Tiểu luận: Người bảo vệ và Phát triển thành công triết học Mác

Chia sẻ đề tài Tiểu luận: Người bảo vệ và Phát triển thành công triết học Mác, đến các bạn sinh viên tham khảo. Và còn rất nhiều đề tài tiểu luận khác được Dịch vụ viết luận văn cập nhập hàng ngày đến các bạn sinh viên ngành luật, nếu như các bạn muốn tham khảo nhiều bài viết hơn nữa thì tham khảo tại trang website của Dịch vụ viết luận văn nhé.

Ngoài ra, các bạn có gặp khó khăn trong việc làm bài tiểu luận môn học, hay tiểu luận tốt nghiệp thì liên hệ với Dịch vụ viết luận văn để được hỗ trợ làm bài. Hoặc các bạn có thể tham khảo dịch vụ viết thuê tiểu luận tại đây nhé.

===> Dịch Vụ Viết Thuê Tiểu Luận Môn

I. Lênin (1870 – 1924) – vị lãnh  tụ vĩ đại của giai  cấp  vô  sản,  người  đã đấu tranh không mệt mỏi để bảo  vệ tính đúng  đắn  của  chủ  nghĩa  Mác.  Bằng những  nghiên  cứu  và  kết  luận  khoa  học  của  mình,  V.  I.  Lênin  đã  làm  phong phú chủ nghĩa  Mác,  đưa  chủ  nghĩa  Mác  sang một  giai  đoạn  mới cao  hơn,  giải  đáp những vấn đề cơ bản mà thời đại đặt ra cho giai cấp vô sản quốc tế.

I/ HOÀN CẢNH LỊCH SỬ: (Tiểu luận: Người bảo vệ và Phát triển thành công triết học Mác)

Chủ nghĩa Mác từ giữa thế kỷ  XIX  với Tuyên  ngôn  của  Đảng  Cộng sản bất hữu. Kể từ đó, giai cấp công  nhân  đã  có  một  học  thuyết  cách mạng dẫn đường trong cuộc đấu tranh chống áp bức, bốt lột của giai cấp  tư  sản  nhằm  giải phóng mình và  giải  phóng  toàn  nhân  loại.  Dưới  ngọn  cờ  của  chủ  nghĩa  Mác, giai cấp công nhân đã  được  tổ  chức,  được  lãnh  đạo  bởi  chính  Đảng  của  mình. Ảnh hưởng của  chủ  nghĩa  Mác  ngày  càng  lan  rộng ra  nhiều  khu  vực  trên  thế giới.

Sau C. Mác, Ăngghen đã cụ thể hóa luận điểm này và nhấn mạnh: về nguyên  tắc, giai  cấp  công  nhân  không  còn  con  đường   nào  khác   là  phải  giành lấy chính quyền và thiết lập  nền  chuyên  chính  của  mình  thông qua  con  đường  cách  mạng  xã hội chủ nghĩa. Như vậy, theo chủ nghĩa Mác, chuyên chính vô sản thực chất là sự thống trị của  giai  cấp  công nhân,  do  cách  mạng xã  hội  chủ  nghĩa sinh ra và có sứ mệnh xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội

Đến giai đoạn Lênin, yêu cầu tổng kết, khái quát, bảo  vệ  và  phát  triển  sáng tạo quan niệm  của  chủ  nghĩa  Mác về  chuyên chính  vô sản được  đặt  ra  hết sức cấp bách. Sở dĩ như vậy vì : (Tiểu luận: Người bảo vệ và Phát triển thành công triết học Mác)

+Cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa  tư  bản chuyển sang  giai  đoạn chủ nghĩa đế quốc, điều  này  đã  làm  tăng  thêm  khả  năng  kinh  tế của  các  nước tư  bản chủ  nghĩa,  nhưng  nó  lại làm  cho  bản chất  bốc  lột  và thống trị  của  tư  bản ngày  càng  biểu  hiện  rõ  ra,  kéo  theo  những  mâu  thuẩn  trong lòng  xã  hội tư bản ngày càng trở nên gay gắt. Sự  phát  triển đó đã mang lại  cho  khoa  học  và triết học những động lực phát triển mới.

+ Mâu thuẫn trong lòng các nước tư bản  ngày  càng  thể  hiện  một  cách  rõ nét, chủ nghĩa  tư  bản  chuyển  sang  giai  đoạn  chủ  nghĩa  đế  quốc  –  giai  đoạn  “đêm trước của cách mạng vô sản”. Bên  cạnh  đó,  trong hàng  ngũ  những  người cộng sản đã xuất hiện những phần  tử  cơ  hội,  chống  lại  những  quan điểm  cơ  bản của chủ nghĩa Mác về chuyên chính vô sản như E.  Bextanh,  C.  Causki.  Những  người này chủ trương tiến tới  chủ  nghĩa  xã  hội  bằng  con  đường  hòa  bình, phủ nhận  tính  chất  giai  cấp  của  nhà  nước.  Mặt  khác,  cực  đoan  hơn,  những người theo chủ nghĩa vô chính  phủ  còn  chống lại  bất  cứ  một  quan  niệm  nào  về  tổ chức nhà nước, kể cả nhà nước chuyên chính vô sản.

+ Trong lĩnh vực khoa học tự nhiên có  những  phát  minh  lớn  mang tính vạch thời đại, nhất  là  phát  hiện  về  điện  tử và  cấu  tạo nguyên tử đã làm đảo  lộn  về quan niệm căn bản về thế giới của vật lý học cổ điển, dẩn tới cuộc khủng hoảng vật lý. Lợi dụng tình hình đó, chủ nghĩa duy tâm, trong đó có chủ nghĩa Makhơ-một thứ chủ  nghĩa  duy  tâm  chủ  quan  –  tấn  công vào chủ  nghĩa  duy  vật nói chung, chủ nghĩa duy vật mácxít nói riêng. (Tiểu luận: Người bảo vệ và Phát triển thành công triết học Mác)

+Ở nuớc Nga, sau thất bại  của  cuộc  cách  mạng  1905-1907,  những người theo chủ  nghĩa  M akhơ  cũng  tăng  cường hoạt động lý luận, họ viện cớ bảo vệ chủ nghĩa Mac, nhưng thực chất là đã xuyên tạc triết học macxit. Cách mạng Tháng Hai năm 1917  phát  triển  thành  Cách  mạng xã hội chủ  nghĩa Tháng  Mười vĩ đại, lập  nên  nhà  nước  công nông đầu  tiên  trên  thế  giới,  mở  ra  thời  kỳ  mới của lịch sử  nhân  loại-  thời kỳ  quá  độ từ chủ nghĩa  tư  bản  lên  chủ  nghĩa  xã  hội trên phạm vi tòan thế giới.

+Xuất hiện nhiều khuynh hướng  triết  học tấn công vào triết học M ác: chủ  nghĩa kinh nghiệm phê phán, chủ  nghĩa thực dụng, chủ nghĩa xét lại,…đội lốt chủ nghĩ Mác, biểu hiện trong  phái  Mensêvích,  những  người  Nga  theo  chủ  nghĩa M akhơ, bọn xét lại trong Quốc tế II, điều  nhằm  mục  đích  phủ nhận  chủ  nghĩa Mác, và thay vào đó là các hình thức của chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo. (Tiểu luận: Người bảo vệ và Phát triển thành công triết học Mác)

Vấn đền đăc ra là cần phải đấu tranh về  mặt  lý  luận  để chống lại  các khuynh hướng tư tưởng  đối  lập,  bảo  vệ  và phát triển triết học Mác. Là một thanh niên trí thức có tư tưởng cấp tiến, không chấp nhận chế độ Nga hoàng thối nát lạc hậu, Lênin đã sớm  tham  gia  các  hoạt  động  cách  mạng chống  chế  độ hiện  hành.  Lênin  nhận  thấy  bản   chất  khoa  học  và  cách  mạng  của  chủ  nghĩa Mác, tự nguyện trở  thành  một  người  mátxít  và  chiến đấu đến  hơi  thở cuối cùng cho sự thành công của chủ nghĩa Mác. Người  đã  phát  triển toàn  diện chủ nghĩa Mác, đặc biệt là triết học,  với  những  kết  luận  phù hợp  với thực tiển  lịch sử  và  khoa học của thời kỳ này.

II/ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA  QUÁ  TRÌNH V.I.LÊN IN  PHÁT  TRIỂN TRIẾT HỌC MÁC : (Tiểu luận: Người bảo vệ và Phát triển thành công triết học Mác)

1/ G IAI ĐOẠN 1893-1907: từ  những  năm  80 của thế kỷ XIX , chủ nghĩa M ác được  truyền  vào  nuớc  Nga  thông  qua  nhóm  “  Giải phóng lao động” do Plêkhanốp đứng đầu.  Do  không  đứng  trên  lập  trường  của  giai  cấp  vô  sản, điều này đã đưa ông  xa  rời  lập  trường  macxit  và  chuyển  sang lập  trường  của nhóm cơ  hội  Mensêvích.  Do  đó,  V.I.Lênin  đã  viết  nhiều  tác  phẩm  quan  trọng để đấu tranh chống lại phái dân tuý, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác.

Tác phẩm “ Những người bạn dân là thế nào và họ đấu tranh chống những người dân chủ – xã  hội ra  sao”  (1984)  Lênin  đã  vạch  trần  bản  chất  phản cách mạng , giả danh “bạn của dân” của phái dân  tuý  Nga.  Ông  đã chỉ  ra mâu thuẩn trong xã hội N ga và  con  đường  phát  triển  tất  yếu  của  nước Nga,  vai  trò của giai cấp vô sản trong hội chủ nghĩa.

+ Lênin viết: “chỉ có đem những quan hệ  xã  hội  vào  những quan  hệ  sản xuất, và đem  những  quan  hệ  sản  xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vững chắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái quan  hệ  xã  hội  là  một  quá  trình  lịch sử-tự nhiên. Và dĩ nhiên là không có một quan điểm như thế thì không thể có  một  khoa  học  xã  hội được” đã  khẳng  định  những  quy  luật  khách  quan  quyết  định  sự  vận  động  của lịch sử xã hội trải qua các hình thái kinh tế xã hội. (Tiểu luận: Người bảo vệ và Phát triển thành công triết học Mác)

+V.I.Lênin đã làm cho phép biện chứng duy  vật  trở  thành  một  khoa  học chân chính khi vận dụng phương pháp  biện  chứng  của  triết  học  Mác vào  quá  trình vận động, phát triển của lịch sử để phát hiện ra các quy luật chi phối đời sống xã hội: “ K hông bao giờ có một  người mácxít nào đã xây dựng những quan điểm dân chủ-xã hội của mình trên một cơ sở nào khác, ngoài cái cơ sở là sự phù hợp của những quan điểm ấy với hiện thực  và với lịch sử  những quan  hệ kinh tế xã hội nhất  định…  Vì  về  mặt  lý  luận  thì  sự  đòi  hỏi  đó  đã  được chính bản thân Mác, người sáng lập ra chủ  nghĩa Mác,  nêu lên  một  cách  hoàn toàn  rõ ràng và chính xác, coi đó là cơ sở toàn bộ học thuyết của mình”.

+ Lênin chỉ rõ: “ Người ta  không  thể  có  một  lý  luận  cách mạng nào ngoài chủ nghĩa M ác cả. Họ  càng  mau  chóng dồn  hết  tâm  sức  của  mình  ra  để vận dụng lý luận đó vào nước Nga, cả về mặt lý luận lẫn về mặt thực tiển, thì thắng lợi của công tác cách mạng sẽ  càng  chắc  chắn  và  mau  chóng”.  “  Sức hấp  dẫn  không  gì  cưỡng  nổi  đã lôi  cuốn những người xã hội  chủ  nghĩa  của  tất   cả các nước đi  theo  lý  luận  đó,  chính  là ở chổ kết  hợp  tính chất  khoa học chặt  chẽ  và cao độ (đó là đỉnh cao  nhất  của  khoa  học  xã  hội)với  tinh  thận  cách  mạng… Một sự kết hợp nội tại và khăn khít”. Người đã chỉ  ra  vai  trò  nhân  tố chủ  quan trong cách mạng xã hội, vai trò quần chúng nhân dân và cá nhân lịch sử.

Tác phẩm  “Làm  gì?”(1902)  Lênin  đã  làm  sáng  tỏ  các  hình  thức  đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản trứơc khi giành  chính  quyền,  chỉ  ra  vai  trò  rất quan trọng của hệ tư tưởng lý luận trong cuộc đấu tranh cách mạng. Hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác không hình thành một cách tự phát trong phong trào công nhân, mà nó  được  truyền  bá,  giáo  dục  một  cách tự giác trong phong trào đó, vì vậy tuyên truyền lý  luận  cách  mạng là  một  nội dung  quan  trọng để  hướng tới mục tiêu đấu tranh chính trị trong cách mạng vô sản. (Tiểu luận: Người bảo vệ và Phát triển thành công triết học Mác)

Với tác phấm “ H ai sách  lược  của  Đảng  dân  chủ-xã  hội trong  cách  mạng dân  chủ”  (1905)  V.I.Lênin  đã  bác  bỏ quan điểm  của  phái  Mensêvích   và  phái xét lại  Tây  Âu  lúc  bấy  giờ,  đồng thời  chỉ  rõ  tính chất  của  cuộc cách  mạng Nga lần thứ nhất và bác bỏ quan điểm của các  lãnh  tụ cơ  hội  trong Q uốc  tế II,  để khẳng định rằng thắng lợi của cuộc cách mạng dân chủ  là  tiền  đề  cho  cuộc cách  mạng xã hội chủ  nghĩa.  Bên  cạnh  đó  Người  đã  nêu  lên  những  nội  dung  cơ  bản của cách mạng tư sản trong thời đại đế  quốc  chủ  nghĩa,  chỉ  rõ vai trò của quần chúng nhân dân, của nhân tố  chủ  quan,  của  các  Đảng chính  trị  trong cuộc  đấu tranh cách mạng để giành thắng lợi.

2/ GIAI ĐOẠN 1907 ĐẾN CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA : (Tiểu luận: Người bảo vệ và Phát triển thành công triết học Mác)

Ở nước Nga, sau  thất  bại  của  cuộc  cách  mạng  1905-1907,  nhũng người theo chủ nghĩa M akhơ  cũng  tăng cường hoạt động lý luận. Họ viện cớ bảo vệ chủ nghĩa Mác,  nhưng thực  chất  là  xuyên  tạch  chủ  nghĩa  mácxít.  Tình  hình này đặt ra  một  nhiệm  vụ  cấp  bách  là phải  tuyên chiến với các  tư tưởng đối lập,  bảo vệ và phát triển triết học  M ác,  xác  lập  thế giới  quan  duy  vật  và  phương pháp  biện chứng cho giai  cấp  công nhân  trong  cuộc  đấu  tranh  chống giai  cấp  tư  sản phản động.

Tác phẩm “Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán”(1908-1909)thể hiện sự kết hợp sâu sắc giữa tính đảng và tình khoa học trong triết học Mác. Qua tác phẩm này,  chúng ta nhận thấy  rằng Người  đã thực hiện xuất sắc nhiệm  vụ  mà  lịch  sử  đề  ra.  Lênin  không  chỉ  phê phán  quan  điểm duy tâm, siêu hình của những  người  theo  chủ  nghĩa  Makhơ  mà còn bổ sung  và phát triển chủ nghĩa duy  vật  biện chứng và duy  vật  lịch  sử  dựa trên cơ sở phân tích, khái quát nhũng thành tựu khoa học mới nhất,  trước  hết  là  khoa  học  tự nhiên thời đó. (Tiểu luận: Người bảo vệ và Phát triển thành công triết học Mác)

+ Về vấn đề cơ bản của triết học: Lênin đã vạch ra bản  chất  duy  tâm chủ quan của cái gọi là “phát minh vĩ đại”ra các yếu tố trung gian của phái Makhơ. Người viết: “Sự tồn  tại  của  vật  chất  không phụ  thuộc vào  cảm  giác.  Vật  chất  là cái có  trước,  cảm  giác,  tư tưởng ý  thức là  sản phẩm  cao nhất  của  vật  chất  được  tổ chức theo một cách thức đặt biệt. Đó là quan điểm của chủ nghĩa duy vật  nói  chung,  và  của  C.Mác  và Ph.Ăngghen nói riêng. Makhơ và Avênariút đã lén  lút du nhập chủ nghĩa duy vật  bằng  cách dùng chữ  “yếu tố”…  Thật  là  trẻ con  nếu nghĩ rằng bịa ra một từ mới là có  thể  tránh  được  những  trào  lưu  triết  học  cơ bản… Thưa các ngài,  triết  học  của  các  ngài  chỉ  là  chủ  nghĩa  duy  tâm  đã  uổng công che đậy sự trần trụi  của  chủ  nghĩa  duy  ngã của mình  bằng một  thuật  ngữ  khách quan hơn.

Hoặc giả “yếu tố” không phải chỉ là cảm  giác,  mà như  vậy  từ “mới” của các ngài tuyệt đối  không có  một  chút  ý  nghĩa nào cả,  và các ngài  chỉ  làm ồn lên vô ích mà  thôi”.  Mặc  khác, Người cũng chỉ rõ và phê phán tính đảng trong triết học Mackhơ và A vênariút: “Bây giờ  hãy  đứng trên quan  điểm  đảng phái trong triết học để xét Makhơ, Avênariút cùng trường phái của họ. Chà, các ngài ấy cứ tự hào về tính  không  đảng phái  của  mình,  và nếu  họ  có một cực đối lập thì họ chỉ có một  và chỉ có độc một…nhà  duy  vật  mà thôi.  (Tiểu luận: Người bảo vệ và Phát triển thành công triết học Mác)

Xuyên suốt tất cả những trước tác của  hết  thảy  mọi  người  theo  phái  Makhơ,  là  cái  tham vọng ngu dốt muốn vượt  lên  chủ  nghĩa  duy  vật  và  chủ  nghĩa  duy  tâm,  muốn khắc phục sự đối lập “cũ kỹ” ấy,  nhưng kỳ  thật,  thì  cả  đám  người  đó  cứ mỗi lúc một sa vào  chủ  nghĩa  duy  tâm  và  kiên  quyết  tiến  hành  tới  cùng một cuộc  đấu  tranh  chống  chủ  nghĩa  duy  vật”.  Theo  Lênin,  bản  chất  của các  học  giả tư sản đó là “Nói chung và về đại  thể  các  giáo  sư môn  kinh  tế đều chỉ là  những  học giả làm thuê  cho  giai  cấp  tư  bản,  còn  các  giáo  sư  triết  học  đều  chỉ  là  bọn học giả làm thuê cho phái  thần  học  mà  thôi.”  “Triết học  hiện đại cũng  có tính  đảng như triết học hai nghìn năm về trước.  Những  đảng  phái  đó đấu tranh với nhau, về thực  chất-  mặc  dù thực chất đó bị che dấu bằng những nhãn hiệu mới của  thủ  đoạn  lang  băm  hoặc  tính  phi  đảng  ngu  xuẩn-  là chủ  nghĩa  duy  vật  và chủ nghĩa duy tâm.”

+Về nhận thức luận:  Lênin  nêu  lên  những  nguyên  tắc  cơ  bản  của  nhận thức duy vật biện chứng khi phê phán quan  điểm  phủ nhận khả năng  con  người nhận thức thế giới  khách  quan  của  phái  Makhơ:  “1)  Có  những vật  tồn  tại  độc lập với ý thức của chúng ta, độc lập với cảm  giác  của  chúng  ta,  ở  ngoài chúng ta…2) Dứt khoát là không có và  không  thể  có  bất  kỳ  sự  khác  nhau  nào  về nguyên tắc giữa hiện tượng và  vật  tự  của  nó.  Chỉ có  sự  khác  nhau  gĩưa  cái  đã được nhận thức và cái chưa được  nhận  thức…3) Trong  lý  luận  nhận  thức,  cũng như trong tất cả những lĩnh vực khác của khoa học, cần  suy  luận  một  cách biện chứng, nghĩa là dừng giả định rằng nhận thức của chúng ta là bất di bất dịch và có sẳn, mà  phải phân tích  xem  sự  hiểu  biết nảy  sinh từ sự  không  hiểu  biết  như  thế nào, sự hiểu biết không đầy đủ và  không  chính  xác  trở  thành đầy  đủ  hơn  và chính  xác  hơn  như  thế  nào”.  (Tiểu luận: Người bảo vệ và Phát triển thành công triết học Mác)

Trong  những  hoàn  cảnh  điều  kiện  lịch  sử  nhất định nó biểu hiện trong chân lý  tương đối  và chân  lý  tuyệt  đối  “Như  vậy  là theo bản chất của nó, tư duy của  con  người  có  thể  cung cấp  và đang  cung cấp  cho chúng ta chân lý tuyệt đối mà  chân  lý  này  chỉ  là  tổng số  những  chân lý  tương  đối. Mỗi giai đoạn phát triển của khoa học lại mang thêm  những hạt  mới  vào cái tổng số ấy của chân lý tuyệt đối, nhưng những giới hạn chân lý của mọi định lý khoa học đều là  tương  đối,  khi  thì  mở rộng ra, khi thì thu hẹp lại, tuỳ theo sự tăng tiến của tri thức”. “ Đối với chủ nghĩa duy vật biện chứng thì giữa chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối không có ranh giới không  thể  vượt  qua”. Lênin khẳng định: “Quan điểm về đời sống, về thực tiễn, phải là quan điểm thứ  nhất và cơ bản của lý luận về nhận thức”.

“Dĩ  nhiên  không nên  quên rằng  tiêu  chuẩn thực tiễn,  xét  về  thực  chất,  không  bao  giờ  có  thể xác  nhận  hoặc  bát  bỏ một cách hoàn toàn một biểu  tượng nào  đó  của  con  người,  dù  biểu tượng ấy  là  thế nào chăng nữa. Tiêu chuẩn đó cũng khá “không xác định” để không cho phép các hiểu bíêt của  con  người  trở thành một cái tuyệt đối”. N hư vậy, thực tiển đóng vai trò là tiêu chuẩn  của  nhận  thức  lý  luận.  V.I.Lênin  viết:  “  Nếu  cái  mà thực tiễn của  chúng  ta xác  nhận  là  chân  lý  khách quan,  duy  nhất,  cuối cùng,  thì như thế tức  là  con  đường  duy  nhất  dẫn  đến  chân  lý  đó  là  con  đường  của khoa  học  xây  dựng  trên  quan điểm  duy  vật…Đi theo con  đường  mà  Mác vạch ra thì chúng ta ngày càng đi đến gần  chân  lý  khách  quan  (tuy  không  bao  giờ  có thể nắm hết  được).  Nếu  đi  theo bất  cứ con  đường nào khác,  chúng ta  chỉ  có  thể đi đến sự lẫn lộn và dối trá.” (Tiểu luận: Người bảo vệ và Phát triển thành công triết học Mác)

+Về bảo vệ và phát triển chủ nghĩa duy vật trước những xuyên tạc của chủ nghĩa duy tâm đối  với  các  thành  tựu  mới  của  vật  lý  học  và  nguyên  nhân dẫn đến sự khủng hoảng  trong  vật  lý  học.  Người  đã  định  nghĩa  phạm  trù  vật chất: “ Vật chất là một phạm trù triết  học  dùng để chỉ  thực  tại  khách  quan  được đem  lại  cho  on  người  trong  cảm giác,  được cảm  giác   chúng   ta chép  lại,  chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”. “ Đương nhiên, sự đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có ý nghĩa tuyệt đối trong những phạm  vi hết sức hạn chế: trong trừơng hợp này,  chỉ  giới  hạn  trong  vấn  đền  nhận  thức  luận  cơ bản là thừa nhận  cái  gì  là  cái có trước  và  cái  gì   là cái có sau? Ngoài giới  hạn đó, thì không nghi ngờ gì nữa rằng sự  đối  lập  đó là  tương  đối”.

Quan niệm của  Lênin  càng  chứng  minh  mối  liên  hệ  thống  nhất  giữa  triết  học  duy  vật  biện  chứng với khoa học  tự  nhiên: “ Vật lý  học  hiện  đại  đang  nằm  trên  giường  đẻ. Nó đang đẻ  ra  chủ  nghĩa  duy  vật  biện  chứng…  Toàn bộ chủ  nghĩa duy  tâm vật lý học, toàn bộ triết học kinh nghiệm phê phán,  cũng  như  thuyết  kinh  nghiệm  tượng trương, thuyết kinh  nghiệm nhất nguyên…  đều  thuộc  những cặn bả  phải vứt bỏ đi”.  Lênin  đã  vạch  rõ thực chất  của  cuộc  khủng hoảng trong vật  lý  học là  do các nhà vật lý không nắm được phép  biện  chứng,  di  chệch  hướng theo  chủ nghĩa duy tâm: “ Thực  chất  của  cuộc  khủng  hoảng  vật  lý  hiện  đại  là  ở  sự  đảo lộn những quy luật cũ và những nguyên lý  cơ  bản,  ở  sự  gạt  bỏ  thực tại khách quan ở bên ngoài ý thức, tức là ở sự  thay  thế chủ nghĩa duy  vật  bằng  chủ  nghĩa duy tâm và  chủ  nghĩa  bất  khả  tri”.  “  (Tiểu luận: Người bảo vệ và Phát triển thành công triết học Mác)

Nhưng  chủ  nghĩa  duy  vật  biện chứng kiên trì cho rằng bất kỳ lý  luận  khoa  học  nào  về  cấu  trúc và  đặt  tính  của  vật  chất cung điều có những tinh chất gần đúng, tương đối, trong tự nhiên  không hề  có  đường ranh giới nào tuyệt đối, bản  chất  đang  vận  động sẽ  chuyển  hoá  từ  một trạng thái này sang trạng  thái  khác…Vật  lý  mới  sở  dĩ  đi  chệch  sang phía  chủ nghĩa duy tâm, chủ yếu là vì các nhà vật  lý  học  không  hiểu  được  phép  biện chứng… Trong khi phủ nhận tính bất biến của những nguyên tố và cả những đặc tính của vật chất đã  được  biết  cho  đến  nay,  họ  đã  rơi vào  chổ  phủ  nhận, nghĩa là phủ nhận tính thực  tại  khách  quan  của thế  giới  vật  lý”. Những kết  luận của Lênin có ý nghĩa định hướng cho các nhà khoa học tự nhiên không ngừng đi sâu nghiên cứu thế giới vật  chất  trên  nền tảng thế giới  quan  duy  vật  và phép biện chứng mácxít. Thế giới  vật  chất  là  vô  cùng vô  tận,  tồn  tại  độc  lập  với  ý thức con người, ý thức  con  người  phan ánh  thế giới  vật  chất  khách  quan,  vì  vậy nó phải luôn luôn phát triển. Cũng vô cùng vô tận như thế giới vật chất, tri thức không bao giờ có giới hạn cuối cùng. (Tiểu luận: Người bảo vệ và Phát triển thành công triết học Mác)

Tác phẩm “Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Mác(1913) đã chỉ ra nguyên nhân, bản chất và kết cấu của chủ nghĩa Mác.

Tác phẩm “Bút ký triết  học”  gồm  những  ghi  chép  và nhận  xét  của  Lênin khi đọc các tác phẩm của nhiều  nhà  triết  học  được  thức  hiện  chủ  yếu  trong những năm  1914  đến  năm  1915,  cho  thấy  ông đã đặc biệt  quan  tâm nghiên cứu  về phép biện chứng duy vật và lý luận nhận thức duy  vật, nhất  là triết  học ở  Hêghen.

+Về sự phát triển: Lênin so  sánh  hai  quan niệm  đối  lập  nhau:  “Hai quan niệm cơ bản… về sự  phát  triển  (sự  tiến hoá),  sự  phát  triển  coi  như là sự giảm  đi và tăng lên, như là lặp lại và sự  phát  triển  coi như  là sự  thống nhất  của các mặt đối lập. Quan niệm thứ  nhất  là  chết  cứng,  nghèo  nàn,  khô khan.  Q uan niệm thứ  hai là sinh động. Chỉ có quan niệm thứ hai mới cho  ta chìa  khoá của sự  “tự vận động”, của tất thảy mọi cái đang tồn  tại,  chỉ  có  nó  mới  cho  ta  chìa  khoá  của những “bước nhảy vọt”, của sự  “gián  đoạn  của  tính  tiệm  tiến”,  của sự  “chuyển hoá thành mặt đối lập”,  của  “sự  tiêu  diệt  cái  cũ  và  sự  nảy  sinh  cái  mới”. Ông cho rằng phép biện chứng là lý luận duy nhất đúng về sự phát triển, nó cho ta chìa khoá để tìm hiểu sự vận động của các quá trình tự nhiên, xã hội và tư duy. (Tiểu luận: Người bảo vệ và Phát triển thành công triết học Mác)

+Về các quy luật của phép biện chứng: Khi nói về quy luật phủ định, Lênin viết: “Không phải  là sự phủ định  sạch  trơn,  không  phải  sự  phủ  định không suy nghĩ, không phải sự phủ định hoài nghi,  không  phải sự  do  dự  cũng không phải  sự  nghi  nghờ  là  cái đặc  trưng  và  cái  bản  chất  trong  phép  biện chứng- dĩ nhiên phép biện chứng bao hàm trong nó nhân tố phủ định, và thậm chí với tính cách  là  nhân  tố  quan  trọng nhất  của  nó,-không,  mà  là sự  phủ định  coi như là vòng khâu của sự phát  triển,  với  sự  duy  trì  cái  khẳng định,  tức  là không có  một  sự  do  dự nào”.  Lênin  luôn  khẳng  định  bản chất,  nguồn  gốc,  động lực của sự phát triển là sự đấu tranh giữa các  mặt  đối lập,  và coi  quy  luật  thống  nhất và đấu tranh của các mặt đối lập hạt nhân của phép biện chứng

“ Có thể định nghĩa vắn tắt  phép  biện  chứng  là  học thuyết  về sự  thống nhất  của các mặt đối  lập.  Như  thế  là  nắm  được  hạt  nhân  của  phép  biện  chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và sự phát triển thêm”.

+ Về sự thống nhất  giữa  phép  biện  chứng, lý luận nhận thức và lôgíc học: “ Mác không để lại lại  cho  chúng  ta  “lôgíc  học”  (với  chữ  L  viết  hoa), nhưng đã để lại cho chúng ta lôgíc  của  “  Tư  bản”  và cần phải tận dụng  đầy  đủ nhất lôgíc đó để giải  quyết  vấn  đề  mà  chúng ta đang nghiên  cứu.  Trong “  Tư  bản” M ác áp dụng lôgíc, phép biện chứng và lý luận nhận thức (không cần ba từ:đó là cùng một cái duy nhất) của  chủ  nghĩa  duy  vật  vào  một  khoa  học duy nhất”. Trong  đó,  lý  luận  nhận  thức  bao  hàm  phép  biện  chứng  và  lôgíc  học. Phép biện chứng là hat nhân  của  lý  lụân  nhận  thức  và  lôgíc  học.  Cả  ba  yếu tố trên theo Lênin, là sự thống nhất trong tính khác biệt. (Tiểu luận: Người bảo vệ và Phát triển thành công triết học Mác)

+Thực tiễn đóng vai trò là cơ sở, động lực, mục đích  nhận  thức  và  tiêu  chuẩn của chân lý “vì nó ưu tiên không những tính phổ biến, mà cả tính thực hiện trực tiếp”. “Từ trực quan  sinh  động  đến  tư  duy  trừu  tượng,  và  từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn,  đó  là  con  đường  biện chứng của sự  nhận  thức  chân  lý, và sự nhận thức thực tại khách quan”.  Như  vậy  thực  tiển  là  một  vòng khâu  trong quá trình nhận thức thế giới quan. Thông qua thực tiển mà con người mới chứng minh được  tính  chân  lý  của  nhận  thức,  theo  V.I.Lênin  quá  trình  nhận thức biểu hiện sự thống nhất giữa lịch sử và lôgíc của tư duy.

+Về tính đảng trong triết học: dựa trên lập trường  duy  vật  triệt  để,  V.I.Lênin  đã  đấu  tranh  không  khoang  nhượng  chống  lại  các   trường  phái   đối   lập, bảo vệ và  phát  triển  chủ  nghĩa  duy  vật  biện  chứng trên tinh  thần khoa  học và cách mạng. Phê phán Cantơ và Hêghen: “Cantơ hạ thấp tri thức để dọn sạch đường cho lòng tin, Hêghen đề cao  tri thức,  quả  quyết  rằng tri thức  tức  là  tri  thức về thượng đế. Người  duy  vật  đề  cao  tri thức  về  vật  chất,  giới  tự  nhiên,  tống Thượng đế và những bọn triết học đê tiện bảo  vệ  Thượng đế vào hố rác”.  (Tiểu luận: Người bảo vệ và Phát triển thành công triết học Mác)

Lênin đáng giá chủ nghĩa duy tâm trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng: “Theo  quan  điểm  của  một  chủ  nghĩa  duy  vật  thô lỗ, đơn giản, siêu hình, thì  chủ  nghĩa  duy  tâm  triết  học  chỉ  là  sự  ngu  xuẩn.   Trái lại theo chủ  nghĩa  duy vật biện chứng, thì chủ nghĩa duy tâm triết học  là  sự  phát  triển  (một  sự  thổi phồng, bơm to) phiến diện, thái quá… của  một  trong những đặt  trưng,  của một trong những mặt, của một trong những khía cạnh của  nhận  thức  thành  một  cái tuyệt đối, tách rời khỏi vật  chất,  khỏi  giới  tự  nhiên,  thần  thánh  hoá.  Chủ nghĩa  duy tâm, đó là chủ nghĩa thầy tu,  qua  một  trong  những  sắc  thái  của  nhận  thức(biện chứng) vô cùng phức tạp của con người. Ngoài ra, Lênin còn  chỉ ra sự đối lập giữa chủ  nghĩa  duy  vật  biện  chứng  và  chủ  nghĩa  duy  tâm xung  quanh con đường nhận thức.

Trong tác phẩm “Nhà nước và cách mạng” (1917-1918)  tác  phẩm  này  đã đáp ứng kịp thời yêu cầu cấp  bách  về  lý  luận  và  thực tiễn lúc  bấy  giờ của phong  trào cách mạng ở nước Nga và trên thế giới vì Lênin đã kế thừa tư tưởng về nhà nước của C.M ác và Ph.Ăngghen, tiến hành đấu tranh  không khoan nhượng, chống lại chủ nghĩa cơ hội hữu khuynh, tiếp tục phát triển cơ bản về nhà nước chuyên chính vô  sản  và bạo lực cách mạng, về vai trò của Đảng Cộng sản và con đường xây dựng  chủ  nghĩa  xã  hội  trong  hiện  tại  và  chủ  nghĩa cộng sảng tương lai. (Tiểu luận: Người bảo vệ và Phát triển thành công triết học Mác)

+Về nguồn gốc, bản chất của nhà nước và con đường  xác  lập  nhà  nứơc  chuyên chính vô sản, N gười viết:  “  Nhà  nước  là  sản  phẩm  và  biểu  hiện  của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hoà được. Bất  cứ  ở đâu,  hễ  lúc  nào  và chừng nào mà,  về  mặt khách quan,  những  mâu  thuẩn  giai  cấp  không  thể  điều hoà được thì nhà  nước xuất hiện. Và ngược lại, sự tồn tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu  thuẩn  giai  cấp  là  không  thể  điều  hòa  được”.  Nhà nước  là  công cụ thống trị  của  một  giai  cấp  để  áp  đặt  sự  thống trị  của  mình  lên  các  giai  cấp khác và toàn xã  hội.  “  Nhà  nước  là  một  cơ  quan  thống trị giai  cấp,  là một cơ quan áp  bức  của  một  giai  cấp  này  đối  với giai  cấp  khác”. “Nhà nước  là một tổ chức quyền lực đặt  biệt,  nó là tổ chức bạo lục dùng để trấn áp một giai cấp nào đó”.

Nhà nước chuyên chính  vô  sản  không  được  xác  lập  bằng  điều  hoà  quan hệ giai cấp mà bằng bạo lục cách  mạng,  thông  qua  bạo lực cách  mạng  của  quần chúng  nhất  định  để xoá bỏ nhà nước tư sản, xác lập nhà  nuớc của giai  cấp vô sản. “Nhà nước tư sản bị thay thế bởi nhà nuớc vô sản (chuyên chính vô sản ) không thể bằng con đường “tiêu vong”  được,  mà  chỉ  có  thể  theo  quy  luật chung, bằng cuộc cách  mạng  bạo  lực  mà thôi”.  “  Không có  cách mạng bạo lực thì không thể thay nhà nước tư sản bằng nhà nước vô  sản  được”.  (Tiểu luận: Người bảo vệ và Phát triển thành công triết học Mác)

Để  thực  hiện thắng lợi nhiệm vụ của nhà  nước chuyên chính  vô  sản  trong  cuộc  đấu  tranh chống áp bức bôc lột, một điều kiện tất  yếu  theo  Lênin  là  vai  trò  lãnh đạo  của Đảng  Cộng  sản:  “  chủ nghĩa Mác giáo dục đảng công nhân,  là giáo dục đội tiên phong của giai cấp vô  sản,  đội  tiên  phong này  đủ  sức nắm  chính  quỳên  và dẫn dắt toàn  dân  tiến  lên  chủ  nghĩa  xã hội, đủ sức lãnh  đạo và  tổ  chức  một  chế độ mới, đủ sức làm thầy, làm người  dẫn  đường,  làm  lãnh  tựu  của tất cả những người lao động và những người bị  bóc  lột  để  giúp  họ  tổ  chức  đời  sống  xã  hội của họ, mà không cần đến giai cấp tư sản và chống lại giai cấp tư sản”

+Về giai đoạn phát triển của xã hội tương lai (giai đoạn thấp- xã hội chủ nghĩa) “Trong giai  đoạn  đầu,  trong  nấc  thang  thứ   nhất,  chủ  nghĩa  cộng sản chưa thể hoàn toàn trưởng thành về mặt  kinh  tế, chưa  thể  hoàn toàn  thoát  khỏi  những tap tục hay những tàn tích của  chủ  nghĩa  tư  bản”.  Trong  giai  đoạn cao  là  chủ  nghĩa cộng sản, “ toàn thể xã hội sẽ  chỉ  còn  là một  phòng làm  việc,  một  xưởng  máy với chế độ lao  động ngang  nhau  và  lĩnh  lương  ngang  nhau…  Lúc  bấy  giờ,  cửa sẽ mở thật rộng  để  cho  ai  cũng  có  thể bước  vào được,  từ  giai  đoạn đầu  lên giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa, và do đó nhà nước sẽ tiêu vong hẳn”.

3/ GIAI ĐOẠN SAU CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA THÁNG MƯỜI NGA 1917:

Cách mạng Tháng Muời Nga thành công mở ra một  thời đại mới  trong lịch sử  nhân  loại,  thời đại  quá  độ từ chủ nghĩa  tư  bản  lên  chủ  nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Trong giai đoạn này, V.I.Lênin tiếp tục phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.

Trong tác phẩm  “Sáng  kiến  vĩ  đại”  (1919)  V.I.Lênin  phân  tích  sâu  rộng ý nghĩa  của  những  ngày thứ  bảy  cộng  sản,  tổng  kết kinh nghiệm của quần chúng lao động trong thời kỳ bắt đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội.

+Lênin chỉ ra năng suất lao động của  xã  hội  là yếu tố quyết  định  cho  sự thắng lợi của xã hội mới: “ Chủ nghĩa tư  bản  đã  tạo ra  một  năng  suất  lao  động chưa từng thấy  dưới  chế  độ  nông  nô.  Chủ  nghĩa  tư  bản có thể bị  đánh  bại hẳn, và sẽ bị đánh  bại  hẳn,  vì  chủ  nghĩa  xã  hội tạo ra một  năng  suất  lao  động mới,  cao hơn nhiều”. Để xây dựng xã hội  mới,  theo  Lênin,  giai  cấp  vô  sản  phải thực hiện hai nhiệm vụ: một là đán  đổ  giai  cấp  tư  sản,  thiết  lập  chính  quyền  cách mạng, tức chuyên  chính  vô  sản,  và  hai là:  xây  dựng xã  hội  mới.  “Nhiệm vụ thứ hai này khó hơn nhiệm vụ thứ nhất, vì tuyệt  nhiên  không  thể  giải  quyết  được nhiệm vụ đó bằng một  hành  động  anh  hùng nhất  thời,  nhiệm  vụ đó đòi hỏi phải có tinh thần dũng cảm lâu  dài  nhất,  bền  bỉ  nhất,  khó  khăn  nhất  của  công  tác  quần chúng hàng ngày”. (Tiểu luận: Người bảo vệ và Phát triển thành công triết học Mác)

+V.I.Lênin đã nêu lên một định nghĩa nổi tiếng về giai cấp: “Người ta gọi là giai cấp, những tập đoàn to lớn  gồm  đã người  khác nhau  về  địa  vị  của  họ trong một hệ thống sản  xuất  xã  hội  nhất  định  trong  lịch  sử,  khác  nhau  về quan hệ của họ (thường thường thì những quan hệ này được pháp  luật quy định và thừa nhận) đối với những tư liệu sản xuất, về vai  trò  của  họ  trong tổ  chức  lao động xã hội, và như  vậy  là  khác  nhau  về  cách  hưởng thụ và về phần  của  cải  xã  hội ít hoặc nhiều mà họ được hưởng. Giai cấp là những tập đoàn người, mà tập đoàn này thì có thể chiếm đoạt  lao  động của tập đoàn khác, do chổ các tập đoàn  đó có địa vị khác nhau trong một chế độ kinh tế xã hội nhất định”.

Trong tác phẩm “ Bệnh ấu trĩ “tả khuynh” trong phong trào cộng sản” (1920) hướng đến mục  đích  tuyên  truyền  kinh  nghiệm  cho  các  đảng  cộng  sản mới ra đời trong phong trào  cộng sản  quốc  tế, vạch  ra  chiến  lược  và  sách  lược  của  đảng  cộng  sản  trong  điều  kiện  lịch sử mới,  nhằm  tránh  những  sai  lầm  có tính chất bè phái, giáo điều trong cuộc đấu tranh cách mạng.

+Về bản chất và tác hại của chủ nghĩa cơ hội “tả khuynh”: đó là chủ nghĩa chủ qua trong đánh  giá  sự  kiện,  bỏ  qua  những  giai  đoạn  của  phong trào cách mạng, hành động phiêu lưu, vô chính  phủ.  “Cái đầu óc gần giống như chủ nghĩa vô chính phủ hay đã có một số nét nào đó mượn của chủ nghĩa vô chính phủ và trong tất cả những  vấn  đề  cơ  bản,  đều  xa  rời  những điều  kiện  và  những yêu cầu tất yếu của cuộc đấu tranh giai cấp triệt để của giai cấp vô sản”. (Tiểu luận: Người bảo vệ và Phát triển thành công triết học Mác)

+Về tính phức tạp trong thời kỳ xây dựng xã hội mới: “chuyên chính vô sản là một  cuộc  đấu  tranh  kiên  trì,  đổ  máu,  bạo  lực  và hoà bình,  bằng quân  sự và bằng kinh tế, bằng giáo  dục  và  bằng  hành  chính,  chống  những  thế   lực  và những tập tục của xã hội cũ. Sức  mạnh  của  tập  quán  ở hàng triệu  và  hàng chục triệu người là một  sức  mạnh  ghê  gớm  nhất”.  Trong  cuộc  đấu  tranh  thời  kỳ chuyên chính vô sản, vai  trò của Đ ảng  Cộng  sản  có  ý  nghĩa  quyết  định: “Không có một đảng sắt  thép  được  tôi  luyện  trong đấu  tranh,  không  có một  đảng được tín nhiệm của tất cả những phần tử trung thực  trong giai  cấp  nói  trên,  không  có một đảng  biết  nhận  xét  tâm  trạng quần chúng và  biết  tác động  vào  tâm  trạng đó  thì không thể tiến hành thắng lợi cuộc đấu tranh ấy được”.

Bài báo nổi tiếng “Về tác dụng của chủ  nghĩa  duy  vật  chiến  đấu”  (1912) được coi là di chúc triết học của V.I.Lênin. Nó vạch ra vai trò  của công tác tuyên truyền triết học vô thần, coi đó cũng là  nhiệm  vụ quan  trọng  của  Đảng  Cộng sản trong cuộc đấu tranh gian khổ, khó khăn để xây dựng xã hội mới. (Tiểu luận: Người bảo vệ và Phát triển thành công triết học Mác)

+Trong tác phẩm này, ông đặt ra  nhiệm  vụ  phát  triển  triết  học  duy  vật biện chứng trên cơ  sở  tổng  kết  lịch  sử  hiện  đại,  cũng cố  liên  minh  thống nhất giữa triết học và khoa học tự nhiên, phê phán chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo trên tinh thần khoa học. “…Chúng ta cần hiểu rằng nếu không có một  cơ sở triết  học  vững vàng  thì  tuyệt  nhiên  không có  khoa  học  tự  nhiên  nào hay  chủ  nghĩa  duy vật nào có thể tiến  hành  cuộc  đấu  tranh  chống lại sự  lấn  bước  của  những  tư tưởng tư sản và sự phục hồi của thế giới quan tư sản. M uốn tiến hành được cuộc đấu tranh ấy và đưa nó đến  thành  công  hoàn  toàn,  nhà khoa  học tự nhiên phải là một nhà duy vật hiện  đại,  một  đồ  đệ tự  giác của chủ  nghĩa duy  vật  mà Mác là người đại  diện.  Nghĩa  là  nhà  khoa  học tự nhiên  ấy  phải là  một  nhà duy vật biện chứng”. “  K hông đặt  ra  và  không thực  hiện  nhiệm  vụ  ấy một  cách  có hệ thống, thì chủ nghĩa duy vật không thể là một chủ nghĩa duy vật chiến đấu  được…Nếu không làm thế, các  nhà  khoa  hoc  tự  nhiên  lớn  cũng lại  vẫn  sẽ  luôn luôn bất lực trong những kết  luận  và  khái  quát  triết  học  của  họ trước kia. Vì khoa học tự nhiên đang tiến bộ nhanh, đang trải qua một thời kỳ đảo lộn cách mạng sâu sắc  trong tất  cả mọi  lĩnh  vực,  đến  nỗi  nó tuyệt đối không thể không cần đến những kết luận triết học”. (Tiểu luận: Người bảo vệ và Phát triển thành công triết học Mác)

+V.I.Lênin nói: “ Ăngghen nhắc nhở những người lãnh đạo của giai cấp vô sản đương thời là phải dịch trước các tác chiến đấu vô thần chủ nghĩa cuối thế  kỷ  XVIII,  để truyền bá thật nhiều trong  nhân  dân.  Đáng xấu  hổ   cho  chúng ta là mãi đến nay chúng ta vẫn không  làm  được việc  đó  (đây  là một trong nhiều bằng chứng  nói  lên  rằng: cướp lấy chính quyền trong một thời kỳ cách mạng thì dễ hơn rất nhiều so  với  việc biết  sử  dụng  đúng đắng chính  quyền ấy)”. “  Sai  lầm lớn nhất và tệ hại nhất  mà  một  con  người  mácxít  có thể mắt  phải là tưởng  rằng quần chúng nhân dân đông hàng bao  nhiêu triệu con người (và nhất là quần chúng nông dân và thợ thủ công), bị  cái  xã  hội  hiện  đại  đẩy  vào  vong tối tăm, dốt nát và thiên kiến,  chỉ  có thể  thoát  ra vòng tối  tăm  ấy bằng  con  đường  trực tiếp của  một  nền  giáo  dục  thuân  tuý  mácxít”.  Rõ  ràng, những luận điểm triết học trên của V.I.Lênin có ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc, nó vẫn còn nguyên giá trị trong thời đại chúng ta.

Ngoài ra, Lênin còn  viết  nhiều  tác  phẩm  bàn  về  chính  sách  kinh tế mới, bàn về đường lối kinh tế của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, với các hình thức  và  bước đi thích hợp  nhằm đảm  bảo  cho sự  thắng lợi  của  chủ nghĩa  xã hội.   “ Công tác kinh tế phải là sự nghiệp  chung của  tất  cả  mọi  người…là  hoạt  động  chính trị có ý nghĩa nhất”. “Cơ  sở  vật  chất  duy  nhất  của chủ nghĩa  xã  hội  chỉ  có thể là nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo cả nông nghiệp”.

III/KẾT LUẬN: (Tiểu luận: Người bảo vệ và Phát triển thành công triết học Mác)

Sau gần 70 năm  sau  “Tuyên  ngôn  của  Đảng  cộng  sản”  nhân  loại  đã chứng kiến một sự kiện lịch sử  có  tính  vạch  thời  đại,  đó  là thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười vĩ  đại,  hình  thành  nhà  nước  xã  hội  chủ  nghĩa  đầu  tiên  trên thế giới. Là lãnh  tựu  của  Cách  mạng  Tháng  Muời, Lênin  đã  biến  những  nguyên lý của chủ  nghĩa  Mác  trở  thành  hiện  thực  sinh  động.  Thông  qua  cuộc  cách mạng đó, Người đã giải  đáp  những vấn đề cơ bản mà thời đại mới đặt ra cho giai cấp công nhân khi thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình.

Vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, Lênin luôn kiên định lập trường mácxít, đấu tranh không  khoan  nhượng  với  các  thế  lực  thù  địch  trên  cơ  sở luận  cứ khoa học sắc bén. Lênin đã phê phán triệt để tư tưởng tả khuynh, nhân danh chủ nghĩa Mác để chống phá chủ  nghĩa  M ác,  phê phán tư  tưởng của  phái “dân  tuý  Nga”,  phái  “mácxít  hợp  pháp”  và  muôn  vàng  biểu  hiện  khác  của  chủ  nghĩa xét lại, bảo vệ sự trong sáng  của  chủ  nghĩa  Mác.  Trong cuộc  đấu  tranh  đó,  chủ nghĩa M ác đã được phát triển một cách toàn diện cả về lĩnh vực triết học, kinh tế-chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học. (Tiểu luận: Người bảo vệ và Phát triển thành công triết học Mác)

Để bảo vệ chủ  nghĩa Mác, Lênin không  chỉ  phê  phán  không  khoan nhượng đối với kẻ thù của  chủ  nghĩa  Mác,  mà còn  kịch  lịêt  những  người  nhân danh  lý  luận  của  Mác trên lời  nói  nhưng  thực  tế là  chủ  nghĩa  xét  lại,  hoặc ít ra  là xa rời chủ nghĩa của Mác.  Đồng thời  Lênin  chú  trọng tổng  kết  kinh  nghiệm  thực tiển cách mạng và dựa vào những thành quả mới nhất của khoa học để bổ sung , phát triển di sản của Mác và Ăngghen để lại.

Lênin đã có cống hiến suất sắc trong  việc  phát  triển  chủ  nghĩa  duy  vật mácxít trên hàng loạt các khía  cạnh  như  quan  niệm về vật  chất,  về mối quan  hệ giữa vật chất và ý thức,  về  các  khái  niệm  phạm  trù  triết  học,  về  lý  luận  nhận  thức cùng hàng loạt các vấn đề  cơ  bàn  khác  của  triết  học.  Người  đặc  biệt  quan  tâm đến phép biện chứng, lôgíc học và lý luận nhận thức có sự thống nhất. Tư tưởng này đã được khẳng định là đúng đắn.

Lênin cũng  phát  triển  lý  luận  kinh  tế-  chính  trị  học  mácxít  trong  giai đoạn quốc tế chủ nghĩa trên hàng loạt các  vấn  đề như:  quá  trình  hình  thành  chủ nghĩa tư bản ở N ga,  về  tính  chất  “đan  xen”  khách quan  của  các thành  phần kinh  tế và tính không thuần nhất của sở hữu trong thời  kỳ  quá  độ lên chủ nghĩa xã hội… (Tiểu luận: Người bảo vệ và Phát triển thành công triết học Mác)

Trước thực tiển mới của  thời đại, Lênin  đã  có  đóng  góp  to  lớn  làm phong phú chủ nghĩa xã hội khoa  học.  Trong  điều  kiện  một  nước  tiểu  nông  lạc  hậu tiến lên xây  dựng  chủ  nghĩa  xã  hội,  nhiều vấn  đề mới  nảy  sinh  từ thực tiễn đã được Lênin nghiên cứu và giải  quyết  đúng  đắn  mà  chính  sách  kinh  tế mới (NEP) là một trong nhiều dẫn chứng chứng minh  sự  phát  triển  hết  sức sáng tạo chủ nghĩa  Mác vào  điều  kiện  nước  Nga.  Những  sáng  tạo cho  thấy  năng  lực  trí tuệ và sự nhạy cảm của Lênin khi đánh giá tình hình thực tế, cũng  như  sự  trung thành của ông đối với chủ nghĩa M ác.  Di  huấn  mà  Lênin  để lại cho  chúng ta là phải phân tích cụ  thể  tình  hình  cụ  thể  và xem đó là bản chất,  linh hồn sự sống  của chủ nghĩa Mác.

Những đóng góp xuất sắt  của  Lênin  về  tư  tưởng,  lý  luận  đã  làm  thành “giai đoạn Lênin” của quá  trình  phát  triển  chủ  nghĩa Mác. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Người kế tục  một  cách  thiên tài sự  nghiệp  vĩ đại của Mác và Ăng hen trong những điều kiện lịch sử mới là V.I.Lênin”. (Tiểu luận: Người bảo vệ và Phát triển thành công triết học Mác)

* Ngày nay, hơn bao giờ hết,  yêu  cầu  bổ  sung và phát  triển lý luận  của  triết học Mác – Lênin là rất cần thiết:

+ Đặc điểm của xã hội ngày nay là sự tương tác giữa hai quá  trình  cách mạng- cách mạng  khoa  học  công  nghệ  và  cách  mạng xã hội, đã tạo nên sự biến đổi  rất  năng  động  của  đời  sống  xã  hội.  Trong  những  điều  kiện  đó,  quá trình  tạo ra những tiền đề của chủ nghĩa xã hội diễn  ra  trong các  xã  hội  tư  bản  chủ  nghĩa phát triển được đẩy mạnh  như  một  xu  hướng khách  quan.  Tính chất  biện  chứng  của sự tiến  hoá  xã hội diễn ra trong sự mâu thuẫn  và thông qua các  mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản cũng là một trong những nguồn gốc nảy sinh những khuynh hướng sai lầm khác nhau  ,  thậm  chí  đi  tới  xét  lại  trong phong trào công  sản và công nhân thế giới.

+Sự khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội làm cho yêu cầu phát triển triết học Mác-Lênin càng trở nên cấp bách. Thực  tiển  cuộc  đấu  tranh  bảo  vệ những thành quả mà  chủ  nghĩa  xã  hội  đã giành được, nhất là  công  cuộc  đấu  tranh  bảo vệ để đưa sự nghiệp  xây  dựng  chủ  nghĩa  xã  hội  vượt  qua thách  thức to lớn  hiện nay và tiếp tục tiến lên, đòi  hỏi  các  Đảng Cộng  sản phải  nắm  vững lý  luận  của  chủ nghĩa Mác-Lênin. Trước hết phải  thấm  nhuần  thế  giới  quan  duy  vật  và phương pháp biện chứng khoa  học  của  nó.  Cả  những thành  công  cũng như  thất bại trong quá trình đổi mới, “cải tổ” chủ nghĩa xã hội chứng  tỏ  sự  cần  thiết  phải kiên quyết đấu  tranh  chống  chủ  nghĩa  xét  lại,  đồng  thời  phải  khắc  phục  bệnh giáo điều trong việc vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin. (Tiểu luận: Người bảo vệ và Phát triển thành công triết học Mác)

+ Chúng ta không thể đổi  mới  thành  công  nếu  xa  rời  lập  trường  chủ  nghĩa Mác – Lênin, rơi vào chủ nghĩa xét lại.

Như vậy, phát triển lý luận triết học mácxít và đổi mới chủ nghĩa xã hội trong thực tiển là một quá trình thống nhất,  bởi  vì “thống nhất giữa lý luận và thực tiển là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa M ác-Lênin”.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *