Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường trung học cơ sở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

Bác Hồ nói “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có con người xã hội chủ nghĩa”, con người xã hội chủ nghĩa đã trở thành mục tiêu hàng đầu quan trọng của cách mạng Việt Nam. Trên con đường đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế, Đảng ta xác định con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội, trong đó nhấn mạnh vừa là cơ sở, con đường, điều kiện phát triển con người, nâng cao năng suất, chất lượng nguồn lao động. Giáo dục luôn gắn liền với sự phát triển của loài người, sự tồn tại và phát triển kinh tế – xã hội luôn chịu sự chi phối của giáo dục và ngược lại việc phát triển của kinh tế – xã hội có vai trò to lớn trong việc phát triển giáo dục; giáo dục là công cụ, phương tiện để cải tiến xã hội.

Những năm vừa qua, đất nước ta đang chuyển mình trong công cuộc đổi mới sâu sắc và toàn diện, từ một nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Với công cuộc đổi mới, chúng ta có nhiều thành tựu to lớn rất đáng tự hào về phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa – giáo dục.

Nghị quyết số 29-NQ/TW ban hành ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo đã nêu rõ mục tiêu mới cho nền giáo dục Việt Nam: “Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ Quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt”.

Trong thời đại của công nghệ hội nhập và phát triển, nhân loại đang bước vào cuộc cách mạng 4.0 – Trí tuệ nhân tạo, mà hạt nhân là giáo dục, ở Việt Nam, giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu. Vậy để đáp ứng được yêu cầu đó, đòi hỏi con người phải phát triển toàn diện theo đúng năng lực của mỗi cá nhân.

Là một bộ phận hợp thành của giáo dục xã hội, giáo dục thể chất không thể tách biệt khỏi quá trình giáo dục toàn diện trong nhà trường phổ thông. Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

Trong chương trình giáo dục phổ thông theo Thông tư số 32/2018/TTBGDĐT ngày 26/12/2018, giáo dục thể chất trong nhà trường phổ thông góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh, trọng tâm là: Trang bị cho học sinh kiến thức và kĩ năng chăm sóc sức khỏe; kiến thức và kĩ năng vận động; hình thành thói quen tập luyện, biết lựa chọn môn thể thao phù hợp để luyện tập nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực; trên cơ sở đó giúp học sinh có ý thức, trách nhiệm đối với sức khỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng, thích ứng với các điều kiện sống, sống vui vẻ, hòa đồng với mọi người. Dạy học theo chương trình giáo dục phổ thông mới là điều kiện tốt nhất cho từng cá nhân trong học tập; phải hướng đến xây dựng môi trường học tập mới, trong đó người học tùy theo năng lực đặc điểm cá nhân, có được các cơ hội lựa chọn để phát triển. Hiện nay, việc dạy học trong các trường THCS theo chương trình giáo dục phổ thông mới đã và đang được nghiên cứu, áp dụng hiệu quả. Việc nghiên cứu các biện pháp quản lí dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới cũng là vấn đề đáng được quan tâm.

Các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang có truyền thống về dạy tốt, học tốt. Với công cuộc đổi mới hiện nay, cán bộ, giáo viên, nhân viên các trường đã nắm bắt được chủ trương của Đảng “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học”. Tuy nhiên, việc triển khai và thực hiện việc dạy học theo chương trình giáo dục phổ thông mới cũng như công tác quản lý hoạt động dạy học còn nhiều lúng túng. Đặc biệt là với môn Giáo dục thể chất vốn vẫn được coi là “môn phụ”.

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, tác giả lựa chọn vấn đề:“Quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang” làm đề tài nghiên cứu.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Nhận Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Quản Lý Giáo Dục

2. Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục ở nhà trường.

3. Khách thể và đối tương nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới (2018) ở các trường trung học cơ sở.

3.2 Đối tượng nghiên cứu Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

Quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

4. Giả thuyết khoa học

Quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đã đạt được những kết quả tốt. Tuy nhiên còn tồn tại một số vấn đề trong đó vấn đề cơ bản nhất là ở khâu quản lý. Cụ thể là:

  • Việc quản lí tổ chức bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên, học sinh về vai trò của hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu Chương trình GDPT mới ở trường THCS;
  • Công tác quản lí bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ giáo viên đáp ứng yêu cầu Chương trình GDPT mới;
  • Quản lí phân công giảng dạy phù hợp để phát huy năng lực của giáo viên;
  • Quản lí hoạt động ngoại khóa môn Giáo dục thể chất cho HS THCS;
  • Quản lí huy động các lực lượng giáo dục;
  • Quản lí cơ sở vật chất;
  • Quản lí hoạt động kiêm tra, đánh giá.

Nếu những biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang mà bao quát được hoạt động tương tác của giáo viên và học sinh theo chương trình giáo dục phổ thông mới như tác giả đã nêu ra trong luận văn được áp dụng thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học, cũng như chất lượng giáo dục toàn diện ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
  • Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang và tìm ra nguyên nhân.
  • Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

Đề tài tập trung nghiên cứu một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.Cụ thể là:

Nghiên cứu tiến hành khảo sát với 640 người. Trong đó bao gồm Lãnh đạo, chuyên viên Phòng giáo dục Trung học- Sở GD-ĐT Bắc Giang; Lãnh đạo, chuyên viên Phòng GD&ĐT huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, Cán bộ quản lý, giáo viên dạy môn Giáo dục thể chất và học sinh của 31 trường THCS, TH&THCS trong huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Phân tích các tài liệu khoa học về quản lý, quản lý dạy học và quản lý trường học có liên quan tới đề tài. Phân tích các văn bản về chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về giáo dục và đào tạo, các văn bản của ngành giáo dục; Nghiên cứu các sách báo, tạp chí có liên quan tới đề tài.

7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.1.Phương pháp điều tra khảo sát bằng phiếu

Thu thập các tài liệu thực tế, tìm hiểu các đặc trưng, tính chất của vấn đề. Sử dụng hệ thống câu hỏi đối với giáo viên và học sinh nhà trường để thu thập số liệu, đánh giá thực trạng.

7.2.2. Phương pháp chuyên gia

Dùng để tham khảo, lấy ý kiến của các chuyên gia, những nhà quản lí có nhiều năm kinh nghiệm.

7.2.3. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Nghiên cứu các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang mà các biện pháp của nó mang lại giá trị thực tiễn và lý luận để phổ biến.

7.3. Phương pháp sử dụng toán thống kê

Để xử lý số liệu điều tra.

8. Đóng góp của đề tài (về khoa học và thực tiễn)

8.1 Về khoa học Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

Đáp ứng được mục tiêu giáo dục là phát triển con người toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân của học sinh các trường THCS làm cơ sở cho các nghiên cứu biện pháp quản lí dạy học nói chung và quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất ở các trường THCS trong địa bàn nói riêng.

8.2. Về thực tiễn

  • Hòa được vào nhu cầu đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông mới ngay ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
  • Nâng cao chất lượng dạy và học môn Giáo dục thể chất ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
  • Đẩy mạnh phát triển các câu lạc bộ môn học Thể chất trong trường học.

9. Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn được cấu trúc trong ba chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS.
  • Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
  • Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC THỂ CHẤT ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Ở nước ngoài

Hoạt động dạy học là hoạt động cốt lõi trong nhà trường, là con đường quan trọng nhất để đạt được mục đích nâng cao chất lượng giáo dục. Trên thế giới cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này:

Jan AmosKomenski (1592 – 1669) là một nhà giáo dục vĩ đại không những của nhân dân Cộng hoà Séc mà còn cả thế giới. Trong tác phẩm “Phép giảng giải vĩ đại” Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

Một tác phẩm nồi tiếng của J.A. Komcnski xuất bản năm 1632, ông khẳng định: giáo dục đúng đắn nhất là phải phù hợp với tự nhiên. Cái tự nhiên ấy không phải là trừu tượng, khái quát mà chính là đặc điểm, khả năng phát triền của con người ở từng thời kì lứa tuổi, trong mỗi con người cụ thể, trong đó giáo dục phải bao gồm cái chung, cái riêng, cái tập thể, cái cá biệt. Ông nhấn mạnh đặc biệt tới tầm quan trọng của phương pháp dạy học tích cực. Người giáo viên lên lớp không phải cứ nói thao thao bất tuyệt, truyền thụ càng nhiều nguồn tri thức cho học sinh là càng tốt mà quan trọng là người học có tích cực, chủ động, sáng tạo và hứng thú với bài học không. Komenxki đã đưa ra bí quyết về phương pháp giảng dạt: “Bí quyết của giáo dục là rèn luyện cho các em một tâm hồn dễ dàng, tích cực, tự do, ngăn cản được các điều mà các em muốn làm, ngược lại đẩy các em làm những điều mà chúng không muốn”. Ông nêu rõ: Chủ yếu dạy các em qua việc làm chứ không phải qua lời giảng” [32].

John Dewey (1858-1925) nhà sư phạm người Mỹ nổi tiếng thế kỉ XX đã đưa ra những định hướng mang tính cách tân giáo dục: Học sinh là mặt trời, xung quanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục. người giáo viên không quan trọng là nói nhiều mà quan trọng là tồ chức hoạt động của học sinh [33].

Kharlamop, nhà giáo dục Xô Viết, trong cuốn “Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào” đã viết trong phẩn lời nói đầu: “Một trong những vấn đề cần bàn của nhà trường Xô Viết hiện đang lo lắng và giải quyết làviệc phát huy tính tích cực trong hoạt động nhận thức của học sinh trong quá trình dạy học” [42].

Trong cuốn “Dạy học nêu vấn đề” của tác giả I.Ia Lecne nhà giáo dục Xô Viết đã nói: “Mục đích của tập sách mỏng này là làm sáng tỏ bản chất của PPDH gọi là dạy học nêu vấn đề, vạch rõ cơ sở của phương pháp đó, tác dụng của nó, phạm vi áp dụng nó”[31].

V.Ôkôn, nhà giáo dục Ba Lan nổi tiếng đã đúc kết ra những kết quả tích cực của công trình thực nghiệm hàng chục năm về dạy học phát huy tính tích cực. Ông đã nêu lên tính quy luật chung của dạy học nêu vấn đề, cách áp dụng phương pháp vào một số ngành khoa học và điều đó được thể hiện cụ thể ở cuốn sách “Những cơ sở của việc dạy học nêu vấn đề”.

Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên thế giới cũng đã ít nhiều đề cập tới quá trình quản lý hoạt động dạy học sao cho đạt hiệu quả đặc biệt là đưa ra những biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh. Tuy nhiên, chưa có nhiều công trình nghiên cứu sâu về quản lý hoạt động dạy học môn giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS. Đó cũng là hướng nghiên cứu đã lựa chọn của đề tài

1.1.2. Ở trong nước

Hồ Chủ tịch đã dạy: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới thành công. Mỗi một người dân yếu ớt, tức là làm cho cả nước yếu ớt một phần; mỗi một người dân khỏe mạnh, tức là góp phần cho cả nước mạnh khỏe. Vậy nên luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe, tức là góp phần cho cả nước mạnh khỏe”. Thấm nhuần lời dạy của Người, toàn dân tộc Việt Nam, trong đó có lực lượng sinh viên đang ra sức thi đua học tập, rèn luyện, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

Giáo dục và phát triển giáo dục trong Nhà trường có ý nghĩa to lớn trong việc phát huy và bồi dưỡng nhân tố con người. Đồng thời góp phần nâng cao thể lực giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống lành mạnh, làm phong phú đời sống văn hóa, phát huy tinh thần dân tộc của con người Việt Nam, tăng cường và giữ vững an ninh quốc phòng cho đất nước.

Trong thời kỳ mới của cách mạng Việt Nam trước hết phải nói đến quan điểm phát triển giáo dục của Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890- 1969). Bằng việc kế thừa những tinh hoa của các tư tưởng giáo dục tiên tiến và việc vận dụng sáng tạo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, Người đã để lại cho chúng ta nền tảng lý luận về vai trò của giáo dục, định hướng phát triển giáo dục, mục đích dạy học, các nguyên lý dạy học, các phương thức dạy học, vai trò của quản lý và cán bộ quản lý giáo dục, phương pháp lãnh đạo và quản lý… Thực tiễn đã khẳng định rằng: Hệ thống các tu tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục có giá trị cao trong quá trình phát triển lý luận dạy học, lý luận giáo dục của nền giáo dục cách mạng Việt Nam.

Gần đây, có nhiều công trình khoa học quản lý của các nhà nghiên cứu, giảng viên đại học… viết dưới dạng giáo trình, sách tham khảo, phổ biến kinh nghiệm đã dược công bố, đó là các sách, giáo trình của: Phạm Thành Nghị, Đặng Bá Lãm, Đặng Hữu Đạo, Nguyễn Tiến Dũng, Nguyễn Chân, Nguyễn Bá Dương, Nguyễn Gia Quý, Bùi Trọng Tuân, Nguyễn Đình Am… Các công trình nghiên cứu trên đã giải quyết được những vấn đề lý luận cơ bản về khoa học quản lý như: Khái niệm quản lý; bản chất của hoạt động quản lý; các thành phần cấu trúc, các giai đoạn của hoạt động quản lý… đồng thời chỉ ra các phương pháp và nghệ thuật quản lý. Tuy nhiên, những thành tựu đó cũng chỉ dừng lại ở mức độ lý luận, sử dụng làm tài liệu giảng dạy. Có nhiều tác giả nghiên cứu về lý luận về quản lý giáo dục, các giải pháp, kinh nghiệm quản lý rút ra từ thực tiễn của giáo dục Việt Nam.

Tiêu biểu là các 7 tác giả: Hà Thế Ngữ, Nguyễn Ngọc Quang, Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc.

Về phạm trù Giáo dục thể chất trong nhà trường, trong cuốn Tuyển tập nghiên cứu khoa học giáo dục thể chất, y tế trường học đã công bố công trình nghiên cứu của các tác giả trong lĩnh vực Giáo dục thể chất và y tế trường học. Trong số các nghiên cứu này có thể kể đến công trình của Ngũ Duy Anh và Vũ Đức Thu trong đề tài Định hướng chiến lược tăng cường Giáo dục thể chất, bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ học sinh trong nhà trường phổ thông các cấp đến năm 2010. Trong đề tài này, các tác giả đã đưa ra mục tiêu định hướng lâu dài, mục tiêu trước mắt 2003 – 2010 và đồng thời đưa ra các giải pháp chiến lược nhằm thực hiện để đạt được mục tiêu đề ra. Trong nghiên cứu khoa học của tác giả Ngũ Duy Anh và Trần Văn Lam với nội dung Nghiên cứu thực trạng và giải pháp nâng cao công tác Giáo dục thể chất trường học các tác giả đã đánh giá thực trạng về các hoạt động Giáo dục thể chất đồng thời vạch ra những khó khăn yếu kém và đề ra mục tiêu, giải pháp để khắc phục những hạn chế còn tồn tại. Phạm vi nghiên cứu đề tài này thực hiện trên các địa phương cả nước do đó nó thể hiện được bức tranh tổng thể công tác Giáo dục thể chất. Nhưng hạn chế của nó là chưa thể hiện được sự khác biệt giữa các vùng miền, địa phương và các giải pháp tương ứng. Trong các đề tài tiếp theo có thể kể đến công trình nghiên cứu của tác giả Hoàng Công Dân với đề tài Nghiên cứu biện pháp phát triển thể chất cho học sinh các trường trung học phổ thông dân tộc nội trú khu vực miền núi phía bắc.

Đề tài đã đánh giá được thực trạng phát triển thể chất của học sinh các trường dân tộc nội trú gồm các tỉnh Lào Cai, Hoà Bình, Cao Bằng, Bắc Kạn và cũng đề ra các biện pháp nhằm tăng cường thể chất cho đối tượng học sinh này. Biện pháp chủ yếu là bám sát nội dung chương trình dạy học để tăng cường thể lực, trang bị kỹ năng cho học sinh tốt hơn.Các tác giả đã nghiên cứu thực trạng Giáo dục thể chất, nghiên cứu lý luận về Giáo dục thể chất, đưa ra các tiêu chí đánh giá Giáo dục thể chất, xây dựng một số biện pháp tác động, đánh giá kết quả các biện pháp. Đây là những công trình nghiên cứu có chiều sâu về lý luận và phần thực trạng, đưa ra các biện pháp, thực nghiệm công phu. Nhìn chung các tác giả đã nghiên cứu đề cập đến lĩnh vực Giáo dục thể chất song chủ yếu mang tính tổng quát trên phạm vi rộng hoặc các biện pháp áp dụng cho việc vận dụng phương pháp, sử dụng các bài tập cụ thể… Việc nghiên cứu để đề xuất các hoạt động quản lý hoạt động Giáo dục thể chất cho cấp học THCS nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động Giáo dục thể chất là chưa được đề cập nhiều. Các thành quả nghiên cứu nêu trên của các nhà khoa học trong và ngoài nước là những tri thức làm cơ sở cho việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý Giáo dục thể chất trong trường THCS.

1.2. Một số khái niệm cơ bản Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

1.2.1. Quản lý

Theo Harold Koolz: Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm. Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất. “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [ 27].

Theo các nhà Tâm lý học thì: “Quản lý là hoạt động đặc biệt của con người trong xã hội, một hoạt động rất phức tạp và đa dạng. Đó là sự tác động toàn diện vào một nhóm người, một tập thể người, điều khiển họ hoạt động nhằm đạt tới mục đích nhất định đã được đề ra từ trước”.Quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội; quản lý gồm những công việc chỉ huy và tạo điều kiện cho những người khác thực hiện công việc và đạt được mục đích của nhóm. Theo tác giả Nguyễn Văn Lê: “Quản lý là một công việc vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật”. Ông viết “Quản lý một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là vào những con người nhằm đạt được hiệu quả tối ưu đã đề ra” [41].

Nói một cách đơn giản, dễ hiểu thì quản lý là sự tác động liên tục, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý có liên quan) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến.

Như vậy có thể khái quát lại: Quản lý một hệ thống là một khoa học, là một nghệ thuật đồng thờ i quản lý còn là một nghề (nghề quản lý). Muốn điều hành các hoạt động của một tổ chức có kết quả một cách chắc chắn thì trướctiên các nhà quản lý phải được đào tạo nghề nghiệp (kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm) một cách chu đáo để phát hiện, nhận thức một cách chuẩn xácvà đầy đủ các quy luật khách quan xuất hiện trong quá trình hoạt động. Đồng thời có phương pháp, nghệ thuật thích hợp nhằm tuân thủ đúng các đòi hỏi của các quy luật đó.

Từ những điểm chung trên ta có thể hiểu: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường”.

1.2.2. Quản lý giáo dục Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

Quản lý giáo dục có thể xác định là tác động có hệ thống, có kế hoạch,có ý thức và có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (từ Bộ cho đến Trường), nhằm mục đích bảo đảm việc giáo dục, hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật chung của xã hội cũng như các quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý trẻ em.

Theo ông Phạm Minh Hạc khái niệm quản lý giáo dục cũng là khái niệm quản lý trường học: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”.“Việc quản lý nhà trường phổ thông là quản lý hoạt động dạy – học tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần tiến tới mục tiêu giáo dục” [ 25].

Vậy, “Quản lý giáo dục nói chung (và quản lý trường học nói riêng) là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (hệ thống giáo dục) nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm là hội tụ quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [25,tr.35].

Tóm lại: Quản lý giáo dục là một chuỗi tác động hợp lý của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào mọi hoạt động. Đó là hoạt động có tính mục đích, được tổ chức một cách khoa học của hiệu trưởng nhằm tổ chức chỉ đạo một cách khoa học các hoạt động giáo dục và đào tạo trong nhà trường, hướng tới những mục tiêu đã định.

1.2.3. Hoạt động dạy học

Tác giả Phạm Minh Hạc có đưa ra khái niệm dạy học như sau: “Dạy học là một chức năng xã hội, nhằm truyền đạt, lĩnh hội những kiến thức và kinh nghiệm mà xã hội tích lũy được, biến kiến thức, kinh nghiệm xã hội thành phẩm chất và năng lực cá nhân” [26].

Hoạt động dạy học là một quá trình bao gồm hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò, là một bộ phận của quá trình tổng thể giáo dục nhân cách toàn vẹn, là quá trình tác động qua lại giữa GV và HS nhằm truyền thụ và lĩnh hội những tri thức khoa học, những kỹ năng, kỹ xảo của hoạt động nhận thức và thực tiễn. Trên cơ sở đó, hình thành nên thế giới quan, phát triển năng lực sáng tạo và xây dựng các phẩm chất của nhân cách người học theo mục đích giáo dục.

1.2.4. Quản lí hoạt động dạy học

Trong quản lý nhà trường, quản lý dạy hoạt động học là hoạt động cơ bản, đặc trưng cho trường học. Quản lý hoạt động dạy học là quản lý hoạt động của thầy, hoạt động của trò và những điều kiện vật chất phục vụ việc dạy và học.

Theo chúng tôi, quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường là một hệ thống những tác động sư phạm có hướng đích của chủ thể quản lý (hiệu trưởng, hiệu phó, tồ trưởng chuyên môn) đến khách thể quản lý (tập thể GV, tập thể học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường) nhằm huy động sức lực trí tuệ của họ vào mọi hoạt động của nhà trường, hướng vào việc hoàn thành có chất lượng và hiệu quả mục tiêu nhiệm vụ dạy học. Bản chất của hoạt động quản lý là ở chỗ chủ thể quản lý tác động một cách có hệ thống, có mục đích đến khách thể quản lý nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ đề ra. Quản lý hoạt động dạy học trong nhà trường phổ thông bao gồm: Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

Quản lý hoạt động của giáo viên: Phân công chủ nhiệm và giảng dạy, xếp và quản lý thời khóa biểu, sinh hoạt chuyên môn, hội thảo và bồi dưỡng chuyên môn, thực hiện quy chế chuyên môn, xây dựng kế hoạch chuyên môn…

Quản lý hoạt động của học sinh: Lập hồ sơ học sinh, xếp lớp theo nguyện vọng, theo dõi chuyên cần, đánh giá xếp loại học sinh, bồi dưỡng học sinh giỏi và phụ đạo học sinh yếu, kém, tổ chức kiểm tra định kỳ…

1.2.5. Giáo dục thể chất

Theo từ điển thể thao Nga Việt của Nguyễn Văn Hiếu chủ biên (1979) thì “GDTC được hiểu là một loại hình giáo dục lấy nhiệm vụ chủ yếu là phát triển thể lực tăng cường thể chất làm chính, thông qua tham gia các môn thể thao để thực hiện” [29, tr.198].

Nôvicốp và Mátvêép thì cho rằng “GDTC là hoạt động cơ bản có định hướng TDTT trong xã hội, là một quá trình tổ chức để truyền thụ và tiếp thunhững giá trị của TDTT trong hệ thống giáo dục, giáo dưỡng chung ở nhà trường các cấp” [37].

Còn các nhà lý luận TDTT của Việt Nam như Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn thì cho rằng do bắt nguồn từ gốc hán nên có người gọi tắt Giáo dục thể chất là thể dục theo nghĩa tương đối hẹp vì theo nghĩa rộng của từ Hán cũ Thể dục còn có nghĩa là TDTT. Bởi vậy theo hai tác giả trên thì Giáo dục thể chất là một trong những hình thức hoạt động cơ bản có định hướng rõ của TDTT trong xã hội, một quá trình có tổ chức để truyền thụ và tiếp thu những giá trị của TDTT trong hệ thống giáo dục và giáo dưỡng chung (chủ yếu trong các nhà trường. Trong quá trình Giáo dục thể chất ngoài giáo dưỡng thể chất thì việc giáo dục phẩm chất đạo đức và phòng cách TDTT cho người học cũng hết sức quan trọng [45, tr.32].

Cũng theo hai tác giả trên thì đặc trưng cơ bản và chuyên biệt thứ nhất của giáo dưỡng thể chất là dạy học vận động và đặc trưng thứ hai là sự tác động có chủ đích đến sự phát triển theo định hướng các tố chất thể lực nhằm nâng cao sức vận động của con người. Từ đó hai tác giả đã đưa ra định nghĩa: “GDTC là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác)và phát triển có chủ đích các tố chất vận động của con người”[45, tr.24].

Theo chúng tôi, giáo dục thể chất là một quá trình được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch thực hiện với chức năng chuyên biệt nhằm phát triển các kỹ năng vận động, các tố chất vận động và phát triển thể lực cho người học.

Giáo dục thể chất là một trong những nội dung giáo dục toàn diện nhân cách người học trong các nhà trường nói chung và trường THCS nói riêng, nó có thể được tiến hành bằng nhiều con đường, trong đó con đường dạy học môn thể dục là con đường cơ bản và quan trọng nhất.

1.2.6. Quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường trung học cơ sở

Với cách tiếp cận Quản lý TDTT nói chung và quản lý Giáo dục thể chất nói riêng là một bộ phận không thể thiếu được của quản lý xã hội Xã hội chủ nghĩa nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội của Đảng và Nhà nước, các nhà quản lý học TDTT của Liên Xô cũ và Trung Quốc như Nôvicốp, Mátvê ép (Liên Xô cũ), Dụ Kế Anh, Chu Nghiêm Kiệt (Trung Quốc) đã đi đến khái niệm về quản lý TDTT trong đó có quản lý TDTT trường học tức Giáo dục thể chất trường học như sau:“Quản lý Giáo dục thể chất là sự tác động liên tục mang tính mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu Giáo dục thể chất đã đề ra”[37, tr.27]. Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

Còn các nhà nghiên cứu quản lý học TDTT ở nước ta với cách tiếp cận quản lý TDTT hướng vào hoạt động có ý thức, có tổ chức của con người nhằm không ngừng phát triển sự nghiệp TDTT và sự nghiệp Giáo dục thể chất cho học sinh, sinh viên trường học các cấp, góp phần đào tạo con người phát triển toàn diện đức, trí, thể, mỹ phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Từ khái niệm về quản lý Giáo dục thể chất của các học giả trong và ngoài nước, ta có thể khái quát về quản lý Giáo dục thể chất như sau:

Quản lý Giáo dục thể chất là tổ chức điều hành phối hợp các lực lượng Giáo dục thể chất nhằm thúc đẩy công tác Giáo dục thể chất cho thế hệ trẻ theo đúng nguyên lý giáo dục, đúng mục tiêu đào tạo và phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội.

Quản lý Giáo dục thể chất với đặc trưng cơ bản là quản lý con người nên đòi hỏi phải có tính khoa học, tính nghệ thuật, tính kỹ thuật cao. Trong quá trình quản lý hiệu quản Giáo dục thể chất được đo lường bằng kết quả thực hiện các mục tiêu quản lý, trong đó mục tiêu phát triển thể chất và kỹ năng vận động là cơ bản.

Với cách tiếp cận nghiên cứu của đề tài luận văn, chúng tôi chọn khái niệm sau đây làm khái niệm công cụ: “Quản lý HĐGDTC là sự tác động liên tục mang tính mục đích, tính kế hoạch của người quản lý (chủ thể quản lý) lên khách thể quản lý (chương trình, kế hoạch giảng dạy, hoạt động dạy học của giáo viên, học sinh, cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy) nhằm thúc đẩy và nâng cao công tác giáo dục thể chất cho học sinh sinh viên theo đúng nguyên lý giáo dục, đúng mục tiêu giáo dục và phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội”.

1.3. Yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường trung học cơ sở và vấn đề đặt ra cho quản lý hoạt động dạy học môn học Giáo dục thể chất

1.3.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về Thể dục thể thao và quản lý Giáo dục thể chất

Trong suốt các chặng đường lãnh đạo của cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn coi trọng Giáo dục thể chất là một bộ phận quan trọng của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa nhằm đào tạo thế hệ trẻ pháp triển toàn diện, có tri thức, đạo đức và hoàn thiện về thể chất.

Quan điểm này của Đảng đã được thể hiện trong văn kiện các lần đại hội Đảng toàn quốc từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III, Đảng ta đã nêu rõ: “… Con người là vốn quý nhất của chế độ XHCN, bảo vệ và bồi dưỡng sức khoẻ của con người là nghĩa vụ và mục tiêu cao quý của ngành y tế, TDTT…”[15]. Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

Năm 1961 trong nghị quyết TW8 khoá III, Đảng ta đã chỉ thị: “Bắt đầu đưa việc dạy thể dục và một số môn thể thao cần thiết vào chương trình học tập của các trường phổ thông, chuyên nghiệp và đại học”.

Tháng 6 năm 1975, khi miền Nam mới được giải phóng, Đảng ta đã ra chỉ thị CT/TW về công tác giáo dục ở miền Nam sau ngày giải phóng. Chỉ thị đã nêu rõ:

“Nội dung giáo dục phổ thông phải toàn diện, bao gồm giáo dục chính trị và đạo đức cách mạng, giáo dục văn hoá khoa học, giáo dục kỹ thuật, giáo dục lao động và giáo dục thể chất”.

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV năm 1976, tổng bí thư Lê Duẩn lại một lần nữa nhấn mạnh “… cần nâng cao chất lượng toàn diện của nội dung giáo dục, hiện đại hoá chương tình học tập khoa học và kỹ thuật, mở rộng kiến thức quản lý kinh tế. Coi trọng đúng mức giáo dục thẩm mỹ, TDTT và tập luyện quân sự” [16].

Năm 1986 trong báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW Đảng khoá VI đã tiếp tục nhấn mạnh: “Mở rộng và nâng cao chất lượng phong trào TDTT… nâng cao chất nước Giáo dục thể chất trong các trường học” [17].

Trong Văn kiện hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành TW Đảng khoá VII năm 1991, Đảng ta tiếp tục khẳng định: “…cần coi trọng nâng cao chất lượng Giáo dục thể chất trong các trường học” [18].

Trong văn kiện đại hội Đảng các khoá VIII, IX, X Đảng ta đều tái khẳng định cần phải nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, cần đổi mới tạo chuyển biến rõ rệt về chất lượng và hiệu quả Giáo dục thể chất đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước[19]; [20]; [21].

Qua quan điểm đường lối thể hiện qua các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, ta có thể nhận thấy Đảng ta luôn nhất quán quan điểm coi trọng công tác Giáo dục thể chất trong trường học các cấp. Coi Giáo dục thể chất là một bộ phận quan trọng trong nền giáo dục XHCN, là một nội dung không thể thiếu trong chương trình đào tạo ở các trường học. Đó chính là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc quản lý Giáo dục thể chất trong các Nhà trường nói chung và Phòng GD- ĐT Lục Nam nói riêng.

Trong quá trình thực hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp giáo dục nói chung và Giáo dục thể chất nói riêng, Quốc hội, Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành nhiều văn bản pháp quy để chỉ đạo cho công tác GD và Giáo dục thể chất.

Trước hết ta có thể nhận thấy tính chất pháp lý của hoạt động Giáo dục thể chất thể hiện qua điều 41 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 1992 đã ghi rõ: “Quy định chế độ Giáo dục thể chất bắt buộc trong trường học các cấp”.

Tính chất pháp lý của hoạt động Giáo dục thể chất còn được thể hiện rất rõ ở các điều 22, 27, 33, 39 của Luật giáo dục ngày 04/6/2005. Các điều luật này đã xác định rõ mục tiêu phát triển toàn diện Đức, Trí, Thể, Mỹ cho đối tượng giáo dục.

Luật quy định: “Nhà nước coi trọng TDTT trường học nhằm phát triển và hoàn thiện thể chất cho tầng lớp thanh, thiếu niên nhi đồng. Giáo dục thể chất là nội dung bắt buộc với học sinh sinh viên được thực hiện trong hệ thống giáo dục quốc dân từ mầm non đến đại học”. Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

Pháp lệnh TDTT được uỷ ban thường vụ quốc hội khoá X thông qua ngày 25/9/2000 ở điều 14 chương III quy định “TDTT trường học bao gồm Giáo dục thể chất và hoạt động ngoại khoá cho người học”. “GDTC trong trường học là chế độ Giáo dục thể chất bắt buộc nhằm nâng cao sức khoẻ phát triển thể chất, góp phần bồi dưỡng nhân cách, đáp ứng yêu cầu giáo dục toàn diện cho người học. Nhà nước khuyến khích ngoại khoá trong nhà trường”.

Tính chất pháp lý của hoạt động Giáo dục thể chất còn thể hiện ở các thông tư, chỉ thị, các quy chế, quyết định về công tác Giáo dục thể chất của Bộ GD-ĐT, cụ thể các chỉ thị như sau:

Chỉ thị 14/TDQS ngày 24/6/1971 của Bộ GD-ĐT về việc thực hiện chế độ RLTT theo lứa tuổi trường học các cấp.

Thông tư liên Bộ GD – TDTT số 403 ngày 17/6/1975 ban hành tiêu chuẩn rèn luyện thân thể.

Ngày 10/01/1990 Thông tư liên Bộ GD-ĐT-TDTT-Tài chính lao động thương binh xã hội số 01/TT đã quy định chế độ bồi dưỡng và trang phục thể thao.

Quyết định số 931/RLTC ngày 29/4/1993 của Bộ GD-ĐT quy định về các yêu cầu được cấp chứng chỉ TDTT để hoàn thành điều kiện cần và bắt buộc khi thi tốt nghiệp của học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng vàTHCN.

Thông tư liên tịch số 04-93/GD-ĐT-TDTT ngày 17/6/1993 về việc xây dựng kế hoạch đồng bộ, xác định mục tiêu, nội dung, biện pháp nhằm cải tiến công tác tổ chức quản lý TDTT và Giáo dục thể chất trong trường học các cấp đến năm 2025.

Chỉ thị ngày 02/5/2004 của Bộ GD-ĐT và quyết định ngày 01/9/2004 của Bộ GD-ĐT nhằm nâng cao chất lượng GD-ĐT nói chung và Giáo dục thể chất nói riêng.

Tất cả các cơ sở về quan điểm và đường lối chỉ đạo công tác Giáo dục thể chất của Đảng và Nhà nước ta, các văn bản pháp quy, thông tư, chỉ thị, quy chế của Nhà nước và Bộ GD-ĐT là những cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động Giáo dục thể chất ở các trường học ở nước ta.

1.3.2. Một số vấn đề đặt ra cho hoạt động dạy học môn học Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường trung học cơ sở

GDTC góp phần hình thành các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung cho học sinh (HS); bên cạnh đó, thông qua việc trang bị kiến thức về sức khoẻ, quản lý sức khỏe và rèn luyện, giáo dục thể chất giúp HS hình thành và phát triển năng lực thể chất và văn hoá thể chất, ý thức trách nhiệm đối với sức khỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng; biết lựa chọn môn thể thao phù hợp với năng lực vận động của bản thân để luyện tập; biết thích ứng với các điều kiện sống, lạc quan và chia sẻ với mọi người; có cuộc sống khoẻ mạnh về thể lực và tinh thần.

Nội dung chủ yếu của môn học Giáo dục thể chất là rèn luyện kỹ năng vận động và phát triển tố chất thể lực cho HS bằng những bài tập đa dạng như rèn kỹ năng vận động cơ bản, đội hình đội ngũ, các bài tập thể dục, các trò chơi vận động, các môn thể thao và phương pháp phòng tránh chấn thương trong hoạt động. Trong chương trình giáo dục phổ thông, nội dung giáo dục thể chất được phân chia theo hai giai đoạn: Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

  • Trong giai đoạn giáo dục cơ bản, Giáo dục thể chất là môn học bắt buộc, giúp HS biết cách chăm sóc sức khoẻ và vệ sinh thân thể; hình thành thói quen tập luyện nâng cao sức khoẻ; thông qua các trò chơi vận động và tập luyện thể dục, thể thao hình thành các kỹ năng vận động cơ bản, phát triển các tố chất thể lực, làm cơ sở để phát triển toàn diện.
  • Trong giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, Giáo dục thể chất được thực hiện thông qua hình thức câu lạc bộ thể thao, HS được chọn nội dung hoạt động thể thao phù hợp với nguyện vọng của mình và khả năng đáp ứng của nhà trường. Các em được tiếp tục phát triển kỹ năng chăm sóc sức khoẻ và vệ sinh thân thể, phát triển về nhận thức và năng khiếu thể thao, giúp những học sinh có năng khiếu thể thao định hướng nghề nghiệp phù hợp.
  • Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

Như vậy, một số vấn đề đặt ra cho hoạt động dạy học môn học giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS là:

  • Mục tiêu dạy học môn Giáo dục thể chất.
  • Nội dung, chương trình dạy học môn Giáo dục thể chất.
  • Phương pháp, hình thức dạy học môn Giáo dục thể chất.
  • Hoạt động học tập của học sinh với môn Giáo dục thể chất.
  • Hoạt động giảng dạy của giáo viên với môn Giáo dục thể chất.
  • Sử dụng phương tiện dạy học trong dạy học môn Giáo dục thể chất.
  • Hoạt đông bồi dưỡng học sinh có năng khiếu môn Giáo dục thể chất.
  • Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Giáo dục thể chất.

1.3.3. Một số vấn đề đặt ra cho quản lý hoạt động dạy học môn học Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường trung học cơ sở

Sau hơn 30 năm đổi mới, đất nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nước ta đã thoát ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Tuy nhiên, những thành tựu về kinh tế của nước ta chưa vững chắc, chất lượng nguồn nhân lực và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao, môi trường văn hoá còn tồn tại nhiều hạn chế, chưa hội đủ các nhân tố để phát triển nhanh và bền vững.

Cũng trong khoảng thời gian trước và sau khi nước ta tiến hành đổi mới, thế giới chứng kiến những biến đổi sâu sắc về mọi mặt. Các cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba và lần thứ tư nối tiếp nhau ra đời, kinh tế tri thức phát triển mạnh đem lại cơ hội phát triển vượt bậc, đồng thời cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với mỗi quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển và chậm phát triển. Mặt khác, những biến đổi về khí hậu, tình trạng cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái và những biến động về chính trị, xã hội cũng đặt ra những thách thức có tính toàn cầu. Để bảo đảm phát triển bền vững, nhiều quốc gia đã không ngừng đổi mới giáo dục để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, trang bị cho các thế hệ tương lai nền tảng văn hoá vững chắc và năng lực thích ứng cao trước mọi biến động của thiên nhiên và xã hội. Đổi mới giáo dục đã trở thành nhu cầu cấp thiết và xu thế mang tính toàn cầu. Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

Trong bối cảnh đó, Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khoá XI) đã thông qua Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 4 tháng 11 năm 2013 về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28 tháng 11 năm 2014 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, góp phần đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Ngày 27 tháng 3 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 404/QĐ-TTg phê duyệt Đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông.

Mục tiêu đổi mới được Nghị quyết 88/2014/QH13 của Quốc hội quy định: “Đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhằm tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng và hiệu quả giáo dục phổ thông; kết hợp dạy chữ, dạy người và định hướng nghề nghiệp; góp phần chuyển nền giáo dục nặng về truyền thụ kiến thức sang nền giáo dục phát triển toàn diện cả về phẩm chất và năng lực, hài hoà đức, trí, thể, mĩ và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi học sinh”.

Theo yêu cầu đó, Giáo dục thể chất trong các trường học nói chung và các trường THCS nói riêng cũng cần đổi mới để đáp ứng với yêu cầu trong thời kì đổi mới. Mà muốn đổi mới có hiệu quả, đạt được mục tiêu đề ra thì việc quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất trong các trường THCS là là yếu tố then chốt trong việc hoàn thành mục tiêu đó; Quản lý Giáo dục thể chất là tổ chức điều hành phối hợp các lực lượng Giáo dục thể chất nhằm thúc đẩy công tác Giáo dục thể chất cho thế hệ trẻ theo đúng nguyên lý giáo dục, đúng mục tiêu đào tạo và phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội; Quản lý Giáo dục thể chất với đặc trưng cơ bản là quản lý con người nên đòi hỏi phải có tính khoa học, tính nghệ thuật, tính kỹ thuật cao. Trong quá trình quản lý hiệu quản Giáo dục thể chất được đo lường bằng kết quả thực hiện các mục tiêu quản lý, trong đó mục tiêu phát triển thể chất và kỹ năng vận động là cơ bản.

“Quản lý HĐGDTC là sự tác động liên tục mang tính mục đích, tính kế hoạch của người quản lý (chủ thể quản lý) lên khách thể quản lý (chương trình, kế hoạch giảng dạy, quá trình dạy học của giáo viên, học sinh, cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy) nhằm thúc đẩy và nâng cao chất lượng công tác giáo dục thể chất cho học sinh sinh viên theo đúng nguyên lý giáo dục, đúng mục tiêu đào tạo và phù hợp với yêu cầu phát triển của xã hội”.

Từ đó, ngày 26/12/2018 Bộ giáo dục và đào tạo đã ban hành Thông tư số 32/2018/TT-BGD ĐT, Thông tư Ban hành Chương trình giáo dục phổ thông. Theo đó:

Môn Giáo dục thể chất góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh, trọng tâm là: trang bị cho học sinh kiến thức và kĩ năng chăm sóc sức khoẻ; kiến thức và kĩ năng vận động; hình thành thói quen tập luyện, khả năng lựa chọn môn thể thao phù hợp để luyện tập nâng cao sức khoẻ, phát triển thể lực và tố chất vận động; trên cơ sở đó giúp học sinh có ý thức, trách nhiệm đối với sức khoẻ của bản thân, gia đình và cộng đồng, thích ứng với các điều kiện sống, sống vui vẻ, hoà đồng với mọi người. Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

Nội dung chủ yếu của môn Giáo dục thể chất là rèn luyện kĩ năng vận động và phát triển tố chất thể lực cho học sinh bằng những bài tập thể chất đa dạng như: các bài tập đội hình đội ngũ, các bài tập thể dục, các trò chơi vận động, các môn thể thao và kĩ năng phòng tránh chấn thương trong hoạt động thể dục thể thao.

Nội dung giáo dục thể chất được phân chia theo hai giai đoạn: Giai đoạn giáo dục cơ bản và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp

Giai đoạn giáo dục cơ bản: Môn Giáo dục thể chất giúp học sinh biết cách chăm sóc sức khoẻ và vệ sinh thân thể; hình thành thói quen tập luyện nâng cao sức khoẻ; thông qua các trò chơi vận động và tập luyện thể dục, thể thao hình thành các kĩ năng vận động cơ bản, phát triển các tố chất thể lực, làm cơ sở để phát triển toàn diện. Học sinh được lựa chọn nội dung hoạt động thể dục thể thao phù hợp với thể lực của mình và khả năng đáp ứng của nhà trường.

Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp: Môn Giáo dục thể chất được thực hiện thông qua hình thức câu lạc bộ thể dục thể thao. Học sinh được chọn nội dung hoạt động thể thao phù hợp với nguyện vọng của mình và khả năng đáp ứng của nhà trường để tiếp tục phát triển kĩ năng chăm sóc sức khỏe và vệ sinh thân thể, phát triển về nhận thức và năng khiếu thể thao, đồng thời giúp những học sinh có năng khiếu thể thao tự chọn định hướng nghề nghiệp phù hợp.

Chương trình môn Giáo dục thể chất quán triệt đầy đủ quan điểm, mục tiêu, yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực, kế hoạch giáo dục và định hướng về nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dụcđược quy định tại Chương trình tổng thể. Xuất phát từ đặc trưng của môn học, một số quan điểm sau được nhấn mạnh trong xây dựng chương trình:

Chương trình môn Giáo dục thể chất được xây dựng dựa trên nền tảng lí luận và thực tiễn, cập nhật thành tựu của khoa học thể dục thể thao và khoa học sư phạm hiện đại, trong đó có các kết quả nghiên cứu về giáo dục học,tâm lí học, sinh lí học, phương pháp giáo dục thể chất và huấn luyện thể thao; kinh nghiệm xây dựng chương trình môn Giáo dục thể chất của Việt Nam và các nước có nền giáo dục tiên tiến; kết quả phân tích thực tiễn giáo dục,điều kiện kinh tế – xã hội Việt Nam và sự đa dạng của học sinh.

Chương trình môn Giáo dục thể chất bảo đảm phù hợp với tâm – sinh lí lứa tuổi và quy luật phát triển thể chất của học sinh; phát huy tính chủ động và tiềm năng của mỗi học sinh thông qua các phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục; vận dụng các phương pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp với đặc điểm của môn học, hỗ trợ việc hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực ở học sinh.

Chương trình môn Giáo dục thể chất có tính mở, tạo điều kiện để học sinh được lựa chọn các hoạt động phù hợp với thể lực, nguyện vọng của bản thân và khả năng tổ chức của nhà trường; đồng thời tạo điều kiện để nhà trường xây dựng kế hoạch giáo dục phù hợp với điều kiện thực tế và đặc điểm của mỗi địa phương.

Đối với môn Giáo dục thể chất ở cấp THCS: Giúp học sinh tiếp tục củng cố và phát triển các kĩ năng chăm sóc sức khoẻ, vệ sinh thân thể và vận động cơ bản, thói quen tập luyện và kĩ năng thể dục thể thao; nếp sống lành mạnh, hoà đồng và trách nhiệm; ý thức tự giác, tích cực vận dụng những điều đã học để tham gia các hoạt động thể dục, thể thao; bồi dưỡng năng khiếu thể thao.

Do vậy, một số vấn đề đặt ra đối với quản lí hoạt động dạy học Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu Chương trình GDPT mới ở các trường THCS là: Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

  • Quản lí mục tiêu dạy học;
  • Quản lí nội dung, chương trình dạy học;
  • Quản lí thực hiện phương pháp giảng dạy;
  • Quản lí hoạt động dạy của giáo viên;
  • Quản lí hoạt động học của học sinh;
  • Quản lí trang thiết bị, cơ sở vật chất hỗ trợ hoạt động dạy học;
  • Quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh có năng khiếu Giáo dục thể chất; Quản lí việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập.

1.4. Nội dung hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường trung học cơ sở

1.4.1. Mục tiêu, nội dung chương trình dạy học môn Giáo dục thể chất

1.4.1.1. Mục tiêu dạy học môn Giáo dục thể chất

Môn Giáo dục thể chất giúp học sinh hình thành, phát triển kĩ năng chăm sóc sức khoẻ, kĩ năng vận động, thói quen tập luyện thể dục thể thao và rèn luyện những phẩm chất, năng lực để trở thành người công dân phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế, góp phần phát triển tầm vóc, thể lực người Việt Nam; đồng thời phát hiện và bồi dưỡng tài năng thể thao.

Môn Giáo dục thể chất giúp học sinh tiếp tục củng cố và phát triển các kĩ năng chăm sóc sức khoẻ, vệ sinh thân thể và vận động cơ bản, thói quen tập luyện và kĩ năng thể dục thể thao; nếp sống lành mạnh, hoà đồng và trách nhiệm; ý thức tự giác, tích cực vận dụng những điều đã học để tham gia các hoạt động thể dục, thể thao; bồi dưỡng năng khiếu thể thao.

1.4.1.2. Nội dung chương trình dạy học môn Giáo dục thể chất

Nội dung chương trình dạy học môn Giáo dục thể chất ở cấp THCS được chia làm ba phần tổng quát:

Phần kiến thức chung. Bao gồm:

  • Ở lớp 6: Chế độ dinh dưỡng trong tập luyện thể dục thể thao: Học sinh nhận biết được các yếu tố dinh dưỡng cơ bản có ảnh hưởng trong tập luyện và phát triển thể chất
  • Ở lớp 7: Lựa chọn và sử dụng các yếu tố của môi trường tự nhiên trong tập luyện: Biết lựa chọn và sử dụng các yếu tố của môi trường tự nhiên có lợi cho sức khoẻ để tập luyện
  • Ở lớp 8: Sử dụng chế độ dinh dưỡng thích hợp với bản thân trong tập luyện thể dục thể thao. Biết lựa chọn và sử dụng chế độ dinh dưỡng thích hợp với bản thân trong tập luyện thể dục thể thao
  • Ở lớp 9: Sử dụng các yếu tố tự nhiên (không khí, nước, ánh sáng,…) và dinh dưỡng để rèn luyện sức khoẻ và phát triển thể chất. Bước đầu học sinh biết sử dụng các yếu tố tự nhiên (không khí, nước, ánh sáng,…) và dinh dưỡng để rèn luyện sức khoẻ và phát triển tố chất thể lực. Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

Phần vận động cơ bản. Bao gồm:

Chạy từ cự li ngắn đến cự li trung bình: Biết một số điều luật cơ bản ở các nội dung: Chạy cự li ngắn; Chạy cự li trung bình và môn thể thao lựa chọn. Thực hiện được các động tác bổ trợ kĩ thuật chạy; làm quen với các giai đoạn chạy cự li ngắn (60m), chạy cự li trung bình, khắc phục một số hiện tượng xảy ra với cơ thể khi tham gia tập luyện các môn chạy (cực điểm,…), thực hiện tốt các động tác bổ trợ, hoàn thành cự li chạy,…

  • Ném bóng: Thực hiện tốt các động tác bổ trợ cho môn ném bóng
  • Bài thể dục: Thực hiện đúng, đều đẹp các động tác thể dục của các bài thể dục liên hoàn từ lớp 6 đến lớp 9.
  • Nhảy xa: Thực hiện được các động tác bổ trợ kĩ thuật nhảy xa kiểu ngồi và thực hiện được các giai đoạn kĩ thuật nhảy xa kiểu ngồi (Lớp 7).
  • Nhảy cao: Thực hiện được các kĩ thuật nhảy cao kiểu bước qua và nhảy cao kiểu nằm nghiêng (Lớp8, 9).
  • Thể thao tự chọn: Căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương và nhà trường, định hướng cho học sinh lựa chọn một trong những nội dung thể thao phù hợp để học tập và rèn luyện. Biết điều khiển tổ, nhóm tập luyện và nhận xét kết quả tập luyện.

Vận dụng những hiểu biết về môn thể thao ưa thích khi tham gia thi đấu. Hoàn thành lượng vận động của bài tập.

Tham gia có trách nhiệm, trung thực, đoàn kết, giúp đỡ bạn trong tập luyện và các hoạt động khác trong.

Theo đó, nội dung, chương trình dạy học môn Giáo dục thể chất cho từng khối lớp cấp THCS được xác định cụ thể và rõ ràng .[Phụ lục 3].

1.4.2. Phương pháp và hình thức dạy học môn Giáo dục thể chất

1.4.2.1. Phương pháp giáo dục

  • Định hướng chung

Môn Giáo dục thể chất vận dụng phương pháp giáo dục tích cực, lấy học sinh làm trung tâm, thực hiện chuyển quá trình giáo dục thành tự giáo dục; giáo viên là người thiết kế, tổ chức, cố vấn, trọng tài, hướng dẫn hoạt động tập luyện cho học sinh, tạo môi trường học tập thân thiện để khuyến khích học sinh tích cực tham gia các hoạt động tập luyện, tự mình trải nghiệm, tự phát hiện bản thân và phát triển thể chất. Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

Giáo viên vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học đặc trưng như: trực quan, sử dụng lời nói, tập luyện, sửa sai, trò chơi, thi đấu, trình diễn,…; sử dụng nguyên tắc đối xử cá biệt, phù hợp với sức khoẻ học sinh; kết hợp dụng cụ, thiết bị phù hợp, sử dụng hiệu quả các thành tựu của công nghệ thông tin để tạo nên giờ học sinh động, hiệu quả.

Đa dạng hoá các hình thức tổ chức dạy học, cân đối giữa hoạt động tập thể lớp, hoạt động nhóm nhỏ và cá nhân, giữa dạy học bắt buộc và dạy học tự chọn, để đảm bảo vừa phát triển năng lực thể chất, vừa phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung. Tích hợp kiến thức một số môn học khác, một số bài hát, bản nhạc,… để tạo không khí vui tươi, hưng phấn trong tập luyện, làm cho học sinh yêu thích và đam mê tập luyện thể thao.

  • Định hướng phương pháp hình thành, phát triển phẩm chất chủ yếu và năng lực chung

Phương pháp hình thành, phát triển phẩm chất chủ yếu

Thông qua việc tổ chức các hoạt động học tập, giáo viên giúp học sinh rèn luyện tính trung thực, tình cảm bạn bè, đồng đội, tinh thần trách nhiệm và ý thức tự giác, chăm chỉ tập luyện để phát triển hài hoà về thể chất, tinh thần, có những phẩm chất và năng lực cần thiết để trở thành người công dân có trách nhiệm, có sức khoẻ, có văn hoá, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Phương pháp hình thành, phát triển năng lực chung

Đối với năng lực tự chủ và tự học: Trong dạy học môn Giáo dục thể chất, giáo viên tổ chức cho học sinh thực hiện các hoạt động tìm tòi, khám phá, tra cứu thông tin, lập kế hoạch và thực hiện các bài tập thực hành, từ đó hình thành và phát triển năng lực tự chủ và tự học cho học sinh.

Đối với năng lực giao tiếp và hợp tác: Môn Giáo dục thể chất tạo cơ hội cho học sinh thường xuyên được trao đổi, trình bày, chia sẻ và phối hợp thực hiện ý tưởng trong các bài thực hành, các trò chơi, các hoạt động thi đấu có tính đồng đội. Từ đó, học sinh được hình thành và phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác.

Đối với năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo: Thông qua các hoạt động luyện tập, trò chơi, thi đấu và vận dụng linh hoạt các phương pháp tập luyện, giáo viên tạo cơ hội cho học sinh vận dụng kiến thức để phát hiện vấn đề và đề xuất cách giải quyết, biết cách lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch để giải quyết vấn đề một cách khách quan, trung thực và sáng tạo.

Định hướng phương pháp hình thành, phát triển năng lực thể chất

Hình thành, phát triển năng lực chăm sóc sức khoẻ: Giáo viên tạo cơ hội cho học sinh huy động những hiểu biết, kinh nghiệm sẵn có để hình thành ý thức và kiến thức về chăm sóc sức khoẻ; đồng thời tăng cường giao nhiệm vụ ở nhà, đồng thời phối hợp với cha mẹ học sinh giúp đỡ học sinh thực hiện nền nếp giữ gìn vệ sinh, chăm sóc sức khoẻ bản thân.

Hình thành, phát triển năng lực vận động cơ bản: Giáo viên khai thác ưu thế của Giáo dục thể chất là một loại hình giáo dục mà nội dung chuyên biệt là dạy học vận động (động tác) và sự phát triển có chủ định các tố chất vận động của con người.

Các giai đoạn dạy học động tác nhằm hình thành ở học sinh kĩ năng vận động, khả năng vận dụng vào thực tế. Việc tổ chức các hoạt động vận động (bài tập và trò chơi vận động,…) giúp cho học sinh hình thành và phát triển được các tố chất thể lực cơ bản như: nhanh, mạnh, bền, khéo léo, mềm dẻo,… cũng như khả năng thích ứng của cơ thể và trí nhớ vận động.

Hình thành, phát triển năng lực hoạt động thể dục thể thao: Giáo viên vận dụng nguyên tắc giáo dục cá biệt, quan tâm phát hiện và hướng dẫn học sinh tập luyện các môn thể dục thể thao phù hợp với sở thích, sở trường; tạo cơ hội cho học sinh được quan sát và tham gia các trò chơi, các hoạt động cổ vũ và thi đấu thể thao, từ đó khơi dậy niềm đam mê hoạt động thể dục thể thao, khả năng hoạt động thể dục thể thao, phát triển khả năng trình diễn và thi đấu.

1.4.2.2. Hình thức dạy học Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

Giáo dục thể chất trong nhà trường phổ thông góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh, trọng tâm là: trang bị cho học sinh kiến thức và kĩ năng chăm sóc sức khoẻ; kiến thức và kĩ năng vận động; hình thành thói quen tập luyện, biết lựa chọn môn thể thao phù hợp để luyện tập nâng cao sức khoẻ, phát triển thể lực; trên cơ sở đó giúp học sinh có ý thức, trách nhiệm đối với sức khoẻ của bản thân, gia đình và cộng đồng, thích ứng với các điều kiện sống, sống vui vẻ, hoà đồng với mọi người. Giáo dục thể chất được thực hiện ở nhiều môn học và hoạt động giáo dục như: Giáo dục thể chất, Đạo đức, Tự nhiên và Xã hội, Khoa học, Khoa học tự nhiên, Sinh học, Hoạt động trải nghiệm, Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp,… trong đó môn học cốt lõi, bắt buộc từ lớp 1 đến lớp 12 là Giáo dục thể chất. Nội dung giáo dục thể chất chủ yếu là rèn luyện kĩ năng vận động và phát triển tố chất thể lực cho học sinh bằng những bài tập thể chất đa dạng như: các bài tập đội hình đội ngũ, các bài tập thể dục, các trò chơi vận động, các môn thể thao và kĩ năng phòng tránh chấn thương trong hoạt động thể dục thể thao. Nội dung giáo dục thể chất được phân chia theo hai giai đoạn: giai đoạn giáo dục cơ bản và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp.

  • Giai đoạn giáo dục cơ bản

Môn Giáo dục thể chất giúp học sinh biết cách chăm sóc sức khoẻ và vệ sinh thân thể; hình thành thói quen tập luyện nâng cao sức khoẻ; thông qua các trò chơi vận động và tập luyện thể dục, thể thao hình thành các kĩ năng vận động cơ bản, phát triển các tố chất thể lực, làm cơ sở để phát triển toàn diện. Học sinh được lựa chọn nội dung hoạt động thể dục thể thao phù hợp với thể lực của mình và khả năng đáp ứng của nhà trường.

  • Giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp

Môn Giáo dục thể chất được thực hiện thông qua hình thức câu lạc bộ thể dục thể thao. Học sinh được chọn nội dung hoạt động thể thao phù hợp với nguyện vọng của mình và khả năng đáp ứng của nhà trường để tiếp tục phát triển kĩ năng chăm sóc sức khoẻ và vệ sinh thân thể, phát triển về nhận thức và năng khiếu thể thao, đồng thời giúp những học sinh có năng khiếu thể thao tự chọn định hướng nghề nghiệp phù hợp.

1.4.3. Hoạt động học tập của học sinh với môn Giáo dục thể chất

Trong sinh hoạt hàng ngày, khi lao động kéo dài thì sự tiêu hao năng lượng tăng, đến một lúc nào đó xuất hiện mệt mỏi, sau đó mệt mỏi tăng dần và dẫn đến khả năng làm việc giảm dần. Chỉ sau khi nghỉ ngơi và bổ sung “nguyên liệu” thì khả năng làm việc của cơ thể dần dần khôi phục. Tuy nhiên qua nhiều kết quả nghiên cứu khoa học, người ta thấy sự khôi phục không dừng lại khi đạt mức ban đầu, mà còn có giai đoạn hồi phục vượt mức – trong một khoảng thời gian nhất định.

Sơ đồ 1.1. Sơ đồ của GX V Phôbơn và N.N Iacôplép Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

Đặc điểm trên có ý nghĩa đặc biệt trong Giáo dục thể chất, bằng một loạt các bài tập được tính toán khoa học phù hợp với sức khoẻ của mỗi người theo chế độ phù hợp chặt chẽ giữa tập luyện với nghỉ ngơi và ăn uống hợp lý thì sức khoẻ của người tập không ngừng được nâng cao. Nếu buổi tập thứ 2 tiến hành cách buổi tập thứ nhất quá xa hoặc những buổi tập có khối lượng quá nhỏ thì kết quả của quá trình tập luyện cũng hạn chế. Do vậy, tập luyện thường xuyên là yêu cầu cần thiết đối với việc Giáo dục thể chất cho học sinh trong nhà trường. Việc này liên quan đến thời lượng của môn học thể dục trong thời gian chính khoá, hoạt động ngoại khoá và vấn đề tự giác rèn luyện hàng ngày của học sinh. Người giáo viên thể dục không những cần dạy tốt giờ học nội khoá mà còn cần làm cho học sinh ham thích luyện tập TDTT trên cơ sở phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường, gia đình và xã hội. Nghỉ ngơi và nạp “nhiên liệu” Tiêu hao Hồi phục.

Trong trường THCS, việc Giáo dục thể chất cho học sinh được thực hiện bằng nhiều hình thức hoạt động (giảng dạy thể dục nội khoá và đặc biệt là công tác ngoại khoá). Hoạt động ngoại khoá gồm: Luyện tập, thi đấu thể thao và nhiều mặt khác như: Vệ sinh thân thể, vệ sinh môi trường, vệ sinh ăn uống, phòng chống bệnh tật…

Những hình thức hoạt động này được thực hiện ở từng trường THCS: Trong thực tế phân phối chương trình về bộ môn thể dục của các khối lớp trong các trường THCS chỉ có 2 tiết/tuần và thực hiện thường xuyên các tiết thể dục giữa giờ. Chính vì vậy mà thời gian tập luyện tiêu hao năng lượng đến khi nghỉ ngơi để phục hồi không được thường xuyên, liên tục nên ảnh hưởng nhỏ đến việc tiếp thu về kiến thức, kĩ năng và phát triển thể lực.

Do vậy, cán bộ quản lý, đặc biệt là giáo viên trực tiếp giảng dạy cần xây dựng kế hoạch hoạt động ngoại khóa xen kẽ trong nhà trường và tư vấn cho học sinh các bài tập ở nhà và tham gia tập luyện, thi đấu các môn thể thao phù hợp để đảm bảo tính hệ thống, thường xuyên, liên tục và khoa học.

1.4.4. Hoạt động giảng dạy của giáo viên với môn Giáo dục thể chất

Việc giảng dạy các môn Giáo dục thể chất ở các trường THCS chưa được các cấp quản lý trực tiếp ở nhà trường (Hiệu trưởng) và giáo viên chú trọng do tâm lí đây không phải môn chính hơn nữa để đảm bảo dạy học có hiệu quả môn học này đòi hỏi người giáo viên phải khá vất vả trong việc giảng dạy, làm mẫu và truyền thụ các kĩ thuật động tác đến học sinh cũng như các điều kiện về cơ sở vật chất của các trường THCS đáp ứng cho giảng dạy bộ môn còn hạn chế. Ngoài ra, giáo viên cần áp dụng các phương pháp dạy học phù hợp vơí đặc thù bộ môn, phân loại đối tượng học sinh để có các bài tập và lượng vận động phù hợp với năng lực thể chất của từng đối tượng học sinh.

Xây dựng kế hoạch giảng dạy chi tiết, quan tâm đến các đối tượng học sinh có khả năng vận động kém hoặc khuyết tật về chí tuệ,…

1.4.5. Sử dụng phương tiện dạy học trong dạy học môn Giáo dục thể chất

Việc sử dụng các phương tiện dạy học còn hạn chế do các phương tiện hỗ trợ giảng dạy bộ môn ở các trường học chủ yếu là các phương tiện được cấp. Ngoài ra các phương tiện hỗ trợ tốt cho quá trình giảng dạy thường rất đắt tiền nên việc trang bị đủ cho giáo viên sử dụng các phương tiện còn rất nhiều hạn chế.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây việc xã hội hóa trong trường học được thực hiện khá tốt vì vậy trong nhà trường cũng đã có các sân chơi bãi tập phục vụ cho việc sinh hoạt đa dạng hóa các môn TDTT trong trường học xong khả năng vận dụng sử dụng các phương tiện này của các giáo viên là không đồng đều.

1.4.6. Hoạt động bồi dưỡng học sinh có năng khiếu Giáo dục thể chất Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

Thực hiện mục tiêu giáo dục của chương trình môn học đa số các trường đều tổ chức bồi dưỡng học sinh có năng khiếu vừa để tham gia Hội khỏe phù đổng các cấp vừa để phát hiện các em học sinh có tố chất và sớm định hướng hướng nghiệp cho học sinh tham gia các trung tâm huấn luyện hoặc tuyển vào các ngành học phù hợp với năng lực của bản thân học sinh. Mặc dù vậy việc bồi dưỡng các em học sinh có năng khiếu ở các trường học đặc biệt khối THCS là chưa đồng bộ do đây là hoạt động ngoài giờ tuy nhiên theo các văn bản chưa có chính sách hỗ trợ cho các giáo viên hỗ trợ huấn luyện viên từ cơ sở nên không thu hút được giáo viên nhiệt tình tham gia, chủ yếu dựa vào việc xã hội hóa hoặc mở các lớp huấn luyện cho giáo viên có thể tham gia dạy thêm ngoài giờ.

1.4.7. Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Giáo dục thể chất

1.4.7.1.Mục tiêu đánh giá

Đánh giá kết quả giáo dục thể chất là hoạt động thu thập thông tin và so sánh mức độ đạt được của học sinh so với yêu cầu cần đạt của môn học nhằm cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, có giá trị về sự tiến bộ của học sinh, mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt của chương trình để trên cơ sở đó điều chỉnh hoạt động dạy học và cách tổ chức quản lí nhằm không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục.

1.4.7.2.Nguyên tắc đánh giá

Đánh giá kết quả giáo dục phải căn cứ vào mục tiêu và các yêu cầu cần đạt đối với từng lớp học, cấp học trong chương trình môn Giáo dục thể chất, theo các tiêu chuẩn đánh giá thể lực học sinh do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, chú trọng kĩ năng vận động và hoạt động thể dục thể thao của học sinh.

Đánh giá phải bảo đảm toàn diện, khách quan, có phân hoá; kết hợp giữa đánh giá thường xuyên và định kì; kết hợp giữa đánh giá của giáo viên, tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng của học sinh, đánh giá của cha mẹ học sinh. Học sinh được biết thông tin về hình thức, thời điểm, cách đánh giá và chủ động tham gia quá trình đánh giá.

Đánh giá phải coi trọng sự tiến bộ của học sinh về năng lực, thể lực và ý thức học tập; có tác dụng thúc đẩy và hỗ trợ học sinh phát triển các phẩm chất và năng lực; tạo được hứng thú và khích lệ tinh thần tập luyện của học sinh, qua đó khuyến khích học sinh tham gia các hoạt động thể dục thể thao ở trong và ngoài nhà trường.

1.4.7.3. Hình thức đánh giá Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

Đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì

  • Đánh giá thường xuyên: Bao gồm đánh giá chính thức (thông qua các hoạt động thực hành, tập luyện, trình diễn,…) và đánh giá không chính thức (bao gồm quan sát trên lớp, đối thoại, học sinh tự đánh giá,…) nhằm thu thập những thông tin về quá trình hình thành, phát triển năng lực của từng học sinh.
  • Đánh giá định kì: Nội dung đánh giá chú trọng đến kĩ năng thực hành, thể lực của học sinh; phối hợp với đánh giá thường xuyên cung cấp thông tin để phân loại học sinh và điều chỉnh nội dung, phương pháp giáo dục.

Đánh giá định tính và đánh giá định lượng

  • Đánh giá định tính: Kết quả học tập được mô tả bằng lời nhận xét hoặc biểu thị bằng các mức xếp loại. Học sinh có thể sử dụng hình thức này để tự đánh giá sau khi kết thúc mỗi nội dung, mỗi chủ đề, hoặc giáo viên sử dụng để đánh giá thường xuyên (không chính thức).
  • Đánh giá định lượng: Kết quả học tập được biểu thị bằng điểm số theo thang điểm 10. Giáo viên sử dụng hình thức đánh giá này đối với đánh giá thường xuyên chính thức và đánh giá định kì. Đánh giá định lượng được sử dụng chủ yếu ở cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông.

1.5. Nội dung quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường trung học cơ sở

Những điểm mới giữa Chương trình giáo dục phổ thông mới với Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành:

  • Chương trình giáo dục phổ thông hiện hành được xây dựng theo định hướng nội dung, nặng về truyền thụ kiến thức, chưa chú trọng giúp học sinh vận dụng kiến thức học được vào thực tiễn.
  • Chương trình giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo mô hình phát triển năng lực, thông qua những kiến thức cơ bản, thiết thực, hiện đại và các phương pháp tích cực hóa hoạt động của người học, giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chất và năng lực mà nhà trường và xã hội kì vọng. Theo cách tiếp cận này, kiến thức được dạy học không nhằm mục đích tự thân. Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

Nói cách khác, giáo dục không phải để truyền thụ kiến thức mà nhằm giúp học sinh hoàn thành các công việc, giải quyết các vấn đề trong học tập và đời sống nhờ vận dụng hiệu quả và sáng tạo những kiến thức đã học.

Vì vậy, trong việc quản lí hoạt động dạy học nói cung và quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất nói riêng cũng cần có những thay đổi để đáp ứng yêu cầu đồng thời đạt được mục tiêu giáo dục của Chương trình giáo dục phổ thông mới đã đề ra.

1.5.1. Chủ thể quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường trung học cơ sở

1.5.1.1. Phòng GD&ĐT trong quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường trung học cơ sở

Theo thông tư 11/2015/TTLT-BGD-BNV ngày 29/5/2015 liên bộ GD-ĐT,Bộ Nội vụ quy định: “Phòng Giáo dục và Đào tạo là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện; giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục đào tạo ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ quyền hạn theo phân công hoặc ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và theo quy định của pháp luật”.

Phòng Giáo dục và Đào tạo với chức năng quản lý nhà nước đối với giáo dục tiểu học thì việc quản lý trực tiếp các trường THCS nói chung và quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông mới các trường trung học cơ sở của các nhà trường là nhiệm vụ của Phòng Giáo dục và Đào tạo.

1.5.1.2. Hiệu trưởng trường THCS trong quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường trung học cơ sở

Hiệu trưởng trương THCS là người chịu trách nhiệm tổ chức, quản lý các hoạt động và chất lượng giáo dục của nhà trường. Hiệu trưởng do Chủ tịch UBND huyện ra Quyết định bổ nhiệm trong nhiệm kỳ 5 năm đối với trường THCS công lập, thuộc quyền quản lý của Huyện.

Theo Điều lệ Trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học; Ban hành kèm theo Thông tư số: 12/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3 /2011 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng:

1.5.2. Quản lý việc thực hiện mục tiêu dạy học môn Giáo dục thể chất

Có thể nói: “Quản lý mục tiêu là hoạt động hàng đầu trong quản lí hoạt động dạy học”. Vì nó có chức năng đặc biệt quan trọng là định hướng cho sự vận động, phát triển của các thành tố trong quá trình dạy học. Việc bấm sát mục tiêu không ngoài mục đích trang bị cho học sinh THCS phát triển về thể chất, kiến thức, kĩ năng, giúp học sinh phát triển về cả phẩm chất và năng lực.

Chương trình dạy học là văn bản pháp luật của nhà nước do Bộ GD&ĐT ban hành, quy định nội dung, phương pháp, hình thức dạy học, thời gian dạy học từng môn nhằm thực hiện cầu mục tiêu cấp học. Đây là căn cứ pháp lí để các cấp quản lí tiến hành chỉ đạo, giám sát hoạt động dạy và học của trường THCS. Đó cũng là căn cứ pháp lí để Hiệu trưởng quản lí giáo viên theo yêu cầu Bộ GD&ĐT đã đề ra cho từng cấp học. Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

1.5.3. Quản lý việc thực hiện nội dung, chương trình dạy học môn Giáo dục thể chất

Quản lí nội dung dạy học là quản lí các tri thức, cách thức hoạt động và kinh nghiệm sáng tạo, tiêu chuẩn, thái độ đối với thế giới phù hợp về mặt sư phạm nhằm phát triển đúng đắn nhân cách người học. Nội dung dạy học ở cấp THCS là các Bài tập vận động cơ bản như: Đội hình đội ngũ; các môn chạy, nhảy, ném, Bài thể dục,…và các môn Thể thao tự chọn: Căn cứ vào điều kiện thực tế của địa phương và nhà trường, định hướng cho học sinh lựa chọn một trong những nội dung thể thao phù hợp để học tập và rèn luyện: Điền kinh; Thể dục; Bơi; Bóng đá; Bóng chuyền; Bóng rổ; Cầu lông; Đá cầu;

Bóng bàn; Võ; Khiêu vũ thể thao; Thể dục nhịp điệu; các môn thể thao truyền thống của địa phương; Trò chơi vận động bổ trợ cho môn thể thao lựa chọn,…

1.5.4. Quản lý việc thực hiện phương pháp dạy học môn Giáo dục thể chất

Thực hiện đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, đáp ứng tốt yêu cầu của xã hội và thực hiện công tác đổi mới này chính là thực hiện một quá trình thay đổi. Quá trình thực hiện đổi mới này chính là thực hiện một quá trình thay đổi. Quá trình thực hiện sự đổi mới này có thành công và thu được những kết quả mong đợi hay không phụ thuộc phần lớn vào công tác quản lí của nhà quản lí do đó, phải đổi mới quản lí để quản lí sự thay đổi. Trong đối mới phương pháp dạy học, giáo viên và học sinh là những chủ thể có vai trò quyết định trực tiếp đến chất lượng dạy học cũng như sự thành công của đổi mới phương pháp dạy học vì vậy, trọng tâm của quản lí đổi mới phương pháp dạy học là quản lí hoạt động giảng dạy của giáo viên, quản lí hoạt động học tập của học sinh [22].

Trong đổi mới phương pháp dạy học, hiệu trưởng cần phổ biến và tác động trực tiếp đến từng giáo viên về những vấn dề cơ bản quan trọng nhất. Ngoài ra, hiệu trưởng phải hướng dẫn giáo viên quy trình xây dựng kế hoạch, giúp họ biết cách xác định mục tiêu đứng đắn và tìm ra biện pháp để đạt các mục tiêu đã đề ra [22].

1.5.5. Quản lý hoạt động giảng dạy của giáo viên môn Giáo dục thể chất

  • Quản lý giờ lên lớp và việc vận dụng phương pháp, sử dụng phương tiện dạy học.
  • Xây dựng và giám sát chặt chẽ việc thực hiện giờ lên lớp và đảm bảo tiến độ về nội dung, chương trình, kế hoạch dạy học.
  • Tổ chức thao giảng, dự giờ và đề ra những biện pháp cụ thể nhằm thực hiện tốt việc vận dụng phương pháp dạy học, nhất là việc vận dụng cải tiến, đổi mới phương pháp dạy học bộ môn.
  • Xây dựng kế hoạch trang bị các phương tiện dạy học, quản lí tốt việc sử dụng phương tiện dạy học trong các giờ lên lớp.

Việc đào tạo cơ bản về thể chất, thể thao cho học sinh THCS là nhiệm vụ cần thiết, nên trước hết phải có nội dung thích hợp để phát triển các tố chất thể lực và phối hợp vận động cho học sinh THCS. Đồng thời, giúp các em có trình độ nhất định để tiếp thu được các kỹ thuật động tác TDTT. Với mục tiêu chính của việc đào tạo cơ bản về thể chất và thể thao trong trường học là: “Xúc tiến quá trình đào tạo năng lực đạt thành tích trong thể chất và thể thao của học sinh, phát triển các tố chất thể lực, phát triển năng lực tâm lý, tạo ý thức tập luyện thể dục thể thao thường xuyên, giáo dục được đức tính cơ bản và lòng nhân đạo cho học sinh”. Bản thân giờ học thể dục có ý nghĩa quan trọng nhiều mặt đối với việc quản lý và giáo dục con người trong xã hội.

Việc học tập các bài tập thể dục, các kỹ thuật động tác là điều kiện cần thiết để con người phát triển cơ thể một cách hài hoà, bảo vệ và củng cố sức khoẻ, hình thành năng lực chung và chuyên môn cho học sinh.

1.5.6. Quản lý hoạt động học tập của học sinh với môn Giáo dục thể chất Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

Quản lý Giáo dục thể chất đối với học sinh bao gồm cả quản lý thời gian và chất lượng Giáo dục thể chất, quản lý tinh thần, thái độ và phương pháp rèn luyện thể chất. Quản lý tốt việc rèn luyện thể chất của học sinh là nội dung quan trọng của quản lý hoạt động Giáo dục thể chất trong nhà trường.

Xây dựng nhận thức về ý nghĩa của việc tự học, tự rèn luyện cho học sinh. Đây là nhiệm vụ quan trọng đối với trường THCS vì đối với học sinh THCS các em cần có điều kiện thời gian tự học, tự rèn luyện bộ môn vì vậy, hiệu trưởng cần xây dựng nội quy phù hợp, hiểu biết về phong tục tập quán địa phương để xây dựng kế hoạch dạy học hợp lí. Những yêu cầu về giáo dục tinh thần, thái độ học tập cho học sinh được cụ thể hoá trong “quy định đối với học sinh tại trường” để học sinh rèn luyện thành thói quen tự giác thì phải có sự thống nhất về yêu cầu, biện pháp giáo dục tinh thần, thái độ học tập cho học sinh từ các giờ lên lớp chính khóa tới các hoạt động khác. Giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn và các lực lượng khác trong toàn trường cần phối hợp chặt chẽ thống nhất sự giáo dục, cần xây dựng cho học sinh khả năng chủ động học tập, chủ động hoàn thiện các bài tập ngày trên lớp, đề ra những quy định thống nhất về hoạt động học tập, xây dựng tác phong học tập tốt cho học sinh ngăn ngừa những hành sai trái. Những vấn đề này cần được quan tâm sâu sắc vi nó ảnh hưởng đến kết quả học tập và nhân cách của học sinh [22].

  • Quản lí kế hoạch học tập

Quản lí kế hoạch học tập có nghĩa là các tổ chuyên môn theo dõi giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn đôn đốc việc thực hiện kế hoạch và chương trình hục tập theo thời khoá biểu và các quy định về nhiệm vụ học tập của học sinh. Mặt khác là quá trình kiểm tra theo dõi kế hoạch tự học, tự rèn luyện hoặc tham gia các hoạt động TDTT nhà ngoài giờ lên lớp. Đối với học sinh THCS, kế hoạch học tập chính là thời khoá biểu, tất cả các bài tập đều được giải quyết ở trên lớp, giáo viên chỉ yêu cầu học sinh rèn luyện thêm ở nhà để nắm vững kĩ thuật động tác và có thể tham gia được một số môn thể thao phù hợp với bản thân ngoài giờ lên lớp ở địa phương hoặc ngay trong nhà trường.

1.5.7. Quản lý sử dụng phương tiện dạy học và cơ sở vật chất trong dạy học môn Giáo dục thể chất

Quản lý toàn bộ cơ sở vật chất và thiết bị Giáo dục thể chất của nhà trường nhằm phục vụ tốt nhất cho việc giảng dạy, học tập và giáo dục học sinh. Quản lý tốt cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động Giáo dục thể chất nhà trường không chỉ đơn thuần là bảo quản tốt, mà phải phát huy tốt giá trị của chúng cho dạy học và giáo dục. Quản lý tốt còn làm sao để có thể thường xuyên bổ sung thêm những thiết bị mới, có giá trị sử dụng cao. Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

Quản lý tốt nguồn tài chính phục vụ cho hoạt động Giáo dục thể chất của nhà trường theo đúng nguyên tắc quản lý tài chính của Nhà nước và của ngành giáo dục, đồng thời biết vận động, thu hút các nguồn tài chính khác nhằm xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm thiết bị phục vụ các hoạt động Giáo dục thể chất của nhà trường.

1.5.8. Quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh có năng khiếu Giáo dục thể chất

Quản lí hoạt động bồi dưỡng học sinh có năng khiếu Giáo dục thể chất là quản lí quá trình phát hiện các em học sinh năng khiếu về các môn thể thao để bồi dưỡng tham gia Hội khỏe phù đổng các cấp đồng thời tham gia vào công tác hướng nghiệp cho học sinh. Định hướng cho các em có thể tham gia đào tạo tại trung tam huấn luyện thể thao có thành tích cao và theo đuổi sự nghiệp TDTT theo năng khiếu của mình.

1.5.9. Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Giáo dục thể chất

Mục đích của kiểm tra, đánh giá là để phân tích chất lượng học tập, rèn luyện của học sinh để điều chỉnh phương pháp dạy học của giáo viên đồng thời cũng ghi nhận biểu dương những thành tích học sinh đạt được, tư vấn hỗ trợ giải pháp những hạn chế để học sinh hoàn thiện hơn. Đánh giá đúng sẽ làm cho học sinh có sức mạnh tạo dựng, nhân bản niềm tin, truyền cảm hứng học đường, giúp học sinh hứng thú học tập, thích đi học và phát triển toàn diện cho học sinh.

Kiểm tra, đánh giá là một bộ phận hợp thành, không thể thiếu dược trong quá trình giáo dục ở tất cả các môn học, ở giáo viên chủ nhiệm lớp. Kiểm tra,đánh giá kết quả học tập của học sinh được tồn tại đồng thời với quy trình dạy học, đó là quy trình thu nhận và xử lí thông tin về trình độ và khả năng thực hiện nhiệm vụ của học sinh. Trên cơ sở đó, đề ra các biện pháp phù hợp, giúp cho học sinh học tập tiến bộ.

Kiểm tra, đánh giá nói chung cũng như kiểm tra, đánh giá kết quả học tập trong một quy trình giáo dục, đào tạo thể hiện sự cam kết của nhà trường cũng như của từng giáo viên phụ trách môn học về chất lượng sản phẩm giáo dục cũng như hiệu quả của quá trình giáo dục và cung ứng cho xã hội sản phẩm giáo dục theo mong đợi của cha mẹ học sinh và của xã hội [22].

Qua việc kiểm tra hoạt động kiểm tra, đánh giá học sinh của giáo viên, người quản lí sẽ nắm được chất lượng dạy học ở từng giáo viên một. Đây là cơ sờ để đánh giá quá trình và hiệu quả của người dạy và người học. Việc kiểm tra kết quả học tập của học sinh là việc làm hết sức cần thiết của hiệu trưởng nhằm tác động trực tiếp đến giáo viên thực hiện đầy đủ và chính xác quá trình kiểm tra – đánh giá, thúc đẩy quá trình nâng cao hiệu quả dạy học theo mục tiêu.

Quản lí hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh phải đạt được những yêu cầu cơ bản sau:

Phải thực hiện nghiêm túc quy chế chuyên môn trong nhà trường thông qua điểm số, đánh giá được chất lượng học tập của học sinh và giảng dạy của giáo viên từ dó, rút ra được những vấn đề cần phải điều chỉnh, uốn nắn và bổ sung, giúp cho người quản lí chỉ đạo hoạt dộng này một cách đầy đủ và chặt chẽ hơn. Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

Phải thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các văn bản đánh giá xếp loại học sinh theo quy định.

Đánh giá, xếp loại học sinh một cách công bằng, chính xác, tránh những biểu hiện tiêu cực trong việc đánh giá kết quả học tập của học sinh. Trong quá trình kiểm tra, đánh giá người quản lí phân công nhiệm vụ cụ thề đến từng thành viên Phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn theo từng cấp học, tổ trưởng, giáo viên, các thành viên phải lập được kế hoạch – đánh giá một cách dầy đủ theo yêu cảu của chương trình, người quản lí phải thường xuyên xem xét việc thực hiện nhiệm vụ của các thành viên để đảm bảo hiệu quả công việc đã đề ra, từng bước nâng cao được hiệu quả công tác kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh. Quan tâm đến lời nhận xét trong sản phẩm của học sinh và việc ghi danh thành tích của học sinh thông qua khen thưởng.

1.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường trung học cơ sở

1.6.1. Các yếu tố chủ quan

Hiệu quả quản lý hoạt động dạy học Giáo dục thể chất chịu sự ảnh hưởng rất lớn của yếu tố chủ quan của chủ thể quản lý. Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động quản lý dạy học Giáo dục thể chất bao gồm:

Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đối với việc giáo dục toàn diện cho học sinh:

Nếu nhà quản lý nhận thức đúng và đầy đủ về công tác giáo dục sẽ có hành vi quản lý sâu sát và quan tâm đầy đủ tới sự chuẩn bị đầy đủ các yếu tố trong công tác dạy học Giáo dục thể chất như chương trình, giáo trình, sân bãi, phương tiện dạy học, quá trình dạy học của giáo viên và quá trình học tập của học sinh. Công tác bồi dưỡng giáo viên, công tác nghiên cứu khoa học, công tác kiểm tra đánh giá… Ngược lại, nếu nhận thức chưa đầy đủ hoặc có ý thức coi nhẹ công tác dạy học môn Giáo dục thể chất thì sẽ làm giảm hiệu quả quản lý.

Nhận thức của lãnh đạo các cấp, các ngành và lãnh đạo địa phương đối với lợi ích, tác dụng và vai trò của dạy học môn Giáo dục thể chất trong giáo dục toàn diện cho học sinh chưa thực sự sâu sắc. Nếu hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất được cấp uỷ, chính quyền và lãnh đạo ngành giáo dục của địa phương coi trọng thì sẽ được đầu tư toàn diện cả nhân lực, vật lực, tài lực cho công tác dạy học môn Giáo dục thể chất, từ đó giúp cho hiệu quả quản lý dạy học môn này tốt hơn; ngược lại sẽ làm cho công tác quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất gặp khó khăn, từ đó ảnh hưởng xấu tới hiệu quả quản lý.

Nhận thức của học sinh đối với hoạt động học tập môn Giáo dục thể chất chưa thực sự đầy đủ. Nước ta là một nước đang phát triển, lịch sử nước ta trải qua nhiều năm dưới chế độ phong kiến nửa thuộc địa, bị chiến tranh tàn phá, bởi vậy hoạt động dạy học môn GDTC chưa có lịch sử phát triển lâu dài như các nước phát triển. Bên cạnh đó, kinh tế của nước ta còn nhiều khó khăn, đặc biệt là các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa… nên điều kiện tham gia các hoạt động Giáo dục thể chất, hoạt động TDTT cũng như điều kiện tìm hiểu về ý nghĩa, lợi ích tác dụng của hoạt động Giáo dục thể chất đối với sức khoẻ con người còn hạn chế. Với điều kiện như vậy, việc chưa có được các nhận thức đúng đắn về Giáo dục thể chất để tạo ra được động cơ, tinh thần tự giác tích cực trong hoạt động học tập, rèn luyện môn Giáo dục thể chất cũng là điều hiển nhiên. Đây cũng chính là rào cản, là nhân tố khách quan ảnh hưởng tới hiệu quả quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất trong các nhà trường.

Năng lực và kinh nghiệm quản lý của người quản lý các trường THCS: Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

Năng lực quản lý là khả năng sử dụng đúng và kịp thời các công cụ quản lý và phương pháp quản lý tác động lên đối tượng quản lý nhằm giải quyết một công việc hoặc sự việc quản lý có hiệu quả.

Kinh nghiệm quản lý là những bài học kinh nghiệm rút ra từ công tác quản lý trong quá khứ đã ứng dụng và xử lý tốt các sự việc, công việc quản lý. Nếu chủ thể quản lý có năng lực và kinh nghiệm quản lý sẽ có thể sử dụng các biện pháp quản lý hữu hiệu để nâng cao hiệu quả quản lý nói chung và quản lý công tác Giáo dục thể chất nói riêng trong trường THCS- Yếu tố trình độ năng lực của người thầy.

Trong quản lý hoạt động học học môn Giáo dục thể chất thì yếu tố trình độ năng lực của người thầy ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả công tác quản lý hoạt động giảng dạy môn GDTC. Người thầy ngoài việc cần có phẩm chất đạo đức, tác phong gương mẫu, chuẩn mực thì cần phải có năng lực trình độ tốt, đáp ứng cho việc dạy tốt môn Giáo dục thể chất trong trường THCS. Trình độ, năng lực của người thầy thể hiện ở trình độ học vấn, năng lực thực hành, năng lực sư phạm và năng lực tổ chức điều hành hoạt động dạy học, hoạt động thi đấu các môn thể thao trong trường học. Do khoa học kỹ thuật TDTT không ngừng phát triển, do phương pháp dạy học không ngừng cải tiến, người thầy cần phải thường xuyên được tiếp tục đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu không ngừng nâng cao chất lượng hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất và chất lượng quản lý hoạt động Giáo dục thể chất trong nhà trường.

1.6.2. Các yếu tố khách quan

Kết quả quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất ở các trường THCS ngoài chịu ảnh hưởng chủ quan của chủ thể quản lý còn chịu tác động và ảnh hưởng rất lớn bởi các yếu tố khách quan. Các yếu tố khách quan ảnh hưởng tới kết quả quản lý hoạt động giảng dạy môn Giáo dục thể chất ở các trường học nói chung và trường THCS nói riêng bao gồm:

Điều kiện cơ sở vật chất: Trong dạy học môn Giáo dục thể chất, từ việc giảng dạy chính khoá trên lớp đến ngoại khoá cho học sinh, từ việc đổi mới phương pháp dạy học tới việc nghiên cứu khoa học của giáo viên… đều cần phải có đủ diện tích sân bãi và dụng cụ tập luyện đáp ứng cho học sinh tập luyện. Chính vì vậy, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị kĩ thuật phục vụ cho hoạt động giảng dạy môn Giáo dục thể chất có ý nghĩa và tầm quan trọng hết sức to lớn, ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả của hoạt động giảng dạy môn Giáo dục thể chất trong nhà trường. Ở các nước phát triển, người ta quy định diện tích, số lượng dụng cụ… cho mỗi học sinh, trong khi đó ở nước ta, nhiều trường diện tích sân bãi tập luyện quá ít và công tác quản lý quá trình dạy học của các giáo viên thể dục.

Nguồn kinh phí đầu tư cho hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất: Như chúng ta đã biết, muốn hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất ở các trường THCS đạt được chất lượng và hiệu quả cao thì cần phải có hệ thống cơ sở vật chất không những đầy đủ mà còn ngà càng được hoàn thiện theo hướng hiện đại hóa. Do đó, vấn đề đầu tư kinh phí cho công tác này từ các nguồn kinh phí khác nhau là việc làm hết sức cần thiết. Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

Cơ chế chính sách đối với đội ngũ giáo viên thể dục: Giáo dục thể chất là một trong các nội dung giáo dục toàn diện trong nhà trường. Tuy nhiên, đội ngũ giáo viên thể dục – những người trực tiếp tiến hành hoạt này phải chịu nhiều vất vả do đặc thù nghề nghiệp của như điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt. Chính vì thế, nếu có được các chính sách thỏa đáng đối với đội ngũ giáo viên thể dục sẽ góp phần nâng cao được chất lượng và hiệu quả của hoạt động Giáo dục thể chất trong các nhà trường.

Sự phối hợp đồng bộ giữa các lực lượng giáo dục (nhà trường, gia đình và xã hội): Từ thực tiễn và lý luận giáo dục đã chỉ ra rằng, muốn tạo nên những thành quả giáo dục tốt nhất cho mỗi học sinh thì cần có sự phối kết hợp giữa 3 lực lượng giáo dục. Trong hoạt động giáo dục thể chất cho học sinh cũng vậy, việc chăm sóc, bảo về và phát triển thể chất cho học sinh được thực hiện ở trong gia đình, nhà trường và ngoài xã hội. Vì vậy, sự phối hợp đồng bộ giữa các lực lượng giáo dục sẽ góp phần nâng cao chất lượng Giáo dục thể chất cho học sinh trong các nhà trường.

Tính khoa học và tính tiếp cận hiện đại của chương trình môn học Giáo dục thể chất: Chất lượng công tác quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất còn phụ thuộc vào việc đảm bảo tính khoa học và tính tiếp cận hiện đại của chương trình. Bởi lẽ chương trình và tài liệu môn học là một bản thiết kế cho trình độ phát triển thể chất của học sinh, trong đó mục tiêu yêu cầu đào tạo đã mô hình hoá các kiến thức và trình độ thể chất của học sinh sau khi hoàn thành môn học. Đồng thời chương trình cũng đã nêu lên các nội dung, phương pháp và phân bổ các nội dung và thời gian học tập trong các học kỳ, chỉ tiêu thi và kiểm tra… Chương trình và tài liệu mang tính khoa học tiếp cận hiện đại thì sẽ giúp cho các giáo viên thực hiện được các mô hình giáo dục, đảm bảo chất lượng dạy học môn GDTC. Ngược lại, nếu chương trình giáo dục lạc hậu sẽ ảnh hưởng xấu tới kết quả của công tác dạy học môn Giáo dục thể chất trong các nhà trường.

Tiểu kết chương 1 Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

Nghiên cứu những vấn đề lí luận về quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất ở các trường THCS trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay và rút ra được những kết luận sau:

Quản lý là nghề có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả của các tổ chức, cơ sở và là một hiện tượng xã hội, trong bất kỳ một tổ chức nào thì hoạt động quản lý là tất yếu và cần thiết. Bản chất của quản lý là cách thức tổ chức, điều khiển của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, nó bao hàm cả yếu tố khoa học, đồng thời mang tính nghệ thuật cao có tác động vào hệ thống, tổ chức vào từng thành tố của hệ thống bằng các phương pháp thích hợp nhằm đạt được mục tiêu đề ra.

Qua nghiên cứu một số vấn đề lí luận, các khái niệm về quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, quản lý dạy học Giáo dục thể chất, chất lượng, đánh giá chất lượng giáo dục… có thể nhận thấy: hoạt động dạy học có vai trò đặc biệt quan trọng trong giáo dục nói chung và giáo dục THCS nói riêng, chất lượng hoạt động dạy học quyết định chất lượng hoạt động giáo dục trong nhà trường.

Hoạt động dạy học là hoạt động trọng tâm trong một nhà trường, do đó quản lí hoạt động dạy học có ý nghĩa quan trọng quyết định chất lượng giáo dục của một trường học. Quản lí hoạt động dạy học là quá trình Cán bộ quản lý xác lập kế hoạch, tổ chức, chỉ dạo, giám sát, kiểm tra hoạt động dạy của giáo viên và hoạt dộng học của học sinh nhằm đạt mục tiêu đề ra.

Quản lí hoạt động dạy học là việc chấp hành quy chế quy định, nội quy về về hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh đảm bảo cho các hoạt động đó được tiến hành tự giác có nề nếp, có chất lượng và đạt hiệu quả cao.

Hiệu trưởng quản lí hoạt động dạy học trong nhà trường là quản lí hoạt dộng dạy của thầy và hoạt động của trò với những nội dung cơ bản sau: Quản lí mục tiêu dạy học, quản chương trình dạy học, nội dung dạy học, hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học của học sinh, quản lí việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập và quản lí trang thiết bị, cơ sở vật chất hỗ trợ hoạt động dạy học.

Chất lượng hoạt động dạy học toàn diện của trường THCS được xác định thông qua kết quả kiểm tra, đánh giá của cơ quan quản lý cấp trên, từ dó giúp nhà trường xác định mức độ đáp ứng mục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn, để xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng giáo dục, nâng cao chất lượng các hoạt động dạy học và giáo dục.

Xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ và các nội dung cơ bản của hoạt động dạy học Giáo dục thể chất trong trường THCS, cũng như nắm bắt được đặc điểm tâm sinh lý, đặc điểm Giáo dục thể chất cho học sinh và vai trò của dạy học Giáo dục thể chất đối với học sinh THCS. Làm sáng tỏ các điều kiện đảm bảo chất lượng giảng dạy môn Giáo dục thể chất ở THCS về vấn đề con người (Đội ngũ, học sinh, cán bộ quản lý); về cơ sở vật chất cho Giáo dục thể chất; về trình độ nắm vững các phương pháp và kỹ thuật dạy học, huấn luyện TDTT, về điều kiện kinh phí; về cơ chế quản lý.

Xác định rõ vai trò, trách nhiệm của các chủ thể quản lý, nội dung quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất và các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất cho học sinh THCS… Đây là những căn cứ để đề tài đề xuất nội dung khảo sát thực trạng và đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới trong giai đoạn hiện nay. Luận văn: Quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *