Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật cho học sinh các trường Trung học phổ thông tại thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội. Nó là phương tiện bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường của xã hội nói chung và của nền đạo đức nói riêng. Pháp luật không chỉ là một công cụ quản lý nhà nước hữu hiệu, mà còn tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của ý thức đạo đức, làm lành mạnh hoá đời sống xã hội và góp phần bồi đắp nên những giá trị mới. Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, việc tăng cường vai trò của pháp luật được đặt ra như một tất yếu khách quan. Điều đó không chỉ nhằm mục đích xây dựng một xã hội có trật tự, kỷ cương, văn minh, mà còn hướng đến bảo vệ và phát triển các giá trị chân chính. Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
Trong chiến lược phát triển Kinh tế – Xã hội, Đảng ta đã xác định “Giáo dục và Đào tạo là quốc sách hàng đầu” nhằm tạo ra lớp người mới làm chủ tương lai của đất nước. Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1996) đã khẳng định: “Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của Giáo dục Việt Nam là nhằm xây dựng những con người mới có đầy đủ phẩm chất, năng lực, trí tuệ, sức khỏe, có tính tổ chức kỷ luật để kế thừa xây dựng đất nước”. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) tiếp tục khẳng định quan điểm chỉ đạo “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân”, với nhiệm vụ, giải pháp “Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2013). Đại hội XII tiếp tục xác định phương hướng nhiệm vụ của giáo dục: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2015). Luật Giáo dục năm 2005 (Quốc hội, 2005), sửa đổi bổ sung năm 2009 (Quốc hội, 2009) nêu rõ hệ thống môn học và hoạt động giáo dục phải góp phần giúp học sinh “phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân…”. Từ điều này, chúng ta có thể khẳng định: mục tiêu và động lực phát triển của nền giáo dục là giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện. Trong đó, giáo dục nhân cách là ưu tiên hàng đầu; giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật của thế hệ trẻ được nhấn mạnh đề cao.
Ngày 20/11/2009, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1928/QĐ-TTg (Chính phủ, 2009) phê duyệt đề án: “Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhà trường”. Đây còn gọi là Đề án 1928. Mục tiêu của đề án này là nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác phổ biến, Giáo dục pháp luật trong nhà trường. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật và hành vi chấp hành pháp luật của nhà giáo, CÁN BỘ QUẢN LÝ cơ sở giáo dục và người học, góp phần ổn định môi trường giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
Để thực hiện Đề án 1928 của Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã xây dựng chương trình hành động, nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho cán bộ, công chức, nhà giáo, người lao động, người học trong toàn ngành; góp phần tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục. Đồng thời, Bộ cũng ban hành nhiều văn bản, thông tư chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện việc phổ biến, Giáo dục pháp luật trong các cấp học, đặc biệt là việc phổ biến, Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông.
Tuy nhiên, hiện nay, do áp lực về thi cử, điểm số, thành tích còn đặt nặng nên một số nhà trường Trung học phổ thông chỉ quan tâm, coi trọng việc “dạy chữ” để đảm bảo thành tích, phục vụ thi cử, ít quan tâm đến giáo dục đạo đức, ý thức công dân và trang bị kiến thức pháp luật. Dù môn Giáo dục công dân (GDCD), môn giáo dục pháp luật chủ yếu trong nhà trường, đã trở thành môn học chính khóa từ năm học 1988 – 1989 và trở thành một trong những môn thi tốt nghiệp từ kỳ thi Trung học phổ thông Quốc gia năm 2017 nhưng trong tâm lý của phần lớn Giáo viên, phụ huynh và học sinh vẫn bị coi là môn phụ, môn học điều kiện không được coi trọng như các môn học khác. Việc Giáo dục pháp luật cho học sinh hầu như vẫn chỉ dừng ở mức “thực hiện văn bản chỉ đạo”. Thực tế Giáo dục pháp luật trong các trường phổ thông cho thấy: Tình trạng Thầy đọc Trò chép vẫn còn diễn ra , học sinh tiếp thu kiến thức thu ̣đông̣ , môṭ chiều, tiết hoc̣ vì thế mà trở nên năng̣ nề, kém hiệu quả . Do không “ngấm” đươc̣ những kiến thức cần thiết, cơ bản về pháp luâṭ, nhiều hành vi vi phaṃ của học sinh, nhất là ở những lớp cuối của bâc̣ hoc̣ phổ thông vâñ “vô tư” diêñ ra . Điều này cũng là một trong những nguyên nhân không nhỏ dẫn đến việc một bộ phận thanh niên, học sinh không xác định đúng mục đích cuộc sống, thiếu trách nhiệm với bản thân, gia đình và xã hội. Nhiều vụ việc vi phạm pháp luật, thậm chí là vi phạm pháp luật nghiêm trọng xảy ra trong nhà trường do chính học sinh gây nên gây tâm lý hoang mang trong tập thể học sinh, phụ huynh đã trở thành vấn đề nhức nhối của xã hội. Chính vì vậy, công tác Giáo dục pháp luật trong nhà trường cần được quan tâm một cách đầy đủ hơn. Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
Để Giáo dục pháp luật thực sự đảm bảo đúng vai trò: góp phần trang bị tri thức cho học sinh; góp phần xây dựng nếp sống văn hóa và xây dựng tập thể học sinh vững mạnh toàn diện; giúp các em hiểu được điều hay lẽ phải, nhận biết được những chuẩn mực tốt đẹp về lòng nhân ái, sự công bằng, bình đẳng, có lòng khoan dung, biết yêu và trọng cái đẹp, cái chân chính, biết ghét cái ác, tránh xa cái xấu, biết ứng xử đúng đạo lý làm người; trực tiếp ngăn ngừa việc vi phạm pháp luật, góp phần hoàn thiện nhân cách cho học sinh thì việc Giáo dục pháp luật cần phải thực hiện đồng bộ thông qua dạy học chính khóa môn Giáo dục công dân; các hoạt động giáo dục pháp luật ngoài giờ lên lớp và lồng ghép trong hoạt động dạy học các môn Khoa học Tự nhiên và Khoa học Xã hội; cần có sự đổi mới về nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục.
Hoạt động giảng dạy tích hợp nói chung và tích hợp Giáo dục pháp luật nói riêng là xu thế, là một trong những đường hướng đổi mới trong Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 cũng như định hướng vận dụng đường hướng đổi mới của Chương trình giáo dục phổ thông năm 2018 cho Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện thì vẫn còn gặp không ít khó khăn như: sự quan tâm thực hiện của nhà quản lý, ý thức trách nhiệm cũng như khả năng tích hợp của đội ngũ giáo viên và các lực lượng phối hợp, nội dung tích hợp . . .
Đồng Xoài là thành phố thuộc tỉnh mới được thành lập từ ngày 01 tháng 12 năm 2018, là trung tâm hành chính, văn hóa, xã hội của tỉnh Bình Phước. Trong những năm qua, thành phố phát triển khá nhanh về mọi mặt. Kết quả của công tác GD&ĐT ngày càng nâng cao. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh về hạ tầng cơ sở vật chất, nhất là sự phát triển về công nghệ thông tin ngoài yếu tố tích cực không thể phủ nhận thì mặt tiêu cực của nó cũng đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển nhân cách, ý thức pháp luật của học sinh các trường phổ thông trên địa bàn. Phim ảnh và các video clip có nội dung bạo lực, đồi trụy; nạn cờ bạc, ma túy, rượu bia… đang từng bước tấn công tuổi trẻ và xâm nhập vào các nhà trường. Đã có không ít học sinh bị lôi kéo, sa ngã vi phạm pháp luật đến mức phải bỏ học. Điều này cảnh báo về những bất cập trong công tác giáo dục đạo đức, Giáo dục pháp luật hiện nay của xã hội nói chung và của nhà trường nói riêng. Các trường phổ thông ở thành phố Đồng Xoài đã ý thức cao về điều này và đang đẩy mạnh các hoạt động Giáo dục pháp luật để trang bị kiến thức, giáo dục hành vi cho học sinh, ngăn chặn các tác động xấu xâm nhập vào học sinh và nhà trường. Tuy nhiên, hiện nay việc tổ chức Giáo dục pháp luật và quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật trong các trường Trung học phổ thông còn nhiều hạn chế. Do hướng dẫn của Bộ GD&ĐT còn mang tính khái quát, chung chung nên các nhà trường vẫn thực hiện việc Giáo dục pháp luật mang tính “nội bộ”, dẫn đến sự khác nhau về nội dung, thời lượng được tích hợp, lồng ghép Giáo dục pháp luật giữa các giáo viên và các trường. Từ đó chưa có sự phối hợp đồng bộ, thống nhất, chưa huy động được tối đa các lực lượng tham gia Giáo dục pháp luật cho học sinh. Vì vậy, việc quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật trong các nhà trường chưa được đồng bộ. Kết quả của việc Giáo dục pháp luật chưa đạt được yêu cầu đặt ra. Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
Từ thực tế công tác quản lý hoạt động Giáo dục pháp luật của các trường Trung học phổ thông và những lý do đã nêu trên, tôi chọn đề tài: “Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật cho học sinh các trường Trung học phổ thông tại thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước “ làm đề tài nghiên cứu.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật, tìm hiểu thực trạng công tác quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh của các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đồng Xoài nhằm xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật góp phần thực hiện quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh được tốt hơn, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
- 3.1. Khách thể nghiên cứu: Hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh ở trường Trung học phổ thông
- 3.2. Đối tượng nghiên cứu: Quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh ở trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước
4. Giả thuyết khoa học
Việc quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh ở trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước đã được các nhà trường lập kế hoạch triển khai thực hiện, song mức độ quan tâm triển khai, hình thức tổ chức và phương pháp tích hợp Giáo dục pháp luật vẫn còn một số bất cập. Nếu đánh giá đúng thực trạng và phân tích được các nguyên nhân của thực trạng thì đề tài sẽ đề xuất những biện pháp quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh có tính cần thiết và khả thi cao.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- 5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh trường Trung học phổ thông.
- 5.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
- 5.3. Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh trường Trung học phổ thông nhằm nâng cao chất lượng dạy học ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
6. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
6.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu, phân loại tài liệu… nhằm xây dựng cơ sở lý luận về hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật, quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh trường Trung học phổ thông và nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh trường Trung học phổ thông.
6.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Sử dụng các phương pháp thực tiễn (phương pháp quan sát, phương pháp điều tra, phương pháp phỏng vấn) nhằm khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn nghiên cứu.
6.2.1. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Thu thập thông tin về quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh, thông qua sản phẩm hoạt động quản lý, hoạt động giảng dạy và học tập.
6.2.2. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phối hợp với các phương pháp khác để thu lại kết quả khách quan nhất, đồng thời chúng tôi cũng dùng phương pháp này để khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh đề xuất.
6.2.3. Phương pháp phỏng vấn
Khẳng định thêm những vấn đề được trả lời trong phiếu điều tra và thu thập thêm thông tin thực tiễn liên quan đến đề tài nghiên cứu mà chưa được trả lời rõ ràng trong số liệu điều tra viết, đồng thời đây cũng là phương pháp hỗ trợ cho các phương pháp khác.
6.3. Nhóm phương pháp nghiên cứu dữ liệu
Xử lý các số liệu, các thông tin trong quá trình nghiên cứu, điều tra thu thập được trên phần mềm SPSS. Nhờ đó xác định được kết quả một cách khách quan nhằm rút ra kết luận khoa học. Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
7. Phạm vi nghiên cứu
- 7.1. Nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu công tác quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước thông qua hoạt động dạy – học các môn học và hoạt động ngoài giờ lên lớp.
- 7.2. Không gian: Tại 04 trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
- 7.3. Thời gian: Đề tài nghiên cứu, khảo sát, đánh giá trong thời gian 3 năm học liền kề từ 2017 -2020.
- 7.4. Giới hạn khách thể khảo sát: CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh 04 trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
8. Đóng góp của đề tài
Phân tích thực trạng hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông và quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật của Hiệu trưởng các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
Đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh THPT trên địa bàn thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được trình bày theo 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh trường Trung học phổ thông
- Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước
- Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TÍCH HỢP GIÁO DỤC PHÁP LUẬT Ở TRƯỜNG Trung học phổ thông
1.1. Khái quát lịch sử nghiên cứu quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật ở trường Trung học phổ thông
Trong quá trình phát triển lịch sử nhân loại, cùng với nhà nước, pháp luật ra đời nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội. Bên cạnh đạo đức và dư luận xã hội, pháp luật là công cụ quản lý xã hội chủ yếu của nhà nước nhằm hướng các quan hệ xã hội phát triển theo một trật tự phù hợp. Pháp luật có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo và bảo vệ trật tự ổn định xã hội, thiết lập công bằng xã hội. Pháp luật là phương tiện định hướng cho những hành vi xử sự hợp quy luật của con người, đồng thời là phương tiện quan trọng để giáo dục mọi người. Pháp luật là cơ sở để giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội. “Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật.” (Quốc hội, 2013).
Trong quá trình đổi mới của đất nước, việc xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa đòi hỏi phải xây dựng một xã hội mà mọi người luôn tôn trọng pháp luật, sống và làm việc theo pháp luật. “Bảo đảm pháp luật vừa là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội, vừa là công cụ để nhân dân làm chủ, kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2015). Để làm được điều này thì việc đẩy mạnh nâng cao Giáo dục pháp luật trong xã hội nói chung và Giáo dục pháp luật cho học sinh là một việc làm cấp thiết.
Ngay từ những năm tám mươi của thế kỷ XX, Giáo dục pháp luật trong ngành giáo dục đã được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng. Việc Giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức pháp luật cho học sinh, sinh viên không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực nhằm xây dựng và hoàn thiện mô hình nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa.
Từ những đòi hỏi cấp thiết như vậy, đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về vấn đề Giáo dục pháp luật và Giáo dục pháp luật cho học sinh phổ thông.
1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
Liên Hiệp Quốc phê chuẩn Công ước về quyền trẻ em (The United Nations, 1989) ngày 20 tháng 11 năm 1989 ở Thành phố New York. Với 196 các quốc gia trên thế giới là thành viên tham gia ký, ngoại trừ Hoa Kỳ. Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và nước thứ 2 trên thế giới phê chuẩn để trẻ em có quyền tiếp cận nước, thức ăn, được chăm sóc y tế, giáo dục và chăm sóc hưởng các quyền lợi liên quan. Như vậy, để trẻ hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình trước pháp luật, Liên hiệp quốc đã ban hành luật và yêu cầu các nước tham gia có nghĩa vụ phải chăm sóc, giáo dục pháp luật cho trẻ….
Tạp chí Nghiên cứu và Phản ánh của Châu Âu về Khoa học Giáo dục (Abduganiyev. O, 2019) đã nêu định hướng: “Phát triển năng lực nhằm mục đích giáo dục pháp lý cho học sinh của các trường trung học cũng như sự hình thành năng lực cạnh tranh của học sinh có được nhận thức và kiến thức pháp lý trong lĩnh vực giáo dục và khoa học. Bằng cách có được kiến thức về năng lực pháp lý, học sinh học các khái niệm về hiến pháp, nhà nước, luật pháp, nghĩa vụ, quyền công dân, nhân loại, luật pháp, đạo đức, kiến thức về quyền và tuân thủ pháp luật, đạo đức và các quy tắc pháp lý, kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm và năng lực.”
Năm 2006, Hội thảo khoa học Quốc tế diễn ra ở Pháp để bàn về Giáo dục pháp luật. Hội thảo này đã đưa ra các vấn đề về mục tiêu, nội dung, hình thức, sự đa dạng hóa Giáo dục pháp luật…đối với cộng đồng và trẻ em. Và Hội thảo cũng khẳng định cần phải phổ biến Giáo dục pháp luật Quốc tế cùng với Giáo dục pháp luật của mỗi quốc gia nhằm đáp ứng yêu cầu toàn cầu hóa (Vũ Thị Thu Thủy, 2018).
Năm 2012, Hội thảo khoa học quốc tế “GDPL ở Châu Á trong bối cảnh toàn cầu hóa và nhà nước pháp quyền” đã được tổ chức ở Seoul- Hàn Quốc. Tại hội thảo, các tham luận tham gia đều có chung nhận định là Giáo dục pháp luật có vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy xây dựng thị trường ổn định, tạo cơ sở pháp lý cho sự bình đẳng trong cơ hội phát triển của con người và công bằng xã hội.
Khaxanova X.A đã đưa ra các nghiên cứu lý luận về Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông ở Liên Bang Nga, tác giả nêu ra: mô hình Giáo dục pháp luật phù hợp với Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông, chỉ ra các điều kiện, các yếu tố ảnh hưởng đến Giáo dục pháp luật và đưa ra các kiến nghị đổi mới cách thức, hình thức, phương pháp dạy học pháp luật ở trường phổ thông (dẫn theo Vũ Thị Thu Thủy, 2018).
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu nhiều về hai vấn đề: phổ biến pháp luật và Giáo dục pháp luật. Về Giáo dục pháp luật phải nói tới bài viết “Bàn về giáo dục pháp luật” của hai tác giả Trần Ngọc Đương và Dương Thanh Mai (Trần Ngọc Đương và Dương Thanh Mai, 1995). Qua bài viết này, hai tác giả đã cung cấp những kiến thức cơ bản, quan trọng về Giáo dục pháp luật và là một tài liệu quan trọng để các nhà nghiên cứu tham khảo khi nghiên cứu về Giáo dục pháp luật cho học sinh.
Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu khác như: “GDPL trong các trường đại học, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề (không chuyên luật) ở nước ta hiện nay (Đinh Xuân Thảo, 1996); Giáo dục pháp luật cho học sinh trong trường Trung học phổ thông ở Việt Nam (Trần Thị Sáu, 2012). Luận án tiến sĩ “GDPL cho sinh viên các trường đại học không chuyên luật ở Việt Nam” (Phan Hồng Dương, 2014). Các tài liệu này thuộc lĩnh vực giáo dục học và luật học nghiên cứu Giáo dục pháp luật cho các đối tượng khác nhau trong xã hội, trên cơ sở nghiên cứu lý luận: về mục đích, nội dung, hình thức giáo dục và khảo sát thực tiễn đưa ra các biện pháp, các giải pháp giáo dục, nhằm nâng cao chất lượng Giáo dục pháp luật cho mọi người trong xã hội.
Năm 2008, trong luận án tiến sĩ “GDPL trong các trường chính trị tỉnh ở miền Tây Nam Bộ” (Đoàn Thị Thanh Hường, 2008) đã đề xuất các giải pháp về Giáo dục pháp luật và quản lý Giáo dục pháp luật mới nhằm nâng cao chất lượng Giáo dục pháp luật trong các trường chính trị tỉnh. Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
Những nghiên cứu liên quan đến quản lý Giáo dục pháp luật:
Năm 2017, Ðỗ Thị Thu Hằng trong luận án tiến sĩ “Quản lý hoạt động tham gia Giáo dục pháp luật cho sinh viên không chuyên luật trong các trường đại học” (Đỗ Thị Thu Hằng, 2017) đã xác định hoạt động tham gia Giáo dục pháp luật cho sinh viên không chuyên luật và quản lý hoạt động tham gia Giáo dục pháp luật cho sinh viên không chuyên luật tại các trường đại học và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động tham gia Giáo dục pháp luật cho sinh viên không chuyên luật thuộc các trường đại học.
Các công trình nghiên cứu về quản lý Giáo dục pháp luật còn thể hiện trong các bài báo đăng tải trên các Tạp chí khoa học có thể kể ra một số công trình: “Một số vấn đề lý luận về quản lý hoạt động tham gia Giáo dục pháp luật của trường Ðại học không chuyên Luật” (Đỗ Thị Thu Hằng, 2016); “Quản lý dạy học các môn pháp luật ở loại hình đào tạo trình độ trung cấp trong các trường Công an nhân dân” (Lê Minh Tuấn, 2015)
Các nghiên cứu về quản lý Giáo dục pháp luật trong nhà trường phổ thông cần nói đến luận án tiến sĩ “Quản lý Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông trong bối cảnh hiện nay” (Vũ Thị Thu Thủy, 2018). Trên cơ sở khảo sát và đánh giá thực trạng hoạt động Giáo dục pháp luật, quản lý Giáo dục pháp luật cho học sinh tại các trường Trung học phổ thông thuộc Hà Nội, Lào Cai, Lâm Ðồng, Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả đã hoàn thiện và làm phong phú lý luận về quản lý Giáo dục pháp luật cho học sinh các trường Trung học phổ thông; phát hiện nguyên nhân của quản lý Giáo dục pháp luật cho học sinh các trường Trung học phổ thông trên địa bàn toàn quốc Việt Nam; đề xuất và khẳng định hiệu quả của 06 biện pháp quản lý Giáo dục pháp luật cho học sinh các trường Trung học phổ thông. Có thể coi đây là một tài liệu quan trọng để các nhà nghiên cứu tham khảo khi nghiên cứu về quản lý Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông.
Cùng nghiên cứu về quản lý Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông còn kể đến các đề tài thạc sĩ như: “Quản lý Giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường Trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Nam Ðịnh” (Nguyễn Tấn Tài, 2017); đề tài “Quản lý hoạt động Giáo dục pháp luật ở các trường THCS quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng” (Lê Thị Minh Tâm, 2017).
Về mảng tích hợp Giáo dục pháp luật có đề tài luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục.“Tích hợp Giáo dục pháp luật trong môn Giáo dục công dân ở Trung học cơ sở” (Hà Đức Kiêm, 2014). Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
Nhìn chung các tài liệu nghiên cứu nước ngoài và trong nước đều khẳng định Giáo dục pháp luật cho học sinh là việc làm rất cần thiết và cấp thiết hiện nay. Mặc dù việc Giáo dục pháp luật ở các trường Trung học phổ thông đã có sự quan tâm nhất định của các nhà quản lý, tuy nhiên, mức độ vẫn có thể nói là chưa tương xứng với tầm quan trọng của nó. Vì vậy các tác giả, dù nghiên cứu Giáo dục pháp luật nói chung hay Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông nói riêng cũng đều đưa ra những giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn nhiệm vụ này trong xã hội và trong ngành giáo dục.
Một trong những biện pháp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông được áp dụng rộng rãi và thường xuyên, thậm chí được coi là biện pháp chủ đạo, đó là tích hợp Giáo dục pháp luật. Tuy nhiên hiện nay chưa có đề tài nào trực tiếp nghiên cứu về quản lý tích hợp GDPL trong nhà trường phổ thông nói chung cũng như quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật trong trường Trung học phổ thông ở thành phố Đồng Xoài tỉnh Bình Phước nói riêng. Chính vì vậy, từ tham khảo và kế thừa kết quả nghiên cứu của công trình những người đi trước, tôi mạnh dạn thực hiện đề tài “Quản lý tích hợp giáo dục pháp luật cho học sinh các trường Trung học phổ thông tại thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước”.
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Khái niệm về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường Trung học phổ thông
1.2.1.1. Khái niệm về quản lý
Quản lý là một chức năng lao động bắt nguồn từ tính chất lao động của xã hội. Từ khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, thì nhu cầu quản lý cũng hình thành như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêu chung. Quản lý là hiện tượng tồn tại trong mọi chế độ xã hội. Bất kỳ ở đâu, lúc nào con người có nhu cầu kết hợp với nhau để đạt mục đích chung đều xuất hiện quản lý. Quản lý trong xã hội nói chung là quá trình tổ chức điều hành các hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu và yêu cầu nhất định dựa trên những quy luật khách quan. Xã hội càng phát triển, nhu cầu và chất lượng quản lý càng cao.
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về quản lý. Có thể nói quản lý bao giờ cũng xuất hiện cùng với nhu cầu phải phân công và phối hợp trong lao động. C.Mác cho rằng: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” (C.Mác và Ph. Ăngghen, 2002). Quản lý xã hội là hoạt động gắn liền với sự hình thành xã hội loài người, gắn liền với sự liên kết con người với nhau để sống và làm việc. Loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau, nên cũng đã trải qua nhiều hình thức quản lý khác nhau. Hoạt động quản lý gắn liền với sự hình thành và phát triển của các tổ chức trong xã hội với tư cách là tập hợp những người được điều khiển, định hướng, phối hợp với nhau theo một cách thức định trước nhằm đạt tới một mục tiêu chung nào đó. Trong tất cả các tổ chức đều có những người làm nhiệm vụ gắn kết những người khác, điều khiển người khác giúp cho tổ chức hoàn thành mục tiêu của mình. Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
Trước tiên, theo cách tiếp cận hệ thống thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý (hay là đối tượng quản lý) nhằm tổ chức, phối hợp hoạt động của con người trong quá trình sản xuất – xã hội để đạt được mục đích đã định.
Trong quá trình tồn tại và phát triển của quản lý, đặc biệt trong quá trình xây dựng lý luận về quản lý, tùy thuộc vào lĩnh vực hoạt động nghiên cứu khoa học của mỗi người mà khái niệm quản lý được các nhà lý luận trình bày có phần khác nhau.
Theo H. Koontz (người Mỹ): “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân để đạt được mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường, trong đó, con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” (Harold Koontz, 1994).
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra.” (Nguyễn Minh Đạo, 1997)
Theo Mai Hữu Khuê: “Hoạt động quản lý là một dạng hoạt động đặc biệt của người lãnh đạo mang tính tổng hợp của các loại lao động trí óc, liên kết bộ máy quản lý thành một chỉnh thể thống nhất điều hòa phối hợp các khâu và các cấp quản lý làm cho hoạt động nhẹ nhàng đưa đến hiệu quả.” (Mai Hữu Khuê, 1996)
Tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.” (Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt, 1987 )
Tác giả Nguyễn Bá Sơn thì cho rằng: “Quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý bằng một hệ thống các giải pháp nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, đưa hệ thống tiếp cận mục tiêu cuối cùng, phục vụ lợi ích con người.” (Nguyễn Bá Sơn, 2000)
Ngoài ra, nhiều tác giả khác cũng đưa ra các định nghĩa về quản lý với các cách diễn đạt và dùng ngôn từ khác nhau, song khái niệm quản lý đều thể hiện: Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
- Quản lý là một thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động xã hội. Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại và phát triển.
- Quản lý là sự tác động có ý thức, hợp quy luật giữa chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt tới mục tiêu đề ra.
- Yếu tố con người giữ vai trò trung tâm của hoạt động quản lý.
- Quản lý là một hoạt động được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm người trong xã hội.
- Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật.
Từ những quan niệm này cho thấy, quản lý là một hoạt động liên tục và cần thiết khi con người kết hợp với nhau trong tổ chức. Đó là quá trình tạo nên sức mạnh gắn liền các hoạt động của các cá nhân với nhau trong một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung.
Từ đây, có thể hiểu khái niệm như sau: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý bằng các phương thức nhất định nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường. Quản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực của tổ chức.
1.2.1.2. Khái niệm về quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là một bộ phận quan trọng của hệ thống quản lý xã hội. Khoa học quản lý giáo dục xuất hiện sau so với khoa học quản lý kinh tế. Ở các nước phương Tây, người ta vận dụng lý luận quản lý xí nghiệp vào quản lý cơ sở giáo dục và coi quản lý cơ sở giáo dục như quản lý một loại “Xí nghiệp” đặc biệt. Với cách tiếp cận khác nhau, các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm quản lý giáo dục như sau:
Theo tác giả M.I. Konzacov: “Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (từ bộ đến trường) nhằm mục đích bảo đảm việc giáo dục Cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện và hài hòa của họ. Trên cơ sở nhận thức và sử dụng các quy luật chung vốn có của Chủ nghĩa xã hội, cũng như các quy luật khách quan của quá trình dạy học – giáo dục, của sự phát triển về thể chất và tâm lý của trẻ em, thiếu niên cũng như thanh niên” (M.I.Konzacov, 1994).
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” (Đặng Quốc Bảo, 1998)
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang và tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện các tính chất của nhà trường Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” (Nguyễn Ngọc Quang, 1986) và (Phạm Minh Hạc, 1999).
Trong nghiên cứu của mình tác giả Nguyễn Tấn Tài đã khái quát khái niệm: Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có kế hoạch, có hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu, các bộ phận của hệ thống nhằm đảm bảo cho các cơ quan trong hệ thống giáo dục vận hành tối ưu, bảo đảm sự phát triển mở rộng cả về số lượng cũng như chất lượng để đạt được mục tiêu giáo dục (Nguyễn Tấn Tài, 2017). Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
Bằng các cách tiếp cận khác nhau các tác giả đưa ra cách diễn đạt khác nhau về quản lý giáo dục, song các khái niệm đều đi đến nội dung thống nhất. Chúng ta có thể khái quát như sau: Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu, các yếu tố, các quá trình của hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống vận hành, ổn định và phát triển bền vững, đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến, một trạng thái mới về chất.
1.2.1.3. Khái niệm về quản lý nhà trường
Quản lý giáo dục ở phạm vi hẹp là quản lý nhà trường vì nhà trường là nơi tổ chức thực hiện mục tiêu giáo dục. Nhà trường là đơn vị cơ sở trực tiếp giáo dục – đào tạo, là cơ quan chuyên môn của ngành GD&ĐT, hoạt động của nhà trường rất đa dạng, phong phú và phức tạp, nên việc quản lý, lãnh đạo chặt chẽ, khoa học sẽ bảo đảm đoàn kết, thống nhất được mọi lực lượng, tạo nên sức mạnh đồng bộ nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục đích giáo dục.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ, nhân viên khác nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, các lực lượng xã hội đóng góp và lao động xây dựng vốn tự có; hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ; thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường lên trạng thái mới” (Nguyễn Ngọc Quang, 1986).
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” (Phạm Minh Hạc, 1986).
Công tác quản lý giáo dục nói chung, quản lý nhà trường nói riêng gồm có quản lý các hoạt động giáo dục diễn ra trong nhà trường và các quan hệ giữa nhà trường với xã hội. Người trực tiếp quản lý trường học và chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động của nhà trường là hiệu trưởng.
Vậy, quản lý nhà trường là hệ thống những tác động tự giác có ý thức, có mục đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường. Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
1.2.2. Khái niệm về pháp luật, giáo dục pháp luật
1.2.2.1. Khái niệm về pháp luật
Pháp luật là một hiện tượng vừa mang tính giai cấp vừa mang tính xã hội. Hai thuộc tính này có mối quan hệ mật thiết và gắn bó chặt chẽ với nhau trong một thể thống nhất. Pháp luật ra đời cùng với nhà nước, là công cụ sắc bén để thể hiện quyền lực nhà nước, duy trì và bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị; nhà nước ban hành ra pháp luật và bảo đảm cho pháp luật được thực hiện. Nhà nước và pháp luật là sản phẩm của sự phát triển đến một trình độ nhất định của xã hội.
Theo Nguyễn Văn Mạnh – Viện trưởng Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh thì “Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước, là yếu tố bảo đảm sự ổn định và trật tự của xã hội” (Nguyễn Văn Mạnh, 2013).
Pháp luật là những quy tắc chuẩn mực xã hội được ghi thành các điều luật thể hiện trong hiến pháp và các bộ luật của Nhà nước, mỗi công dân có nghĩa vụ tuân theo. Pháp luật là ý chí của giai cấp cầm quyền trong việc duy trì trật tự xã hội. Ý thức pháp luật là một bộ phận của ý thức xã hội, bao gồm một hệ thống các quy định về quyền lợi, nghĩa vụ của công dân đối với nhà nước, những quy định xác định tính hợp pháp hay không hợp pháp của các hành vi cá nhân hay tổ chức xã hội (Hà Đức Kiêm, 2014).
Bàn về “pháp luật” có nhiều ý kiến của các nhà khoa học khác nhau trên thế giới và Việt Nam đứng ở các góc độ khoa học khác nhau, luật học, tâm lý học, giáo dục học, kinh tế học… có thể nêu ra một số quan điểm sau:
Luật gia nổi tiếng của Mỹ, nguyên Hiệu trưởng Trường Luật – Đại học Harvard, Roscoe Pound (l870 – 1964) khẳng định, “Pháp luật là một hình thức kiểm soát xã hội đặc biệt trong một xã hội đã có hình thức tổ chức chính trị ở bậc cao. Đó là hình thức kiểm soát xã hội thông qua việc áp dụng một cách có trật tự và hệ thống trấn áp trong xã hội ấy” (Alan B. Morrison – chủ biên, 2007).
Các nhà khoa học của Mỹ quan niệm, pháp luật là công cụ đảm bảo an toàn, trật tự xã hội cho con người: “Pháp luật của nhà nước có mục đích bảo vệ an toàn, thuận lợi cho con người”; pháp luật là “một tập hợp các quy phạm, do nhà nước tạo lập, có giá trị ràng buộc trong một phạm vi lãnh thổ và được đảm bảo thực thi bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền bằng việc sử dụng các biện pháp cưỡng chế và chế tài”… Pháp luật được sinh ra là để “tổ chức, thúc đẩy sự an toàn và thuận tiện cho các thành viên của cộng đồng xã hội và để điều tiết mối quan hệ giữa các thành viên này với nhau…” (Lê Minh Tâm – chủ biên, 2003).
Mác và Ph. Ăngghen khi bàn về pháp luật tư sản đã đưa ra định nghĩa pháp luật: “Pháp luật của các ông chỉ là ý chí của giai cấp các ông được đề lên thành luật, cái ý chí mà nội dung là do các điều kiện sinh hoạt vật chất của giai cấp các ông quyết định” (C.Mác và Ph. Ăngghen, 2002). Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
Các nhà luật học nước Nga đương đại định nghĩa pháp luật là: “hệ thống quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung, được thể hiện trong các văn bản pháp luật của nhà nước, trong tiền lệ tư pháp và trong các hình thức khác, thể hiện ý chí chung của các nhóm xã hội, là đại lượng tự do của con người, được nhà nước đảm bảo thực hiện khỏi mọi sự xâm phạm; nhằm đảm bảo trật tự, ổn định xã hội vì lợi ích của con người”. (dẫn theo Vũ Thị Thu Thủy, 2018)
Tác giả Hoàng Thị Kim Quế, định nghĩa: “Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện chí, lợi ích của nhân dân, được nhà nước đảm bảo thực hiện, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội vì mục đích bảo vệ, bảo đảm các quyền, tự do của con người và sự phát triển bền vững của xã hội” (Hoàng Thị Kim Quế – chủ biên, 2005).
Theo Lê Minh Tâm và Nguyễn Đình Đoan: “Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội theo mục tiêu, định hướng cụ thể” (Lê Minh Tâm và Nguyễn Đình Đoan, 2014).
Theo Vũ Thị Thu Thủy “Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung, do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của nhà nước và là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội vì lợi ích, mục đích của giai cấp thống trị, vì sự tồn tại, phát triển của cả xã hội” (Vũ Thị Thu Thủy, 2018).
Với các khái niệm trên, pháp luật có các thuộc tính cơ bản sau: pháp luật do nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện; pháp luật có tính quy phạm; pháp luật mang tính bắt buộc chung; pháp luật có tính xác định chặt chẽ về hình thức, tính ổn định và hệ thống…
Pháp luật là tổng hợp các quy tắc xử sự thể hiện ý chí của nhà nước có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra, hoặc thừa nhận, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế nhằm ổn định và duy trì trật tự xã hội.
1.2.2.2. Khái niệm về giáo dục pháp luật Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
GDPL là sự tác động của nhân tố chủ quan, do các chủ thể có năng lực làm công tác giáo dục tiến hành. Đó là các hoạt động có định hướng, có tổ chức thông qua nội dung, chương trình, phương pháp cụ thể của nhiều chủ thể (nhà trường, các tổ chức Đảng, chính quyền, cơ quan, đoàn thể…) nhằm hình thành ở khách thể những yếu tố chủ quan, trước hết là tri thức hiểu biết, tư tưởng, thái độ, tình cảm về pháp luật. Thông qua Giáo dục pháp luật nhằm hình thành tri thức, tình cảm pháp luật ở mỗi cá nhân, hình thành thói quen xử sự, nếp sống phù hợp với quy định của pháp luật, từ đó tự giác tuân thủ pháp luật, có thái độ, hành vi đúng đắn, tích cực trong việc sử dụng pháp luật. Như vậy, mục đích của Giáo dục pháp luật là hình thành “môi trường chủ quan” thuận lợi, phù hợp để từ đó chủ thể định hướng hành vi xã hội của mình theo những chuẩn mực mà pháp luật quy định, góp phần tích cực tăng cường hiệu lực, hiệu quả của pháp luật.
Theo Hà Hải Yến, Giáo dục pháp luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể Giáo dục pháp luật để cung cấp tri thức pháp luật, bồi dưỡng tình cảm và hành vi hợp pháp cho đối tượng giáo dục nhằm mục đích hình thành ở họ ý thức pháp luật đúng đắn và thói quen hành động phù hợp với các quy định pháp luật (Hà Hải Yến, 2016).
Theo Trần Thị Sáu, Giáo dục pháp luật là hoạt động thực tiễn xã hội thực hiện sự tác động một cách thường xuyên, hệ thống lên đối tượng giáo dục nhằm trang bị kiến thức, xây dựng thái độ, niềm tin pháp luật một cách đúng đắn đồng thời giáo dục kỹ năng thích ứng cũng như xử lý các tình hướng trong thực tế theo pháp luật, thúc đẩy mọi công dân tự giác, chủ động thực hiện nghiêm minh pháp luật (Trần Thị Sáu, 2012).
Theo Vũ Thị Thu Thủy, Giáo dục pháp luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm pháp luật và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của pháp luật hiện hành (Vũ Thị Thu Thủy, 2018).
Từ các quan niệm về Giáo dục pháp luật trên, có thể rút ra khái niệm Giáo dục pháp luật như sau: Giáo dục pháp luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ đích của chủ thể giáo dục thông qua các hình thức, phương pháp khác nhau tác động lên đối tượng giáo dục một cách hệ thống nhằm hình thành ở họ tri thức pháp lý, tình cảm và hành phù hợp với pháp luật hiện hành, xây dựng lối sống theo pháp luật.
1.2.3. Khái niệm về tích hợp, tích hợp Giáo dục pháp luật Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
1.2.3.1. Khái niệm về tích hợp
Theo từ điển giáo dục học cho rằng: “Tích hợp là sự liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch giảng dạy” (Từ điển Bách khoa Việt Nam, 2002)
Theo Nguyễn Như Ý: “Tích hợp là phương pháp sư phạm tìm cách thực hiện những mục đích học tập đặt ra cho các môn học khác nhau trong các bài học của một môn nhất định” (Nguyễn Như Ý, 2008).
Còn theo X. Roegiers: “Tích hợp giáo dục là một quan niệm về quá trình học tập, trong đó toàn bộ quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực cụ thể, có dự tính trước những điều kiện cần thiết cho học sinh nhằm phục vụ cho quá trình học tập sau này hoặc giúp học sinh hòa nhập vào cuộc sống lao động”. Cũng theo hướng tích hợp gắn học và hành thì ông cho rằng giáo dục nhà trường phải chuyển từ đơn thuần dạy kiến thức sang phát triển ở học sinh các năng lực hành động, xem năng lực là cơ sở của khoa sư phạm tích hợp. Và quan điểm chuẩn mực về tích hợp của ông đã được lấy làm cơ sở cho việc dạy học tích hợp sau này của các quốc gia trên thế giới (dẫn theo Hà Đức Kiêm, 2014).
Trong tích hợp giáo dục thì tùy vào yêu cầu, nội dung của môn học người ta chia thành các cách tích hợp như: Tích hợp chương trình và tích hợp các bộ môn; Tích hợp dọc và tích hợp ngang; Tích hợp giảng dạy và tích hợp học tập; Tích hợp kiến thức và tích hợp kỹ năng. Có bốn kiểu tích hợp: tích hợp nội bộ môn học, tích hợp đa môn, tích hợp liên môn và tích hợp xuyên môn.
Theo Nguyễn Minh Thuyết – Tổng Chủ biên Chương trình Giáo dục Phổ thông mới đã chia sẻ về nội dung dạy học tích hợp – một trong những nội dung đang được dư luận quan tâm nhất trong Dự thảo Chương trình Giáo dục Phổ thông mới “Dạy học tích hợp là định hướng dạy học trong đó giáo viên tổ chức, hướng dẫn để học sinh biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau nhằm giải quyết các nhiệm vụ học tập, đời sống; thông qua đó hình thành những kiến thức, kĩ năng mới; phát triển được những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề trong học tập và trong thực tiễn cuộc sống” (Dẫn theo Nguyễn Khánh, 2018)
Như vậy, tích hợp trong giáo dục là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức và kỹ năng trong một môn học hoặc giữa các môn học thành một nội dung thống nhất nhằm giải quyết các nhiệm vụ trong học tập và trong đời sống.
1.2.3.2. Khái niệm về tích hợp Giáo dục pháp luật Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
Từ khái niệm về giáo dục tích hợp và Giáo dục pháp luật, ta có thể có được khái niệm tích hợp Giáo dục pháp luật như sau: là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các nội dung kiến thức trong các môn học với tri thức pháp luật ở các mức độ khác nhau thành một nội dung thống nhất để cung cấp tri thức pháp luật, bồi dưỡng tình cảm và hành vi hợp pháp cho đối tượng giáo dục nhằm hình thành ở họ ý thức pháp luật đúng đắn và thói quen hành động phù hợp với các quy định pháp luật.
1.2.4. Khái niệm về quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật
Quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh trong trường Trung học phổ thông là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý thông qua các chức năng quản lý tới đối tượng quản lý nhằm trang bị cho học sinh tri thức pháp luật, xây dựng ý thức và tình cảm pháp luật đúng đắn, rèn luyện thói quen, kỹ năng thực hiện hành vi theo những chuẩn mực pháp luật, đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân (Trần Thị Sáu, 2012).
Quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh của hiệu trưởng trường Trung học phổ thông là tác động có mục đích, có tổ chức, có định hướng của hiệu trưởng trường Trung học phổ thông đến hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh trong nhà trường nhằm đạt được mục tiêu Giáo dục pháp luật cho học sinh.
Quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật là tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật đạt kết quả mong muốn một cách hiệu quả nhất nhằm trang bị, bồi dưỡng và nâng cao tri thức pháp luật; hình thành, tạo dựng lòng tin vào pháp luật; xây dựng thói quen vững chắc xử sự theo những đòi hỏi của pháp luật, hình thành lối sống tuân theo pháp luật cho các em học sinh, thế hệ tương lai của đất nước.
Theo tiếp cận chức năng quản lý, quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh của hiệu trưởng trường Trung học phổ thông bao gồm: lập kế hoạch hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật; tổ chức hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật; chỉ đạo hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật và kiểm tra hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông.
1.3. Lý luận hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường Trung học phổ thông Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
1.3.1. Mục đích hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường Trung học phổ thông
GDPL cho học sinh là hình thức cao nhất kết nối giữa hoạt động xây dựng pháp luật với việc thực hiện pháp luật. Tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh nhằm trang bị cho học sinh hệ thống tri thức về Nhà nước, về pháp luật, quyền và nghĩa vụ công dân nhằm hình thành niềm tin và ý thức pháp luật, thói quen tuân thủ pháp luật.
Mục đích nhận thức: cung cấp các kiến thức về pháp luật và Giáo dục pháp luật cho học sinh. Nhận thức giá trị, ý nghĩa, sự cần thiết của các qui định pháp luật phù hợp với học sinh.
Mục đích cảm xúc: Hình thành và nâng cao thái độ, tình cảm, tôn trọng pháp luật cho học sinh, hình thành niềm tin vào pháp luật của học sinh để giúp cho học sinh có động lực bộc lộ các hành vi pháp luật của cá nhân trước các quy định pháp luật của nhà nước.
Mục đích hành vi: Trên cơ sở cung cấp nhận thức, hình thành niềm tin, thái độ, tình cảm đối với pháp luật của nhà nước. Công tác Giáo dục pháp luật cho học sinh trong nhà trường cần phải hình thành cho học sinh thói quen, xử sự và thực hiện các hành vi đúng pháp luật, theo pháp luật của nhà nước qui định đối với công dân nói chung và học sinh Trung học phổ thông nói riêng.
1.3.2. Nội dung hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh
Học sinh, những công dân nhỏ tuổi, chủ nhân tương lai của đất nước rất cần phải có kiến thức về pháp luật. Vì thế, nhà trường phải trang bị cho học sinh những hiểu biết về pháp luật. Theo Điều 10, Luật phổ biến, Giáo dục pháp luật quy định: “Nôị dung phổ biến , Giáo dục pháp luật gồm quy định của Hiến pháp và văn bản quy phạm pháp luật, trọng tâm là các quy định của pháp luật về dân sự, hình sự, hành chính, hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, đất đai, xây dựng, bảo vệ môi trường, lao động, giáo dục, y tế, quốc phòng, an ninh, giao thông, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành; Các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên, các thỏa thuận quốc tế; Ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật; ý thức bảo vệ pháp luật; lợi ích của việc chấp hành pháp luật; gương người tốt, việc tốt trong thực hiện pháp luật” (Quốc hội, 2012).
Tuỳ theo từng khối lớp, từng đối tượng khác nhau để xác định nội dung tích hợp Giáo dục pháp luật cho phù hợp. Song thực chất Giáo dục pháp luật là tạo lập cái đức trong mỗi con người. Xét trên mọi phương diện, giáo dục đạo đức, lối sống, giáo dục công dân, Giáo dục pháp luật là những yếu tố quan trọng tạo nên nhân cách của mỗi con người. Giáo dục đạo đức, Giáo dục pháp luật chính là giáo dục cách cư xử của công dân với cộng đồng, với Nhà nước, với xã hội.
- GDPL cho học sinh Trung học phổ thông mang nét đặc thù riêng, nội dung dạy học chủ yếu là những tri thức về đạo đức, pháp luật. Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
- Tích hợp Giáo dục pháp luật thông qua chương trình dạy học môn giáo dục công dân.
- Nội dung dạy chương trình môn giáo dục công dân bao gồm các nội dung:
- Tích hợp giáo dục hành vi và chuẩn mực đạo đức cho học sinh Trung học phổ thông (Truyền thống dân tộc Việt Nam, sống có kỷ luật, sống có văn hóa, sống yêu thương, sống chủ động, tích cực, sáng tạo, lương tâm, đạo đức và trách nhiệm,…)
- Tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông (An toàn giao thông; Trách nhiệm của công dân với tài nguyên môi trường; Bảo vệ, chăm sóc giáo dục trẻ em; Trách nhiệm của công dân với cộng đồng…).
- Tích hợp giáo dục cho học sinh Trung học phổ thông có kỹ năng sống dựa trên các giá trị sống đúng đắn (Sống khỏe; Sống tự lập; Học tập và lao động là niềm vui và trách nhiệm của mỗi cá nhân; Kính thầy mến bạn; Gia đình văn hóa; Đoàn kết, hữu nghị, hợp tác,…)
- Tích hợp giáo dục về những hiểu biết ban đầu về chính trị thường gặp: Hiến pháp và bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; Công dân với chủ quyền quốc gia; Công dân với một số vấn đề toàn cầu, Công dân với việc xây dựng và bảo vệ tổ quốc…
- Tích hợp giáo dục cho học sinh Trung học phổ thông về một số những hiểu biết ban đầu về kinh doanh thường gặp: Tiền tệ, Tiêu tiền thông minh, Kinh tế thị trường, Đạo đức kinh doanh.
Những nội dung này cũng chính là định hướng cơ bản và phổ biến để xây dựng các chủ đề dạy học môn Giáo dục công dân mà còn được tích hợp trong các môn học như Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Sinh học, Khoa học-Công nghệ.
Luật số 14/2012/QH13 đã quy định rõ: “Nội dung Giáo dục pháp luật trong chương trình giáo dục trung học cơ sở, Trung học phổ thông trang bị kiến thức ban đầu về quyền, nghĩa vụ của công dân, rèn luyện thói quen, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật” (Quốc hội, 2012).
Quyết định số 1928/QĐ-TTg có nêu nhiệm vụ đối với giáo dục phổ thông: “Nâng cao chất lượng dạy và học môn học đạo đức, môn học giáo dục công dân theo hướng cung cấp các kiến thức, rèn luyện các kỹ năng thực hiện các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, quyền và nghĩa vụ trong các lĩnh vực pháp luật gắn với cuộc sống và học tập của học sinh. Chú trọng các nội dung về an toàn giao thông, bảo vệ môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng, chống tệ nạn xã hội… Đặc biệt chú trọng giáo dục nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, thói quen xử sự theo pháp luật của học sinh.” (Chính phủ, 2009)
1.3.3. Hình thức tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh
Tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh trong trường Trung học phổ thông thông qua dạy học một số môn học: Thông qua nội dung bài học có liên quan, giáo viên lồng ghép Giáo dục pháp luật cho học sinh. Căn cứ vào những đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực, khi lựa chọn nội dung để xây dựng kế hoạch chỉ đạo nhà trường và thiết kế tiến trình bài học CÁN BỘ QUẢN LÝ và giáo viên cần hình dung được chuỗi hoạt động sẽ diễn ra trong nhà trường và cụ thể ở mỗi khối lớp sẽ tổ chức cho học sinh thực hiện, trong đó tập trung vào việc tổ chức cho học sinh phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua các nhiệm vụ học tập.
Tích hợp Giáo dục pháp luật thông qua các hoạt động ngoại khóa và hoạt động ngoài giờ lên lớp: Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật, hoạt động giải quyết một tình huống pháp luật, tư vấn pháp luật . . . Đây là một hình thức đặc thù trong công tác Giáo dục pháp luật cho học sinh để cung cấp nhận thức về pháp luật, hình thành thái độ và các hành vi pháp luật đúng chuẩn mực pháp luật của xã hội thông qua giải quyết các tình huống giả định cụ thể, đưa pháp luật vào cuộc sống.
Tích hợp Giáo dục pháp luật thông qua hoạt động phối hợp giữa nhà trường với các lực lượng xã hội, đặc biệt là gia đình: Một trong những hình thức Giáo dục pháp luật cơ bản cho học sinh trong nhà trường là Giáo dục pháp luật thông qua hoạt động phối hợp giữa nhà trường với các lực lượng xã hội, các ban ngành đoàn thể tham gia Giáo dục pháp luật cho các em. Đây vừa là một hình thức Giáo dục pháp luật, đồng thời cũng là một con đường Giáo dục pháp luật để giúp cho hiệu quả của hoạt động Giáo dục pháp luật đạt hiệu quả cao nhất. Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
Quyết định số 1928/QĐ-TTg ngày 20/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu: “Kết hợp giáo dục chính khóa với giáo dục ngoại khóa; tích hợp, lồng ghép nội dung pháp luật một cách hợp lý trong môn học Đạo đức, môn học Giáo dục công dân ở phổ thông và một số môn học khác; bảo đảm sự liên thông về kiến thức giữa các cấp học và trình độ đào tạo. Kết hợp giáo dục thông qua các môn học với các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.” (Chính phủ, 2009)
1.3.4. Phương pháp tổ chức hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh
Phương pháp tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh là cách thức tác động của nhà giáo dục đến học sinh, nhằm hình thành cho các em những hiểu biết pháp luật, tình cảm, niềm tin vào pháp luật, để từ đó có những hành vi và thói quen hành vi phù hợp với pháp luật.
Phương pháp tích hợp Giáo dục pháp luật bao gồm 3 nhóm phuơng pháp sau:
- Nhóm phương pháp thuyết phục với các phương pháp cụ thể: đàm thoại, tranh luận, nêu gương… về một vấn đề pháp luật, nhằm giúp cho học sinh có khả năng phân tích, đánh giá một hiện tượng pháp luật trong xã hội, từ đó hình thành những hiểu biết, tình cảm, niềm tin và hành vi pháp luật cho học sinh.
- Nhóm phương pháp tổ chức hoạt động bao gồm phương pháp giao công việc, tạo dư luận xã hội, tạo tình huống giáo dục… Tức là các phương pháp đưa HS vào các hoạt động Giáo dục pháp luật cụ thể để học sinh trải nghiệm thông qua hoạt động nhằm hình thành nhận thức, tình cảm và đặc biệt là hành vi pháp luật phù hợp.
- Nhóm phương pháp kích thích hành vi bao gồm các phương pháp thi đua, khen thưởng, trách phạt… nhằm củng cố, tạo động lực cho học sinh Trung học phổ thông trong việc tiếp thu tri thức pháp luật, hình thành niềm tin và hành vi pháp luật phù hợp. Ba nhóm phương pháp Giáo dục pháp luật trên có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Mỗi nhóm phương pháp Giáo dục pháp luật có mục đích riêng, ưu thế riêng trong Giáo dục pháp luật. Khi tổ chức tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh phải có sự kết hợp đồng thời và chặt chẽ cả ba nhóm phương pháp.
1.3.5. Điều kiện phương tiện tổ chức hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
Nguồn nhân lực: Đối với lĩnh vực giáo dục, nguồn lực của nhà trường bao gồm tổng hợp của nhiều nguồn lực như: nguồn nhân lực, nguồn vật lực và nguồn tài lực, nguồn lực thông tin, trong đó nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng và quyết định nhất. Vì vậy, nguồn nhân lực giáo dục ở nhà trường là nguồn lực năng động nhất, nó chi phối và quyết định các nguồn lực khác. Thông qua nguồn nhân lực mà các nguồn lực khác mới phát huy tốt tác dụng và đạt hiệu quả cao nhất trong GD&ĐT. Sức mạnh của một trường học phụ thuộc chủ yếu vào đội ngũ giáo viên – nhân tố quan trọng quyết định chất lượng giáo dục. Họ là những người trực tiếp giảng dạy, giáo dục, hướng dẫn và truyền thụ kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm cho học sinh. Đây được coi là điều kiện tiên quyết trong tổ chức hoạt giáo dục nói chung, hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh nói riêng.
Nguồn lực tài chính bao gồm:
- Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi trong dự toán đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và giao thực hiện để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà trường.
- Nguồn tài chính ngoài Ngân sách Nhà nước là tất cả những yếu tố về nguồn vốn tiền tệ mà Nhà nước cho phép các trường được huy động trực tiếp trong khuôn khổ thực hiện xã hội hoá nhằm đảm bảo nguồn tài chính cho trường và được sử dụng theo quy định để thực hiện mục tiêu của nhà trường.
Nguồn lực cơ sở vật chất: Nguồn lực vật chất của trường phổ thông là toàn bộ cơ sở vật chất trường học với tất cả các phương tiện vật chất được sử dụng để thực hiện mục tiêu của nhà trường. Nguồn vật lực là nguồn lực cũng rất quan trọng, góp phần cùng nguồn nhân lực và tài lực thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục đào tạo nói chung, công tác tích hợp Giáo dục pháp luật nói riêng. Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
Luật số14/2012/QH13 có quy định: “Bảo đảm về tổ chức, cán bộ, cơ sở vật chất và phương tiện cho công tác phổ biến, Giáo dục pháp luật”; “Bảo đảm kinh phí phổ biến, Giáo dục pháp luật” (Quốc hội, 2012)
1.4. Lý luận về quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh ở các trường Trung học phổ thông
1.4.1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh trường THPT
Pháp luật có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội. Nó là phương tiện bảo đảm cho sự tồn tại, vận hành bình thường của xã hội nói chung và của nền đạo đức nói riêng. Để pháp luật đi vào đời sống thực sự có hiệu quả thì công tác tuyên truyền, phổ biến, Giáo dục pháp luật đóng vai trò hết sức quan trọng. Đặc biệt, trong tình hình hiện nay, xuất phát từ nhu cầu đời sống xã hội và công cuộc đổi mới đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mỗi công dân cần phải “Sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật.” nên đòi hỏi bên cạnh phải nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường pháp chế, thì cần phải nâng cao nhận thức về pháp luật.
Chính vì thế, công tác tuyên truyền, phổ biến, Giáo dục pháp luật đã được Đảng, Nhà nước quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, coi đó là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong việc tăng cường quản lý xã hội bằng pháp luật. Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, Giáo dục pháp luật trong nhà trường là một yêu cầu bắt buộc đối với nhà quản lý giáo dục.
1.4.2. Cơ sở pháp lý về quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh trường Trung học phổ thông
Trong những năm gần đây Đảng, Chính phủ rất quan tâm đến công tác tuyên truyền, phổ biến, Giáo dục pháp luật. Cụ thể là nhiều Chỉ thị, Nghị quyết, Quyết định về công tác Giáo dục pháp luật được ban hành: Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự chỉ đạo của Đảng trong công tác phổ biến, Giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân; Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP ngày 07 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW; Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg ngày 12 tháng 3 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phổ biến, Giáo dục pháp luật từ năm 2008 đến năm 2012; Quyết định số 1928/QĐ-TTg ngày 20 tháng 11 năm 2009 về việc phê duyệt Đề án “Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, Giáo dục pháp luật trong nhà trường”; Quyết định số 2160/QĐ-TTg ngày 26/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Tăng cường công tác phổ biến, Giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật cho thanh thiếu niên giai đoạn 2011-2015”;
Bộ GD&ĐT đã ban hành nhiều văn bản: Công văn số 7794/BGDĐT-PC ngày 16 tháng 11 năm 2012 của GD&ĐT về việc Tổng kết Đề án 1928 giai đoạn 2010-2012 và xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện Đề án giai đoạn 2013-2016; Quyết định số 6239/QĐ-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Bộ GD&ĐT ban hành Kế hoạch công tác phổ biến, Giáo dục pháp luật năm 2017 của Ngành. Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
Chính quyền địa phương cũng có nhiều văn bản chỉ đạo: Công văn số 1296/UBND-NC ngày 11/5/2011 về thực hiện nghiêm túc “Ngày pháp luật” trên địa bàn tỉnh; Quyết định số 348/QĐ-UBND ngày 24/02/2012 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Phước về ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án “Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, Giáo dục pháp luật trong nhà trường trên địa bàn tỉnh Bình Phước năm 2012”; Chương trình số 31/CTr-UBND ngày 13/02/2017 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Phước về phổ biến, Giáo dục pháp luật trên địa bàn tỉnh Bình Phước năm 2017.
Từ những Chỉ thị, Nghị quyết, Quyết định, văn bản hướng dẫn chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, Bộ GD&ĐT và của UBND Tỉnh, Sở GD&ĐT Bình Phước thường xuyên có những văn bản chỉ đạo, hướng dẫn công tác Giáo dục pháp luật trong các nhà trường: Kế hoạch số 122/KH-SGDĐT ngày 21/01/2013 của Sở GD&ĐT về triển khai Đề án “Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, Giáo dục pháp luật trong nhà trường” của ngành GD&ĐT giai đoạn 2013-2016; Hàng năm Sở GD&ĐT ban hành kế hoạch chỉ đạo về triển khai thực hiện đề án “Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, Giáo dục pháp luật trong nhà trường” như Kế hoạch số 287/KH-SGDĐT ngày 5/3/2013, Kế hoạch số 407/KH-SGDĐT ngày 19/3/2014, Kế hoacḥ số 595/KH-SGDĐT ngày 27/3/2015 . . .
1.4.3. Vai trò của hiệu trưởng trong quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh
Nhà giáo dục K.D.Usinsky từng nói: “Hiệu trưởng là nhà giáo dục chủ chốt trong nhà trường, giáo dục học sinh thông qua giáo viên, làm thầy các giáo viên, dạy cho họ khoa học và nghệ thuật giáo dục”. Người hiệu trưởng có vai trò quan trọng trong công tác tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh. Điều đó được thể hiện ở việc người hiệu trưởng lãnh đạo thực hiện việc xây dựng kế hoạch, xác định nội dung, mục tiêu và các biện pháp có tính chất định hướng để chỉ đạo, phối hợp với gia đình, xã hội trong cả quá trình tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh (Dẫn theo Nguyễn Tấn Tài, 2017).
Quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh của hiệu trưởng trường Trung học phổ thông là tác động có mục đích, có tổ chức, có định hướng của hiệu trưởng trường Trung học phổ thông đến hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh trong nhà trường nhằm đạt được mục tiêu Giáo dục pháp luật cho học sinh.
Theo tiếp cận chức năng quản lý, quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh của hiệu trưởng trường Trung học phổ thông bao gồm: lập kế hoạch hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật; triển khai hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật; chỉ đạo hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật và kiểm tra hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông.
1.4.4. Nội dung quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
1.4.4.1. Lập kế hoạch hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh
Xây dựng kế hoạch hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh là nội dung quản lý đầu tiên, có tính chất quyết định đối với hiệu trưởng nhà trường. Khi xây dựng kế hoạch phải xuất phát từ mục tiêu Giáo dục pháp luật, phải đảm bảo sự thống nhất giữa mục tiêu Giáo dục pháp luật với mục tiêu giáo dục của nhà trường, có sự gắn bó với kế hoạch dạy học trên lớp, lựa chọn nội dung, hình thức giáo dục cũng như đặc điểm nhận thức, tâm sinh lý của học sinh. Lập kế hoạch là quá trình xác định mục tiêu và lựa chọn các phương thức để đạt được mục tiêu đó. Trong bước này, nhà quản lý cần phải trả lời được bốn câu hỏi: Chúng ta đang ở đâu? Chúng ta muốn đến đâu? Chúng ta đến đó bằng cách nào? Chúng ta đánh giá sự tiến bộ như thế nào? “Lập kế hoạch là chức năng cơ bản nhất trong các chức năng quản lý có ý nghĩa quyết định sự tồn tại và phát triển của hệ thống nói chung và hoạt động cụ thể nói riêng” (Trần Kiểm và Nguyễn Xuân Thức, 2012), (Trần Kiểm, 2014)
Lập kế hoạch tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông là quá trình người hiệu trưởng nhà trường xác định mục tiêu tích hợp Giáo dục pháp luật trên cơ sở phân tích, đánh giá các yếu tố bên trong và bên ngoài để xác định được điểm mạnh, điểm yếu cũng như thời cơ và thách thức, từ đó quyết định những công việc trong hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh để hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật đạt được mục tiêu Giáo dục pháp luật đặt ra.
1.4.4.2. Tổ chức hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông
Tổ chức là các hoạt động cần thiết để xác định cơ cấu, guồng máy của hệ thống, xác định những công việc phù hợp với từng nhóm, từng bộ phận và giao phó các bộ phận cho các nhà quản trị hay người chỉ huy với chức năng nhiệm vụ và quyền hạn nhất định để thực hiện nhiệm vụ được giao.
Với ý nghĩa là một chức năng quản lý, tổ chức là việc người hiệu trưởng phân phối và sắp xếp các nguồn lực theo những cách thức nhất định để đảm bảo thực hiện tốt kế hoạch đã đề ra nhằm tạo môi trường nội bộ cho cá nhân, bộ phận phát huy được tối đa năng lực và nhiệt tình. Đây là bước hiện thực hóa các mục tiêu của nhà trường trên cơ sở xây dựng cơ cấu tổ chức hợp lý và năng động; phát triển nguồn nhân lực; xây dựng cơ chế hoạt động; tổ chức triển khai một cách khoa học và xây dựng chuẩn đánh giá . Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
Theo Trần Kiểm và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Tổ chức là quá trình xác định, cấu trúc tổ chức của hệ thống theo các đơn vị trực thuộc với các chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị và cá nhân rõ ràng, có cơ chế phối hợp nhằm đảm bảo thực thi các chức năng nhiệm vụ hướng tới mục tiêu chung của hệ thống”; “Tổ chức là quá trình tạo lập các thành phần cấu trúc, các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho các bộ phận thực hiện thành công kế hoạch và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức” (Trần Kiểm, 2014), (Nguyễn Thị Mỹ Lộc và Nguyễn Quốc Chí, 2010)
Tổ chức tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh của hiệu trưởng là quá trình xác định các thành phần tham gia tích hợp Giáo dục pháp luật, xác định mối quan hệ giữa các thành phần tham gia tích hợp Giáo dục pháp luật, nhằm làm cho hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật được thực hiện có hiệu quả, đạt được mục tiêu Giáo dục pháp luật đặt ra.
Nội dung công tác tổ chức bộ máy tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông bao gồm:
- Xác định các lực lượng tham gia quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh trong nhà trường và ngoài nhà trường
- Xây dựng nhiệm vụ của từng bộ phận trong cơ cấu tổ chức tham gia tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh.
- Xây dựng cơ chế làm việc, tổ chức phối hợp điều hành hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh.
- Tổ chức tập huấn cho Giáo viên cùng các lực lượng tham gia tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh về các nội dung, hình thức, phương pháp… tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh.
- Chuẩn bị các điều kiện phương tiện kinh phí hỗ trợ cho tổ chức hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh một cách hiệu quả nhất.
1.4.4.3. Chỉ đạo, điều khiển hoạt động tích hợp giáo dục Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông
Theo Harold Koontz và cộng sự (Harold Koontz, 1994), Đặng Quốc Bảo (Đặng Quốc Bảo, 1998), Trần Kiểm (Trần Kiểm, 2014), Phạm Minh Hạc (Phạm Minh Hạc, 2001)…, chỉ đạo là điều hành, điều khiển, tổ chức hoạt động, động viên giúp đỡ cán bộ người dưới quyền, các bộ phận thực hiện nhiệm vụ được phân công nhằm đạt được mục tiêu của hệ thống.
Chỉ đạo hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông là quá trình người hiệu trưởng điều hành, điều khiển, tổ chức hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật, động viên, giúp đỡ cán bộ quản lý, giáo viên, công nhân viên trong nhà trường cùng các lực lượng ngoài xã hội thực hiện nhiệm vụ tích hợp Giáo dục pháp luật đã được xác định, nhằm đạt được mục tiêu tích hợp Giáo dục pháp luật đặt ra. Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
Nội dung công tác chỉ đạo hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông bao gồm:
- Ra các quyết định tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh bằng văn bản, cụ thể hóa các văn bản pháp quy của cấp trên về tích hợp Giáo dục pháp luật trong nhà trường.
- Tổ chức hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cụ thể là tiến hành các hoạt động Giáo dục pháp luật như tổ chức dạy học môn Giáo dục công dân; tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, hoạt động ngoài giờ lên lớp. Thực hiện quyền chỉ huy và hướng dẫn triển khai thực hiện nhiệm vụ Giáo dục pháp luật cho học sinh trong nhà trường.
- Đôn đốc, động viên, kích thích hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho các lực lượng tham gia Giáo dục pháp luật cho học sinh bằng cách hình thành những động cơ thúc đẩy mọi người cùng tham gia Giáo dục pháp luật theo vị trí công tác của mình để công tác Giáo dục pháp luật đạt hiệu quả.
1.4.4.4. Kiểm tra hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông
Theo Nguyễn Minh Đạo và Đặng Quốc Bảo “Kiểm tra đánh giá là chức năng của quản lý thông qua đó cá nhân, nhóm, tổ chức theo dõi, giám sát hoạt động và kết quả hoạt động, uốn nắn sửa chữa những sai lệch cần thiết” (Nguyễn Minh Đạo, 1997) và (Đặng Quốc Bảo, 1999); Kiểm tra đánh giá bao gồm 3 nội dung: xây dựng tiêu chuẩn kiểm tra đánh giá trên cơ sở kế hoạch đã xây dựng; kiểm tra, giám sát hoạt động và đối chiếu với mục tiêu; điều chỉnh sai lệch cần thiết.
Kiểm tra hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh là quá trình người hiệu trưởng tổ chức giám sát hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật, kết quả hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật và uốn nắn, sửa chữa những lệch lạc trong công tác tích hợp Giáo dục pháp luật trong những trường hợp cần thiết.
Xây dựng các tiêu chuẩn kiểm tra đánh giá tích hợp Giáo dục pháp luật. Các tiêu chuẩn kiểm tra có thể theo các tiêu chí về mục tiêu tích hợp Giáo dục pháp luật, nội dung tích hợp Giáo dục pháp luật, hình thức tích hợp Giáo dục pháp luật, các lực lượng tham gia tích hợp Giáo dục pháp luật và kết quả tích hợp Giáo dục pháp luật.
Đo đạc, đánh giá mức độ thực hiện các nhiệm vụ tích hợp Giáo dục pháp luật theo kế hoạch. Hiệu trưởng cần phải phân tích kết quả, căn cứ vào chuẩn, vào các chỉ số đã được xác định trong tiêu chuẩn để đưa ra các kết luận về mức độ thực hiện tích hợp Giáo dục pháp luật ở mỗi một bộ phận trong nhà trường và mỗi một thành viên trong công tác giáo dục. Điều này đòi hỏi những người thực hiện phải có chuyên môn về năng lực đánh giá, có tính khách quan trung thực và công bằng trong đánh giá hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật. Người hiệu trưởng cần thu thập các thông tin về việc tích hợp Giáo dục pháp luật của các bộ phận, so sánh với các tiêu chí đã xác định để đánh giá mức độ đạt được của mỗi một bộ phận, thành viên tham gia tích hợp Giáo dục pháp luật. Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
Phát hiện điều chỉnh các sai lệch khi tổ chức hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật. Hiệu trưởng phải thường xuyên theo dõi chặt chẽ mọi hoạt động của các bộ phận, của các thành viên tham gia tích hợp Giáo dục pháp luật trong nhà trường để phát hiện ra những sai sót, sửa chữa những sai sót; điều chỉnh công tác tích hợp Giáo dục pháp luật phù hợp với tình hình thực tiễn mà vẫn đảm bảo yêu cầu của kế hoạch tích hợp Giáo dục pháp luật. Có như vậy thì người hiệu trưởng mới có những biện pháp động viên khen thưởng kịp thời và xử lý những tồn tại trong công tác tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh.
Tổng hợp kết quả thực hiện nhiệm vụ kiểm tra các bộ phận thực hiện nhiệm vụ tổ chức hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật. Sau khi kiểm tra cần có sự tổng kết rút kinh nghiệm công tác tích hợp Giáo dục pháp luật, từ đó nhân điển hình để phát huy hiệu quả của công tác tích hợp Giáo dục pháp luật và đặc biệt sử dụng kết quả kiểm tra như một chỉ báo trong việc đánh giá giáo viên và phát triển nghề nghiệp cho giáo viên Trung học phổ thông.
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho HS Trung học phổ thông
1.5.1. Các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông
1.5.1.1. Hệ thống văn bản pháp quy quy định về Giáo dục pháp luật
Văn bản chỉ đạo từ cấp trên đối với công tác Giáo dục pháp luật rất đa dạng, bao gồm các văn bản về phổ biến pháp luật, Giáo dục pháp luật, dạy môn Giáo dục công dân, tích hợp nội dung phòng chống tham nhũng vào giảng dạy trong môn Giáo dục công dân, giáo dục kỹ năng sống qua các môn học tiềm năng . . . từ Bộ GD&ĐT, Sở GD&ĐT. Văn bản chỉ đạo từ cấp trên là hành lang pháp lý cho công tác quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật của hiệu trưởng trong nhà trường Trung học phổ thông.
Công tác phổ biến, Giáo dục pháp luật được sự quan tâm chỉ đạo của cả hệ thống chính trị từ Đảng, Chính phủ, Bộ GD&ĐT đến cơ quan, chính quyền địa phương:
- Văn kiện Đại hội VIII của Đảng đã nhấn mạnh rằng, cần phải “Tăng cường pháp chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quản lý xã hội bằng pháp luật.” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1996)
- Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng “Về tăng cường sự chỉ đạo của Đảng trong công tác phổ biến, Giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân.” (Ban Bí thư Trung ương Đảng, 2003) Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
- Kết luận số 01-KL/TW, ngày 04/4/2016 của Bộ Chính trị đề ra nhiệm vụ: “Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương pháp phổ biến, tuyên truyền, Giáo dục pháp luật.”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong bài phát biểu tại Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày truyền thống ngành Tư pháp cũng nhấn mạnh: “Phải nâng cao hơn nữa hiệu quả tuyên truyền, phổ biến, Giáo dục pháp luật, coi đây là một bộ phận quan trọng của công tác giáo dục chính trị tư tưởng, là nhiệm vụ thường xuyên của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị, với mục tiêu cuối cùng là hỗ trợ và tạo điều kiện để mọi cá nhân, tổ chức có ý thức chấp hành đúng pháp luật.”. (Dẫn theo Đỗ Xuân Lân, 2017)
- Trong phần nhiệm vụ và giải pháp của Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 đã nêu “Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân.” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2013)
- Luật số 14/2012/QH13 đã quy định rõ: “GDPL trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân được lồng ghép trong chương trình giáo dục của các cấp học và trình độ đào tạo; là một nội dung trong chương trình giáo dục trung học cơ sở, Trung học phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học.” (Quốc hội, 2012)
- Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1928/QĐ-TTg ngày 20/11/2009 phê duyệt đề án: “Nâng cao chất lượng công tác phổ biến, Giáo dục pháp luật trong nhà trường” với mục tiêu “Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác phổ biến, Giáo dục pháp luật trong nhà trường. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, ý thức tôn trọng pháp luật và hành vi chấp hành pháp luật của nhà giáo, CÁN BỘ QUẢN LÝ cơ sở giáo dục và người học, góp phần ổn định môi trường giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện.” (Chính phủ, 2009)
- Chỉ thị số 10/CT/TTg, ngày 12 tháng 6 năm 2013 của của Thủ tướng Chính phủ “Về việc đưa nội dung phòng chống tham nhũng vào giảng dạy tại các cơ sở giáo dục, đào tạo từ năm học 2013 – 2014” (Chính phủ, 2013)
- Trong Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 (Ban hành kèm theo Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ), một trong những quan điểm chỉ đạo phát triển giáo dục có đề cập: “Tập trung vào nâng cao chất lượng, đặc biệt chất lượng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành …” Với mục tiêu cụ thể đối với Giáo dục phổ thông là “Chất lượng giáo dục toàn diện được nâng cao, đặc biệt chất lượng giáo dục văn hóa, đạo đức, kỹ năng sống, pháp luật, ngoại ngữ, tin học.” (Chính phủ, 2012)
Thông tư liên tịch số 30/2010/TTLT-BGDĐT-BTP ngày 16 tháng 11 năm 2010 “Hướng dâñ viêc̣ phối hợp thực hiện công tác phổ biến, Giáo dục pháp luật trong nhà trường” (Bộ GD&ĐT – Bộ Tư pháp, 2010)
- Quyết định số 348/QĐ-UBND ngày 24/2/2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước “Về việc nâng cao chất lượng công tác phổ biến, Giáo dục pháp luật trong nhà trường” (UBND tỉnh Bình Phước, 2012)
- Kế hoạch số 366/KH-SGDĐT ngày 13/3/2014 của Sở GD&ĐT Bình Phước “Về việc triển khai Chỉ thị số10/CT-TTg ngày 12/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc đưa nội dung phòng, chống tham nhũng vào giảng dạy tại các cơ sở giáo dục và đào tạo từ năm học 2013-2014” (Sở GDĐT Bình Phước, 2014)
Sự thống nhất chỉ đạo của các cơ quan đối với công tác tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông có ảnh hưởng rất nhiều đến hiệu quả tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh. Hiện nay trong xã hội cũng dễ xảy ra sự chỉ đạo không thống nhất dẫn đến hiệu quả tích hợp Giáo dục pháp luật thấp. Vì vậy tăng cường sự chỉ đạo thống nhất của các cơ quan chức năng đối với Giáo dục pháp luật sẽ tạo ra hiệu quả cao trong tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh.
1.5.1.2. Sự phát triển của Kinh tế – Xã hội và Giáo dục Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
Môi trường kinh tế, văn hóa xã hội đối với tích hợp Giáo dục pháp luật có ảnh hưởng rất nhiều đến quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật trong nhà trường. Môi trường được hiểu như nơi diễn ra các hành vi pháp luật của học sinh nhưng đồng thời cũng là yếu tố chi phối công tác tích hợp Giáo dục pháp luật và quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh. Nếu như nhà quản lý tính được mối quan hệ giữa môi trường xã hội bên ngoài với công tác quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật, để từ đó tận dụng ảnh hưởng tích cực xã hội đến công tác quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật, thì sẽ nâng cao được chất lượng, hiệu quả của công tác tích hợp Giáo dục pháp luật.
Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg Phê duyệt Chương trình phổ biến, Giáo dục pháp luật từ năm 2008 đến năm 2012, trong phần nội dung chủ yếu có nội dung “Xây dựng và từng bước hoàn thiện thể chế về phổ biến, Giáo dục pháp luật phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội, đáp ứng yêu cầu của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng” (Chính phủ, 2008)
1.5.1.3. Sự phát triển của Khoa học Công nghệ
Trong điều kiện khoa học công nghệ phát triển, đặc biệt là công nghệ thông tin, các thông tin pháp luật rất nhanh chóng được chuyển tải, lan tỏa rộng khắp và thanh, thiếu niên là những người trẻ, nhanh nhạy với công nghệ sẽ có điều kiện thuận lợi nhất để tiếp cận với pháp luật, vận dụng pháp luật nếu có nhận thức và được định hướng đúng đắn. Bên cạnh đó, mạng xã hội với đa số người dùng là người trẻ cũng là kênh thông tin pháp luật có hiệu quả nếu khắc phục được mặt trái để thanh, thiếu niên tìm hiểu, xây dựng cho mình niềm tin vào pháp luật và chấp hành pháp luật.
Truyền thông và thông tin phổ biến Giáo dục pháp luật cho học sinh. Mọi hành vi pháp luật của học sinh và Giáo dục pháp luật của các cơ quan chức năng sẽ có hiệu quả cao nếu như công tác truyền thông và thông tin phổ biến Giáo dục pháp luật tốt. Vì vậy công tác truyền thông và thông tin phổ biến Giáo dục pháp luật cho học sinh có ảnh hưởng rất nhiều đến quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật trong nhà trường.
Điều 14, Luật số 14 có quy định về phổ biến, Giáo dục pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng: “Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam, Báo Nhân dân, báo của các cơ quan bảo vệ pháp luật, báo và đài phát thanh, đài truyền hình cấp tỉnh xây dựng chương trình, chuyên trang, chuyên mục về pháp luật; đa dạng hóa các hình thức phổ biến, Giáo dục pháp luật để phổ biến các quy định của pháp luật, tình hình thi hành pháp luật và các thông tin khác về pháp luật.” (Quốc hội, 2012) Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
Trong Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020, Cách mạng khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin được xác định là thời cơ: “Cách mạng Khoa học và Công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông sẽ tạo ra những điều kiện thuận lợi để đổi mới cơ bản nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, đổi mới quản lý giáo dục.” (Chính phủ, 2012)
Bên cạnh mặt tích cực của khoa học công nghệ và mạng xã hội mang lại trong công tác tích hợp Giáo dục pháp luật thì cũng chính khoa học công nghệ và mạng xã hội có thể bị lợi dụng vì mục đích tiêu cực, tuyên truyền chống phá đi ngược lại chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Vì vậy việc quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh sẽ hỗ trợ cho các em trong nhận thức, định hướng cho các em trong hành động tuân thủ pháp luật.
1.5.1.4. Tác động của tệ nạn xã hội
Trong Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020, một trong những thách thức đặt ra cho giáo dục được xác định: “Hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế thị trường làm nảy sinh những vấn đề mới, như nguy cơ xâm nhập của văn hóa và lối sống không lành mạnh làm xói mòn bản sắc dân tộc.” (Chính phủ, 2012)
Sự phát triển nhanh của nền kinh tế thị trường kéo theo những mặt tiêu cực tác động trực tiếp đến sự hình thành nhân cách của thế hệ trẻ. Nhiều phần tử xấu vì nhu cầu cá nhân đã bất chấp pháp luật chà đạp lên truyền thống đạo lý làm hư hỏng tâm hồn thế hệ trẻ, thậm chí lôi kéo các em vào vòng tội lỗi bằng mọi thủ đoạn. Các loại tệ nạn xã hội xuất hiện nhiều trong đời sống xã hội, trong cộng đồng, thậm chí ngay trong gia đình, tràn ngập trong phim ảnh, internet, sách báo là những tấm gương phản diện với những gì mà cha mẹ và nhà trường giáo dục cũng tạo nên những khó khăn trong giáo dục đạo đức cho học sinh nói chung, công tác tích hợp Giáo dục pháp luật nói riêng.
1.5.1.5. Sự phối hợp đồng bộ giữa các lực lượng giáo dục trong công tác Giáo dục pháp luật cho học sinh
Theo Luật số 14 tại Khoản 1, Điều 3 quy định “Phổ biến, Giáo dục pháp luật là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, trong đó Nhà nước giữ vai trò nòng cốt.” (Quốc hội, 2012)
Theo Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4 tháng 11 năm 2013, trong quan điểm chỉ đạo có nêu: “Giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” và “Gia đình có trách nhiệm phối hợp với nhà trường và xã hội trong việc giáo dục nhân cách, lối sống cho con em mình” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2013) cũng được xác định là một trong những nhiệm vụ và giải pháp. Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
Tại Điều 31, Luật số 14 quy định trách nhiệm của các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân: “Phối hợp với gia đình và xã hội thực hiện mục tiêu GDPL trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân.” (Quốc hội, 2012) Thái độ từ phía gia đình đối với việc Giáo dục pháp luật cho học sinh có ảnh hưởng quyết định đến công tác quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật trong nhà trường phổ thông, bởi vì gia đình là nơi sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục trực tiếp học sinh Trung học phổ thông. Nếu như gia đình có thái độ tích cực với công tác tích hợp Giáo dục pháp luật thì hiệu quả của công tác quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật sẽ được nâng cao.
Ảnh hưởng của các cơ quan chức năng có liên quan đến tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh (các tổ chức chính trị xã hội, công an, tòa án…). Công tác quản lý Giáo dục pháp luật không chỉ có một chủ thể là nhà trường mà có nhiều chủ thể quản lý phối hợp đứng ở các góc độ khác nhau của xã hội. Vì vậy, tổ chức phối hợp giữa các chủ thể quản lý đó tức là giữa nhà trường với cơ quan chức năng có liên quan đến Giáo dục pháp luật và quản lý Giáo dục pháp luật thì sẽ nâng cao được hiệu quả tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh.
1.5.2. Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông
1.5.2.1. Trình độ nhận thức và đặc điểm tâm lý của CÁN BỘ QUẢN LÝ, Giáo viên và học sinh đối với hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật
Tại Khoản 3, Điều 5, Luật số14 quy định nguyên tắc phổ biến, Giáo dục pháp luật: “Đa dạng các hình thức phổ biến, Giáo dục pháp luật, phù hợp với nhu cầu , lứa tuổi, trình độ của đối tương̣ được phổ biến, Giáo dục pháp luật và truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc” (Quốc hội, 2012)
Công tác tích hợp Giáo dục pháp luật và quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông chịu ảnh hưởng rất nhiều của các yếu tố chủ quan thuộc về cán bộ quản lý, học sinh và các tổ chức trong nhà trường Trung học phổ thông. Các yếu tố đó bao gồm: Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
Trình độ và kinh nghiệm quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật của hiệu trưởng trường Trung học phổ thông và các nhà quản lý trong nhà trường. Có thể nói đây là yếu tố quyết định trực tiếp cho hiệu quả của công tác quản lý hoạt động tích hợp GDPL cho học sinh. Nếu như hiệu trưởng và các nhà quản lý trong nhà trường có trình độ và kinh nghiệm quản lý tốt sẽ trực tiếp góp phần nâng cao chất lượng tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông.
Nhận thức và ý thức của Giáo viên với việc thực hiện công tác tích hợp Giáo dục pháp luật có vai trò quyết định đối với công tác tích hợp Giáo dục pháp luật và quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh. Bản thân người Giáo viên vừa là chủ thể quản lý nhưng đồng thời là người tổ chức trực tiếp, chịu trách nhiệm trực tiếp trong hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh trong nhà trường. Nếu như người Giáo viên có ý thức trách nhiệm cao và nhận thức đúng, sâu sắc về công tác tích hợp Giáo dục pháp luật và quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật thì hiệu quả của công tác quản lý này sẽ được nâng cao.
Nhận thức, ý thức và đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh Trung học phổ thông. Đặc điểm lứa tuổi học sinh Trung học phổ thông ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho các em. Có thể nói rằng việc hiểu biết về nhận thức, về ý thức, đặc điểm tâm lý lứa tuổi của HS Trung học phổ thông sẽ là cơ sở khoa học tốt nhất cho công tác tích hợp Giáo dục pháp luật và quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật, đưa ra các biện pháp quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật phù hợp với lứa tuổi.
Về đối tượng Giáo dục pháp luật, lứa tuổi học sinh Trung học phổ thông là thời kỳ chuyển tiếp giữa trẻ con (HS trung học cơ sở) với người lớn (sinh viên). Các em có khả năng tư duy, sáng tạo, tích cực, nhạy bén và năng động trong học tập cũng như các hoạt động giao tiếp nhưng cũng là độ tuổi phức tạp, nhạy cảm, dễ bị tổn thương và dễ bị tác động bởi điều kiện xã hội. Đây là thời kỳ tràn đầy hứa hẹn và hy vọng nhất của cuộc đời các em cũng như của gia đình và xã hội. Nếu được giáo dục tốt đó sẽ là bệ phóng sản sinh những công dân đầy tự tin, có ý thức công dân đầy đủ, có tinh thần trách nhiệm cao. Ngược lại, nếu các em mắc sai lầm trong thời kỳ này sẽ bị tổn thương lớn về tâm hồn, lệch lạc về nhận thức và hành vi. Do vậy, muốn đạt được chất lượng tích hợp Giáo dục pháp luật cao, chủ thể tích hợp Giáo dục pháp luật phải nghiên cứu và nắm chắc đối tượng giáo dục của mình , phải thiết kế và thực hiện những tác động sư phạm phù hợp , xây dựng nội dung và lựa chọn hình thức, phương pháp giáo dục khoa học. Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
1.5.2.2. Năng lực chỉ đạo triển khai hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật của hiệu trưởng
Tại Điều 31, Luật số 14 quy định trách nhiệm của các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân: “Căn cứ vào nội dung, hình thức Giáo dục pháp luật ở từng cấp học và trình độ đào tạo, các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân có trách nhiệm tổ chức thực hiện Giáo dục pháp luật, bố trí giáo viên dạy môn Giáo dục công dân, giáo viên, giảng viên dạy pháp luật theo quy định của pháp luật”; “Phối hợp với gia đình và xã hội thực hiện mục tiêu Giáo dục pháp luật trong các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân.” (Quốc hội, 2012)
Tại Điều 9, Thông tư liên tịch số 30/2010/TTLT-BGDĐT-BTP ngày 16 tháng 11 năm 2010 cũng có quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý giáo dục: “Chủ trì xây dựng chương trình, kế hoạch, tổ chức triển khai, sơ kết, tổng kết các nội dung phối hợp trong phạm vi thẩm quyền”; “Sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phục vụ công tác phổ biến, Giáo dục pháp luật trong nhà trường do cơ quan tư pháp hỗ trợ.” (Bộ GD&ĐT – Bộ Tư pháp, 2010)
Việc tích hợp Giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức pháp luật cho học sinh có đạt được hiệu quả hay không là phụ thuộc phần lớn vào nhận thức, trình độ tổ chức và năng lực triển khai các hoạt động trong thực tiễn của hiệu trưởng – nhà quản lý cơ sở giáo dục. Người hiệu trưởng phải nhận thức đúng đắn rằng Giáo dục pháp luật trong xã hội hiện nay là một vấn đề khó nhưng cấp thiết và cần có sự chung tay của nhiều cấp, nhiều ngành.
1.5.2.3. Năng lực tổ chức các hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật của các lực lượng giáo dục trong nhà trường
Theo Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4 tháng 11 năm 2013, trong nhiệm vụ, giải pháp có nêu: “Nâng cao nhận thức về vai trò quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo của đội ngũ nhà giáo và CÁN BỘ QUẢN LÝ giáo dục” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2013)
Quyết định số 1928/QĐ-TTg ngày 20/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ cũng có giải pháp: “Tổ chức rà soát đội ngũ giáo viên, giảng viên, báo cáo viên, cán bộ phụ trách công tác phổ biến, Giáo dục pháp luật ở các cơ quan quản lý giáo dục, các cơ sở giáo dục để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bổ sung về số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của công tác phổ biến, Giáo dục pháp luật”; “Bồi dưỡng chuẩn hóa về kiến thức, phương pháp để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giảng viên, giáo viên Pháp luật, Giáo dục công dân chưa qua đào tạo luật. Tổ chức tập huấn cập nhật kiến thức pháp luật, phương pháp giảng dạy định kỳ cho giáo viên, giảng viên.” (Chính phủ, 2009)
Đội ngũ CB, Giáo viên là nguồn nhân lực sư phạm có vai trò quyết định chất lượng giáo dục của nhà trường. Thầy cô giáo với trình độ chuyên môn, khả năng sư phạm, vốn sống, nhân cách của mình ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng học tập, đạo đức cũng như trình độ nhận thức của mỗi học sinh. Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
Vai trò của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức chính trị trong nhà trường có vai trò quan trọng trong công tác tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và các tổ chức chính trị trong nhà trường vừa đóng vai trò là chủ thể quản lý Giáo dục pháp luật, nhưng đồng thời cũng là lực lượng phối hợp trong công tác tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh. Vai trò của các tổ chức này rất quan trọng với công tác tích hợp Giáo dục pháp luật, vì tổ chức đoàn là tổ chức của học sinh, sinh viên và gắn bó chặt chẽ với học sinh, sinh viên. Bản thân học sinh chịu ảnh hưởng giáo dục nhiều từ tổ chức Đoàn.
Sự phối hợp giữa các lực lượng trong nhà trường, như ban giám hiệu, tổ chuyên môn, các tổ chức chính trị trong nhà trường Trung học phổ thông là điều kiện cơ bản đảm bảo sự thành công trong công tác tích hợp Giáo dục pháp luật, bởi vì công tác quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật có sự tham gia của tất cả các lực lượng trong nhà trường.
1.5.2.4. Các điều kiện đảm bảo cho hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật
Quyết định số 1928/QĐ-TTg ngày 20/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ nêu các nhiệm vụ về điều kiện đảm bảo phục vụ công tác phổ biến, Giáo dục pháp luật: “Bổ sung tài liệu, thiết bị phục vụ công tác phổ biến, Giáo dục pháp luật trong nhà trường. Bổ sung các tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy và học tập; tài liệu pháp luật theo chuyên đề, các đề cương tuyên truyền pháp luật, sách hỏi đáp pháp luật, sách pháp luật phổ thông, báo, tạp chí chuyên ngành về luật, sách hệ thống hóa về pháp luật và các tài liệu phổ biến, Giáo dục pháp luật khác; duy trì và phát triển tủ sách pháp luật ở các cơ sở giáo dục.” (Chính phủ, 2009)
Cơ sở vật chất cho việc Giáo dục pháp luật, bao gồm nhiều loại: kinh phí dành cho Giáo dục pháp luật, phòng ốc, trang thiết bị máy móc… Cơ sở vật chất là điều kiện quan trọng cho công tác tích hợp Giáo dục pháp luật. Vì vậy việc đầu tư trang bị cơ sở vật chất tốt sẽ là điều kiện vật chất nâng cao hiệu quả của công tác tích hợp Giáo dục pháp luật và quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật trong nhà trường.
Kết luận chương 1
Quản lý tích hợp Giáo dục pháp luật ở trường Trung học phổ thông có thể được hiểu là sự tác động một cách có hệ thống, có mục đích của các chủ thể quản lý đến các hoạt động giáo dục nhằm trang bị kiến thức và hình thành năng lực thực hành pháp luật cho học sinh. Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
Trong điều kiện chương trình Trung học phổ thông hiện nay, chúng ta chưa có môn học pháp luật riêng cho học sinh nên việc tích hợp Giáo dục pháp luật và việc quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật là một giải pháp nhằm góp phần tích cực vào việc giáo dục đạo đức, nhân cách, tạo nền tảng then chốt để phát triển con người toàn diện, góp phần quan trọng trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Từ những phân tích và hệ thống các tài liệu lý luận ở nước ngoài, ở Việt Nam có liên quan, đề tài đã làm rõ các khái niệm cơ bản: Quản lý; Quản lý giáo dục; Quản lý nhà trường; pháp luật; giáo dục pháp luật; tích hợp; tích hợp giáo dục pháp luật; quản lý tích hợp giáo dục pháp luật. Đồng thời xác định được khung lý luận cơ bản về: Vai trò của hiệu trưởng trong quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh các trường Trung học phổ thông; Mục tiêu, nhiệm vụ của Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông; Cơ sở lý luận về hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh các trường Trung học phổ thông và Quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh các trường Trung học phổ thông. Nội dung quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông bao gồm: Lập kế hoạch tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông; Tổ chức hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông; Chỉ đạo điều khiển tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông; Kiểm tra đánh giá hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông trên cơ sở xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông: Các yếu tố chủ quan thuộc về phía nhà trường Trung học phổ thông; Yếu tố khách quan thuộc về môi trường bên ngoài nhà trường. Luận văn: Quản lý hoạt động tích hợp giáo dục pháp luật học sinh.
Các nội dung đã trình bày ở Chương 1 là cơ sở khoa học để hình thành phương pháp và thiết kế các phiếu hỏi, đề cương phỏng vấn trong Chương 2 – Thực trạng quản lý hoạt động tích hợp Giáo dục pháp luật cho học sinh Trung học phổ thông.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý tích hợp giáo dục pháp luật học sinh
