. Với tư cách là một nhà chuyên môn, người lãnh đạo là người tìm kiếm nhân tài, sử dụng người giỏi, tổ chức và điều hành công việc một cách trôi chảy đạt hiệu quả kinh doanh. Với tư cách là nhà hoạt động xã hội, người lãnh đạo còn tham gia các hoạt động kinh tế – xã hội khác trong đơn vị và theo yêu cầu của địa phương, ngành và đất nước (các tổ chức đoàn thể, các hiệp hội khoa học, kinh tế, kinh doanh, chính trị, văn hoá, thể thao…).

1.2.4.2. Đặc điểm của nhóm lao động chức năng quản lý theo các nghiệp vụ kinh tế trong doanh nghiệp du lịch

Nhóm lao động này bao gồm: lao động thuộc phòng kế hoạch – đầu tư và phát triển, lao động thuộc phòng tài chính – kế toán (phòng kinh tế), lao động thuộc phòng vật tư thiết bị, phòng tổng hợp, lao động thuộc phòng quản lý nhân sự… Nhiệm vụ chính của lao động thuộc các bộ phận này là tổ chức hạch toán kinh doanh, tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp, tổ chức lao động, tổ chức các hoạt động kinh doanh, hoạch định quy mô và tốc độ phát triển doanh nghiệp. Điểm nổi bật của lao động thuộc nhóm này là phải có khả năng phân tích các vấn đề đã, đang và sắp xảy ra trong doanh nghiệp, đồng thời biết tổng hợp các vấn đề, giúp cho lãnh đạo trong việc ra các quyết định quản lý. Để có cơ sở và khả năng phân tích – tổng hợp vấn đề, đòi hỏi người lao động quản lý theo các nghiệp vụ phải được đào tạo theo đúng chuyên ngành, có kiến thức hiểu biết về các lĩnh vực kinh doanh du lịch, phải năng động, khả năng thích nghi tốt, cùng với các vấn đề về đạo đức nghề nghiệp khác (khách quan, thẳng thắn, lành mạnh). Luận văn: Phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.

1.2.4.3. Đặc điểm của nhóm lao động chức năng đảm bảo điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp

Lao động thuộc nhóm này là những người không trực tiếp cung cấp sản phẩm và dịch vụ cho du khách, gồm nhân viên thường trực bảo vệ, nhân viên làm vệ sinh môi trường, nhân viên sửa chữa điện nước, nhân viên cung ứng hàng hoá, nhân viên tạp vụ. Nhiệm vụ chính của họ là cung cấp nhu yếu phẩm, phương tiện làm việc cho lao động thuộc các bộ phận khác của doanh nghiệp. Những yêu cầu đối với bộ phận này là luôn trong tình trạng nhận và hoàn thành nhiệm vụ, có những quyết định kịp thời giải quyết tốt mọi công việc hàng ngày cũng như đột xuất, năng động và linh hoạt trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

1.2.4.4. Đặc điểm của nhóm lao động trực tiếp cung cấp dịch vụ cho khách

Nhóm lao động này rất đông đảo, thuộc nhiều ngành nghề khác nhau đòi hỏi phải tinh thông nghề nghiệp và tùy theo từng lĩnh vực nghiệp vụ có những yêu cầu cụ thể. Trong khách sạn có: lao động thuộc nghề lễ tân, nghề phục vụ buồng, nghề chế biến nấu ăn, nghề phục vụ bàn và pha chế đồ uống. Trong kinh doanh lữ hành có: lao động làm công tác điều hành chương trình du lịch, marketing du lịch, lao động thuộc nghề hướng dẫn du lịch… Trong ngành vận chuyển khách du lịch có lao động thuộc nghề điều khiển phương tiện vận chuyển…

Đối với lao động thuộc nghề chế biến món ăn: Việc nấu ăn để phục vụ hoạt động du lịch khác rất nhiều với việc nấu ăn trong gia đình, bởi vậy yêu cầu đối với lao động làm nghề này đòi hỏi những điều kiện nhất định. Người đầu bếp phải có kiến thức về thẩm mỹ, về sử dụng gia vị, cân bằng âm dương trong ăn uống, phải có kỹ năng về cắt tỉa, thái, gọt rau củ quả để trình bày trong món ăn, các kỹ thuật chế biến món ăn: tẩm ướp, các phương pháp làm chín: luộc, hầm, chưng, xào, nấu, nướng…

Đối với lao động thuộc nghề phục vụ bàn: Sản phẩm của người nhân viên phục vụ bàn là các dịch vụ được thể hiện bằng cường độ lao động, nghệ thuật và thái độ ứng xử với khách hàng. Về mặt nghề nghiệp đòi hỏi người phục vụ phải có những kiến thức cơ bản về trình bày bàn ăn, biết cách phục vụ các món ăn đồ uống với những thao tác cơ bản như: bưng, bê, gắp, rót…, biết cách phục vụ các loại tiệc khác nhau…

Đối với lao động thuộc nghề pha chế và phục vụ đồ uống: Những người làm nghề này phải có kiến thức về đồ uống tự nhiên và đồ uống pha chế, đồ uống có cồn và đồ uống không cồn, các loại rượu khác nhau, các loại cocktail, cách thức pha chế, các loại ly cốc phù hợp, cách phục vụ, …

Đối với lao động thuộc nghề lễ tân: Nhân viên lễ tân được xem là bộ mặt của khách sạn, bởi vậy yêu cầu cần có không chỉ là ngoại ngữ, hình thức mà đòi hỏi phải có kiến thức về nghề lễ tân, về thị trường, về thanh toán quốc tế, về cách đón tiếp và phục vụ khách…, phải có thái độ nhã nhặn, phong cách lịch sự, nói năng mềm mỏng…

Yêu cầu đối với lao động thuộc nghề phục vụ buồng là phải có kiến thức về nghiệp vụ phục vụ buồng, các loại trang thiết bị trong buồng ngủ, cách giữ gìn và bảo quản, cách sử dụng các loại nguyên vật liệu và hoá chất…

1.3. Yêu cầu phát triển nguồn nhân lực du lịch Luận văn: Phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.

Yêu cầu về phát triển nguồn nhân lực du lịch thường liên quan đến số lượng, chất lượng và cơ cấu lao động cần bổ sung, tuyển dụng theo các ngành nghề, vị trí công việc và mục tiêu phát triển của ngành. Trên cơ sở các đặc điểm của hoạt động du lịch kết hợp với tình hình mới, nhiệm vụ mới và xu thế mới của nền kinh tế hiện nay, phát triển nguồn nhân lực du lịch cần đảm bảo một số yêu cầu cơ bản sau:

1.3.1. Yêu cầu về số lượng

Số lượng nhân lực là một trong những nhân tố quan trọng, góp phần bổ sung cho nguồn nhân lực toàn ngành du lịch nhằm thực hiện mục tiêu phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Sự phát triển về số lượng nguồn nhân lực du lịch không chỉ có ý nghĩa trong phạm vi ngành mà còn mang lại hiệu quả kinh tế – xã hội sâu rộng như việc giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động, thu hút lao động từ các ngành khác chuyển sang nhất là ngành nông nghiệp, góp phần vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nước ta nói chung và ở từng địa phương nói riêng.

Có thể coi tổng số học sinh, sinh viên được đào tạo từ các trường dạy nghề, trung cấp, cao đẳng và đại học về du lịch là nguồn cung cấp nhân lực chủ yếu cho du lịch. Tuy nhiên cũng cần loại trừ một số trường hợp lao động được đào tạo đúng ngành nghề nhưng lại làm trong lĩnh vực khác và ngược lại, cũng có những người lao động được sử dụng mà không được đào tạo về lĩnh vực chuyên môn. Việc cung cấp đủ lao động cho các nghiệp vụ cơ bản có ý nghĩa quyết định đối với hoạt động du lịch.

1.3.2. Yêu cầu về chất lượng Luận văn: Phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.

Chất lượng nguồn nhân lực là tổng thể những nét đặc trưng, phản ánh bản chất, tính đặc thù liên quan trực tiếp tới hoạt động sản xuất và phát triển con người, bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, năng lực, phong cách đạo đức, lối sống và tinh thần của nguồn nhân lực: trạng thái sức khỏe, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu nghề nghiệp, thành phần xã hội… của nguồn nhân lực. Chất lượng nguồn nhân lực cao góp phần làm tăng năng suất, hiệu quả lao động.

Chất lượng nguồn nhân lực du lịch được biểu hiện trực tiếp thông qua các kỹ năng cần thiết của người lao động về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng giao tiếp để hoàn thành các nhiệm vụ tương ứng với từng vị trí công việc. Yêu cầu này quyết định tới việc lực lượng lao động sử dụng có khả năng thực hiện tất cả các nhiệm vụ cần thiết một cách tốt nhất và đạt được các mục tiêu xác định hay không? Tất cả lao động trong ngành du lịch phải có trình độ học vấn phổ thông và phải được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ theo vị trí, ngành nghề công tác để có khả năng áp dụng các thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, có khả năng nhận thức và nắm bắt được các cơ hội kinh doanh. Ngoài yếu tố hạt nhân là kỹ năng chuyên môn, nghiệp vụ thì chất lượng nguồn nhân lực du lịch còn đòi hỏi các kỹ năng giao tiếp, ngoại ngữ, phẩm chất chính trị, khả năng tiếp thu, áp dụng kỹ thuật công nghệ tiên tiến và ý thức tự giác đối với cộng đồng xã hội và môi trường. Chất lượng nguồn nhân lực đòi hỏi phải luôn luôn được cải thiện và nâng cao không chỉ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về chất lượng dịch vụ du lịch của khách hàng mà còn đáp ứng yêu cầu của hội nhập khu vực và thế giới. Đồng thời yêu cầu về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch còn góp phần vào sự phát triển nền kinh tế tri thức và cải thiện trình độ dân trí.

Về trình độ học vấn: Tuỳ thuộc vào tính chất cụ thể của từng công việc mà yêu cầu về trình độ học vấn là khác nhau song nhìn chung toàn bộ lao động trong ngành phải có trình độ phổ thông.

Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ: Những yêu cầu về trình độ chuyên môn nghiệp vụ là cần thiết với tất cả các nhóm lao động chức năng trong hoạt động du lịch, đặc biệt là với lao động quản lý, sự nghiệp, kinh doanh, trực tiếp phục vụ khách.

Về trình độ ngoại ngữ: Trình độ ngoại ngữ là một yêu cầu mang tính chuyên môn nghiệp vụ của nhân lực du lịch. Trình độ ngoại ngữ được thể hiện bằng khả năng của người lao động có thể giao dịch với khách bằng ngôn ngữ nước ngoài ở những mức độ khác nhau. Yêu cầu về trình độ ngoại ngữ cũng khác nhau đối với từng công việc trong du lịch.

Yêu cầu chung về chất lượng nguồn nhân lực thể hiện ở các mặt sau đây:

  • Đảm bảo qua đào tạo được trang bị đúng và đủ kiến thức, kỹ năng, quy trình kỹ thuật nghiệp vụ, kỹ năng chuyên môn, kỹ năng giao tiếp : thể hiện cụ thể ở việc người lao động đó hoàn thành công việc được giao một cách tốt nhất (đối với cán bộ quản lý), thực hiện đúng đầy đủ các quy trình nghiệp vụ kỹ thuật theo từng nghiệp vụ cụ thể.
  • Tinh thần thái độ phục vụ chu đáo tận tuỵ: thể hiện ở việc tạo dựng cho đội ngũ trực tiếp trong ngành du lịch một tinh thần tận tuỵ với công việc không ngại khó không ngại khổ, chu đáo góp phần thoả mãn nhu cầu của khách một cách tốt nhất, tạo được ấn tượng và nâng cao chất lượng sản phẩm.
  • Có năng lực ngoại ngữ đảm bảo yêu cầu của từng nghiệp vụ cụ thể: thể hiện ở việc theo từng chuyên môn nghiệp vụ trong Ngành, đòi hỏi lao động phải có năng lực ngoại ngữ phù hợp, đảm bảo phục vụ khách du lịch một cách tốt nhất và là điều kiện để thực hiện được các điều kiện ở trên.
  • Đảm bảo lực lượng lao động giữa các vùng miền trên toàn quốc và các khu vực: thể hiện ở việc tránh tình trạng tranh giành lao động gây xáo trộn thị trường lao động du lịch, bởi vì sự phân bố không đồng đều về nhân lực du lịch cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng nguồn nhân lực. Luận văn: Phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.

 Về chất lượng đào tạo phải đảm bảo học sinh tốt nghiệp các cơ sở đào tạo du lịch hay thông qua các đào tạo hình thức đào tạo, bồi dưỡng khác tìm được việc làm trong ngành du lịch đúng với chuyên ngành đào tạo, được cơ sở sử dụng lao động thừa nhận và cuối cùng là phải đáp ứng được yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ của vị trí công việc.

Để đánh giá chất lượng nguồn nhân lực du lịch có thể dựa vào việc phân tích, đánh giá chất lượng đào tạo của hệ thống các trường có liên quan đến đào tạo du lịch, tập trung vào một số vấn đề cơ bản như: chương trình, nội dung đào tạo, chất lượng đội ngũ giáo viên, điều kiện cơ sở vật chất và các điều kiện khác hỗ trợ cho công tác đào tạo… Như vậy, vấn đề đặt ra là phải đảm bảo các yêu cầu đối với cơ sở đào tạo du lịch.

1.3.3. Yêu cầu đối với các cơ sở đào tạo du lịch

Để đảm bảo đáp ứng những yêu cầu phát triển nguồn nhân lực du lịch về lâu dài, chất lượng các cơ sở đào tạo về du lịch giữ vị trí quan trọng. Yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ là phải đảm bảo thực thi được các công việc ở vị trí làm việc của mình và đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế. Bởi vậy vấn đề đặt ra là phải tăng cường năng lực cho các cơ sở đào tạo trên nhiều mặt khác nhau, song nhìn chung có thể đưa ra một số yêu cầu đối với các cơ sở đào tạo du lịch là:

Chuẩn bị tốt cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ đào tạo, bao gồm hệ thống phòng học, phòng thực hành, phòng học ngoại ngữ, phòng học tin học, các trang thiết bị phục vụ giảng dạy đủ tiêu chuẩn. Tập trung hoàn thiện và đa dạng hoá hệ thống các giáo trình, tài liệu tham khảo.

Đây là những điều kiện quan trọng cho công tác đào tạo, nếu các cơ sở đào tạo đảm bảo đầy đủ các điều kiện này thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh sinh viên trong quá trình nghiên cứu, thực hành. Do đặc trưng của việc đào tạo ngành nghề du lịch mang tính ứng dụng thực tiễn, thực hành cao, các điều kiện hỗ trợ này có tác động rất lớn tới trình độ, kỹ năng thực hành, tay nghề của người học.

Nâng cao năng lực đội ngũ giáo viên cơ hữu cả về trình độ chuyên môn, ngoại ngữ. Đội ngũ giáo viên là những người truyền tải các nội dung đào tạo đến người học, kiến thức, kinh nghiệm, trình độ giảng dạy của đội ngũ giáo viên tác động không nhỏ tới chất lượng của học sinh sinh viên, chất lượng của cơ sở đào tạo. Đây là điều kiện mang tính quyết định cho công tác đào tạo của từng cơ sở và của toàn bộ hệ thống cơ sở đào tạo du lịch.

Chương trình và nội dung đào tạo cần sát với yêu cầu thực tiễn, nhờ đó sẽ đánh giá được chất lượng đầu ra của quá trình đào tạo. Luận văn: Phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.

Tăng cường giao lưu, hợp tác liên kết với cơ sở đào tạo du lịch nước ngoài ; Xã hội hoá hoạt động đào tạo.

1.3.4. Yêu cầu về thể lực và phẩm chất đạo đức

Thể lực là yêu cầu quan trọng để có thể đảm bảo hiệu quả công việc. Ngành du lịch là ngành dịch vụ có cường độ lao động trực tiếp cao, đồng thời còn là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển trí lực, biến tri thức thành sức mạnh vật chất và tham gia vào lực lượng sản xuất xã hội. Nhân lực du lịch cần có các phẩm chất đạo đức của lao động mới xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập thế giới và khu vực như: tính kỷ luật, tự giác, tính chính xác (về giờ giấc), tính chủ động, sáng tạo, bên cạnh đó đội ngũ nhân lực cần có lương tâm, đạo đức nghề nghiệp, có ý thức trách nhiệm với khách du lịch, cộng đồng, xã hội…

1.3.5. Yêu cầu về cơ cấu

Cơ cấu nguồn nhân lực thể hiện mối tương quan giữa những nhóm người lao động có cùng một dấu hiệu chung trong một tổ chức hoặc xã hội. Cơ cấu lao động hợp lý sẽ làm tăng năng suất lao động, tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội. Trong du lịch, lĩnh vực hoạt động mang tính tổng hợp, liên ngành nhiều lĩnh vực, việc xác định cơ cấu lao động hợp lý có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phục vụ, cung cấp sản phẩm cho nhu cầu đa dạng của du khách.

Cơ cấu nguồn nhân lực trước hết được hiểu là cơ cấu giữa các loại lao động tương ứng với các ngành nghề, vị trí công việc trong du lịch. Cơ cấu nguồn nhân lực du lịch đòi hỏi phải có sự hợp lý giữa các loại lao động theo yêu cầu phát triển của doanh nghiệp, đồng thời giữa các không gian lãnh thổ du lịch nhằm khai thác có hiệu quả nhất các tài nguyên du lịch trên các vùng lãnh thổ đó.

Hầu hết các hoạt động như: tuyển dụng, thử việc, tạo thêm việc làm mới, cho nghỉ việc, giãn việc, nghỉ hưu, thậm chí cả những việc nghiên cứu, giáo dục và đào tạo… đều tác động đến thị trường lao động nhằm đạt được cơ cấu lao động tối ưu, phù hợp với nhu cầu cụ thể về nhân lực của ngành.

Có thể xác định cơ cấu lao động trong du lịch theo một số tiêu chí: Cơ cấu theo độ tuổi, giới tính, theo lĩnh vực và nghiệp vụ phục vụ du lịch (khách sạn, nhà hàng, lữ hành, các dịch vụ khác), theo chức năng (quản lý, phục vụ trực tiếp…), theo trình độ (đại học, cao đẳng, trung học, nghề), theo không gian, vùng miền. Cơ cấu lao động phải đảm bảo hợp lý, cơ cấu ngành nghề đào tạo phải phù hợp với nhu cầu ngành nghề trong thực tế.

1.3.6. Một số yêu cầu khác Luận văn: Phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.

Du lịch là một ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt và được hưởng lợi từ tài nguyên nhưng cũng gây hại cho tài nguyên trong quá trình khai thác và phát triển. Hiện nay khi vấn đề phát triển bền vững là một trong những yêu cầu đặt ra đối với nhiều ngành, nhiều lĩnh vực trong quá trình phát triển trong đó có du lịch thì yêu cầu đối với nguồn nhân lực du lịch là phải có ý thức và khả năng thực thi các hoạt động cụ thể nhằm bảo vệ môi trường sinh thái và phát triển bền vững, đồng thời có khả năng hướng dẫn du khách và cộng đồng dân cư tham gia vào hoạt động này, kết hợp hài hòa giữa văn hóa truyền thống với văn hóa hiện đại, văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây trên nền tảng giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

1.4. Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực du lịch

1.4.1. Chính sách phát triển nguồn nhân lực nói chung

Trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới và khu vực cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và sự phát triển của nền kinh tế tri thức, vấn đề phát triển nguồn nhân lực có ý nghĩa vô cùng quan trọng.

Đảng và Nhà nước ta trong những năm qua đã áp dụng nhiều chính sách phát huy nguồn nhân lực, lao động lành nghề, lao động chất xám để tạo ra hàm lượng trí tuệ cao, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực góp phần thúc đẩy công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Điều đó được thể hiện trong các văn kiện của Đảng qua các kỳ Đại hội như: Văn kiện đại hội Đảng VII: “Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển”, văn kiện đại hội Đảng VIII: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh, bền vững”, văn kiện đại hội Đảng IX: “Con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá”.

Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nước ta có nhiều cơ hội để tăng trưởng và phát triển kinh tế từ đó tạo cơ sở vật chất và nguồn lực để giải quyết các vấn đề xã hội công bằng và tiến bộ, đồng thời cũng phải đối mặt với nhiều thách thức do nước ta xuất phát từ nước nông nghiệp lạc hậu, trình độ phát triển thấp, tư duy còn nặng tính tiểu nông.

Để phát huy những lợi thế và vượt qua các khó khăn, cần thực hiện đồng thời nhiều nhiệm vụ, nhiều chiến lược, chính sách phù hợp, một trong số đó là vấn đề phát triển nguồn nhân lực, tập trung vào:

Đổi mới tư duy về phát triển nguồn nhân lực và nâng cao sức cạnh tranh của người lao động trong đó chú trọng công tác giáo dục, đào tạo nghề theo hướng xã hội hoá và đa dạng hoá hình thức đào tạo, nâng cao sức khoẻ, năng suất, chất lượng làm việc và tăng thu nhập cho người lao động.

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, bảo đảm sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực đã qua đào tạo và có chính sách khuyến khích họ phát triển tài năng, tăng cường áp dụng khoa học công nghệ hiện đại…

Xây dựng và thực hiện quy hoạch hệ thống đào tạo, nâng cao hiệu quà hệ thống cung ứng dịch vụ việc làm và có chính sách ưu đãi, khuyến khích họ trong công tác phát triển nguồn nhân lực.

Tăng cường quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực

1.4.2. Quản lý phát triển nguồn nhân lực du lịch Luận văn: Phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.

1.4.2.1. Hệ thống tổ chức quản lý về phát triển nguồn nhân lực du lịch

Hệ thống tổ chức quản lý về phát triển nguồn nhân lực du lịch bao gồm chủ thể và khách thể quản lý được phân cấp theo thẩm quyền, chức năng, nhiệm vụ và vai trò, vị trí của mỗi nhân tố trong hệ thống quản lý.

Ở Trung ương, tổ chức quản lý về phát triển nguồn nhân lực du lịch được phân thành các đầu mối quản lý do các cơ quan quản lý Nhà nước đảm nhiệm. Bộ Giáo dục – Đào tạo quản lý Nhà nước về giáo dục đào tạo trong đó có giáo dục đào tạo du lịch; Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có chức năng quản lý Nhà nước về lao động và đào tạo nghề; Tổng cục Du lịch có chức năng quản lý Nhà nước về lĩnh vực Du lịch.

Ở địa phương, theo phân cấp quản lý, các cơ quan quản lý nhà nước liên quan đến phát triển nguồn nhân lực du lịch ở địa phương gồm: UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Sở Du lịch (Sở Du lịch – Thương mại…), Sở Giáo dục Đào tạo, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Nội vụ.

Cấp cơ sở: là bộ phận quản lý phát triển nguồn nhân lực của mỗi tổ chức, đơn vị hoạt động trong lĩnh vực du lịch (thường là phòng Tổ chức hành chính, phòng Nhân sự…).

Hệ thống đào tạo là những cơ sở đào tạo, đơn vị nghiên cứu thường xuyên cung cấp dịch vụ đào tạo, nghiên cứu phục vụ cho việc phát triển nguồn nhân lực du lịch, bao gồm đào tạo mới, đào tạo lại, bồi dưỡng cho xã hội và theo yêu cầu của các tổ chức đơn vị trong ngành Du lịch. Luận văn: Phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.

Đội ngũ chuyên gia, giáo viên, giảng viên: Là lực lượng lao động cung cấp dịch vụ tư vấn, kinh nghiệm, chất xám, thực hiện việc giảng dạy, huấn luyện, trực tiếp tác động vào quá trình nâng cao năng lực cho người học.

Người học: Là hạt nhân trong quá trình phát triển nguồn nhân lực, là những người đang và sẽ làm việc trong ngành Du lịch hay học sinh, sinh viên trong các cơ sở đào tạo về du lịch.

1.4.2.2. Hệ thống chính sách, khuôn khổ pháp lý về phát triển nguồn nhân lực du lịch

Hệ thống chính sách và pháp lý có ảnh hưởng trực tiếp tới cung và cầu lao động du lịch và cần xuất phát từ đường lối, chính sách chung của Nhà nước. Du lịch phát triển ở một địa phương dẫn tới thu hút một lượng lớn lao động với đủ lứa tuổi tham gia. Việc quy định chặt chẽ về độ tuổi lao động của luật pháp sẽ góp phần làm hạn chế bớt lao động không nằm trong độ tuổi được phép.

Du lịch là ngành mang tính thời vụ rõ rệt, cần nhiều lao động làm việc mang tính nhất thời. Vì vậy, việc quy định chặt chẽ các vấn đề liên quan đến tuyển dụng và hợp đồng lao động sẽ làm hạn chế khả năng cung cầu đối với loại lao động không thường xuyên này.

Xây dựng chức danh, tiêu chuẩn nghiệp vụ cho lao động trong ngành du lịch. Đối với một số lao động đặc thù trong ngành du lịch, các quy định nghề nghiệp sẽ làm hạn chế khả năng cung của những loại lao động này, đồng thời nâng cao tính chuyên nghiệp của đội ngũ lao động, hỗ trợ cho công tác tuyển dụng, bố trí, sắp xếp công việc phù hợp. Chẳng hạn, hướng dẫn viên du lịch cần có thẻ hành nghề hướng dẫn viên, nhân viên bàn, bar, bếp phải đảm bảo các quy định về nghiệp vụ, tiêu chuẩn vệ sinh cá nhân, sức khoẻ…

Việc ban hành và hướng dẫn chính sách đãi ngộ vật chất và động viên tinh thần cho lao động trong lĩnh vực du lịch là cần thiết, tạo điều kiện cho người lao động yên tâm công tác, phát huy được kỹ năng nghề nghiệp… Trong ngành Du lịch, lực lượng lao động nữ thường chiếm tỷ lệ lớn, việc đưa ra các quy định, chính sách đãi ngộ là cần thiết để đảm bảo vấn đề về bình đẳng giới cũng như đảm bảo những quyền lợi của lao động nữ. Bên cạnh đó việc sử dụng lao động quốc tế trong lĩnh vực du lịch khá phổ biến. Điều này liên quan tới vấn đề nhập khẩu lao động, từ đó cần có các quy định cụ thể về vấn đề lao động quốc tế.

Như vậy, việc có một hệ thống chính sách Nhà nước gắn với phát triển nguồn nhân lực là cần thiết, gồm: Chính sách về quản lý phát triển nhân lực du lịch, quy định những tiêu chuẩn nghề nghiệp du lịch, chương trình đào tạo chuyên ngành; Chính sách về giáo dục – đào tạo du lịch: Quy định về cơ sở đào tạo du lịch, chương trình đào tạo, tiêu chuẩn giáo viên, chế độ đối với giáo viên, người học; Chính sách về lao động du lịch: Quy định chế độ làm việc, chế độ đãi ngộ.  1.4.2.3. Quản lý Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng nhân lực cho du lịch  Thứ nhất, đó là nắm bắt nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng nhân lực. Việc nấm bắt nhu cầu đào tạo là cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo nhân lực du lịch, giúp các cơ sở đào tạo xác định được mục tiêu đào tạo, xây dựng chương trình đào tạo đáp ứng được những đòi hỏi của thực tế, đem lại một số lợi ích như: công việc phù hợp cho người lao động, nhân lực phù hợp cho yêu cầu của doanh nghiệp, nâng cao uy tín của cơ sở đào tạo.

 Thứ hai, định hướng cơ cấu đào tạo hợp lý cho các ngành nghề, vị trí công việc trong du lịch nhằm đảm bảo hiệu quả về kinh tế – xã hội, tránh tình trạng mất cân bằng cung cầu trong thị trường lao động, tránh tình trạng “thừa thầy thiếu thợ” hoặc “dở thầy, dở thợ”. Cơ cấu đào tạo cần đào tạo đồng bộ từ nhân viên phục vụ đến cán bộ quản lý…, đào tạo ở các bậc khác nhau.  “Theo kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới (đặc biệt là các nước EU) và của nhiều chuyên gia du lịch cho thấy định hướng Nhà nước về cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực được coi là hợp lý và có hiệu quả, góp phần thúc đẩy du lịch phát triển với mức tăng trưởng cao, có thể áp dụng được là cơ cấu đào tạo theo tỷ lệ 5 : 10 : 85. Nghĩa là cứ 100 người thì trong đó:

5 người là lao động lãnh đạo quản lý – chủ yếu tập trung đào tạo ở các trường đại học;

10 người là lao động chuyên viên kinh tế hoặc kỹ thuật – tập trung đào tạo ở các khoa, trường chuyên ngành khách sạn và du lịch; Luận văn: Phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.

 85 người là lao động trực tiếp phục vụ khách du lịch – đào tạo ở các trung tâm dạy nghề, trường dạy nghề hoặc trường công nhân kỹ thuật.” [9, 164]  Thứ ba, thống nhất chuẩn hóa, giám sát việc xây dựng và vận dụng chương trình đào tạo. Mỗi nghề nghiệp trong hoạt động kinh doanh du lịch đều yêu cầu có một kỹ năng nhất định và mang tính chất đặc trưng, vì vậy cần làm rõ nhiệm vụ, chức năng của mỗi nghề làm căn cứ xây dựng chương trình đào tạo. Công tác quản lý và chuẩn hóa chương trình đào tạo cần được đẩy lên tầm tiêu chuẩn quốc tế, thuận lợi hơn cho hoạt động hợp tác quốc tế và hội nhập về đào tạo nhân lực du lịch.

Thứ tư, đầu tư xây dựng hệ thống các cơ sở đào tạo và xác định các hình thức đào tạo phù hợp.

Bên cạnh đó cần quản lý tốt công tác tuyển sinh đầu vào, quan tâm đến đội ngũ giáo viên, sự đầu tư thỏa đáng về tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị dạy học, thực hành…, điều kiện thực tế, thực tập…

1.5. Vai trò của phát triển nguồn nhân lực đối với hoạt động du lịch

Có thể nói, nguồn nhân lực là một trong những yếu tố đầu vào quan trọng của mỗi ngành kinh tế, mỗi tổ chức xã hội nhằm đảm bảo đạt được mục tiêu, nhiệm vụ đề ra trong quá trình phát triển ở mỗi giai đoạn nhất định. Nếu như trước kia, sự giàu có, sức mạnh của một quốc gia, dân tộc thường đồng nghĩa với sự phong phú của các nguồn tài nguyên, nguồn lực vật chất thì trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với cuộc cách mạng khoa học công nghệ như hiện nay, quan niệm về sự giàu có đã thay đổi, đất nước nào giàu tài nguyên trí tuệ là đất nước giàu có và vững mạnh. Nguồn nhân lực là động lực của phát triển kinh tế – xã hội, phát triển nguồn nhân lực là mục tiêu hàng đầu, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.

Du lịch là ngành dịch vụ với những đặc trưng riêng có so với các ngành kinh tế khác, phụ thuộc nhiều hơn vào yếu tố con người. Các dịch vụ du lịch chủ yếu do con người cung cấp trực tiếp cho khách, chất lượng của sản phẩm dịch vụ du lịch do yếu tố con người quyết định. Khác với một số ngành kinh tế khác, hoạt động du lịch khó có thể cơ khí hoá, tự động hoá mà phần lớn được thực hiện bởi trực tiếp người lao động. Nếu thiếu vai trò của người phục vụ du lịch ở một trong những khâu phục vụ thì hoạt động du lịch không thể thực hiện được.

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố con người. Phát triển nguồn nhân lực du lịch sẽ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, đem lại lợi ích nhiều mặt cho hoạt động kinh doanh du lịch nói riêng và nền kinh tế – xã hội nói chung.

Phát triển nhân lực du lịch là đầu tàu trong việc nghiên cứu, hoạch định chính sách thúc đẩy phát triển du lịch theo hướng bền vững. Luận văn: Phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.

Phát triển nguồn nhân lực du lịch đảm bảo đủ về số lượng, tốt về chất lượng và cơ cấu hợp lý với đội ngũ công nhân lành nghề, những nhà nghiên cứu, chuyên gia giỏi chuyên môn, nghiệp vụ, những doanh nhân năng động, những nhà lãnh đạo quản lý giỏi, có tầm nhìn chiến lược cùng với đó là đạo đức nghề nghiệp, tinh thần yêu nước, trách nhiệm của đội ngũ lao động du lịch là điều kiện để đảm bảo “phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn” như Đảng và Nhà nước ta đã xác định.

Trong ngành du lịch còn nhiều công việc không cần các kỹ năng chuyên nghiệp hoặc yêu cầu trình độ chuyên môn kỹ thuật không cao nên nhân viên chỉ cần qua đào tạo tại chỗ hoặc qua các lớp học  nghề ngắn hạn cũng có thể thực hiên được một số công việc có năng suất như những người được đào tạo chính quy. Các doanh nghiệp trong thực tế thường thích tuyển lao động chưa qua đào tạo hoặc tuyển những nhân viên có trình độ ban đầu thấp, làm bán thời gian để sau đó cung cấp cho họ một số chương trình đào tạo nghề và kèm cặp tại chỗ. Đối với người lao động trong trường hợp này họ có thể bắt đầu công việc và có thu nhập sớm hơn từ các kỹ năng thu nhận được tại nơi làm việc. Như vậy đối với những người lao động không được đào tạo chuyên nghiệp thì ngành du lịch là sự lựa chọn tốt về công việc. Có thể thấy đây là quan niệm không đúng về việc làm trong ngành du lịch, ít nhiều ảnh hưởng tới chất lượng dịch vụ du lịch. Vì vậy cần xác định phát triển nguồn nhân lực du lịch là cần thiết, sẽ góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng nhân lực trong du lịch và thay đổi quan niệm trên của nhiều người khi tham gia làm trong ngành du lịch.

Chất lượng của sản phẩm du lịch và chất lượng của nguồn nhân lực có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong khi thời gian để tạo nên một sản phẩm vật chất là khá nhanh chóng, quản lý tương đối dễ dàng thì chất lượng nguồn nhân lực du lịch lại cần nhiểu thời gian, công sức, công tác quản lý cũng phức tạp hơn. Những khu du lịch tiêu chuẩn quốc tế, những khách sạn cao cấp, tiện nghi sang trọng… sẽ không thể xứng tầm giá trị và chất lượng dịch vụ nếu không có một đội ngũ nhân lực du lịch chuyên nghiệp, có chất lượng tương xứng. Vì vậy, phát triển nguồn nhân lực du lịch, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực du lịch là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành du lịch trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá, đồng thời đảm bảo định hướng phát triển bền vững. Luận văn: Phát triển nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng nguồn nhân lực du lịch Quảng Ninh

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537