Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh ở trường trung học phổ thông Chu Văn An, Tỉnh Thái Bình dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xã hội hiện đại với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, xu thế toàn cầu hoá và sự phát triển của nền kinh tế tri thức đã đặt ra nhiều thách thức cho giáo dục. Các quốc gia trên thế giới đánh giá rất cao vai trò của giáo dục đối với sự phát triển của đất nước, bởi giáo dục đào tạo có vai trò quyết định trong việc đào tạo con người – nguồn nhân lực có trình độ cao, nhân tố quyết định tương lai, vận mệnh và sự thành bại của mỗi quốc gia, dân tộc.
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sự giao lưu, cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới ngày càng mạnh mẽ. Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ đang trên đà phát triển với quy mô ngày càng rộng lớn đòi hỏi phải đổi mới toàn bộ hệ thống giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại và xã hội hoá. Điều 2 Luật giáo dục 2005 đã nêu mục tiêu giáo dục: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Luận văn: Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học.
Khai mạc Hội nghị Trung ương 2 (khoá VIII), nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười khẳng định: “Giáo dục đào tạo phải theo hướng cân đối giữa dạy người, dạy chữ, dạy nghề”, trong đó “dạy người” là mục tiêu cao nhất.
Trong chỉ thị số 40/2008/CT-BGDĐT ngày 22 tháng 7 năm 2008 của Phó thủ tướng chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” trong các nhà trường Trung học phổ thông giai đoạn 2008-2013 xác định: “Tăng cường sự tham gia một cách hứng thú của học sinh trong các hoạt động giáo dục trong nhà trường và tại cộng đồng, với thái độ tự giác, chủ động và ý thức sáng tạo”, “Huy động và tạo điều kiện để có sự tham gia hoạt động đa dạng và phong phú của các tổ chức, cá nhân trong việc giáo dục văn hoá, truyền thống lịch sử cách mạng cho học sinh” với mục tiêu “Xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, hiệu quả, phù hợp với điều kiện của địa phương và đáp ứng nhu cầu của xã hội”.
Mục tiêu của giáo dục hướng tới những giá trị đạo đức cơ bản, năng lực nghề nghiệp, tiềm năng sáng tạo, kỹ năng cần thiết và sức khỏe ở người lao động của thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Những giá trị đạo đức, năng lực nghề nghiệp, tiềm năng sáng tạo, kỹ năng cần thiết và sức khỏe của người lao động không thể ngẫu nhiên mà có, nó phụ thuộc phần lớn vào các hoạt động giáo dục của nhà trường, được hình thành, phát triển, củng cố qua các giờ học trên lớp và các hoạt động giáo dục. Hoạt động giáo dục giá trị sống (GDGTS) cho học sinh, với nội dung, hình thức phong phú, đa dạng đang giữ vị trí quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện. Là một trong ba kế hoạch đào tạo: dạy học, giáo dục ngoài giờ lên lớp, hướng nghiệp dạy nghề nhằm thực hiện mục tiêu đào tạo theo các hướng giáo dục đạo đức, nhân văn và khoa học kỹ thuật.
Giá trị sống (GTS) là điều mỗi người xem là có ý nghĩa và quan trọng đối với mình, có chức năng chi phối hành vi, hành động của con người. Vì vậy Giáo dục giá trị sống là nền tảng trong giáo dục nhân cách học sinh. Giáo dục Giá trị sống cho học sinh trong nhà trường có thể thông qua nhiều con đường : dạy học, hoạt động giáo dục, tổ chức các mối quan hệ chứa đựng các giá trị… Từ hoạt động Giáo dục giá trị sống, bản thân giáo viên cũng nâng cao được năng lực Giáo dục giá trị sống thông qua tích hợp các giá trị trong dạy học, hoạt động giáo dục… học sinh nâng cao hiểu biết xã hội, gắn kiến thức đã học với thực tế cuộc sống, phát triển năng lực như: Năng lực tự hoàn thiện, năng lực thích ứng, năng lực tổ chức quản lý……… Quản lý hoạt động Giáo dục giá trị sống nhà trường giúp các em chuyển những giá trị đích thực mang tính khách quan thành giá trị của từng học sinh. Tổ chức tốt hoạt động Giáo dục giá trị sống sẽ phát huy tối đa vai trò chủ thể của học sinh, củng cố, mở rộng tri thức …Từ đó các em xây dựng cho mình một hệ giá trị cốt lõi vững chắc làm điểm tựa để vượt qua những cám dỗ thách thức trong cuộc sống. Vì vậy, hoạt động Giáo dục giá trị sống có một vị trí, ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong những năm gần đây, do yêu cầu của đổi mới giáo dục, Giáo dục giá trị sống đã được các nhà trường tổ chức theo chủ đề : Giáo dục giá trị trung thực ; giáo dục giá trị đoàn kết ; giáo dục giá trị tôn trọng, khoan dung ; giáo dục giá trị trách nhiệm.
Quản lý tốt hoạt động Giáo dục giá trị sống sẽ tạo môi trường thống nhất giữa quá trình dạy học và quá trình giáo dục, góp phần đào tạo những con người thích ứng với xu thế mới, đó là những con người có sức khoẻ, có trí tuệ, sáng tạo, năng động, tự chủ, tích cực, có khả năng hoạt động, giao lưu, thích ứng với xã hội hiện đại, xu thế phát triển của thế kỷ XXI.
Thấm nhuần quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhận thức đúng mục tiêu giáo dục toàn diện, ngành giáo dục đã xác định hoạt động Giáo dục giá trị sống là con đường gắn lý thuyết với thực hành, gắn nhà trường với xã hội cũng là con đường rèn luyện kỹ năng, hành vi cho học sinh, tạo nên sự phát triển hài hoà, cân đối trong nhân cách người học.
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, một số nhà trường hiện nay chú trọng đến giáo dục văn hoá, đạo đức thuần tuý, xem nhẹ công tác giáo dục toàn diện, giáo dục giá trị, rèn kỹ năng sống, trau rồi những tình cảm, phẩm chất đạo đức thẩm mĩ, bồi dưỡng tâm hồn, nhân cách, lý tưởng, ước mơ…. Chính vì chưa coi trọng đúng mức việc “dạy người” nên một bộ phận học sinh, thanh niên thờ ơ với thời cuộc, chạy theo bằng cấp, giảm sút về đạo đức, đua đòi, bị lôi cuốn vào lối sống thực dụng và các tệ nạn xã hội. Luận văn: Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học.
Để đáp ứng sự phát triển của đất nước, do nhu cầu đổi mới giáo dục cũng như đáp ứng nhu cầu của người học, Việt Nam đã thực hiện đổi mới giáo dục phổ thông; đổi mới mục tiêu giáo dục từ chủ yếu là trang bị kiến thức cho người học sang trang bị những năng lực cần thiết, phát huy tiềm năng sáng tạo cho họ: “năng lực hợp tác, có khả năng giao tiếp, năng lực chuyển đổi nghề nghiệp theo yêu cầu mới của thị trường lao động, năng lực quản lý, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề; tôn trọng và nghiêm túc tuân theo pháp luật; quan tâm và giải quyết các vấn đề bức xúc mang tính toàn cầu; có tư duy phê phán, có khả năng thích ứng với những thay đổi trong cuộc sống”. [7, tr 34]
Bốn trụ cột của giáo dục thế kỷ XXI đã được quán triệt trong đổi mới mục tiêu, nội dung, và phương pháp giáo dục phổ thông ở Việt Nam. Tuy nhiên, nhận thức về Giá trị sống, cũng như việc thể chế hóa Giáo dục giá trị sống trong giáo dục phổ thông ở Việt Nam chưa thật cụ thể, đặc biệt về hướng dẫn tổ chức hoạt động Giáo dục giá trị sống cho học sinh ở các cấp, bậc học còn hạn chế.
Những năm gần đây, tình trạng trẻ vị thành niên phạm tội có xu hướng gia tăng, hiện tượng bạo lực học đường ngày càng nhiều. Đã xuất hiện những vụ án giết người, cố ý gây thương tích mà đối tượng gây án là học sinh và nạn nhân chính là bạn học và thầy cô giáo của họ. Bên cạnh đó là sự bùng phát hiện tượng học sinh phổ thông hút thuốc lá, uống rượu, tiêm chích ma tuý, quan hệ tình dục sớm, … thậm chí là tự sát khi gặp vướng mắc trong cuộc sống. Nhiều em học giỏi, nhưng ngoài điểm số cao, khả năng tự chủ và kỹ năng giao tiếp lại rất kém. Một bộ phận học sinh sẵn sàng chửi bậy, đánh nhau, sa đà vào các tệ nạn xã hội, thậm chí liều lĩnh từ bỏ cả mạng sống…. Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến tình trạng trên, nhưng nguyên nhân sâu xa là do các em thiếu hệ giá trị sống cốt lõi vững chắc, do vậy không có điểm tựa để vượt qua . Do chưa được tiếp cận với chương trình Giáo dục giá trị sống nên học sinh phổ thông nói chung, học sinh Trung học phổ thông nói riêng còn thiếu hụt những giá trị cốt lõi cần thiết. Chính vì thiếu giá tri cốt lõi mà nhiều học sinh đã giải quyết các vấn đề một cách tiêu cực.
Đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ của sự nghiệp đổi mới giáo dục đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa- hiện đại hóa, ngày 22/10/2009, Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư số 30/TT-BGDĐT quy định Chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học cơ sở, giáo viên trung học phổ thông.
Ngày 22/10/2009 Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo đã ban hành kế hoạch số 640/KH-BGDĐT về tập huấn bồi dưỡng giáo viên đáp ứng yêu cầu chuẩn nghề nghiệp giáo viên trung học năm học 2013-2014. Nội dung tập huấn với 5 nội dung:
- Năng lực tìm hiểu học sinh.
- Tìm hiểu và xây dựng môi trường giáo dục.
- Giáo dục tiềm năng sáng tạo.
- Tư vấn sức khỏe giới tính.
- Giáo dục giá trị.[4, tr 3] Luận văn: Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học.
Các nội dung trên rất cần thiết trong thực tiễn giảng dạy làm công tác giáo dục học sinh ở các trường Trung học phổ thông.
Thực tiễn cho thấy, ở các trường trung học phổ thông có chất lượng giáo dục tốt đều là những trường thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục toàn diện. Thực chất của GDGTS cho học sinh là một nội dung của giáo dục toàn diện học sinh , đều hướng tới hình thành các phẩm chất và phát triển năng lực đa dạng cho học sinh.
Qua theo dõi, khảo sát, trao đổi với đồng nghiệp làm công tác quản lý ở các trường bạn, từ thực tế công tác ở trường Trung học phổ thông Chu Văn An, Tỉnh Thái Bình tôi nhận thấy:
- Một bộ phận học sinh còn có những thái độ và hành vi chưa lành mạnh do chưa có hệ Giá trị sống phù hợp với Giá trị sống khách quan của xã hội.
- Giáo viên gặp khó khăn trong thực hiện Giáo dục giá trị sống cho học sinh vì chưa hiểu bản chất của Giáo dục giá trị sống, và chưa biết cách làm phù hợp với cơ chế chuyển Giá trị sống khách quan thành Giá trị sống cá nhân.
- Trong gia đình và xã hội còn tồn tại những phản giá trị, có tác động đến niềm tin, thái độ của học sinh.
- Cha mẹ chưa quan tâm và chưa nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục Giá trị sống và biết cách Giáo dục giá trị sống cho con.
Trăn trở trước thực trạng trên, đồng thời trong nhà trường chưa có chương trình giáo dục hiệu quả, chưa có sự phối hợp chặt chẽ với các đoàn thể trong nhà trường và ngoài cộng đồng.
Đề tài “ Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh ở trường trung học phổ thông Chu Văn An, Tỉnh Thái Bình” được người viết luận văn lựa chọn để nghiên cứu.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát, đánh giá thực trạng, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục giá trị sống, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho học sinh ở trường Trung học phổ thông Chu Văn An, Tỉnh Thái Bình.
3. Khách thể, đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống ở trường Trung học phổ thông Chu Văn An, Tỉnh Thái Bình.
4. Giả thuyết khoa học Luận văn: Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học.
Thực tế hiện nay biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục giá trị sống ở trường Trung học phổ thông Chu Văn An, Tỉnh Thái Bình chưa được quan tâm đúng mức, nếu đề tài nghiên cứu đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống có tính khả thi thì hiệu quả hoạt động giáo dục giá trị sống ở trường Trung học phổ thông Chu Văn An, Tỉnh Thái Bình sẽ được nâng cao, đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- 5.1. Hệ thống hoá lý luận về quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh ở trường Trung học phổ thông.
- 5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống ở trường Trung học phổ thông Chu Văn An,Tỉnh Thái Bình.
- 5.3. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý hoạt động Giáo dục giá trị sống cho học sinh ở trường Trung học phổ thông Chu Văn An, tỉnh Thái Bình.
6. Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
6.1. Giới hạn đối tượng nghiên cứu: Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống ở trường Trung học phổ thông Chu Văn An, Tỉnh Thái Bình.
6.2.Giới hạn địa bàn nghiên cứu:
Nghiên cứu thực trạng hoạt động giáo dục giá trị sống của trường Trung học phổ thông Chu Văn An, tỉnh Thái Bình .
6.3. Khách thể khảo sát:
Khảo sát, lấy số liệu từ cán bộ quản lý, giáo viên, cha mẹ học sinh và học sinh trường Trung học phổ thông Chu Văn An, Tỉnh Thái Bình. Cụ thể số lượng như sau:
- Xin ý kiến và khảo sát 60 giáo viên đang công tác tại trường Trung học phổ thông Chu Văn An.
- Khảo sát và hỏi ý kiến của 33 giáo viên chủ nhiệm lớp của trường Trung học phổ thông Chu Văn An, Thái Bình, cán bộ quản lý gồm Ban giám hiệu, Ban chấp hành công đoàn, Ban chấp hành đoàn trường.
- 250 học sinh thuộc 3 khối của trường Trung học phổ thông Chu Văn An.
- 33 chi hội trưởng Cha mẹ học sinh của 33 lớp Trung học phổ thông Chu Văn An.
- Các đồng chí trưởng công an, chủ tịch các xã thuộc khu vực trường tuyển sinh.
7. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu đề tài, tôi sử dụng hệ thống các phương pháp nghiên cứu sau:
7.1. Nghiên cứu lý luận Luận văn: Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học.
- Tìm hiểu, thu thập các tài liệu có liên quan về hoạt động giáo dục giá trị sống.
- Phân tích và tổng hợp các khái niệm và tìm ra những lý luận cơ bản về hoạt động giáo dục giá trị sống làm cơ sở cho đề tài nghiên cứu.
7.2. Nghiên cứu thực tiễn
Qua điều tra, quan sát, phỏng vấn… tìm hiểu thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống ở trường Trung học phổ thông Chu Văn An, Tỉnh Thái Bình nhằm đảm bảo tính chân thực, khách quan của đối tượng được nghiên cứu.
7.3. Phương pháp toán thống kê
- Phát phiếu điều tra cho cán bộ, giáo viên, học sinh để thể hiện quan điểm cũng như suy nghĩ của mình.
- Xử lý số liệu thu được để đánh giá, nhận định từ đó đề xuất các biện pháp có liên quan đến vấn đề nghiên cứu.
8. Những đóng góp của luận văn
Hệ thống hoá lý luận về quản lý hoạt động giáo dục giá trị ở trường Trung học phổ thông. Khẳng định vai trò và ưu thế của hoạt động Giáo dục giá trị sống trong việc hình thành phẩm chất, nhân cách, bồi dưỡng tâm hồn, tình cảm, lý tưởng và kỹ năng sống cho học sinh nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục toàn diện, đáp ứng xu thế toàn cầu hoá và nền kinh tế tri thức.
Tìm hiểu thực trạng, xác định được những yếu tố ảnh hưởng từ đó đề xuất biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục giá trị sống ở trường Trung học phổ thông.
9. Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 3 phần
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh ở trường Trung học phổ thông.
- Chương 2: Thực trạng biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống ở trường Trung học phổ thông Chu Văn An, Tỉnh Thái Bình.
- Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống ở trường Trung học phổ thông Chu Văn An, Tỉnh Thái Bình.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC GIÁ TRỊ SỐNG CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1.Trên thế giới Luận văn: Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học.
Giáo dục là hiện tượng xã hội nảy sinh từ thuở bình minh của lịch sử loài người. Tìm hiểu lịch sử nhân loại, chúng ta thấy khoa học giáo dục được nghiên cứu có hệ thống từ rất sớm. Quá trình giáo dục được tổ chức, thực hiện một cách có ý thức, theo chuẩn mực của xã hội. Hoạt động giáo dục không chỉ diễn ra trong không gian lớp học mà còn được tổ chức ngoài phạm vi lớp học, nhà trường.
Quan điểm giáo dục theo phương thức kết hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội, học đi đôi với hành đã được quan tâm từ lâu. Từ khi có hoạt động dạy học, các nhà giáo dục tiêu biểu cho các thời kỳ lịch sử đã thể hiện, gửi gắm quan điểm này cho hậu thế qua những kinh nghiệm mà đến nay vẫn được coi là phương châm giáo dục.
Thế kỉ XIX, C.Mác (1818- 1883) và F.Anghen (1820-1895) đã xác định mục tiêu của nền giáo dục hiện đại là tạo ra “con người phát triển toàn diện”, sử dụng phương thức “giáo dục kết hợp với lao động sản xuất”.
Kế thừa, phát triển học thuyết giáo dục Xã hội chủ nghĩa của C.Mác và F.Anghen, V.I.Lênin (1870-1924) đã vận dụng phương thức giáo dục này vào thực tiễn và coi đó là một trong những nguyên tắc của giáo dục Xã hội chủ nghĩa. Khi xác định “Nhiệm vụ của đoàn thanh niên” (1920), Lênin khẳng định: “Chỉ có thể trở thành người cộng sản khi biết lao động và hoạt động xã hội cùng công nhân và nông dân.”
Xã hội hiện đại với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, xu thế toàn cầu hoá và sự phát triển của nền kinh tế tri thức đã đặt ra cho giáo dục nhiều thách thức. Nhiều quốc gia trên thế giới đã có những định hướng cơ bản để đào tạo người lao động có sức khoẻ, có trí tuệ, năng động, sáng tạo, tự chủ … có khả năng hoạt động, giao lưu, là những “công dân toàn cầu”, thích ứng với xã hội.
Lý luận cơ bản của giáo dục Xã hội chủ nghĩa đã trở thành vấn đề của thời đại. Tổ chức khoa học giáo dục thế giới – UNESCO đã xây dựng chiến lược, định hướng phát triển cho giáo dục với tư tưởng chỉ đạo: Giáo dục thường xuyên, suốt đời; tăng cường giáo dục cộng đồng, giáo dục gia đình; giáo dục cho mọi người …. Giáo dục hướng tới những giá trị nhân văn sâu sắc: Học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định mình.
1.1.2. Trong nước
Chu Văn An (1292-1370), nhà sư phạm mẫu mực cuối đời Trần, người được coi là “Thần nghiên – Thánh bút”. Quan điểm dạy học của Thày Chu là học đi đôi với hành. Thày cho rằng “Học mới chỉ có mắt, hành mới có chân, có mắt có chân mới tiến được; có làm mới biết nhưng cái biết trong làm là cái biết thiết thực sâu sắc nhất”. Học trò có học mới tiếp thu được tri thức, nhận được đường đi, có thế giới quan đúng đắn, nhận biết phải trái, có “hành” mới biết làm, áp dụng tri thức vào thực tế, tạo lập cuộc sống vững chắc, nhưng học phải kết hợp với hành, như con người có cả mắt, có cả chân, vừa có mắt vừa có chân mới tiến được.
Khi nền giáo dục mới được tạo lập, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến dạy chữ và dạy người, gắn lý luận với thực tiễn, “Học đi đôi với hành”. Luận văn: Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học.
Thư gửi các cháu học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Hồ Chí Minh khuyên các em học sinh: “…Nhưng các em cũng nên, ngoài giờ học ở trường, tham gia vào các Hội cứu quốc để tập luyện thêm cho quen với đời sống chiến sĩ và để giúp đỡ một vài việc nhẹ nhàng trong cuộc phòng thủ đất nước ; thư gửi Hội nghị các cán bộ phụ trách nhi đồng toàn quốc, Người nhắc tới một khái niệm khác của nội hàm khái niệm Giáo dục giá trị sống. Người viết: “Trong lúc học cũng cần làm cho chúng vui, trong lúc vui cũng cần làm cho chúng học. Ở trong nhà, trong trường, trong xã hội chúng đều vui, đều học”.
Trong muôn vàn bức thư, bài phát biểu, các buổi gặp gỡ, nói chuyện với học sinh và giáo viên, Hồ Chí Minh luôn luôn nhắc nhở các thầy cô giáo và các em học sinh về việc kết hợp giữa học tập và lao động, rèn luỵện.
Ngày 31 tháng 12 năm 1958, nói chuyện với học sinh và giáo viên trường phổ thông cấp III Chu văn An (Hà Nội), Bác giảng giải: Trường học của ta là trường học xã hội chủ nghĩa. Trường học xã hội chủ nghĩa là thế nào? Nhà trường xã hội chủ nghĩa là nhà trường:
- Học đi với lao động
- Lý luận đi với thực hành
- Cần cù đi với tiết kiệm
Từ khi có Điều lệ nhà trường, trong các Điều lệ đều có những qui định về hoạt động giáo dục giá trị sống. Tại điều 7, Điều lệ Trung học phổ thông tháng 6 năm 1976 ghi “Việc giảng dạy và giáo dục được thông qua các hoạt động: Giảng dạy trên lớp, lao động sản xuất và hoạt động tập thể. Các mặt hoạt động đó phải được cùng tiến hành, bổ sung cho nhau theo một kế hoạch thống nhất”.[9, Điều 7]
Khoản 3, Điều lệ này cũng nhấn mạnh “Hoạt động tập thể của học sinh do nhà trường phối hợp với Đoàn thanh niên lao động Hồ Chí Minh và Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh tổ chức, bao gồm các hoạt động văn hóa, chính trị xã hội của Đoàn và Đội và các hoạt động ngoại khóa về khoa học kỹ thuật, văn nghệ, thể dục thể thao của nhà trường và địa phương.
Khoản 3, điều 10, Điều lệ trường Trung học phổ thông tháng 4 năm 1979 viết:
“Các hoạt động xã hội do nhà trường tổ chức cho học sinh tham gia với mức độ thích hợp là nhằm củng cố tri thức đã học được, bồi dưỡng tình cảm đối với nhân dân lao động, xây dựng thái độ tích cực tham gia công tác xã hội, góp phần xây dựng địa phương và học sinh về ý thức và năng lực làm chủ tập thể, hình thành nhân sinh quan cách mạng. Ngoài các các hoạt động giáo dục trên đây, cần tổ chức thêm các hoạt động ngoại khóa khác như thể dục thể thao, văn hóa văn nghệ để công tác giáo dục thêm phong phú”.[10, khoản 3, điều 10] Luận văn: Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học.
Điều lệ trường Trung học phổ thông có nhiều cấp học năm 2011 ghi:
“Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp bao gồm các hoạt động ngoại khoá về khoa học, văn học, nghệ thuật, thể dục thể thao, an toàn giao thông, phòng chống tệ nạn xã hội, giáo dục giới tính, giáo dục pháp luật, giáo dục hướng nghiệp, giáo dục kỹ năng sống nhằm phát triển toàn diện và bồi dưỡng năng khiếu; các hoạt động vui chơi, tham quan, du lịch, giao lưu văn hoá, giáo dục môi trường; hoạt động từ thiện và các hoạt động xã hội khác phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh”.[12, tr12]
Xuất phát từ quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục; yêu cầu, đòi hỏi của thực tế, nhiều tác giả đã nghiên cứu về hoạt động Giáo dục giá trị sống ở các bậc học.
Nhìn chung, qua tìm hiểu chúng ta thấy có nhiều tác giả và bài viết về giáo dục giá trị và giáo dục giá trị sống, quản lý giáo dục Giá trị sống như :
- Nguyễn Thanh Bình (2014). Giáo dục tích hợp một số giá trị và kỹ năng sống cho học sinh trung học. Mã số đề tài: SPHN 13-286.
- Nguyễn Thanh Bình, Lưu Thu Thủy (2012). Tài liệu tập huấn về kỹ năng sống cho hoc sinh Trung học tại các chương trình phát triển vùng của Tầm nhìn thế giới tại Việt Nam.
- Diane tillman. Những giá trị sống cho tuổi trẻ. NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh, 2009.
- Lục Thị Nga , Nguyễn Thanh Bình (2011). Hiệu trưởng trường trung học với vấn đề giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống và giao tiếp ứng xử trong quản lý.
- Mô đun : Giáo dục giá trị (2014 ). Bộ giáo dục và đào tạo.
Một số nghiên cứu tiêu biểu cho xu hướng nghiên cứu về kinh nghiệm thực tiễn tổ chức hoạt động Giáo dục giá trị sống ở trường phổ thông trong các luận văn mà tác giả là những cán bộ quản lý của các trường phổ thông.
Cùng với đòi hỏi nâng cao chất lượng trong nhà trường phổ thông, giáo dục giá trị sống (GTS) cho học sinh ở nước ta hiện nay đang là yêu cầu quan trọng, một bộ phận không thể tách rời của quá trình giáo dục. Mục đích của giáo dục Giá trị sống là nhằm trang bị cho học sinh những Giá trị sống cơ bản, cần thiết nhất để các em có thể thích ứng với cuộc sống của xã hội đương đại, luôn luôn thay đổi trong điều kiện của một xã hội đang phát triển.
Nội dung giáo dục Giá trị sống đã được nhiều quốc gia trên thế giới đưa vào dạy học cho học sinh trong các trường phổ thông, dưới nhiều hình thức khác nhau, đảm bảo cho người học tiếp cận với chương trình giáo dục Giá trị sống được coi như một nội dung của chất lượng giáo dục.
Việt Nam, để nâng cao chất lượng giáo dục thể hệ trẻ, đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế một số tác giả đã quan tâm nghiên cứu về giáo dục Giá trị sống.
Nghiên cứu Giá trị sống và giáo dục kĩ năng sống ở Việt Nam xuất phát từ yêu cầu của xã hội đối với giáo dục trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa; từ nhiệm vụ triển khai chiến lược và đổi mới giáo dục phổ thông, từ xu thế giáo dục thế giới và từ sự phát triển của khoa học giáo dục, một số công trình nghiên cứu theo hướng nghiên cứu này đã đề cập đến những thách thức liên quan đến giáo dục pháp luật, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh.
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Bình và cộng sự đã mô tả sinh động, đầy đủ, hệ thống về tiếp cận và thực hiện giáo dục Giá trị sống cho học sinh do ngành giáo dục thực hiện. Ngành giáo dục đã triển khai chương trình đưa giáo dục Giá trị sống vào hệ thống giáo dục chính quy và không chính quy. Nội dung giáo dục của nhà trường phổ thông được định hướng bởi mục tiêu giáo dục Giá trị sống. Theo đó, các nội dung giáo dục Giá trị sống cụ thể đã được triển khai ở các cấp bậc học như:
Chương trình cải cách của giáo dục mầm non (1994) đã chú ý đến giáo dục trẻ hành vi, kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng giao tiếp, ứng xử…Chương trình khung chăm sóc và giáo dục trẻ mẫu giáo đổi mới đã chú trọng các nội dung như: phát triển thể chất, nhận thức, phát triển ngôn ngữ, tình cảm, nghệ thuật và thẩm mĩ của trẻ. Trong tất cả các nội dung đều chứa đựng nội dung giáo dục Giá trị sống. Luận văn: Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học.
Giáo dục Giá trị sống ở bậc tiểu học tập trung vào các kĩ năng chính, kỹ năng cơ bản như đọc, viết, tính toán, nghe, nói; coi trọng đúng mức các Giá trị sống trong cộng đồng, thích ứng với những thay đổi diễn ra hàng ngày trong xã hội hiện đại; hình thành các kĩ năng tư duy sáng tạo, phê phán, giải quyết vấn đề, ra quyết định, trí tưởng tượng.
Giáo dục trung học cơ sở chú trọng giáo dục các Giá trị sống cơ bản cho học sinh như: năng lực thích nghi, năng lực hành động, năng lực ứng xử, năng lực tự học suốt đời; định hướng để học sinh học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tự khẳng định.
Với các bậc học trên, việc giáo dục Giá trị sống được thực hiện chủ yếu thông qua chương trình các môn học và các hoạt động giáo dục của nhà trường cùng với một số chương trình dự án do nước ngoài tài trợ. Ví dụ: với trung học cơ sở, những môn học được khai thác nhằm giáo dục Giá trị sống cho học sinh là: môn Giáo dục công dân, môn Công nghệ.
Trong giáo dục trung học phổ thông, giáo dục Giá trị sống cho học sinh đã được triển khai qua chương trình ngoại khóa theo dự án, VIE97PO4 về sức khỏe sinh sản vị thành niên, VIE 01/10 do UNFPA tài trợ. Tài liệu hướng dẫn tổ chức các hoạt động ngoại khóa về giáo dục vị thành niên trong các trường trung học phổ thông đã thể hiện được cách tiếp cận về Giá trị sống.
Quá trình đưa giáo dục Giá trị sống vào chương trình giáo dục học đường, đặc biệt là chương trình giáo dục phổ thông nêu trên được thực hiện dựa trên những kết quả nghiên cứu về vấn đề này đồng thời cũng tạo điều kiện để các nghiên cứu về đưa giáo dục Giá trị sống vào chương trình giáo dục phổ thông ngày càng phát triển. Hướng nghiên cứu về giáo dục Giá trị sống cho học sinh thông qua các môn học, các hoạt động giáo dục có ưu thế hơn. Biểu hiện cụ thể là những nghiên cứu về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Trước hết, cần phải khẳng định rằng, giáo dục Giá trị sống không phải là mục đích tự thân của các nghiên cứu về hoạt động giáo dục Giá trị sống. Những nghiên cứu này trước hết nhằm thiết lập các cơ sở lí luận và thực tiễn để thực hiện sao cho có hiệu quả hoạt động giáo dục Giá trị sống trong các trường phổ thông. Tuy nhiên, do tính chất của hoạt động giáo dục Giá trị sống và các mục tiêu phát triển các năng lực xã hội cho học sinh nên hoạt động giáo dục Giá trị sống có quan hệ mật thiết với giáo dục kĩ năng sống. Vì vậy, những nghiên cứu về hoạt động giáo dục Giá trị sống có vai trò quan trọng với định hướng nghiên cứu đưa giáo dục Giá trị sống vào chương trình giáo dục phổ thông.
Các công trình nghiên cứu về hoạt động giáo dục Giá trị sống được phân tích theo quan điểm trên được khái quát theo những hướng nghiên cứu chính sau đây: Luận văn: Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học.
- Nghiên cứu về giáo dục ngoài giờ lên lớp và sự phối kết hợp các lực lượng giáo dục trong việc tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở ngoài trường .
- Nghiên cứu hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông nhấn mạnh vai trò chủ thể trong hoạt động tập thể và các hình thức tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
- Nghiên cứu về thực hiện các nội dung giáo dục khác nhau thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp như giáo dục môi trường, giáo dục giá trị đạo đức, giáo dục ý thức pháp luật …
Qua tập hợp nghiên cứu, phân tích, tổng hợp và tổng quan vấn đề từ việc khảo sát các đề tài liên quan ở trong nước tác giả luận văn này có thể đưa ra nhận định:
Các đề tài đã đề cập đến những hình thức giáo dục Giá trị sống chưa có kết quả thử nghiệm rõ ràng, cụ thể nên tính thuyết phục chưa cao.
Một số đề tài nghiên cứu tương đối đầy đủ các nhiệm vụ: nghiên cứu lí luận, đánh giá thực trạng và đề xuất các biện pháp giáo dục Giá trị sống nhưng nội dung còn nặng, khó thực hiện khi áp dụng thực tế vào trường Trung học phổ thông.
Những phân tích trên đây cho thấy, giáo dục Giá trị sống cho học sinh trung học phổ thông mặc dù đã được định hướng bởi mục tiêu, nội dung chương trình giáo dục nhưng triển khai thực tiễn hoạt động này trong nhà trường còn rất nhiều hạn chế. Giáo dục Giá trị sống cho học sinh trung học phổ thông mới chỉ được thực hiện như một nội dung, một mục tiêu phụ của các chương trình dự án cho cấp học này. Do vậy, cần thiết phải khai thác nội lực của chính các hoạt động trong nhà trường trung học phổ thông nhằm thực hiện có hiệu quả nội dung giáo dục Giá trị sống cho học sinh ở bậc học này.
1.2. Các khái niệm cơ bản có liên quan đến luận văn
1.2.1. Hoạt động giáo dục, hoạt động giáo dục giá trị sống
Hoạt động giáo dục (Theo nghĩa rộng) là những hoạt động có chủ đích, có kế hoạch hoặc có sự định hướng của nhà giáo dục, được thực hiện thông qua những cách thức phù hợp để chuyển tải nội dung giáo dục tới người học nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục.
Hoạt động giáo dục Giá trị sống là những hoạt động có mục đích, có kế hoạch đến học sinh nhằm giúp học sinh có những kiến thức về cuộc sống, có những thao tác, hành vi ứng sử đúng mực trong các mối quan hệ xã hội, của cá nhân với xã hội, của cá nhân với mọi người xung quanh và của cá nhân với chính mình, giúp cho nhân cách mỗi học sinh được phát triển đúng đắn đồng thời thích ứng tốt nhất với môi trường sống.
1.2.2. Quản lý, Quản lý giáo dục Luận văn: Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học.
- Quản lý
Quản lý là yếu tố có vai trò quyết định cho sự phát triển của các quốc gia và các tổ chức.
Theo Nguyễn Bá Dương thì quản lý là : “Biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [17, tr23].
Theo Daft (2000) Quản lý là “việc thực hiện các mục đích của tổ chức một cách hiệu quả và đạt hiệu xuất tốt, thông qua việc lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các nguồn lực của tổ chức” [dẫn theo 23, tr.23].
Khi đề cập đến vai trò của quản lý, C.Mác chỉ rõ: “Bất cứ một lao động xã hội hay lao động chung nào mà tiến hành trên một qui mô khá lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hòa các hoạt động cá nhân …. Một ngưởi nghệ sĩ độc tấu tự điều khiển lấy mình, nhưng dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng. Quản lý là yếu tố khách quan của mọi quá trình lao động xã hội, là những hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát quá trình tiến tới mục tiêu” [dẫn theo 17–, tr24].
Quan niệm truyền thống: “Quản lý là quá trình tác động có ý thức của chủ thể vào một bộ máy (đối tượng quản lý) bằng cách vạch ra mục tiêu cho bộ máy, tìm kiếm các biện pháp tác động để bộ máy đạt tới mục tiêu xác định.
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau, song chúng ta có thể hiểu một cách khái quát như sau:
“Quản lý là sự tác động có tổ chức, hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường’’. Do vậy, thực tế quản lý ở trường học chính là sự tác động một cách khoa học, cụ thể của chủ thể quản lý đến hệ thống giáo dục trong nhà trường, nhằm làm cho hệ vận hành giáo dục đạt đến một trạng thái mới phù hợp và có chất lượng hơn.
- Quản lý giáo dục
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “QLGD theo nghĩa tổng quan là điều hành phối hợp các lực lượng nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ theo yêu cầu phát triển của xã hội. Ngày nay, với sứ mệnh phát triển giáo dục thường xuyên, công tác giáo dục không chỉ giới hạn ở thế hệ trẻ mà cho mọi người. Cho nên QLGD được hiểu là sự điều hành hệ thống giáo dục Quốc dân” [1, tr.7].
Theo tác giả Nguyễn Thị Tính: “Quản lý giáo dục là những tác động có hệ thống, có mục đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của giáo dục, nhằm đảm bảo cho hệ thống giáo dục vận hành, phát triển, thực hiện mục tiêu của nền giáo dục” [27, tr23]. Luận văn: Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học.
1.2.3. Quản lý nhà trường, Quản lý nhà trường Trung học phổ thông
Theo tác giả Nguyễn Thị Tính: “Quản lý nhà trường là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhà trường giúp cho nhà trường vận hành theo đường lối, quan điểm giáo dục của Đảng, thực hiện được mục tiêu, tính chất của nhà trường Việt Nam đó là hình thành phát triển nhân cách người học theo yêu cầu xã hội” [27, tr23,24].
1.2.4. Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống
Quản lý hoạt động giáo dục Giá trị sống là hoạt động của nhà quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các lực lượng giáo dục, huy động tối đa các nguồn lực xã hội để giáo dục Giá trị sống cho học sinh.
Quản lý hoạt động giáo dục Giá trị sống chính là những công việc của nhà trường mà người quản lý trường học thực hiện các chức năng quản lý để tổ chức các công tác giáo dục Giá trị sống. Đó là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý nhằm trang bị cho học sinh những Giá trị sống phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, trình độ học vấn và bối cảnh sống của các em.
1.2.5. Giá trị sống và giáo dục giá trị sống ở trường Trung học phổ thông
1.2.5.1. Khái niệm giá trị sống
Giá trị
- Giá trị theo nghĩa hẹp: giá trị với ý nghĩa thỏa mãn nhu cầu của con người, do đó giá trị chỉ tồn tại trong mối quan hệ với con người.
- Giá trị theo nghĩa rộng: ngoài sự thỏa mãn nhu cầu, giá trị còn hàm nghĩa sâu rộng hơn. Phần thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người được coi là hàm nghĩa cơ bản và đó mới chỉ là phần giá trị sử dụng. Phần hàm nghĩa sâu sắc của giá trị là đặc tính ưu việt, là giá trị bên trong của sự vật, hiện tượng.
- Giá trị cá nhân (đối với cá nhân) mang đặc tính tinh thần là những gì được họ coi là rất quan trọng, rất cần thiết, rất có ý nghĩa, luôn mong đợi.[4, tr34 ].
Quan điểm khác về giá trị Luận văn: Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học.
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Giá trị là tính có ý nghĩa tích cực, đáng quý, có ích của các đối tượng với các chủ thể” [21].
John Maciology- Hoa Kỳ: “Giá trị là những quy chuẩn mà qua đó một thành viên của một nền văn hóa điều gì là đáng mong muốn, điều gì không đáng mong muốn, điều gì là tốt hay dở, điều gì là đẹp hay xấu”. [dẫn theo 4, tr37].
Tóm lại: Theo quan điểm của các nhà khoa học, cũng như trong một số từ điển đã giải thích, khái niệm giá trị có chung một số đặc điểm sau:
“Giá trị” là “cái dựa vào đó để xem xét một con người đáng quý đến mức nào về mặt đạo đức, trí tuệ, nghề nghiệp, tài năng”. “Giá trị cũng là những quan niệm về thực tại, về cái đẹp, sự thật, điều thiện của một xã hội”.
Giá trị được hiểu theo hai góc độ: Vật chất và tinh thần. Giá trị vật chất là giá trị được đo bằng tiền bạc dưới góc độ kinh tế, còn giá trị tinh thần tạo cho con người niềm tin, hứng thú, động lực và sức mạnh trong cuộc sống.
Giá trị sống
Từ những phân tích về giá trị trên có thể khái quát về giá trị sống như sau:
Giá trị là nền tảng, là chiếc neo giúp cá nhân lựa chọn ứng xử, quyết định hợp lý để mang lại lợi ích cho bản thân và cho xã hội. Giá trị được xem là cốt lõi, bởi vì nó dẫn dắt và mang lại mục đích cho hành động của một cá nhân. Hành động mà không dựa trên giá trị sẽ dẫn đến sự thiếu nhất quán trong mục đích và hành động. Giá trị nằm ở tầng dưới (tầng chìm), các biểu hiện khác của văn hóa như lối sống, nếp sống hay hành vi, ứng xử.. là tầng trên (tầng nổi) và chính là giá trị sống.
- GTS là những gì mà ta quý trọng, thứ mà ta sẽ soi vào khi ra quyết định, lựa chọn làm việc này hay không làm việc này.
- GTS là những thứ được cá nhân nhận thức là rất quan trọng, cần thiết, có ý nghĩa, luôn mong đợi, chúng có khả năng chi phối thái độ, xúc cảm, tình cảm, hành vi của một cá nhân trong cuộc sống hàng ngày, trở thành động lực để người ta nỗ lực phấn đấu để có được nó.
- GTS đã giúp người học sinh: không chỉ có tu dưỡng và rèn luyện kỹ năng mà phải biết chuyển các giá trị cốt lõi, các kỹ năng sống thành giá trị và kỹ năng của chính bản thân mình.
1.2.5.2. Giáo dục giá trị sống cho ở trường Trung học phổ thông
Những giá trị sống cần giáo dục cho học sinh Trung học phổ thông là:
- Giá trị sống chung: hòa bình, tự do.
- Giá trị về quan hệ: tôn trọng, hợp tác, đoàn kết, trách nhiệm.
- Giá trị về phẩm chất cá nhân: khoan dung, khiêm tốn, giản dị, trung thực, yêu thương, hạnh phúc.
Những hệ giá trị khác là:
- Năm điều Bác Hồ dạy. Luận văn: Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học.
- Những giá trị công dân như: tuân thủ pháp luật, dân chủ, trung thành với Tổ quốc, bình đẳng nam nữ…
- Những giá trị người lao động mới: sáng tạo, kỷ luật lao động, đảm bảo chất lượng sản phẩm lao động.
- Những giá trị mang bản sắc dân tộc Việt Nam: yêu nước, hiếu học, tôn sư trọng đạo, nhân nghĩa…
1.2.6. Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống ở trường Trung học phổ thông
Điều 26 Điều lệ trường Trung học phổ thông năm 2011 ghi: Các hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động trong giờ lên lớp và hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động.
Hoạt động giáo dục giá trị sống là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn học trên lớp, là sự tiếp nối, khắc sâu, bổ sung các hoạt động trên lớp, là con đường gắn lý luận với thực tiễn.
Trước yêu cầu hội nhập, mục tiêu của giáo dục, hoạt động Giáo dục giá trị sống trở thành một chương trình bắt buộc, được đưa vào tiết học chính khóa.
Việc đưa chương trình Giáo dục giá trị sống vào chương trình chính khóa không có nghĩa sẽ không tổ chức các hoạt động ngoại khóa. Thực chất, những tri thức trong hoạt động nội khóa chưa thỏa mãn nhu cầu nhận thức, rèn luyện kỹ năng, phát triển năng lực cá nhân của học sinh, vì vậy các hoạt động ngoại khóa đáp ứng nhu cầu, tạo điều kiện cho các em mở rộng, minh họa, khắc sâu, phát huy khả năng và hứng thú trong các hoạt động; hoạt động ngoại khóa là một nội dung trong hoạt động Giáo dục giá trị sống.
Quản lý hoạt động giáo dục Giá trị sống là hoạt động của nhà quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các lực lượng giáo dục, huy động tối đa các nguồn lực xã hội để giáo dục Giá trị sống cho học sinh.
Quản lý hoạt động giáo dục Giá trị sống chính là những công việc của nhà trường mà người quản lý trường học thực hiện các chức năng quản lý để tổ chức các công tác giáo dục Giá trị sống. Đó là những hoạt động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý nhằm trang bị cho học sinh những Giá trị sống phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, trình độ học vấn và bối cảnh sống của các em.
1.2.6.1. Đặc điểm của chương trình hoạt động Giáo dục giá trị sống ở trường Trung học phổ thông
(Theo tài liệu dành cho GV ở trường Trung học phổ thông-Giáo dục kỹ năng sống trong hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp- Nhà xuất bản giáo dục Việt nam) Luận văn: Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học.
Hoạt động Giáo dục giá trị sống được cấu trúc theo chủ đề: Chương trình hoạt động Giáo dục giá trị sống ở trường Trung học phổ thông có cấu trúc đồng tâm. Về cơ bản, cấu trúc chương trình lớp 10, 11, 12 giống nhau.Cách cấu trúc theo chủ đề hoạt động của tháng vừa đảm bảo tính khoa học, tính thống nhất vừa thuận lợi cho công tác quản lý, chỉ đạo của các nhà trường. Hoạt động hè không lấy các chủ điểm làm trụ cột cho các hoạt động mà xây dựng khung chương trình mở “Mùa hè tình nguyện vì cuộc sống cộng đồng”, các nhà trường tuỳ theo tình hình cụ thể để xây dựng chương trình cho mỗi hoạt động.
Ở các trường Trung học phổ thông hiện nay, theo Kế hoạch thời gian năm học của Bộ Giáo dục và Đào tạo, thời gian học 37 tuần, vì vậy, năm học bắt đầu sớm hơn 2 tuần so với Kế hoạch thời gian năm học trước đây. Các nhà trường để tổ chức được hoạt động dạy học đã tập trung học sinh trong tháng 8. Thực tế, cùng với chủ đề định hình, các hiệu trưởng đã chỉ đạo tổ chức các hoạt động tự chọn phù hợp để học sinh gắn bó, yêu trường yêu lớp.
Nắm vững khung chương trình là yêu cầu bắt buộc. Từ khung chương trình, hiệu trưởng yêu cầu giáo viên chủ nhiệm triển khai kế hoạch, kế hoạch hoạt động tự chọn, định hướng GVCN trong việc lựa chọn nội dung, hình thức, cách thức tổ chức hoạt động Giáo dục giá trị sống.
1.2.6.2. Vai trò, ý nghĩa của hoạt động Giáo dục giá trị sống đối với việc thực hiện mục tiêu giáo dục ở trường Trung học phổ thông
Trong điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam nói riêng và bối cảnh toàn cầu nói chung, càng ngày chúng ta càng nhận ra tầm quan trọng của việc tổ chức các hoạt động Giáo dục giá trị sống cho học sinh. Thông qua hoạt động giáo dục để các em học sinh tự tin, chủ động ứng phó với sự thay đổi, biến động của môi trường kinh tế, xã hội và thiên nhiên. Tuổi trẻ hiện nay phải tự đương đầu với nhiều vấn đề phức tạp của cuộc sống. Ngoài kiến thức, mỗi học sinh đều cần trang bị cho mình Giá trị sống để làm chủ bản thân, thích ứng và biết cách ứng phó trước những tình huống khó khăn trong cuộc sống hàng ngày; Rèn luyện cách sống có trách nhiệm với bản thân, gia đình, cộng đồng; Mở ra cơ hội, hướng suy nghĩ tích cực và tự tin, tự quyết định và lựa chọn những hành vi đúng đắn là việc làm hết sức cần thiết với mỗi nhà trường.
Quản lý các hoạt động Giáo dục giá trị sống như những nhịp cầu giúp biến kiến thức thành những hành động cụ thể, những thói quen lành mạnh. Giáo dục Giá trị sống cho học sinh có thể thúc đẩy những hành vi mang tính xã hội tích cực và do vậy sẽ giảm bớt các tệ nạn xã hội. Giá trị sống góp phần thúc đẩy sự phát triển của cá nhân và xã hội, ngăn ngừa các vấn đề sức khỏe, xã hội và bảo vệ quyền con người, giúp con người sống an toàn, lành mạnh và có chất lượng, giải quyết một cách tích cực nhu cầu con người, quyền công dân…
Hoạt động Giáo dục giá trị sống là một hoạt động giáo dục đặc biệt của nhà trường. Hoạt động Giáo dục giá trị sống là con đường phát triển toàn diện cho thế hệ trẻ, tạo nên sự thống nhất giữa ý thức và hành động, hoạt động này có tác động mạnh mẽ, sâu sắc đến đời sống tình cảm, tâm hồn, nhân cách các em.
1.3. Mục tiêu hoạt động giáo dục giá trị sống; nội dung; biện pháp hoạt động giáo dục giá trị sống ở trường Trung học phổ thông Luận văn: Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học.
1.3.1. Mục tiêu hoạt động giáo dục giá trị sống
Mục tiêu giáo dục của Việt Nam hiện nay đã chuyển từ mục tiêu cung cấp kiến thức là chủ yếu sang hình thành và phát triển những năng lực cần thiết cho người học. Mục tiêu giáo dục của Việt Nam thể hiện mục tiêu giáo dục của thế kỉ XXI: Trang bị cho học sinh những kiến thức, giá trị, thái độ và kĩ năng phù hợp, trên cơ sở đó hình thành cho học sinh những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực, loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày; Tạo cơ hội thuận lợi để các em thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức.
Hoạt động Giáo dục giá trị sống tạo điều kiện và môi trường để học sinh phát huy vai trò chủ thẻ tích cực, chủ động của các em trong quá trình học tập, rèn luyện.
Hoạt động Giáo dục giá trị sống vừa củng cố, bổ sung, mở rộng kiến thức đã học vừa phát triển các kỹ năng vận dụng kiến thức đã học vận dụng vào cuộc sống, điều khiển hành vi và ngôn ngữ cho phù hợp với các chuẩn mực xã hội trong các mối quan hệ với thày cô, bạn bè, gia đình, với thiên nhiên và với chính bản thân mình.
Hoạt động Giáo dục giá trị sống đặt các em học sinh trước những vấn đề của thời đại, xã hội, những khó khăn, thách thức, kể cả những cám dỗ, cạm bẫy … mà các em phải đối mặt, từ đó rèn luyện bản lĩnh, tích luỹ kinh nghiệm, làm chủ mọi tình huống trong cuộc sống.
1.3.2. Mục tiêu tổ chức các hoạt động Giáo dục giá trị sống.
1.3.2.1. Về kiến thức: Học sinh hiểu được ý nghĩa của việc học tập và rèn luyện Giá trị sống trong nội dung những tiết học chính khoá và những hoạt động ngoài giờ lên lớp; Hiểu nội dung của một số Giá trị sống cần thiết của người học sinh Trung học phổ thông; Trình bày được lợi ích của các Giá trị sống đối với bản thân trong học tập, rèn luyện ở nhà trường và trong cuộc sống ở gia đình, cộng đồng xã hội.
1.3.2.2. Về kĩ năng: Qua học tập, tổ chức, tham gia các hoạt động học sinh biết rèn kỹ năng sống; biết thực hành và vận dụng các Giá trị sống trong giao tiếp, ứng xử tích cực với bản thân, gia đình và cộng đồng.
1.3.2.3. Về thái độ: Có ý thức và thái độ tích cực khi tham gia các hoạt động Giáo dục giá trị sống, chủ động rèn luyện, tích luỹ Giá trị sống.
1.3.3.Nội dung hoạt động giáo dục giá trị sống Luận văn: Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học.
Nội dung giáo dục Giá trị sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông tập trung vào các kĩ năng tâm lí- xã hội. Những kĩ năng này được vận dụng trong những tình huống hàng ngày để tương tác với người khác và giải quyết hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống. Nội dung giáo dục Giá trị sống được vận dụng linh hoạt.
Trong luận văn này, người viết đề xuất một số nội dung giáo dục Giá trị sống cho học sinh trong nhà trường phổ thông:
Kĩ năng xác định giá trị: giá trị là những gì con người cho là quan trọng, là có nghĩa đối với bản thân mình, có tác dụng định hướng cho suy nghĩ, hành động và lối sống cho bản thân. Giá trị có thể là những chuẩn mực đạo đức, những chính kiến, thái độ…đối với một điều gì đó. Mỗi người đều có một hệ thống giá trị riêng. Kĩ năng xác định giá trị là khả năng con người hiểu rõ được những giá trị của bản thân mình. Kĩ năng này còn giúp người ta biết tôn trọng người khác, biết chấp nhận rằng người khác có những giá trị và niềm tin khác.
Kĩ năng đương đầu với cảm xúc, căng thẳng: Đương đầu với cảm xúc, kiểm soát cảm xúc là khả năng con người nhận thức rõ cảm xúc của mình trong một tình huống nào đó và hiểu được ảnh hưởng của cảm xúc đối với bản thân và người khác như thế nào, đồng thời biết cách điều chỉnh và thể hiện cảm xúc một cách phù hợp. Khi bị căng thẳng, tuỳ từng tình huống, mỗi người có thể có cách ứng phó khác nhau. Cách ứng phó tích cực hay tiêu cực khi căng thẳng phụ thuộc vào cách suy nghĩ tích cực hay tiêu cực của cá nhân trong tình huống đó. Kĩ năng ứng phó với căng thẳng là khả năng con người bình tĩnh, sẵn sàng đón nhận những tình huống căng thẳng như là một phần tất yếu của cuộc sống, là khả năng nhận biết sự căng thẳng, hiểu được nguyên nhân, hậu quả của căng thẳng, cũng như biết cách suy nghĩ và ứng phó một cách tích cực khi bị căng thẳng.
Kĩ năng giao tiếp: là khả năng có thể bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thức nói, viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể một cách phù hợp với hoàn cảnh và văn hoá, đồng thời biết lắng nghe, tôn trọng ý kiến người khác ngay cả khi bất đồng quan điểm. Kĩ năng giao tiếp giúp con người biết đánh giá tình huống giao tiếp và điều chỉnh cách giao tiếp một cách phù hợp, hiệu quả; cởi mở bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc nhưng không làm hại hay gây tổn thương cho người khác. Kĩ năng này giúp con người có mối quan hệ tích cực với người khác. Người có kĩ năng giao tiếp tốt, biết cách dung hoà; có cách ứng xử phù hợp khi làm việc cùng và ở cùng với những người khác trong một môi trường tập thể, quan tâm đến những điều người khác quan tâm và giúp họ có thể đạt được những điều họ mong muốn một cách chính đáng.
Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn: mâu thuẫn là những xung đột, tranh cãi, bất đồng, bất bình với một hay với nhiều người về một vấn đề nào đó. Có rất nhiều cách giải quyết mâu thuẫn, mỗi người sẽ có cách giải quyết mâu thuẫn riêng tuỳ thuộc vào vốn hiểu biết, văn hoá…và cách ứng xử cũng như khả năng phân tích, tìm hiểu nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn. Kĩ năng giải quyết mâu thuẫn là khả năng con ngưòi nhận thức được nguyên nhân nảy sinh mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn đó với thái độ tích cực, không dùng bạo lực, thoả mãn nhu cầu và quyền lợi các bên và giải quyết mối quan hệ giữa các bên một cách hoà bình.
Trong hoạt động Giáo dục giá trị sống, tuỳ từng nội dung chương trình hoạt động, có thể lựa chọn những nội dung rèn luyện kĩ năng ra quyết định, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng kiên định, kĩ năng đảm nhận trách nhiệm, kĩ năng đạt mục tiêu, kĩ năng quản lí thời gian…và nhiều kĩ năng khác cho học sinh.
1.3.4. Biện pháp Luận văn: Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học.
Theo Từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Giáo dục năm 1985: “Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể”. Như vậy, biện pháp là cách làm cụ thể được chủ thể sử dụng trên cơ sở phương pháp đã được xác định.
Biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục giá trị sống:
Là những cách thức tổ chức tiến hành thực hiện các nội dung hoạt động Giáo dục giá trị sống theo một qui trình nhằm đạt mục tiêu đề ra, trong đó, các bước của qui trình, nội dung, phương pháp tổ chức hoạt động Giáo dục giá trị sống hướng vào việc rèn luyện Giá trị sống.
Biện pháp quản lý hoạt động thể hiện năng lực của người Hiệu trưởng, vì qua biện pháp quản lý đó có thể đánh giá được sự năng động hay trì trệ, sáng tạo hay bảo thủ … của chủ thể quản lý. Trong mỗi chương trình, tình huống, sự việc … người quản lý phải biết sử dụng một phương pháp thích hợp. Tính hiệu quả của biện pháp quản lý phụ thuộc nhiều vào việc lựa chọn các biện pháp quản lý. Biện pháp quản lý chính là cách thức tổ chức, phương pháp quản lý cụ thể đối với những sự việc, tình huống, chương trình cụ thể. Các biện pháp quản lý rất phong phú, đa dạng, chúng có liên quan mật thiết, tương thích với nhau, tạo điều kiện thúc đẩy để cùng hướng tới mục tiêu, tạo thành một hệ thống các biện pháp.
1.4. Quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống cho học sinh Trung học phổ thông
1.4.1. Quản lý việc xây kế hoạch hoạt động Giáo dục giá trị sống
1.5.1.1. Lập kế hoạch là một chức năng quản lý, tạo ra khả năng tốt nhất để hoàn thành mục tiêu. Theo tác giả Trần Quốc Thành: “Kế hoạch là chương trình (phương án) hành động hướng vào việc thực hiện một mục tiêu nào đó trong tương lai”. Xây dựng kế hoạch hoạt động Giáo dục giá trị sống là dự kiến những nội dung hoạt động, hình thức tổ chức, sắp xếp theo trình tự thời gian năm học. Kế hoạch làm cho các hoạt động của nhà trường có mục đích, yêu cầu rõ ràng; chủ động, khoa học trong quản lý, chỉ đạo. Khi xây dựng kế hoạch hoạt động cần xác định mục tiêu trong hoạt động này cần đạt được mục tiêu nào? Những Giá trị sống các em học sinh sẽ được rèn luyện, tích luỹ, các phương thức đạt mục tiêu.
Khi lập kế hoạch các nhà quản lý cần quyết định phải làm gì trong hoạt động này? Những kĩ năng cần rèn luyện? Làm như thế nào? Ai là người phụ trách? Ai làm? Lúc nào làm và trong thời hạn bao lâu? Địa điểm tổ chức? Qui mô như thế nào? Cần những điều kiện và phương tiện gì? Những tình huống có thể xảy ra? Bản kế hoạch, phân công rõ ràng, có thời gian hoàn thành và yêu cầu cần đạt. Có thể tóm tắt theo bảng sau. Luận văn: Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học.
1.4.1.2. Quản lý việc xây dựng kế hoạch, thực hiện kế hoạch
Quản lý việc xây dựng kế hoạch hoạt động theo ngày, tuần, tháng, năm. Kế hoạch phải có sự cân đối, tránh chồng chéo, đơn điệu về nội dung và hình thức tổ chức.
Kế hoạch hàng ngày, thường xuyên: Bắt đầu từ việc duy trì nề nếp, thực hiện bảo đảm an toàn giao thông trước, sau mỗi buổi học tại khu vực cổng trường. Quản lý học sinh giờ truy bài đầu giờ; Đội cờ đỏ, đội thanh niên xung kích theo dõi sĩ số, nền nếp….
Kế hoạch tuần: Sau khi sơ kết hoạt động tuần đã qua là triển khai nội dung hoạt động tuần tiếp theo. Khi triển khai nội dung công việc tuần mới, người Hiệu trưởng cần phân công rõ ràng, nội dung, yêu cầu phải thực hiện. Kế hoạch hoạt động phải triển khai tới tổ chủ nhiệm, các tổ trưởng chuyên môn. Tổ trưởng chuyên môn phổ biến, phân công giáo viên phụ trách các chủ đề giáo dục phù hợp với chuyên môn, lên kế hoạch phối hợp với giáo viên chủ nhiệm về nội dung, hình thức tổ chức thực hiện các hoạt động. Báo cáo kế hoạch phân công chi tiết với ban giám hiệu. Ban giám hiệu kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện của giáo viên. Công tác kiểm tra thực hiện linh hoạt: qua cốt cán, qua tổ trưởng chuyên môn, qua giáo viên chủ nhiệm, qua giáo viên bộ môn …
- Quản lý việc xây dựng và thực hiện nội dung chương trình hoạt động GDGTS bắt buộc, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
- Quản lý việc xây dựng, triển khai kế hoạch phối hợp giữa cán bộ Đoàn thanh niên với giáo viên chủ nhiệm (GVCN) và giáo viên bộ môn trong việc tổ chức hoạt động Giáo dục giá trị sống.
- Quản lý việc xây dựng kế hoạch về cơ sở vật chất (CSVC) và các điều kiện khác phục vụ cho hoạt động Giáo dục giá trị sống.
- Quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động Giáo dục giá trị sống.
- Quản lý việc xây dựng và thực hiện kế hoạch phối kết hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường tham gia tổ chức các hoạt động Giáo dục giá trị sống.
- Quản lý đội ngũ GVCN trong việc thực hiện kế hoạch hoạt động Giáo dục giá trị sống .
1.4.1.3. Vai trò quản lý của Hiệu trưởng.
Hiệu trưởng là trưởng ban hoạt động Giáo dục giá trị sống, phó hiệu trưởng là phó ban thường trực chịu trách nhiệm triển khai và tổ chức hoạt động Giáo dục giá trị sống theo chủ điểm hàng tháng.
Quản lý đội ngũ GVCN trong thực hiện nhiệm vụ Giáo dục giá trị sống bao gồm các công việc cụ thể sau:
- Quản lý việc xây dựng kế hoạch chủ nhiệm, kế hoạch hoạt động tuần, tháng, năm học. Đội ngũ cán bộ lớp làm nòng cốt, những Đoàn viên, thanh niên xung kích là nòng cốt trong các hoạt động Giáo dục giá trị sống.
- Duyệt kế hoạch, kiểm tra, đôn đốc, việc chuẩn bị của GVCN theo chủ đề hoạt động và các hoạt động tự chọn, việc triển khai hoạt động Giáo dục giá trị sống trong các giờ sinh hoạt và tiết chào cờ đầu tuần.
- Quản lý việc phối kết hợp giữa GVCN lớp và các lực lượng khác trong nhà trường.
- Quản lý việc đánh giá, rút kinh nghiệm sau mỗi chủ đề hoạt động.
- Quản lý việc đánh giá, phân xếp loại của Ban thi đua đối với các hoạt động trong các giờ chào cờ đầu tuần, các hoạt động Giáo dục giá trị sống. Luận văn: Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học.
1.4.2. Tổ chức hoạt động giáo dục giá trị sống
1.4.2.1. Muốn tổ chức hoạt động Giáo dục giá trị sống có hiệu quả, nhiệm vụ số một của người Hiệu trưởng cần quan tâm là phải thành lập tổ chức để quản lí – Ban chỉ đạo hoạt động Giáo dục giá trị sống. Hiệu trưởng là trưởng ban, phó hiệu trưởng phụ trách hoạt động là phó trưởng ban thường trực. Uỷ viên gồm đại diện Ban chấp hành công đoàn, Bí thư đoàn trường, tổ trưởng chuyên môn, văn phòng, giáo viên cốt cán hoạt động Giáo dục giá trị sống, giáo viên chủ nhiệm lớp. Ban chỉ đạo ngoài nhiệm vụ điều hành, còn có vai trò quyết định trong việc lựa chọn nội dung hoạt động, hình thức tổ chức, những Giá trị sống cần rèn luyện qua mỗi hoạt động cho học trò.
1.4.2.2. Ban chỉ đạo hoạt động Giáo dục giá trị sống có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động, đôn đốc, động viên, chỉ đạo thực hiện, giám sát các hoạt động Giáo dục giá trị sống theo chương trình, kế hoạch. Tổ chức hướng dẫn giáo viên chủ nhiệm lớp, cán bộ lớp, cán bộ đoàn thực hiện kế hoạch. Giáo viên chủ nhiệm lớp có vai trò đặc biệt quan trọng đối với tiết hoạt động Giáo dục giá trị sống trên lớp cũng như hoạt động giáo dục Ngoài giờ lên lớp khác, vì vậy muốn tổ chức hoạt động giáo dục Giá trị sống có hiệu quả ban chỉ đạo cần làm cho đội ngũ giáo viên chủ nhiệm hiểu rõ mục đích, yêu cầu, phương pháp tổ chức … đồng thời khuyến khích tính sáng tạo trong tổ chức các hoạt động. Làm sao các hoạt động sinh động, linh hoạt, phù hợp với tâm lý của các em học sinh, học sinh hứng thú khi tham gia cũng như khi thưởng thức các nội dung được chọn tổ chức thực hiện, một cách tự nhiên các em tích luỹ được các kĩ năng sống cần thiết.
1.4.2.3. Phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường tham gia hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Sự phối hợp giữa các tổ chức đoàn thể trong nhà trường, các bộ phận hỗ trợ, phục vụ là yêu cần thiết và quan trọng (theo lí luận về quản lý chất lượng tổng thể)
Sự phối hợp giữa các cán bộ lớp, các cán bộ đoàn.
Sự phối hợp giữa ban chỉ đạo hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp với các lực lượng ngoài nhà trường. Nhà trường tham mưu với cấp uỷ chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể để những hoạt động tuyên truyền được tổ chức tại trường, học sinh được tham gia vào các hoạt động đó.
Nếu biết cách phối hợp các lực lượng ngoài nhà trường thì hoạt động của nhà trường không những đạt được mục tiêu kết hợp tốt môi trường gia đình – nhà trường – xã hội mà còn phát huy được khả năng, nâng cao được trách nhiệm của các các lực lượng xã hội ngoài nhà trường trong quản lý, phối kết hợp giáo dục học sinh và góp phần tạo nên môi trường giáo dục chất lượng cao, an toàn, lành mạnh, toàn diện. Luận văn: Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học.
1.4.2.4. Bồi dưỡng nâng cao năng lực cho các thành viên
1.4.3. Chỉ đạo hoạt động giáo dục giá trị sống
Ban chỉ đạo thống nhất qui trình tổ chức hoạt động Giáo dục giá trị sống. Từ kế hoạch hoạt động, lựa chọn lực lượng tham gia, xây dựng nội dung hoạt động cụ thể, kịch bản chương trình, thời gian tập luyện, người phụ trách, thời gian duyệt chương trình, thời gian tổ chức …. Báo cáo những vướng mắc, khó khăn, người giải quyết …. Nhưng về cơ bản phải thống nhất theo nguyên tắc:
- 1.4.3.1. Chỉ đạo dựa trên kế hoạch hoạt động Giáo dục giá trị sống
- 1.4.3.2. Chỉ đạo thực hiện theo qui chế chuyên môn: việc thực hiện kế hoạch dạy học, sổ đầu bài, sổ trực tuần …
- 1.4.3.3. Chỉ đạo thực hiện theo cơ chế trực tuần
- 1.4.3.4. Chỉ đạo thông qua hệ thống quản lý của tổ chức Đoàn, Công Đoàn, tổ chuyên môn, tổ chủ nhiệm…
- 1.4.3.5. Chỉ đạo các câu lạc bộ, lực lượng nòng cốt thực hiện hoạt động Giáo dục giá trị sống
1.4.4. Kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục giá trị sống
Đối với ban chỉ đạo: Trưởng ban chỉ đạo thống nhất nội dung kiểm tra, nhiệm vụ của từng thành viên, qua kiểm tra nắm bắt chính xác tiến độ thực hiện kế hoạch, đánh giá số lượng, chất lượng; phát hiện sai sót, lệch lạc, tìm nguyên nhân, từ đó điều chỉnh, uốn nắn cho phù hợp. Hình thức kiểm tra nên linh hoạt, có thể kiểm tra qua quan sát, các kênh thông tin từ giáo viên chủ nhiệm, cốt cán bộ môn, học sinh…Trưởng ban chỉ đạo cần giao nhiệm vụ cho các thành viên, đặc biệt là phó ban chỉ đạo thường trực, bí thư đoàn trường kiểm tra từng khâu, từng giai đoạn của quá trình. Kiểm tra các hoạt động Giáo dục giá trị sống đã định hướng những Giá trị sống như mục tiêu. Sau mỗi tuần, mỗi tháng,mỗi học kì trong các cuộc họp giao ban, họp hội đồng giáo dục, nội dung giao ban, họp hội đồng của Hiệu trưởng – trưởng ban chỉ đạo hoạt động giáo dục Giá trị sống có nội dung kiểm điểm, nhận xét, đánh giá và triển khai nội dung hoạt động Giáo dục giá trị sống trong tuần, trong tháng, mỗi học kì.
Đối với tổ chủ nhiệm: Qua các hoạt động Giáo dục giá trị sống các giáo viên chủ nhiệm so sánh chất lượng các hoạt động giữa các lớp, rút kinh nghiệm, nâng cao chất lượng, đổi mới cách thức tổ chức, thay đổi hoạt động Giáo dục giá trị sống mỗi tuần, mỗi chương trình, từ đó nâng cao chất lượng hoạt động Giáo dục giá trị sống.
Đối với giáo viên chủ nhiệm: Đánh gía kết quả hoạt động Giáo dục giá trị sống là một nội dung, là căn cứ đánh giá chất lượng giáo dục nói chung, ý thức, hạnh kiểm của học sinh nói riêng. Việc đánh giá giúp cho các em nhận rõ điểm mạnh, điểm yếu, bài học rút ra từ chương trình hoạt động. Đối với giáo viên, căn cứ đánh giá là ý thức tham gia, sự chuẩn bị, kết quả hoạt động, sự trưởng thành của học sinh. Các hoạt động Giáo dục giá trị sống là cơ hội để giáo viên bộc lộ ý tưởng, khả năng, năng lực, sở trường và cũng là cơ hội để giáo viên tự rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, khả năng quản lý, tổ chức.
1.4.5. Tổ chức phối hợp giữa các lực lượng giáo dục và các tổ chức đoàn thể trong nhà trường để tổ chức hoạt động giáo dục giá trị sống
Hoạt động Giáo dục giá trị sống chỉ được tổ chức có hiệu quả khi nhà trường phối hợp các lực lượng giáo dục và các tổ chức đoàn thể. Luận văn: Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học.
Chi bộ thống nhất trong chỉ đạo, ban giám hiệu, các tổ chức đoàn thể, tổ chuyên môn, các giáo viên chủ nhiệm, các giáo viên cốt cán chung tay tổ chức các hoạt động Giáo dục giá trị sống. Yếu tố quan trọng nhất là trưởng ban chỉ đạo- Hiệu trưởng phải “keo dính” liên kết các thành viên, các thành viên cùng phối kết hợp, cùng hướng tới mục tiêu chung.
Nhà trường, gia đình, xã hội phối hợp chặt chẽ tạo nên môi trường giáo dục khép kín, tác động đồng bộ đến học sinh. Nhà trường chủ động để xây dựng mối quan hệ mật thiết, tích cực. Các lực lượng ngoài nhà trường gồm: cha mẹ học sinh, cơ quan, đoàn thể … nơi cha mẹ các em sống và làm việc, chính quyền địa phượng, các cơ quan đoàn thể, các doanh nghiệp … trên địa bàn nhà trường đặt trụ sở, các tổ chức xã hội, các doanh nghiệp, doanh nhân…
Việc phối kết hợp giữa các lực lượng ngoài nhà trường không chỉ đảm bảo sự phối hợp thống nhất mà còn phát huy, nâng cao vai trò, trách nhiệm của gia đình, các lực lượng xã hội. Nếu phối kết hợp tốt nhà trường sẽ được chia sẻ các khó khăn, tìm được sự đồng thuận, các lực lượng ngoài nhà trường sẽ qua tâm, nắm được thực tế hoạt động, nhu cầu hoạt động…từ đó ủng hộ nhà trường, chăm lo cho thế hệ trẻ.
Để phối kết hợp tốt, nhận được sự đồng thuận của các lực lượng ngoài nhà trường, mỗi thành viên trong nhà trường phải có quan hệ thường xuyên, quan hệ rộng rãi, có khả năng tập hợp sức mạnh tập thể, đồng thời lãnh đạo nhà trường phải chủ động trong xây dựng, nghiêm túc trong thực hiện công tác phối hợp.
1.4.6. Yếu tố ảnh hưởng quản lý hoạt động giáo dục giá trị sống
1.4.6.1. Đặc điểm tâm lý của học sinh trung học phổ thông
Học sinh Trung học phổ thông có thể nói là quãng đời đẹp nhất của tuổi học trò, đa số học sinh vào Trung học phổ thông ở độ tuổi 15-16, tốt nghiệp Trung học phổ thông khi 17-18. Cuộc đời dành cho lứa tuổi này những từ ngữ đẹp nhất “Tuổi trăng tròn”, “tuổi hoa niên”. Xã hội cũng hiểu được ý nghĩa quan trọng của lứa tuổi này. Các em là lực lượng lao động sẽ thay thế cha mẹ để đảm bảo đời sống cho các thành viên trong gia đình, sự phát triển và tương lai của mỗi gia đình, mỗi dòng tộc. Các em cũng chính là nguồn nhân lực kế tiếp, nguồn nhân lực chủ yếu của đất nước trong tương lai.
Tuổi học sinh Trung học phổ thông là giai đoạn đã trưởng thành về mặt thể lực, nhưng sự phát triển cơ thể còn chưa vững chắc, các em bắt đầu thời kỳ phát triển tương đối ổn định về mặt sinh lý.
Nhìn chung, lứa tuổi các em đã phát triển cân đối, khoẻ và đẹp, đa số các em có thể đạt được những khả năng phát triển về cơ thể như người lớn, đó là yếu tố cơ bản giúp học sinh trung học phổ thông có thể tham gia các hoạt động phong phú, đa dạng, phức tạp của chương trình giáo dục. Luận văn: Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học.
Ở lứa tuổi này các em đã có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập, sáng tạo. Chỉ cần định hướng tốt, phát huy khả năng của học sinh, trường Trung học phổ thông sẽ tổ chức được những hoạt động đúng chủ đề, phù hợp với lứa tuổi, sáng tạo, lành mạnh. Các em học sinh có thể tham gia hoạt động giáo dục với vai trò chủ thể của các hoạt động.
Sự phát triển tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của học sinh Trung học phổ thông, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của các em. Học sinh Trung học phổ thông có nhu cầu tìm hiểu và đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình: quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lý, phẩm chất nhân cách và năng lực riêng, xuất hiện ý thức trách nhiệm, lòng tự trọng, tình cảm nghĩa vụ đó là những giá trị nổi trội và bền vững. Các em có khả năng đánh giá về mặt mạnh, mặt yếu của bản thân mình và những người xung quanh, có những biện pháp kiểm tra đánh giá sự tự ý thức bản thân như viết nhật ký, tự kiểm điểm trong tâm tưởng, biết đối chiếu với các thần tượng, các yêu cầu của xã hội, nhận thức vị trí của mình trong xã hội, hiện tại và tương lai.
Nhu cầu giao tiếp, hoạt động của lứa tuổi này rất lớn, bởi vậy một môi trường tốt, hoạt động phù hợp với sở thích, với năng lực học sinh có định hướng của gia đình và xã hội sẽ giúp các em tự khẳng định mình.
Học sinh Trung học phổ thông là lứa tuổi quyết định sự hình thành nhân sinh quan, thế giới quan về xã hội, tự nhiên, các nguyên tắc và quy tắc cư xử. Lứa tuổi này các em quan tâm nhiều tới các vấn đề liên quan đến con người, vai trò của con người trong lịch sử, quan hệ giữa con người và xã hội, giữa quyền lợi và nghĩa vụ, giữa ý chí và tình cảm.
Ở lứa tuổi này các em có nhu cầu được hoạt động với các bạn cùng lứa tuổi, cảm thấy mình cần cho nhóm, có uy tín, có vị trí nhất định trong nhóm, muốn được bàn bè thừa nhận. Đây là cơ sở cho việc học sinh thích tham gia tổ chức hoạt động Giáo dục giá trị sống, rèn luyện Giá trị sống, hình thành những hành vi văn hoá…
Sự phát triển nhân cách của học sinh Trung học phổ thông là một giai đoạn rất quan trọng, giai đoạn chuyển đổi từ trẻ em lên người lớn. Đây là lứa tuổi đầu thanh niên với những đặc điểm tâm lý đặc thù khác với tuổi thiếu niên, các em đã đạt tới sự trưởng thành về thể lực và sự phát triển nhân cách. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh Trung học phổ thông là điều kiện thuận lợi cho việc Giáo dục giá trị sống cho các em có hiệu quả. Các lực lượng giáo dục phải biết phát huy các yếu tố tích cực, khắc phục những hạn chế trong sự phát triển tâm sinh lý lứa tuổi này để lựa chọn nội dung, hình thức tổ chức thích hợp, phát huy được tính tích cực chủ động của các em trong hoạt động Giáo dục giá trị sống.
1.4.6.2.Các yếu tố thuộc về chương trình giáo dục Trung học phổ thông
Để thực hiện hoạt động Giáo dục giá trị sống cho học sinh Trung học phổ thông thì mục tiêu về giáo dục Giá trị sống phải được đặt ra trong chương trình giáo dục Trung học phổ thông. Theo đó, nội dung Giáo dục giá trị sống cho học sinh Trung học phổ thông phải được hoạch định; các hình thức, phương pháp Giáo dục giá trị sống cho học sinh phải được xác định cụ thể. Các yếu tố nêu trên phải được mô tả trong văn bản chương trình giáo dục Giá trị sống cho học sinh Trung học phổ thông và trở thành một nội dung của chương trình giáo dục Trung học phổ thông trong hoạt động Giáo dục giá trị sống.
1.4.6.3.Các yếu tố thuộc môi trường gia đình và xã hội Luận văn: Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học.
Môi trường gia đình và môi trường xã hội có thể tác động theo hướng tích cực hoặc không tích cực đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách của học sinh. Do Giá trị sống thuộc phạm trù năng lực nên sự trải nghiệm có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình hình thành và phát triển Giá trị sống. Gia đình và xã hội chính là môi trường nơi xác lập các tình huống diễn ra sự trải nghiệm của học sinh.
Thực tế cho thấy, ở những nơi có điều kiện kinh tế, văn hoá, xã hội phát triển, giao thông thuận lợi, các công trình phúc lợi xã hội đầy đủ các em học sinh giao tiếp tốt hơn, có kĩ năng sống tốt hơn, hoạt động giáo dục cũng thuận lợi hơn. Ở môi trường này, cha mẹ các em cũng có điều kiện để chăm lo cho con em, quan tâm đến nhà trường nhiều hơn ở các vùng khó khăn. Dù ở môi trường nào các nhà trường cũng cần kết hợp các môi trường xã hội, tạo thành mối quan hệ gắn bó mật thiết. Tuy nhiên, ở các nơi có điều kiện khó khăn, nhà trường cần giữ vai trò chủ động trong việc phối kết hợp, nhà trường chủ động xây dựng môi trường văn hoá, là trung tâm văn hoá, là “vầng trán của cộng đồng”, xây dựng mối quan hệ chặt chẽ gia đình – nhà trường – xã hội cùng hướng tới mục tiêu chung: vì thế hệ trẻ, cho các em được học tập, rèn luyện trong ngôi trường mà mỗi em học sinh có thể phát triển toàn diện, hoàn thiện về nhân cách tốt nhất.
1.4.6.4. Nhận thức của đội ngũ giáo viên, học sinh
Đội ngũ giáo viên là lực lượng chính trong tuyên truyền, quản lí và hướng dẫn học sinh thực hiện các nội dung hoạt động Giáo dục giá trị sống nhưng trên thực tế, đa số giáo viên Trung học phổ thông chỉ tập trung dạy học, chú ý kiểm soát, nâng cao chất lượng bộ môn, vì vậy, cán bộ quản lí phải có biện pháp giúp giáo viên nhận thức đúng đắn, thấu đáo vai trò của hoạt động Giáo dục giá trị sống, từ đó mới xác định được nhiệm vụ, trách nhiệm, niềm say mê tham gia, quản lí, hướng dẫn các hoạt động Giáo dục giá trị sống.
Học sinh Trung học phổ thông đã có nhận thức khá tốt về vai trò của hoạt động Giáo dục giá trị sống, về Giá trị sống, tuy nhiên có tổ chức, lôi cuốn được học sinh tham gia hay không lại là bài toán khó. Chỉ khi các em học sinh yêu thích các hoạt động Giáo dục giá trị sống, nhà trường có nhiều hoạt động bổ ích, lôi cuốn các em tham gia, khuyến khích tính chủ động, sáng tạo của các em, các em thấy mình được là trung tâm của mỗi chương trình, khi ấy chương trình mới thành công.
Kết luận chương 1
Về mặt lý luận, khi nghiên cứu vấn đề liên quan đến hoạt động Giáo dục giá trị sống, chúng ta cần lưu ý một số vấn đề sau đây:
Hoạt động Giáo dục giá trị sống là hoạt động của người học, do người học, vì người học, được tổ chức theo mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục Trung học phổ thông. Bản chất của hoạt động này là thông qua tổ chức các loại hình hoạt động, các mối quan hệ nhiều mặt, nhằm giúp người học chuyển hoá một cách tự giác, tích cực tri thức thành niềm tin, kiến thức thành hành động, biến yêu cầu của nhà trường thành chương trình hành động của tập thể lớp và của cá nhân học sinh, biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục, tạo cơ hội cho học sinh trải nghiệm tri thức, thái độ, quan điểm và hành vi ứng xử của mình trong một môi trường an toàn, thân thiện có định hướng giáo dục. Luận văn: Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học.
Nội dung hoạt động Giáo dục giá trị sống được tiến hành theo chủ đề, người tham gia phải tự giác, tích cực, chủ động tích hợp nội dung giáo dục Giá trị sống. Kết quả của hoạt động Giáo dục giá trị sống được phản ánh thông qua sự trưởng thành của nhân cách học sinh chứ không phải bằng điểm số. Vì vậy, nhà trường và giáo viên phải có quan điểm khách quan, đánh giá chính xác và công bằng; đánh giá kết quả hoạt động của học sinh phải có tiêu chí cụ thể, rõ ràng mới động viên khích lệ người học tham gia hoạt động.
Quản lý hoạt động Giáo dục giá trị sống là một vấn đề quan trọng hiện nay khi xã hội cần có một nền giáo dục tiến bộ – thân thiện – hiện đại và toàn diện, đáp ứng tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước trong giai đoạn mới.
Đề cập đến biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục giá trị sống là quá trình thiết kế, vận hành đồng bộ các thành tố của hoạt động GD trong một chỉnh thể để thực hiện đồng thời cả mục tiêu của hoạt động giáo dục và Giáo dục giá trị sống. Về bản chất, quản lí hoạt động GD Giá trị sống là giáo dục Giá trị sống thông qua hoạt động giáo dục, là thực hiện tích hợp hoạt động giáo dục nói chung với giáo dục Giá trị sống. Là nói đến quá trình tác động có kế hoạch cụ thể, có mục đích rõ ràng, có cách thức phù hợp với điều kiện thực tế và huy động được nguồn lực từ các tổ chức xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm đạt được mục tiêu giáo dục. Thông qua việc tổ chức tốt các hoạt động Giáo dục giá trị sống, nhà trường thúc đẩy nhanh và có hiệu quả cuộc vận động “xây dựng trường học thân thiện – học sinh tích cực”, đáp ứng yêu cầu bức thiết hiện nay: nhiệm vụ giáo dục Giá trị sống cho học sinh. Luận văn: Quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh trung học.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục giá trị sống cho học sinh
