Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục thể chất tại trường cao đẳng hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng quản lý hoạt động Giáo dục thể chất tại trường Cao đẳng Thống kê dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về trường Cao đẳng Thống kê
2.1.1. Sơ lược quá trình hình thành và phát triển trường Cao đẳng Thống kê
Trường Cao đẳng Thống kê được thành lập ngày 23 tháng 8 năm 2004 theo Quyết định số 4700/QĐ-BGD&ĐT của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo trên cơ sở nâng cấp Trường Cán bộ Thống kê Trung ương. Tiền thân của Trường Cán bộ Thống kê Trung ương là Trường Nghiệp vụ Thống kê, được thành lập ngày 20 tháng 02 năm 1960. Ngày 8 tháng 01 năm 1966, Trường Nghiệp vụ Thống kê được đổi tên là Trường Cán bộ Thống kê; Từ tháng 6 năm 1977 Trường Cán bộ Thống kê được đổi tên thành Trường Cán bộ Thống kê Trung ương. Tháng 7 năm 2005 Trường chính thức tuyển sinh khóa Cao đẳng chính quy đầu tiên; Trường đã đào tạo, bồi dưỡng cho Ngành và cho đất nước trên 30 ngàn cán bộ Thống kê, kế toán, tin học và các nghiệp vụ quản lý kinh tế khác ở trình độ trung cấp và cao đẳng.
Hiện nay, nhà trường đang thực hiện đào tạo đa lĩnh vực với nhiều chuyên ngành như Thống kê; Kế toán – tài chính; Hệ thống thông tin quản lý, Tài chính ngân hàng; Quản trị kinh doanh. Trường là cơ sở đào tạo đại học, sau đại học, nghiên cứu khoa học, ứng dụng và chuyển giao công nghệ trong các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật; đóng vai trò nòng cốt trong hệ thống các trường đào tạo chuyên nghiệp của ngành Thống kê. Trường Cao đẳng Thống kê có 20 chuyên ngành đào tạo các hệ, trong đó: hệ trung cấp 15 chuyên ngành, hệ cao đẳng 20 chuyên ngành và liên kết đào tạo đại học, thạc sỹ 15 chuyên ngành. Trong tiến trình phát triển của nhà trường dự kiến sẽ mở 16 chuyên ngành hệ đại học, 5 ngành thạc sĩ. Nhà trường đã liên kết với các trường đại học uy tín đào tạo liên thông từ trung cấp lên cao đẳng, từ cao đẳng lên đại học đã đáp ứng tốt nhu cầu của sinh viên. Trường thường xuyên liên hệ với các doanh nghiệp sản xuất trong các lĩnh vực thiết bị điện tử, công nghệ thông tin, viễn thông giúp cho sinh viên thực tập và trải nghiệm nghề nghiệp và tạo điều kiện tốt nhất cho người học tiếp cận với thiết bị và công nghệ điện tử. Từ đó đã đáp ứng nhu cầu học tập ở trình độ cao hơn và và tạo cơ hội về việc làm cho sinh viên sau khi ra trường.
Với những đóng góp của nhà trường cho Ngành Thống kê nói riêng và sự phát triển kinh tế của đất nước nói chung, Trường đã vinh dự được Đảng và Nhà nước ghi nhận và tặng thưởng Huân chương Lao động Hạng Nhất, Hạng Nhì, Hạng Ba và nhiều phần thưởng cao quý khác. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục thể chất tại trường cao đẳng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.1.2. Sứ mệnh, tầm nhìn, chức năng, nhiệm vụ của trường Cao đẳng Thống kê
2.1.2.1. Sứ mệnh
Trường Cao đẳng Thống kê là trường Cao đẳng công lập, đào tạo cho đất nước một đội ngũ cán bộ có chuyên môn giỏi, phẩm chất đạo đức tốt, có khả năng thích ứng cao. Chú trọng công tác nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế, tiến hành các hoạt động phục vụ cộng đồng, góp phần đắc lực để phát triển hệ thống Thống kê Việt Nam và sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội cả nước, của từng ngành và địa phương.
2.1.2.2. Tầm nhìn
Xây dựng Trường Cao đẳng Thống kê trở thành một trường cao đẳng chuẩn mực và có chất lượng cao, cung cấp nguồn nhân lực có trình độ cao cho ngành Thống kê và cho xã hội.
Xây dựng Trường Cao đẳng Thống kê trở thành một trung tâm nghiên cứu khoa học, đặc biệt chú ý đến việc nghiên cứu các vấn đề khoa học gắn lý thuyết với thực tiễn của Ngành, địa phương và cộng đồng.
Xây dựng Trường Cao đẳng Thống kê thành một cơ sở đào tạo đa ngành, đa hệ với hệ thống cơ sở vật chất kĩ thuật và trang thiết bị tiên tiến, đảm bảo môi trường tốt nhất cho giảng dạy, học tập và sinh hoạt.
Xây dựng Trường Cao đẳng Thống kê trở thành một trong những địa chỉ đáng tin cậy về giáo dục đào tạo trong khu vực.
2.1.2.3. Chức năng, nhiệm vụ
Căn cứ đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, nhu cầu nguồn nhân lực của ngành và xã hội xây dựng mục tiêu, chương trình, kế hoạch đào tạo và trực tiếp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có trình độ cao đẳng về Thống kê, Kế toán, Công nghệ thông tin, Tiếng anh Kinh doanh, Tài chính Ngân hàng, Kinh tế Đầu tư và Quản trị Kinh doanh có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp phù hợp, đáp ứng nhu cầu của xã hội, có khả năng hợp tác trong hoạt động nghề nghiệp, tự tạo được việc làm cho mình và cho xã hội. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục thể chất tại trường cao đẳng.
Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; kết hợp đào tạo với nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học và công nghệ trong hoạt động Thống kê và quản lý kinh tế – xã hội theo quy định của Luật Thống kê, Luật Khoa học và Công nghệ, Luật Giáo dục và các quy định khác của pháp luật.
2.1.2.4. Quyền hạn và trách nhiệm
Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển trường phù hợp với chiến lược phát triển ngành Thống kê và chiến lược phát triển giáo dục, quy hoạch mạng lưới các trường cao đẳng của Nhà nước.
Xây dựng chương trình, giáo trình, kế hoạch giảng dạy và học tập đối với các ngành nghề mà trường được phép đào tạo trên cơ sở chương trình khung do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; Nội dung các môn chuyên môn nghiệp vụ được Tổng cục Thống kê phê duyệt; tổ chức tuyển sinh theo chỉ tiêu của Nhà nước, tổ chức các hoạt động đào tạo, công nhận tốt nghiệp, in ấn và cấp văn bằng theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Nghiên cứu và thực hiện các đề tài khoa học do cấp trên giao hoặc chủ động hợp tác với các viện, các trường đại học, cao đẳng, các tổ chức quốc tế, các cơ sở sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật. Tổ chức đánh giá, nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, xuất bản tập san, các ấn phẩm khoa học phục vụ cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Thực hiện quản lý tài chính theo các quy định hiện hành của Nhà nước.
Thực hiện dân chủ, bình đẳng, công khai trong việc bố trí và thực hiện các nhiệm vụ đào tạo, khoa học, công nghệ và hoạt động tài chính.
Thực hiện chế độ báo cáo Tổng cục Thống kê, Bộ Giáo dục và Đào tạo về các hoạt động của trường theo quy định hiện hành.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức của trường Cao đẳng Thống kê
Trường Cao đẳng Thống kê có cơ cấu tổ chức như sau:
- Ban Giám hiệu gồm: – Hiệu trưởng.
- Phó Hiệu trưởng: phụ trách đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học.
- Phó Hiệu trưởng: phụ trách hành chính, cơ sở vật chất.
5 Khoa và 3 tổ bộ môn gồm:
- Khoa Thống kê
- Khoa Kế toán – Tài chính
- Khoa Công nghệ thông tin
- Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh
- Khoa Ngoại ngữ
- Bộ môn Cơ sở
- Bộ môn Lý luận Chính trị
- Bộ môn GDQP và Giáo dục thể chất
Các phòng chức năng gồm:
- Phòng Đào tạo và Quản lý khoa học
- Phòng Khảo thí và đảm bảo chất lượng giáo dục
- Phòng Công tác Sinh viên
- Phòng Tổ chức – Hành chính
- Phòng Tài vụ
- Ban Quản lý ký túc xá
- Trạm y tế
- Trung tâm tuyển sinh và hỗ trợ việc làm. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục thể chất tại trường cao đẳng.
Ngoài ra, cũng giống như các trường Cao Đẳng, Đại học khác, Trường còn có các tổ chức chính trị, các đoàn thể như Đảng ủy, Công Đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội sinh viên hoạt động theo quy định của pháp luật.
- Quy mô đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên trường Cao đẳng Thống kê.
- Tổng số cán bộ, giảng viên, công nhân viên tính đến tháng 03 năm 2020 là: 129.
- Cán bộ quản lý là 35 (trong đó BGH: 3, Hành chính: 16; trưởng phó Khoa, bộ môn: 16).
- Giảng viên trực tiếp giảng dạy: 75.
- Nhân viên: 19 (trong đó nhân viên hợp đồng phục vụ có trình độ Trung cấp và THPT là 3).
- Trình độ đào tạo: GS 0; PGS 0; TS 11 người; Thạc sĩ 81; Đang học Cao học 6; Đại học 21; Trình độ khác 10.
2.1.4. Quy mô đào tạo của trường Cao đẳng Thống kê
Để thấy rõ quy mô đào tạo của trường cao đẳng Thống kê trong những năm học gần đây, chúng tôi đã tiến hành thu thập số liệu quản sinh của nhà trường như sau:
Bảng 2.1. Quy mô đào tạo của trường cao đẳng Thống kê trong những năm học gần đây
Về quy mô đào tạo trong những năm học gần đây, so với xu thế chung của các trường cao đẳng, trường Cao đẳng Thống kê vẫn duy trì được số lượng tuyển sinh, tỷ lệ Sinh viên hàng năm học có tăng lên do nhu cầu xã hội đối với các ngành nghề đào tạo. Điều đó thể hiện sự nỗ lực của Ban giám hiệu, các phòng, ban và đội ngũ giảng viên nhà trường đã nỗ lực trong công tác tư vấn tuyển sinh và giảng dạy đối với các chuyên ngành đào tạo tại nhà trường. Tuy nhiên, với cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên nhà trường, quy mô đào tạo cần được mở rộng hơn nữa và cũng là vấn đề được nhà trường đặc biệt quan tâm trong giai đoạn hiện nay.
2.2. Mục đích, nội dung và phương pháp khảo sát thực trạng Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục thể chất tại trường cao đẳng.
2.2.1. Mục đích khảo sát
Khảo sát nhằm thu thập số liệu, phân tích số liệu và đánh giá thực trạng hoạt động Giáo dục thể chất, quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê. Trên cơ sở đó, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê, góp phần nâng cao hiệu quả của quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê.
2.2.2. Nội dung khảo sát
Để phân tích và giải quyết các nội dung, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đã khảo sát các khách thể nghiên cứu về các nội dung sau:
- Thực trạng hoạt động Giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê.
- Thực trạng quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê.
- Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê.
- Đánh giá về tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất trong quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê.
2.2.3. Công cụ khảo sát
Sử dụng công cụ khảo sát là phiếu điều tra. Để khảo sát thực trạng quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở Trường Cao đẳng Thống kê, tác giả đã phát ra 108 phiếu điều tra cho Cán bộ quản lý, chuyên viên, giảng viên thu về 108 phiếu và 135 phiếu điều tra cho sinh viên thu về 135 phiếu.
2.2.4. Phương pháp khảo sát và phương thức xử lý số liệu
Tác giả sử dụng các phương pháp khảo sát như sau:
Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: thiết kế phiếu hỏi theo những nội dung mà tác giả cần thu thập. Xác định đối tượng khảo sát phù hợp để lấy được thông tin chuẩn nhất. Tổ chức các hoạt động để lấy ý kiến và xử lý kết quả trong các phiếu hỏi. Rút ra các kết luận về kết quả nghiên cứu. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục thể chất tại trường cao đẳng.
Phương pháp phỏng vấn sâu: chuẩn bị các nội dung phỏng vấn phục vụ cho mục đích nghiên cứu (đã trình bày ở trên), chọn các đối tượng phỏng vấn, tiến hành phỏng vấn theo nội dung đã định, xử lý các kết quả phỏng vấn để rút ra các nhận định khoa học cần thiết cho vấn đề nghiên cứu. Kết quả khảo sát được xử lý như sau:
- Tính điểm trung bình.
Các câu hỏi điều tra được thiết kế theo 03 phương án lựa chọn với mức điểm đánh giá như sau: Thường xuyên (Ảnh hưởng nhiều; Rất phù hợp; Rất khó khăn; Rất cần thiết; Rất khả thi): 3 điểm; đôi khi (Ảnh hưởng ít; Phù hợp; Khó khăn; Cần thiết; Khả thi): 2 điểm; không thực hiện (Không ảnh hưởng; Không phù hợp; Không khó khăn; Không cần thiết; Không khả thi): 1 điểm.
Dựa vào điểm trung bình, chúng tôi qui ước:
- Nếu 1,00 ≤ X ≤ 1,67: Mức độ đánh giá thấp.
- Nếu 1,68 ≤ X ≤ 2,34: Mức độ đánh giá trung bình.
- Nếu 2,35 ≤ X ≤ 3: Mức độ đánh giá cao.
2.3. Kết quả khảo sát thực trạng Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục thể chất tại trường cao đẳng.
2.3.1. Thực trạng hoạt động giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê
2.3.1.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giảng viên, sinh viên trường cao đẳng Thống kê về vai trò của hoạt động giáo dục thể chất.
Để tìm hiểu thực trạng nhận thức của Cán bộ quản lý, Giáo viên, Sinh viên trường cao đẳng Thống kê về vai trò của hoạt động Giáo dục thể chất, chúng tôi đã điều tra các khách thể bằng câu hỏi số 1 (phụ lục 1, 2). Kết quả xử lý số liệu (bảng 2.2, phụ lục 4) như sau:
Bảng 2.2. Thực trạng đánh giá của cán bộ quản lý, giảng viên và sinh viên trường cao đẳng Thống kê về vai trò của hoạt động Giáo dục thể chất
Từ bảng 2.2 chúng ta thấy:
Các khách thể điều tra đánh giá chung về vai trò của hoạt động Giáo dục thể chất ở mức cao ( X =2.75). Tuy nhiên mức điểm đánh giá về các nội dung trong bảng có sự khác nhau cụ thể như:
Nội dung được đánh giá mức độ cao nhất là: “Giúp Sinh viên hoàn thiện thể lực, tăng cường sức khỏe , rèn luyện, hình thành và phát triển những phẩm chất ý chí” với điểm trung bình X = 2,81, thứ bậc 1.
Nội dung được đánh giá ở mức thấp nhất là: “Tạo niềm tin và nâng cao uy tín của nhà trường đối với xã hội trong công tác đào tạo” với điểm trung bình X = 2,55, thứ bậc 4… Không có nội dung nào các khách thể đánh giá ở mức trung bình và thấp.
Tóm lại, qua kết quả khảo sát cho thấy: Nhận thức về vai trò hoạt động Giáo dục thể chất của Cán bộ quản lý, Giáo viên và Sinh viên trường cao đẳng Thống kê là đầy đủ và toàn diện. Sự nhận thức này sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong thực hiện vai trò của hoạt động Giáo dục thể chất của nhà trường trong giai đoạn hiện nay.
Khi trò chuyện về vấn đề này, Thầy Nguyễn Văn B – Hiệu trưởng nhà trường cho rằng: “Giáo dục thể chất là một nội dung, một nhiệm vụ quan trọng tron g quá trình đào tạo. Chất lượng đào tạo của nhà trường không chỉ nằm ở kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp của Sinh viên mà còn ở khả năng thích ứng, sức khỏe của Sinh viên khi tham gia lao động nghề nghiệp”. Có sự nhận thức như vậy là nhờ sự triển khai các văn bản hướng dẫn, quy định về hoạt động Giáo dục thể chất của nhà trường đến từng đơn vị và cá nhân giảng viên. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục thể chất tại trường cao đẳng.
Tuy nhiên, khi trao đổi về vai trò của quản lý hoạt động Giáo dục thể chất và ảnh hưởng của nó đến hiệu quả hoạt động Giáo dục thể chất của nhà trường. Nhiều Cán bộ quản lý, Giáo viên còn bày tỏ sự quan ngại vì còn có một bộ phận Cán bộ quản lý, Giáo viên chưa thực sự nhận thức đúng đắn vai trò của công tác quản lý, còn thờ ơ hoặc quản lý một cách hình thức đối với hoạt động Giáo dục thể chất. Thậm chí cho rằng quản lý hoạt động Giáo dục thể chất là nhiệm vụ chuyên biệt của người lãnh đạo nhà trường. Vì vậy, tuy có nhận thức về vai trò hoạt động Giáo dục thể chất khá toàn diện, song nhận thức về tầm quan trọng của quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở một bộ phận Cán bộ quản lý, Giáo viên nhà trường còn có những bất cập cần có biện pháp tác động để nâng cao hơn nữa nhận thức về vai trò của quản lý hoạt động Giáo dục thể chất cho đội ngũ Cán bộ quản lý, Giáo viên và Sinh viên trong nhà trường.
2.3.1.2. Thực trạng thực hiện nội dung, chương trình giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê
Để tìm hiểu thực trạng nhận thức thực hiện nội dung, chương trình giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê, chúng tôi đã điều tra các khách thể bằng câu hỏi số 2 (phụ lục 1, 2). Kết quả xử lý số liệu (bảng 2.3, phụ lục 4) như sau:
Bảng 2.3. Đánh giá của các khách thể khảo sát về thực trạng thực hiện nội dung, chương trình giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê
Kết quả bảng 2.3 cho thấy:
Đánh giá chung của các khách thể khảo sát về thực trạng thực hiện nội dung, chương trình giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê ở mức trung bình ( X =2.33). Sự chênh lệch điểm đánh giá của Cán bộ quản lý, Giáo viên và Sinh viên là không đáng kể, với điểm chênh lệch là 0,01 điểm. Tuy nhiên mức điểm đánh giá về các nội dung trong bảng có sự khác nhau cụ thể như:
Các nội dung, chương trình Giáo dục thể chất được đánh giá mức độ thực hiện hiệu quả cao gồm: “Chạy cự ly ngắn” với điểm trung bình X = 2,45, thứ bậc 1; “Giới thiệu về vị trí, tính chất môn học Giáo dục thể chất trong trường cao đẳng” với điểm trung bình X = 2,44, thứ bậc 2; “Thể dục tay không cơ bản” với điểm trung bình X = 2,42, thứ bậc 3…
Các nội dung, chương trình Giáo dục thể chất được đánh giá mức độ thực hiện hiệu quả trung bình gồm:: “Môn cầu lông” với điểm trung bình X = 2,23, thứ bậc 7; “Môn bóng chuyền” với điểm trung bình X = 2,22, thứ bậc 8… Không có nội dung nào các khách thể đánh giá ở mức thực hiện hiệu quả thấp. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục thể chất tại trường cao đẳng.
Từ bảng 2.3 chúng ta nhận thấy, tất cả các nội dung, chương trình Giáo dục thể chất được đánh giá mức thực hiện hiệu quả cao đều là các nội dung chương trình bắt buộc của bộ môn Giáo dục thể chất, còn các nội dung tự chọn thì mức thực hiện hiệu quả thấp hơn. Nguyên nhân vấn đề này có thể lý giải như sau: Đối với chương trình bắt buộc là những nội dung kiến thức cơ bản, do đó việc giảng dạy và học tập thuận lợi, hơn nữa các nội dung này Sinh viên đã được tiếp cận từ bậc học phổ thông nên kiến thức, kỹ năng nền tảng đã được xây dựng thuận lợi. Đối với các nội dung tự chọn là các môn thể thao chuyên biệt, đòi hỏi Sinh viên tham gia phải có năng khiếu thể thao, hơn nữa đội ngũ giảng viên giảng dạy thể chất chưa đáp ứng đầy đủ trình độ đào tạo chuyên biệt đối với các môn thể thao Sinh viên lựa chọn (có giảng viên tốt nghiệp chuyên ngành bóng đá nhưng lại phụ trách dạy bóng chuyền hoặc dạy bơi lội…), do đó việc tổ chức thực hiện sẽ có hạn chế nhất định. Trao đổi về vấn đề này thầy Hoàng Văn H – Tổ trưởng tổ Giáo dục thể chất chia sẻ: “Đối với các nội dung chương trình bắt buộc thì toàn bộ giảng viên đơn vị đều có trình độ chuyên môn và đảm nhiệm tốt, tuy nhiên với các môn thể thao chuyên sâu, tổ chuyên môn phải lựa chọn giảng viên tuy không tốt nghiệp đúng chuyên ngành nhưng là những người có năng khiếu và năng lực thể thao để giảng dạy, hơn nữa cơ sở vật chất phục vụ các nội dung tự chọn chưa đảm bảo đầy đủ và đồng bộ, nên còn gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện”.
Tóm lại, qua kết quả khảo sát cho thấy: Nhìn chung mức độ thực hiện các nội dung chương trình Giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê mới chỉ ở mức trung bình. Do đó việc tăng cường tổ chức thực hiện hoạt động Giáo dục thể chất, chú trọng quản lý hoạt động Giáo dục thể chất nhất là đối với các nội dung chương trình tự chọn, các phòng trào Thể dục thể thao, nâng cao trình độ cho đội ngũ Giáo viên thực hiện giảng dạy bộ môn là đòi hỏi thực tiễn hiện nay đối với nhà trường.
2.3.1.3. Thực trạng thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ hoạt động giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê
Để tìm hiểu thực trạng thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ hoạt động giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê, chúng tôi đã điều tra các khách thể bằng câu hỏi số 3 (phụ lục 1, 2). Kết quả xử lý số liệu (bảng 2.4, phụ lục 4) như sau:
Bảng 2.4. Đánh giá của các khách thể khảo sát về thực trạng thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ hoạt động giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê
Nhận xét:
Đánh giá chung của các khách thể khảo sát về thực trạng thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ hoạt động giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê về mức độ thực hiện và hiệu quả thực hiện đều ở mức trung bình ( X MĐTH=2,28; X HQTH = 2,17). Đánh giá chung về mức độ thực hiện cao hơn so với hiệu quả thực. Tuy nhiên mức điểm đánh giá về các nội dung trong bảng có sự khác nhau cụ thể như: Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục thể chất tại trường cao đẳng.
Các mục tiêu, nhiệm vụ hoạt động giáo dục thể chất được đánh giá mức độ thực hiện cao nhưng hiệu quả thực hiện trung bình gồm: “Giáo dục đạo đức và nhân cách phù hợp với tiêu chuẩn đạo đức Cộng sản chủ nghĩa, sẵn sàng xây dựng và bảo vệ tổ quốc.” với điểm trung bình X MĐTH=2,47; X HQTH = 2,33, thứ bậc 1; “Tổ chức các hoạt động thể thao đáp ứng nhu cầu vận động và vui chơi giải trí ngoài giờ học cho Sinh viên.” với điểm trung bình X MĐTH=2,36; X HQTH = 2,24, thứ bậc 2.
Các mục tiêu, nhiệm vụ hoạt động giáo dục thể chất được đánh giá mức độ thực hiện và hiệu quả thực hiện trung bình gồm: “Củng cố sức khoẻ cho Sinh viên phát triển hài hoà và cân đối tất cả các hệ thống chức năng trong cơ thể đạt tới khả năng làm việc cao nhất và sự hoàn thiện về thể lực, hình thành những kỹ năng kỹ xảo vận động cần thiết” với điểm trung bình X MĐTH=2,17; X HQTH = 2,05, thứ bậc 3…
Như vậy, qua khảo sát cho thấy việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ hoạt động giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê bên cạnh những mặt tích cực còn tồn tại những hạn chế nhất định. Mức độ thực hiện và hiệu quả thực hiện chưa tương xứng với nhau. Nguyên nhân vấn đề này khi trao đổi với các khách thể khảo sát chúng tôi nhận thấy: Mục tiêu, nhiệm vụ Giáo dục thể chất được nhà trường cụ thể hóa bằng các văn bản, quy chế, quy định, điều lệ cụ thể và triển khai đến từng đơn vị, đoàn thể, câu lạc bộ thể thao. Tuy nhiên để thực hiện mục tiêu này đòi hỏi có sự tích hợp trong nhiều hoạt động từ giảng dạy đến các phong trào hoạt động thể thao, đòi hỏi sự tham gia của toàn thể nhà trường chứ không chỉ riêng một bộ phận chuyên biệt nào. Hơn nữa tinh thần, ý thức tham gia của Sinh viên đối với hoạt động học tập, rèn luyện thể thao nhiều khi chưa tích cực, nhất là việc tự luyện tập thể thao còn mang tính bột phát, nhỏ lẻ nên hiệu quả đạt được các mục tiêu chưa cao. Thực tiễn thì thực trạng thể lực của một bộ phận Sinh viên chưa đảm bảo yêu cầu trong học tập, rèn luyện cũng như tham gia các hoạt động và lao động các ngành nghề khi ra trường.
Trao đổi với thầy Nguyễn Tuấn T – Trưởng phòng Đào tạo nhà trường, thầy chia sẻ: “Trong những năm học qua, nhà trường chú trọng chất lượng đào tạo toàn diện cả về thể lực và nhân cách cho Sinh viên, hiệu quả đào tạo có những chuyển biến tích cực. Tuy nhiên về mặt thể lực của Sinh viên và việc đạt các mục tiêu Giáo dục thể chất còn chậm và có nhiều tồn tại hạn chế, thể hiện ở kết quả học tập môn Giáo dục thể chất của Sinh viên còn thấp, khi đi thực tập nghề nghiệp nhiều cơ sở cũng phản ánh sự thích ứng, sức chịu đựng và sức khỏe của Sinh viên chưa thật đảm bảo với yêu cầu các lĩnh vực lao động…”
Từ thực trạng trên, việc tăng cường công tác Giáo dục thể chất nhằm đạt các mục tiêu là nhiệm vụ quan trọng của trường cao đẳng Thống kê trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy, nhà trường cần chú trọng khâu quản lý hoạt động Giáo dục thể chất, có các biện pháp quản lý khoa học và thiết thực để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong quá trình đào tạo.
2.3.1.4. Thực trạng các hình thức giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê
Để tìm hiểu thực trạng các hình thức giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê, chúng tôi đã điều tra các khách thể bằng câu hỏi số 4 (phụ lục 1, 2). Kết quả xử lý số liệu (bảng 2.5, phụ lục 4) như sau:
Bảng 2.5. Đánh giá của các khách thể khảo sát về thực trạng các hình thức giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê
Từ bảng 2.5 cho thấy. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục thể chất tại trường cao đẳng.
Đánh giá chung của các khách thể khảo sát về thực trạng các hình thức Giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê về mức độ thực hiện và hiệu quả thực hiện đều ở mức trung bình ( X MĐTH=2,09; X HQTH = 1,75). Đánh giá chung về mức độ thực hiện cao hơn so với hiệu quả thực. Tuy nhiên mức điểm đánh giá về các nội dung trong bảng có sự khác nhau cụ thể như:
Hình thức Giáo dục thể chất được đánh giá mức độ thực hiện cao nhất “GDTC chính khóa, các giờ học thể chất” với X MĐTH=2,92, thứ bậc 1, tuy nhiên hiệu quả thực hiện lại chỉ ở mức nhận định trung bình với X HQTH=2,17, thứ bậc 1. Hình thức hoạt động câu lạc bộ thể thao có điểm trung bình mức độ thực hiện ở mức cao với X MĐTH=2,50, thứ bậc 2, tuy nhiên hiệu quả thực hiện hình thức này chỉ ở mức thấp với X HQTH= 1,59, thứ bậc 5.
Hình thức Giáo dục thể chất được đánh giá mức độ thực hiện thấp nhất là “Các buổi tập theo nhóm có người tổ chức, hướng dẫn”, X MĐTH= 1,52, thứ bậc 6, đánh giá mức thực hiện thấp và X HQTH= 1,45, thứ bậc 6, mức đánh giá hiệu quả thấp. Các hình thức khác đều có điểm đánh giá mức thực hiện và hiệu quả thực hiện ở mức trung bình.
Như vậy, qua khảo sát cho thấy mức độ thực hiện và hiệu quả thực hiện hình thức Giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê mới chỉ tập trung chủ yếu vào giờ học chính khóa môn Giáo dục thể chất. Các hình thức Giáo dục thể chất mang tính ngoại khóa chưa được phát huy và tổ chức thực hiện. Thầy Hoàng văn H – Tổ trưởng tổ Giáo dục thể chất cho biết: “Ngoài giờ học chính khóa, nhà trường luôn tạo các điều kiện về sân chơi, dụng cụ tập luyện trong nhà đa năng, sân vận động để phục vụ nhu cầu tự luyện tập thể thao của Sinh viên, tuy nhiên số lượng Sinh viên tham gia còn hạn chế, hoạt động của các câu lạc bộ thể thao cũng chưa được phát huy, do đa phần Sinh viên còn thiếu tinh thần, ý thức trong rèn luyện Thể dục thể thao”.
Nguyên nhân thực trạng trên khi trao đổi với Cán bộ quản lý, Giáo viên và Sinh viên nhà trường chúng tôi nhận thấy: Một là do tinh thần ý thức, và nhu cầu tập luyện Thể dục thể thao, rèn luyện thể chất của Sinh viên nhà trường chưa cao. Thứ hai là các phong trào, các câu lạc bộ thể thao còn hoạt động mang tính hình thức, chưa có sức lôi cuốn và lan tỏa đối với Sinh viên. Thứ ba là sự hỗ trợ của đội ngũ giảng viên có chuyên môn, có năng lực hoạt động thể chất để tổ chức các hình thức Giáo dục thể chất cho Sinh viên vẫn chưa được phát huy thường xuyên.
Từ thực trạng trên, việc nghiên cứu đề xuất các biện pháp tăng cường hoạt động Giáo dục thể chất, quản lý hoạt động Giáo dục thể chất nói chung, quản lý các hình thức Giáo dục thể chất nói riêng là một yêu cầu đặt ra hiện nay đối với trường cao đẳng Thống kê. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục thể chất tại trường cao đẳng.
2.3.1.5. Thực trạng đội ngũ giảng viên giảng dạy giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê
Trong quá trình xây dựng và phát triển của Trường cao đẳng Thống kê, đội ngũ cán bộ giáo viên không ngừng phát triển về số lượng và ngày càng nâng cao chất lượng, trình độ chính trị và trình độ chuyên môn để đáp ứng nhu cầu, mục tiêu phát triển của Nhà trường. Trong đó có đội ngũ giáo viên giảng dạy môn giáo dục thể chất gồm có 06 Giáo viên, tính đến năm 2020.
Bảng 2.6. Thực trạng đội ngũ giảng viên giảng dạy giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê
Qua bảng 2.6 cho chúng ta thấy giáo viên giảng dạy trực tiếp môn giáo dục thể chất có tong số là 06 người, với trình độ giảng viên tốt nghiệp đại học trở lên chiếm 83,3%, 02 giảng viên có trình độ thạc sĩ, 01 giảng viên có trình độ cao đẳng chiếm 16,7%. Số giảng viên có thâm niên công tác từ 21 năm trở lên chiếm 66,7%, giảng viên công tác từ 10 đến 20 năm có 33,3%, không có giảng viên nào công tác dưới 10 năm. Trong số 06 giảng viên đảm nhiệm dạy môn giáo dục thể chất trên tổng số 988 sinh viên. Vậy trung bình tỷ lệ là 165 sinh viên /1 giáo viên. Chúng ta thấy rằng số lượng giáo viên giảng dạy bộ môn giáo dục thể chất của nhà trường đã vượt mức nếu so với quy định của Bộ Lao động thương bình và Xã hội là 1 giảng viên /250 sinh viên.
Độ tuổi trung bình của các giảng viên là 31→ 40 tuổi chiếm 50,0%. Đây là một ưu thế lớn bởi vì lực lượng giảng viên có thời gian công tác lâu năm sẽ có kinh nghiệm giảng dạy phong phú, đồng thời các giảng viên đang ở “độ chín” của trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cũng như tư cách đạo đức nghề nghiệp. Đội ngũ giảng viên có khả năng tiếp cận khoa học kỹ thuật, học tập và tự học nâng cao trình độ chuyên môn – nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của giáo dục.
Tuy nhiên trình độ đào tạo của đội ngũ giảng viên còn chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, có 02 giảng viên có trình độ thạc sĩ, 01 giảng viên có trình độ cao đẳng, còn lại là trình độ đại học. Do vậy, trong giai đoạn tới nhà trường, tổ Giáo dục thể chất cần quan tâm cử giảng viên đi học tập nâng cao trình độ đào tạo để đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục, nâng cao hơn nữa chất lượng đội ngũ giảng viên Giáo dục thể chất của nhà trường.
2.3.1.5. Thực trạng cơ sở vật chất hoạt động giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê
Để đánh giá thực trạng cơ sở vật chất phục vụ hoạt động giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê, chúng tôi tiến hành Thống kê số lượng và đánh giá chất lượng cơ sở vật chất, sân tập, dụng cụ tập luyện Thể dục thể thao của nhà trường trong giai đoạn hiện nay. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục thể chất tại trường cao đẳng.
Bảng 2.7. Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ hoạt động giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê
Qua bảng 2.7 cho thấy: Mặc dù nhà trường quan tâm đầu tư nhưng thực trạng cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động Thể dục thể thao của nhà trường nói chung và hoạt động giáo dục thể chất nói riêng còn nhiều hạn chế.
Về số lượng sân tập, dụng cụ: Theo quy định tất cả các trường đều phải có sân tập đảm bảo từ 3.5m2→ 4m2/01 Sinh viên. Như vậy, số lượng sân tập ở trường cao đẳng Thống kê là chưa đảm bảo, do hạn chế về quỹ đất. Thực tế, Nhà trường chỉ có 01 sân điền kinh (được sử dụng luôn phần trong sân điền kinh làm sân bóng đá); 01 nhà tập đa năng; 05 sân cầu lông cả trong nhà và ngoài trời; 01 sân bóng chuyền; 01 thảm thể dục và 07 bàn bóng bàn. Số lượng sân tập, dụng cụ so với tổng thể số lượng Sinh viên của nhà trường phục vụ hoạt động Thể dục thể thao nội khóa cũng như ngoại khóa thì còn ít, chưa đáp ứng đủ nhu cầu cần thiết. Đặc biệt, các loại sân tập như bóng đá, bóng chuyền, bóng bàn, cầu lông còn quá khiêm tốn và chiếm tỉ lệ thấp so với Sinh viên toàn trường, trong khi đó nhu cầu Học sinh sinh viên tham gia tập thể dục, ngoại khoá ngày càng tăng.
Về chất lượng sân tập, dụng cụ: Nhìn chung, các sân tập và dụng cụ phục vụ cho hoạt động giáo dục thể chất chính khóa cũng như ngoại khóa được đánh giá ở mức độ trung bình trở lên, đảm bảo cho các hoạt động giảng dạy và thi đấu.
Nhìn chung, số lượng và chất lượng cơ sở vật chất phục vụ hoạt động giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê còn khiêm tốn so với yêu cầu đổi mới công tác GDTC và tập luyện Thể dục thể thao cho Sinh viên. Do vậy, việc đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng cơ sở vật chất phục vụ hoạt động Giáo dục thể chất và quản lý hoạt động Giáo dục thể chất là vấn đề cấp thiết trong những năm học tiếp theo của nhà trường.
2.3.1.6. Thực trạng trình độ thể lực của sinh viên trường cao đẳng Thống kê
Trình độ thể lực của Sinh viên là yếu tố quan trọng trong hoạt động Giáo dục thể chất, là điều kiện cần để giúp người vận động viên đạt thành tích cao. Trong Giáo dục thể chất, trình độ thể lực vừa là mục đích, vừa là nội dung, vừa là điều kiện của hoạt động này. Do vậy, Giáo viên luôn quan tâm phát triển thể lực đặc biệt là các tố chất thể lực như: nhanh, mạnh, bền, khéo và dẻo dai cho Sinh viên. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục thể chất tại trường cao đẳng.
Để tìm hiểu trình trạng thể lực của Sinh viên trường cao đẳng Thống kê, chúng tôi đã trưng cầu ý kiến Sinh viên với câu hỏi số 5 (phụ lục 2). Kết quả thể hiện như sau:
Bảng 2.8. Thực trạng tự đánh giá về thể lực của Sinh viên trường cao đẳng Thống kê
Nhìn vào kết quả cho thấy: Tình trạng thể lực của Sinh viên trường cao đẳng Thống kê hầu hết được đánh giá từ mức độ trung bình trở lên, chiếm 86,7%. Mức độ khá, tốt cũng chiếm tỷ lệ 33,4%. Kết quả này là điều kiện thuận lợi cho Sinh viên có thể tham gia vào hoạt động Giáo dục thể chất một cách dễ dàng hơn.
Nhìn vào kết tự đánh giá thể lực của Sinh viên trường cao đẳng Thống kê chúng tôi nhận thấy: Thể lực của phần lớn Sinh viên trường cao đẳng Thống kê đạt mức độ trung bình trở lên, trong đó tập chung chủ yếu ở thể lực trung bình chiếm 53,3%. Đặc biệt vẫn còn 13,3% Sinh viên có thể lực ở mức độ yếu, điều đó ảnh hưởng đến cuộc sống, hoạt động và rèn nghề của Sinh viên.
Để kiểm chứng thực trạng thể chất của Sinh viên nhà trường, chúng tôi đã Thống kê kết quả học tập môn Giáo dục thể chất học kỳ 1 năm học 2019 – 2020 của Sinh viên. Kết quả Thống kê như sau:
Bảng 2.9. Kết quả học tập môn Giáo dục thể chất của sinh viên trường cao đẳng Thống kê học kỳ 1 năm học 2019 – 2020
Từ kết quả khảo sát bảng 2.8 và Thống kê bảng 2.9 cho thấy thể lực nói chung của Sinh viên trường cao đẳng Thống kê mới chủ yếu ở mức trung bình, số lượng và tỷ lệ Sinh viên còn có thể lực yếu còn chiếm tỷ lệ tương đối. Do vậy, nhà trường cần quan tâm rèn luyện và phát triển thể lực đáp ứng yêu cầu cao của cuộc sống lao động trong tương lai cho Sinh viên. Cần có các biện pháp quản lý hữu hiệu đối với hoạt động Giáo dục thể chất của nhà trường hiện nay và những năm học tiếp theo.
2.3.2. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê
2.3.2.1. Thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục thể chất trong trường cao đẳng Thống kê
Để tìm hiểu thực trạng xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê, chúng tôi đã điều tra các khách thể bằng câu hỏi số 5 (phụ lục 1). Kết quả xử lý số liệu (bảng 2.10, phụ lục 4) như sau:
Bảng 2.10. Đánh giá của các khách thể khảo sát về thực trạng xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục thể chất tại trường cao đẳng.
Kết quả khảo sát bảng 2.10 cho thấy:
Đáng giá chung của Cán bộ quản lý, Giáo viên về thực trạng xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê mức độ thực hiện cao với
X MĐTH=2,47 và hiệu quả thực hiện lại chỉ ở mức nhận định trung bình với X HQTH= 1,88. Tổng chung đánh giá mức độ thực hiện và hiệu quả thực hiện cũng chỉ đạt ở mức trung bình với X =2,18. Như vậy đánh giá về mức độ thực hiện cao hơn so với hiệu quả thực hiện với độ chênh lệch điểm đánh giá là 0,59 điểm, độ chênh lệch điểm khá lớn. Tuy nhiên mức độ đánh giá từng nội dung trong xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động Giáo dục thể chất có sự khác nhau như:
Nội dung trong xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động Giáo dục thể chất có điểm đánh giá trung bình cao đó là: “Kế hoạch hoạt động Giáo dục thể chất cho Sinh viên của nhà trường” với X MĐTH=2,76 và X HQTH=2,20, tổng chung X =2,48 thứ bậc 1. “Kế hoạch hoạt động GDTC cho Sinh viên của tổ giáo dục thể chất” với X MĐTH=2,69 và X HQTH=2,08, tổng chung X =2,39 thứ bậc 2. Cả hai nội dung này đều có điểm đánh giá mức thực hiện và hiệu quả thực hiện ở mức nhận định cao.
Nội dung trong xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động Giáo dục thể chất có điểm đánh giá trung bình đó là: “Kế hoạch hoạt động Giáo dục thể chất cho Sinh viên của phòng, khoa chuyên môn, đoàn thanh niên, hội Sinh viên trong nhà trường.” với X MĐTH=2,17 và X HQTH = 1,81, tổng chung X = 1,99 thứ bậc 4. Đặc biệt nội dung “Kế hoạch hoạt động Giáo dục thể chất cho Sinh viên của các câu lạc bộ thể thao” có điểm đánh giá mức thực hiện trung bình X MĐTH = 2,02, xong hiệu quả thực hiện lại có điểm mức đánh giá thấp X HQTH = 1,60, tổng chung X =1,81, thứ bậc 5.
Từ thực trạng trên chúng ta thấy: Việc triển khai xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động Giáo dục thể chất được nhà trường quan tâm và chỉ đạo ở mức thường xuyên cao, tuy nhiên hiệu quả thực hiện đối với các kế hoạch mới chỉ ở mức trung bình. Nguyên nhân vấn đề này có thể lý giải như sau: Một là kỹ năng xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động Giáo dục thể chất của Cán bộ quản lý, Giáo viên trực tiếp tham gia Giáo dục thể chất của nhà trường còn có những hạn chế, cụ thể kỹ năng xác định các mục tiêu chung và nhiệm vụ cụ thể trong hoạt động Giáo dục thể chất, tính chính xác của việc xây dựng kế hoạch hoạt động Giáo dục thể chất chưa đảm bảo, việc xem xét mức độ khả thi những nội dung trong kế hoạch hoạt động Giáo dục thể chất chưa được đánh giá chi tiết. Hai là việc kiểm tra của lãnh đạo nhà trường, của Cán bộ quản lý chức năng đối với các kế hoạch còn chưa sâu sát, dẫn đến tính hình thức trong xây dựng kế hoạch, tính sáng tạo và đổi mới trong các kế hoạch còn ít. Ba là kế hoạch hoạt động Giáo dục thể chất của các đơn vị, phòng chức năng, đoàn thanh niên, câu lạc bộ thể thao còn có sự trùng chéo, chưa có sự liên thông và phối hợp chặt chẽ. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục thể chất tại trường cao đẳng.
Trao đổi với thầy Nguyễn Văn B – Hiệu trưởng nhà trường, thầy cho rằng: “Để quản lý hoạt động Giáo dục thể chất thì nhiệm vụ đầu tiên đó là xây dượng kế hoạch, tuy nhiên nhà trường mới chủ yếu tập trung vào kế hoạch chung và kế hoạch của tổ giáo dục thể chất. Sự phân cấp và nhiệm vụ đối với hoạt động này trong nhà trường cũng cần có sự điều chỉnh sao cho tinh gọn và đảm bảo chất lượng hơn, tránh được những hạn chế, bất cập hiện nay”.
Từ thực trạng trên, việc tăng cường xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động Giáo dục thể chất là nhiệm vụ nhà trường cần đặt ra. Việc nghiên cứu và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê là một tất yếu khách quan nhằm nâng cao chất lượng Giáo dục thể chất trong nhà trường.
2.3.2.2. Thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục thể chất trong trường cao đẳng Thống kê
Để tìm hiểu thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê, chúng tôi đã điều tra các khách thể bằng câu hỏi số 6 (phụ lục 1). Kết quả xử lý số liệu (bảng 2.11, phụ lục 4) như sau:
Bảng 2.11. Đánh giá của các khách thể khảo sát về thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê
Kết quả khảo sát bảng 2.11 cho thấy:
Đáng giá chung của Cán bộ quản lý, Giáo viên về thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê mức độ thực hiện cao với X MĐTH=2,43 và hiệu quả thực hiện lại chỉ ở mức nhận định trung bình với X HQTH= 1,82. Tổng chung đánh giá mức độ thực hiện và hiệu quả thực hiện cũng chỉ đạt ở mức trung bình với X =2,13. Tuy nhiên mức độ đánh giá từng nội dung trong tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê có sự khác nhau như:
Nội dung trong tổ chức thực hiện quản lý hoạt động Giáo dục thể chất có điểm trung bình đánh giá mức độ thực hiện và hiệu quả thực hiện cao đó là: “Chỉ đạo, triển khai các văn bản quy định về hoạt động Giáo dục thể chất của ngành, của nhà trường đến từng phòng, khoa, tổ chuyên môn, các đoàn thể và giảng viên giảng dạy bộ môn Giáo dục thể chất trong nhà trường” với X MĐTH=2,78 và X HQTH=2,22, tổng chung X =2,50 thứ bậc 1. “Triển khai công tác dự giờ, kiểm tra chuyên đề, kiểm tra toàn diện và rút kinh nghiệm trực tiếp cho giảng viên giảng dạy môn Giáo dục thể chất trong nhà trường.” với X MĐTH=2,74 và X HQTH=2,14, tổng chung X =2,44 thứ bậc 2.
Đặc biệt nhiều nội dung có mức độ thực hiện cao hoặc trung bình, xong hiệu quả thực hiện lại ở mức thấp như:“ Phân công, phân nhiệm cụ thể cho phòng, khoa, đoàn thể, các câu lạc bộ thể thao và tổ giáo dục thể chất trong thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động Giáo dục thể chất cho Sinh viên trong nhà trường.” có điểm đánh giá mức thực hiện cao X = 2,63, xong hiệu quả thực hiện lại có điểm mức đánh giá thấp X HQTH = 1,65, tổng chung X =2,14, thứ bậc 5; “Chỉ đạo phối hợp và liên kết với các trung tâm Thể dục thể thao trong tổ chức các hoạt động Giáo dục thể chất, các giải thi đấu thể thao cho Sinh viên nhà trường” có điểm đánh giá mức thực trung bình X MĐTH = 2,08, xong hiệu quả thực hiện lại có điểm mức đánh giá thấp X HQTH = 1,56, tổng chung X =1,82, thứ bậc 8. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục thể chất tại trường cao đẳng.
Nội dung có mức đánh giá thấp nhất là: “Tổ chức các giải thể thao, các phòng trào giao lưu thi đấu thể thao trong và ngoài nhà trường, tạo ra môi trường học tập, rèn luyện thể thao tích cực trong sinh viên.”, mức thực hiện trung bình X MĐTH = 1,80, X HQTH = 1,55, tổng chung X =1,68, thứ bậc 9.
Từ thực trạng trên chúng ta thấy: Thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động Giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê bên cạnh những mặt tích cực còn tồn tại nhiều hạn chế và bất cập. Đặc biệt là tính hiệu quả khi thực hiện nhìn chung chưa đạt yêu cầu đặt ra. Nguyên nhân vấn đề này khi trao đổi với đội ngũ Cán bộ quản lý, Giáo viên nhà trường cho thấy: Việc tổ chức thực hiện quản lý hoạt động Giáo dục thể chất tuy được quan tâm, thực hiện xong trong quá trình tổ chức còn chưa xây dựng được các quy chế, quy định cụ thể đối với các hoạt động như câu lạc bộ Thể dục thể thao được thành lập nhưng quy chế hoạt động chưa chặt chẽ, việc phối hợp với các trung tâm cũng chưa có những quy định cụ thể. Việc phân cấp, phân quyền đối với các đơn vị, cá nhân phụ trách hoạt động Giáo dục thể chất cũng vẫn còn trồng chéo, chưa phát huy được sự đầu tư về trí tuệ và sức lực của đội ngũ Cán bộ quản lý, Giáo viên trong các hoạt động. Các phòng trào hoạt động Thể dục thể thao của trường, đoàn thanh niên, hội sinh viên, các hoạt động ngoại khóa thể thao của tổ Giáo dục thể chất còn nặng tính hình chức, chưa thường xuyên và chưa mang tính thiết thực để lôi cuốn đối với Sinh viên.
Thầy Hoàng Trọng H – Bí thư đoàn trường chia sẻ: “Thực hiện sự chỉ đạo của nhà trường, đoàn thanh niên chú trọng tổ chức thực hiện các hoạt động Giáo dục thể chất cho Sinh viên, thành lập các câu lạc bộ thể thao, liên kết với tổ Giáo dục thể chất, các đơn vị để tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn lực và điều kiện cơ sở vật chất nên nhiều hoạt động chưa mang lại hiệu quả thiết thực…”.
Qua thực trạng trên cho thấy, việc tăng cường quản lý tổ chức thực hiện hoạt động Giáo dục thể chất, phát huy nguồn lực, vật lực, sự liên kết các đơn vị, cá nhân, phát huy vai trò của các câu lạc bộ, tổ chức đoàn, hội trong nhà trừng là điều cần thiết hiện nay. Điều này đòi hỏi cần có sự nghiên cứu một cách hệ thống và đề xuất được các biện pháp phù hợp để quản lý hoạt động Giáo dục thể chất trong nhà trường.
2.3.2.3. Thực trạng chỉ đạo hoạt động giáo dục thể chất trong trường cao đẳng Thống kê
Để tìm hiểu thực trạng chỉ đạo hoạt động hoạt động Giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê, chúng tôi đã điều tra các khách thể bằng câu hỏi số 7 (phụ lục 1). Kết quả xử lý số liệu (bảng 2.12, phụ lục 4) như sau:
Bảng 2.12. Đánh giá của các khách thể khảo sát về thực trạng chỉ đạo hoạt động giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê
Kết quả khảo sát bảng 2.12 cho thấy: Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục thể chất tại trường cao đẳng.
Đánh giá chung của chung của các khách thể khảo sát về mức độ thực hiện và hiệu quả thực hiện chỉ đạo hoạt động hoạt động Giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê ở mức trung bình với X =2,12. Trong đó đánh giá mức độ thực hiện cao với X MĐTH=2,52, tuy nhiên đánh giá mức độ hiệu quả thực hiện lại chỉ ở mức trung bình với X HQTH=1,72. Nhìn chung không có nội dung nào được đánh giá mức độ hiệu quả thực hiện đạt ở mức cao. Mức độ đánh giá đối với từng nội dung được khảo sát cũng có sự khác nhau như:
Nội dung chỉ đạo hoạt động hoạt động Giáo dục thể chất có điểm trung bình đánh giá cao nhất là: “Chỉ đạo, thực hiện hoạt động Giáo dục thể chất theo kế hoạch mục tiêu của trường, các phòng, khoa chuyên môn, các đoàn thể, tổ giáo dục thể chất trong thực hiện nhiệm vụ GDTC cho Sinh viên trong từng năm học”, với X MĐTH=2,74 và X HQTH=2,00, tổng chung =2,37 thứ bậc 1. “Chỉ đạo và huy động sự phối hợp tham gia của các phòng, khoa, tổ chức đoàn thể trong nhà trường, các cá nhân có năng lực trong tổ chức hoạt động Giáo dục thể chất, Thể dục thể thao trong nhà trường để thúc đẩy phát triển công tác Giáo dục thể chất”, với X MĐTH=2,61 và X HQTH=1,81, tổng chung X =2,21 thứ bậc 2.
Đặc biệt rất nhiều nội dung khảo sát có mức độ thực hiện cao, xong hiệu quả thực hiện lại thấp như: “Chỉ đạo rà soát, bổ sung cơ sở vật chất, tài liệu, nguồn tài chính đảm bảo cho hoạt động Giáo dục thể chất của nhà trường một cách đồng bộ, hiệu quả” với X MĐTH=2,60 và X HQTH=1,50. “Chỉ đạo, thực hiện phối hợp với các trung tâm Thể dục thể thao trong huy động nguồn lực và cơ sở vật chất phục vụ các hoạt động Giáo dục thể chất và phong trào thể thao trong các đợt thi đua, tổ chức giải thi đấu thể thao của nhà trường”, với X MĐTH=2,10 và X HQTH=1,66.
Qua thực trạng chỉ đạo hoạt động hoạt động Giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê cho chúng ta thấy, Cán bộ quản lý nhà trường có những nỗ lực trong chỉ đạo hoạt động Giáo dục thể chất, mức độ thực hiện hoạt động này khá thường xuyên. Tuy nhiên, hiệu quả các hoạt động chỉ đạo chưa đạt được theo yêu cầu, mới chỉ tập trung ở mức trung bình. Nguyên nhân vấn đề này, qua tìm hiểu từ các khách thể khảo sát cho thấy: Một là năng lực tổ chức thực hiện sự chỉ đạo hoạt động của đội ngũ Cán bộ quản lý, Giáo viên nhà trường còn có những hạn chế, do phần lớn Cán bộ quản lý, Giáo viên thực hiện nhiệm vụ kiêm nhiệm, chưa có trình độ đào tạo chuyên biệt, hơn nữa với khối lượng công việc chuyên môn lớn, nên thời gian dành cho mảng thực hiện hoạt động Giáo dục thể chất cho Sinh viên cũng bị ảnh hưởng.
Hai là việc phối hợp hoạt động của các phòng, ban, tổ chức đoàn thể trong thực hiện sự chỉ đạo chưa sâu sát, một bộ phận Cán bộ quản lý, Giáo viên còn chưa nhiệt tình, chưa phát huy năng lực của mình trong xây dựng các nội dung, tìm kiếm các hình thức Giáo dục thể chất đa dạng, phù hợp để tổ chức, lôi cuốn sự tham gia của đông đảo Sinh viên. Ba là cơ sở vật chất phục vụ hoạt động Giáo dục thể chất của nhà trường còn chưa đồng bộ và phù hợp, việc bổ sung các trang thiết bị, sân tập, dụng cụ luyện tập và thi đấu còn chậm do nguồn kinh phí nhà trường hạn chế. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục thể chất tại trường cao đẳng.
Trao đổi vấn đề này với thầy Nguyễn Văn B – Hiệu trưởng nhà trường, thầy cho rằng: “Để nâng cao hiệu quả công tác Giáo dục thể chất của nhà trường, BGH nhà trường luôn quan tâm chỉ đạo sát sao đối với từng nội dung, hình thức hoạt động Giáo dục thể chất, Chỉ đạo và giao trách nhiệm cho các cá nhân, đơn vị tham gia. Tuy nhiên thực tế cho thấy, các nội dung chỉ đạo mức độ hoàn thành và thực hiện còn chưa xứng tầm với mục tiêu nhà trường đề ra. Nhà trường sẽ tiếp tục tăng cường công tác chỉ đạo hoạt động Giáo dục thể chất, có chế tài cụ thể để tăng cường hoạt động này”.
Từ thực trạng trên có thể thấy, việc tăng cường chỉ đạo hoạt động Giáo dục thể chất, chú trọng đến hiệu quả thực hiện các nội dung chỉ đạo là nhiệm vụ đặt ra đối với trường cao đẳng Thống kê hiện nay nhằm tăng cường sự quản lý đối với hoạt động Giáo dục thể chất, nâng cao hiệu quả Giáo dục thể chất nói riêng và chất lượng đào tạo của nhà trường nói chung.
2.3.2.4. Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục thể chất trong trường cao đẳng Thống kê.
Để tìm hiểu thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động Giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê, chúng tôi đã điều tra các khách thể bằng câu hỏi số 8 (phụ lục 1). Kết quả xử lý số liệu (bảng 2.13, phụ lục 4) như sau:
Bảng 2.13. Đánh giá của các khách thể khảo sát về thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê
Kết quả khảo sát bảng 2.13 cho thấy:
Đánh giá chung của chung của các khách thể khảo sát về mức độ thực hiện và hiệu quả thực hiện kiểm tra, đánh giá hoạt động Giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê ở mức trung bình với X =1,90. Trong đó đánh giá mức độ thực hiện X MĐTH=2,03, X HQTH=1,76. Không có nội dung nào được đánh giá mức độ hiệu quả thực hiện đạt ở mức cao, thậm chí nhiều nội dung mức độ thực hiện hiệu quả thấp. Tuy nhiên mức độ đánh giá đối với từng nội dung được khảo sát cũng có sự khác nhau như:
Nội dung kiểm tra, đánh giá hoạt động hoạt động Giáo dục thể chất có điểm trung bình đánh giá mức thực hiện cao, xong mức độ thực hiện trung bình gồm: “Kiểm tra kết quả tham gia hoạt động Giáo dục thể chất của Sinh viên theo kỳ học, năm học. Đánh giá được tình hình thể chất của Sinh viên so với yêu cầu, mục tiêu đào tạo của nhà trường.”, với X MĐTH=2,70 và X HQTH=2,09, tổng chung X =2,40 thứ bậc 1. “Kiểm tra hồ sơ chuyên môn, đánh giá chất lượng chuyên môn của tổ Giáo dục thể chất, đội ngũ giảng viên trực tiếp giảng dạy bộ môn Giáo dục thể chất trong nhà trường”, với X MĐTH=2,67 và X HQTH=1,82, tổng chung X =2,25 thứ bậc 2. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục thể chất tại trường cao đẳng.
Đặc biệt rất nhiều nội dung khảo sát có mức độ thực hiện trung bình, xong hiệu quả thực hiện lại thấp như: “Kiểm tra đánh giá hiệu quả sự phối hợp với các trung tâm Thể dục thể thao trong tổ chức hoạt động Giáo dục thể chất, các phòng trào Thể dục thể thao trong nhà trường”, với X MĐTH=2,24 và X HQTH=1,60, tổng chung X =1,92 thứ bậc 5. “Kiểm tra đánh giá chất lượng hoạt động Giáo dục thể chất của các phòng, khoa chức năng, các câu lạc bộ thể thao trong nhà trường”, với X MĐTH=2,14 và X HQTH=1,64, tổng chung =1,89 thứ bậc 6.
Từ kết quả khảo sát chúng ta thấy, việc kiểm tra, đánh giá hoạt động Giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê cũng được nhà trường quan tâm và thực hiện, tuy nhiên mới chỉ tập trung ở kiểm tra, đánh giá chất lượng giảng dạy, hồ sơ chuyên môn của đội ngũ trực tiếp tham gia giảng dạy Giáo dục thể chất. Còn việc kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện của các phòng, khoa chức năng, tổ chức đoàn thể, các câu lạc bộ hay các phong trào còn chưa thật sâu sát. Do đó nhiều nội dung trong kiểm tra, đánh giá chất lượng hiệu quả còn thấp. Nguyên nhân vấn đề này là do: Thứ nhất là, nhà trường chưa có đội ngũ chuyên biệt thực hiện nhiệm vụ quản lý, kiểm tra đánh giá hoạt động Giáo dục thể chất, phong trào Thể dục thể thao. Hai là, báo cáo của các phòng, khoa chức năng và các câu lạc bộ đối với mảng Giáo dục thể chất, phong trào thể thao chưa thường xuyên, báo cáo chưa phản ánh hết thực tế và những vấn đề còn tồn tại, bất cập để nhà trường có những định hướng, điều chỉnh kịp thời. Ba là, nhà trường chưa xây dựng được các tiêu chí cụ thể để kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện công tác Giáo dục thể chất, các phòng trào Thể dục thể thao, các giải thi đấu nên hiệu quả kiểm tra, đánh giá còn có những buông lỏng.
Từ thực trạng đó, nhiệm vụ đặt ra đối với lãnh đạo nhà trường là cần tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá các hoạt động giáo dục, đào tạo của nhà trường nói chung và hoạt động Giáo dục thể chất nói riêng. Điều đó đòi hỏi cần có sự nghiên cứu, tham mưu cho lãnh đạo nhà trường của các phòng, khoa, các tổ chức đoàn thể về các biện pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, kiểm tra, đánh giá hoạt động Giáo dục thể chất ở nhà trường.
2.4. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê
Để tìm hiểu thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê, chúng tôi đã điều tra các khách thể bằng câu hỏi số 9 (phụ lục 1) và câu hỏi số 6 (phụ lục 2). Kết quả xử lý số liệu (bảng 2.14, phụ lục 4) như sau:
Bảng 2.14. Đánh giá của các khách thể khảo sát về thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục thể chất trường cao đẳng Thống kê Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục thể chất tại trường cao đẳng.
Kết quả bảng 2.14 cho thấy:
Đánh giá chung về thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở trường đẳng Thống kê của các khách thể khảo sát ở mức ảnh hưởng cao ( X = 2,44). Trong đó đánh giá mức độ ảnh hưởng của Cán bộ quản lý, Giáo viên thấp hơn so với đánh giá của Sinh viên ( X Cán bộ quản lý,GV= 2,43 và X Sinh viên= 2,45). Tuy nhiên, mức độ đánh giá đối với các nội dung khảo sát trong bảng 2.14 có sự khác nhau:
Các yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến quản lý quản lý hoạt động Giáo dục thể chất thuộc về các yếu tố chủ quan như: “Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên giảng dạy môn giáo dục thể chất trong nhà trường”, điểm trung bình X = 2,85, thứ bậc 1; “Năng lực quản lý của Hiệu trưởng”, điểm trung bình X = 2,81, thứ bậc 2.
Các yếu tố khách quan cũng có điểm trung bình mức độ ảnh hưởng cao, tuy nhiên thấp hơn so với các yếu tố chủ quan như: “Điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường”, điểm trung bình X = 2,78, thứ bậc 3; Yếu tố có điểm trung bình mức ảnh hưởng thấp nhất đó là: “Điều kiện kinh tế xã hội”, điểm trung bình X = 2,68, thứ bậc 6, vẫn thuộc mức nhận định cao.
Trao đổi với thầy Nguyễn Văn B – Hiệu trưởng nhà trường về vấn đề này, thầy chia sẻ: “Trong quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở nhà trường hiện nay còn gặp nhiều khó khăn và trở ngại như: Năng lực quản lý của đội ngũ trực tiếp tham gia quản lý công tác sinh viên, thực tế đội ngũ này của nhà trường còn ít về số lượng, hạn chế về kinh nghiệm và kỹ năng, thứ hai là cơ sở vật chất của nhà trường còn nhiều yếu kém… Để nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động Giáo dục thể chất đòi hỏi nhà trường phải từng bước tháo gỡ những khó khăn trên”.
Thực trạng này cũng phản ánh khá rõ nét và đồng nhất với những phân tích thực trạng về đội ngũ, cơ sở vật chất và thể lực của Sinh viên nhà trường như đã phân tích trong thực trạng hoạt động Giáo dục thể chất ở trên.
Từ thực trạng trên ta thấy, quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê trong giai đoạn hiện nay còn đứng trước nhiều khó khăn, có nhiều yếu tố ảnh hưởng và kìm hãm hiệu quả hoạt động này. Việc nghiên cứu và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục thể chất, khắc phục những hạn chế, giảm thiểu các yếu tố ảnh hưởng là nội dung cần thiết giúp nhà trường nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động Giáo dục thể chất từ đó tạo ra chất lượng, hiệu quả công tác đào tạo của nhà trường, phát triển các kỹ năng, tố chất thể lực cho sinh viên, đáp ứng yêu cầu thực tiễn xã hội và các ngành nghề hiện nay.
2.5. Đánh giá chung thực trạng quản lý hoạt động giáo dục thể chất trường Cao đẳng Thống kê Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục thể chất tại trường cao đẳng.
2.5.1. Những ưu điểm
Lãnh đạo nhà trường đã quan tâm và xác định quản lý hoạt động Giáo dục thể chất là một trong những nhiệm vụ của nhà trường. Công việc này đã được đưa vào nội dung của kế hoạch năm học. Ban giám hiệu nhà trường đã có sự lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện công tác này, có sự phân cấp, phân quyền đối với các phòng ban, khoa, cá nhân trong quản lý hoạt động Giáo dục thể chất.
Công tác phổ biến, quán triệt những quy định chung về công tác Giáo dục thể chất, quản lý hoạt động Giáo dục thể chất được tiến hành thường xuyên và liên tục. Nhờ vậy, Cán bộ quản lý, Giáo viên nhà trường luôn thấy được tầm quan trọng của quản lý hoạt động Giáo dục thể chất nên ngày càng nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công tác của mình.
Quản lý hoạt động Giáo dục thể chất được thực hiện theo đúng quy chế. Đội ngũ cán bộ quản lý của trường có những kinh nghiệm và tâm huyết với nghề. Đảng uỷ, Ban Giám hiệu nhà trường rất quan tâm đến vấn đề nâng cao chất lượng đào tạo, quan tâm đến việc đổi mới hoàn thiện cơ chế quản lý nói chung và quản lý hoạt động Giáo dục thể chất nói riêng trong nhà trường.
2.5.2. Những hạn chế
Bên cạnh những nội dung, công việc trong quản lý hoạt động Giáo dục thể chất những năm qua tại trường cao đẳng Thống kê đã làm được thì vẫn còn có những hạn chế nhất định trong quản lý hoạt động Giáo dục thể chất như sau:
Nhà trường đã cụ thể hóa các văn bản của Bộ, địa phương về quản lý hoạt động Giáo dục thể chất, tuy nhiên chưa xây dựng được các kế hoạch sát với tình hình thực tế đối với nhà trường, trong kiểm tra đánh giá quản lý hoạt động Giáo dục thể chất còn có sự nể nang, chưa phản ánh đúng thực trạng những yếu kém, tồn tại.
Các nội dung, hình thức hoạt động Giáo dục thể chất còn chưa tạo hứng thú cho Sinh viên, nhiều hoạt động mang tính hình thức nhiều hơn là hiệu quả. Sinh viên tham gia các hoạt động Thể dục thể thao ngoài giờ chính khóa còn ít.
Việc tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động Giáo dục thể chất của trường chưa triệt để, công tác kiểm tra trong quy trình quản lý còn bị buông lỏng, thiếu kịp thời. Chính vì vậy, chưa có được sự đánh giá, rút kinh nghiệm trong công tác này. Mặc dù nhà trường và trung tâm Thể dục thể thao đã có sự phối hợp trong trong các hoạt động Giáo dục thể chất, thi đấu Thể dục thể thao nhưng sự phối hợp đó còn mang tính hình thức và còn bị hạn chế bởi điều kiện cơ sở vật chất, cán bộ, kinh phí hoạt động.
Quản lý hoạt động Giáo dục thể chất còn nặng về văn bản, tổ chức hành chính, chưa quan tâm nắm bắt tâm lý, nhu cầu của sinh viên. Đặc biệt là chưa gắn các nội dung Giáo dục thể chất, phòng trào Thể dục thể thao với yêu cầu các chuyên ngành đào tạo để phát triển kỹ năng cho Sinh viên. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục thể chất tại trường cao đẳng.
Cơ sở vật chất phục vụ hoạt động Giáo dục thể chất, quản lý hoạt động Giáo dục thể chất của nhà trường còn hạn chế, chưa tương xứng và đảm bảo so với yêu cầu thực tiễn.
2.5.3. Nguyên nhân của những hạn chế
Thực trạng và những hạn chế trong quản lý hoạt động Giáo dục thể chất của trường cao đẳng Thống kê là do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan như.
- Nguyên nhân trước hết là do đội ngũ Cán bộ quản lý trực tiếp tham gia hoạt động Giáo dục thể chất còn thiếu kỹ năng, kinh nghiệm. Việc xây dựng và phát triển đội ngũ Cán bộ quản lý tham gia hoạt động Giáo dục thể chất chưa tốt. Sự phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ chưa chặt chẽ.
- Sự chỉ đạo thực hiện phong trào của các chức năng chưa đồng bộ, còn chồng chéo giữa việc lập kế hoạch và tổ chức thực hiện.
- Tính nhiệt tình của đội ngũ cán bộ làm công tác Giáo dục thể chất còn chưa cao, do chế độ đãi ngộ chưa được quan tâm đúng mức.
- Chương trình đào tạo môn học Giáo dục thể chất chưa được cải tiến phù hợp, số môn tự chọn còn nghèo nàn chưa đáp ứng được nhu cầu người học.
- Kinh phí hàng năm cấp cho công tác tổ chức hoạt động phong trào Thể dục thể thao còn quá ít.
- Cơ sở vật chất chưa đảm bảo cho việc học và tổ chức các hoạt động Thể dục thể thao. Những nguyên nhân cơ bản này dẫn đến quản lý hoạt động Giáo dục thể chất của trường còn tồn tại những hạn chế, đòi hỏi phải có những biện pháp mang tính đột phá để quản lý hoạt động Giáo dục thể chất của trường có những chuyển biến theo hướng đáp ứng mục tiêu và yêu cầu của công tác Giáo dục thể chất tại trường trong giai đoạn hiện nay.
Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục thể chất tại trường cao đẳng.
Trường Cao đẳng Thống kê là trường Cao đẳng công lập, đào tạo cho đất nước một đội ngũ cán bộ có chuyên môn giỏi, phẩm chất đạo đức tốt, có khả năng thích ứng cao với yêu cầu nghề nghiệp và đòi hỏi của xã hội.
Đánh giá về thực trạng hoạt động Giáo dục thể chất của trường cao đẳng Thống kê, chúng tôi đi vào tìm hiểu thực trạng nhận thức của Cán bộ quản lý, Giáo viên và Sinh viên nhà trường; thực trạng thực hiện nội dung, chương trình Giáo dục thể chất; thực trạng đội ngũ giảng viên giảng dạy Giáo dục thể chất; thực trạng hình thức và cơ sở vật chất phục vụ hoạt động Giáo dục thể chất.
Nhìn chung về hoạt động Giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê bên cạnh một số mặt tích cực, sự nỗ lực cố gắng chỉ đạo và thực hiện của nhà trường công tác Giáo dục thể chất đã đạt được những thành quả nhất định. Tuy nhiên, hoạt động Giáo dục thể chất của nhà trường cũng còn tồn tại những hạn chế nhất định cả về đội ngũ, nội dung, hình thức thực hiện như trong đánh giá và phân tích thực trạng.
Về thực trạng quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê cũng có những mặt tích cực, tuy nhiên cũng còn tồn tại những hạn chế như việc xây dựng kế hoạch quản lý, tổ chức chỉ đạo thực hiện và kiểm tra, đánh giá hoạt động Giáo dục thể chất. Do đó, việc đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê là điều rất thiết thực hiện nay.
Hoạt động Giáo dục thể chất và quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê còn có những hạn chế, bất cập là do sự chi phối và ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân, trong đó những nguyên nhân chủ quan như năng lực quản lý của đội ngũ Cán bộ quản lý nhà trường, tinh thần ý thực tham gia hoạt động Giáo dục thể chất của Sinh viên chưa cao giữ vai trò ảnh hướng lớn nhất. Ngoài ra còn các nguyên nhân khách quan như quan điểm chỉ đạo hoạt động Giáo dục thể chất, cơ sở vật chất nhà trường còn thiếu và chưa đồng bộ… Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục thể chất tại trường cao đẳng.
Từ những phân tích thực trạng về hoạt động Giáo dục thể chất và quản lý hoạt động Giáo dục thể chất như trên là cơ sở để chúng tôi đề xuất các biện pháp hướng tới nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê trong giai đoạn hiện nay và định hướng cho những năm tiếp theo.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục thể chất tại trường cao đẳng
