Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho giáo viên các trường Phổ thông Dân tộc nội trú trung học cơ sở tỉnh Thái Nguyên dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong bối cảnh thế giới đang tạo ra những biến đổi nhanh chóng, phức tạp và sâu sắc đến tất cả các lĩnh vực hoạt động xã hội toàn cầu, trong đó có giáo dục. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế về giáo dục đã trở thành xu thế tất yếu. Cách mạng Khoa học công nghệ, công nghệ và truyền thông, kinh tế tri thức ngày càng phát triển mạnh mẽ, tác động trực tiếp đến sự phát triển của nền giáo dục các nước trên thế giới. Từ các yêu cầu mới về phát triển kinh tế xã hội toàn cầu, dẫn đến những yêu cầu về hình mẫu nhân cách người lao động mới, đòi hỏi những yêu cầu mới về chất lượng và hiệu quả giáo dục.
Thực tiễn khi đời sống kinh tế – xã hội có nhiều thay đổi đã có tác động mạnh mẽ đến đời sống con người. Nhiều vấn đề nảy sinh mà trước đây con người chưa từng gặp phải hoặc chưa phải đối đầu thì nay đòi hỏi phải có cách ứng phó để tránh khỏi gặp những rủi ro không cần thiết. Điều đó đặt ra cho con người cần thiết phải có sức khỏe, kiến thức, nhân cách và các kĩ năng khác. Giáo dục nhà trường cần hướng tới mục tiêu phát triển toàn diện học sinh về đạo đưc, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
Ở lứa tuổi của học sinh đang hình thành những giá trị nhân cách, nhất là học sinh trung học cơ sở, đây là thời kì quá độ từ trẻ em sang người lớn, là giai đoạn hình thành những giá trị nhân cách, giàu mơ ước, thích tìm tòi, khám phá song thiếu hiểu biết sâu sắc về xã hội, thiếu kinh nghiệm sống, dễ bị lôi kéo và dễ bị kích động…Đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế và cơ chế thị trường cùng với sự bùng nổ thông tin, thế hệ trẻ thường xuyên chịu tác động đan xen của những yếu tố tích cực và tiêu cực, luôn được đặt vào hoàn cảnh phải lựa chọn những giá trị, phải đương đầu với những khó khăn, thử thách, những áp lực tiêu cực, làm cho thế hệ trẻ có nhiều biểu hiện nhận thức lệch lạc và sống xa rời các giá trị đạo đức truyền thống, có thể bị lôi cuốn vào các hành tiêu cực, bạo lực, lối sống ích kỉ, lai căng, thực dụng, dễ bị phát triển lệch lạc về nhân cách. Đối với học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú ngoài những đặc điểm chung về tâm, sinh lý lứa tuổi các em hầu hết là con em các dân tộc thiểu số, từ vùng sâu, vùng xa đến học tập và sinh hoạt tập thể tại trường, mang theo rất nhiều tập tục lạc hậu, thói quen trong sinh hoạt còn chưa văn minh, thiếu kĩ năng thực hành, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng đối phó với những khó khăn trong cuộc sống và khả năng tự phục vụ bản thân. Chính vì vậy, học sinh cần được sự định hướng tư vấn của giáo viên, những người gần gũi và chiếm nhiều niềm tin của các em.
Thực hiện chính sách dân tộc về giáo dục, tỉnh Thái Nguyên phát triển hệ thống các trường dân tộc nội trú cấp Trung học cơ sở ở các huyện Võ Nhai, Đồng Hỷ, Đại Từ, Phú Lương, Định Hóa. Các trường Phổ thông dân tộc nội trú Trung học cơ sở hoạt động theo mô hình trường chuyên biệt với nhiệm vụ nuôi dưỡng và giáo dục các học sinh có hộ khẩu thường trú tại các xã, thôn (bản) có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh. Ngoài thời gian lĩnh hội kiến thức trên lớp, các em có nhiều hoạt động học tập, vui chơi và các sinh hoạt khác trong môi trường tập thể. Những hoạt động đó có ảnh hưởng rất nhiều đến việc hình thành và phát triển nhân cách các em. Do đó trách nhiệm trong công tác giáo dục và tư vấn giáo dục của các thầy giáo, cô giáo đối với các em là hết sức quan trọng và cần thiết.
Đội ngũ giáo viên các trường đều được tuyển chọn những giáo viên có tay nghề cao từ những trường trung học cơ sở trên toàn tỉnh, do vậy chất lượng đội ngũ đảm bảo cho việc dạy học, giáo viên thường xuyên được bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, về đổi mới phương pháp dạy học, các phương pháp dạy học tích cực. Tuy nhiên, chưa có giáo viên được đào tạo hoặc được bồi dưỡng một cách bài bản về công tác tư vấn giáo dục; Đội ngũ báo cáo viên trong lĩnh vực Tư vấn giáo dục còn thiếu, việc mời các chuyên gia trong các lĩnh vực để bồi dưỡng cho Giáo viên còn khó khăn về kinh phí, các cơ quan quản lí giáo dục các cấp cũng như hiệu trưởng các trường phổ thông đã quan tâm đến công tác Tư vấn giáo dục, nhưng do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan còn lúng túng trong chỉ đạo, do vậy công tác bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho giáo viên chưa hiệu quả dẫn đến năng lực Tư vấn giáo dục của nhiều Giáo viên chưa tốt, ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả giáo dục toàn diện. Nhiều giáo viên không biết tiếng dân tộc, chưa nắm được phong tục, tập quán cũng như tâm, sinh lí đối với học sinh dân tộc. Một bộ phận giáo viên đề cao dạy kiến thức trên lớp, chưa coi trọng việc giáo dục toàn diện, rèn luyện các kĩ năng khác cho học sinh, một bộ phận khác giáo dục học sinh theo kinh nghiệm, thiếu lí luận, vận dụng còn máy móc trong nhiều tình huống dẫn đến hiệu quả chưa cao. Xuất phát từ những lí do trên, tôi lựa chọn đề tài:“Quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho giáo viên các trường Phổ thông Dân tộc nội trú trung học cơ sở tỉnh Thái Nguyên” làm luận văn tốt nghiệp cao học, chuyên ngành Quản lí giáo dục.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2/ Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn đề tài đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho giáo viên các trường Phổ thông dân tộc nội trú Trung học cơ sở tỉnh Thái Nguyên nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục học sinh dân tộc trên địa bàn tỉnh
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
Quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho giáo viên các trường Phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở, tỉnh Thái Nguyên.
4. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
4.1 Giới hạn nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục về các lĩnh vực: Tư vấn học tập; tư vấn hướng nghiệp và tư vấn tâm lí, sức khỏe, giới tính.
4.2. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu tại 03 trường Phổ thông dân tộc nội trú cấp trung học cơ sở bao gồm: Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở Phú Lương; Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở Đại Từ; trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở Đồng Hỷ. Giới hạn khách thể điều tra: Tổng số 71 người (15 cán bộ quản lí, 56 giáo viên).
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho giáo viên – Đối tượng tư vấn của giáo viên là học sinh.
5. Giả thuyết khoa học
Hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên các trường phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở, tỉnh Thái Nguyên còn có một số hạn chế như: Kế hoạch có nội dung chưa phù hợp thực tế; phương thức bồi dưỡng chưa khoa học; Nhiệm vụ Tư vấn giáo dục được các nhà trường thực hiện thường xuyên, song kết quả đạt được chưa tương xứng. Một trong những nguyên nhân cơ bản dẫn đến thực trạng này là do thiếu những biện pháp quản lí phù hợp với tình hình thực tiễn. Nếu đề xuất và thực hiện một cách đồng bộ các biện pháp quản lí có tính khoa học và tính khả thi thì sẽ nâng cao được hiệu quả của hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên các trường phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở, tỉnh Thái Nguyên, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- 6.1. Xây dựng cơ sở lí luận về quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho giáo viên trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở.
- 6.2. Khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho giáo viên trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở tỉnh Thái Nguyên.
- 6.3. Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho giáo viên trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở tỉnh Thái Nguyên và khảo sát tính cấp thiết,tính khả thi của các biện pháp đề xuất.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Chúng tôi tiến hành thu thập, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các văn bản pháp quy, các công trình nghiên cứu khoa học về quản lí giáo dục, bồi dưỡng năng lực, đặc điểm tâm sinh lí của học sinh dân tộc thiểu số, … Từ đó xây dựng cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu.
7.2. Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Chúng tôi xây dựng phiếu hỏi bao gồm các câu hỏi đóng, mở để thu nhận ý kiến đánh giá trên diện rộng của Cán bộ quản lý, Giáo viên, Học sinh về thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho giáo viên trường phổ thông dân tộc nội trú trung học cơ sở tỉnh Thái Nguyên.
7.2.2. Phương pháp quan sát: Quan sát các hoạt động của học sinh trường phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở trong và ngoài giờ lên lớp để thu thập thêm thông tin cho việc đánh giá thực trạng quản lí.
7.2.3. Phương pháp phỏng vấn: Chúng tôi đặt các câu hỏi phỏng vấn Cán bộ quản lý, Giáo viên, Học sinh về các vấn đề xoay quanh hoạt động tư vấn giáo dục của giáo viên và quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn của giáo viên để có thông tin phân tích sâu thực trạng. Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
7.3. Phương pháp xử lí thông tin
Phương pháp thống kê trong toán học: Sử dụng phương pháp thống kê trong toán học để xử lí và phân tích các số liệu từ các bảng hỏi thu thập được.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục; luận văn được cấu trúc thành ba chương như sau:
- Chương 1. Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho giáo viên trường phổ thông dân tộc nội trú Trung học cơ sở.
- Chương 2. Thực trạng quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho giáo viên các trường phổ thông dân tộc nội trú Trung học cơ sở tỉnh Thái Nguyên.
- Chương 3. Biện pháp giáo dục cho giáo viên các Thái Nguyên quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn trường phổ thông dân tộc nội trú Trung học cơ sở tỉnh
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC TƯ VẤN GIÁO DỤC CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI TRÚ TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Nghiên cứu ở nước ngoài
Tại Hoa Kì, tư vấn học đường được bắt nguồn từ phong trào hướng nghiệp vào đầu thế kỷ XX bởi Jesse B. Davis. Ông được xem là người đầu tiên cung cấp một chương trình học có hướng dẫn một cách hệ thống. Tiếp bước của Jesse B. David, Frank Parons là người sáng lập ra ngành hướng dẫn tư vấn nghề ở Mĩ, ông đã xuất bản cuốn sách “Cẩm nang hướng nghiệp” nhằm trợ giúp các cá nhân trong việc lựa chọn nghề nghiệp, tìm ra cách bắt đầu và xây dựng một nghề nghiệp thành công và hiệu quả. Ông luôn mong muốn công tác hướng dẫn tư vấn nghề nghiệp được đưa vào trường học. Năm 1940 Carl Rogers nhấn mạnh vào việc giúp đỡ các mối quan hệ trong trường học. Điều này đã ảnh hưởng lớn đến quá trình hình thành nghề tư vấn học đường [8]. Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
Năm 1953 hiệp hội các nhà tư vấn tâm lí học đường Hoa Kì (ASCA) tham gia vào APGA – tiền thân của hiệp hội tư vấn tâm lí Hoa Kì hiện nay. Năm 1962 cuốn sách “The Counselor in a Changing World” của tác giả Wrenn đã định chế hóa các mục tiêu của tư vấn học đường. Năm 1964 ASCA phát triển các vai trò và chức năng dành cho các nhà tư vấn học đường [8].
Cuối những năm 1990, Pat Martin – một giáo viên toán học kiêm cố vấn học đường tại Mĩ cùng với tổ chức giáo dục The Trust thiết lập một dự án về tư vấn học đường chủ yếu nhằm vào việc rút ngắn những khoảng cách, những cản trở để đi đến thành công trong cuộc sống của trẻ em và thanh thiếu niên. Kể cả những trẻ em da màu, trẻ song ngữ, trẻ bị khuyết tật. Dự án của Martin tập trung vào tư vấn cho học sinh, cha mẹ, người giám hộ. Năm 1997, tiêu chuẩn quốc gia dành cho các chương trình tư vấn học đường (National Standards for School Counseling Programs) ra đời và kể từ đó ngành tư vấn học đường được xem như là đã hoàn thiện. Hiện nay, hiệp hội các nhà tư vấn học đường Hoa Kì (ASCA) được xem là nguồn tham khảo và kiểu mẫu cho chương trình tư vấn tâm lí học đường của hầu hết các nước trên thế giới.
Các kĩ năng tư vấn, chăm sóc tâm lí cần phát triển cho người học một phần nào đó nằm trong nhóm các kĩ năng mềm và việc giáo dục các kĩ năng mềm cho người học được các nước trên thế giới quan tâm rất nhiều trong những năm gần đây vì vậy tài liệu nghiên cứu về vấn đề này rất phong phú.
Trong tài liệu “Tập huấn tham vấn cơ bản dành cho cộng đồng” của Unicef cũng đề cập đến vấn đề phân biệt giữa tư vấn và tham vấn, các kĩ năng tham vấn, vai trò của tham vấn trong đời sống cộng đồng… những thông tin trong tài liệu cung cấp là sơ sở để tác giả xác định phần lí luận của đề tài.
1.1.2. Nghiên cứu ở trong nước.
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của tư vấn ở Việt Nam từ đầu thập kỷ 80, việc nghiên cứu kĩ năng tư vấn cũng bắt đầu được quan tâm. Nổi bật nhất trong các tài liệu về tư vấn là các nghiên cứu về tư vấn hướng nghiệp. Có thể kể đến một số nghiên cứu của các tác giả: Phạm Tất Dong, Phạm Huy Thụ, Nguyễn Thế Tường, Trần Trọng Thủy, Lê Đức Phúc. Các nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào tìm hiểu công cụ đo lường tâm lí của các tác giả nước ngoài vào Việt Nam trong lĩnh vực tư vấn hướng nghiệp. Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
Các công trình nghiên cứu về tư vấn hướng nghiệp có thể kể đến nghiên cứu của các tác giả Đào Danh Tình, Mạc Văn Trang, Lý Ngọc Sáng. Các tác giả này đã đưa ra một số kĩ năng thu thập, phân tích, so sánh thông tin, đưa ra lời khuyên cho học sinh khi chọn nghề. Bên cạnh tư vấn hướng nghiệp, tư vấn học đường cũng được nhiều tác giả quan tâm. Hoạt động tư vấn học đường được khai thác dưới nhiều góc độ khác nhau, dưới góc độ tư vấn của Giáo viên cho hoạt động tự quản của tập thể học sinh đã được tác giả Hà Nhật Thăng đề cập đến trong tài liệu “Công tác chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông” [25]. Kĩ năng sư phạm được tác giả Nguyễn Văn Hộ khai thác dưới góc độ kĩ năng xử lí tình huống sư phạm cho sinh viên trong “Tuyển tập các tình huống sư phạm”, [9]. Tác giả Trần Thị Minh Huế với công trình “Phát triển kĩ năng tư vấn, chăm sóc tâm lí cho sinh viên Đại học Thái Nguyên” Đã đề cập đến các vấn đề lí luận, thực trạng và đề xuất các biện pháp để phát triển kĩ năng tư vấn, chăm sóc tâm lí cho sinh viên [11].
Các công trình nghiên cứu về quản lí hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho Giáo viên trong các trường phổ thông nói chung, các trường phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở, tỉnh Thái Nguyên nói riêng nhìn chung tương đối đa dạng và phong phú, tuy nhiên đa số nghiên cứu về quản lí hoạt động dạy học, quản lí hoạt động đổi mới phương pháp dạy học, quản lí hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp …, chưa có công trình nghiên cứu về quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên, vì vậy tác giả lựa chọn vấn đề này làm đề tài nghiên cứu với mục đích đề xuất được một số biện pháp nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên các trường phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở tỉnh Thái Nguyên.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Quản lí
Quản lí là một hoạt động đặc biệt bao trùm lên các lĩnh vực của đời sống xã hội, là nhân tố không thể thiếu được trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Khái niệm quản lí được hiểu theo nhiều cách và dù trải qua nhiều thế hệ nghiên cứu và phát triển quản lí nhưng chưa cách giải thích nào được chấp nhận hoàn toàn. Theo quan điểm kinh tế học thì F.W Taylor cho rằng “Quản lí là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”; hoặc A. Fayon lại cho rằng “Quản lí là đưa xí nghiệp cố gắng sử dụng các nguồn lực (nhân, tài, vật lực) của nó”; còn H. Koontz thì cho rằng “Quản lí là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động của cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức) với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất. Với tư cách thực hành thì quản lí là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì quản lí là một khoa học” [30]. Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
Tác giả Phạm Minh Hạc viết “Quản lí là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến tập thể người lao động (nói chung là khách thể quản lí), nhằm thực hiện các mục tiêu dự kiến” [5].
Các tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí thì “Quản lí là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng tối ưu các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra” [16].
Theo tác giả Nguyễn Thị Tính, :“Quản lí là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được muc tiêu đã đề ra” [24]
Từ những quan niệm khác nhau của các nhà khoa học về khái niệm quản lí. Như vậy, có thể hiểu một cách chung nhất: Quản lí là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí nhằm đạt được các mục tiêu đã định.
Quản lí bao gồm hai yếu tố cơ bản: Chủ thể quản lí và đối tượng quản lí. Hai yếu tố này quan hệ với nhau bằng những tác động quản lí trong đó chủ thể quản lí là hạt nhân tạo ra các tác động (cá nhân hoặc tổ chức có nhiệm vụ quản lí, điều khiển hoạt động). Đối tượng quản lí là bộ phận chịu sự tác động của chủ thể quản lí. Mối quan hệ giũa chủ thể quản lí và đối tượng quản lí là mối quan hệ mệnh lệnh – phục tùng, có tính bản chất bắt buộc cưỡng ép và không đồng cấp.
Khi đề cập đến khái niệm quản lí không thể không nói đến các chức năng quản lí. Cũng có nhiều quan niệm khác nhau về cách phân chia các chức năng quản lí, nhưng nhìn chung có thể thống nhất về 04 chức năng quản lí sau đây: Xây dựng kế hoạch; Tổ chức; Chỉ đạo; Kiểm tra.
1.2.2. Bồi dưỡng Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
Bồi dưỡng là một khái niệm được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Theo từ điển tiếng Việt: “Bồi dưỡng là làm tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất của đối tượng được bồi dưỡng” [19].
Theo UNESCO: “Bồi dưỡng với ý nghĩa nâng cao nghề nghiệp. Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kĩ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp” [14].
Theo quan niệm của tác giả Hoàng Mạnh Đoàn, bồi dưỡng được dùng với nghĩa là cập nhật, bổ túc thêm một số kiến thức, kĩ năng cần thiết, nâng cao hiểu biết sau khi đã được đào tạo cơ bản, cung cấp thêm những kiến thức chuyên ngành, mang tính ứng dụng…[2].
Từ những quan niệm nêu trên, chúng ta thấy, bồi dưỡng là một hoạt động đặc thù của con người, hoạt động này gồm các đặc điểm sau:
- Chủ thể bồi dưỡng là những người đã được đào tạo và có trình độ chuyên môn nhất định.
- Đối tượng bồi dưỡng là những cá nhân, tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức, kĩ năng chuyên môn nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp.
- Mục đích bồi dưỡng nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực chuyên môn để người lao động có cơ hội củng cố, mở mang hệ thống kiến thức, kĩ năng chuyên môn nghiệp vụ có sẵn, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc đang làm.
Vậy ta có thể hiểu: Bồi dưỡng là quá trình bổ sung, bồi đắp những thiếu hụt về tri thức, cập nhật cái mới trên cơ sở “nuôi dưỡng” những cái đã có để mở mang chúng, làm cho chúng phát triển thêm, có giá trị làm tăng hệ thống những tri thức, kĩ năng, nghiệp vụ, làm giàu vốn hiểu biết, nâng cao hiệu quả lao động.
1.2.3. Biện pháp quản lí bồi dương giáo viên
Biện pháp: Là cách làm, hành động, đối phó, lựa chọn để đi tới mục đích nhất định [19].
Biện pháp quản lí bồi dưỡng: Là cách làm, cách giải quyết của người quản lí vận dụng các chức năng quản lí đối với việc quản lí các hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho nhân viên thuộc quyền [7].
Biện pháp quản lí bồi dưỡng cho giáo viên: Cách làm, cách giải quyết của người Hiệu trưởng, thông qua các chức năng quản lí, đảm bảo cho các hoạt động bồi dưỡng cho giáo viên đạt được các mục tiêu đề ra, với chất lượng và hiệu quả tối ưu [19].
1.2.4. Tư vấn giáo dục Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
Tư vấn – trong tiếng Anh là Consultation – được xem như quá trình tham khảo về lời khuyên hay sự trao đổi quan điểm về vấn đề nào đó để đi đến một quyết định. Tư vấn trong từ điển tiếng Việt được định nghĩa như là sự phát biểu ý kiến về những vấn đề được hỏi đến, nhưng không có quyền quyết định. Hoạt động này phần nhiều diễn ra dưới dạng hỏi và đáp [19].
Tổ chức tư vấn thế giới đưa ra khái niệm: “Tư vấn là một quá trình trợ, giúp đỡ dựa trên các kĩ năng, trong đó một người dành thời gian, sự quan tâm và sử dụng thời gian một cách có mục đích để giúp đỡ thân chủ khai thác tình huống, xác định và triển khai các giải pháp khả thi trong thời gian cho phép” [18].
Tác giả Vũ Dũng cho rằng “tư vấn được định nghĩa là sự phán quyết, khẳng định của chuyên gia với tư cách một lời khuyên giúp cho chủ thể giải quyết một vấn đề nào đó. Tư vấn được hiểu là quá trình tìm hiểu vấn đề của khách hàng, đưa ra các giải pháp và lời khuyên để họ có khả năng tự quyết định một phương án hành động tốt nhất. Hiểu theo cách này tư vấn không chỉ giúp cá nhân nâng cao hiểu biết, mà còn là sự hướng dẫn để giúp cá nhân đưa ra được sự lựa chọn tốt nhất cho vấn đề của họ. Với cách tiếp cận này thì tư vấn chính là quá trình đưa ra giải pháp giúp đối tượng được tư vấn giải quyết vấn đề mình đang gặp phải” [4].
Tác giả Chu Liên Anh quan niệm“Tư vấn là sự trợ giúp, trong đó người tư vấn thông qua mối quan hệ tin cậy, tự nguyện, trao đổi thông tin để cung cấp giải pháp nhằm giúp khách hàng tìm ra phương án tốt nhất giải quyết vấn đề của họ” [1].
Trong lĩnh vực nghề nghiệp, tư vấn là từ chỉ một hoạt động chuyên môn hoặc chỉ một nghề nghiệp chuyên giúp người khác có thể ra quyết định và giải quyết vấn đề, nâng cao năng lực sống cá nhân bằng những phương pháp nghiệp vụ chuyên môn. Người chuyên làm nghề này được gọi là nhà tư vấn, cố vấn (consultant, advisor).
Mỗi lĩnh vực nghề nghiệp đều có những chuyên gia hoạt động tư vấn hỗ trợ trong lĩnh vực đó. Ở Việt Nam, nghề tư vấn đã xuất hiện. Đó có thể là người chuyên làm tư vấn, cũng có thể họ làm một nghề nào đó và tư vấn là một trong những chức năng của họ. Dù là nghề hay chỉ kiêm nhiệm song họ đều có một đặc điểm chung, đó là chuyên gia trong một lĩnh vực.
Có nhiều cách tư vấn như: Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
- Đưa ra những lời khuyên, lời gợi ý, hoặc cung cấp các thông tin hỗ trợ để người cần giúp đỡ có thể tự giải quyết các vấn đề của họ;
- Tổ chức các hoạt động chuyên nghiệp giúp người đang gặp khó khăn được trải nhiệm, qua đó giúp họ tự nhận thức, từ đó có mong muốn thay đổi bản thân;
- Can thiệp làm giảm thiểu các hậu quả xấu có thể xảy ra cho người cần tư vấn;
- Tìm kiếm các nguồn lực hỗ trợ;
- Tổ chức các hoạt động có tính phòng ngừa, tạo ra môi trường phát triển thuận lợi, không để những yếu tố tạo ra sự phát triển lệch lạc, những hệ quả xấu cho trẻ trong quá trình phá triển.
- Trong công tác giáo dục học sinh ở nhà trường, để hỗ trợ học sinh trong quá trình phát triển, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục, người giáo viên cần có năng lực tư vấn, hỗ trợ học sinh.
- Tư vấn thường được sử dụng trong nhà trường có những cách gọi tên khác nhau: tư vấn tâm lý và tư vấn giáo dục.
- Tư vấn tâm lý “là quá trình nhà tư vấn vận dụng những tri thức, phương pháp và kĩ thuật tâm lí học nhằm trợ giúp đối tượng được tư vấn nhận ra chính mình, từ đó tự thay đổi hành vi, thái độ, tự tái lập lại thế cân bằng tâm lí của bản thân ở trình độ cao hơn” [18].
- Tư vấn giáo dục là quá trình tư vấn mà nhà tư vấn sử dụng các phương pháp giáo dục nhằm can thiệp, phòng ngừa, hỗ trợ học sinh trong quá trình phát triển.
Trong tư vấn giáo dục, có hai loại cơ bản (xác định đối tượng cần hỗ trợ, can thiệp, phòng ngừa là học sinh):
Tư vấn trực tiếp cho học sinh hoặc nhóm học sinh gặp khó khăn trong học đường tự nhận thức ra vấn đề của mình, từ đó tìm ra những cách thức để giải quyết được vấn đề khó khăn của bản thân
Trợ giúp các lực lượng giáo dục như cha mẹ học sinh, các thầy cô giáo gặp những khó khăn trong giáo dục đối tượng trên tự nhận thức ra vấn đề của mình, tự tìm ra cách giải quyết.
Tư vấn giáo dục còn hỗ trợ đối tượng được tư vấn những tác động khách quan như chính sách, cách thức, nguồn lực…để họ vượt qua những khó khăn. Hiểu theo nghĩa này, tư vấn gần với chức năng giáo dục của giáo viên trong nhà trường.
Đối với trường phổ thông dân tộc nội trú thì tư vấn giáo dục là một nhiệm vụ của tất cả các giáo viên. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này đòi hỏi mỗi giáo viên phải có những kiến thức và năng lực nhất định mới có thể thực hiện thành công nhiệm vụ tư vấn giáo dục cho học sinh của mình. Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
Như vậy có thể hiểu tư vấn giáo dục của giáo viên là quá trình giáo viên trợ giúp, hỗ trợ học sinh một cách kịp thời thông qua hệ thống các phương pháp, cách thức tư vấn trên cơ sở của việc vận dụng kiến thức và kĩ năng tư vấn phù hợp trong từng trường hợp, đối tượng và hoàn cảnh cụ thể, qua đó giúp các em học sinh vượt qua được những khó khăn trong học tập và trong cuộc sống, thu nhận được kiến thức và kĩ năng cần thiết để phát triển nhân cách đáp ứng yêu cầu của điều kiện xã hội.
1.2.5. Năng lực tư vấn giáo dục
Khái niệm năng lực (competency) có nguồn gốc từ tiếng La tinh. Có nhiều quan niệm khác nhau về năng lực:
Theo Từ điển Tiếng Việt “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Năng lực là phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [17].
Tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: “Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định, bảo đảm cho hoạt động đó có kết quả” [26].
Theo tác giả Phạm Thành Nghị: “Năng lực con người là sản phẩm của sự phát triển xã hội. Sự hình thành năng lực đòi hỏi cá thể phải nắm được các hình thức hoạt động mà loài người đã tạo ra trong quá trình phát triển lịch sử xã hội. Vì vậy, năng lực con người không những do hoạt động của bộ não quyết định mà trước hết do trình độ phát triển lịch sử mà loài người đạt được” [17].
Trong giáo dục, “Năng lực là thuộc tính cá nhân cho phép cá nhân thực hiện thành công hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”. Thuộc tính cá nhân là tổ hợp các hành động vật chất và tinh thần tương ứng với dạng hoạt động nhất định dựa vào đặc điểm cá nhân (sinh học, tâm lý, giá trị xã hội), được thực hiện tự giác và dẫn đến kết quả phù hợp với trình độ thực tế của hoạt động [13]. Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
Năng lực có cấu trúc phức tạp, song những thành tố cơ bản tạo nên cơ sở cấu trúc của năng lực gồm: tri thức, kỹ năng và thái độ. Trong mỗi thành tố này lại tích hợp nhiều yếu tố sinh học, tâm lý, văn hóa. Như vậy, năng lực là thuộc tính mới của cá nhân chứ không đơn giản là sự gộp lại của tri thức, kỹ năng, thái độ. Năng lực vừa có bản chất sinh học, vừa có bản chất tâm lý, vừa có bản chất xã hội. [13].
Nói đến năng lực là đề cập tới xu thế có thể đạt được một kết quả nào đó của một công việc nào đó do một con người cụ thể thực hiện (năng lực học tập, năng lực lao động, năng lực quan sát…). Không tồn tại năng lực một cách chung chung, trừu tượng;
Nói đến năng lực là nói đến sự tác động (quan hệ) của một cá nhân cụ thể tới một đối tượng cụ thể (kiến thức, quan hệ xã hội, đối tượng lao động…) để có một sản phẩm nhất định – năng lực hành động. Năng lực vừa là tiền đề, vừa là kết quả, vừa là điều kiện của hoạt động, đồng thời được phát triển trong chính hoạt động đó. Vì vậy, muốn hình thành năng lực, cá nhân nhất thiết phải tham gia vào hoạt động.
Năng lực tư vấn giáo dục: Từ khái niệm tư vấn và khái niệm năng lực, ta có thể hiểu: Năng lực tư vấn giáo dục là hệ thống, tổ hợp những đặc điểm tâm lí của nhân cách nhằm đáp ứng các yêu cầu của hoạt động tư vấn và quyết định thành công của hoạt động đó. Năng lực và kĩ năng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, năng lực tư vấn giáo dục là thuộc tính, là đặc điểm của nhân cách. Còn kĩ năng tư vấn giáo dục là những thao tác riêng của hoạt động tư vấn giáo dục trong các tình huống cụ thể.
1.2.6. Bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho giáo viên.
Qua các quan niệm trên, chúng tôi quan niệm: “Bồi dưỡng là quá trình bổ sung tri thức, kỹ năng để củng cố, nâng cao phẩm chất và năng lực trong lĩnh vực hoạt động chuyên môn cụ thể nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc đang làm”
Bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên là quá trình tổ chức cho giáo viên cập nhật, bổ sung các tri thức về hoạt động Tư vấn giáo dục, các kĩ năng sư phạm, khả năng vận dụng thực tiễn để nâng cao năng lực Tư vấn giáo dục của đội ngũ Giáo viên, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, đổi mới dạy học.
Bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục có thể coi là hoạt động đào tạo lại nhằm đổi mới, cập nhật kiến thức và kĩ năng chuyên môn, nâng cao nghiệp vụ sư phạm trong các hoạt động chuyên môn của người giáo viên.
1.2.7. Quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
Từ những quan niệm trên về quản lí và bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên, chúng tôi đưa ra khái niệm về quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho giáo viên làm cơ sở cho việc triển khai nghiên cứu đề tài như sau: Quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục là tổng thể các biện pháp có chủ đích có kế hoạch của chủ thể quản lí (hiệu trưởng) được tiến hành một cách hợp quy luật đối với hoạt động bổ sung tri thức và kĩ năng Tư vấn giáo dục cho giáo viên nhằm đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra trong điều kiện có những vận động, biến đổi của môi trường giáo dục.
1.3. Một số vấn đề lí luận về bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho giáo viên trường phổ thông dân tộc nội trú Trung học cơ sở
1.3.1. Hoạt động tư vấn giáo dục của giáo viên ở trường Phổ thông dân tộc nội trú Trung học cơ sở
1.3.1.1. Vai trò của tư vấn giáo dục trong trường học
Hoạt động tư vấn giáo dục trong trường học là hoạt động tư vấn cho Học sinh; tư vấn cho đồng nghiệp, tư vấn cho người thân với học sinh (Ông, bà, cha, mẹ, …). Hoạt động này có vai trò rất quan trọng, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ giáo dục toàn diện Học sinh của nhà trường. Cụ thể như sau:
Tạo ra những tác động mang tính định hướng giáo dục tới những học sinh.
Tác động mang tính định hướng được hiểu là những tác động nhằm giúp học sinh biết cách giải quyết vấn đề của bản thân. Những định hướng này mang tính giáo dục, nghĩa là tạo ra hướng phát triển phù hợp với yêu cầu, mong muốn của xã hội.
Như vậy có thể hiểu tư vấn giáo dục trong nhà trường tác động của Giáo viên vào nhận thức của Học sinh, giúp Học sinh tự nhận thức, tự giải quyết vấn đề, qua đó hình thành tính tự lập, độc lập, biết tự chịu trách nhiệm.
Tư vấn giáo dục trong nhà trường hỗ trợ học sinh đang có vướng mắc, khó khăn chưa giải quyết được trong học tập, hướng nghiệp, tâm lý, tình cảm những bức xúc của lứa tuổi. Lứa tuổi học sinh trung học đang phát triển, chưa ổn định. Hơn nữa, xã hội phát triển nhanh, quá trình xã hội hóa, toàn cầu hóa trong thời kì hội nhập đang tạo ra những tác động tích cực và tiêu cực đến sự phát triển của trẻ. Nhiều hiện tượng phát triển lệch lạc, mất phương hướng của thanh niên thiếu niên gần đây có nguyên nhân từ sự phát triển quá nhanh của xã hội, công nghệ, trong khi văn hóa, nếp sống xã hội chưa biến đổi phù hợp, con người chưa thích ứng kịp. Đó là căn nguyên gây ra những khó khăn trong sự phát triển của trẻ. Tư vấn có nhiệm vụ quan trọng là hỗ trợ học sinh giải quyết khó khăn, đối mặt với vấn đề và khơi dậy nội lực, khả năng ứng phó của các em.
Ngoài ra, trong quá trình học tập, rèn luyện và phát triển, học sinh có nhiều điều vướng mắc trong học tập, sinh hoạt, trong hướng nghiệp cần được giải đáp, cần được người am hiểu và có trách nhiệm trợ giúp. Nhiệm vụ của giáo dục trong nhà trường là trợ giúp, là bạn đồng hành của các em. Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
Tư vấn, tham vấn giúp học sinh lựa chọn cách xử lí đúng, góp phần ổn định đời sống tâm hồn, tình cảm và thực hiện được nguyện vọng của mình.
Một vai trò quan trọng của tư vấn học đường nữa là tạo ra môi trường thuận lợi, tích cực, thân thiện cho sự phát triển nhân cách của học sinh. Sự phát triển ở đây là sự phát triển theo định hướng, theo mục tiêu mà xã hội mong muốn. Đó là hạnh phúc của mỗi các nhân dựa trên sự hạnh phúc của toàn xã hội. Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa người làm tư vấn giáo dục trong nhà trường với người làm tham vấn tâm lý. Sự phát triển của học sinh là sự phản ánh môi trường sống, là sự phản ánh những gì học sinh tiếp thu được từ môi trường nên việc tư vấn trong trường học cần chú ý đến định hướng giáo dục của nhà trường, của xã hội.
1.3.1.2. Nhiệm vụ của tư vấn giáo dục trong trường học
Trong trường học, tư vấn giáo dục có những nhiệm vụ sau:
Phòng ngừa:
- Tư vấn các phương pháp, hình thức giáo dục cho các đối tượng tham gia giáo dục và chính học sinh nhằm phòng ngừa các vấn đề ảnh hưởng đến sự phát triển nhân cách của học sinh.
- Tổ chức hoặc tư vấn tổ chức các hoạt động giáo dục, hướng nghiệp, xây dựng môi trường học tập thuận lợi cho sự phát triển tích cực ở học sinh.
- Tư vấn giáo dục cho những người có tác động tiêu cực đến học sinh, hoặc có khó khăn trong giáo dục học sinh.
- Tư vấn, tham vấn cho học sinh có khó khăn tâm lí làm giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh.
Phát hiện:
- Quan sát phát hiện hằng ngày, và chẩn đoán học sinh có nguy cơ rối nhiễu tâm lý hoặc những hiện tượng tâm lý bất thường trong đời sống học đường, những hành vi lệch chuẩn của trẻ.
Trị liệu: Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
- Can thiệp bước đầu cho học sinh có biểu hiện rối nhiễu tâm lý, hành vi, bệnh tâm lý học đường.
Hỗ trợ nguồn lực:
- Tìm kiếm các nguồn lực (về kinh tế, chính sách chế độ, pháp lý, y tế…) hỗ trợ, bảo vệ, chăm sóc cho học sinh như các tổ chức xã hội, chuyên môn, nghề nghiệp.
Như vậy, Tư vấn học đường có nhiệm vụ chăm sóc, hỗ trợ cho tất cả các học sinh trong trường học, can thiệp và đan xen vào các hoạt động giáo dục, dạy học cơ bản trong trường học.
1.3.1.3. Nội dung tư vấn giáo dục trong trường học
Dựa trên một số kết quả nghiên cứu về thực trạng học sinh, những khó khăn trong đời sống học đường, những “trục trặc” mà học sinh trung học có thể gặp phải trong các mối quan hệ của mình, theo thông tư của Bộ giáo dục và Đào tạo, … nội dung tư vấn giáo dục ở trường phổ thông, tập trung vào các vấn đề sau:
- Tư vấn tâm lí lứa tuổi, giới tính, hôn nhân, gia đình, sức khỏe sinh sản vị thành niên phù hợp với lứa tuổi.
- Tư vấn, giáo dục kĩ năng, biện pháp ứng xử văn hóa, phòng, chống bạo lực, xâm hại và xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện.
- Tư vấn tăng cường khả năng ứng phó, giải quyết vấn đề phát sinh trong mối quan hệ gia đình, thầy cô, bạn bè và các mối quan hệ xã hội khác.
- Tư vấn kĩ năng, phương pháp học tập hiệu quả và định hướng nghề nghiệp phù hợp với cấp học.
- Tham vấn tâm lý đối với học sinh gặp khó khăn cần hỗ trợ, can thiệp, giải quyết kịp thời. Giới thiệu, hỗ trợ đưa học sinh đến các cơ sở, chuyên gia điều trị tâm lý đối với các trường hợp học sinh bị rối loạn tâm lý nằm ngoài khả năng tư vấn của nhà trường.
1.3.1.4. Đối tượng tư vấn
Để thực hiện tốt mục tiêu tư vấn giáo dục trong trường học, có hai nhóm đối tượng mà người tư vấn cần xử lý, đó là những học sinh gặp khó khăn cần trợ giúp và thứ hai là những người là tác nhân gây ra những khó khăn cho các em, gây tổn thương, hoặc không biết cách làm việc với các em (Thầy, cô giáo và những người thường làm việc với học sinh). Nếu không tư vấn, can thiệp với nhóm đối tượng này thì vấn đề của học sinh không được giải quyết. Cụ thể:
- Nhóm thứ nhất: là những học sinh gặp khó khăn tâm lí cần tư vấn. Mục tiêu của những cuộc tư vấn này là hỗ trợ học sinh vượt qua khó khăn. Đây là kiểu tư vấn trực tiếp. Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
- Nhóm thứ hai: là những người gặp khó khăn trong làm việc với học sinh, hoặc là tác nhân gây khó khăn tâm lý cho học sinh cần được tư vấn. Đây là kiểu tư vấn gián tiếp.
Tuy nhiên, khi làm việc với nhóm thứ hai, mục tiêu tư vấn là hỗ trợ họ hiểu và thay đổi cách ứng xử, thay đổi thái độ với học sinh cần tư vấn, chứ không phải giúp họ giải quyết vấn đề của họ. Mục tiêu cuối cùng của kiểu tư vấn này vẫn là lợi ích của học sinh đang được tư vấn. Đó có thể là cha, mẹ học sinh; là thầy/cô dạy trong lớp; Là bạn bè hoặc người thân và xã hội.
1.3.2. Mục tiêu bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho giáo viên.
Bổ sung tri thức và năng lực còn thiếu hụt hoặc đã lạc hậu để nâng cao trình độ, phát triển thêm năng lực hoạt động chuyên môn cho Giáo viên, thể hiện quan điểm giáo dục hiện đại đó là: “Đào tạo liên tục và học tập suốt đời”.
Hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho Cán bộ quản lý, Giáo viên trường Phổ thông dân tộc nội trú Trung học cơ sở là sự tác động của chủ thể bồi dưỡng (GV cốt cán, chuyên gia từng lĩnh vực) đến Cán bộ quản lý, Giáo viên nhằm cập nhật, bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực mới (năng lực tư vấn học tập, tư vấn giới tính, tư vấn hướng nghiệp, đánh giá, phối hợp,…) để đáp ứng yêu cầu đặc thù đối với trường Dân tộc nội trú.
1.3.3. Nội dung bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho giáo viên.
Nội dung của bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho Giáo viên các trường Phổ thông dân tộc nội trú Trung học cơ sở là kế thừa những tri thức, kinh nghiệm về tư vấn giáo dục. Do đó, nội dung bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục phải phong phú, phù hợp với mục tiêu và hình thức của từng loại hình bồi dưỡng và nội dung bồi dưỡng cần đáp ứng nhu cầu của giáo viên cũng như nhiệm vụ đặc thù trong công tác giáo dục và quản lí học sinh nội trú.
Nội dung bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho Giáo viên các trường PTDTNT Trung học cơ sở cần tập trung vào các vấn đề sau:
- Năng lực tư vấn học tập: Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
Học tập là nhiệm vụ chủ yếu của học sinh, khi thực hiện các nhiệm vụ học tập học sinh luôn nhận được sự định hướng của giáo viên tuy nhiên việc thực hiện các nhiệm vụ học tập không phải lúc nào cũng diễn ra thuận lợi, đặc biệt là hoạt động tự học. Đa số học sinh gặp khó khăn trong quá trình học tập vì vậy cần có sự hướng dẫn, trợ giúp của giáo viên để các em khắc phục được những khó khăn trên. Do đó tư vấn giúp Học sinh biết cách học và tự học là năng lực thành phần quan trọng trong các năng lực về tư vấn giáo dục của Giáo viên trường Phổ thông dân tộc nội trú Trung học cơ sở.
Năng lực tư vấn học tập của Giáo viên trường Phổ thông dân tộc nội trú là sự vận dụng kiến thức, kinh nghiệm tư vấn của giáo viên vào xây dựng mối quan hệ cởi mở, chân thành, tin cậy để trao đổi thông tin, cung cấp giải pháp giúp học sinh giải quyết những khó khăn mà các em hay gặp phải trong quá trình tiếp thu kiến thức trên lớp, quá trình tự học, tự nghiên cứu, trong thực hiện nội quy của nhà trường…nhằm giúp Học sinh thực hiện các nhiệm vụ học tập một cách hiệu quả nhất.
Nội dung cốt lõi của năng lực tư vấn học tập là Giáo viên phải xây dựng được mối quan hệ tin cậy, chuẩn mực với Học sinh, thường xuyên trao đổi thô ng tin với Học sinh từ đó đưa ra các biện pháp hỗ trợ giúp Học sinh giải quyết những khó khăn học tập đang gặp phải. Trong quá trình giảng dạy trên lớp và quản sinh giáo viên có thể chủ động tìm hiểu được những vấn đề mà Học sinh vướng mắc trong quá trình học tập, từ đó chủ động đưa ra các cách tư vấn, hỗ trợ cho học sinh. Bên cạnh đó giáo viên cần nhiệt tình giúp đỡ khi học sinh có nhu cầu được tư vấn, hỗ trợ.
Năng lực tư vấn học tập được hình thành nên từ hệ thống các năng lực sau:
Tư vấn Học sinh xây dựng kế hoạch học tập; tư vấn phương pháp học tập; tư vấn học sinh nghiên cứu khoa học; tư vấn cách thu thập xử lí thông tin trong quá trình học tập, hợp tác, chia sẻ trong học tập, thuyết trình, làm việc nhóm…
Các năng lực này luôn có mối quan hệ mất thiết với nhau trong hệ thống năng lực tư vấn học tập của Giáo viên.
GV thông qua sử dụng các năng lực thành phần để thực hiện tư vấn học tập cho học sinh một cách hiệu quả nhất.
Nội dung cơ bản của quản lí năng lực tư vấn học tập là nhà quản lí cần xây dựng được mối quan hệ tin cậy, thường xuyên trao đổi thông tin với Giáo viên, từ đó phát hiện ra những khó khăn, vướng mắc mà Giáo viên đang gặp phải khi thực hiện. Qua đó, đưa ra các cách hỗ trợ giúp Giáo viên giải quyết những vấn đề đang gặp phải. Bên cạnh đó, trong quá trình tham gia giảng dạy, tìm hiểu học sinh Cán bộ quản lý có thể chủ động tìm hiểu, nhận biết được những vấn đề học sinh đang gặp phải trong quá trình học tập, chủ động đưa ra các cách tư vấn, hỗ trợ cho học sinh, đồng thời tư vấn cho Giáo viên cách thức giải quyết vấn đề đối với học sinh.
Năng lực tư vấn học tập cho học sinh bao gồm các nội dung: Tư vấn về phương pháp học tập; tư vấn về quản lí thời gian trong học tập; tư vấn về lập kế hoạch học tập; tư vấn về hợp tác, chia sẻ trong học tập và tư vấn học sinh làm nghiên cứu khoa học.
- Năng lực tư vấn hướng nghiệp Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
Tư vấn hướng nghiệp có thể được hiểu như một hoạt động thông tin nhằm giúp Học sinh nâng cao nhận thức, hiểu biết về thị trường việc làm, huy động nghề và lĩnh vực nghề riêng biệt. Trên cơ sở đó giúp cho Học sinh có những định hướng và lựa chọn một cách phù hợp sau khi tốt nghiệp Trung học cơ sở, tránh tình trạng lựa chọn theo cảm tính dẫn đến sự không phù hợp về khả năng của Học sinh và yêu cầu của nghề từ đó kéo theo nhiều hệ lụy khác. Tư vấn hướng nghiệp là một hoạt động có đối tượng, trong đó chủ thể là một cá nhân hay một tổ chức có kinh nghiệm nắm vững một hoạt động nào đó. Chủ thể tư vấn là nơi thu nhận, sàng lọc, chuyền tải thông tin nghề và có khả năng ứng xử với đối tượng để thỏa mãn nhu cầu của đối tượng tư vấn ở mức độ cần thiết. Mối quan hệ giữa chủ thể tư vấn và đối tượng tư vấn là mối quan hệ tác động, cải biến, trong đó chủ thể tư vấn ở vị trí tạo nên sự tác động nhờ việc chuyển tải thông tin, phân tích, khuyên nhủ. Đối tượng tư vấn ở vị trí của những người được cải biến nhờ việc tiếp nhận những thông tin chưa rõ ràng hoặc thiếu hụt. Kết quả cuối cùng của tư vấn có thể là những chuyển biến về nhận thức của đối tượng về nghề và cũng có thể là sự thay đổi những quyết định lớn của cuộc đời.
Đối với lứa tuổi học sinh Trung học cơ sở hoạt động hướng nghiệp là hoạt động chủ đạo đặc biệt với học sinh lớp 9. Lúc này các em đang đứng trước nhiều con đường lựa chọn về nghề nghiệp cho tương lai. Đa số các em chưa định hướng được nghề nghiệp cho bản thân, hầu hết các em đều lựa chọn học tiếp lên THPT, chưa nhiều em chọn các trường nghề sau Trung học cơ sở. Ở lứa tuổi này việc lựa chọn cho mình trường học sau Trung học cơ sở còn thiên về cảm tính và bị những yếu tố bên ngoài hay cha mẹ, bạn bè… chi phối nên không tránh khỏi được việc dự định không phù hợp với năng lực, tính cách của bản thân từ đó dẫn đến sự không phù hợp với khả năng của minh, sự chán nản thất vọng. Chính vì vậy Giáo viên là người cần trang bị cho mình đầy đủ các kiến thức về thế giới nghề nghiệp cũng như những năng lực tư vấn hướng nghiệp để có thể sẵn sàng tư vấn cho học sinh. Năng lực tư vấn hướng nghiệp được hiểu là sự vận dụng linh hoạt kiến thức, kinh nghiệm về thế giới nghề nghiệp của giáo viên để đưa ra những hỗ trợ tích cực cho Học sinh trong quá trình tìm hiểu, lựa chọn học tiếp THPT hay theo học trường nghề, giúp các em lựa chọn được trường phù hợp với trình độ, năng lực, đặc điểm tâm lí của học sinh cũng như nhu cầu của xã hội.
Năng lực tư vấn hướng nghiệp bao gồm hệ thống các năng lực như: Tư vấn về cách tìm hiểu thông tin thị trường lao động trong tỉnh và các tỉnh lân cận, tư vấn học sinh lựa chọn trường học phù hợp với năng lực và tính cách của học sinh, năng lực sử dụng công cụ chuẩn đoán tâm lí, năng lực tư vấn về dự báo nghề nghiệp cho học sinh.
Các em học sinh, đặc biệt học sinh lớp 9 đang đứng trước những lựa chọn trường mình học sau tốt nghiệp Trung học cơ sở. Số ít em đã định hướng được cho bản thân nhưng cũng nhiều em còn gặp khó khăn trong việc lựa chọn là học tiếp THPT hay tham gia học nghề. Trong quá trình lựa chọn, các em cần nhận được sự tư vấn, hỗ trợ của thầy cô giáo. Chính vì vậy, Giáo viên cần quan tâm nhóm năng lực tư vấn hướng nghiệp. Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
Nhóm năng lực tư vấn hướng nghiệp được hiểu là sự vận dụng linh hoạt kiến thức, kinh nghiệm của bản thân Giáo viên để đưa ra những hỗ trợ tích cực cho Học sinh trong quá trình tư vấn, giúp đỡ học sinh tìm hiểu, lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với trình độ, năng lực, đặc điểm tâm lí của học sinh cũng như nhu cầu của xã hội.
Nhóm năng lực tư vấn hướng nghiệp bao gồm: giới thiệu hệ thống các trường THPT mà các em có thể tiếp tục học sau tốt nghiệp Trung học cơ sở, giới thiệu hệ thống các trường nghề trên địa bàn tỉnh và một số nghề nghiệp trong xã hội và địa phương cho Học sinh; tư vấn Học sinh lựa chọn phù hợp; viêc̣ sử dụng công cụ trắc nghiệm xu hướng chọn trường cho học sinh; năng lực tư vấn xu hướng nghề nghiệp cho bản thân và năng lực thuyết phục, định hướng
- Năng lực tư vấn về tâm lí, tình cảm, sức khỏe giới tính
Một trong những vấn đề học sinh trường Phổ thông dân tộc nội trú quan tâm và ảnh hưởng nhiều đến học tập, cuộc sống của các em đó là vấn đề liên quan đến tình bạn, tình yêu, các mối quan hệ giao tiếp ứng xử phòng ở, nhà trường, xã hội. Học sinh Trung học cơ sở bước đầu có khúc mắc về tình cảm mà ở lứa tuổi này các em chưa thể tự giải quyết được nên các em cần đến sự tư vấn của người lớn trong đó có các thầy cô của mình. Bản thân đây là vấn đề tế nhị nên giáo viên cũng cần phải khéo léo, có năng lực để giúp Học sinh giữ gìn được những tình cảm trong sáng, tạo dựng được mối quan hệ đúng mực, thân thiện với bạn bè.
Tình bạn chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống tình cảm của học sinh. Nhu cầu về tình bạn, tâm tình cá nhân cũng tăng lên rõ rệt, phạm vi và đối tượng kết bạn được mở rộng. Những yêu cầu đặt ra cho bạn mình cũng cao hơn, Học sinh thường lựa chọn những người có cùng tính cách, sở thích, quan điểm sống làm bạn thân. Nhu cầu về tình bạn khác giới tăng lên, các em không còn nhiều e ngại như giai đoạn lứa tuổi trước. Do phạm vi kết bạn ngày càng được mở rộng nên cũng có nhiều vấn đề từ đó nảy sinh như việc lựa chọn đối tượng để làm bạn, những xích mích trong nhóm bạn, sự nhầm lẫn giữa tình bạn với tình yêu, cách bạn bè ảnh hưởng đến nhau. Một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển tâm lí của lứa tuổi chủ yếu ở lớp 9 đó là sự xuất hiện của tình yêu học trò. Tình yêu học trò là thứ tình cảm hết sức trong sáng, hồn nhiên, giàu cảm xúc, chân thành và nó chi phối nhiều đến đời sống tinh thần của các em. Tuy nhiên tình yêu mới nảy sinh này cũng có thể phát triển không bình thường nếu như các em thiếu sự quan tâm của thầy cô và không có được những sự định hướng đúng đắn hay gặp phải thái độ can thiệp gay gắt, bảo thủ từ phía người lớn. Từ đó sẽ dẫn đến sự sao nhãng trong học tập hay có những hành vi tiêu cực làm ảnh hướng đến tương lai của các em. Trên loeps học cũng như trong đời sống kí túc xá, giáo viên cần phải là người quan sát để nhận biết được những tình cảm, các mối quan hệ của học sinh đồng thời là những người bạn để các em có thể chia sẻ, là nhà tư vấn có thể đưa ra những lời khuyên cho học sinh của mình. Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
Trong trường Phổ thông dân tộc nội trú Trung học cơ sở Học sinh có nhu cầu giao tiếp rộng, ham hiểu biết và nhạy bén với những vấn đề mới nhưng lại thiếu kinh nghiệm và bản lĩnh, do đó Học sinh tỏ ra lúng túng trong ứng xử, hay giải quyết vấn đề, hoặc xử lí tình huống trong giao tiếp hàng ngày. Có những mối quan hệ mà tự học sinh không thể tự giải thoát hay tháo gỡ, các em cần sự trợ giúp của giáo viên hay người thân. Vì vậy Giáo viên phải là người trợ giúp tốt nhất cho học sinh trong các mối quan hệ với thầy cô, cha mẹ, bạn bè hay các mối quan hệ xã hội khác. Tư vấn hỗ trợ về quan hệ giao tiếp, ứng xử chính là việc giúp cho Học sinh được tư vấn giải quyết những vướng mắc về các quan hệ giao tiếp ứng xử, giúp họ hiểu những yêu cầu về chuẩn mực trong giao tiếp để Học sinh có thể tiếp nhận, rèn luyện, từ đó có lời nói phù hợp với hành vi chuẩn mực. Muốn làm được điều này thì bản thân người Giáo viên cũng phải là một chuẩn mực trong các mối quan hệ với đồng nghiệp, gia đình, học sinh…cũng phải trang bị cho mình những kĩ năng về giao tiếp, ứng xử, kĩ năng về thiết lập và duy trì các mối quan hệ để có thể tạo ra những ảnh hưởng tốt đến học sinh của mình cũng như trợ giúp học sinh khi các em gặp khó khăn trong đời sống tình cảm, trong các mối quan hệ xã hội.
Một trong những vấn đề mà Giáo viên ở các trường Phổ thông dân tộc nội trú Trung học cơ sở đặc biệt quan tâm là đó là vấn đề liên quan đến tình bạn, tình yêu, các mối quan hệ giao tiếp ứng xử trong tập thể nội trú, xã hội của các em học sinh. Các mối quan hệ tình cảm này ảnh hưởng nhiều đến học tập, cuộc sống của các em, trong khi bản thân các em chưa thể tự giải quyết được nên các em cần đến sự tư vấn của người lớn trong đó có các thầy cô của mình.
Năng lực tư vấn tình cảm, giới tính cho học sinh là vấn đề tế nhị nên mỗi Giáo viên có sự định hướng, hỗ trợ để thực hiện nhóm tư vấn này sao cho khéo léo giúp Học sinh giữ gìn được những tình cảm trong sáng, tạo dựng được mối quan hệ đúng mực, thân thiện với mọi người. Để thực hiện tư vấn tình cảm đạt hiệu quả cao, Giáo viên cần thực hiện các biện pháp sau: Nắm đặc điểm tâm, sinh lí của học sinh, văn hóa của mỗi dân tộc, vùng miền; tư vấn cho học sinh các vấn đề về sức khỏe giới tính; tư vấn về tình cảm, về thiết lập mối quan hệ bạn bè của học sinh; trợ giúp học sinh trong giải quyết các vấn đề về giao tiếp, ứng xử và giúp học sinh ứng phó với căng thẳng trong học tập, trong mối quan hệ với bạn bè, với thầy cô.
1.3.4. Phương pháp và hình thức bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho giáo viên
1.3.4.1. Phương pháp bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho giáo viên Phương pháp bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho Giáo viên là cách thức phối hợp giữa chủ thể bồi dưỡng (GV cốt cán, chuyên gia theo từng lĩnh vực) và đối tượng được bồi dưỡng (Giáo viên) để đạt được những mục đích đặt ra. Có nhiều phương pháp bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho Giáo viên ở trường Phổ thông dân tộc nội trú Trung học cơ sở, trong phạm vi đề tài này tôi làm rõ những phương pháp sau.
- Phương pháp tự nghiên cứu Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
Tự nghiên cứu là phương pháp chủ thể bồi dưỡng (GV cốt cán) đưa ra một vấn đề, một yêu cầu trong một thời gian ngắn đòi hỏi đối tượng bồi dưỡng (GV) phải có cách giải quyết hay xử lí. Ưu điểm của phương pháp này là trong một thời gian ngắn giúp người học nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó. Đây là một phương pháp để đề xuất các thông tin và ý tưởng.
Một số yêu cầu khi sử dụng phương pháp tự nghiên cứu: Tất cả ý kiến của người học đều được người dạy hoan nghênh mà không phê phán, nhận định đúng sai. Khi kết luận vấn đề, giảng viên nên nhấn mạnh kết luận này là sản phẩm chung của cả lớp, nhóm. Yêu cầu người tham gia đưa ra ý kiến ngắn gọn và chính xác, tránh dài dòng và chung chung. Thông qua phương pháp tự nghiên cứu rèn cho đối tượng bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp, năng lực xử lí tình huống, năng lực ra quyết định trước các vấn đề đặt ra – những năng lực hết sức cần thiết cho mỗi giáo viên đóng vai trò là nhà tư vấn tâm lí.
- phương pháp thuyết trình
Chủ thể bồi dưỡng cung cấp kiến thức chuyên đề, phân tích, giải thích, lí giải về kiến thức mới những vấn đề thuộc chuyên môn các lĩnh vực khác nhau.
- Phương pháp thảo luận nhóm.
Chủ thể bồi dưỡng tổ chức cho Giáo viên tham gia trao đổi về một vấn đề hay một nội dung nào đó theo nhóm. Thảo luận nhóm nhỏ được sử dụng rộng rãi nhằm giúp cho Giáo viên tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập, nhằm tạo cơ hội cho Giáo viên tham gia chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, rèn luyện năng lực hợp tác, năng lực quyết vấn đề, năng lực ra quyết định, năng lực thương lượng, năng lực xử lí tình huống.
Với phương pháp bồi dưỡng này có tác dụng tạo ra môi trường học tập đa thông tin cho người học, giúp họ tự nghiên cứu, tự bộc lộ để thể hiện năng lực và kết quả học tập của cá nhân, ngoài ra học tập theo nhóm kết hợp với thảo luận toàn lớp còn giúp người học phát triển ý thức làm việc tập thể, phát huy trí tuệ tập thể, phát huy tính tích cực học tập, năng lực tổ chức, quản lí Phương pháp cùng tham gia có sự tác động luân phiên và tương hỗ giữa người giảng viên và học viên, giảng viên đóng vai trò là người điều hành, dẫn dắt, định hướng, nêu vấn đề; học viên là người thảo luận, thực hành, rút ra những kinh nghiệm, kiến thức cho bản thân (đối thoại, thảo luận nhóm, hỏi đáp, trò chơi…) Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
- Phương pháp sử dụng tình huống
Phương pháp sử dụng tình huống là phương pháp chủ thể bồi dưỡng sử dụng các tình huống đưa ra để đối tượng bồi dưỡng phân tích, đánh giá tình huống, hành động trong tình huống đó. Kết quả là người học thu nhận được các tri thức khoa học, thái độ và các kĩ năng hành động sau khi giải quyết các tình huống đã cho.
- Phương pháp tổ chức trò chơi
Phương pháp tổ chức trò chơi là phương pháp tổ chức cho người học thực hiện những hành động, những thái độ và thực hành năng lực tư vấn phù hợp thông qua những trò chơi cụ thể. Nội dung trò chơi sẽ minh họa một cách sinh động cho các hình thức, nguyên tắc, năng lực cần thiết cho quá trình tư vấn cũng như rèn luyện cho người học những kĩ năng sống nào đó.
Qua trò chơi người học có cơ hội thể nghiệm những năng lực tư vấn đã hình thành, rèn luyện khả năng giao tiếp, ứng xử, năng lực quan sát, rèn luyện kĩ năng nhận xét đánh giá hành vi của người khác và của mình là phù hợp hay chưa phù hợp để từ đó có thể tự điều chỉnh.
Để bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho đội ngũ Giáo viên đạt hiệu quả cao trong quá trình bồi dưỡng chủ thể bồi dưỡng căn cứ vào nội dung, hình thức, đặc điểm của đối tượng bồi dưỡng để lựa chon các phương pháp phù hợp, đồng thời vận dụng các phương pháp một cách linh hoạt, phù hợp để đạt được mục đích đề ra.
1.3.4.2. Hình thức bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho giáo viên
- Tự nghiên cứu của giáo viên kết hợp với các đợt sinh hoạt tập thể về chuyên môn, nghiệp vụ tại tổ bộ môn của nhà trường, liên trường hoặc cụm trường.
- Bồi dưỡng tập trung nhằm hướng dẫn tự học, thực hành, hệ thống hóa kiến thức, giải đáp thắc mắc, hướng dẫn những nội dung bồi dưỡng khó đối với giáo viên; đáp ứng nhu cầu của giáo viên trong học tập bồi dưỡng; tạo điều kiện cho giáo viên có cơ hội được trao đổi về chuyên môn, nghiệp vụ và luyện tập kĩ năng.
- Xây dựng các chuyên đề bồi dưỡng thường xuyên theo năm học.
- Bồi dưỡng qua các hình thức tham quan hoạt động thực tế, thăm các mô hình hoạt động tại cơ sở.
- Trang bị tài liệu tự nghiên cứu, tự học, tự rèn luyện. Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
1.3.5. Điều kiện của hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho giáo viên các trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở.
Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, cùng với sự phối hợp đồng sức, đồng lòng của các thành viên tạo nên sức mạnh và sự chuyển biến về chất trong hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục Giáo viên các trường Phổ thông Dân tộc nội trú THCS.
- Kinh phí được cấp cho hoạt động bồi dưỡng và cung ứng các điều kiện vật chất cần thiết phục vụ cho hoạt động bồi dưỡng.
- Cung ứng các điều kiện về nguồn lực cần thiết phục vụ việc bồi dưỡng. Nếu không có đủ tài liệu bồi dưỡng cho từng Giáo viên hoặc trang thiết bị phục vụ các lớp bồi dưỡng thiếu, thô sơ sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kết quả bồi dưỡng.
1.4. Quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên ở trường Phổ thôn Dân tộc nội trú Trung học cơ sở
1.4.1. Mục tiêu quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên
Nhằm từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ, khắc phục những tồn tại trong hoạt động giáo dục học sinh góp phần nâng cao chất lượng dạy học và hoạt động GD của nhà trường. BD năng lực Tư vấn giáo dục cho đội ngũ Giáo viên, tạo điều kiện để Giáo viên được chuẩn bị về cơ sở lí luận và thực tiễn thực hiện nhiệm vụ giáo dục có hiệu quả, xây dựng được môi trường giáo dục thân thiện, an toàn đáp ứng được yêu cầu của xã hội.
Bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục, giúp giáo viên chủ động, sáng tạo linh hoạt trong thiết kế, tổ chức hoạt động giáo dục nâng cao chất lượng hiệu quả dạy học, giáo dục học sinh.
Quản lí tốt hoạt động bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho Giáo viên các trường Phổ thông dân tộc nội trú Trung học cơ sở chính là cách giúp đội ngũ Giáo viên tự hoàn thiện năng lực sư phạm của bản thân, từ đó nâng cao chất lượng hoạt động dạy học và giáo dục, giúp Học sinh phát triển toàn diện, đáp ứng được yêu cầu giáo dục trong mồi trường giáo dục chuyên biệt.
1.4.2. Nội dung quản lí hoạt động bồi dưỡng Năng lực tư vấn giáo dục cho Giáo viên ở trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở
1.4.2.1. Xây dựng kế hoạch bồi dưỡng Năng lực tư vấn giáo dục cho Giáo viên.
Hiệu trưởng của các nhà trường xây dựng kế hoạch bồi dưỡng dựa trên yêu cầu và sự thống nhất nội dung bồi dưỡng. Trong hoạt động bồi dưỡng nói chung cũng như hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên nói riêng, việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng là vấn đề trước nhất mang tính định hướng cho mọi hoạt động. Kế hoạch đó phải thể hiện được các yêu cầu chủ yếu sau: Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
- Mục tiêu bồi dưỡng:
Việc bồi dưỡng phải hướng tới mục tiêu cơ bản, đó là: Nâng cao năng lực Tư vấn giáo dục cho giáo viên theo từng lĩnh vực cụ thể; Phát triển năng lực tự học, tự bồi dưỡng, tự đánh giá hiệu quả bồi dưỡng của Giáo viên và năng lực tổ chức, quản lí hoạt động tự học, tự bồi dưỡng Giáo viên của nhà trường.
- Đối tượng bồi dưỡng:
Bao gồm toàn bộ Giáo viên nhà trường.
- Nội dung bồi dưỡng:
Căn cứ vào nhu cầu bồi dưỡng của Giáo viên để xác định nội dung, hình thức và thời lượng bồi dưỡng. Có thể bồi dưỡng các năng lực Tư vấn giáo dục trong một chuyên đề bồi dưỡng nào đó, hoặc cũng có thể bồi dưỡng từng năng lực riêng biệt lồng ghép với nội dung bồi dưỡng khác theo nhu cầu, nhiệm vụ cụ thể ở thời điểm tổ chức bồi dưỡng.
Các nội dung bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục gồm: Hiểu biết về bản chất Tư vấn giáo dục; các phương pháp tư vấn, biết lựa chọn phương pháp, cách thức tư vấn;.
Hình thức bồi dưỡng: Có hai hình thức bồi dưỡng cơ bản: Bồi dưỡng tập trung và bồi dưỡng thường xuyên trong năm học tại các nhà trường. Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
Có thể sử dụng đội ngũ cốt cán trong từng lĩnh vực tư vấn hoặc có thể mời các chuyên gia chuyên sâu ở các đơn vị khác về một số vần đề thực hiện công tác bồi dưỡng. Thời gian bồi dưỡng có thể thông qua các sinh hoạt như tổ chức chuyên đề, ngoại khóa của các tổ chuyên môn, SHCM theo cụm trường (Bố trí thời gian hợp lí để Giáo viên vừa tham gia giảng dạy bình thường vẫn tham gia được chương trình bồi dưỡng). Một số nội dung Giáo viên có thể tự bồi dưỡng bằng việc nghiên cứu tài liệu bồi dưỡng sau đó viết thu hoạch, hoặc áp dụng nội dung bồi dưỡng được vào quá trình giảng dạy.
1.4.2.2. Tổ chức triển khai chương trình bồi dưỡng Năng lực tư vấn giáo dục cho Giáo viên.
Thành lập Ban chỉ đạo tổ chức chỉ đạo bồi dưỡng giáo viên về Năng lực tư vấn giáo dục do Hiệu trưởng làm trưởng Ban và phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn làm phó ban và các thành viên khác tham gia.
Thành lập tổ tư vấn của nhà trường đó là những cán bộ, giáo viên có uy tín, có trình độ, năng lực chuyên môn sâu, có kinh nghiệm trong công tác giáo dục học sinh.
Sắp xếp bộ máy quản lí hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên về công tác tư vấn đáp ứng được yêu cầu của mục tiêu và các nhiệm vụ phải đảm nhận. Nói khác đi phải tổ chức bộ máy phù hợp về cấu trúc, cơ chế hoạt động để đủ khả năng đạt được mục tiêu bồi dưỡng giáo viên đề ra.
Tập huấn bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên cốt cán về từng lĩnh vực nhằm thực hiện gây ảnh hưởng của họ tới toàn thể giáo viên tham gia tập huấn.
Phân công rõ ràng trong quá trình tổ chức bồi dưỡng từ người chỉ huy đến người điều hành và các nhân viên chịu trách nhiệm phục vụ, giám sát hoạt động bồi dưỡng giáo viên.
Tổ chức công việc: Sắp xếp công việc hợp lí, xây dựng các cơ chế phối hợp để mọi người hướng vào mục tiêu chung của hoạt động bồi dưỡng Năng lực tư vấn giáo dục cho Giáo viên. Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
Như vậy, thực chất của việc tổ chức bồi dưỡng là thiết lập mối quan hệ, liên hệ giữa con người với con người, giữa các bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống hoạt động nhịp nhàng như một thể thống nhất. Tổ chức tốt sẽ khơi nguồn cho những tiềm năng, cho các động lực khác, tổ chức không tốt sẽ làm triệt tiêu động lực và giảm sút hiệu quả của hoạt động bồi dưỡng. Trong quản lí giáo dục, quản lí nhà trường, điều quan trọng nhất của công tác tổ chức là phải xác định rõ vai trò, vị trí của mỗi cá nhân, mỗi thành viên, mỗi bộ phận, đảm bảo mối quan hệ liên kết giữa các cá nhân, các thành viên, các bộ phận tạo nên sự thống nhất và đồng bộ – yếu tố đảm bảo cho thành công trong tổ chức bồi dưỡng giáo viên.
Hiệu trưởng phải chuẩn bị các nguồn lực bồi dưỡng đặc biệt là nguồn nhân lực báo cáo viên, cán bộ, giáo viên cốt cán, tài liệu bồi dưỡng, tài chính phục vụ bồi dưỡng. Bởi chất lượng giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng bồi dưỡng do đó việc chuẩn bị báo cáo viên là khâu vô cùng quan trọng đòi hỏi mỗi nhà trưởng phải quan tâm đầu tư công sức, trí tuệ và nguồn lực hỗ trợ.
Việc lựa chọn báo cáo viên tham gia bồi dưỡng tập huấn cho cán bộ giáo viên phải có đủ các tiêu chí sau đây:
- Nắm vững kiến thức chuyên môn và có kinh nghiệm trong giáo dục học sinh.
- Là người có uy tín, có khả năng cảm hóa người khác.
- Có khả năng thuyết trình, tư vấn, hướng dẫn đồng nghiệp, có kĩ năng sư phạm tốt.
1.4.2.3. Quản lí cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ hoạt động bồi dưỡng Năng lực tư vấn giáo dục cho Giáo viên
- Quản lí đảm bảo đầy đủ phương tiện, công cụ hoạt động bồi dưỡng.
- Có phòng tư vấn, hỗ trợ Học sinh với đủ ánh sáng, trang thiết bị đa dạng và có chất lượng.
- Quản lí việc cập nhật và đầu tư các phương tiện, thiết bị mới hỗ trợ hoạt động bồi dưỡng.
1.4.2.4. Đánh giá kết quả bồi dưỡng Năng lực tư vấn giáo dục cho Giáo viên.
Đây là một chức năng hết sức quan trọng của nhà quản lí. Nhờ có chức năng này, người quản lí (Hiệu trưởng) có thể xác định mức độ đạt được của mục tiêu đã đề ra. Theo đó, để kiểm tra đánh giá đảm bảo tính chính xác, khách quan, người hiệu trưởng phải xây dựng các tiêu chuẩn, đề ra các yêu cầu cụ thể tương ứng với các nội dung của hoạt động bồi dưỡng, cụ thể:
- Kiểm tra việc triển khai thực hiện chương trình bồi dưỡng.
- Kiểm tra việc thực hiện các yêu cầu, quy định đối với hoạt động bồi dưỡng.
- Kiểm tra mức độ tích cực của Giáo viên trong hoạt động bồi dưỡng và tự bồi dưỡng.
- Đánh giá kết quả bồi dưỡng chính là sản phẩm của việc thực hiện tư vấn về một lĩnh vực nào đó do Giáo viên thực hiện.
- Việc kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng được thực hiện thông qua kiểm tra kế hoạch tư vấn, việc xây dựng các nội dung tư vấn giáo dục phù hợp với thực tế không.
1.4.3. Phương pháp quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho giáo viên ở trường phổ thông Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
1.4.3.1. Phương pháp tâm lí – xã hội
Hiệu trưởng phải làm tốt công tác tư tưởng, công tác thuyết phục động viên đội ngũ Giáo viên chủ động, tích cực tham gia các hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục dục cho Học sinh.
Làm tốt công tác tư tưởng đối với Giáo viên sẽ giúp họ có động cơ, thái độ tích cực trong quá trình tham gia các hoạt động bồi dưỡng để phát triển năng lực Tư vấn giáo dục cho bản thân, Giáo viên có thái độ tích cực trong việc tập luyện, rèn luyện các kĩ năng tư vấn đã hình thành. Bên cạnh đó Giáo viên sẽ có những cách thức để động viên, khuyến khích học sinh trao đổi, chia sẻ với Giáo viên khi các em gặp những khó khăn trong học tập, trong các hoạt động xã hội khác.
Các phương pháp tâm lý – giáo dục là sự tác động đến đối tượng quản lý thông qua các quan hệ tâm lý, tư tưởng, tình cảm. Các yếu tố tạo động cơ thúc đẩy con người làm việc hàm chứa các yếu tố: Sự thành đạt, sự công nhận, khả năng thăng chức, sự thách thức, tinh thần trách nhiệm và khả năng phát triển. Người quản lí nếu biết xây dựng, phát triển động cơ này ở các thành viên của tổ chức của mình sẽ tạo lập sự say mê, phấn khởi, ý thức trách nhiệm, tinh thần sáng tạo đối với công việc, từ đó giúp Giáo viên chuyên tâm với các hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục.
1.4.3.2. Phương pháp thuyết phục động viên
Chủ thể quản lí tác động tới đội ngũ Giáo viên trong trường bằng cảm hóa, thuyết phục, động viên, kích thích họ nhận thức đúng về chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; quy định, quy chế của nhà trường, họ tự giác thực hiện các chủ trương đó.
Tăng cường tuyên truyền, thuyết phục Giáo viên nhận thức đúng về tầm quan trọng của công tác Tư vấn giáo dục cho học sinh trong trường cũng như tầm quan trọng của hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho đội ngũ Giáo viên, từ đó Giáo viên tích cực, chủ động tham gia vào quá trình này.
Cán bộ quản lí cần tăng cường thuyết phục Giáo viên làm tốt công tác tư vấn cho học sinh trong quá trình dạy học các môn văn hóa, qua tổ chức sinh hoạt tập thể, hoạt động xã hội, hoạt động đội, hoạt động hướng nghiệp… Đồng thời mỗi Giáo viên cần là người biết quan tâm, chia sẻ, động viên, khích lệ học sinh luôn thân thiện với học sinh để các em thấy tin tưởng và sẵn sàng tìm kiếm sự trợ giúp từ giáo viên khi có nhu cầu.
1.4.3.3. Phương pháp kinh tế Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
Phương pháp kinh tế là phương pháp lấy lợi ích về để vật chất tạo động lực thúc đẩy đội ngũ Giáo viên tự rèn luyện, tự bồi dưỡng để phát triển kĩ năng Tư vấn giáo dục cũng như tham gia tích cực vào các hoạt động bồi dưỡng do các cấp tổ chức. Thông qua hệ thống trả lương theo sản phẩm, thưởng phạt rõ ràng, phương pháp kinh tế kích thích giáo viên toàn tâm, toàn ý với công việc. Để thực hiện có hiệu quả phương pháp kinh tế trong giáo dục đòi hỏi nhà quản lí phải xây dựng được cơ chế chính sách trong nhà trường, xây dựng chế độ làm việc và bản mô tả công việc cho từng vị trí, từng chức danh. Đồng thời với các nhiệm vụ đó nhà trường cần có hệ thống kiểm tra, đánh giá về mức độ hoàn thành công việc của từng vị trí, có hệ thống thưởng phạt rõ ràng hay định mức chi trả hỗ trợ cho từng mảng công việc để khuyến khích cán bộ, giáo viên tham gia.
Các phương pháp kinh tế lấy lợi ích vật chất làm động lực thúc đẩy con người hành động. Các lợi ích được phân phối theo nguyên tắc làm theo năng lực, hưởng theo lao động. Người quản lí thực hiện các chức năng quản lí thông qua điều phối hợp lí quan hệ giữa lợi ích xã hội, tập thể và cá nhân, lợi ích giữa các cá nhân với nhau để tạo động lực cho giáo viên chuyên tâm với việc bồi dưỡng, phát triển kĩ năng tư vấn giáo dục của bản thân
1.4.3.4. Phương pháp tổ chức – Hành chính
Nhà trường xây dựng hệ thống các văn bản qui định việc thực hiện các hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên. Xác định rõ ràng trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong hoạt động này. Sử dụng hệ thống văn bản đã xây dựng như là một công cụ để điều khiển hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục của đội ngũ Giáo viên trong trường. Buộc cá nhân và tổ chức phải thực hiện theo đúng qui định do nhà trường đề ra.
Để đạt hiệu quả cao trong quản lí, hiệu trưởng cần sử dụng trong sự phối hợp các phương pháp nêu trên vì các phương pháp hành chính đảm bảo việc xác lập các cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của tổ chức. Nhờ đó, công việc chung của tổ chức được tiến hành nhanh chóng, thống nhất, triệt để. Phương pháp kinh tế có tác dụng tạo động lực cho hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục. Phương pháp tâm lý – xã hội, phương pháp thuyết phục động viên có tác dụng cảm hóa, giác ngộ, tạo niềm tin cho Giáo viên tích cực tham gia vào quá trình này.
Giáo dục là hiện tượng sư phạm xã hội, đối tượng chủ thể quản lí là những cá nhân. Quản lí giáo dục trong sự kết hợp giữa các phương pháp hành chính, các phương pháp tâm lí – xã hội và các phương pháp kinh tế sẽ giúp hệ thống đạt hiệu quả cao trong quản lí. Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động Bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục cho Giáo viên trường phổ thông dân tộc nội trú Trung học cơ sở
1.5.1. Yếu tố chủ quan
1.5.1.1. Năng lực quản lí của Hiệu trưởng
Hiệu trưởng là người lãnh đạo và dẫn dắt nhà trường thực hiện sứ mạng của mình, khác với người quản lí là người thực thi các quyết định của lãnh đạo nhà trường và đưa những quyết định đó thành kết quả thực tế. Vì thế, Hiệu trưởng phải là người có tầm nhìn xa, bởi đó là một trong những điều kiện tiên quyết để nhà trường có thể đi đúng hướng và đi xa. Một năng lực quan trọng của Hiệu trưởng phải là khả năng đánh giá đúng người khác, và khả năng thu phục nhân tâm, vì nhiệm vụ trọng yếu bậc nhất của Hiệu trưởng là đặt đúng người vào đúng chỗ. Để có thể thu phục nhân tâm, Hiệu trưởng phải là người chính trực, chân thật, và có khả năng truyền cảm hứng. Chính trực và chân thật được hiểu là nhất quán giữa suy nghĩ, lời nói và hành động. Họ phải có một nhân cách ổn định, có niềm tin vững chắc vào những giá trị đạo đức cốt lõi, nói năng cẩn trọng. Những phẩm chất này giúp Hiệu trưởng tạo ra sự đồng thuận và tinh thần cùng chia sẻ mục tiêu chung của nhà trường. Hiệu trưởng là người phải ra quyết định trong nhiều vấn đề quan trọng của nhà trường, vì thế người ta chờ đợi Hiệu trưởng là người kiên định trong mục tiêu, đồng thời mềm dẻo trong giải pháp. Đặc biệt, Hiệu trưởng phải cân nhắc mọi quyết định trên cơ sở lợi ích của nhà trường chứ không phải lợi ích của nhóm nhỏ và càng không phải là dựa trên được, mất của cá nhân mình.
Hiệu trưởng sử dụng những cách thức dưới đây để dẫn dắt, lãnh đạo phát triển Tư vấn giáo dục trong nhà trường:
- Xây dựng bầu không khí dân chủ: Cởi mở, hợp tác, cùng chia sẻ hỗ trợ lẫn nhau; mọi người đều được tôn trọng, luôn được coi trọng và có cơ hội thể hiện, phát triển khả năng của mình;
- Xây dựng cơ chế giám sát, đánh giá, khen thưởng hợp lí thúc đẩy mọi người nỗ lực làm việc;
- Mỗi Cán bộ quản lý, Giáo viên, NV trong trường đều có bản mô tả công việc, rõ trách nhiệm, quyền hạn và nghĩa vụ;
- Hiệu trưởng tăng cường dự giờ, trao đổi chuyên môn với Giáo viên đứng lớp về cách dạy và học;
- Làm cho Học sinh biết là các em được yêu thương, được quan tâm chăm sóc; Cố gắng bảo đảm cho Học sinh có một tương lai xứng đáng với sự đầu tư của cha/mẹ các em;
- Hiệu trưởng chia sẻ quyền lực, mạnh dạn trao quyền cho Giáo viên trong đó đề cao vai trò lãnh đạo hoạt động dạy học của Giáo viên;
- Cho mọi người thấy là bạn đang làm việc với cương vị là một Hiệu trưởng, đầy nhiệt tâm, luôn trách nhiệm và đầy tình yêu thương Học sinh; Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
- Hiệu trưởng nên có mặt thường xuyên trong trường và lớp học; tham gia dự càng nhiều những sinh hoạt của Học sinh thì càng tốt;
- Hiệu trưởng thường xuyên trau dồi kĩ năng giao tiếp; lắng nghe tất cả mọi người;
- Khuyến khích Học sinh tham gia vào các hoạt động giáo dục của trường và làm cho Học sinh hiểu rõ vai trò của họ;
- Hiệu trưởng luôn suy nghĩ để học hỏi, để đổi mới và nâng cao uy tín của mình trong trường.
Tóm lại, Hiệu trưởng nhà trường là người có năng lực quản lí, lãnh đạo, có năng lực tổ chức các hoạt động bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ chuyên môn, nâng cao năng lực sư phạm cho giáo viên sẽ tạo nên những ảnh hưởng tích cực trong quá trình quản lí hoạt động bồi dưỡng kĩ năng tư vấn giáo dục cho Giáo viên.
1.5.1.2. Trình độ chuyên môn và năng lực của Giáo viên.
Chất lượng đội ngũ luôn là mối quan tâm hàng đầu, bởi nó quyết định đến chất lượng dạy học và giáo dục Học sinh. Vì vậy, khi đưa ra các quyết định quản lí nói chung, hoạt động bồi dưỡng Năng lực tư vấn giáo dục nói riêng, nhà quản lí đặc biệt chú trọng vấn đề này. Thực tế tại nhiều trường Phổ thông nói chung và trường Phổ thông dân tộc nội trú Trung học cơ sở nói riêng cho thấy, rất nhiều Giáo viên có trình độ chuyên môn tốt, song năng lực tư vấn giáo dục cho Học sinh còn hạn chế, đa số Cán bộ quản lý, Giáo viên chưa được đào tạo hoặc bồi dưỡng về công tác Tư vấn giáo dục một cách bài bản, nhiều giáo viên đề cao vai trò dạy kiến thức, chưa quan tâm đúng mức đến công tác Tư vấn giáo dục. Điều này ảnh hưởng đến hoạt động bồi dưỡng Năng lực tư vấn giáo dục. Do đó, trong quá trình lựa chọn Giáo viên làm công tác tư vấn, nhà quản lí cần lựa chọn Giáo viên vừa có chuyên môn tốt, vừa có khả năng Tư vấn giáo dục cho Học sinh.
1.5.2. Yếu tố khách quan Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
1.5.2.1. Môi trường làm việc
Xây dựng một tập thể đoàn kết đoàn kết, nhất trí, chia sẻ, tương trợ nhau trong công việc là hết sức cần thiết. Từ chỗ hiểu về điều kiện, hoàn cảnh, năng lực chuyên môn để giúp đỡ nhau vươn lên. Xây dựng văn hoá nhà trường là môi trường thuận lợi để thực hiện có hiệu quả công tác Tư vấn giáo dục cho Học sinh.
Thực tế cho thấy ở nơi nào tập thể Giáo viên đoàn kết, nhất trí cao thì tại đó Giáo viên sẽ thực sự yên tâm cống hiến, phát huy hết mọi khả năng của bản thân để thực hiện công việc với hiệu quả cao nhất. Ngược lại, bản thân Giáo viên sẽ cảm thấy bị ức chế, phân tâm, thậm chí chán nản nếu tại nơi làm việc không có được sự ổn định, nội bộ đơn vị thường xuyên lục đục và như vậy sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến công tác quản lí hoạt động giáo dục và dạy học của Hiệu trưởng tại cơ sở giáo dục đó.
Trường Phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở là môi trường mà ở đó, mọi sinh hoạt, học tập, rèn luyện của Học sinh đều dưới sự chỉ dẫn của thầy, cô. Do vậy bên cạnh nhiệm vụ dạy học và giáo dục giống như môi trường giáo dục phổ thông khác thì thầy, cô còn là cha, mẹ thứ hai của Học sinh. Với yêu cầu đó mỗi Giáo viên tự đặt cho mình nhiệm vụ thường xuyên rèn luyện, tìm hiểu tính cách của mỗi học sinh để giúp Học sinh hoàn thiện bản thân.
1.5.2.2. Sự phối hợp giữa Gia đình – Nhà trường – Xã hội
Gia đình – Nhà trường – Xã hội cùng tác động đến Học sinh với cùng một mục đích là giáo dục và hoàn thiện nhân cách Học sinh, đồng thời chúng cũng có những tác động hỗ trợ nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Giáo dục trong nhà trường tuy có tính độc lập tương đối, nhưng không thể thực hiện giáo dục thành công nếu chỉ bó hẹp giáo dục trong nhà trường. Học sinh có bao nhiêu mối quan hệ thì cũng có bấy nhiêu sự tác động đến, lẽ đương nhiên trong đó có những tác động tích cực và cũng có những tác động tiêu cực. Vì vậy Gia đình – Nhà trường – Xã hội cùng phải có vai trò trong việc Tư vấn giáo dục cho Học sinh.
Trên thực tế, có những nội dung giáo dục phải nhờ các lực lượng xã hội mới tổ chức thành công: Bác sĩ tham gia tư vấn giáo dục sức khỏe sinh sản; Công an tham gia tuyên truyền và phổ biến pháp luật; Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Đội TNTP Hồ Chí Minh trong việc tổ chức các phong trào, giáo dục thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp,… Nếu các tổ chức xã hội của địa phương cùng thực hiện tốt vai trò hỗ trợ Tư vấn giáo dục trong nhà trường, đồng thời xây dựng môi trường xã hội tốt ngoài nhà trường thì Học sinh sẽ rất thuận lợi trong việc biến những nhận thức của mình thành hành vi mang tính chuẩn mực.
Gia đình là môi trường gần gũi nhất, thuận lợi nhất cho Học sinh trong quá trình hình thành nhân cách và các hành vi chuẩn mực. Những chuẩn mực tốt của Học sinh (tính tích cực trong học tập, có kĩ năng sống, định hướng nghề nghiệp,…) đều có thể được phát huy và hoàn thiện trong môi trường gia đình. Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
Đối với trường Phổ thông dân tộc nội trú, nhà trường là ngôi nhà thứ hai của các em. Thày, cô là người thay mặt bố, mẹ các em chăm sóc, nôi dạy. Việc xây dựng nhà trường thực sự là một môi trường tốt, ở đó có sự hoà thuận, tôn trọng nhau, thân thiện và cởi mở, cùng yêu thương, giúp đỡ và có trách nhiệm với nhau thì đó là môi trường tốt để Học sinh học tập, rèn luyện và phát triển toàn diện nhân cách ở các em.
1.5.2.3. Tác động của công nghệ thông tin
Công nghệ thông tin đã góp phần làm thay đổi nội dung, phương pháp, phương thức dạy và học, đồng thời công nghệ thông tin cũng từng bước làm thay đổi phương thức quản lý nhà trường, quản lý hệ thống giáo dục. Hiện nay các đơn vị, trường học gần như phổ biến triển khai các hệ thống quản lý như: Quản lý thi, Quản lý tài chính-tài sản, Quản lý cán bộ-giáo viên, Quản lý học sinh, sinh viên, quản lý thông tin giáo dục,…Các hệ thống này thực sự đã mang lại hiệu quả cao trong đổi mới công tác quản lý, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục.
Ứng dụng công nghệ thông trên mạng giáo dục phong phú, nở rộ. Nhiều tổ chức xã hội tham gia phát triển các dịch vụ trên mạng Internet như đào tạo trực tuyến, quản lý giáo dục trực tuyến…
Mạng giáo dục là nền tảng đầu tiên xây dựng mô hình giáo dục điện tử. Nhờ có mạng giáo dục, người học ở mọi lứa tuổi sẽ có điều kiện phát huy tính tích cực tự học, học ở mọi nơi, mọi lúc và học tập suốt đời, mềm dẻo, hiệu quả.
Với nhiều ưu điểm của công nghệ thông tin nhà quản lí cần biết khai thác các thế mạnh, hạn chế các mặt trái để thục hiện có hiệu quả công tác quản lí hoạt đọng bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
BDNLTVGD cho Giáo viên được xem là một trong các tiêu chí nâng cao năng lực sư phạm. Phát triển đội ngũ giáo viên luôn là vấn đề chiến lược của mỗi nhà trường, vì đội ngũ giáo viên mang yếu tố hàng đầu quyết định chất lượng giáo dục. Đó là nguồn duy nhất đào tạo nguồn nhân lực có khả năng hiện thực hóa mọi kế hoạch cho tương lai, đặc biệt trong thế kỷ XXI được xem là thế kỉ của công nghệ thông tin và kinh tế tri thức. Vì thế, nâng cao chất lượng giáo viên được xem là khâu đột phá, trọng tâm của công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đặc biệt là giáo dục phổ thông. Giáo viên được coi như yếu tố then chốt của cải cách, đổi mới giáo dục.
Quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên là rất cần thiết và quan trọng đối với trường phổ thông nói chung và còn cần thiết hơn đối với trường phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở bởi nhà trường không chỉ quản lí việc học tập mà còn phải quản lí toàn bộ hoạt động ăn, ở, sinh hoạt… bao gồm cả hoạt động tự học, hoạt động văn hóa, thể thao, các kĩ năng trong cuộc sống của Học sinh. Mọi hoạt động quản lí này đều phải có tổ chức và điều hành do vậy người Hiệu trưởng phải chú trọng đến phương pháp, nội dung, hình thức tổ chức, kiểm tra, đánh giá năng lực sư phạm, trong đó có năng lực Tư vấn giáo dục của mỗi Giáo viên. Quản lí cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, tạo điều kiện và môi trường thuận lợi phục vụ cho hoạt động dạy học và giáo dục, có như vậy chất lượng giáo dục của nhà trường mới đạt hiệu quả cao nhất.
Các vấn đề trình bày ở trên chỉ là cơ sở lí luận, còn việc đưa ra các biện pháp quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên một cách khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn của nhà trường, phù hợp với đặc điểm Học sinh, có tính khả thi nhằm nâng cao kết quả giáo dục cần phải nghiên cứu thực trạng dạy học và giáo dục, thực trạng quản lí hoạt động bồi dưỡng năng lực Tư vấn giáo dục cho Giáo viên ở trường phổ thông Dân tộc nội trú Trung học cơ sở tỉnh Thái Nguyên trong giai đoạn hiện nay. Luận văn: Quản lí bồi dưỡng năng lực tư vấn giáo dục ở giáo viên.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng QL bồi dưỡng năng lực giáo dục ở giáo viên
