Luận văn: Thực trạng quản lí giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lí giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng quản lí hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về tình hình kinh tế, xã hội và giáo dục của tỉnh Sóc Trăng

2.1.1. Tình hình kinh tế- xã hội

Sóc Trăng là tỉnh có đông đồng bào dân tộc Khmer trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Dân số toàn tỉnh trên 1.300.000 người; trong đó, người Khmer chiếm 30,71%, người Hoa chiếm 5% và người Kinh chiếm khoảng 65% dân số của tỉnh.

Toàn tỉnh có 08 huyện, 02 thị xã và 01 thành phố với 109 xã, phường, thị trấn; Điều kiện kinh tế – xã hội phát triển không đồng đều, một số địa phương còn nhiều khó khăn trong việc đầu tư cho Giáo dục, nhất là đầu tư cơ sở vật chất phục vụ các hoạt động dạy và học ở các trường vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc Khmer.

Về tình hình kinh tế – xã hội năm 2017 của tỉnh tiếp tục chuyển biến tích cực, kinh tế tăng trưởng 7,01%; trong đó, khu vực I tăng 4,75%, khu vực II tăng 6,34%, khu vực III tăng 9,54%. Giáo dụcP bình quân đầu người đạt 34 triệu đồng/năm.

Văn hóa xã hội có nhiều tiến bộ, các chính sách an sinh xã hội được quan tâm thực hiện. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cơ bản được đảm bảo.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Quản Lý Giáo Dục

2.1.2. Tình hình phát triển giáo dục của tỉnh Sóc Trăng

Trong những năm qua, công tác phát triển giáo dục nói trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số luôn được các cấp ủy đảng và chính quyền các địa phương quan tâm, đã có nhiều chính sách ưu đãi cho học sinh dân tộc miễn, giảm học phí và các khoản đóng góp xây dựng nhà trường; hỗ trợ học phí cho học sinh con hộ nghèo; đầu tư xây dựng và phát triển hệ thống các trường Phổ thông dân tộc nội trú; thực hiện chính sách cử tuyển vào đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và Dự bị đại học; tổ chức dạy học tiếng dân tộc trong trường phổ thông có đông học sinh dân tộc, chất lượng Giáo dục nói chung và Giáo dục vùng đồng bào dân tộc Khmer ngày càng được nâng lên. Luận văn: Thực trạng quản lí giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.

Công tác tuyển sinh hàng năm, ngành Giáo dục chỉ đạo các đơn vị trực thuộc thực hiện việc tuyển sinh theo kế hoạch và chỉ tiêu của tỉnh quy định. Đối với ngành Giáo dục tỉnh Sóc Trăng, hầu hết các đơn vị trường tiểu học và trung học cơ sở tuyển sinh bằng hình thức xét tuyển. Riêng đối với trung học phổ thông thực hiện việc tuyển sinh bằng hình thức thi tuyển.

Để nâng cao chất lượng dạy và học, Sở Giáo dục&ĐT tạo hướng dẫn và khuyến khích các đơn vị trường thường xuyên tổ chức các chuyên đề theo cụm trường, chuyên đề cấp huyện, tỉnh; sinh hoạt chuyên môn liên trường trong hệ thông các trường Phổ thông dân tộc nội trú với nhau để trao đổi, học tập kinh nghiệm trong công tác dạy và học. Hầu hết các đơn vị đều tích cực tham gia các hoạt động này và mang lại hiệu quả thiết thực.

Tính đến cuối năm học 2017-2018, toàn tỉnh có 577 trường từ mầm non đến trung học phổ thông (mầm non 134 trường, tiểu học 292 trường, trung học cơ sở 113 trường, trung học phổ thông 38 trường); Tổng số học sinh dân tộc thiểu số (chủ yếu là dân tộc Khmer và dân tộc Hoa) được huy động đến lớp từ mầm non đến trung học phổ thông là 91.557/259.927 học sinh toàn tỉnh, chiếm tỷ lệ 35,22% học sinh trong toàn tỉnh. Riêng học sinh dân tộc Khmer: 77.840/259.927 học sinh, chiếm tỷ lệ 29,94% (mầm non 15.465, tiểu học 38.723, trung học cơ sở 18.855, Trung học phổ thông 4.797). Đối với dân tộc Hoa là 13.717/259.927 học sinh chiếm tỷ lệ 5,27% (mầm non 2.774 cháu, tiểu học 5.279 học sinh, trung học cơ sở 3.805 học sinh, trung học phổ thông 1.859 học sinh).

2.1.3. Đặc điểm trường Phổ thông dân tộc nội trú

Hệ thống trường Phổ thông dân tộc nội trú trong những năm qua được đầu tư xây dựng ở hầu hết các huyện trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng; cơ sở vật chất trang thiết bị dạy học được trang bị tương đối đồng bộ; từng bước đáp ứng nhu cầu học tập nội trú của học sinh người dân tộc Khmer trên địa bàn.Tuy nhiên, với quy mô trường lớp như hiện nay, các trường Trung học cơ sở dân tộc nội trú ở các huyện chưa đáp ứng đủ nhu cầu học tập nội trú của học sinh có hoàn cảnh khó khăn (mỗi trường có không quá 08 lớp, mỗi khối có 02 lớp).

Toàn tỉnh hiện có 09 trường Phổ thông dân tộc nội trú gồm 90 lớp, với 2.874/2.928 học sinh giảm 54 học sinh so với đầu năm học; trong đó, bỏ học 39 học sinh. Cấp trung học phổ thông có 26 lớp với 862/867 học sinh, giảm 05 học sinh, (trong đó bỏ học 04 học sinh) so với đầu năm. Cấp trung học cơ sở có 64 lớp, với 2.012/2.061 học sinh, giảm 49 học sinh (trong đó 35 học sinh bỏ học) so với đầu năm. Tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số được học ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú trên địa bàn tỉnh cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông chiếm tỷ lệ 9,99% tổng số học sinh dân tộc thiểu số trong toàn tỉnh (2.928/29.316).

Thực hiện Thông tư số 01/2016/TT-BGDĐT ngày 15/01/2016 của Bộ Giáo dục&ĐT ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của trường Phổ thông dân tộc nội trú. Hàng năm, Sở Giáo dục&ĐT tham mưu với Ủy ban nhân dân tỉnh giao chỉ tiêu tuyển sinh vào các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh và huyện; đồng thời, hướng dẫn các trường thực hiện nghiêm túc công tác tuyển sinh theo đúng đối tượng và đúng qui chế tuyển sinh. Đầu năm học 2017-2018, đối với các trường Phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở huyện thực hiện tuyển sinh bằng hình thức xét tuyển. Riêng đối với trường Phổ thông dân tộc nội trú trung học phổ thông Huỳnh Cương và Trường Trung học cơ sở&THPT DTNT Vĩnh Châu, Thạnh Phú thực hiện việc tuyển sinh bằng hình thức “Thi tuyển kết hợp xét tuyển”. Luận văn: Thực trạng quản lí giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.

Năm học 2017-2018, Sở Giáo dục&ĐT đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh cho phép tuyển sinh vào các trường Phổ thông dân tộc nội trú là 864 chỉ tiêu; trong đó, trung học cơ sở là 747 chỉ tiêu và trung học phổ thông là 217 chỉ tiêu; đồng thời tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh xét cử tuyển 138 chỉ tiêu vào các trường đại học. Ngành Giáo dục&ĐT Tỉnh đã thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ chính sách đối với học sinh dân tộc thiểu số, nhà giáo và Cán bộ quản lý Giáo dục ở vùng dân tộc. Đối với các em học sinh dân tộc Khmer học chữ Khmer được cấp sách giáo khoa tiếng Khmer và giấy, vở, bút viết theo Thông tư liên tịch của Bộ Giáo dục và Đào tạo – Bộ Nội vụ và Bộ Tài chính và Nghị định của Chính phủ Quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở Giáo dục phổ thông và trung tâm Giáo dục thường xuyên.

Công tác nâng cao chất lượng dạy và học ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú luôn được quan tâm và chỉ đạo kịp thời. Từ đầu năm học, các đơn vị trường đều xây dựng kế hoạch cụ thể và triển khai đến đội ngũ cán bộ, Giáo viên thực hiện tốt các cuộc vận động và phong trào thi đua của ngành; đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và dạy học, tăng cường các hoạt động Giáo dục cho học sinh; thông tin kịp thời kết quả học tập của các em học sinh đến phụ huynh học sinh để cùng phối hợp; chú trọng công tác bồi dưỡng chuyên môn cho Giáo viên và cán bộ quản lý; các đơn vị trường đều quan tâm cải tiến công tác quản lý Giáo dục theo hướng tăng cường công tác kiểm tra nội bộ, chú trọng kiểm tra chuyên môn; thực hiện đúng và đủ nội dung chương trình giảng dạy do Bộ GD&ĐT quy định, tích cực đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với tình hình thực tế của nhà trường và đặc điểm của học sinh dân tộc thiểu số.

Bên cạnh đó, nhằm thúc đẩy việc đổi mới phương pháp dạy học, Ban giám hiệu và các tổ chuyên môn đều xây dựng kế hoạch dự giờ thăm lớp. Ngoài ra, một số đơn vị trường còn chỉ đạo Giáo viên chủ nhiệm các lớp lên kế hoạch dự giờ Giáo viên bộ môn dạy lớp mình phụ trách để đánh giá phương pháp dạy học và có đề xuất cho Giáo viên bộ môn điều chỉnh cho phù hợp. Đây có thể coi là một trong những biện pháp làm cho Giáo viên tích cực đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh, góp phần thực hiện thành công kế hoạch nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường.

Với mục tiêu của trường Phổ thông dân tộc nội trú là nơi tạo nguồn đào tạo cán bộ phục vụ vùng sâu, vùng đồng bào dân tộc. Do đó, trong những năm học gần đây, các trường Phổ thông dân tộc nội trú luôn phấn đấu nâng dần chất lượng Giáo dục của đơn vị mình.

2.1.4. Vài nét về văn hóa các dân tộc tỉnh Sóc Trăng

Tỉnh Sóc Trăng là mái nhà chung của ba dân tộc anh em: Kinh, Khmer, Hoa, với dân số trên 1,3 triệu người. Họ cùng nhau sinh sống từ nhiều thế kỷ nay đã tạo nên cho Sóc Trăng có nhiều nét đặc thù về sinh hoạt văn hóa lễ hội truyền thống ở địa phương. Những hoạt động, sinh hoạt văn hóa lễ hội diễn ra xuyên suốt gần như quanh năm trên khắp địa bàn tỉnh Sóc Trăng. Mỗi dân tộc có những lễ hội độc đáo riêng, song trong quá trình cộng cư sinh sống mỗi lễ hội đã trở thành những lễ hội chung của cả ba dân tộc. Luận văn: Thực trạng quản lí giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.

Trong các Lễ hội của các dân tộc ở Sóc Trăng, ấn tượng nhất, hoành tráng nhất và cũng là “thương hiệu” của du lịch Sóc Trăng, chính là Lễ hội Ooc- om-boc – Đua ghe Ngo truyền thống của đồng bào dân tộc Khmer, diễn ra vào ngày 14 và 15 tháng 10 âm lịch hàng năm. Đối với người Khmer, mặt Trăng được xem là một vị thần điều tiết mùa màng đã giúp họ làm ăn khá giả trong năm. Lễ vật dùng để cúng Trăng là Om – boc hay còn gọi là cốm dẹp, được quết từ lúa nếp mới cùng với các loại hoa màu, trái cây. Trước khi làm lễ cúng, mọi người làm một cái cổng hoa lá với 2 cây tre làm trụ và một cây làm đà ngang ở trước sân nhà hay sân chùa. Phía trên cổng, giăng một dây trầu gồm 12 lá được cuốn tròn tượng trưng cho 12 tháng trong năm và một dây cau 7 trái được chẻ vỏ ra như hai cánh con ong, tượng trưng cho 7 ngày trong tuần. Sau khi cháy hết tuần hương, Vị Achar gọi trẻ con đến ngồi xếp bằng trước bàn thờ, dùng tay nhúm một ít cốm và lễ vật khác, đút vào miệng từng đứa trẻ, tay kia vỗ lưng và hỏi ước muốn của chúng, câu trả lời của các em suôn sẻ, lễ độ, rành rọt thì người lớn tin rằng năm đó mọi điều tốt lành sẽ đến với họ. Trong đêm cúng Trăng, người ta còn tổ chức thả đèn nước trên sông, với quan niệm sẽ xua tan bóng tối, sự ô uế và buồn bã, giữ lại sự bình yên trong phum, sóc. Nhiều hoạt động sân khấu truyền thống Khmer như đoàn Dù kê, Rô băm biểu diễn phục vụ nhân dân trong tỉnh và khách hành hương.

Theo phong tục cổ truyền của người Khmer, ngày hôm sau Lễ cúng trăng (15/10) là Hội đua ghe Ngo. Ghe được bảo quản tại chùa, trước khi tham dự đua tại phum, sóc thường tổ chức Lễ hạ thủy cho ghe rất long trọng. Năm nào cũng vậy, cuộc đua quy tụ hàng trăm vận động viên các đội nam nữ người dân tộc Khmer tại các chùa ở Tp. Sóc Trăng, các huyện, kể cả các tỉnh bạn tham gia tranh tài. Lễ hội Oc-om-boc, Đua ghe Ngo là 1 trong 15 Lễ hội cấp quốc gia của Việt Nam. Để nâng tầm lễ hội, năm 2013, Chính phủ đã thống nhất cho tỉnh Sóc Trăng đăng cai tổ chức Festival Đua ghe Ngo với sự tham gia tranh tài của các đội ghe trong và ngoài tỉnh, và có thể có các đội ghe nước ngoài.

Tiếp theo là Lễ hội Thác Côn độc đáo của đồng bào Khmer vùng An Trạch, còn gọi là lễ hội Cúng dừa được tổ chức hàng năm tại chùa Mahasal Thatmon, diễn ra vào các ngày 15, 16 và 17 tháng 3 âm lịch, thu hút rất đông người dân quanh vùng và du khách gần xa đến tham quan dự lễ.

Lễ hội này mang ý nghĩa cầu mong sự an lành, hạnh phúc, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, giúp người ta nhớ về cội nguồn tổ tiên, ông bà đã sống chan hòa và yêu thương nhau hơn trên mảnh đất này. Lễ vật dùng để cúng trong lễ hội là trái dừa tươi được trang trí thêm hoa, lá, nhang đèn, nhìn như những chiếc bình bông, rất độc đáo, nên còn gọi là lễ hội cúng Dừa. Những chiếc bình bông sặc sỡ được trang trí bằng hoa tươi và nhang đèn cắm trên trái dừa ấy được người Khmer gọi là Slathođôn. Luận văn: Thực trạng quản lí giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.

Sau khi lễ hội kết thúc là lúc thực hiện nghi lễ đem hạt giống ra đồng dâng cúng đất đai, cúng hồn lúa, cúng những vị thần bảo hộ cho ruộng vườn, làng mạc, tỏ lòng biết ơn các vị thần đem lại mưa thuận, gió hòa cầu mong vụ sau sẽ trúng mùa hơn. Ngoài ý nghĩa là một hoạt động văn hóa truyền thống của đồng bào Khmer Sóc Trăng, Thác Côn còn là lễ hội đặc trưng mang đậm tính chất nông nghiệp, bắt nguồn từ tín ngưỡng cổ xưa mà du khách ở phương xa ít khi có dịp tham dự.

Lễ hội Cúng Phước Biển, một lễ hội truyền thống của đồng bào người Khmer vùng biển Vĩnh Châu, Sóc Trăng. Người Khmer gọi là Chrôirum check, được tổ chức vào ngày 14, 15 tháng 2 (âm lịch) hàng năm, thu hút rất nhiều du khách. Đây là dịp để bà con ngư dân người Khmer vùng biển Vĩnh Châu tạ ơn biển cả đã cho con người nguồn hải sản quý giá và cầu nguyện cho người đi biển được bình yên, đánh bắt được nhiều tôm cá.

Lễ hội Cúng Phước Biển được tổ chức tại chùa Cà Săng (Srei Krosang) ở làng biển xã Vĩnh Châu, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng: bắt đầu bằng lễ cầu siêu, tưởng nhớ công ơn tổ tiên, tạ ơn biển cả và cầu mong những điều tốt lành nhất sẽ đến với dân làng. Sau đó, người ta rước tượng Phật từ chùa Cà Săng đến khu vực hành lễ, nơi dựng sẵn một cái rạp với chiều dài 8m, ngang 18m. Đây là nơi diễn ra các nghi lễ cầu nguyện tam bảo, cầu quốc thái dân an và chư tăng thuyết pháp. Sau các nghi lễ truyền thống là những hoạt động hội hè, giải trí. Nhiều trò chơi dân gian giàu tính truyền thống của dân tộc Khmer được tổ chức như đua bò kéo xe, đua ghe Ngo trên cạn, thi đua tưới rẫy, thi nhặt củ hành. Ngày hội cũng có những chương trình biểu diễn văn nghệ với những điệu múa uyển chuyển, điêu luyện của các cô gái Khmer hòa cùng dàn nhạc ngũ âm và cả vũ điệu cổ truyền như múa gà, múa trống sadam, múa khỉ của các nghệ nhân Khmer.

Tại vùng biển Kinh Ba – Trần Đề, từ lâu tồn tại tín ngưỡng tục thờ Cá Ông là một nét đặc sắc trong đời sống tâm linh vì Cá Ông là một vị thần luôn giúp ngư dân vượt qua những phong ba bão táp, mang lại mùa thu hoạch hải sản bội thu. Để tỏ lòng kính trọng và cầu cho mưa thuận gió hòa, sóng yên biển lặng, hàng năm vào ngày 21 tháng 3 âm lịch ngư dân xứ biển Kinh Ba, thị trấn Trần Đề, huyện Trần Đề lại tưng bừng tổ chức lễ hội Nghinh Ông.

Vào sáng ngày 21/3 ÂL tại Lăng Ông Nam Hải ngư dân vùng biển Kinh Ba cùng đông đảo du khách gần xa đã hội tụ về để bắt đầu lễ hội. Đoàn Đào Thầy (hầu Ông) tiến hành những nghi lễ truyền thống sau đó tham gia diễu hành cùng đoàn múa lân rồi lên thuyền ra biển để cúng Ông. Lễ vật cúng gồm heo quay, vịt luộc, rượu, trái cây cùng hoa tươi. Sau khi cúng vái xong, đại diện Đoàn nghi lễ sẽ xin keo, xin thành công có nghĩa là Ông đã chứng cho tấm lòng thành của ngư dân. Thuyền chính sẽ phát tín hiệu để các thuyền khác cùng quay vào bờ. Đến bờ, Đoàn nghi lễ sẽ diễu hành quanh lăng và sau đó, thực hiện nghi thức rước Ông vào lăng nghi lễ: nhạc lễ, múa lân và dâng lên Ông những sản vật mà ngư dân đã thu hoạch được. Song song với phần lễ thì những hoạt động của hội cũng diễn ra rất sôi nổi và đầy hấp dẫn với những trò chơi dân gian, thi đấu thể thao như: kéo co, bóng chuyền, bi sắt. Vào các buổi tối ở Lăng Ông Nam Hải còn tổ chức hát bội, đờn ca tài tử phục vụ các nhu cầu vui chơi giải trí của nhân dân và du khách. Luận văn: Thực trạng quản lí giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.

Hàng năm, vào ngày mùng 4-5 tháng 5 âm lịch, tại cồn Mỹ Phước, xã Nhơn Mỹ, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng lại diễn ra Lễ hội Sông nước Miệt vườn vào dịp tết Đoan Ngọ nhằm tôn vinh trái cây miệt vườn và người làm vườn, mừng vụ mùa no ấm và cầu cho mưa thuận gió hòa để mùa tới lại được bội thu hơn nữa. Lễ vật chính trong mâm cúng là những loại trái cây thu hoạch được trong mùa vụ của năm đó, trang trí theo những hình thù đẹp mắt hay những biểu tượng của Long, Lân, Qui, Phụng, với những loại trái cây nổi tiếng như: Cam sành Ba Trinh, mít nghệ An Mỹ, bưởi năm roi Kế Thành, chôm chôm Phong Nẫm.

Trong thời gian diễn ra lễ hội cũng có nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, các hội thi như Hội thi Ẩm thực Sông nước Miệt vườn, đỗ bánh xèo kỷ lục với đường kính 1m, triển lãm trái ngon, Hội thảo kỹ thuật về cây ăn trái, đua thuyền rồng. Ngoài ra, còn có các trò chơi dân gian như: đập nồi, nhảy bao, bi sắt, thu hút đông du khách đến tham quan và vui chơi.

Đến với lễ hội, du khách có thể khám phá nhiều món ăn dân dã mang hương vị xứ cồn như cá lóc luộc hèm, canh chua cá ngát nấu bần, ốc luộc nước dừa chấm cơm mẻ và có thể thưởng thức đờn ca tài tử dưới những vườn cây ăn trái rợp bóng mát.

Ngoài ra, Sóc Trăng còn có một số lễ hội khác như lễ Thanh minh, lễ Đấu đèn của người Hoa, lễ hội Vu lan 15/7 âm lịch của người Hoa, người Kinh, lễ Chôl-chnăm-thmây, lễ Sel-dol-ta của người Khmer. Mỗi lễ hội đều mang đậm dấu ấn phong tục, tập quán, nếp sống văn hóa của cả ba dân tộc, từ niềm vui thắng lợi được mùa, đời sống cải thiện và qua đó thể hiện tình đoàn kết keo sơn gắn bó cùng nhau chung sức vì sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh nhà.

2.2. Tổ chức khảo sát thực trạng

2.2.1. Mẫu nghiên cứu

Để tìm hiểu và đánh giá thực trạng Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng, đề tài tiến hành khảo sát các đối tượng cụ thể ở bảng 2.1 dưới đây:

Bảng 2.1. Đối tượng khảo sát thực trạng Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng

2.2.2. Mục đích khảo sát

Khảo sát thực trạng Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng nhằm xây dựng cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các biện pháp quản lý.

2.2.3. Nội dung khảo sát Luận văn: Thực trạng quản lí giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.

Đề tài tập trung khảo sát 03 nội dung cụ thể sau:

  • Thực trạng hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng;
  • Thực trạng quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng;
  • Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng.

2.2.4. Phương pháp khảo sát

Để đạt được mục đích khảo sát, tác giả đề tài xây dựng 02 mẫu phiếu trưng cầu ý kiến (Phụ lục):

  • Mẫu 1: Dành cho cán bộ quản lý, và Giáo viên nhà trường.
  • Mẫu 2: Dành cho học sinh.

2.3. Thực trạng hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng

2.3.1. Thực trạng học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú

Đặc điểm dân cư tỉnh Sóc Trăng có 3 dân tộc chủ yếu: Kinh, Khmer, Hoa cho nên học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh sóc Trăng hầu hết là người dân tộc Khmer, số học sinh dân tộc Hoa và dân tộc Kinh chiếm rất ít chỉ khoảng 5%. Do đó, nói đến trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng thì có thể coi là trường dạy con em người dân tộc Khmer. Đây là điểm khác biệt nhiều so với các trường Phổ thông dân tộc nội trú ở các tỉnh phía Bắc, nơi một trường Phổ thông dân tộc nội trú có thể có trên 10 dân tộc thiểu số khác nhau tham gia học tập. Do học sinh chỉ có 3 dân tộc, vốn đã sống đan xen với nhau trong các khu dân cư, nên các em đều có hiểu biết và cảm thụ được văn hóa của các dân tộc khác, đây là điều kiện thuận lợi trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc trong nhà trường.

Về chất lượng Giáo dục, đa số các em đều có tinh thần học tập tốt, lễ phép trong giao tiếp, ứng xử với thầy cô, bạn bè; trong học tập các em biết tương trợ, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ, cùng nhau chấp hành tốt nội quy, quy định của trường lớp. Tuy nhiên, nhiều em do hoàn cảnh gia đình có nhiều khó khăn, trình độ học vấn của cha mẹ còn thấp nên hạn chế trong việc Giáo dục con cái dẫn đến chất lượng học tập của một số em còn khá thấp.

Bảng 2.2. Chất lượng học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng

Cấp Trung học cơ sở Luận văn: Thực trạng quản lí giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.

2.3.2. Thực trạng mục tiêu giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trong nhà trường

Mục tiêu là kết quả dự kiến phải đạt được, việc đưa ra mục tiêu đúng đắn và phù hợp sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc trong nhà trường. Chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh Phổ thông dân tộc nội trú hiện nay và kết quả thu được trình bày ở bảng số liệu sau:

Đa số các Cán bộ quản lý, Giáo viên đều cho rằng các mục tiêu Giáo dục văn hóa dân tộc là cần thiết, trong đó mục tiêu “góp phần Giáo dục học sinh ý thức giữ gìn và phát huy những bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam nói chung, của các dân tộc thiểu số nói riêng” được cho là cần thiết hơn cả với điểm trung bình là 2,33 xếp hạng 1. Mục tiêu được cho là quan trọng đứng hàng thứ 2 là “GD học sinh có hành vi, thói quen phù hợp với chuẩn mực Văn hóa dân tộc, sẵn sàng tiếp nhận và thể hiện các giá trị văn hóa mới tích cực” với điểm trung bình 2,23. Tuy nhiên, cả hai mục tiêu này đều được đánh giá là thực hiện chưa thường xuyên và thực hiện hạn chế so với các mục tiêu còn lại. Điều này cho thấy, giữa nhận thức và việc thực hiện các mục tiêu Giáo dục văn hóa dân tộc chưa thật sự đồng nhất. Ít được thực hiện nhất trong các mục tiêu được khảo sát là mục tiêu “GD học sinh có hành vi, thói quen phù hợp với chuẩn mực Văn hóa dân tộc, sẵn sàng tiếp nhận và thể hiện các giá trị văn hóa mới tích cực” với điểm trung bình là 2,11. Đây được xem là một mục tiêu quan trọng để Giáo dục HS nhưng hiệu quả còn thấp. Trong quá trình hội nhập và phát triển, sự du nhập của các nền văn hóa khác, bên cạnh những yếu tố tích cực cũng có nhiều yếu tố tiêu cực, phim ảnh, văn hóa phẩm đồi truỵ, thông tin không lành mạnh trên internet ảnh hưởng đến các chuẩn mực Văn hóa dân tộc, những tác động tiêu cực này có ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức và hành động của học sinh, các em thường có biểu hiện sống tự do, buông thả, không chấp hành pháp luật, kỷ cương, vi phạm các tệ nạn xã hội. Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng bên cạnh những mặt tiêu cực, sự phát triển kinh tế thị trường, quá trình hội nhập, phát triển cũng đã mang đến những cái mới, tiến bộ hơn so với cái cũ. Do đó, trong quá trình giáo dục học sinh cần phải biết hướng các em sẵn sàng tiêp thu cái mới, tiến bộ và loại bỏ, “miễn nhiễm” trước những cái xấu không phù hợp với chuẩn mực văn hóa của dân tộc và sự tiến bộ xã hội.

2.3.3. Thực trạng nội dung giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trong nhà trường

Nhân cách con người được hình thành từ nhiều yếu tố khác nhau bao gồm các yếu tố chủ quan và các yếu tố khách quan. Muốn Giáo dục nhân cách cho học sinh nói chung và Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh nói riêng, nhà trường cần phải lựa chọn được những nội dung Giáo dục phù hợp và quan trọng có tính thiết thực, hiệu quả. Thực trạng nội dung Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú Sóc Trăng được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.4. Thực trạng nội dung Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng

Theo kết quả khảo sát, nội dung “Văn hóa ứng xử, giao tiếp” điểm trung bình là 2,32, xếp hạng 1. Điểm trung bình cho thấy đa số các ý kiến được hỏi đều đồng tình trong việc lựa chọn nội dung văn hóa ứng xử để Giáo dục cho học sinh. Hiện nay, do ảnh hưởng từ phim ảnh, lối sống nhanh, sống “ảo” nhiều học sinh thiếu kĩ năng sống, chưa có thói quen giao tiếp ứng xử phù hợp, đúng chuẩn mực. Do đó, việc lựa chọn nội dung văn hóa ứng xử, giao tiếp để Giáo dục học sinh là cần thiết trong các nhà trường hiện nay. Tuy nhiên, độ lệch chuẩn 0,584 cho thấy vẫn còn một số ý kiến chưa thực sự đồng tình với nội dung Giáo dục này, số lượng không đồng tình hoặc đồng tình ở mức độ khác nhau của các lựa chọn không nhiều nên không ảnh hưởng đến kết quả khảo sát của nội dung này. Nội dung này cũng được đánh giá là được thực hiện hiệu quả nhất trong các nội dung được khảo sát với điểm trung bình 2,32, xếp hạng 1. Các trường hiện nay thường Giáo dục văn hóa ứng xử, giao tiếp thông qua nhiều hình thức khác nhau như thông qua các buổi sinh hoạt dưới cờ đầu tuần, qua tiết sinh hoạt chủ nhiệm, Giáo dục ngoài giờ lên lớp, Giáo dục kĩ năng sống. Nội dung được nhận định là khá cần thiết tiếp theo là “Truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán dân tộc” điểm trung bình là 2,28, xếp hạng 2. Tuy nhiên, nội dung này được nhìn nhận là được thực hiện chưa thường xuyên với điểm trung bình là 2,17, xếp hạng thứ 7. Qua đó có thể nhận định rằng mặc dù Cán bộ quản lý, Giáo viên các trường Phổ thông dân tộc nội trú Sóc Trăng đều xem việc Giáo dục truyền thống văn hóa, phong tục tập quán là quan trọng nhưng chưa thật sự quan tâm thực hiện tốt nội dung này. Đây có thể nói là một nội dung quan trọng trong Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh hiện nay. Truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán của dân tộc là những giá trị văn hóa đã được hình thành trong quá trình phát triển của dân tộc, nó mang tính độc đáo và riêng biệt cho các dân tộc, nếu truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán của dân tộc không được Giáo dục và truyền lại cho thế hệ sau thì một ngày nào đó bản sắc Văn hóa dân tộc sẽ không còn. Nội dung “Dạy chữ viết, tiếng nói của dân tộc cùng với tiếng phổ thông” có điểm trung bình là 2,13, xếp hạng 9. Điểm trung bình cho thấy các ý kiến không quá xem trọng nội dung này trong Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh. Nội dung được đánh giá là thực hiện ít hiệu quả nhất là “Yêu gia đình, yêu quê hương, yêu dân tộc và đất nước” với điểm trung bình là 2,12, xếp hạng thứ 9.

Qua đây chúng ta có thể thấy Cán bộ quản lý, Giáo viên rất xem trọng việc Giáo dục văn hóa ứng xử, giao tiếp trong học sinh nhưng chưa xem trọng nội dung “Dạy chữ viết, tiếng nói của dân tộc cùng với tiếng phổ thông” và “Yêu gia đình, yêu quê hương, yêu dân tộc và đất nước”. Trong khi đây là những nội dung rất cần thiết để Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh.

2.3.4. Thực trạng hình thức, phương pháp giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trong nhà trường Luận văn: Thực trạng quản lí giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.

Hình thức và phương pháp Giáo dục có ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng tiếp nhận những nội dung của nhà Giáo dục muốn truyền đạt tới học sinh. Những hình thức, phương pháp Giáo dục phù hợp sẽ gây sự chú ý, hứng thú và mong mỏi tiếp nhận những cái mới ở người được Giáo dục và ngược lại. Do đó, để có thể Giáo dục văn hóa dân tộc được tốt đòi hỏi nhà trường cần có hình thức, phương pháp phù hợp. Việc lựa chọn và thực hiện các hình thức, phương pháp Giáo dục ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú Sóc Trăng được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.5. Thực trạng hình thức Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng

Bảng 2.5 cho thấy, đa số Cán bộ quản lý, Giáo viên đều nhìn nhận hình thức Giáo dục văn hóa dân tộc là quan trọng với điểm trung bình là 2,18 và mức độ thực hiện là chưa thường xuyên với điểm trung bình là 2,23.

Hình thức “Giáo dục Văn hóa dân tộc trong các giờ chào cờ, sinh hoạt lớp” được đánh giá là quan trọng nhất trong các nội dung khảo sát với điểm trung bình là 2,32, xếp hạng 1; đồng thời nội dung này cũng được đánh giá khá cao về mức độ thực hiện khi có điểm trung bình là 2,27, xếp hạng 3. Hiện nay, ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng hình thức này vẫn được được thực hiện mỗi tuần, bởi vì “chào cờ đầu tuần” và tiết “sinh hoạt lớp đã được quy định trong chương trình Giáo dục. Do đó, việc sử dụng hình thức này để Giáo dục văn hóa dân tộc tỏ ra khá thuận lợi và tác động đến nhận thức của học sinh nhanh hơn. Tuy nhiên, hình thức này nếu sử dụng thường xuyên dễ nhàm chán và không kích thích tính năng động, sáng tạo của học sinh.

Hình thức “Tự giáo dục của học sinh” được đánh giá là thực hiện thường xuyên với điểm trung bình là 2,35, xếp hạng 1. Đây là một điều đáng mừng cho hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú Sóc Trăng hiện nay, trong tất cả các hình thức Giáo dục nói chung và Giáo dục văn hóa dân tộc nói riêng, sự tự Giáo dục của người được Giáo dục là mức độc cao nhất, mang lại hiệu quả nhất, vì suy cho cùng mọi tác động Giáo dục chỉ mang lại hiệu quả khi học sinh chấp nhận những tác động đó và mong muốn thực hiện theo, đó chính là sự tự giáo dục.

Hình thức “Giáo dục Văn hóa dân tộc thông qua hoạt động Đoàn” được đa số Cán bộ quản lý, Giáo viên đánh giá thấp nhất về mức độ nhận thức cũng như mức độ thực hiện khi có điểm trung bình lần lượt là 2,04, xếp hạng 7 và 2,02, xếp hạng 8. Điều này cho thấy, cả Cán bộ quản lý và Giáo viên ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng chưa nhìn thấy được tầm quan trọng của hoạt động Đoàn trong công tác Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh. Theo tôi, đây là một vấn đề mà các trường cần phải thay đổi trong thời gian tới vì hoạt động của Đoàn- Đội là rất quan trọng để thực hiện hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh.

Đối với phương pháp Giáo dục, thực trạng ở các trường được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.6. Thực trạng phương pháp Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng Luận văn: Thực trạng quản lí giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.

Qua kết quả khảo sát, hầu hết Cán bộ quản lý, Giáo viên đều cho rằng các phương pháp Giáo dục đều cần thiết và được thực hiện nhưng ở mức độ chưa thường xuyên và không giống nhau. Nội dung “Khen thưởng, kỷ luật kịp thời” có điểm trung bình 2,32, xếp hạng

Khen thưởng là sự ghi nhận đối với nhận thức và hành vi phù hợp trong việc Giáo dục văn hóa dân tộc, có tác dụng kích thích, động viên người thực hiện tiếp tục nỗ lực thực hiện trong thời gian tới. Kỷ luật nhằm răn đe, ngăn chặn những biểu hiện, hành vi chưa tốt. Đây là một phương pháp khá phù hợp nhằm thúc đẩy học sinh giữ gìn Văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, nội dung này được nhìn nhận thực hiện chưa thật tốt với điểm trung bình 2,22, xếp hạng 5.

Nội dung được đa số Cán bộ quản lý, Giáo viên nhận định thực hiện thường xuyên nhất đó là “Nhắc nhở, động viên” với điểm trung bình 2,34, xếp hạng 1. Phương pháp này cũng có tác dụng khuyến khích hành vi tốt và hạn chế hành vi không phù hợp, dễ dàng thực hiện nhưng hiệu quả không cao.

Nội dung được nhận định là ít quan trọng và thực hiện chưa tốt nhất đó là “GD lồng ghép qua các môn học” với điểm trung bình là 2,00, xếp hạng 8. Trong nhà trường hoạt động dạy học vẫn là hoạt động chính chiếm nhiều thời gian của Giáo viên và học sinh nhất, cho nên nếu Giáo viên tích hợp tốt việc Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh qua các nội dung bài dạy thích hợp sẽ góp phần rất lớn trong việc Giáo dục văn hóa dân tộc. Bởi vì, với môn Lịch sử có nhiều thuận lợi trong Giáo dục, đặc biệt các hoạt động ngoại khóa cho học sinh bởi nội dung chứa đựng nhiều bài học quý báu giúp Giáo dục lòng yêu quê hương, đất nước, niềm tự hào dân tộc, ý thức tự chủ, tinh thần chiến đấu. Môn Giáo dục CD giúp hình thành thế giới quan lành mạnh ở học sinh, giúp học sinh biết phân biệt lẽ phải, trái; biết tôn trọng bản thân và tôn trọng người khác; biết sống trung thực, khiêm tốn, dũng cảm, biết yêu thương, vị tha. Môn ngữ văn giúp các học sinh có được những hiểu biết về xã hội, văn hóa, văn học, lịch sử, đời sống nội tâm của con người, đặc biệt văn hóa, lịch sử của Việt Nam. Với việc nhìn nhận và thực hiện chưa tốt nội dung “GD lồng ghép qua các môn học” có thể thấy Cán bộ quản lý, Giáo viên chưa quan tâm đến hoạt động này trong quá trình dạy học trong nhà trường.

Qua đó có thể thấy các trường vẫn còn loay hoay với các hình thức, phương pháp Giáo dục cũ, chưa có tính mới, sáng tạo và thu hút học sinh thực hiện.

2.3.5. Thực trạng nhà giáo dục

CBQL, Giáo viên các trường Phổ thông dân tộc nội trú Sóc Trăng được đào tạo chuẩn về trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Cán bộ quản lý được bồi dưỡng kiến thức quản lí nên nắm vững chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước nhất là chính sách dân tộc, có năng lực quản lý, có uy tín trong tập thể sư phạm và học sinh. Đội ngũ CBGV có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống chuẩn mực, có tinh thần và trách nhiệm cao trong công tác giảng dạy và chăm sóc học sinh dân tộc, thực hiện tốt quy chế ngành, luôn có ý thức học hỏi, phấn đấu vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.

Bảng 2.7. Thực trạng chất lượng đội ngũ Cán bộ quản lý, Giáo viên các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng

Phần đông Cán bộ quản lý, Giáo viên giảng dạy tại các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng là người dân tộc Khmer. Trong đó Cán bộ quản lý có 24/26 người là DT Khmer (tỉ lệ 92,3%), Giáo viên giảng dạy 174/242 (tỉ lệ 71,9%) nên họ rất hiểu Văn hóa dân tộc và mong muốn Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh. Khi được hỏi về tầm quan trọng của Giáo dục văn hóa dân tộc trong công tác Giáo dục, phát triển nhân cách học sinh thì kết quả khảo sát như sau:

Bảng 2.8. Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng Giáo dục văn hóa dân tộc của Cán bộ quản lý, Giáo viên các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng Luận văn: Thực trạng quản lí giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.

Qua kết quả khảo sát, 100% cán bộ, Giáo viên đều cho rằng các nội dung khảo sát đều quan trọng đối với công tác Giáo dục, phát triển học sinh. Trong đó, nội dung Giáo dục văn hóa dân tộc để học sinh trở thành con ngoan, trò giỏi, công dân tốt có điểm trung bình 2,32, xếp hạng 1, nội dung Giáo dục văn hóa dân tộc nhằm phát triển toàn diện cho học sinh điểm trung bình 2,00, xếp hạng 10.

Qua đó cho thấy mục tiêu Giáo dục của các trường nhằm giúp học sinh trở thành con người hoàn thiện trong cả 3 môi trường Giáo dục: Gia đình, nhà trường và xã hội. Với tư cách là thành viên gia đình các em sẽ là những người con hiếu thảo, biết kính trên nhường dưới, vâng lời ông bà, cha mẹ. Trong nhà trường các em không chỉ có đạo đức tốt mà còn phải nắm vững các tri thức khoa học, đối với xã hội các em phải là người công dân có ích, đóng góp trí tuệ của mình để xây dựng một xã hội dân chủ, tự do, công bằng và văn minh nhưng vẫn đậm đà bản sắc dân tộc theo đúng quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

2.3.6. Thực trạng kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trong nhà trường

Bảng 2.9. Thực trạng thực hiện kết quả Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng

Qua bảng 2.9, kết quả tổ chức hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh Phổ thông dân tộc nội trú được đánh giá hiệu quả thực hiện chưa thường xuyên.

Kết quả đạt được cao nhất và thường xuyên được các trường thực hiện là “Ý thức sử dụng trang phục, ngôn ngữ dân tộc trong các hoạt động tập thể” với điểm trung bình là 2,33, xếp hạng 1 với 43/130 (33,1%) đánh giá ở mức độ thường xuyên và 87/130 (66,9%) đánh giá là chưa thường xuyên. Hiện nay các trường đều thực hiện khá tốt nội dung này, các trường đều có thực hiện đồng phục dân tộc đồng thời quy định 1 đến 2 ngày trong tuần học sinh phải mặc đồng phục dân tộc, riêng học sinh nữ đều mặc “Sàrông” là loại quần truyền thống của dân tộc Khmer. Bên cạnh đó, trong các ngày lễ tết các tiết mục văn hóa văn nghệ đều có tiết mục bằng tiếng dân tộc với những điệu múa và trang phục dân tộc nhằm góp phần Giáo dục ý thức sử dụng trang phục, ngôn ngữ dân tộc trong học sinh. Ngoài giờ học chính khóa các nhà trường cũng khuyến khích học sinh sử dụng tiếng dân tộc để giao tiếp với nhau. Giáo viên cũng thường xuyên sử dụng tiếng dân tộc để hướng dẫn, giảng giải thêm các nội dung Giáo dục để cho các em dễ hiểu hơn. Luận văn: Thực trạng quản lí giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.

Nội dung được đánh giá là thực hiện chưa hiệu quả nhất là “Thái độ tôn trọng tập tục, ngôn ngữ, phong cách và trang phục của dân tộc khác”với điểm trung bình là 2,21, xếp hạng 4. Điều này cho thấy các trường thực hiện chưa được tốt lắm công tác tuyên truyền học sinh, các em không chỉ phải tôn trọng tập tục, trang phục dân tộc mình mà còn phải biết tôn trọng tập tục, trang phục các dân tộc khác nhau. Nó cũng cho thấy các trường chưa có nhiều hình thức phù hợp để Giáo dụcHS. Để học sinh có thái độ tôn trọng các phong tục, tập quán giữa dân tộc Kinh, Khmer, Hoa các trường phải phối hợp với chính quyền, đoàn thể địa phương tích cực cho học sinh chăm sóc và phát huy các giá trị của các di tích lịch sử, văn hoá, cách mạng, thăm nhà bảo tàng dân tộc trong đó trưng bày các biểu tượng văn hóa các dân tộc, từ đó tăng hiểu biết, kiến thức của học sinh về các dân tộc khác nhau.

2.3.7. Thực trạng điều kiện, môi trường thực hiện hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trong nhà trường

Điều kiện, môi trường có liên quan rất lớn đến các hoạt động Giáo dục trong nhà trường nói chung và hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc nói riêng. Điều kiện tốt sẽ góp phần rất lớn vào sự thành công của nhà Giáo dục.

Bảng 2.10. Thực trạng cơ sở vật chất thực hiện hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trong trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng

Bảng 2.10 cho thấy, các điều kiện cần thiết cho hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc đều được nhận xét là số lượng ít. Trong các điều kiện được khảo sát thì hệ thống băng đĩa dùng cho hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc được nhìn nhận là khá đầy đủ. Thực tế hiện nay, hầu hết các trường đều có băng đĩa để giới thiệu Văn hóa dân tộc cho học sinh, đây là điều kiện thuận lợi nhất giúp các em có thể tiếp cận nhanh nhất với những nội dung Giáo dục văn hóa dân tộc.

Điều kiện “Hệ thống máy chiếu, máy tính” có điểm trung bình 2,2, xếp hạng

Điểm trung bình cho thấy máy tính, máy chiếu trong nhà trường còn thiếu, chưa đáp ứng đủ cho hoạt động trong nhà trường. Mặc dù trong những năm gần đây Sở Giáo dụcĐT có quan tâm đến việc trang bị máy tính, máy chiếu cho các trường nhưng số lượng còn rất hạn chế chủ yếu đáp ứng một phần cho hoạt động dạy học các môn văn hóa. Có trường thậm chí không có máy chiếu, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc đòi hỏi nhà trường cần có giải pháp để trang bị thêm trong thời gian tới. Luận văn: Thực trạng quản lí giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.

Nội dung được đánh giá còn thiếu nhiều nhất là “Phòng truyền thống trưng bày trang phục dân tộc; vật dụng phục vụ cho lao động, sinh hoạt; nhạc cụ” với điểm trung bình 2,02, xếp hạng 5. Phòng truyền thống trưng bày các nội dung Văn hóa dân tộc có vai trò rất lớn trong quá trình Giáo dục HS, nó là nơi cất giữ các hình ảnh, mô hình trực quan các sản phẩm Văn hóa vật thể, phi vật thể của các dân tộc, mang tính trực quan rất cao, có thể tác động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của học sinh. Tuy nhiên, hiện nay một vài trường có phòng truyền thống nhưng các sản phẩm văn hóa thì rất nghèo nàn, có trường thậm chí không có phòng truyền thống trưng bày các sản phẩm Văn hóa dân tộc. Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động Giáo dục học sinh đòi hỏi Cán bộ quản lý các cấp phải có sự quan tâm trong thời gian tới nếu muốn thực hiện tốt hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc ở trường, địa phương.

2.4. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng

2.4.1. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua con đường dạy học

Dạy học là con đường nhanh nhất, thường xuyên và hiệu quả khá tốt trong việc Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh. Việc Giáo dục văn hóa dân tộc qua con đường dạy học thường được thực hiện qua tích hợp vào nội dung bài học.

Bảng 2.11. Thực trạng quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua con đường dạy học trong trường Phổ thông dân tộc nội trú

Kết quả bảng 2.11 cho thấy, đa số các ý kiến đều cho rằng việc quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua con đường dạy học là quan trọng và việc thực hiện tại các trường hiện nay ở mức độ bình thường.

Nội dung “Chỉ đạo Giáo viên bộ môn xây dựng mục tiêu dạy học có nội dung Giáo dục VH trong các bài dạy có nội dung phù hợp” có điểm trung bình 2,32, xếp hạng 1 về nhận thức. Nội dung này cũng được nhận định về mức độ thực hiện là khá với điểm trung bình 2,28, xếp hạng 2 về mức độ thực hiện. Việc xây dựng mục tiêu dạy học đảm bảo chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ luôn được ban giám hiệu các trường chỉ đạo thực hiện trong thời gian qua. Theo đó mục tiêu dạy học phải đảm bảo các mức độ nhận biết, hiểu và vận dụng, đồng thời phải nêu lên được những nội dung cần tích hợp GDHS. Việc tích hợp được ban giám hiệu các trường chỉ đạo lồng ghép vào các nội dung bài dạy phù hợp tránh “gượng ép”, “khập khiểng”.

Nội dung “Chỉ đạo tổ chuyên môn xây dựng các chủ đề dạy học liên quan đến Giáo dục văn hóa dân tộc” có điểm trung bình 2,26, xếp hạng 2. Tuy nhiên, nội dung này được đánh giá thực hiện ở mức độ trung bình xếp hạng trong các nội dung được khảo sát. Điều này cho thấy, mặc dù Cán bộ quản lý, Giáo viên đều có nhận thức khá tốt về tầm quan trọng trong việc xây dựng các chủ đề dạy học nhưng khi chỉ đạo thực hiện vẫn còn nhiều lúng túng, chưa thống nhất thực hiện vì vấn đề xây dựng chủ đề dạy học vẫn còn khá mới mẻ đối với các trường.

2.4.2. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp Luận văn: Thực trạng quản lí giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.

Các Hoạt động ngoài giờ lên lớp giúp học sinh “vừa học, vừa chơi”, thông qua các hoạt động này học sinh có thể vừa tiếp thu được các tri thức khao học, kiến thức về Văn hóa dân tộc đồng thời cũng giúp các em giảm stress sau những giờ học căng thẳng. Để tổ chức các Hoạt động ngoài giờ lên lớp, lực lượng quan trọng nhất trong nhà trường chính là Đoàn-Đội . Khi được hỏi về thực trạng quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh qua các Hoạt động ngoài giờ lên lớp trong nhà trường, người nghiên cứu thu về kết quả như sau:

Bảng 2.12. Thực trạng quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua các Hoạt động ngoài giờ lên lớp

Qua kết quả khảo sát ở bảng 2.12, nội dung được đánh giá là quan trọng và mức độ thực hiện tốt nhất là “Tổ chức lồng ghép nội dung Giáo dục văn hóa dân tộc trong các tiết Hoạt động ngoài giờ lên lớp theo chủ điểm phù hợp với các tháng”. Hoạt động ngoài giờ lên lớp đã được các trường triển khai thực hiện trong nhiều năm học qua theo đúng chỉ đạo của ngành. Mỗi tháng, Sở Giáo dục&ĐT Sóc Trăng chỉ đạo thực hiện hai hoạt động theo các chủ điểm cụ thể, phù hợp với đặc điểm địa phương. Qua tiết hoạt động Hoạt động ngoài giờ lên lớp, Giáo viên có thể Giáo dục văn hóa dân tộc bằng nhiều hình thức khác nhau như trả lời câu hỏi, văn nghệ, đuổi hình bắt chữ điều này lôi cuốn được học sinh tham gia. Do vậy, việc Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua tiết Hoạt động ngoài giờ lên lớp đã được Cán bộ quản lý chỉ đạo thực hiện khá tốt.

Nội dung “Tổ chức các cuộc thi, các hoạt động biểu diễn văn hóa-văn nghệ trong nhà trường nhằm Giáo dục văn hóa dân tộc” được đánh giá xếp hạng 2 trong các nội dung được khảo sát. Hoạt động văn hóa, văn nghệ thường được tổ chức trong tuần sinh hoạt đầu năm, trong các buổi lễ nhà trường tổ chức, trong các hoạt động chào mừng lễ, tết Nguyên Đán, tết Chôlchnămthây hoặc trong các cuộc thi do nhà trường tổ chức. Qua các hoạt động văn hóa, văn nghệ giúp học sinh được hiểu hơn về giai điệu các bài hát, điệu múa của các dân tộc.

Nội dung được nhìn nhận thực hiện còn hạn chế nhất là “Hàng tháng, Đoàn-Đội và các bộ phận có liên quan xây dựng kế hoạch hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc theo chủ điểm phù hợp” với điểm trung bình 2,00, xếp hạng 5. Trong nhà trường, Đoàn- Đội có vai trò rất lớn trong việc thực hiện các hoạt động Giáo dục HS. Để thực hiện các hoạt động thì nội dung đầu tiên phải lập kế hoạch thực hiện, kế hoạch tốt sẽ giúp các hoạt động được thực hiện một cách chủ động, dễ dàng đạt được kết quả cao. Do đó, việc thực hiện chưa tốt nội dung này chứng tỏ Cán bộ quản lý của nhà trường còn nhiều hạn chế trong công tác quản lý hoạt động của tổ chức Đoàn-Đội và phải có biện pháp khắc phục trong thời gian tới để hoạt động Đoàn-Đội được tốt hơn.

2.4.3. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua công tác chủ nhiệm Luận văn: Thực trạng quản lí giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.

GVCN có vai trò rất quan trọng trong quá trình Giáo dục nhân cách học sinh nói chung và Giáo dục văn hóa dân tộc nói riêng. Giáo viên CN là người trực tiếp thường xuyên tiếp xúc với học sinh, là người cha, người mẹ, người anh, người chị cũng là người bạn với học sinh nên mọi sự tác động của Giáo viên CN có ảnh hưởng rất lớn đối với thái độ, hành vi của các em. Vì thế nếu làm tốt công tác chỉ đạo Giáo viên CN sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả Giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.

Bảng 2.13. Thực trạng quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua công tác chủ nhiệm

Kết quả khảo sát cho thấy, nội dung được hầu hết Cán bộ quản lý và Giáo viên nhận định là quan trọng nhất và thực hiện tốt nhất trong các nội dung được khảo sát đó là “Chỉ đạo Giáo viên CN đề ra mục tiêu Giáo dục văn hóa dân tộc trong xây dựng kế hoạch chủ nhiệm của năm học và kế hoạch hàng tháng” với điểm trung bình về mức độ thực hiện là 2,27, xếp hạng

Hầu hết các trường đều có chỉ đạo Giáo viên CN xây dựng kế hoạch hoạt động năm, tháng cụ thể. Điều này giúp cho Giáo viên CN chủ động hơn trong việc lựa chọn nội dung và tìm ra các giải pháp hiệu quả trong quá trình Giáo dục HS.

Nội dung “Bồi dưỡng kiến thức Văn hóa dân tộc, nhất là Văn hóa dân tộc thiểu số cho Giáo viên CN” được nhận định là nội dung cần thiết thứ 2 trong việc chỉ đạo Giáo viên CN của Cán bộ quản lý trong công tác Giáo dục văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, nội dung này được đánh giá là thực hiện ở mức độ trung bình. Giáo viên CN là người thường xuyên Giáo dục HS qua các tiết sinh hoạt ngoại khóa, giờ sinh hoạt lớp cho nên hơn ai hết Giáo viên CN phải nắm vững các kiến thức về phong tục tập quán, các lễ hội của dân tộc để từ đó có thể tuyên truyền trong học sinh. Do đó, việc bồi dưỡng kiến thức về Văn hóa dân tộc, nhất là Văn hóa dân tộc thiểu số là hết sức cần thiết. Nhưng thực trạng cho thấy, nội dung này chưa nhận được nhiều sự quan tâm của lãnh đạo các trường. Các trường hiện nay vẫn thường nặng về bồi dưỡng các kiến thức về nội dung các môn học. Do đó, để thực hiện tốt hơn công tác Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh cần quan tâm hơn đến bồi dưỡng kiến thức về Văn hóa dân tộc cho Giáo viên CN lớp trong thời gian tới.

Nội dung “Chỉ đạo Giáo viên CN phối hợp tốt với cha mẹ học sinh để Giáo dục văn hóa dân tộc” có điểm trung bình 2,1, xếp hạng 4, thấp nhất trong các nội dung được khảo sát. Điều này cho thấy các trường chưa làm tốt công tác chỉ đạo phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong công tác Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh.

2.4.4. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội

Nhân cách nói chung và kiến thức Văn hóa dân tộc nói riêng không chỉ được hình thành và phát triển trong nhà trường mà còn được hình thành và phát triển trong các môi trường khác ngoài nhà trường. Khi được hỏi về thực trạng quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội thì kết quả thu được như sau:

Bảng 2.14. Thực trạng quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội Luận văn: Thực trạng quản lí giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.

Trong công tác phối hợp các lực lượng Giáo dục để tổ chức hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho các em học sinh các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng, Cán bộ quản lý, Giáo viên đã nhận thức tốt về việc “Chỉ đạo, tổ chức phối hợp giữa ban giám hiệu, Giáo viên chủ nhiệm với tổ chức hội cha mẹ học sinh” với điểm trung bình 2,25, xếp hạng 1, đồng thời nội dung này cũng được thực hiện khá tốt với điểm trung bình 2,24, xếp hạng 2. Tuy nhiên, đây chưa phải là kết quả cao về cả mức độ nhận thức và mức độ thực hiện các nội dung của công tác phối hợp các lực lượng Giáo dục trong tổ chức hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc. Mặt khác, nhà trường còn hạn chế trong việc thực hiện “Phối hợp giữa nhà trường và các lực lượng xã hội trong tổ chức hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh” với điểm trung bình 2,08, xếp hạng 4.

Đây cũng chính là điểm yếu trong thực trạng cần sớm có biện pháp được đưa ra để khắc phục và nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trong nhà trường.

2.4.5. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua xây dựng môi trường văn hoá nhà trường

Xây dựng mội trường văn hóa nhà trường là điều kiện để thực hiện thành công cho hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc vì nhân cách của con người sẽ chịu ảnh hưởng bởi mô trường mà con người sống thông qua hoạt động và giao lưu.

Bảng 2.15. Thực trạng quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua xây dựng môi trường văn hoá nhà trường

Kết quả bảng 2.15 cho thấy, hầu hết Cán bộ quản lý, Giáo viên đều cho rằng xây dựng môi trường văn hóa nhà trường là quan trọng và mức độ thực hiện các nội dung này ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng ở mức độ trung bình.

Trong đó, các Cán bộ quản lý, Giáo viên đánh giá nội dung “Xây dựng môi trường xã hội văn hóa lành mạnh để học sinh được rèn luyện, cống hiến và trưởng thành” là quan trọng nhất với điểm trung bình 2,32 và có mức độ thực hiện đứng thứ 2 với điểm trung bình 2,26.

Thực trạng cũng chỉ ra rằng, các trường hiện chưa thực hiện tốt nhiệm vụ “Xây dựng nguồn tài liệu phong phú, cung cấp đầy đủ lượng sách báo và tạp chí phục vụ hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc”, điểm đánh giá mức độ thực hiện chỉ đạt 2,16 thấp nhất trong số 4 nội dung quản lý các điều kiện thực hiện Giáo dục văn hóa dân tộc.

Trên thực tế, các trường đã thực hiện được một số hoạt động cụ thể như: cuộc vận động “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo” và phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” của ngành, phát động vào các hoạt động của nhà trường có hiệu quả; Phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt” được triển khai thực hiện trong từng năm học. Tổ chức tốt các hoạt động Giáo dục ngoài giờ lên lớp cho học sinh. Thực hiện yêu cầu nội dung Giáo dục toàn diện. Xây dựng nhà trường Xanh – sạch – đẹp với khẩu hiệu thực hiện nhà trường “Kỉ cương – tình thương – trách nhiệm”. Ngoài ra trong năm học nhà trường luôn chú trọng rèn kĩ năng sống cho học sinh; tổ chức cho học sinh tham quan di tích lịch sử, văn hóa.

Qua việc thực hiện các phong trào thi đua các trường đã xây dựng được môi trường Giáo dục lành mạnh, mỗi cán bộ, giáo viên, nhân viên luôn là những tấm gương sáng cho học sinh noi theo. học sinh học tập có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi ở địa phương, được rèn luyện kỹ năng sống, tự tìm hiểu, khám phá và sáng tạo.

2.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh

Bảng 2.16. Thực trạng về những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng Luận văn: Thực trạng quản lí giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.

Kết quả bảng 2.16 cho thấy, cả 2 nhóm yếu tố chủ quan và khách quan đều có ảnh hưởng đến hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh. Trong nhóm yếu tố chủ quan nội dung “Tính tích cực của người học” được đánh giá là ảnh hưởng nhiều hơn cả với điểm trung bình là 2,32, xếp hạng 1. Hiện nay, tính tích cực chủ động của người học đang được nhìn nhận là một yếu tố hết sức quan trọng và cần thiết cho quá trình Giáo dục. Suy cho cùng, các tác động của nhà Giáo dục chỉ mang lại hiệu quả khi những tác động đó được người học đón nhận. Ngoài ra, nội dung Giáo dục văn hóa dân tộc là rất phong phú, đa dạng, nếu người học chỉ trong chờ vào các nội dung Giáo dục do nhà trường tổ chức thì không bao giờ đủ, học sinh cần tích cực trong việc lựa chọn, cảm thụ những nội dung Văn hóa dân tộc phù hợp để có thể hoàn thiện nhân cách bản thân.

Nội dung “Năng lực và phẩm chất sư phạm của Giáo viên trong tổ chức hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc” có điểm trung bình 2,26, xếp hạng 2. Điểm trung bình cho thấy, hầu hết Cán bộ quản lý, Giáo viên đều nhìn nhận năng lực và phẩm chất của Giáo viên có ảnh hưởng đến Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh. Giáo viên là những người trực tiếp Giáo dục HS thông qua các tiết dạy trên lớp, các hoạt động ngoại khóa và các hình thức Giáo dục khác. Cho nên muốn truyền tải những nội dung Giáo dục văn hóa dân tộc đến học sinh một cách hiệu quả đòi hỏi Giáo viên phải có tâm, có lòng nhiệt thành và một nền tảng kiến thức vững chắc và kỹ năng sư phạm vững vàng mới có thể thực hiện được.

Nội dung “Năng lực quản lý của hiệu trưởng nhà trường” có điểm trung bình 2,03, xếp hạng 4 trong nhóm yếu tố khách quan. Đây là một yếu tố hết sức quan trọng trong việc tổ chức thực hiện các hoạt động Giáo dục trong nhà trường nói chung và Giáo dục văn hóa dân tộc nói riêng. Việc yếu tố này được xếp hạng cuối cùng trong các yếu tố ảnh hưởng có thể thấy Cán bộ quản lý và Giáo viên trong các trường Phổ thông dân tộc nội trú chưa có nhận thức đúng đắn, toàn diện và còn xem nhẹ yếu tố quản lý của hiệu trưởng nhà trường.

Đối với nhóm yếu tố khách quan, nội dung “Sự phối hợp của các lực lượng Giáo dục” được đánh giá là ảnh hưởng nhiều nhất, các yếu tố “Truyền thống văn hóa, đời sống kinh tế, xã hội của địa phương, môi trường Giáo dục gia đình” và “Quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, các cấp quản lý Giáo dục về tổ chức hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc” đều được đánh giá ảnh hưởng ít hơn khi đều có điểm trung bình là 2,21.

2.6. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh ở các trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng

2.6.1. Điểm mạnh và nguyên nhân

Nhìn chung, đa số Cán bộ quản lý, Giáo viên các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng đã có nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng, sự cần thiết của công tác tổ chức, quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trong quá trình Giáo dục toàn diện.

Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh được thực hiện đầy đủ về cả mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức và kết quả Giáo dục.

CBQL, Giáo viên các trường Phổ thông dân tộc nội trú trên địa bàn tỉnh Sóc Trăng đã quan tâm đến công tác Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh; tổ chức các phong trào thi đua gắn với Giáo dục các giá trị VHDT trong Giáo viên, học sinh. Hiệu trưởng thực hiện đầy đủ các nội dung quản lý: lập kế hoạch, xác định mục tiêu, thực hiện nội dung, sử dụng các phương pháp, phương tiện và hình thức Giáo dục, kiểm tra, đánh giá, quản lý điều kiện thực hiện, phối hợp các lực lượng Giáo dục.

2.6.2. Điểm yếu và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng quản lí giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.

Một số Cán bộ quản lý, Giáo viên chưa nhận thức đúng đắn, đầy đủ về tầm quan trọng, ý nghĩa của việc tổ chức các hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc và quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh Phổ thông dân tộc nội trú.

CBQL, Giáo viên ở các trường có năng lực chuyên môn tốt nhưng còn hạn chế về năng lực tổ chức hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc. Những năm gần đây, đội ngũ Cán bộ quản lý các trường Phổ thông dân tộc nội trú trên địa bàn tỉnh được trẻ hóa dần, tuy nhiên còn thiếu kinh nghiệm quản lý Giáo dục nói chung, quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc nói riêng. Đội ngũ Bí thư đoàn thanh niên đều do Giáo viên kiêm nhiệm. Nhiều cán bộ đoàn chưa có kinh nghiệm trong tổ chức cũng như việc phối hợp với các Giáo viên khác còn hạn chế, chưa huy động được lực lượng chi đoàn Giáo viên và các lực lượng, tổ chức ngoài trường cùng hợp tác. Nhiều hoạt động của tổ chức Đoàn thanh niên mới chỉ quan tâm đến bề rộng mà chưa chú trọng đến chiều sâu.

CBQL tuy có quan tâm đến công tác Giáo dục văn hóa dân tộc nhưng chưa thường xuyên. Một số Giáo viên còn coi nhẹ việc tổ chức hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh. Nhiều hoạt động được tổ chức mang tính hình thức, hiệu quả Giáo dục chưa cao. Nhà trường, học sinh, phụ huynh học sinh đầu tư nhiều cho việc học học tăng tiết, luyện thi những môn chính nên thời gian dành cho hoạt động này còn ít, nhất là với học sinh lớp 12. Chương trình học chính khóa quá tải, nặng về thi cử nên áp lực thời gian rất lớn.

Về điều kiện cơ sở vật chất, kinh phí: Kinh phí dành cho hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh còn ít. Trường chủ yếu dành nhiều kinh phí vào việc dạy đội tuyển học sinh giỏi, văn nghệ, thể thao để giành thành tích cho nhà trường. Trong khi đó, công tác Giáo dục văn hóa dân tộc cần kinh phí tổ chức các hoạt động lớn trong toàn trường, kinh phí khen thưởng, động viên, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, năng lực tổ chức hoạt động cho đội ngũ Giáo viên, cán bộ đoàn lại ít được chú ý.

Sự phối hợp giữa các lực lượng Giáo dục trong và ngoài nhà trường để tổ chức hiệu quả hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh còn chưa kịp thời, thường xuyên, đồng bộ, thiếu sự nhất quán giữa nhà trường và các đoàn thể xã hội, phụ huynh học sinh. Nhiều phụ huynh học sinh chưa nhận thức rõ mục tiêu, nhiệm vụ, nội dung Giáo dục văn hóa dân tộc và các biện pháp Giáo dục để cùng cộng đồng trách nhiệm trong quá trình Giáo dục, hoàn thiện nhân cách văn hóa cho học sinh.

Kết luận chương 2 Luận văn: Thực trạng quản lí giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.

Từ phân tích và đánh giá thực trạng đã cho thấy đội ngũ Cán bộ quản lý, Giáo viên các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng đã có quan tâm đến Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh. Chú ý đến việc tác động nhận thức đối với CBGV và các em học sinh về tầm quan trọng và sự cần thiết của việc Giáo dục văn hóa dân tộc. Đội ngũ Cán bộ quản lý, Giáo viên có trách nhiệm, có ý thức và quan điểm khá đồng nhất để thực hiện theo mục tiêu đề ra. Hiệu quả bước đầu trong Giáo dục văn hóa dân tộc của học sinh có sự chuyển biết khá tốt. Đó cũng chính là những kết quả ban đầu của các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng.

Song một bộ phận Giáo viên, học sinh vẫn có nhận thức chưa đúng, chưa đầy đủ ý nghĩa và tầm quan trọng của việc Giáo dục văn hóa dân tộc, nên trong hành động vẫn còn những hạn chế nhất định.

Trong hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc, hình thức, phương pháp Giáo dục chưa được đánh giá cao cả về mức độ nhận thức và mức độ thực hiện. Trong các nội dung quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc, các trường chưa thực hiện tốt nội dung quản lý hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh thông qua các hoạt động ngoại khoá. Trong các nhóm yếu tố ảnh hưởng, các yếu tố chủ quan có ảnh hưởng đến thực trạng quản lý nhiều hơn các yếu tố khách quan.

Từ thực trạng của vấn đề là cơ sở chính xác nhất, rõ ràng nhất cho việc đề xuất, những biện pháp quản lí hoạt động Giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh trường các trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Sóc Trăng trong thời gian tới. Luận văn: Thực trạng quản lí giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Biện pháp quản lí giáo dục văn hóa dân tộc ở học sinh

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *