Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo định hướng giáo dục kỹ năng sống ở các trường THCS, Huyện Thanh Ba, Tỉnh Phú Thọ dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát tình hình kinh tế – xã hội và giáo dục của huyện
2.1.1. Tình hình kinh tế – xã hội
Thanh Ba – một huyện miền núi nằm ở phía tây bắc của Tỉnh Phú Thọ, là một huyện có tình hình chính trị xã hội ổn định. Đảng bộ và nhân dân có truyền thống đoàn kết, sáng tạo, vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng từ huyện đến cơ sở được tăng cường, hoạt động quản lý nhà nước của các cấp chính quyền được nâng lên. Huyện Thanh Ba có 27 đơn vị hành chính gồm: 01 thị trấn và 26 xã với tổng diện tích tự nhiên là: 195.0343 km2; dân số là: 112.604 người (tính đến tháng 12 năm 2016).
Trên địa bàn huyện nhiều dự án sản xuất công nghiệp, xây dựng kết cấu hạ tầng đã và đang phát huy tác dụng, nhiều tiềm năng đang được khai thác để phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nền kinh tế của huyện đang ngày một phát triển và đạt mức tăng trưởng ổn định.
Công tác chỉ đạo các hoạt động văn hoá thể thao, thông tin truyền thông luôn bám sát các chủ trương của Đảng, Nhà nước, tuyên truyền cho các nhiệm vụ chính trị của tỉnh, huyện và các nhiệm vụ kinh tế xã hội của địa phương.
Thanh Ba đang cùng các địa phương khác trong tỉnh Phú Thọ đổi mới từng ngày, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng được giữ vững, đời sống của nhân dân được cải thiện và nâng lên. Huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ quyết tâm xây dựng huyện trở thành một huyện có nền kinh tế – xã hội phát triển vững mạnh.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.1.2. Tình hình giáo dục
Công tác giáo dục và đào tạo của huyện Thanh Ba trong những năm vừa qua đã đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ: Chất lượng giáo dục được duy trì và phát triển: Chất lượng đại trà tương đối ổn định, chất lượng mũi nhọn học sinh giỏi được duy trì và tăng lên. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Quy mô mạng lưới trường lớp các cấp học, bậc học tiếp tục được củng cố, duy trì ổn định. Cơ sở vật chất trường, lớp học được nâng cấp theo hướng kiên cố hoá đáp ứng nhu cầu cơ bản của người học. Nhận thức của nhân dân về giáo dục đã có sự chuyển biến đáng kể, nhu cầu cho con em đến trường học tập ngày càng cao, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác giáo dục trên địa bàn.
Bên cạnh những thành tích đã đạt được, ngành giáo dục Thanh Ba cũng còn một số hạn chế như: Chất lượng giáo dục, chất lượng tay nghề của giáo viên chưa đồng đều giữa các cấp học, giữa các trường trên địa bàn huyện; chất lượng của một số bộ môn còn thiếu tính ổn định; một số môn chưa có học sinh đạt giải cao trong kỳ thi học sinh giỏi các cấp. Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác dạy học còn thiếu thốn chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học. Đổi mới phương pháp dạy học còn nhiều lúng túng và chưa hiệu quả. Bên cạnh đó, một số ít phụ huynh học sinh chưa có nhận thức đầy đủ về sự cần thiết của giáo dục, chưa có sự quan tâm đến việc học tập của con em mình. Một số bộ phận cha mẹ học sinh chưa quan tâm đến việc học của con, chủ yếu phó thác trách nhiệm cho thầy cô nên công tác phối hợp của gia đình với nhà trường trong giáo dục con em chưa thường xuyên
Số liệu thống kê năm học 2016 – 2017 của toàn huyện như sau:
2.1.3. Giáo dục THCS
Năm học 2016- 2017 giáo dục THCS huyện Thanh Ba có:
- Tổng số trường: 22
- Tổng số CBQL: 53
- Tổng số GV: 404
- Tổng số nhân viên: 40
- Tổng số lớp: 194
- Tổng số học sinh: 5634
Bảng 2.2. Đội ngũ CBQL, giáo viên cấp THCS năm học 2016-2017
Qua bảng 2.2 ta thấy, đội ngũ CBQL, GV ở các trường THCS trên địa bàn huyện Thanh Ba đảm bảo đủ về số lượng và trình độ đào tạo. 100% CBQL và GV các nhà trường đạt chuẩn và trên chuẩn đào tạo. Tỷ lệ giáo viên trên lớp ở các nhà trường đảm bảo đủ cơ cấu theo quy định. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
- Kết quả giáo dục THCS
Bảng 2.3a. Kết quả xếp loại hạnh kiểm của học sinh năm học 2016-2017
Qua bảng 2.3a và bảng 2.3b cho thấy chất lượng giáo dục toàn diện của huyện Thanh Ba tương đối cao. Về giáo dục đạo đức đạt trên 80% hạnh kiểm tốt, về học lực đạt trên 50% khá giỏi.
Tuy nhiên tỉ lệ học sinh xếp loại hạnh kiểm trung bình trên 2%, học lực yếu gần 6%, đặc biệt vẫn còn học sinh xếp loại hạnh kiểm yếu.
- Kết quả thi học sinh giỏi
Bảng 2.4. Kết quả thi HSG, HS năng khiếu năm học 2016- 2017
Kết quả thi học sinh năng khiếu, học sinh giỏi:
Đối với kỳ thi năng khiếu lớp 6,7,8: Tổng số 739 học sinh dự thi, đạt 471 giải, tỷ lệ 63,7%. Trong đó có 37 giải nhất; 54 giải nhì; 150 giải ba 150; 230 giải KK.
Đối với các kỳ thi khác đối với lớp 9:
Số liệu cho ta thấy tỉ lệ học sinh đạt giải trong các kì thi HSG, HS năng khiếu của toàn huyện chưa cao. Ngoài ra số lượng học sinh dự thi cũng như tỉ lệ đạt giải trong các kì thi HSG, HS năng khiếu, thi HSG trên mạng của các trường THCS chưa được đồng đều, cho thấy sự chưa đồng bộ về chất lượng giáo dục giữa các trường THCS trong toàn huyện.
2.2. Tổ chức khảo sát
2.2.1. Mục đích khảo sát
Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động NGLL theo định hướng GD KNS của 4 trường đại diện cho 4 vùng: miền núi, nông thôn, trung tâm và bán trung tâm của huyện Thanh Ba
2.2.2. Đối tượng khảo sát
- Khảo sát 8 CBQL của 4 trường
- Khảo sát 20 GV của 4 trường
- Khảo sát 200 học sinh của 4 trường
2.3. Thực trạng hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo định hướng giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS huyện Thanh Ba
2.3.1. Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về việc đưa nội dung giáo dục KNS vào hoạt động GDNGLL Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Việc đưa nội dung giáo dục KNS vào hoạt động GDNGLL muốn đạt hiệu quả giáo dục tốt đòi hỏi cán bộ quản lý và giáo viên phải xác định được tầm quan trọng, tính cần thiết của hoạt động này. Qua khảo sát lấy ý kiến của CBQL và giáo viên của 04 trường THCS trên địa bàn huyện tôi sử dụng phụ lục 1,2 câu 3, kết quả khảo sát thu được như sau:
Bảng 2.5. Đánh giá của CBQL và GV về tính cần thiết của việc đưa nội dung giáo dục KNS vào hoạt động GDNGLL
Kết quả khảo sát cho thấy: tỷ lệ CBQL nhận thức về tính cấp thiết của việc đưa nội dung GDKNS vào HĐ GDNGLL là cao (100% ý kiến khảo sát). Tuy nhiên tỷ lệ giáo viên nhận thức rõ sự cần thiết của việc đưa nội dung giáo dục KNS vào hoạt động GDNGLL chưa cao, trong đó chỉ có 60% giáo viên cho là cấp thiết và rất cấp thiết. Bên cạnh đó còn có một số lượng không nhỏ giáo viên vẫn còn cho rằng việc đưa nội dung giáo dục KNS vào hoạt động GDNGLL là không cấp thiết (chiếm tỷ lệ 40%). Điều này chứng tỏ còn không ít giáo viên chưa nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của việc giáo dục KNS thông qua hoạt động GDNGLL đó chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến kết quả giáo dục KNS cho học sinh các trường THCS trên địa bàn huyện Thanh Ba hiện nay còn nhiều hạn chế. Từ đó cho thấy cần phải có các biện pháp phù hợp để khắc phục thực trạng này.
2.3.2. Nhận thức của CBQL và giáo viên về vai trò và tầm quan trọng của hoạt động GDGNLL theo định hướng GDKNS
2.3.2.1. Thực trạng nhận thức của CBQL và giáo viên về vai trò và sự cần thiết của hoạt động GDGNLL theo định hướng GDKNS ở các trường THCS
Nhận thức về vị trí, vai trò và mức độ cần thiết của hoạt động GDNGLL theo định hướng GDKNS có đúng đắn và phù hợp hay không sẽ quyết định và có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và hiệu quả thực hiện hoạt động này trong các nhà trường phổ thông nói chung và các trường THCS nói riêng. Chính vì vậy tôi đã tiến hành khảo sát nhận thức của CBQL và GV một số trường THCS trên địa bàn huyện Thanh Ba bằng câu 1,2,3 phụ lục 1,2 cho kết quả được thể hiện ở bảng sau đây:
Bảng 2.6. Nhận thức của CBQL và GV về vai trò, bản chất và mức độ cần thiết của hoạt động GDNGLL theo định hướng GDKNS Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Kết quả khảo sát ở bảng trên cho thấy đa số CBQL và GV các trường THCS trên địa bàn huyện Thanh Ba đều nhận thức đúng vai trò quan trọng của hoạt động GDNGLL theo định hướng GDKNS (64.32%), đó là cầu nối tạo ra mối liên hệ hai chiều giữa nhà trường và xã hội; tạo môi trường để người học gắn lý thuyết với thực hành và có cơ hội trải nghiệm hành vi ứng xử của mình; giúp người học sống an toàn, khỏe mạnh và thích ứng với môi trường sống luôn biến đổi.
Các CBQL và GV cũng đã nhận thức đúng về bản chất của hoạt động GDNGLL theo định hướng GDKNS. Đã có 16/28 người (tỷ lệ 57.3%) xác định đó là hoạt động của người học, được tổ chức dưới sự hướng dẫn của nhà sư phạm; giúp người học chuyển hóa một cách tích cực những tri thức đã có thành hành động phù hợp với yêu cầu của xã hội; biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục. Sự nhận thức đúng đắn này sẽ là một trong những yếu tố quan trọng giúp hoạt động GDNGLL theo định hướng GDKNS ở các trường THCS trên địa bàn huyện Thanh Ba có những thuận lợi tích cực.
Đánh giá về mức độ cần thiết của hoạt động GDNGLL theo định hướng GDKNS thì hầu hết CBQL và GV đều đánh giá ở mức độ rất cần thiết và cần thiết. Có 23/28 người xác định đó là hoạt động cần thiết và rất cần thiết, chiếm tỷ lệ 82.1%. Đây là tỉ lệ khá cao, kết quả này đã khẳng định sự nhận thức đúng đắn của CBQL và GV các trường THCS huyện Thanh Ba về vị trí, vai trò và mức độ cần thiết của hoạt động GDNGLL theo định hướng GDKNS trong các trường THCS hiện nay.
2.3.3. Thực trạng chương trình giáo dục ngoài giờ lên lớp theo định hướng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS
Chương trình hoạt động GDNGLL cấp THCS ban hành theo Quyết định số 03/2002/QĐ-BGD&ĐT ngày 24/1/2002 của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ và hướng dẫn thực hiện. Tuy nhiên chương trình GDNGLL theo định hướng GDKNS cho học sinh THCS khi đưa vào các nhà trường còn khá nhiều bất cập về nội dung chương trình. Để đánh giá về chương trình GDNGLL theo định hướng GDKNS, chúng tôi đã tiến hành khảo sát đối với 8 CBQL và 20 GV trong 4 trường THCS huyện Thanh Ba để nắm rõ thực trạng chương trình này hiện nay tôi sử dụng phụ lục 1câu 5, kết quả được thể hiện ở bảng dưới đây: Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Bảng 2.7. Chương trình GDGNLL theo định hướng GDKNS trong các trường
Kết quả khảo sát cho thấy: một số CBQL và GV đã xác định chương trình GDKNS đã được đưa vào trong các nhà trường THCS thông qua hoạt động GDNGLL, tuy nhiên số lượng CBQL và GV nắm bắt đầy đủ nội dung chương trình còn rất ít (10.7%); số lượng CBQL và GV nắm bắt một cách mơ hồ về nội dung chương trình còn khá cao (60.7%); bên cạnh đó vẫn còn có giáo viên chưa cập nhật thông tin về chương trình GDKNS.
Nội dung chương trình GDKNS trong các trường phổ thông hiện nay theo chương trình khung của Bộ GD-ĐT là chưa có. Bắt đầu từ đầu năm học 2013-2014 Bộ GD-ĐT đã ban hành tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho GV phổ thông, trong đó các nội dung GDKNS được thể hiện rõ trong Module THCS 35 “Giáo dục KNS cho học sinh THCS”. Tuy nhiên văn bản hướng dẫn thực hiện chương trình bồi dưỡng thường xuyên trong năm học 2013-2014 của Sở GD&ĐT tỉnh Phú Thọ yêu cầu 20% số lượng CBQL và GV (chia làm 5 nhóm) trong các nhà trường lựa chọn các Module tham gia bồi dưỡng và tài liệu bồi dưỡng thường xuyên cho GV sẽ được thực hiện đầy đủ trong 5 năm học. Chính vì vậy Module THCS 35 về giáo dục KNS cho HSTHCS mới có rất ít CBQL và giáo viên được tập huấn. Qua đó cho thấy việc đưa các nội dung GDKNS vào hoạt động GDNGLL sẽ gặp không ít khó khăn khi triển khai thực hiện trong điều kiện như hiện nay.
2.3.4. Giáo dục kỹ năng sống của học sinh các trường THCS
Để đánh giá một cách đúng đắn thực trạng KNS của học sinh các trường THCS trên địa bàn huyện Thanh Ba, trước hết cần khảo sát về mức độ thuần thục KNS của học sinh trong các nhà trường. Từ nhận thức đó tác giả tiến hành điều tra bằng phương pháp hỏi tôi sử dụng phụ lục 1 câu 7, phụ lục 2 câu 4 kết hợp với phỏng vấn các CBQL, GV và học sinh các nhà trường, kết quả được thể hiện qua bảng sau:
Bảng 2.7a: Bảng đánh giá của CBQL, GV về mức độ KNS của học sinh
Theo đánh giá của các CBQL và GV các trường cho thấy: mức độ thuần thục KNS của học sinh THCS trên địa bàn huyện Thanh Ba hiện nay còn rất nhiều hạn chế (53.6%). Phần lớn CBQL và GV đều cho rằng học sinh còn thiếu và yếu những KNS cơ bản để phục vụ cho học tập và cuộc sống (25.0% ý kiến cho rằng KNS của học sinh là không tốt).
Qua tìm hiểu, phỏng vấn CBQL một số trường chúng tôi thu được một số ý kiến như sau:
“Xin Thầy/Cô cho ý kiến đánh giá về KNS của các em học sinh nhà trường mình hiện nay?”
“Tôi thấy KNS của học sinh THCS hiện nay còn rất nhiều hạn chế. Các em chưa được giảng dạy một cách bài bản các KNS cơ bản, do vậy đại đa số các em đều rất lúng túng khi phải giải quyết những vấn đề trong học tập và cuộc sống”
Ông T.M.H – Phó HT trường THCS Thanh Hà Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
“Theo tôi, KNS của học sinh hiện nay còn rất thiếu và yếu. Lý do chính của thực trạng này là chương trình giảng dạy của bậc phổ thông nói chung, bậc THCS nói riêng còn nặng nhiều về lý thuyết, ít thực hành, thực tế cho học sinh được trải nghiệm. Và đặc biệt các nhà trường chưa thực sự quan tâm đến công tác giáo dục KNS cho học sinh…”
Thầy N.V.Đ – HT trường THCS Chí Tiên
Những thông tin trên phần nào đã cung cấp cho chúng ta cách nhìn tổng quát về thực trạng KNS của học sinh các trường THCS trên địa bàn huyện Thanh Ba hiện nay. Để đánh giá chi tiết hơn về thực trạng một số KNS cơ bản của học sinh, chúng tôi tiến hành khảo sát đánh giá KNS của học sinh ở 4 trường THCS qua đánh giá của 28 CBQL và GV với câu hỏi phụ lục 1 câu 4 và phụ lục 2 câu 9 “Theo Thầy/Cô đánh giá thì mức độ các KNS cơ bản của HS nhà trường hiện nay như thế nào?‟ và thu được kết quả như sau:
Bảng 2.7b. Đánh giá về một số KNS cụ thể của học sinh THCS
Từ kết quả khảo sát trên, có thể khẳng định: KNS của học sinh các trường THCS huyện Thanh Ba còn rất khiêm tốn. Trong các kĩ năng cơ bản được khảo sát cho thấy các kĩ năng như “kĩ năng giao tiếp”, “kĩ năng tự nhận thức”, “kĩ năng hợp tác”, “kĩ năng thể hiện sự cảm thông” là những kĩ năng được đánh giá các em đã thực hiện tốt hơn với mức độ đánh giá tốt và rất tốt đạt trung bình trên 0.17. Các kĩ năng như “Kĩ năng ứng phó với căng thẳng”, “Kĩ năng Tìm kiếm sự hỗ trợ”, “Kĩ năng kiềm chế cảm xúc” là những kĩ năng mà các ý kiến đánh giá cho rằng các em còn thực hiện ở mức độ chưa tốt. Qua đó có thể thấy rằng, khả năng ứng phó với căng thẳng, tìm kiếm sự hỗ trợ cũng như tính kiên định của học sinh hiện nay còn rất yếu. Hầu hết các em chưa có kĩ năng tốt để ứng phó với những tình huống, những khó khăn trong cuộc sống hàng ngày. Mặt khác, đội ngũ CBQL và GV vẫn chưa thực sự quan tâm đầu tư thỏa đáng về mặt thời gian, tư liệu và nguồn lực cho việc học tập và rèn luyện KNS cho học sinh.
2.3.5. Đánh giá của học sinh về thực trạng hoạt động GDNGLL theo định hướng giáo dục KNS ở các trường THCS
Học sinh vừa là đối tượng vừa là chủ thể của hoạt động GDNGLL, vì vậy để đánh giá hiệu quả tổ chức hoạt động GDNGLL theo định hướng giáo dục KNS cần đánh giá trước hết về sự hứng thú và mức độ tham gia của học sinh với các hoạt động. Để điều tra về đánh giá của HS về hứng thú và mức độ tham gia của HS đối với các hoạt động GDNGLL theo định hướng giáo dục KNS tôi sử dụng câu 1,2 phụ lục 3 và thu được kết quả sau: Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Bảng 2.8. Hứng thú và mức độ tham gia của HS đối với các hoạt động GDNGLL theo định hướng giáo dục KNS
Qua kết quả khảo sát có thể nhận thấy: đại đa số học sinh rất hứng thú với việc tổ chức các hoạt động GDNGLL (84% học sinh thích hoặc rất thích tham gia hoạt động GDNGLL được thể hiện ở chỗ: có 40/200 học sinh (tỷ lệ 20%) có thể tự đề xuất nội dung và tự xây dựng kế hoạch cho hoạt động. Tỷ lệ học sinh thụ động tham gia vào hoạt động (chỉ tham gia khi thầy cô hoặc theo sự phân công) là rất ít (11.5%). Đặc biệt, hoạt động GDNGLL theo định hướng giáo dục KNS ở trường THCS đã thu hút được 100% học sinh tham gia ở các mức độ khác nhau.
2.4. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo định hướng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh THCS
2.4.1. Thực trạng quản lí việc xây dựng kế hoạch và việc giám sát thực hiện kế hoạch
Trước tiên, để xem xét điều kiện cần để đảm bảo chất lượng quản lý HĐ GDNGLL, chúng tôi tìm hiểu về việc các nhà trường có thành lập Ban chỉ đạo HĐ GDNGLL hay không. Ban chỉ đạo sẽ giúp Hiệu trưởng trong việc quản lý chỉ đạo HĐ GDNGLL và mang lại hiệu quả hoạt động tốt hơn. Tôi sử dụng bảng hỏi ở phụ lục 1 câu 13, câu 8 phụ lục 2 “Thầy cô cho biết trường thầy cô có thành lập ban chỉ đạo HĐ GDNGLL hay không ?”và thu được kết quả như sau:
- CBQL (N=8): có: 5/8: 62.5%; không: 3/8: 37.5%
- GV (N=20): có:16/20: 80%; không 4/20: 20%
Biểu đồ 2.1. So sánh ý kiến của CBQL và GV về việc có thành lập Ban chỉ đạo HĐ GDNGLL hay không
Kết quả biểu đồ trên cho thấy có 37.5% CBQL và 20% GV cho biết trường mình chưa thành lập Ban chỉ đạo HĐ GDNGLL. Điều này thể hiện mặc dù đã cố gắng rất nhiều trong chỉ đạo HĐ GDNGLL nhưng các nhà trường đều chưa thực sự quan tâm đúng mức đến việc thành lập Ban chỉ đạo để nâng cao chất lượng của HĐ GDNGLL. Ngoài ra, qua câu hỏi “Ban chỉ đạo HĐ GDNGLL gồm những ai” thì có khoảng 90% bỏ trống vì thực tế GV không biết Ban này gồm những thành phần nào. Một số CBQL cho rằng Ban này chỉ gồm một người trong Ban giám hiệu và tổng phụ trách. Qua trao đổi với một số CBQL, chúng tôi thấy rằng các trường chưa thành lập Ban chỉ đạo HĐ GDNGLL vì phòng GD&ĐT chưa chỉ đạo nhắc nhở các trường thành lập Ban chỉ đạo này. Trong các hướng dẫn nhiệm vụ năm học, phòng GD&ĐT chỉ lưu ý các trường cần phân công một người: Hiệu trưởng hoặc Phó hiệu trưởng phụ trách chỉ đạo HĐ GDNGLL. Mặt khác, do một số Hiệu trưởng cũng chưa nhận thức được nhiệm vụ và tầm quan trọng của Ban chỉ đạo nên không quan tâm đến việc này. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Về phía GV, chúng tôi thấy chỉ có 20% cho rằng trường chưa thành lập Ban chỉ đạo HĐ GDNGLL. Con số này chưa thống nhất với CBQL. Chúng tôi tiếp tục trao đổi thêm với một số GV thì biết được rằng do họ chưa hiểu đúng về Ban chỉ đạo HĐ GDNGLL. Họ nghĩ rằng BGH cũng là Ban chỉ đạo HĐ GDNGLL. Còn một số GV thì cho rằng một người trong BGH và Tổng phụ trách Đội trường đã là Ban chỉ đạo HĐ GDNGLL; điều này cũng thể hiện công tác tuyên truyền, triển khai về HĐ GDNGLL ở các trường còn nhiều hạn chế. Trên thực tế, đa số các trường chưa thành lập Ban chỉ đạo HĐ GDNGLL một cách bài bản, mang tính pháp lý. Hầu hết các trường chưa có quyết định thành lập Ban chỉ đạo HĐ GDNGLL, chưa phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên trong Ban để họ thấy được trách nhiệm của mình.
Tuy nhiên, việc các trường có Ban chỉ đạo chỉ là điều kiện cần để tạo nên chất lượng quản lý HĐ GDNGLL. Vì vậy, các nhà trường cần thành lập Ban chỉ đạo HĐ GDNGLL và Hiệu trưởng phải quan tâm chỉ đạo hoạt động của Ban, làm cho Ban chỉ đạo thực hiện được nhiệm vụ của mình nhằm nâng cao chất lượng quản lý HĐ GDNGLL trong các nhà trường.
Trong những năm gần đây, Phòng GD&ĐT Thanh Ba cũng rất cố gắng chấn chỉnh và phát triển công tác quản lý của các Hiệu trưởng. Sở GD&ĐT tổ chức tập huấn và triển khai nhiệm vụ năm học cho tất cả các Hiệu trưởng trong toàn tỉnh. Trong các nhiệm vụ được tập huấn, các nhà quản lý được nhấn mạnh quan tâm đến xây dựng kế hoạch chiến lược. Phòng GD&ĐT cũng thường nhấn mạnh trong các cuộc họp yêu cầu các trường phải xây dựng kế hoạch năm học một cách bài bản trong đó có kế hoạch HĐ GDNGLL.
Để tìm hiểu về mức độ thực hiện kế hoạch và sự chỉ đạo của Ban HĐ GDNGLL, chúng tôi sử dụng câu 15 phụ lục 1, câu 20 phụ lục 2
Trích từ bảng 2.12. Ý kiến của CBQL và GV về việc xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch của CBQL
Nhìn vào kết quả bảng trên và theo đánh giá chung, đa số CBQL đều có sự thống nhất trong xây dựng kế hoạch và tổ chức quản lý thực hiện chương trình HĐ GDNGLL. 75% CBQL nhận thấy việc xây dựng kế hoạch của trường mình là tốt và rất tốt. Qua nói chuyện, các CBQL đều cho rằng họ xây dựng kế hoạch theo kế hoạch năm học và có sự thống nhất trong tổ chức chỉ đạo thực hiện kế hoạch.
Trao đổi thêm, chúng tôi thấy đa số các CBQL đều rất cố gắng trong việc hoàn thiện bản kế hoạch nhưng còn nhiều lúng túng và chưa bài bản. Cụ thể các bản kế hoạch chưa đầy đủ các phần theo yêu cầu, bố cục còn lộn xộn chưa khoa học Qua kiểm tra công tác quản lý của Hiệu trưởng của các trường vào năm 2016- 2017, tôi thấy các trường cũng cố gắng để có đủ các loại kế hoạch trong đó có kế hoạch HĐ GDNGLL. Nhưng về mặt chất lượng thì chúng tôi thấy vẫn chưa đạt yêu cầu, điều này cũng phù hợp khi qua bảng kết quả cũng còn 25% CBQL nhận thấy mình có xây dựng kế hoạch nhưng chưa được tốt và chỉ ở mức bình thường. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Tuy nhiên, có thể thấy sự chỉ đạo của Ban HĐ GDNGLL còn nhiều hạn chế. Đa số GV các trường đánh giá sự chỉ đạo của Ban HĐ GDNGLL ở mức bình thường và chưa tốt, với 55% ý kiến của GV. Chính bản thân các CBQL cũng nhận thấy sự chỉ đạo của Ban HĐ GDNGLL còn hạn chế, với 37.5% CBQL đánh giá là bình thường và chưa tốt. Qua trò chuyện thêm với một số GV và HS cho thấy rằng sự chỉ đạo của Ban HĐ GDNGLL còn rất mờ nhạt. Các trường thường chỉ tập trung vào công tác chuyên môn nên trong các cuộc họp thường không còn thời gian cho Ban HĐ GDNGLL triển khai hay tổng kết đánh giá HĐ GDNGLL.
Biểu đồ 2.2. So sánh ý kiến của CBQL và GV về việc xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch của CBQL
Qua biểu đồ trên tôi thấy rằng GV đánh giá hai nội dung thực hiện kế hoạch của BGH và sự chỉ đạo của Ban chỉ đạo HĐ GDNGLL ở mức độ rất tốt và tốt đều thấp hơn sự đánh giá của CBQL.
Tìm hiểu về việc xây dựng và thực hiện kế hoạch chủ nhiệm của GVCN, tôi sử dụng câu 8 phụ lục 1, câu 6 phụ lục 2 và thu được kết quả sau:
Bảng 2.9. Ý kiến của CBQL và GV về mức độ thực hiện việc xây dựng kế hoạch chủ nhiệm của GVCN
Biểu đồ 2.3. Về ý kiến của CBQL và GV về mức độ thực hiện việc xây dựng kế hoạch HĐNGLL theo định hướng GD KNS chủ nhiệm của GVCN
Qua biểu đồ trên, tôi thấy ý kiến của CBQL và GV là tương đối tương đồng. Có 37.5% CBQL 35% GV cho rằng công tác xây dựng và thực hiện HĐNGLL theo định hướng GD KNS của GVCN ở các trường là bình thường và chưa tốt. Nếu kiểm tra về mặt số lượng thì chúng tôi thấy đa số GVCN đều có xây dựng kế hoạch nhưng khi đọc các bản kế hoạch thì chúng tôi thấy cũng còn một số GVCN sao chép kế hoạch của nhau hoặc sao chép lại kế hoạch của năm học trước và chỉ thay đổi số liệu; điều này thể hiện một số GV còn chưa nhiệt tình, tận tâm trong công tác chủ nhiệm của mình.
Ngoài ra, đi sâu tìm hiểu thêm qua trò chuyện với GV và HS, chúng tôi thấy rằng ở hai trường THCS Sơn Cương và THCS Yển Khê khi chất lượng giáo dục chưa cao thì nhà trường cũng không mặn mà với với việc triển khai lập kế hoạch HĐ GDNGLL theo định hướng GD KNS. Các trường chỉ tập trung vào thực hiện các chỉ tiêu chất lượng các môn học mà ít quan tâm tổ chức các HĐ GDNGLL theo định hướng GD KNS. Các em học sinh thậm chí không biết là trường mình tổ chức HĐ GDNGLL theo định hướng GD KNS khi nào, có tổ chức hay không. Điều đó cho ta thấy một thực tế là nhà trường càng ít tổ chức các HĐ GDNGLL theo định hướng GD KNS thì học sinh càng ít có cơ hội để hình thành các kỹ năng trong cuộc sống cũng như trong hoạt động.
2.4.2. Thực trạng quản lí việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên thực hiện hoạt động GDNGLL theo định hướng giáo dục KNS
Giáo dục hiện nay đang hướng tới sự đổi mới về phương pháp. Phương pháp giáo dục hiệu quả là phải phát huy được tính tích cực, chủ động, tự giác và sáng tạo của học sinh, bồi dưỡng cho học sinh ý thức, phương pháp tự học và vận dụng kiến thức vào thực tiễn, giúp học sinh có niềm tin, hứng thú trong học tập. Qua đó chúng ta thấy rằng, trong sự đổi mới này, giáo viên không chỉ đơn giản là người truyền đạt tri thức mà còn hướng dẫn hành động. Người thầy là đại diện cho tập thể giáo dục nhà trường- quản lý giáo dục toàn diện một tập thể học sinh trong một hoạt động cụ thể ngoài giờ lên lớp, tổ chức tập thể học sinh hoạt động tự quản nhằm phát huy tiềm năng tích cực của mọi học sinh Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Là cầu nối giữa tập thể học sinh với các tổ chức xã hội trong và ngoài trường, là người tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục.
Người Hiệu trưởng nhận thức tầm quan trọng của việc đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên tham gia tổ chức hoạt động NGLL. Hiệu trưởng tạo điều kiện cho giáo viên được tập huấn về công tác tổ chức hoạt động NGLL với nhiều hình thức khác nhau như gửi GV đi tập huấn, yêu cầu GV dự giờ HĐNGLL ở một số trường điển hình.
Để điều tra về thực trạng đào tạo bồi dưỡng giáo viên dạy môn HĐNGLL tại các trường THCS huyện Thanh Ba tôi đã dùng câu 21 phụ lục 2 để hỏi giáo viên. Các hình thức mà đồng chí đã được bồi dưỡng năm để dạy môn HĐNGLL
Bảng 2.10. Các hình thức bồi dưỡng
Hầu hết các GV dạy môn hoạt động GDNGLL theo định hướng giáo dục KNS đều là các giáo viên bộ môn làm chủ nhiệm được đào tạo chuyên về một môn học nào đó như Toán, Văn, Anh, Sử, Sinh…. trong các trường đại học, cao đẳng.
Họ chưa từng được đào tạo về giảng dạy môn HĐ GDNGLL theo định hướng giáo dục KNS, đa số GV 80% giảng dạy môn học này thông qua việc tự học hỏi ở đồng nghiệp, sách báo, mạng internet. 20% số giáo viên ít ỏi được tập huấn vào đợt phòng giáo dục tổ chức. Tôi phỏng vấn thêm Hiệu trưởng một số trường về việc Hiệu trưởng nhà trường có tổ chức cho giáo viên dạy HĐ GDNGLL tập huấn không thì được các Hiệu trưởng trả lời không có kinh phí để tổ chức các lớp, mời giảng viên về giảng dạy. Như vậy các giáo viên dạy môn HĐGDHĐNGL theo định hướng giáo dục KNS ở các trường THCS huyện Thanh Ba chưa được đào tạo bồi dưỡng một cách bài bản để có thể phát huy năng lực của mình trong việc dạy môn HĐNGLL theo định hướng giáo dục KNS cho học sinh. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
2.4.3. Thực trạng quản lý kinh phí, cơ sở vật chất phục vụ hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo định hướng giáo dục kĩ năng sống
Để tìm hiểu về thực trạng quản lý việc sử dụng kinh phí và CSVC, tôi sử dụng câu câu 15 phụ lục 1, câu 17 phụ lục 2 – “Thầy cô cho biết ý kiến về hiệu quả thực hiện các công tác quản lý HĐ GDNGLL ở trường của thầy cô?” Thu được kết quả sau:
Bảng 2.11. Ý kiến về hiệu quả thực hiện các công tác quản lý HĐ GDNGLL ở trường THCS
Từ kết quả điều tra ở biểu 2.12 cho thấy: sự quan tâm đến việc quản lý CSVC phục vụ cho HĐ GDNGLL của BGH đã có sự chú trọng hơn. Trong giai đoạn hiện nay, các trường đang phấn đấu xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia nên đều tăng cường trang thiết bị đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu của chương trình học, đặc biệt là đáp ứng tiêu chuẩn về CSVC. Tuy nhiên, hầu hết các trường đều gặp khó khăn về mặt kinh phí nên việc đầu tư CSVC, thiết bị phục vụ cho HĐ GDNGLL còn hạn chế. Đa số các trường đều không có sân chơi, bãi tập, đặc biệt là dụng cụ thể thao còn thiếu rất nhiều.
Ngoài ra, trao đổi thêm với một số CBQL về nguồn quỹ dành cho HĐ GDNGLL thì được biết thêm nguồn quỹ dành cho HĐ GDNGLL là từ nguồn quỹ của PHHS nên cũng chưa được ổn định và thực chất cũng chưa được nhiều. Nguyên nhân là do kinh phí dành cho hoạt động nói chung của trường rất ít, một phần do nhận thức của CBQL là ngại tốn kém, ngại tổ chức và sợ ảnh hưởng đến các môn văn hoá.
Khảo sát thêm ý kiến của HS về nguồn quỹ dành cho HĐ GDNGLL ở tại lớp qua câu 4 phụ lục 3. Chúng tôi thu được kết quả ở bảng sau. Qua kết quả chúng tôi thấy nguồn quỹ dành cho HĐ GDNGLL đều từ nguồn quỹ lớp do HS đóng góp.
Bảng 2.12. Ý kiến của HS về nguồn quỹ dành cho HĐ GDNGLL
2.4.4. Thực trạng quản lý các hình thức và phương pháp giáo dục ngoài giờ lên lớp theo định hướng giáo dục kĩ năng sống
Mục tiêu của hoạt động giáo dục NGLL là hướng vào việc phát triển tính năng động, sáng tạo, tích cực trong mọi hoạt động của HS nhằm tạo khả năng nhanh nhạy và giải quyết khi gặp vấn đề khó khăn bế tắc của các em. Để đạt được mục tiêu này, các hình thức và phương pháp tiến hành hoạt động GDNGLL theo định hướng giáo dục KNS phải thường xuyên đổi mới theo hướng coi trọng người học, coi người học là chủ thể của hoạt động, khuyến khích các HĐ học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của người học trong quá trình dạy học là rất cần thiết.
Hoạt động ngoài giờ lên lớp có thể được tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau. Để tìm hiểu về thực trạng các hình thức HĐNGLL đã triển khai tôi đã khảo sát học sinh các trường về các hình thức HĐNGLL đã triển khai trong các tiết dạy HĐNGLL bằng câu hỏi 4 phụ lục 3 “Các hình thức hoạt động NGLL sau đây trong nhà trường diễn ra như thế nào?” và kết quả thu được như sau: Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Bảng 2.13. Các hình thức hoạt động NGLL trong nhà trường diễn ra như thế nào
HĐNGLL theo chủ điểm ngồi trong lớp nghe giảng: xếp thứ 1 học sinh cho biết hình thức này diễn ra thường xuyên, hoạt động với hình thức này thì hầu như học sinh không được hoạt động, thụ động trong việc tiếp thu kiến thức, không hiệu quả để hình thành các kỹ năng, hiệu quả giáo dục thu được để hình thành các kỹ năng sống thông qua HĐNGLL là không cao hầu như không có.
HĐNGLL bằng hình thức nói chuyện chuyên đề, xem và biểu diễn văn nghệ xếp thứ 2. Học sinh cho biết thường xuyên được nghe nói chuyện chuyên đề và xem văn nghệ. Đây hầu hết ở các trường trung tâm huyện và bán trung tâm huyện, Tổ chức các cuộc thi xếp thứ 4 và tham quan đi thực tế xếp thứ 5 số lượng này là rất ít chiếm khoảng 1/5 tổng số học sinh được khảo sát. Theo các em học sinh trả lời thì khi đi thực tham quan thực tế, tổ chức các cuộc thi, trò chơi, câu lạc bộ học sinh vừa được nghe, được nhìn, được hoạt động nên kiến thức sẽ được các em khắc sâu và ghi nhận và giúp các em tự tin trước đám đông, hình thành kỹ năng giao tiếp, kỹ năng nhận thức về bản thân, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiềm chế cảm xúc…. .
Để nắm được thực trạng sử dụng phương pháp HĐNGLL cho học sinh ở các trường THCS huyện Thanh Ba tôi đã tiến hành trao đổi với 8 CBQL và 20 giáo viên của 4 trường bằng việc hỏi câu 11 phụ lục 1, câu 13 phụ lục 2 và thu được kết quả như sau:
Bảng 2.14. Thực trạng các phương pháp HĐNGLL đã triển khai
Qua bảng trên chúng ta thấy 90% giáo viên sử dụng phương pháp thuyết trình, giảng giải trong HĐNGLL cho học sinh và phương pháp này đứng thứ nhất, khi hỏi tại sao thì hầu hết đều cho rằng phương pháp này dễ thực hiện, có thể thực hiện trong lớp hoặc cho tình huống về nhà nghiên cứu qua đó học sinh có thể tham khảo ý kiến của những người xung quanh như cha mẹ, ông bà…
Có từ 20 đến 35% giáo viên nhà trường chưa thường xuyên sử dụng các phương pháp HĐNGLL cho học sinh như: Sử dụng phương pháp thông qua các trò chơi, phương pháp đóng vai, trao đổi tôi được biết phương pháp đóng vai, trò chơi thì chủ yếu được thực hiện ở môn ngữ văn, Tiếng Anh chứ không được sử dụng trong môn HĐNGLL
Với phương pháp nghiên cứu tình huống đã được giáo viên thực hiện thường xuyên nhưng cũng ở mức không cao là 45% thường xuyên và 45% thỉnh thoảng có sử dụng và đứng thứ 3 trong bảng xếp hạng còn 10% số giáo viên chưa bao giờ sử dụng những phương pháp này.
Phương pháp thảo luận nhóm được xếp thứ 2 và cũng được đa số giáo viên sử dụng (60%) thường xuyên, với phương pháp này theo giáo viên là dễ thực hiện và dễ quản lý vì thế họ thường xuyên sử dụng phương pháp này trong HĐNGLL, tuy nhiên vẫn còn 10% chưa sử dụng phương pháp này. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Qua khảo sát cho thấy việc sử dụng các phương pháp HĐNGLL cho học sinh của giáo viên nhà trường vẫn chưa được thực hiện tốt. Trao đổi với giáo viên nhà trường về vấn đề này chúng tôi được biết thêm nguyên nhân mà giáo viên chưa thường xuyên thực hiện các phương pháp HĐNGLL cho học sinh là do giáo viên có quá ít thời gian vì phải dạy các buổi chính khóa trên lớp, ngoài ra con bồi giỏi, phụ kém để đáp ứng cho các kỳ thi, các bài kiểm tra trong năm học và một nguyên nhân nữa là do giáo viên chưa có nhiều kinh nghiệm với việc tổ chức thực hiện HĐNGLL.
Vậy Hiệu trưởng các trường THCS đã quản lý các hình thức, phương pháp tổ chức hoạt động NGLL chưa hiệu quả. Còn mang nặng tính truyền thống, chưa chú trọng nhiều về hình thức và phương pháp trong môn HĐNGLL và chưa giúp học sinh tiếp thu kiến thức một cách tự chủ, còn thụ động, chưa tạo cơ hội cho học sinh hoạt động và tạo điều kiện cho học sinh hình thành các kỹ năng sống cơ bản thông qua môn học này.
2.4.5. Thực trạng quản lý sự tham gia của các lực lượng giáo dục ngoài giờ lên lớp theo định hướng giáo dục kĩ năng sống
Thực trạng quản lý việc phối hợp các lực lượng giáo dục qua trao đổi, trò chuyện chúng tôi thấy rằng hầu hết các Hiệu trưởng chưa quan tâm đến việc phối hợp của GVCN với Tổng phụ trách đội, cán bộ Đoàn, cán bộ Đoàn với Đoàn các xã, với phụ huynh học sinh. Hầu hết các tổng phụ trách đội, cán bộ Đoàn đều gặp khó khăn trong việc phối hợp với GVCN hoặc GV bộ môn. Cô Hoàng Thị Kiên,Tổng phụ trách đội trường THCS Sơn Cương trao đổi: “Hầu hết GV rất bận với công tác chuyên môn như soạn giáo án, chấm bài, bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh năng khiếu, ra đề kiểm tra nên rất khó phân công họ thực hiện việc tổ chức HĐ GDNGLL”, “Đội ngũ GV trẻ, năng động số lượng ít và do kinh nghiệm chuyên môn còn yếu nên họ chỉ muốn tập trung nhiều vào chuyên môn, một số khác thì không nhiệt tình và gần như không muốn tham gia vào các công việc ngoài chuyên môn”. Từ đó mà hoạt động của Đoàn gặp rất nhiều khó khăn do chưa có sự quan tâm đúng mức của Hiệu trưởng trong công tác quản lý sự phối hợp giữa các lực lượng trong nhà trường. Công tác phối hợp các lực lượng xã hội, đặc biệt là cha mẹ học sinh để tổ chức HĐ GDNGLL được đánh giá là còn nhiều hạn chế. Việc phối hợp với PHHS hầu như chỉ là thông báo về kế hoạch chuyên môn của nhà trường, thu học phí, quỹ khuyến học chứ chưa quan tâm khai thác ở PHHS sự giúp đỡ để tổ chức cho HĐ GDNGLL đạt hiệu quả. Ngoài ra, chúng tôi thấy rằng BGH nhà trường nên mở rộng phạm vi hoạt động và giao lưu với các lực lượng bên ngoài nhà trường nhiều hơn để đáp ứng với yêu cầu và làm phong phú thêm cho hoạt động. Những điều nhận xét trên thông qua trò chuyện với GV sử dụng phụ lục hỏi câu 12 phụ lục 1, câu 17 phụ lục 2 và kết quả thu được ở bảng sau:
Bảng 2.15. Phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường
Qua kết quả ở bảng trên cho thấy ý kiến của CBQL và GV là tương đồng khi đánh giá việc thực hiện 2 biện pháp trên của CBQL là bình thường và chưa tốt. Trao đổi thêm với một số GVCN, chúng tôi thấy sự phối hợp giữa cán bộ Đoàn với GV bộ môn, GVCN với GV bộ môn còn rất thấp. Có một số GV bộ môn thậm chí còn không biết trường mình có thực hiện HĐ GDNGLL hay không. Điều này cho thấy Hiệu trưởng chưa chú ý đúng mức đến việc phối hợp 2 lực lượng: GV bộ môn và GVCN. Trong thực tế, GV bộ môn có vai trò quan trọng trong việc cố vấn nội dung để thực hiện tốt và có hiệu quả một số chủ đề trong năm học.
2.4.6. Thực trạng quản lí việc tổ chức triển khai hoạt động GDNGLL theo định hướng giáo dục KNS Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Để tìm hiểu thực trạng công tác tổ chức thực hiện kế hoạch HĐ GDNGLL theo định hướng giáo dục KNS cho học sinh của Hiệu trưởng các trường THCS đã triển khai, chúng tôi tiến hành khảo sát, trao đổi với CBQL, GV tôi sử dụng phụ lục 1 câu 17, phụ lục 2 câu 22 kết quả thu được như sau:
Bảng 2.16. Thực trạng việc tổ chức triển khai kế hoạch HĐNGLL theo định hướng giáo dục KNS cho học sinh
Kết quả khảo sát cho thấy: Tất cả các nội dung của kế hoạch được tiến hành thường xuyên ở mức độ trung bình, không cao từ 50 đến 66.7%. Tiến hành thường xuyên nhất là nội dung về phân công cụ thể công việc cho từng tổ chức, cá nhân giáo viên (66.7%). Còn lại các nội dung khác đều làm chưa tốt ở mức cao, cao nhất là nội dung về “có cơ chế phối hợp cụ thể giữa GV và các lực lượng khác”, “khen thưởng, xử lý kịp thời, công bằng, chính xác” với (50%). Không có nội dung nào được cho là không làm. Biện pháp bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên về HĐNGLL chưa được cán bộ quản lý quan tâm thường xuyên với 75% ý kiến đánh giá.
Như vậy, tất cả các nội dung công việc trong kế hoạch HĐNGLL của hiệu trưởng đều được tổ chức thực hiện nhưng thực hiện chỉ ở mức trung bình chưa thực hiện thường xuyên đặc biệt là công tác bồi dưỡng giáo viên về HĐNGLL. Vì vậy trong thời gian tới Hiệu trưởng nhà trường cần có những biện pháp hữu hiệu, kế hoạch quản lý tổ chức thực hiện HĐNGLL chi tiết cụ thể hơn nữa nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện nói chung và HĐNGLL nói riêng trong nhà trường.
2.4.7. Thực trạng quản lí việc tổ chức chỉ đạo thực hiện hoạt động GDNGLL theo định hướng giáo dục KNS
Để tìm hiểu thực trạng việc sử dụng các biện pháp tổ chức thực hiện HĐ GDNGLL của CBQL các trường THCS, chúng tôi sử dụng câu hỏi số 23 phụ lục 2 để hỏi 20 GV, kết quả thu được như sau:
Bảng 2.17a. Biện pháp tổ chức thực hiện HĐ GDNGLL theo định hướng GDKNS của CBQL
Nhìn vào bảng trên cho thấy: có trên 70,8% CBQL chọn biện pháp 1 và 4, 62.5% chọn biện pháp 2, 50% chọn biện pháp 3. Qua đó chúng ta thấy các nhà trường đều triển khai bài bản và tương đối giống nhau trong tổ chức thực hiện. Tuy nhiên, việc tổ chức hướng dẫn GVCN lớp thực hiện chương trình HĐ GDNGLL theo định hướng GDKNS theo đơn vị lớp không được nhiều CBQL lựa chọn, với 50% ý kiến. Điều này bộc lộ rõ điểm hạn chế là: việc bồi dưỡng năng lực tổ chức, năng lực chuyên môn cho giáo viên còn bị xem nhẹ, trong khi đó GVCN là lực lượng nòng cốt với vai trò chủ đạo trong tổ chức thực hiện theo sự chỉ đạo của nhà trường. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Để tìm hiểu thực trạng việc sử dụng các biện pháp chỉ đạo thực hiện HĐ GDNGLL theo định hướng GDKNS của CBQL các trường THCS, chúng tôi sử dụng câu hỏi số 12 phụ lục 2 và thu được kết quả như sau:
Bảng 2.17b. Biện pháp chỉ đạo thực hiện HĐ GDNGLL của CBQL
Nhìn vào bảng trên cho thấy: 100% CBQL chọn biện pháp (1) Chỉ đạo HĐ GDNGLL theo chủ đề 1. Vậy các trường THCS ở huyện Thanh Ba đều triển khai bài bản và giống nhau trong tổ chức chỉ đạo và thực hiện. Có 50% CBQL cùng chọn biện pháp (2) chỉ đạo tổ chức HĐ chào mừng các ngày lễ trong năm và biện pháp thực hiện phân công, phân nhiệm trong tổ chức HĐ GDNGLL. Tuy nhiên, ở biện pháp 4 chỉ có 37.5% CBQL lựa chọn cũng cho thấy rằng công tác tổ chức lực lượng theo dõi, giám sát thực hiện tổ chức HĐ GDNGLL còn nhiều hạn chế.
Để tìm hiểu thực trạng việc sử dụng các biện pháp chỉ đạo khi tiến hành tổ chức HĐ GDNGLL của GV các trường THCS, chúng tôi sử dụng câu 23 phụ lục 2, kết quả thu được ở bảng sau:
Bảng 2.17c. Biện pháp khi tiến hành tổ chức HĐ GDNGLL của GV(20)
Nhìn vào bảng trên cho thấy rằng: 75% GV chọn biện pháp bám sát nội dung hướng dẫn trong sách giáo viên theo chủ đề của tháng. Trên thực tế, hầu hết GV chưa từng được tham gia bồi dưỡng kĩ năng tổ chức HĐ GDNGLL nên biện pháp bám sát nội dung hướng dẫn trong sách giáo viên là biện pháp an toàn. Một số GV (37.5%) cũng chọn lựa biện pháp dựa vào nội dung hướng dẫn của chương trình, chủ động mở rộng nội dung hoạt động theo năng lực của HS. Biện pháp 3 và 5 chỉ có 30% -35% GV chọn lựa, điều này thể hiện việc thực hiện chương trình GD NGLL còn thụ động, chủ yếu vẫn dựa vào nội dung hướng dẫn của sách GV mà chưa có sự tìm tòi mở rộng nội dung hoạt động. Học sinh còn ít có cơ hội được tự khẳng định mình, còn bị thụ động, mọi hoạt động và sự tham gia hoạt động hầu hết vẫn đều do GV điều khiển mà HS chưa được tự mình thiết kế, tự mình điều khiển các hoạt động theo ý tưởng của cá nhân, nhằm phát huy khả năng của mình và tự khẳng định bản thân. Việc bồi dưỡng năng lực tổ chức cho cán bộ lớp cũng còn hạn chế. Tìm hiểu thêm về việc thực hiện HĐ GDNGLL của GVCN, chúng tôi sử dụng câu 16 phụ lục 1, câu 19 phụ lục 2 và thu được kết quả ở bảng sau:
Bảng 2.17d. Biện pháp tổ chức thực hiện HĐ GDNGLL của GVCN Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Nhìn chung, CBQL đánh giá các biện pháp tổ chức thực hiện HĐ GDNGLL của GV là không cao. Các CBQL đánh giá thấp nhất 2 biện pháp trong 10 biện pháp, với trên 75% ý kiến đánh giá ở mức bình thường và chưa tốt, là: (2)Tiết sinh hoạt cuối tuần có nội dung phong phú, đa dạng, (9) Khen chê kịp thời, sơ và tổng kết sau mỗi hoạt động, sau mỗi phong trào là 62.5%; 50% CBQL cho rằng việc sử dụng các trang thiết bị phục vụ cho các HĐ GDNGLL là chưa tốt. Các biện pháp như: (3) Nắm vững lớp học, điều kiện sống và năng lực của HS, (4) Tổ chức các hoạt động tập thể, (5) Tổ chức các phong trào thi đua trong lớp, (6) Tổ chức các hoạt động tự quản của lớp, (7) Phối hợp với cha mẹ học sinh tổ chức HĐ GDNGLL cho lớp, (8) Phối hợp với Đoàn, với giáo viên bộ môn tổ chức các hoạt động cho lớp đều bị đánh giá là bình thường, với 37.5% đến 50% ý kiến của CBQL. Chỉ có biện pháp (1) Xây dựng và thực hiện kế hoạch chủ nhiệm là được trên 62.5% ý kiến CBQL đánh giá là tốt và rất tốt.
Chúng tôi cũng khảo sát ý kiến của GV về công tác chủ nhiệm của mình thì thấy rằng tự bản thân GV đánh giá công tác chủ nhiệm của mình là chưa tốt. Cụ thể có đến 85% ý kiến GV cho rằng công tác phối hợp với cha mẹ HS tổ chức HĐ GDNGLL cho lớp là bình thường và chưa tốt. Chúng tôi thấy nội dung chương trình giáo dục ngày nay khá nặng nề nên hầu hết cha mẹ HS đều rất quan tâm đến việc học hành của con cái. Nhưng do áp lực về thi cử nên họ chỉ quan tâm đến điểm số của các môn văn hóa. Họ quan tâm đến các thầy cô để gởi con họ đi học thêm. Thậm chí ngay tại gia đình họ cũng ít tạo điều kiện cho con cái được giải trí, xả stress. Bản thân GV cũng bị áp lực về điểm số, chất lượng bộ môn, nề nếp, nội qui nhà trường nên công tác phối hợp với cha mẹ HS trong việc tổ chức HĐ GDNGLL còn nhiều hạn chế, chưa phát huy hết sức mạnh của PHHS và bản thân họ cũng thấy được điều này. Biện pháp kế tiếp bị đánh giá tương đối thấp, với 80% ý kiến GV cho là bình thường và chưa tốt, là: (10) sử dụng các trang thiết bị phục vụ cho các HĐ GDNGLL. Qua trao đổi, chúng tôi được các GV cho biết thêm đối với việc thực hiện HĐ GDNGLL thường là họ làm cho có cho xong nên không quan tâm đến chất lượng, hiệu quả vì vậy ít quan tâm đến việc sử dụng các trang thiết bị để làm cho hoạt động phong phú, hấp dẫn hơn. Có 65% ý kiến GV đánh giá công tác tổ chức các hoạt động tự quản của lớp còn bình thường và chưa tốt. Các biện pháp như: (3) Nắm vững lớp học, điều kiện sống và năng lực của HS, (4) Tổ chức các hoạt động tập thể, (5) Tổ chức các phong trào thi đua trong lớp, (8) Phối hợp với Đoàn, với giáo viên bộ môn tổ chức các hoạt động cho lớp, (9) Khen chê kịp thời, sơ và tổng kết sau mỗi hoạt động, sau mỗi phong trào được đánh giá là bình thường và chưa tốt, với hơn 50%- 65% ý kiến GV.
Từ bảng 2.17 d ta có biểu đồ 2.17d. So sánh ý kiến đánh giá của CBQL và GV về mức độ thực hiện các biện pháp tổ chức thực hiện HĐ GDNGLL của GVCN
Qua biểu trên tôi thấy biện pháp 1 “Xây dựng và thực hiện kế hoạch chủ nhiệm” được cả CBQL và GV đều đánh giá tốt và rất tốt ở vị trí số 1. CBQL đánh giá ở vị trí số 2 là các nội dung 3 (Hiểu rõ lớp CN, điều kiện sống và năng lực của HS), 5 (Tổ chức các phong trào thi đua trong lớp), 8 (Phối hợp với Đoàn, với GV bộ môn tổ chức các HĐ cho lớp), cũng ở vị trí thứ 2 nhưng GV lại đánh giá ở biện pháp 4 (tổ chức các hoạt động tập thể). Xếp thứ tự số 3 về mức độ thực hiện các biện pháp tổ chức HĐNGLL thì ý kiến của GV là biện pháp 3,8 và cũng tương đồng về thứ hạng với sự đánh giá của. Sự tương đồng về đánh giá các biện pháp của cả CBQL và GV là ở các biện pháp 1,3,4,5 và 8,9. Ít tương đồng nhất là biện pháp (7) Phối hợp với cha mẹ học sinh tổ chức HĐ GDNGLL cho lớp, với hơn 50% CBQL đánh giá là rất tốt và tốt và đứng ở vị trí thứ 5, nhưng chỉ có 15.0% GV đánh giá là rất tốt và tốt xếp ở vị trí thứ 11
Biện pháp (6) Tổ chức các hoạt động tự quản của lớp và biện pháp (10) Sử dụng các trang thiết bị phục vụ cho các HĐ GDNGLL thì CBQL lại đánh giá cao hơn GV Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
2.4.8. Thực trạng quản lý kiểm tra đánh giá kết quả giáo dục ngoài giờ lên lớp theo định hướng giáo dục kĩ năng sống
Tìm hiểu công tác quản lý về việc kiểm tra, đánh giá HĐ GDNGLL tôi sử dụng câu 18 phụ lục 2, kết quả thu được kết quả ở 2.13. Qua bảng trên ta thấy đa số các trường chỉ mới dừng lại ở việc kiểm tra xếp loại thi đua của các lớp, cá nhân thông qua thi đua của Đoàn, Đội chứ chưa đi vào kiểm tra một cách chi tiết cụ thể.
Bảng 2.18. Ý kiến của GV về công tác kiểm tra đánh giá HĐ GDNGLL của BGH
Trao đổi thêm với cô N.T.B.P, Phó Hiệu trưởng trường THCS Chí Tiên, tôi biết thêm một số biện pháp kiểm tra, đánh giá HĐ GDNGLL như sau:
- Tổ chức thi đua, sơ kết hàng tuần.
- Đánh giá nhắc nhở khi họp cơ quan.
2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GDNGLL theo định hướng GDKNS
Để đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động GDNGLL theo định hướng KNS ở các trường THCS, chúng tôi tiến hành khảo sát 7 yếu tố 2 ảnh hưởng đối với công tác quản lý hoạt động này thể hiện trong câu 6 phụ lục 1 và câu 10 phụ lục 2. Kết quả khảo sát như sau:
Bảng 2.19. Ý kiến của CBQL về những yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động GDNGLL theo định hướng GDKNS ở trường THCS Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Nhìn vào bảng thống kê kết quả khảo sát, chúng ta có thể nhận thấy yếu tố được đánh giá gây ảnh hưởng nhiều nhất đến công tác quản lý hoạt động GDNGLL theo định hướng giáo dục KNS ở cấp THCS chính là “Nhận thức của hiệu trưởng và các lực lượng giáo dục”. Điều này cũng thấy rất đúng và sát với thực tế, bởi vì khi ngay bản thân người CBQL mà đặc biệt là người hiệu trưởng không nhận thức đúng mức và phù hợp sự cần thiết và tầm quan trọng của bất cứ hoạt động giáo dục nào thì sẽ không quan tâm, không chú trọng đến nội dung, hình thức cũng như hiệu quả của hoạt động, và như vậy hoạt động sẽ không thể đạt hiệu quả như mong muốn. Yếu tố tiếp theo được đánh giá có mức độ ảnh hưởng nhiều đến công tác quản lý hoạt động GDNGLL theo định hướng GDKNS đó là: “Trình độ năng lực đội ngũ giáo viên đối với hoạt động GDNGLL theo định hướng GDKNS” và yếu tố “Cơ sở vật chất nhà trường”. Theo các CBQL, trình độ năng lực giáo viên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của hoạt động, GV có năng lực tổ chức HĐ tốt thì HĐ mới có chất lượng và hiệu quả và ngược lại. Yếu tố CSVC cũng có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của hoạt động này bởi vì đây là HĐ cần có CSVC tương đối hiện đại và phù hợp mới đáp ứng được yêu cầu của HĐ.
Các yếu tố “Phương pháp kiểm tra đánh giá và cơ chế động viên khen thưởng”, yếu tố “Đặc điểm tâm lý – xã hội của lứa tuổi học sinh THCS”; “Sự tham gia của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường” và yếu tố “ Nội dung chương trình hoạt động” cũng rất được quan tâm, với mức độ đánh giá ảnh hưởng khá cao.
Có thể thấy, các CBQL của các trường THCS huyện Thanh Ba đều đánh giá cao các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động GDNGLL theo định hướng GDKNS cho HS THCS của huyện với mức độ ĐTB là 2,5. Trong đó các yếu tố “Nhận thức của hiệu trưởng và các lực lượng giáo dục” và yếu tố “Trình độ năng lực đội ngũ giáo viên đối với hoạt động GDNGLL theo định hướng GDKNS” được đánh giá với mức độ ảnh hưởng lớn nhất.
2.6. Đánh giá chung về thực trạng HĐ GDGNLL theo định hướng giáo dục KNS cho học sinh THCS ở huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ
Từ các kết quả khảo sát về thực trạng hoạt động và công tác quản lý hoạt động GDNGLL theo định hướng GDKNS ở các trường THCS trên địa bàn huyện Thanh Ba, có thể có một số nhận xét chung như sau:
2.6.1. Những thành công và hạn chế Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Trong thời gian qua, hoạt động GDNGLL theo định hướng GDKNS trong các trường THCS huyện Thanh Ba đã đạt được những kết quả nhất định. Hoạt động GDNGLL đã trở thành nền nếp, các hình thức, phương pháp tổ chức ngày càng đa dạng, phong phú; học sinh tỏ ra rất hứng thú và chủ động, tích cực tham gia xây dựng kế hoạch và thực hiện các hoạt động.
Tuy nhiên bên cạnh những thành công đó, công tác quản lý hoạt động GDNGLL theo định hướng GDKNS còn bộc lộ những hạn chế như:
Năng lực tổ chức hoạt động GDNGLL theo định hướng giáo dục KNS của đa số GV ở các trường còn chưa tốt, chưa thực sự thu hút và hấp dẫn học sinh; đặc biệt hiệu quả tổ chức hoạt động chưa cao, đại bộ phận học sinh THCS trong huyện chưa có KNS cơ bản hoặc có cũng chỉ mới ở mức độ thấp.
Các biện pháp quản lý hoạt động của đội ngũ CBQL chưa thực sự phát huy hết hiệu lực, hiệu quả. Chưa làm cho mọi thành viên trong nhà trường có nhận thức sâu sắc về ý nghĩa và sự cần thiết của công tác GD KNS cho HS, do đó chưa phát huy được hết tinh thần trách nhiệm của các thành viên trong Hội đồng sư phạm nhà trường.
Chưa xây dựng được cơ chế phối hợp công tác giữa lãnh đạo chính quyền, đoàn thể trong nhà trường cũng như các lực lượng ngoài xã hội, do đó chưa tạo được tác động thích hợp để tiến hành tốt công tác GD KNS cho HS.
Các CBQL còn đang lúng túng trong công tác kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động GDNGLL. Các trường chưa xây dựng được tiêu chí đánh giá của tiết dạy, hình thức đánh giá chưa phong phú
Làm chưa tốt việc xây dựng môi trường giáo dục. Xây dựng môi trường giáo dục tốt bao gồm việc xây dựng mối quan hệ tốt giữa HS và GV, cán bộ công nhân viên trong nhà trường; xây dựng môi trường sư phạm “xanh, sạch, đẹp, an toàn”, phòng học sạch sẽ, ngăn nắp, thoáng mát; sân chơi rộng rãi vườn trường xanh sạch – đẹp – an toàn; các khu làm việc, thư viện, phòng thí nghiệm đạt chuẩn.
Chưa có nguồn kinh phí phù hợp cho các hoạt động như: tham quan du lịch, trải nghiệm, thi văn nghệ, giao lưu văn hóa thể thao….
Từ những kết quả trên có thể nói công tác quản lý GDGNLL theo định hướng giáo dục KNS cho HS các trường THCS huyện Thanh Ba trong vài năm qua mới chỉ tiến hành bước đầu còn mang nặng tính hình thức, giáo điều, chưa mang tính thực tiễn và cũng chưa huy động được nhiều lực lượng tham gia để trở thành một phong trào rộng rãi, thường xuyên có tác dụng tích cực đối với việc rèn luyện những kĩ năng cần thiết cho HS. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
2.6.2. Những thuận lợi và khó khăn
Đánh giá chung về thực trạng GDGNLL theo định hướng giáo dục KNS cho học sinh ở các trường THCS ở huyện Thanh Ba, chúng tôi tiến hành khảo sát CBQL về những thuận lợi và khó khăn khi triển khai giáo dục KNS thông qua hoạt động GDNGLL bằng câu 9 phụ lục 1, cụ thể như sau:
Bảng 2.20. Ý kiến của CBQL về những thuận lợi cơ bản khi đưa giáo dục KNS vào hoạt động GDNGLL ở cấp THCS
Kết quả trên cho thấy CBQL cho rằng: việc đưa nội dung giáo dục KNS vào hoạt động GDNGLL của cấp THCS sẽ gặp thuận lợi lớn nhất khi có „Sự quan tâm đầu tư và chỉ đạo sát sao của hiệu trưởng nhà trường‟ (với 100% ý kiến đánh giá). Có thể nhận thấy rằng, vai trò của người Hiệu trường là vô cùng quan trọng đối với mọi hoạt động của nhà trường. Khi có sự quan tâm, tâm huyết của người hiệu trưởng thì hoạt động sẽ đạt hiệu quả như mong đợi. Năng lực tổ chức hoạt động của giáo viên tốt; sự hăng hái tích cực của HS khi tham gia HĐ; Điều kiện cơ sở vật chất, tài chính chưa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động cũng là những yếu tố không thuận lợi cho việc tổ chức hoạt động GDNGLL theo định hướng GDKNS với các ý kiến đánh giá từ 62.5%. Điều đáng nói là yếu tố sự ủng hộ của các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, đặc biệt là phụ huynh học sinh chưa được đánh giá cao (75%). Các nhà trường cần có các biện pháp tuyên truyền để các bậc phụ huynh cũng như các tổ chức xã hội quan tâm hơn nữa đến hoạt động giáo dục KNS cho học sinh.
Để tìm hiểu CBQL về khó khăn lớn nhất khi triển khai HĐ GDNGLL theo định hướng GD KNS tôi dùng câu 10 phụ lục 1
Bảng 2.21. Ý kiến của CBQL về những khó khăn khi đưa giáo dục KNS vào hoạt động GDNGLL ở cấp THCS
Kết quả khảo sát cho thấy: CBQL đã đánh giá khó khăn lớn nhất khi triển khai tích hợp giáo dục KNS vào hoạt động GDNGLL ở trường THCS là khi GV chưa thực sự coi trọng về tầm quan trọng của hoạt động. Bởi vì khi chưa coi trọng hoạt động thì sự tâm huyết dành cho hoạt động sẽ hạn chế và hoạt động sẽ không thể đạt chất lượng và hiệu quả như mong muốn, vì GV là đội ngũ trực tiếp tổ chức hoạt động. Các yếu tố được đánh giá gây nhiều khó khăn tiếp theo đó là năng lực triển khai giáo dục KNS của giáo viên còn hạn chế; điều kiện cơ sở vật chất không đáp ứng được yêu cầu của giáo dục HĐNGLL theo định hướng GD KNS và thiếu sự ủng hộ của phụ huynh học sinh và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường với tỷ lệ các ý kiến đánh giá trên 62.5% trở lên.
2.6.3. Nguyên nhân của những khó khăn Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Tìm hiểu nhận định chung của các đối tượng đã khảo sát là học sinh, giáo viên và cán bộ quản lý các trường THCS trên địa bàn huyện Thanh Ba về những khó khăn đối với công tác giáo dục KNS thông qua hoạt động GDGNLL cho học sinh chúng tôi thấy những nguyên nhân chính của những khó khăn đó là:
- Nhận thức của một số thầy cô giáo trong BGH nhà trường, một bộ phận giáo viên về vai trò, ý nghĩa của hoạt động GDGNLL theo định hướng GDKNS trong việc hình thành và phát triển toàn diện cho học sinh chưa thực sự sâu sắc.
- Đội ngũ GV chưa được bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ về giáo dục KNS cho học sinh. Một số giáo viên làm công tác tổng phụ trách Đội còn chưa nhiệt tình, tâm huyết, không muốn đổi mới và chưa có sự sáng tạo trong công việc để thu hút sự tham gia của học sinh, số ít tổng phụ trách Đội còn hạn chế về năng lực chuyên môn
- Hình thức tổ chức hoạt động GDGNLL theo định hướng GDKNS cho HS vẫn còn mang tính phong trào, chưa thực sự có chiều sâu. Các nhà trường chưa dành nhiều kinh phí cho tổ chức hoạt động, ngại tốn kém.
- Chưa xây dựng được mạng lưới tổ chức quản lý hoạt động GDNGLL theo định hướng GDKNS cho học sinh. Chưa có sự phối kết hợp chặt chẽ và phát huy tối đa tiềm năng của các lực lượng.
- Tổ chức, quản lý chỉ đạo còn chưa chặt chẽ, thiếu kế hoạch cụ thể, thiếu ban chỉ đạo hoặc mờ nhạt. Việc kiểm tra, đánh giá còn ngắt quãng, lỏng lẻo; công tác tổng kết, rút kinh nghiệm chưa hiệu quả.
- Đội ngũ GVCN và TPT Đội trong các nhà trường chưa được tạo điều kiện về mặt thời gian, về mặt ưu đãi thỏa đáng
- Việc đầu tư cơ sở vật chất cho công tác giáo dục KNS thông qua hoạt động GDGNLL chưa thỏa đáng.
Đặc biệt khó khăn lớn nhất là chưa có văn bản chỉ đạo, sách giáo khoa và hệ thống tiêu chí, các công cụ đánh giá, các thang đo phù hợp của ngành về hoạt động GDNGLL theo định hướng GDKNS. Hiện nay Bộ GD&ĐT mới chỉ có tài liệu tập huấn chung về GDKNS, các nhà trường cũng mới chỉ đưa vấn đề GDKNS lồng ghép trong hoạt động GDNGLL tùy theo điều kiện của mỗi nhà trường nên chất lượng và hiệu quả của hoạt động còn chưa thực sự đảm bảo theo yêu cầu chung hiện nay.
Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
Kết quả khảo sát thực trạng hoạt động và quản lý hoạt động GDNGLL theo định hướng giáo dục KNS ở một số trường trên địa bàn huyện Thanh Ba cho thấy:
Thực trạng hoạt động giáo dục KNS thông qua hoạt động GDNGLL cho học sinh ở các trường còn khá mới mẻ, chỉ được triển khai trong phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động từ năm năm học trở lại đây cho nên hiệu quả của hoạt động còn khá khiêm tốn. Cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh có nhận thức đúng về sự cần thiết phải giáo dục KNS cho học sinh nhưng chưa đầu tư nhiều thời gian, công sức cho hoạt động, nhà trường vẫn còn nặng về việc dạy chữ cho học sinh “học để biết” hơn là dạy cho học sinh thực hành “học để làm” và “học để cùng chung sống”.
Thực trạng về công tác quản lý hoạt động này cũng cho thấy, đến nay mới chỉ có một bộ phận nhỏ CBQL và GV được tập huấn về giáo dục KNS cho học sinh, các cán bộ quản lý cũng mới bước đầu thực hiện hoạt động quản lý công tác này nên còn khá bỡ ngỡ, bộc lộ nhiều hạn chế trong công tác quản lý giáo dục KNS cho học sinh.
Một số nhà trường đã chú ý xây dựng kế hoạch giáo dục KNS trong hoạt động GDNGLL cho học sinh trong cả năm học, từng học kỳ, từng tháng. Tuy nhiên, kế hoạch mới chỉ ra các việc làm cần thực hiện, thời gian hoàn thành, chứ chưa thực sự thể hiện như một chương trình hành động cụ thể, thiết thực bao gồm tất cả các yếu tố cần thiết của một kế hoạch, chương trình hành động.
Tuy chưa có chương trình sách giáo khoa nhưng được sự chỉ đạo và hướng dẫn của Sở, Phòng GD&ĐT, các trường đã lồng ghép nội dung giáo dục KNS cho học sinh vào hoạt động dạy học, trong đó chú trọng gắn hoạt động GDGNLL với giáo dục KNS cho các em. Đó là điều đáng hoan nghênh. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
