Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh tại trường trung học phổ thông Văn Hiến, Hoàn Kiếm, Thành Phố Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1. Nguyên tắc đề xuất biện pháp
3.1.1. Đảm bảo phù hợp với đặc điểm nhà trường và thực tiễn địa phương
Trong quá trình quản lý giáo dục chung, mỗi nhà trường đều có các điều kiện khác nhau về CSVC, về đội ngũ, về đặc điểm văn hóa kinh tế, xã hội địa phương, về các khả năng quản lý, tổ chức, điều hành. Để đề xuất các biện pháp quản lý có hiệu quả cần phải xem xét thực tiễn cụ thể như điều kiện về cơ sơ vật chất, về con người, cách thức quản lý và các hình thức phối hợp.
3.1.2. Đảm bảo thực hiện đồng bộ các biện pháp
Quản lý nhà trường là tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, hệ thống và hợp với quy luật nhằm đưa các hoạt động giáo dục và dạy học của nhà trường đạt được mục tiêu đào tạo đã đặt ra. Hệ thống của nhà trường được hình thành từ các bộ phận chức năng: BGH, các tổ chuyên môn, hành chính, Công đoàn, Chi Đoàn TNCS HCM, Ban đại diện CMHS… Do vậy khi nghiên cứu, đề xuất các biện pháp quản lý phải có tính đồng bộ trong mọi hoạt động.
3.1.3. Đảm bảo kế thừa và phát triển
Kế thừa và phát triển là quy luật chung của tự nhiên, xã hội và tư duy con người. Do đó nguyên tắc đảm bảo kế thừa và phát triển là cơ sở khoa học cho việc lựa chọn các biện pháp là đảm bảo tính kế thừa. Chúng ta không thể xây dựng một biện pháp mới hoàn toàn khi chúng ta không quan tâm đến cái hiện có, mà phải nghiên cứu xem nó diễn ra thế nào, cái nào là tốt và cần phải gìn giữ phát huy, cái nào không còn phù hợp cần chỉnh sửa hoặc thay thế. Tựu chung lại, các biện pháp cần được xây dựng làm sao để khi áp dụng vào thực tế đảm bảo “ít bị xáo trộn nhất”. Công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức ở trường THPT Văn Hiến là sự bảo tồn những nghiên cứu, quy định đã được Nhà nước quy định nhằm có những biện pháp quản lý nói chung, quản lý hoạt động giáo dục đạo đức ở trường THPT nói riêng. Các biện pháp ở đây sẽ đưa ra cũng phải phát huy yêu cầu vốn có các quy định hiện hành, nhưng đồng thời cũng sẽ đặt các yêu cầu có sự chính xác hơn, cụ thể hơn và bám sát hơn với thực tế phát triển hiện tại và tương lai của sự phát triển ở trường THPT Văn Hiến trong tình hình hoạt động hiện nay và tương lai.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
3.2. Các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường Trung học Phổ thông Văn Hiến, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
3.2.1. Nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm của các thành viên, tổ chức trong nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh
- Mục tiêu của biện pháp:
Làm cho đội ngũ cán bộ, GV, NV và các lực lượng tham gia giáo dục khác thấy rõ tầm quan trọng, sự cấp thiết của việc tăng cường giáo dục đạo đức cho HS.
Nâng cao tinh thần trách nhiệm của các lực lượng trong công tác giáo dục đạo đức HS. Làm cho công tác này phải trở thành một nhiệm vụ chính trị, là một trong những nội dung trong kiểm tra, trong đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của mỗi tổ chức, cá nhân.
Nâng cao được năng lực cho CBQL, GV trong việc giáo dục đạo đức cho HS
Nội dung và cách thức thực hiện:
- Đối với CBQL, GV: Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh.
Triển khai các văn bản của cấp trên một cách đầy đủ, kịp thời, cụ thể sao cho trong toàn thể CBQL, GV được quán triệt một cách sâu sắc, khắc phục tình trạng triển khai qua loa, chiếu lệ.
Tổ chức hội thảo chuyên đề về giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục đạo đức HS theo định kỳ ít nhất 2 lần một năm học. Muốn tổ chức hội thảo tốt, Hiệu trưởng phải có kế hoạch chu đáo, xác định thời gian, nội dung, phân công nhân sự, nghiên cứu để viết tham luận, phải có hệ thống câu hỏi mở để cùng thảo luận, bàn bạc, tranh luận, chuẩn bị CSVC, tài chính…Nên mời các lực lượng ngoài nhà trường như công an, các cơ quan đoàn thể có liên quan cùng dự. Nội dung, chuyên đề hội thảo phải thiết thực, giải quyết những vấn đề còn tồn tại, yếu kém, bức xúc về đạo đức ở đơn vị, địa phương làm sáng tỏ vai trò, vị trí của các lực lượng và sự phối hợp giữa các lực lượng trong công tác giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục đạo đức HS.
Mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng, phương pháp giáo dục đạo đức. Có tri thức về đạo đức, quản lý giáo dục đạo đức HS là giai đoạn đầu, là điều kiện cần thiết cho sự thành công của công tác này. Tiếp theo, cần có kỹ năng, phương pháp truyền thụ giáo dục đạo đức, quản lý giáo dục đạo đức HS. Nói cách khác, lý luận và kỹ năng, giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục đạo đức HS phải được chú trọng, được phối hợp vận dụng vào thực tiễn công tác mới đạt hiệu quả cao.
Theo định kỳ nhà trường nên tổ chức hội nghị trao đổi, phổ biến kinh nghiệm giáo dục đạo đức và quản lý giáo dục đạo đức HS cho GVCN, GVBM, Đoàn TNCS HCM. Chọn một vài GV đạt được thành tích cao trong giáo dục đạo đức đề trình bày kinh nghiệm, các cá nhân bộ phận khác cùng thảo luận, trao đổi, học tập lẫn nhau.
Tổ chức tham quan, giao lưu, học tập kinh nghiệm ở những đơn vị trong và ngoài địa bàn quận đạt thành tích tốt trong công tác giáo dục đạo đức cho HS. Lưu ý phải có quan điểm cụ thể trong vấn đề học tập, vận dụng sao cho phù hợp với thực tiễn đạo đức HS ở đơn vị mình, tránh vận dụng kinh nghiệm một cách cứng nhắc.
- Đối với HS: Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh.
Được cung cấp, phổ biến những tri thức đạo đức cơ bản, các quan niệm về đạo đức, vai trò, vị trí của đạo đức trong cấu trúc nhân cách của con người, các phẩm chất đạo đức cơ bản nhất thiết phải có ở lứa tuổi HS THPT, cách thức phương pháp rèn luyện tu dưỡng, ý thức chấp hành nội quy, pháp luật Nhà nước, nhiệm vụ HS theo điều lệ trường trung học, phương pháp tự quản lớp.
Giúp các em hiểu được hiện tượng nào được gọi là các tệ nạn xã hội, tác hại, hậu quả của nó và cách phòng tránh hiệu quả.
Giáo dục hướng nghiệp, cung cấp cho HS một số kiến thức cơ bản về nghề nghiệp trong tương lai, hình thành thái độ đúng đắn đối với nghề nghiệp, lao động.
Giúp các em hiểu được đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi THPT, sức khỏe sinh sản vị thành niên, giới và bình đẳng giới.
Giáo dục về phòng chống thương tích, bảo vệ môi trường.
Hiểu và bước đầu rèn luyện để hình thành kỹ năng ứng xử, kỹ năng sống.
Hình thức hoạt động thông qua sinh hoạt tập thể như: sinh hoạt dưới cờ, tiết sinh hoạt chủ nhiệm, tổ chức thảo luận hay sinh hoạt chuyên đề ở lớp, ở trường.
Lứa tuổi HS THPT đang ở giai đoạn đầu của thời kỳ vị thành niên. Do đó, đi đôi với nâng cao nhận thức, nhà trường phải đặc biệt chú trọng giáo dục các em phương pháp, cách thức, kỹ năng rèn luyện để từng bước chuyển hóa từ tri thức đạo đức thành niềm tin và hành vi đạo đức.
- Đối với CMHS:
Xã hội đang ngày một phát triển, nền kinh tế thị trường có nhiều mặt tích cực, nhưng bên cạnh đó cũng không ít những mặt hạn chế đang len lỏi vào tất cả mọi lĩnh vực cuộc sống. Có rất nhiều CMHS quan tâm tới giáo dục đạo đức họ tự “mày mò” qua sách vở, internet…nhưng chưa đầy đủ và toàn diện. Nhưng phần lớn CMHS quan niệm rằng công tác giáo dục đạo đức là của riêng nhà trường. Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh.
Nhận thức của cha mẹ HS về tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức là điều quan trọng, bởi gia đình là hạt nhân phát triển nhân cách cho trẻ. Xét về mặt xã hội, nhà trường THPT không có quyền hạn, hoặc nghĩa vụ nâng cao nhận thức về giáo dục DĐ cho CMHS. Nhưng đứng trên phương diện của những nhà giáo dục, tôi thấy rằng nhà trường là nơi có đủ điều kiện, nhân lực, vật lực để giúp đỡ, hỗ trợ các bậc CMHS hiểu rõ hơn về tâm sinh lý lứa tuổi con em họ, những yếu tố ảnh hưởng, liên quan đến quá trình phát triển nhân cách, những phương pháp, cách thức, hành vi…giáo dục đạo đức và để kết hợp với các lực lượng giáo dục cùng chăm lo giáo dục thế hệ trẻ. Trong công tác này GVCN được đặt lên hàng đầu, họ phải khéo léo lồng ghép các hoạt động vào các cuộc họp định kỳ, biết lắng nghe, biết chia sẻ những suy tư của từng PH, khéo léo kết hợp với ban đại diện CMHS lớp cùng tham gia vào các buổi hội thảo, hướng dẫn họ có thể trở thành những người chủ đạo trong công tác này…
Hiệu trưởng nhà trường xây dựng kế hoạch tuyên truyền, quán triệt chi tiết, phân công, giao trách nhiệm cụ thể tới từng bộ phận, GVCN, GV bộ môn, công đoàn, chi đoàn, CMHS, đến HS để thực hiện. Có kế hoạch phối kết hợp với chính quyền, các ngành đoàn thể ở địa phương.
- Điều kiện thực hiện biện pháp:
Phải có sự quan tâm, ủng hộ của BGH nhà trường đứng đầu là Hiệu trưởng. Sự ủng hộ của Công đoàn, Chi đoàn và toàn thể cán bộ GV và đặc biệt là đội ngũ GVCN.
Có kinh phí và CSVC tốt phục vụ cho các hoạt động này.
Tổ chức bộ máy đảm bảo tính đồng bộ, ổn định, tập trung.
3.2.2. Xây dựng kế hoạch giáo dục giáo dục đạo đức cho học sinh phù hợp với đặc điểm trường Trung học Phổ thông Văn Hiến
- Mục tiêu của biện pháp:
Mục tiêu của kế hoạch hóa việc quản lý công tác giáo dục đạo đức HS là thực hiện tốt chức năng kế hoạch trong quá trình thực hiện các tác động quản lý làm cho nội dung và cách thực hiện có tính khả thi và hiệu quả nhằm thực hiện tốt các mục tiêu đã đề ra trong công tác quản lý giáo dục đạo đức HS. Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh.
- Nội dung và cách thực hiện:
Muốn có kế hoạch quản lý giáo dục đạo đức cho HS một cách khả thi, Hiệu trưởng phải nghiên cứu, điều tra thực trạng công tác này cũng như các yếu tố chi phối đến đạo đức và giáo dục đạo đức HS. Cụ thể Hiệu trưởng phải phân tích đặc điểm địa phương, đặc điểm nhà trường, mặt mạnh, mặt yếu của đội ngũ CBQL, GV, chất lượng dạy và học, đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi HS THPT…
Nghiên cứu nắm vững các chủ trương, các văn bản chỉ đạo của cấp trên về công tác quản lý HS, công tác giáo dục đạo đức HS.
Trên cơ sở đó, Hiệu trưởng trực tiếp xây dựng Đề cương kế hoạch giáo dục đạo đức HS của nhà trường. Trong đó cần nêu rõ các mục tiêu giáo dục đạo đức HS và cụ thể hóa thành các chỉ tiêu định lượng, các biện pháp cụ thể, cũng như các dự kiến tổ chức nhân sự và việc phân phối các nguồn lực khác, các cách thức triển khai…
Muốn đạt được hiệu quả thiết thực, nhà trường phải có kế hoạch lâu dài, kế hoạch cho từng năm, học kỳ, tháng với những nội dung cụ thể cho từng chủ điểm. Có nhiều loại kế hoạch giáo dục đạo đức HS:
- Kế hoạch công tác giáo dục đạo đức HS trung hạn, triển khai liên tục trong nhiều năm, tích hợp trong kế hoạch phát triển nhà trường từ 5 đến 10 năm.
- Kế hoạch công tác giáo dục đạo đức HS hàng năm, có thể là một kế hoạch chuyên đề về công tác giáo dục đạo đức HS hoặc được tích hợp và có một vị trí quan trọng trong Kế hoạch công tác hàng năm của Hiệu trưởng nhà trường.
- Một số kế hoạch giáo dục đạo đức HS theo chủ đề, cụ thể hóa việc triển khai thực hiện một số mục tiêu quan trọng trong kế hoạch hàng năm về giáo dục đạo đức HS.
Các kế hoạch phải được thể hiện bằng các chương trình công tác tương ứng: Từ việc xác định mục tiêu và kế hoạch giáo dục đạo đức trong nhà trường, Hiệu trưởng thông qua Ban chỉ đạo giáo dục đạo đức HS xây dựng các chương trình giáo dục đạo đức trong nhà trường cụ thể như:
- Chương trình giáo dục đạo đức thông qua hoạt động giảng dạy;
- Chương trình giáo dục đạo đức thông qua hoạt động chủ nhiệm;
- Chương trình giáo dục đạo đức thông qua hoạt động giám thị;
- Chương trình giáo dục đạo đức thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Để quản lý giáo dục đạo đức HS có tính khả thi cao, khi lên kế hoạch Hiệu trưởng cần phải nắm vững thực trạng công tác này, cũng như các yếu tố chi phối đến đạo đức và giáo dục đạo đức HS của mình. Nắm được các yếu tố khách quan, chủ quan tác động đến việc thực hiện các nhiệm vụ của nhà trường. Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh.
Các kế hoạch, chương trình giáo dục đạo đức HS cần cụ thể, phù hợp với chức năng từng bộ phận, từng thành viên trong tổ chức, phù hợp với thực tiễn của đơn vị. Kế hoạch này nên được lồng ghép và thống nhất với kế hoạch chung nhưng cần làm rõ và có sự ưu tiên đầu tư công sức và sự phân phối các nguồn lực.
Đảm bảo tính khoa học, dân chủ và phát huy vai trò các chủ thể, việc xây dựng công tác kế hoạch nhất thiết cần đưa ra lấy ý kiến của Hiệu phó phụ trách công tác giáo dục, Hội đồng tư vấn, sau đó hoàn chỉnh và thông qua kế hoạch.
Từ kế hoạch chung của nhà trường, cần chỉ đạo, hướng dẫn các bộ phận tự lên kế hoạch cho bộ phận mình. Kế hoạch càng cụ thể bao nhiêu thì thuận lợi cho việc tổ chức thực hiện bấy nhiêu. Tuy nhiên cũng cần phải có sự thống nhất trong kế hoạch của các bộ phận với kế hoạch chung của nhà trường thì kế hoạch đó mới có tính khả thi và hiệu quả.
Sau mỗi lần thực hiện một kế hoạch, nhà trường cần sơ kết, đánh giá những mặt mạnh, mặt yếu, mặt làm được và mặt chưa làm được, từ đó có hướng điều chỉnh thích hợp hơn.
Trong các kế hoạch giáo dục đạo đức HS cần tập trung vào mục tiêu trọng tâm, cần lựa chọn một số nội dung trọng điểm…từ đó tập trung sự chỉ đạo thực thi có hiệu quả rõ rệt.
Việc chọn lựa nội dung và hình thức cần phù hợp với tâm lý lứa tuổi. Tổ chức bằng nhiều hình thức phong phú như: hái hoa dân chủ, thi đua, dã ngoại…để thu hút các em tích cực tham gia. Từ các hoạt động đó mà giáo dục các em lý tưởng sống, niềm tin, ước mơ, hoài bão, ý chí, động cơ học tập, ý thức nghề nghiệp trong tương lai.
Trong việc xây dựng kế hoạch cũng cần phải chú ý đến nguồn lực để phục vụ cho kế hoạch đó. Có khi phải sử dụng đến nguồn lực bên ngoài, song nguồn lực bên trong luôn thuận lợi, có tính chất quyết định. Đội ngũ GV, trong đó CBQL năng nổ là yếu tố then chốt. Hiệu trưởng cần phân công đúng người, đúng việc, chỉ đạo đội ngũ phải nắm chắc mục tiêu, tính chất nội dung công việc, tình hình trong trường, thực hiện tích cực việc được giao.
Đặc biệt cần thường xuyên theo dõi và phát hiện các vấn đề nảy sinh khi thực hiện kế hoạch và có hướng điều chỉnh cho thích hợp. Kết hợp theo dõi, đôn đốc với kiểm tra, đánh giá mức độ và kết quả, sản phẩm công tác theo từng chủ đề, từng học kỳ hoặc một đợt thi đua. Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh.
Có thể nói, nếu Hiệu trưởng xây dựng được các kế hoạch giáo dục đạo đức HS không chỉ giúp việc triển khai công tác khoa học, chủ động mà còn có ý nghĩa quyết định hiệu quả của công tác. Đây cũng là vấn đề khó và yếu của các Hiệu trưởng và công tác giáo dục đạo đức HS hiện nay.
- Điều kiện thực hiện biện pháp:
Để đạt được mục tiêu đề ra các tổ chức, bộ phận, cá nhân phải nắm chắc tình hình đặc điểm HS của mình từ đó xây dựng kế hoạch hoạt động có tính khả thi. Đảm bảo sự phân công hợp lý tránh chồng chéo. BGH phải làm tốt công tác tuyên truyền động viên khen thưởng và trách phạt kịp thời.
3.2.3. Tổ chức bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ giáo viên chủ nhiệm về phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh
- Mục tiêu của biện pháp:
GVCN đóng vai trò chủ đạo, tổ chức điều khiển và lãnh đạo quá trình hình thành nhân cách ở HS phù hợp với mục tiêu giáo dục phổ thông. GVCN thay mặt Hiệu trưởng quản lý toàn diện hoạt động giáo dục của một lớp, trực tiếp giáo dục HS, trực tiếp chỉ đạo, kiểm tra đánh giá quá trình rèn luyện phấn đấu tu dưỡng của từng HS trong lớp và ảnh hưởng lớn quá trình phát triển nhân cách. GVCN phải có đủ Tâm, Đức, Tài, Trí, có năng lực sư phạm nắm bắt tâm lý HS, hoàn cảnh HS để có những biện pháp giáo dục phù hợp, có hiệu quả. GV phải là tấm gương gây được niềm tin đạo đức trước HS. Qua khảo sát thực trạng nhận thấy không ít GVCN không làm tốt công tác giáo dục đạo đức cho HS vì bản thân có nhiều hạn chế, thiếu kinh nghiệm công tác. Vì vậy việc bồi dưỡng đội ngũ GV là vô cùng quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho HS THPT.
- Nội dung và cách thực hiện: Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh.
Hiệu trưởng lựa chọn, bồi dưỡng đội ngũ GVCN, giúp họ thấy được niềm vinh dự và trách nhiệm lớn lao mà nhà trường giao phó, giúp họ nắm vững được mục tiêu giáo dục của nhà trường và vai trò quan trọng của mình với sự phát triển nhân cách của HS, đặc biệt người Hiệu trưởng phải tạo điều kiện tốt cho GVCN làm việc.
Hiệu trưởng trực tiếp bồi dưỡng những yêu cầu sư phạm đối với người GVCN lớp, rèn những kỹ năng ứng xử trong tình huống công tác, nắm vững chức năng và nhiệm vụ GVCN để từ đó mỗi thầy cô không ngừng học hỏi, trau dồi kinh nghiệm công tác, những phương pháp giáo dục, tự học tập, tự rèn luyện, tự bồi dưỡng, tự hoàn thiện nhân cách để trở thành tấm gương sáng cho HS noi theo.
Hiệu trưởng có kế hoạch lựa chọn đội ngũ GVCN, định ra các tiêu chuẩn để lựa chọn.
- Tiêu chuẩn đầu tiên là người GV có tinh thần yêu nghề mến trẻ, nhiệt huyết trong công tác, luôn hoàn thành tốt công việc được giao.
- Người GVCN luôn được HS và PH yêu mến, kính trọng, tin tưởng. Trẻ có mến, phục thầy cô thì các em mới làm theo, học theo.
- Có năng lực chuyên môn vững vàng.
- Có khả năng tổ chức các hoạt động tập thể.
- Có khả năng thuyết phục, truyền thụ.
Khi lựa chọn cần tránh những điểm sau: Không nên lựa chọn GVCN chỉ đơn thuần dựa vào mặt bằng lao động, vào GV dạy môn chính (văn, toán, ngoại ngữ..), những GV yếu kém về năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức, những GV quá khó khăn về kinh tế hoặc sức khỏe không tốt.
Hiệu trưởng trực tiếp xây dựng kế hoạch bồi dưỡng đội ngũ GVCN những yêu cầu cần thiết:
- Bồi dưỡng GVCN có lý tưởng nghề nghiệp đúng đắn, giúp họ phải am hiểu, nắm bắt sâu sắc chủ trương đường lối giáo dục của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ đổi mới hiện nay, có nhận thức đúng đắn về nghề dạy học. Họ cần nhận thức rằng công việc của mình có ý nghĩa quyết định cho sự phát triển của đất nước.
- GV phải có chuyên môn vững vàng, đây là một trong những yêu cầu sư phạm có tính kiên quyết và có chuyên môn tốt, giảng dạy tốt thì HS mới phục, mới chấp nhận sự giáo dục.
- Bồi dưỡng GVCN đối x ử sư phạm, các tình huống sư phạm, ứng xử khéo léo với HS và phụ huynh có thái độ quan tâm chu đáo, đặc biệt phải tôn trọng HS trong bất kỳ tình huống nào.
- GV phải có lối sống đạo đức trong sáng. Phải thể hiện mình như một nhân cách toàn vẹn, phấn đấu thực sự trở thành người mẹ thứ hai của trẻ. Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh.
- Bồi dưỡng lòng nhân ái sư phạm. Tình yêu thương con người là cái gốc, đạo lý làm người. tình yêu thương HS là gốc, là điểm xuất phát của mọi sáng tạo sư phạm.
- Bồi dưỡng GVCN xác định các mối quan hệ cầu nối với BGH: GVCN hoạt động theo sự chỉ đạo về mục tiêu, nội dung, kế hoạch trong quá trình giáo dục, có định kỳ báo cáo, phản ánh kịp thời thuận lợi, khó khăn để phối hợp với BGH giáo dục HS.
- Xác định mối quan hệ với Đoàn Thanh niên để xây dựng tập thể HS tự quản, theo dõi thi đua của lớp, kết hợp giáo dục đạo đức cho HS.
- Xác định mối quan hệ với GVBM thường xuyên trao đổi tình hình học tập, kỷ luật của lớp, những biểu hiện, nguyện vọng… của HS. Kết hợp để đánh giá xếp loại hạnh kiểm HS, trao đổi, bàn bạc thống nhất đánh giá khách quan công bằng HS.
- Xác định mối quan hệ giữa GVCN với Ban đại diện CMHS chủ động trực tiếp tổ chức phối hợp giáo dục giữa nhà trường và gia đình, xã hội, dự kiến các nội dung hoạt động của Ban đại diện CMHS đặt ra yêu cầu nhiệm vụ của giáo dục gia đình trong công tác giáo dục đạo đức cho HS.
- Hiệu trưởng thường xuyên kiểm tra đôn đốc GVCN về công tác giáo dục đạo đức cho HS có chế độ khen thưởng, động viên GV làm công tác CN giỏi, nhắc nhở nhưng GV chưa hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Điều kiện thực hiện:
- Có sự quan tâm của BGH, đặc biệt là người Hiệu trưởng.
- Có kinh phí hoạt động và có chế độ đãi ngộ động viên hàng tháng để đội ngũ GVCN toàn tâm, toàn ý phục vụ sự nghiệp giáo dục.
3.2.4. Xây dựng môi trường sư phạm thân thiện trong nhà trường
- Mục tiêu của biện pháp: Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh.
Việc giáo dục đạo đức cho HS THPT là rất quan trọng, bởi đó là một phần nền móng đạo đức của xã hội. Đặc biệt giáo dục đạo đức cho HS trong môi trường thân thiện lại càng cần thiết. Nhận thức đúng sẽ có ý nghĩa to lớn trong việc thành công của công việc. Vì vậy cần phải nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm cho đội ngũ GV, chính quyền đoàn thể trong nhà trường để tất cả các lực lượng thấy được vai trò, tầm quan trọng và thống nhất quan điểm xây dựng và phát triển môi trường thân thiện nhằm giáo dục đạo đức cho HS.
Tạo môi trường sư phạm thân thiện bao gồm cảnh quan của nhà trường, nền nếp của HS, GV, các mối quan hệ giao tiếp giữa thầy với thầy, giữa thầy với trò, giữa trò với trò là những môi trường thuận lợi để triển khai và thực hiện tốt công tác giáo dục đạo đức cho HS.
- Nội dung và cách thực hiện:
Môi trường thân thiện là điều kiện quan trọng, là nhân tố quyết định tính hiệu quả của quá trình dạy học và giáo dục. Hiệu trưởng phải thực hiện được vai trò quản lý trong việc xây dựng môi trường sư phạm thực sự thân thiện nhằm phục vụ cho nhiệm vụ giáo dục nói chung và công tác giáo dục đạo đức nói riêng.
Người Hiệu trưởng phải xây dựng kế hoạch ngay từ đầu năm học chăm lo xây dựng nhà trường từ CSVC, cảnh quan, nền nếp, kỷ cương, không khí học tập… trong đó người Hiệu trưởng cần chú ý xây dựng mối quan hệ lành mạnh, trong sáng giữa thầy và thầy, giữa thầy và trò, giữa bạn bè, giữa tập thể.
Đây là mối quan hệ giữa người với người những mối quan hệ đó tốt đẹp sẽ tạo nên những nét bản chất nhất, những nét rất riêng, tạo nên môi trường đạo đức thuận lợi nhất để hình thành nhân cách cao đẹp ở HS.
Môi trường sư phạm thân thiện là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình giáo dục đạo đức, công tác giáo dục đạo đức chỉ có thể đạt hiệu quả khi nó diễn ra trong một môi trường sư phạm thân thiện, lành mạnh.
Chỉ đạo xây dựng tập thể sư phạm (GV, HS, các tổ chức đoàn thể…) đoàn kết nhân ái, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Xây dựng tập thể sư phạm: Nền nếp kỷ cương trong hoạt động giảng dạy, giáo dục HS, sinh hoạt tập thể của đội ngũ GV, cán bộ công nhân viên. Xây dựng nền nếp kỷ cương trong hoạt động học tập, rèn luyện của HS.
Thực hiện tốt dân chủ trong nhà trường, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với các lực lượng giáo dục ở ngoài nhà trường tạo thành môi trường giáo dục thống nhất.
Ngoài ra việc tạo không gian thoáng đãng, sạch sẽ, công trình vệ sinh trường học đạt tiêu chuẩn… cũng có tác dụng tốt trong việc giáo dục đạo đức cho HS do vậy cần thường xuyên chăm lo xây dựng môi trường cảnh quan sạch đẹp, cải tạo sử dụng môi trường đúng mục đích sư phạm. Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh.
Đặc biệt hưởng ứng phong trào “Nhà trường thân thiện, HS tích cực” chương trình này chính là nhằm mục đích xây dụng môi trường sư phạm lành mạnh để đạt hiệu quả cao trong công tác giáo dục đạo đức cho HS.
Thường xuyên tuyên truyền, trang bị kiến thức cơ bản về công tác giáo dục đạo đức đối với HS cho GV nhà trường. Thảo luận về những chuẩn mực đạo đức cần có đối với thế hệ trẻ.
Tuyên truyền vận động trong đội ngũ GV thực hiện các phong trào thi đua: “Dạy tốt – học tốt“, cuộc vận động: “Dân chủ, kỷ cương, tình thương, trách nhiệm“. “Mỗi thầy cô giáo là tấm gương về đạo đức và tự học“, xây dựng “Gia đình nhà giáo văn hóa“, “Cơ quan văn hóa“.
Nêu cao khẩu hiệu: “Tiên học lễ, hậu học văn” và lời dạy của Bác Hồ đối với HS: “Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang sánh vai với các cường quốc năm châu hay không, chính là nhờ phần lớn ở công học tập của các em” trong nhà trường.
Tuyên truyền, vận động toàn thể thầy cô giáo, các em HS hưởng ứng tốt cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh“. Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu, kể chuyện về tấm gương đạo đức cách mạng trong sáng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Điều kiện thực hiện:
Có sự ủng hộ của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, của Ban đại diện CMHS trong việc đầu tư kinh phí để xây dựng CSVC, trong việc tuyển chọn GV cho nhà trường.
Làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục, huy động được các lực lượng tham gia giáo dục đạo đức, huy động các nguồn tài chính phục vụ cho việc đầu tư, mua sắm các thiết bị, xây dựng các hạng mục công trình để tổ chức các hoạt động cho các em HS.
Hiệu trưởng nhà trường phải là người có uy tín đối với CBGV và quần chúng nhân dân, đầu tàu gương mẫu trong việc xây dựng môi trường giáo dục trong và ngoài trường.
Có đội ngũ CBQL, GV gương mẫu về mọi mặt, đoàn kết, nhất trí thành một khối thống nhất có tác dụng giáo dục mạnh mẽ đối với HS. Phải không ngừng tự hoàn thiện nhân cách của mình, nhiệt tình có năng lực, tâm huyết với công tác giáo dục HS. Các thầy cô giáo phải gương mẫu, thực sự là tấm gương cho HS noi theo.
3.2.5. Bồi dưỡng năng lực tự quản của tập thể và tự rèn luyện của học sinh
- Mục tiêu của biện pháp: Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh.
Hình thành thói quen tự quản cho HS. Tự xây dựng được kế hoạch hoạt động, tự tổ chức, tự theo dõi, tự kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch của tập thể lớp và bản thân HS. Tự quản là nền móng của tự ý thức và tự giáo dục của mỗi HS, trước tiên có nội dung, kế hoạch của nhà trường và các thầy cô sau trở thành ý thức tự giác của mỗi cá nhân trong tập thể, vì mục đích chung của tập thể.
Tập thể lớp chủ động triển khai các kế hoạch hoạt động của nhà trường, hoạt động tự quản chấp hành nội quy,tự xây dựng chương trình học tập rèn luyện đạo đức và vui chơi giải trí, hình thành thói quen hành vi đạo đức tốt, biết làm chủ bản thân, làm chủ tập thể.
- Nội dung và cách thực hiện:
- Bồi dưỡng năng lực tự quản cho tập thể lớp và HS
Nhà trường mở lớp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng tự quản cho cán bộ lớp ngay từ đầu năm học với các nội dung: Nhiệm vụ của lớp, tiêu chuẩn đánh giá, các loại sổ sách, các loại mẫu báo cáo tuần, tháng, cách thức tổ chức các cuộc họp lớp, đại hội lớp, lề lối làm việc của ban cán sự lớp, các hoạt động ngoài giờ lên lớp…
Nhà trường phải chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự theo dõi, tự đánh giá, tự phê bình góp ý cho tập thể lớp và cá nhân HS, tổng phụ trách phải mở lớp bồi dưỡng nghiệp vụ công tác đoàn.
Hiệu trưởng chỉ đạo GV chủ nhiệm phối hợp với Tổng phụ trách tổ chức các hoạt động tự quản. Các hoạt động tự quản bao gồm: tự quản lý nền nếp học tập ở lớp, hình thành tổ nhóm học tập tại nhà, thành lập nhóm bạn giúp nhau tiến bộ, tổ chức cho tập thể lớp hưởng ứng các phong trào thi đua của nhà trường, tham gia đội tự quản của trường, tự kiểm tra đánh giá kết quả thi đua hàng tuần…
Hiệu trưởng phải là người chỉ đạo GVCN và các bộ phận liên quan thực hiện đầy đủ chức năng cố vấn cho hoạt động tự quản của HS.
GV chủ nhiệm là linh hồn của lớp, thay mặt Hiệu trưởng hướng dẫn chỉ đạo các hoạt động tự quản của tập thể lớp. GVCN phải phối hợp với GVBM, Tổng phụ trách và các lực lượng giáo dục ở ngoài trường giúp HS tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, cuốn hút HS vào các hoạt động tập thể. Việc tổ chức các hoạt động phải kết hợp với vui chơi giải trí. Bằng mọi hình thức giáo dục khác nhau GVCN và tập thể lớp phải tạo dựng ở HS niềm tin, ước mơ hoài bão vươn lên làm chủ cuộc sống học tập lao động của bản thân và cống hiến cho xã hội. GVCN phải thường xuyên theo dõi kiểm tra đánh giá hoạt động tự quản giúp HS, điều chỉnh những lệch lạc. Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh.
Trong mỗi hoạt động của lớp, GVCN phải phát hiện được thủ lĩnh của từng nhóm HS. Những HS này có thể tập làm người chỉ huy điều hành với sự ủng hộ tích cực của tập thể lớp. Tạo dựng được sự hứng thú, tự tin là điều kiện quan trọng để lôi cuốn mọi HS tự giác chủ động sáng tạo trong các hoạt động tập thể. Vì vậy, phải biểu dương khen thưởng kịp thời các gương điển hình, khuyến khích bảo vệ bồi dưỡng các nhân tố tích cực. Ngoài việc rèn luyện đạo đức trong môi trường nhà trường, HS còn phải rèn luyện đạo đức trong môi trường gia đình, xã hội. GVCN phải biết kết hợp với địa phương và gia đình, tổ chức mạng lưới cán bộ lớp, tổ hình thành các nhóm sinh hoạt tập thể.
GVCN phải xây dựng quy trình sinh hoạt lớp linh hoạt, dành nhiều thời gian cho HS tự điều khiển, GVCN đóng vai trò hướng dẫn HS trong lớp sinh hoạt lớp.
GVCN thường xuyên liên hệ với gia đình phụ huynh, hướng dẫn phụ huynh tiến hành các phương pháp giáo dục, quản lý hoạt động tự học, tự rèn luyện của HS ở nhà.
Để phát huy vai trò tự quản của tập thể lớp cần phải tổ chức hoạt động phù hợp tâm lý lứa tuổi, tạo mọi điều kiện để HS phát huy năng lực, xây dựng quy mô hoạt động phù hợp với khả năng HS, thường xuyên có vai trò cố vấn là GV.
- Điều kiện thực hiện:
Phải có sự chỉ đạo sát sao của BGH, có sự kết hợp giữa đoàn thanh niên với GVCN. Đôn đốc triển khai kế hoạch, kiểm tra uốn nắn kịp thời những lệch lạc về nhận thức cũng như hành vi đạo đức của HS.
GVCN tâm huyết với nghề, có tinh thần trách nhiệm hết lòng vì HS. Đội ngũ cán bộ lớp phải có tinh thần trách nhiệm cao nhiệt tình công tác, có năng lực tổ chức, năng lực hoạt động, có uy tín trước tập thể, có khả năng tập hợp lôi cuốn các bạn tự giác thực hiện tốt mọi hoạt động của nhà trường.
3.2.6. Phối kết hợp giữa nhà trường, và các lực lượng xã hội trong công tác giáo dục đạo đức học sinh Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh.
- Mục tiêu của biện pháp:
Giáo dục đạo đức là trách nhiệm của toàn xã hội, do đó tất yếu phải tiến hành đa dạng các hình thức phối kết hợp các lực lượng giáo dục đặc biệt là ba lực lượng chủ chốt gia đình, nhà trường và xã hội trong lĩnh vực giáo dục đạo đức HS, trong đó nhà trường phải giữ vai trò trung tâm, nòng cốt. Do vậy, Hiệu trưởng phải là người thật sự chủ động quan hệ, phối hợp, liên kết với lực lượng khác để bàn bạc nội dung hình thức, biện pháp… giáo dục đạo đức HS phù hợp với truyền thống địa phương, đặc điểm tâm sinh lý HS trường THPT Văn Hiến.
Phát huy sức mạnh tổng hợp của nhà trường, gia đình và xã hội cộng đồng trách nhiệm chăm lo giáo dục đạo đức cho HS và phát huy những tiềm năng phong phú của toàn xã hội về cả vật chất lẫn tinh thần để tham gia vào giáo dục thế hệ trẻ, tạo ra sự thống nhất thực hiện mục tiêu giáo dục thực hiện các chuẩn mực đạo đức của HS và xây dựng môi trường trong sạch không có tệ nạn xã hội là môi trường lý tưởng để giáo dục đạo đức cho HS.
Sự phối hợp thống nhất giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội đã trở thành một nguyên tắc cơ bản của nền giáo dục nước nhà, sự đa dạng các hình thức phối kết hợp này tạo ra môi trường thuận lơi, sức mạnh tổng hợp để giáo dục đạo đức cho HS.
- Nội dung và cách thức thực hiện:
Hiệu trưởng và tập thể sư phạm huy động xã hội tham gia xây dựng môi trường thuận lợi cho công tác giáo dục nói chung và công tác giáo dục đạo đức HS nói riêng. Đây chính là việc thực hiện cộng đồng hóa trách nhiệm nhằm đảm bảo tính tích cực của môi trường xã hội và sự thống nhất tác động mang tính giáo dục đối với thế hệ trẻ. Cụ thể là:
Xây dựng các môi trường nhà trường, gia đình, xã hội và phối hợp giữa các môi trường để tạo sự thống nhất tác động giáo dục HS.
Xây dựng môi trường nhà trường: Hiệu trưởng phải huy động các lực lượng xã hội cùng chăm lo xây dựng nhà trường từ CSVC, cảnh quan, nền nếp, kỷ cương, không khí học tập… Trong đó, Hiệu trưởng chú ý xây dựng mối quan hệ lành mạnh, trong sáng giữa thầy với thầy, giữa thầy với trò, giữa bạn bè trong tập thể…
Xây dựng môi trường gia đình: Gia đình là tế bào của xã hội, là thành trì vững chắc để bảo vệ, chăm sóc, giáo dục đạo đức HS. Có thể nói, gia đình là môi trường thứ nhất, đầu tiên và lâu dài trong quá trình rèn luyện và hình thành nhân cách thế hệ trẻ. Do đó, Hiệu trưởng phải chỉ đạo các bộ phận thường xuyên phối hợp với gia đình HS, giúp cho gia đình nâng cao ý thức chăm sóc, giáo dục HS một cách chu đáo, tạo điều kiện thuận lợi cho HS học tập, rèn luyện.
Xây dựng môi trường xã hội tích cực: xã hội là môi trường rộng lớn, phức tạp, luôn biến động, cái tích cực, cái tiêu cực đan xen nhau, không dễ dàng phân biệt giữa cái tốt và cái xấu. Do đó nhà trường cùng các cấp ủy đảng, chính quyền, cơ quan đoàn thể cùng phối hợp, ra sức xây dựng môi trường xã hội tích cực. Cụ thể là xây dựng cộng đồng, đường phố văn minh, tạo lối sống lành mạnh, dư luận xã hội tích cực, đề cao giá trị xã hội chân chính, các quan hệ tốt đẹp giữa người với người, xây dựng cuộc sống văn minh, đoàn kết, công bằng dân chủ. Môi trường xã hội tốt đẹp là mảnh đất màu mỡ để phát triển nhân cách tốt đẹp cho thế hệ trẻ. Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh.
Hiệu trưởng chỉ đạo các lực lượng trong nhà trường thường xuyên phối hợp với các lực lượng xã hội để xây dựng và phối hợp tốt 3 môi trường. Nhà trường, gia đình và xã hội, tạo sự tác động đồng thuận theo hướng tích cực để giáo dục đạo đức HS theo những chuẩn mực xã hội.
Nhà trường phải thu hút được các lực lượng xã hội tham gia vào quá trình giáo dục đạo đức HS, nhằm từng bước nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho các em.
Đề nghị các cơ quan, ban ngành có liên quan tham gia vào việc sưu tầm, cung cấp tư liệu. soạn tài liệu, phần mềm có tác dụng giáo dục đạo đức HS. Chẳng hạn như cung cấp các tài liệu lịch sử địa phương, những kinh nghiệm xã hội, những giá trị chuẩn mực trong xã hội và trong cuộc sống, quan hệ ứng xử tốt đẹp trong cộng đồng.
Đề nghị và phối hợp với các ngành chức năng tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp cho HS. Cụ thể:
- Ngành y tế: truyền bá những tri thức về dân số, sức khỏe sinh sản vị thành niên, giáo dục giới tính, vệ sinh phòng bệnh, bảo vệ môi trường…
- Ngành công an: cung cấp tri thức về pháp luật, phòng chống các tệ nạn xã hội.
- Ngành văn hóa thông tin: tham gia giáo dục thể chất, giáo dục văn hóa, thẩm mỹ cho HS thông qua một số hoạt động như thi đấu thể dục thể thao, văn nghệ, triển lãm…
- Đoàn TNCS HCM: phối hợp cùng nhà trường tổ chức các buổi sinh hoạt tập thể, quản lý HS trong hè, giáo dục truyền thống, lý tưởng của Đoàn.
- Ban đại diện CMHS: phối hợp cùng nhà trường tổ chức các buổi hội thảo nhằm bàn bạc các biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cho HS.
Tóm lại, đa dạng các hình thức phối kết hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội là yếu tố quan trọng góp phần giáo dục đạo đức cho HS. Nội dung và hình thức phối hợp đa dạng, phong phú, Hiệu trưởng chỉ đạo thực hiện công tác này một cách thường xuyên, có kế hoạch để huy động được sức mạnh của toàn xã hội chăm lo cho giáo dục đạo đức HS.
- Điều kiện thực hiện biện pháp:
Xây dựng được mối quan hệ chặt chẽ, gắn bó giữa nhà trường, gia đình và xã hội.
Các lực lượng tham gia phối hợp giáo dục đạo đức cho HS phải nhiệt tình tâm huyết, hết lòng vì thế hệ trẻ.
3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh.
Để giáo dục đạo đức HS một cách hiệu quả, nhà trường phải thực hiện một cách đồng bộ, có sự phối hợp linh hoạt các biện pháp trên. Trong đó, biện pháp “Nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm của các thành viên, tổ chức trong nhà trường trong giáo dục đạo đức cho HS” có ý nghĩa tiên quyết, tạo tiền đề để thực hiện hiệu quả các biện pháp khác. Nhận thức định hướng cho hành động. Nhận thức đúng là một trong những điều kiện cơ bản để có hành động đúng. Nhận thức đúng bao hàm cả tư tưởng đúng. Nhận thức, ý thức, định hướng, soi sáng cho hành động, nhận thức sâu sắc, ý thức cao sẽ giúp nâng cao trách nhiệm và hành động thực tiễn đạt hiệu quả tốt. Trong quản lý giáo dục đạo đức HS, nhận thức phải được nâng cao ở cả hai lực lượng là CBQL, GV và HS hai lực lượng này tương tác với nhau và quyết định mọi sự thành bại. Thầy nhận thức tốt là điều kiện để giáo dục tốt, trò nhận thức tốt là điều kiện để được giáo dục và tự giáo dục tốt.
Biện pháp “Xây dựng kế hoạch giáo dục giáo dục đạo đức cho HS phù hợp với đặc điểm trường Trung học Phổ thông Văn Hiến”, “Tổ chức bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ GV chủ nhiệm về phương pháp giáo dục đạo đức cho HS”, “Bồi dưỡng năng lực tự quản của tập thể và tự rèn luyện của HS” giữ vai trò then chốt, quyết định chất lượng giáo dục đạo đức HS. Chúng thể hiện năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ của nhà trường trong suốt quá trình giáo dục đạo đức HS. Trong đó, biện pháp “Xây dựng kế hoạch giáo dục giáo dục đạo đức cho HS phù hợp với đặc điểm trường Trung học Phổ thông Văn Hiến” có vai trò định hướng mục tiêu, nội dung, hình thức, biện pháp, cơ chế phối hợp giữa các lực lượng… đảm bảo cho quá trình quản lý công tác giáo dục đạo đức diễn ra một cách chủ động, đúng hướng. Biện pháp “Tổ chức bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ GV chủ nhiệm về phương pháp giáo dục đạo đức cho HS” nhằm đảm bảo cho việc thực hiện kế hạch đạt hiệu quả cao. Biện pháp “Bồi dưỡng năng lực tự quản của tập thể và tự rèn luyện của HS” trong các hoạt động tập thể và vui chơi, giải trí nhằm phát huy vai trò chủ động, tích cực của HS, biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục, rèn luyện đạo đức, tác phong.
Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục công tác giáo dục đạo đức HS thực chất là sự phối hợp giữa các môi trường: Nhà trường – gia đình – xã hội, là điều kiện quan trọng tạo ra sự thống nhất về nội dung, chuẩn mực giáo dục đạo đức giữa các môi trường giáo dục nhằm hỗ trợ cho quá trình giáo dục đạo đức HS đạt hiệu quả cao, vì vậy “Phối kết hợp giữa nhà trường, và các lực lượng xã hội trong công tác giáo dục đạo đức HS”. Đây là biện pháp có thể áp dụng trong điều kiện thiếu thốn vì trong công tác giáo dục đạo đức HS không thể thiếu sự kết hợp giữa 3 môi trường giáo dục.
Như vậy các biện pháp trên vừa là tiền đề vừa là kết quả của nhau; quan hệ gắn bó với nhau, chúng hỗ trợ nhau, bổ sung nhau trong suốt quá trình quản lý giáo dục đạo đức HS. Do đó, nhà trường phải triển khai thực hiện chúng một cách đồng bộ, nhất quán mới đạt chất lượng cao trong công tác giáo dục đạo đức HS.
3.4. Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp
Để khắc phục tính chủ quan, tác giả đã trưng cầu ý kiến 30 người gồm: chuyên viên của Sở GD&ĐT, CBQL, GV cốt cán của trường THPT Văn Hiến về tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp giáo dục đạo đức HS.
Bảng 3.1. Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết của các biện pháp
Có thể mô tả bảng số liệu bằng biểu đồ như sau: Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh.
Biểu đồ 3.1. Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết của các biện pháp
Dựa trên kết quả khảo sát ý kiến về mức độ cần thiết của các biện pháp quản lý công tác giáo dục đạo đức bước đầu cho chúng ta thấy:
Cả 6 biện pháp, tuy được đánh giá với độ phân tán khá cao, song đều ở mức độ “ Rất cần thiết” khá cao từ 76,6% trở lên.
Cao nhất là các biện pháp: Nâng cao nhận thức vai trò trách nhiệm của các thành viên tổ chức trong nhà trường trong công tác giáo dục đạo đức cho HS, tiếp đó là các biện pháp xây dựng môi trường thân thiện để giáo dục đạo đức cho HS. Kế hoạch hóa công tác giáo dục đạo đức cho HS, cũng là biện pháp có tỷ lệ cao.
Tổ chức bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ GV chủ nhiệm về phương pháp giáo dục đạo đức cho HS, tổ chức tốt việc phối kết hợp giữa nhà trường và các lực lượng xã hội trong công tác giáo dục đạo đức cho HS và bồi dưỡng năng lực tự quản của tập thể và tự rèn luyện của HS có tỷ lệ lựa chọn thấp hơn cả là (76,6%) có lẽ đại đa số chúng ta vẫn quen với việc HS là đối tượng giáo dục và vai trò tự quản của các em chưa thực sự được tin tưởng trong công tác giáo dục đạo đức.
Tổ chức bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ GV chủ nhiệm về phương pháp giáo dục đạo đức cho HS và xây dựng một môi trường thân thiện để giáo dục đạo đức cho HS được đánh giá cao về mức độ rất cần thiết. Như vậy là ý kiến đồng thuận về tính cấp thiết, phù hợp của các đối tượng về 6 biện pháp là sát với thực tiễn, có cơ sở khoa học để thực hiện mục đích của đề tài.
Bảng 3.2. Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp
Có thể mô tả bảng số liệu bằng biểu đồ như sau:
Biểu đồ 3.2. Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp
Nhìn chung các biện pháp đều được đánh giá có tính khả thi cao, mức độ “Rất khả thi” tuy có thấp hơn so với tính cấp thiết song đều đạt từ 71% trở lên. Như vậy là khả quan. Không phải biện pháp nào có tính rất cấp thiết cũng được coi là có tính khả thi cao tương ứng.
Từ kết quả của hai bảng trên nhận thấy, đại đa số thành viên đánh giá các biện pháp giáo dục đạo đức trên là cấp thiết và khả thi, có thể vận dụng vào thực tiễn quản lý giáo dục đạo đức HS trường THPT Văn Hiến, nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức HS.
Kết luận chương 3 Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh.
Để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho HS ở trường THPT Văn Hiến, tác giả đã tiến hành đề xuất 6 biện pháp quản lý giáo dục đạo đức như sau:
- Nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm của các thành viên, tổ chức trong nhà trường trong công tác giáo dục đạo đức cho học sinh;
- Xây dựng kế hoạch giáo dục giáo dục đạo đức cho học sinh phù hợp với đặc điểm trường Trung học Phổ thông Văn Hiến;
- Tổ chức bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ giáo viên chủ nhiệm về phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh;
- Xây dựng môi trường sư phạm thân thiện trong nhà trường;
- Bồi dưỡng năng lực tự quản của tập thể và tự rèn luyện của học sinh;
- Phối kết hợp giữa nhà trường, và các lực lượng xã hội trong công tác giáo dục đạo đức học sinh.
Các biện pháp trên có mối quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau. Do đó, phải thực hiện chúng một cách đồng bộ, nhất quán trong suốt quá trình giáo dục đạo đức HS. Ngoài ra, để có cơ sở khách quan nhằm áp dụng các biện pháp trên vào thực tiễn, tác giả đã trưng cầu ý kiến của một số CBQL, GV trong ngành giáo dục. Nhìn chung, đại bộ phận CBQL, GV đều đánh giá các biện pháp trên có tính cấp thiết và khả thi, có thể thực hiện để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đạo đức cho HS trường THPT Văn Hiến.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
Đạo đức là phẩm chất quan trọng nhất trong nhân cách, là nền tảng để xây dựng nên thế giới tâm hồn và nhân cách mỗi người. Những năm qua Đảng, Nhà nước đã quan tâm đặc biệt đến công tác giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, trong đó luôn chú trọng giáo dục đạo đức. Từ những kết quả nghiên cứu luận văn, tác giả rút ra một số kết luận mang tính tổng quát như sau:
Theo triết lý của Khổng Tử “Tiên học lễ, hậu học văn”, từ xa xưa cha ông ta đã thấm nhuần và răn dạy con cháu rằng: Trước tiên mỗi con người cần phải học cốt cách làm người, phẩm cách làm người và cách thức nên người trước đã, sau đó mới đến tri thức của con người tri thức của nhân loại. Kế thừa truyền thống cha ông, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định “Người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, người có tài mà không có đức là người vô dụng” Giáo dục có vị trí quan trọng hàng đầu. Đây là quá trình lâu dài, phức tạp đòi hỏi sự quan tâm của toàn xã hội, mà nhà trường giữ vai trò trọng trách quan trọng nhất, như Heghen đã nói “Nhà trường là nơi để cho trẻ em bước từ đời sống gia đình vào đời sống xã hội không hụt hẫng, bước từ thế giới tình cảm sang thế giới công việc một cách thuận lợi’’. Để truyền tải những tri thức, những phẩm chất tốt đẹp đó người GV là yếu tố then chốt dẫn đến sự thành công của nền giáo dục của các quốc gia. Chính vì vậy bồi dưỡng năng lực chuyên môn, khả năng sư phạm đặc biệt là bồi dưỡng năng lực quản lý cho các CBQL là hết sức cần thiết.
Kết quả nghiên cứu thực trạng công tác quản lý giáo dục đạo đức HS ở trường THPT Văn Hiến, tác giả nhận thấy trường THPT Văn Hiến đã nhận thức đúng đắn tầm quan trọng của công tác giáo dục đạo đức. BGH đã chủ động chỉ đạo các tổ chức đoàn thể trong nhà trường phối hợp với các lực lượng ngoài xã hội cùng đồng lòng giáo dục đạo đức cho HS. Tuy nhiên nội dung giáo dục đạo đức còn phiến diện, hình thức còn nghèo nàn, đơn điệu, các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức còn hạn chế, một số HS còn xếp loại hạnh kiểm TB dẫn đến nhiều ảnh hưởng không tốt tới chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường.
Từ việc nghiên cứu luận văn và thực tiễn, tác giả đề xuất 6 biện pháp sau đây nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục đạo đức:
- Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm của các thành viên, tổ chức trong nhà trường trong giáo dục đạo đức cho học sinh
- Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch giáo dục giáo dục đạo đức cho học sinh phù hợp với đặc điểm trường Trung học Phổ thông Văn Hiến Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh.
- Biện pháp 3: Tổ chức bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ giáo viên chủ nhiệm về phương pháp giáo dục đạo đức cho học sinh.
- Biện pháp 4: Xây dựng môi trường sư phạm thân thiện trong nhà trường
- Biện pháp 5: Bồi dưỡng năng lực tự quản của tập thể và tự rèn luyện của học sinh
- Biện pháp 6: Phối kết hợp giữa nhà trường, và các lực lượng xã hội trong công tác giáo dục đạo đức học sinh.
2. Khuyến nghị
- Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo:
Xây dựng hệ thống văn bản pháp quy xác định nhiệm vụ, quyền hạn và quy định trách nhiệm công tác quản lý giáo dục đạo đức HS trong các trường phổ thông phù hợp.
Đưa ra văn bản pháp quy quy trình kiểm tra đánh giá xếp loại đạo đức cho HS ở các trường phổ thông phù hợp với giai đoạn mới.
Cần biên soạn các tài liệu giáo dục đạo đức cho HS phù hợp với tâm lý lứa tuổi, phù hợp với điều kiện KT – XH từng giai đoạn, trách nhiệm tổ chức giáo dục đạo đức HS hiện nay vốn quá nặng về hình thức, lý thuyết… Cần biên soạn, xuất bản phát hành sách hướng dẫn, tài liệu tham khảo cho CBQL, giáo lực lượng xã hội cùng tham gia viên, CMHS về nội dung và biện pháp giáo dục đạo đức cho HS.
Xây dựng quy chế thống nhất phối hợp giữa nhà trương, gia đình và xã hội, huy động các lực lượng xã hội cùng tham gia giáo dục đạo đức HS.
Có những hình thức và biện pháp cụ thể để nâng cao vai trò vị trí môn Giáo dục công dân, chuẩn hóa đội ngũ GV này. Cần đầu tư kinh phí cho các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp và hoạt động tập thể.
- Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo:
Có kế hoạch thường kỳ chỉ đạo công tác giáo dục đạo đức cho HS trong tình hình mới.
Tăng cường thanh tra, kiểm tra giáo dục đạo đức cho HS đối với các trường Chỉ đạo điểm, một số mô hình phù hợp với giai đoạn hiện nay về công
tác giáo dục đạo đức cho HS để rút kinh nghiệm và phổ biến rộng rãi.
- Đối với trường Trung học Phổ thông Văn Hiến
Tăng cường sự quan tâm chỉ đạo sát sao hơn của, Hội đồng quản trị, BGH, các tổ chức đoàn thể đối với công tác giáo dục đạo đức cho HS.
Thường xuyên đổi mới nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức để giáo dục cho HS, nhằm thu hút người học tham gia học tập rèn luyện một cách tích cực.
Phối hợp tốt với các lực lượng ngoài nhà trường, huy động mọi nguồn lực để phục vụ công tác giáo dục đạo đức cho HS.
Việc kiểm tra đánh giá kết quả của hoạt động giáo dục đạo đức cho HS phải đảm bảo công bằng, công khai, khen thưởng, phê bình, nhắc nhở kịp thời và thường xuyên. Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
