Luận văn: Giải pháp diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Giải pháp diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Giải pháp hoàn thiện những quy định về diện và hàng thừa kế theo pháp luật Việt Nam Hiện Nay dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ DIỆN THỪA KẾ VÀ HÀNG THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT

Khi xây dựng Bộ luật Dân sự năm 1995, tiếp đến là Bộ luật Dân sự năm 2005, chúng ta đã kế thừa truyền thống lập pháp của ông cha và học tập kinh nghiệm lập pháp của các nước trên thế giới, do đó, xét về tổng thể Bộ luật Dân sự đã được xây dựng tương đối toàn diện và phù hợp với điều kiện phát triển và hội nhập. Bộ luật Dân sự năm 2005 đã khắc phục phần nào những thiếu sót trước đây, nhiều lĩnh vực đã được quy định cụ thể hơn, đầy đủ hơn, phản ánh trình độ và kỹ thuật lập pháp ở nước ta về lĩnh vực dân sự nói chung và lĩnh vực pháp thừa kế nói riêng đã đạt trình độ cao và phù hợp hơn với thực tế đời sống xã hội.

Tuy nhiên, do tính chất phức tạp của loại quan hệ này, bên cạnh những quy định tương đối chi tiết, cụ thể so với hệ thống văn bản pháp luật về thừa kế trước đây, thực tiễn áp dụng pháp luật về thừa kế, đặc biệt là việc áp dụng những quy định về diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự 2005 cho thấy những quy phạm của chế định này vẫn còn những bất cập, chưa thực sự đáp ứng được những tình huống phát sinh của quan hệ thừa kế, các tranh chấp về thừa kế vẫn tiếp tục gia tăng và có những diễn biến phức tạp. Do vậy, hoàn thiện Bộ luật Dân sự nói chung và các quy định về diện và hàng thừa kế theo pháp luật nói riêng là yêu cầu cần thiết.

Từ những vấn đề về lý luận, xã hội và thực tiễn, có thể khái quát việc hoàn thiện những quy định về diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật xuất phát từ những yêu cầu sau:

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Nhận Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

3.1.1. Tác động của việc quản lý kinh tế của nước ta đến các giao lưu dân sự

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IX khẳng định: “Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” [15]. Luận văn: Giải pháp diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.

Hiện nay, nước ta đang trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, đang hình thành kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Do vậy, thời kỳ này còn tồn tại nhiều quan hệ sở hữu cùng phát triển như: Sở hữu Nhà nước, kinh tế tập thể, sở hữu tư nhân… Do các quan hệ sở hữu đang phát triển theo cơ chế thị trường nên pháp luật điều chỉnh những quan hệ này phải phù hợp với quá trình phát triển của các quan hệ sở hữu. Vì vậy, Bộ luật Dân sự năm 2005 cần tiếp tục hoàn thiện các chế định, trong đó có chế định thừa kế để tạo cơ sở phát triển kinh tế – xã hội, đáp ứng những yêu cầu đặt ra trong thực tiễn giao lưu dân sự.

Quá trình phát sinh, thay đổi các quan hệ dân sự gắn liền với sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và sự hội nhập về kinh tế, văn hóa của các quốc gia trên thế giới. Do đó, hoàn thiện các quy định về thừa kế nói chung, các quy định về diện và hàng thừa kế theo pháp luật nói riêng theo hướng phù hợp với kinh tế – xã hội nhưng vẫn phát huy tập quán và truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta, hướng đến bảo vệ quyền lợi những người trong dòng tộc.

Trong quá trình hội nhập về văn hóa, những truyền thống tốt đẹp trong nhân dân cần được giữ gìn và phát huy. Vì vậy, pháp luật cần điều chỉnh các hành vi dân sự theo hướng chỉ dẫn cho các chủ thể tự nguyện thực hiện nghĩa vụ và giải quyết các tranh chấp bằng con đường hòa giải. Đặc biệt, các tranh chấp về thừa kế sẽ ảnh hưởng đến tình cảm của những người thân thích, cho nên các quy định về thừa kế phải phù hợp với phong tục tập quán và truyền thống, bản sắc văn hóa của nhân dân ta.

Dòng họ đóng một vai trò quan trọng trong việc thực hiện các đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước ta. Dòng họ trực tiếp giúp đỡ mọi người trong nội tộc sản xuất, kinh doanh thoát khỏi nghèo đói, góp phần vào công tác xóa đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta đề ra. Vì vậy, trong quan hệ thừa kế cần thiết mở rộng hơn nữa diện và hàng thừa kế. Hiện nay, diện thừa kế được quy định đến đời thứ thứ năm, tuy nhiên, theo tập quán của người Việt Nam thì dòng họ gồm nhiều đời. Thông thường, những người thừa kế đời thứ năm, thứ sáu nếu là tôn trưởng vẫn có nghĩa vụ thờ cúng tổ tiên, do vậy cho họ hưởng di sản là phù hợp với tập quán.

3.1.2. Thực trạng áp dụng pháp luật về diện và hàng thừa kế theo pháp luật

Trong những năm qua, do tác động của nền kinh tế thị trường, các tranh chấp dân sự ngày càng có chiều hướng gia tăng, trong số đó, các tranh chấp về thừa kế chiếm một tỷ lệ đáng kể và chủ yếu xoay quanh việc chia di sản thừa kế. Đây là những tranh chấp chủ yếu đòi hỏi công bằng về quyền lợi, do đó đòi hỏi các cấp Tòa án có thẩm quyền phải xác định đúng những người được hưởng thừa kế và theo thứ tự ưu tiên nhất định, tránh trường hợp nhầm lẫn để đảm bảo quyền lợi chính đáng của đương sự. Luận văn: Giải pháp diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.

Một trong những vấn đề được đặt lên hàng đầu khi giải quyết tranh chấp thừa kế là việc xác định diện và hàng thừa kế. Nếu xác định sai về những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật sẽ không giải quyết dứt điểm vụ án. Ngoài việc xác định đúng người thừa kế theo pháp luật, Tòa án còn phải kết hợp hài hòa giữa thực tiễn và lý luận để có sự giải quyết linh hoạt, mềm dẻo, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của những người có quyền hưởng thừa kế.

Thực tế những năm gần đây, Tòa án nhân dân các cấp đã có những cố gắng nhất định trong việc bám sát các quy định của Bộ luật Dân sự và các văn bản pháp luật của các ngành có liên quan để giải quyết các tranh chấp thừa kế đạt kết quả tốt. Tuy nhiên, còn nhiều quy định trong Bộ luật Dân sự chưa thực sự phù hợp với thực tế xã hội, do vậy, khi thi hành và áp dụng vẫn gặp vướng mắc. Những quy định đó đã gây ra nhiều cách hiểu khác nhau, dẫn tới việc áp dụng thiếu thống nhất giữa các cấp Tòa án trong việc giải quyết những tranh chấp cụ thể, mặc dù các tranh chấp đó có nội dung tương tự như nhau. Những vướng mắc đó có thể khái quát ở các điểm sau:

3.1.2.1. Bất cập trong việc xác định tư cách đương sự, diện và hàng thừa kế khi giải quyết các tranh chấp về thừa kế hoặc có liên quan đến thừa kế do sai sót của cơ quan xét xử

Thực tế nhiều năm qua, vấn đề này chưa được các cơ quan xét xử chú ý, thậm chí việc giám đốc án của Tòa án nhân dân tối cao cũng tập trung nhiều vào giải quyết vụ án mà đôi khi chưa đánh giá đầy đủ tính chất quan trọng của việc xác định tư cách đương sự trong các vụ án thừa kế hoặc các vụ án hình sự nhưng phần dân sự có liên quan đến diện những người thừa kế, làm ảnh hưởng đến quyền lợi hợp pháp của của những người thuộc diện thừa kế.

Có thể thấy, pháp luật thừa kế nước ta từ trước đến nay chưa có quy định con dâu, con rể được thừa kế di sản của bố mẹ chồng, bố mẹ vợ. Tuy nhiên, trên thực tế nhiều vụ án lại có nguyên đơn là con dâu, con rể kiện yêu cầu chia thừa kế di sản của bố mẹ chồng, bố mẹ vợ với lý do người chồng, người vợ của người đi kiện đã chết nên họ là người thừa kế đương nhiên của người chồng, người vợ đó. Cách hiểu như vậy là không chính xác, bởi cần phân biệt tranh chấp thừa kế di sản của cha mẹ người chồng, người vợ đã chết chứ không phải xác định người chồng, người vợ còn sống được hay không được hưởng thừa kế của vợ hoặc chồng mình. Do vậy, cần hiểu rõ trong trường hợp bố mẹ chồng hoặc bố mẹ vợ để lại di sản, nếu người chồng hoặc người vợ là con đẻ của người để lại di sản thì những người con của họ mới được hưởng quyền thừa kế thế vị của ông, bà nội, ngoại. Do hiểu không đúng, nhiều Tòa án không đề cập đến người con của người vợ hoặc chồng đã chết hoặc nếu có đề cập nhưng lại xếp những người con đó vào tư cách là những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, trong khi đó lại đưa người vợ hoặc chồng của người chết là nguyên đơn kiện chia thừa kế di sản của bố mẹ chồng, bố mẹ vợ.

Một số Tòa án trong quá trình điều tra, giải quyết vụ án thừa kế đã ghi lời khai của những người thừa kế, trong đó có từ chối hoặc nhường quyền thừa kế của mình cho một người thừa kế khác, thay vì cần đưa những người thừa kế đó tham gia tố tụng để Tòa án xem xét chấp nhận hay không chấp nhận sự tự nguyện đó. Vì vậy khi họ từ chối quyền thừa kế di sản thì đã loại họ ra khỏi vụ án, không xếp họ tham gia tố tụng với bất kì tư cách nào. Điều đó đã dẫn đến trường hợp tại Tòa án sơ thẩm, những người thừa kế có ý kiến khước từ thừa kế, nhường kỷ phần cho người khác nhưng sau đó lại thay đổi ý kiến. Vì không được tham gia tố tụng nên họ không được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm mà phải khiếu nại Tòa án.

Từ thực tế trên cho thấy nhiều Tòa án cấp sơ thẩm khi giải quyết vụ việc ngay từ đầu đã không xác định đúng và đầy đủ người thừa kế để đưa họ vào diện người tham gia tố tụng. Điều đó đã không đảm bảo được thủ tục tố tụng và ảnh hưởng không nhỏ đến việc giải quyết hiệu quả vụ án. Luận văn: Giải pháp diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.

Ví dụ 1: Vụ án dân sự sơ thẩm số 12/DSST ngày 25-7-1995 của Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang về giải quyết tranh chấp về thừa kế tài sản.

Nguyên đơn: Ông Quách Miêng, sinh năm 1943; trú tại 37/1 Nguyễn Thái Học, phường Vĩnh Lạc, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang;

Bị đơn: Ông Quách Trí (tức Quang), sinh năm 1932; trú tại 2A Nguyễn Đình Chiểu, phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Quách Lệ Chu, sinh năm 1924; trú tại số 19 Thành Thái, phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Tại đơn khởi kiện đề ngày 2-9-1993 và những lời khai tiếp theo tại Tòa án, ông Quách Miêng yêu cầu được chia căn nhà 2A Nguyễn Đình Chiểu, thị xã Rạch Giá (nay là thành phố Rạch Giá), tỉnh Kiên Giang và thửa đất thổ mộ có diện tích 1985 m2 là di sản của cụ Quách Minh và cụ Lý Thị Hiền.

Vợ chồng cụ Minh và cụ Hiền có 7 con chung gồm các ông, bà: Quách Tín (trú tại Trung Quốc), Quách Lệ Vân (trú tại Mỹ), Quách Liêm (trú tại Pháp), Quách Lệ Nhơn (trú tại Úc), Quách Hoàng (chết, không có vợ con), Quách Trí và Quách Miêng. cụ Minh và cụ Hiền có con nuôi là bà Quách Lệ Chu.

Sinh thời, cụ Minh và cụ Hiền tạo lập được nhiều nhà đất tại thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Trước năm 1973, hai cụ đã phân chia một số nhà đất cho các con. Năm 1973, ông Trí bán căn nhà 39 Bạch Đằng, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang (do cụ Minh và cụ Hiền cho) và về chung sống cùng hai cụ tại căn nhà 2A Nguyễn Đình Chiểu, phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Tháng 5-1973 cụ Minh chết không có di chúc. Luận văn: Giải pháp diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.

Ngày 31-12-1974, cụ Hiền lập tờ “Tổng kết tài sản, cũng là chúc ngôn tổng quát” và “Tờ cho đứt đất thổ cư và phố trệt” phân chia tài sản và được các con của cụ Minh và cụ Hiền đồng ý, có xác nhận của chính quyền nơi cụ Hiền sinh sống (phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang). Trong các văn bản nêu trên, cụ Hiền thể hiện ý chí để lại căn nhà số 2 (nay mang số 2A) Nguyễn Đình Chiểu, phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang làm di sản thờ cúng “ngày nay cũng như ngày mai và vĩnh viễn được để lập hương hỏa”, “căn nhà và phần đất này được xem như bất khả xử phân”.

Ngày 27-5-1978, cụ Hiền lập giấy hiến cho Nhà nước 27 căn nhà và 2 thửa đất, trong đó có nhà đất mà cụ Minh và cụ Hiền đã phân chia cho các con chung của hai cụ. Các con của cụ Hiền không phản đối về việc này.

Tài sản của cụ Hiền và cụ Minh còn lại căn nhà 2A Nguyễn Đình Chiểu, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang trên diện tích đất 483,53 m2 và thửa đất thổ mộ 1985 m2 (ngang thất Cao Đài) tại đường Nguyễn Trung Trực, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang.

Năm 1980, cụ Hiền chết; ông Trí trực tiếp quản lý toàn bộ di sản của cụ Minh và cụ Hiền. Ông Trí đã kê khai, nộp thuế đối với đất thổ mộ. Ngày 1-3-1990 Ủy ban nhân dân thị xã Rạch Giá (nay là thành phố Rạch Giá), tỉnh Kiên Giang đã xác nhận ông Trí và bà Tô Thị Tám (vợ của ông Trí) là chủ sở hữu đối với thửa đất thổ mộ ngang thất Cao Đài tại “Giấy xác nhận đất hoa màu” do ông Quách Trí lập.

Ông Miêng khởi kiện yêu cầu được chia căn nhà 2A Nguyễn Đình Chiểu, phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang và thửa đất thổ mộ có diện tích 1985 m2 nêu trên.

Ông Trí không đồng ý chia thừa kế theo yêu cầu của ông Miêng vì căn nhà 2A Nguyễn Đình Chiểu, phường Vĩnh Thanh Vân, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang là di sản dùng để thờ cúng; phần đất thổ mộ ông trực tiếp quản lý, canh tác, nộp thuế, kê khai và đã được xác nhận là chủ sử dụng đất năm 1990. Trong quá trình quản lý, sử dụng thửa đất thổ mộ, ông có bán cho một số người và có chia một phần tiền, vàng cho ông Miêng.

Bà Quách Lệ Chu không yêu cầu chia thừa kế. Luận văn: Giải pháp diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 12/DSST ngày 25-7-1995, Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang đã quyết định:

  • Chấp nhận yêu cầu của ông Quách Miêng được chia thừa kế căn nhà số 2A đường Nguyễn Đình Chiểu theo pháp luật.
  • Xử: Chia cho ông Quách Miêng được hưởng kỷ phần bằng 1/6 của căn nhà số 2A bằng 77.881.381đ.
  • Chấp nhận yêu cầu của ông Quách Miêng được hưởng phần nhà sau của căn nhà số 2A có diện tích bằng 111,19m2 có giá trị bằng 126.185.816 đ. Ông Quách Miêng phải có nghĩa vụ giao lại cho 5 thừa kế là Quách Tín, Quách Lệ Vân, Quách Lệ Nhơn, Quách Trí, Quách Liêm số tiền chênh lệch giá trị là 48.304.435đ khi nào 5 thừa kế này có yêu cầu thì ông Miêng phải giao.
  • Khi sử dụng phần diện tích nhà sau ông Miêng phải mở lối đi riêng không gây ảnh hưởng đến phần nhà trước.
  • Bác yêu cầu của ông Quách Miêng xin được chia tiền, vàng do ông Quách Trí sang đất.
  • Giao Ủy ban nhân dân thị xã Rạch Giá giải quyết theo thẩm quyền việc tranh chấp khu đất vòng mộ tại số 18 khu phố 3, phường Vĩnh Lạc, thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang giữa ông Quách Miêng và ông Quách Trí.
  • Về án phí: Ông Quách Miêng phải chịu 5% án phí giá ngạch đối với kỷ phần di sản ông được hưởng là 3.894.700đ. Ông Miêng đã tạm ứng trước 1.000.000đ, ông phải nộp thêm 2.894.700đ.

Ngày 1-8-1995, ông Miêng kháng cáo yêu cầu được phân chia thửa đất mộ, số tiền, vàng do ông Trí bán đất và đề nghị xem xét lại về án phí.

Ngày 4-8-1995, ông Trí kháng cáo không đồng ý chia di sản thừa kế vì căn nhà 2A Nguyễn Đình Chiểu, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang là nhà hương hỏa để thờ cúng.

Qua vụ án trên có thể thấy:

Về tố tụng: Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết tranh chấp về di sản thừa kế của cụ Minh và cụ Hiền, nhưng lại không đưa các ông, bà Quách Tín, Quách Lệ Vân, Quách Liêm, Quách Lệ Nhơn là con chung của cụ Minh và cụ Hiền đang định cư ở nước ngoài vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là vi phạm nghiêm trọng pháp luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Ông Miêng khởi kiện yêu cầu được chia thừa kế di sản của cụ Minh và cụ Hiền là căn nhà số 2A Nguyễn Đình Chiểu, phường Vĩnh Thanh Vân, thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang, nhưng ông Miêng cũng thừa nhận là căn nhà nêu trên cụ Hiền đã lập di chúc để lại làm di sản thờ cúng và di chúc của cụ Hiền được các con chung của cụ Minh và cụ Hiền đồng ý.

Như vậy, việc chia thừa kế đối với căn nhà nêu trên của Tòa án cấp sơ thẩm là trái quy định của pháp luật về thừa kế. Tòa án đã không đưa các con của người để lại di sản thừa kế đang định cư ở nước ngoài vào tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Đồng thời, trong quá trình giải quyết, cơ quan xét xử đã thiếu sót trong việc áp dụng quy định của luật tố tụng dân sự về xác định người tham gia tố tụng. Luận văn: Giải pháp diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.

Trong một số vụ án hình sự có nội dung bồi thường thiệt hại, trường hợp người bị hại chết, những người thừa kế theo pháp luật của người bị hại cần được tham gia tố tụng ngay từ giai đoạn điều tra. Thực tế người chết có những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật ở hàng thứ nhất nhưng cơ quan điều tra đã không xem xét thấu đáo, không xác định đầy đủ diện những người được hưởng thừa kế của người chết nên đã không triệu tập những người này để họ tham gia tố tụng, ghi nhận ý kiến của họ về vấn đề cần giải quyết. Trong thực tế đã có nhiều trường hợp người chết có vợ nhưng lại chung sống với người phụ nữ khác và có con nhưng cơ quan điều tra chỉ làm việc với người vợ mà bỏ quên quyền lợi của người con mà người chết đã chung sống với người phụ nữ khác, hoặc người chết còn cha, mẹ nhưng họ cũng không được triệu tập để tham gia tố tụng.

Vụ án 2: Tòa án xác định không đúng diện thừa kế đã ảnh hưởng đến việc giải quyết đúng đắn vụ án, ảnh hưởng đến quyền lợi của bị đơn dân sự trong vụ án hình sự:

Nguyễn Quốc Sang lái xe ô tô gây ra tai nạn giao thông làm chết anh Nguyễn Ngọc Phan Tâm, anh Vũ Quốc Nam cùng với hai con anh Nam là cháu Vũ Thu Hà, Vũ Văn Quãng cùng 7 người khác bị thương.

Sau tai nạn, chủ xe ô tô là bà Nguyễn Thị Thoại đã bồi thường cho gia đình anh Vũ Quốc Nam 100.000.000đ. Bản án sơ thẩm đã tuyên buộc bà Thoại tiếp tục bồi thường 12.600.000đ và bị cáo Sang bồi thường 2.000.000đ cho gia đình anh Nam (do anh Vũ Quốc Đông – em trai anh Nam đại diện); bà Thoại cấp dưỡng nuôi con anh Nam (theo giấy khai sinh) mỗi tháng 200.000đ đến khi cháu tròn 18 tuổi. Sau khi xét xử sơ thẩm, anh Đông kháng cáo đề nghị xử lại phần dân sự.

Bản án phúc thẩm tuyên buộc bà Thoại bồi thường tổn thất về tinh thần cho vợ anh Nam là chị Nguyễn Thị Phin số tiền 63.000.000đ (350.000đ/tháng x 180 tháng) và tiền mất thu nhập của anh Nam 1.500.000đ/tháng x 6 tháng là 9.000.000đ; tổng cộng là 72.000.000đ; ghi nhận sự tự nguyện của bà Thoại trợ cấp để nuôi con của anh nam là cháu Vũ Anh Tuyết mỗi tháng 200.000đ cho đến khi cháu trưởng thành; bà Thoại nộp án phí dân sự sơ thẩm 3.600.000đ.

Tại Kháng nghị số 04/2009/HS-TK ngày 06/05/2009, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị bản án hình sự phúc thẩm và đề nghị Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hủy bản án hình sự phúc thẩm về phần quyết định buộc bà Thoại bồi thường tổn thất tinh thần, tiền mất thu nhập của anh Nam và tiền án phí dân sự để xét xử phúc thẩm lại với lý do: Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà Thoại bồi thường cho người đại diện hợp pháp của anh Nam khoản tiền tổn thất tinh thần và tiền cấp dưỡng nuôi con là đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, khoản tiền bù đắp về tổn thất tinh thần cấp sơ thẩm chỉ buộc bà Thoại bồi thường 12.600.000đ (350.000đ x 36 tháng) là quá thấp, Tòa án cấp phúc thẩm sửa quyết định này, buộc bà Thoại bồi thường cho cả 03 người chết là 180 tháng lương (60 x 3 người), với số tiền 63.000.000 đồng là mức cao nhất cho mỗi người là không đúng thực tế. Về thu nhập bị mất: Theo quy định của Bộ luật Dân sự thì các khoản bồi thường thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm bao gồm: chi phí cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiết hại trước khi chết; chi phí hợp lý cho việc mai táng; tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng. Anh Nam đã chết ngay sau khi bị tai nạn giao thông, nhưng Tòa án cấp phúc thẩm vẫn quyết định buộc bà Thoại bồi thường tiền mất thu nhập của anh Nam được tính trong thời gian 06 tháng, mỗi tháng 1.500.000 đồng, với tổng số tiền 9.000.000 đồng là không đúng.

Tại Quyết định giám đốc thẩm số 10/2009/HS-GĐT ngày 03/09/2009, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã nhận xét trong vụ án này, một gia đình có ba người chết là anh Nam cùng hai con, nhưng khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm còn có những sai lầm như sau: Luận văn: Giải pháp diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.

Về xác định tư cách người tham gia tố tụng: Sau khi anh Nam chết, ngoài chị Nguyễn Thị Phin là người thân gần gũi nhất, thì anh Nam còn có mẹ (bút lục 297). Như vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không xác minh để đưa mẹ của anh Nam tham gia tố tụng, mà xác định anh Vũ Quốc Đông là em trai anh Nam (được chị Phin ủy quyền) là người đại diện hợp pháp của người bị hại và quyết định buộc bị cáo, bị đơn dân sự bồi thường cho gia đình anh Nam là chưa đầy đủ và chính xác. Tòa án cấp phúc thẩm đã không khắc phục được sai lầm nêu trên, mà còn buộc bị đơn dân sự bồi thường tổn thất tinh thần cho vợ anh Nam là không đúng, vì những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của anh Nam gồm mẹ, vợ và con mới sinh cùng được hưởng khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do anh Nam bị thiệt hại về tính mạng. Riêng khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do cháu Vũ Thu Hà và Vũ Văn Quãng bị thiệt hại về tính mạng thì chỉ có chị Phin (là mẹ của hai cháu) được hưởng, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm tính luôn cả ba trường hợp để buộc bị đơn dân sự bồi thường cho chị Phin là không đúng.

Về phần bồi thường dân sự: Ngoài tiền chi phí mai táng là 100.000.000 đồng mà bà Thoại bồi thường cho gia đình anh Nam, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bà Thoại bồi thường cho người đại diện hợp pháp của anh Nam khoản tiền tổn thất về tinh thần và tiền cấp dưỡng nuôi con của anh Nam, nhưng khoản tiền bù đắp về tinh thần Tòa án cấp sơ thẩm chỉ buộc bà Thoại bồi thường 12.600.000 đồng là quá thấp, Tòa án cấp phúc thẩm sửa quyết định này buộc bà Thoại bồi thường cho cả ba người chết là 180 tháng lương với tổng số tiền là 63.000.000 đồng là mức cao nhất cho mỗi người cũng chưa phù hợp với thực tế. Ngoài việc bồi thường chi phí mai táng cho gia đình anh Nam, thì bị đơn dân sự còn phải bồi thường cho nhiều người khác, do đó khi giải quyết khoản tiền bù đắp về tinh thần đối với gia đình anh Nam, ngoài việc xác định vị thế của người bị hại trong gia đình, thì Tòa án cần xem xét, quyết định cho phù hợp với thực tế để đảm bảo khả năng thi hành án.

Vì những lý do nêu trên, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hủy bản án hình sự phúc thẩm về phần quyết định buộc bà Thoại bồi thường khoản tiền tổn thất về tinh thần, tiền mất thu nhập của anh Nam, tiền án án phí dân sự và bản án hình sự sơ thẩm về phần quyết định buộc bà Thoại bồi thường khoản tiền tổn thất tinh thần; giao hồ sơ về cấp sơ thẩm xét xử lại theo đúng quy định. Luận văn: Giải pháp diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.

3.1.2.2. Khó khăn trong việc xác định người thừa kế do một số quy định của pháp luật còn thiếu hoặc không rõ ràng

  • Quyền thừa kế cho người được sinh ra theo phương pháp khoa học hiện đại.

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế – xã hội, một số vấn đề mới nảy sinh nhưng pháp luật hiện hành chưa có hành lang pháp lý điều chỉnh kịp thời, trong đó có việc xác định quyền thừa kế cho người được sinh ra theo phương pháp khoa học hiện đại. Đây cũng là vấn đề xảy ra khá nhiều trong quá trình giải quyết về thừa kế của cơ quan xét xử.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, cha mẹ đẻ và con đẻ được thừa kế theo pháp luật của nhau. Tuy nhiên, ngày nay, khi nền y học phát triển vượt bậc, ngày càng có nhiều người mong muốn được sinh con theo phương pháp khoa học hiện đại như thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm… Thực tế có những đứa trẻ ra đời theo phương pháp này nhưng không được sự đồng thuận của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (người vợ tự nhờ thụ tinh nhân tạo mà người chồng không biết hoặc thụ thai sau khi chồng đã chết do giữ lại tinh trùng của chồng trong ngân hàng tinh trùng…). Tuy vậy, vấn đề này pháp luật dân sự chưa có quy định cụ thể khiến Tòa án gặp nhiều lúng túng khi giải quyết tranh chấp về thừa kế có liên quan. Điều đó đặt ra yêu cầu cần có khung pháp lý cho việc xác định cha mẹ cho con sinh ra theo phương pháp khoa học hiện đại nhằm bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

  • Thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế.

Điều 679 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 676 và Điều 677 của Bộ luật này”.

Giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế không có quan hệ huyết thống, do đó căn cứ để hưởng thừa kế là quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng như cha mẹ, con. Luận văn: Giải pháp diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.

Như vậy, theo tinh thần Điều 679 thì tiêu chí để xác định con riêng với bố dượng, mẹ kế có được hưởng thừa kế của nhau hay không là dựa trên quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng lẫn nhau. Nếu hai phía không có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng lẫn nhau thì không được thừa kế của nhau. Tuy nhiên, quan hệ “chăm sóc, nuôi dưỡng” là một thuật ngữ rất chung chung, khó xác định cụ thể, đặc biệt là quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con. Các tiêu chí để xác định thế nào là quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế cũng như những căn cứ đánh giá thời gian nuôi dưỡng, mức độ nuôi dưỡng, chăm sóc như thế nào đều không được quy định cụ thể.

Trên thực tế, tuy không cùng chung sống với nhau nhưng một trong hai bên vẫn có hoạt động nuôi dưỡng với sự quan tâm và yêu thương thật sự, hoặc tuy không có hoạt động nuôi dưỡng, chỉ có sự quan tâm, chăm sóc thường xuyên về tinh thần nhưng mối quan hệ đó rất gần gũi, sâu nặng. Trong trường hợp này thì việc xác định giữa họ có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con không thường chỉ mang tính chủ quan, cảm tính.

Như vậy, quy định thiếu cụ thể tại Điều 679 Bộ luật Dân sự năm 2005 đã gây rất nhiều khó khăn và vướng mắc trong quá trình xét xử của Tòa án.

3.1.2.3. Vướng mắc trong xác định quyền hưởng thừa kế thế vị

Thừa kế thế vị về bản chất về bản chất không phải là thừa kế theo hàng nhưng có liên quan mật thiết với thừa kế theo hàng thừa kế. Giải quyết triệt để vấn đề thừa kế thế vị sẽ góp phần hoàn thiện cơ sở pháp lý để giải quyết quan hệ thừa kế theo pháp luật.

Điều 677 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về thừa kế thế vị, cụ thể là:

Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng đã chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống [27].

Quy định nêu trên nếu được hiểu theo câu chữ thì cháu hoặc chắt không được hưởng thừa kế thế vị nếu cha hoặc mẹ của cháu hoặc của chắt trong trường hợp còn sống cũng không có quyền hưởng do bị tước, cho dù điều kiện cha hoặc mẹ của cháu hoặc của chắt đã chết trước hoặc cùng thời điểm với ông bà nội, ngoại hoặc các cụ nội, ngoại. Cụ thể là Khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về hành vi vi phạm của người không được quyền hưởng thừa kế của người để lại di sản. Trong trường hợp này các cháu, chắt sẽ không được hưởng thừa kế thế vị. Luận văn: Giải pháp diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.

Quy định trên cho thấy quy định của pháp luật hiện hành đã không có sự kế thừa bản chất của thừa kế di sản với mục đích di sản của thế hệ trước chuyển cho thế hệ sau, trong trường hợp thế hệ trước qua đời. Mục đích của thừa kế là nhằm bảo vệ khối di sản của thế hệ trước sau khi chết được để lại cho các con, các cháu có quan hệ huyết thống xuôi. Các cháu hoặc các chắt được thừa kế thế vị nhận di sản của ông, bà nội, ngoại hoặc các cụ nội, ngoại là căn cứ vào sự kiện cha hoặc mẹ của cháu đã chết trước hoặc cùng chết vào một thời điểm với ông, bà hoặc các cụ nội, ngoại. Tuy nhiên, quy định cháu được hường phần di sản mà cha hoặc mẹ cháu được hưởng nếu còn sống đã không đảm bảo sự nhất thể hóa của pháp luật về thừa kế. Hơn nữa, hành vi trái pháp luật của người là cha, là mẹ trong quan hệ thừa kế theo trình tự hàng không thể đồng nhất với quy định về thừa kế thế vị của các cháu, các chắt. Quyền thừa kế thế vị của các cháu hoặc các chắt nội, ngoại không thể bị pháp luật tước bỏ khi giữa cha, mẹ và các con hoàn toàn chịu trách nhiệm hình sự với tư cách cá nhân và hành vi của họ hoàn toàn độc lập nhau. Nói cách khác, các cháu không có lỗi và không phải chịu trách nhiệm về hành vi của cha mẹ.

Qua phân tích, đánh giá những bất cập của một số quy định về diện và hàng thừa kế theo pháp luật, yêu cầu đặt ra là cần tiếp tục hoàn thiện những quy định về diện và hàng thừa kế, đảm bảo tính thống nhất, chặt chẽ, rõ ràng, làm cơ sở áp dụng giải quyết các tranh chấp về thừa kế theo pháp luật hiệu quả hơn.

3.2. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ DIỆN THỪA KẾ VÀ HÀNG THỪA KẾ THEO PHÁP LUẬT

Hoàn thiện những quy định về diện và hàng thừa kế theo pháp luật có thể xem xét ở các vấn đề về người thừa kế theo pháp luật, hàng thừa kế theo pháp luật, thừa kế thế vị.

3.2.1. Về người thừa kế theo pháp luật

3.2.1.1. Người thừa kế được sinh ra theo phương pháp khoa học hiện đại

Việc công nhận cha và quyền thừa kế cho những đứa trẻ sinh ra theo phương pháp thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong ống nghiệm rất quan trọng, không chỉ có ý nghĩa trong việc đảm bảo quyền lợi cho những đứa trẻ mà còn mang lại tình thương yêu cho trẻ. Nếu xảy ra tranh chấp xuất phát từ vấn đề này sẽ hình thành suy nghĩ tiêu cực, gây mặc cảm cho những đứa trẻ.

Vì vậy, nên chăng trong thời gian tới cần bổ sung quy định cụ thể về thừa kế đối với những người được sinh ra theo phương pháp khoa học hiện đại. Như vậy, khi phát sinh ra tranh chấp về thừa kế liên quan đến những người này thì nhà áp dụng pháp luật mới có cơ sở để giải quyết thấu tình đạt lý, nâng cao hiệu quả của công tác xét xử.

3.2.1.2. Thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế Luận văn: Giải pháp diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.

Điêu 679 Bộ luật Dân sự quy định con riêng và cha, mẹ kế được thừa kế theo pháp luật của nhau (ở hàng thứ nhất) và con của người con riêng còn được thừa kế thế vị trong trường hợp người đó chết trước cha kế, mẹ kế.

Quy định chung chung tại Điều 679 đã dẫn đến sự không thống nhất giữa những nhà áp dụng pháp luật khi giải quyết vụ việc có liên quan. Trong thực tiễn áp dụng nhiều trường hợp rất khác nhau. Nếu một trong hai bên chết, có trường hợp có trường hợp Tòa án cho người còn sống hưởng thừa kế nhưng có trường hợp chỉ trích công sức nuôi dưỡng, lo ma chay cho họ. Nhiều trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu con riêng được thừa kế vì tuy có ăn ở chung nhưng cơ quan xét xử nhận định bố dượng, mẹ kế không coi như con. Bên cạnh đó, có một thực tế khác là con riêng và bố dượng, mẹ kế đã có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con nhưng khi bố dượng, mẹ kế mất, vì không muốn con riêng được hưởng di sản mà những người thừa kế khác không thừa nhận quan hệ nuôi dưỡng đã có. Trong trường hợp này thì quyền lợi của con riêng sẽ khó có thể được giải quyết và bảo vệ thỏa đáng.

Vì những lý do đó, pháp luật về thừa kế cần bổ sung quy định cụ thể về hưởng thừa kế giữa con riêng, bố dượng và mẹ kế để tránh tình trạng hiểu không nhất quán và áp dụng không thống nhất, không đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho người có quyền hưởng di sản thừa kế.

3.2.2. Về hàng thừa kế theo pháp luật

3.2.2.1. Hàng thừa kế thứ hai Luận văn: Giải pháp diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.

Điểm b Khoản 1 Điều 676 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định hàng thừa kế thứ hai gồm: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.

Có thể thấy tại hàng thừa kế thứ hai, pháp luật quy định gồm những người có quan hệ huyết thống trực hệ bề trên và bề dưới với người để lại di sản là ông bà nội, ngoại và các cháu ruột mà người để lại di sản là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại. Những người có quan hệ huyết thống bàng hệ là anh, chị, em ruột của người để lại di sản.

Theo quy định trên, pháp luật đã quan tâm đến cơ cấu đối xứng về địa vị pháp lý của chủ thể trong quan hệ thừa kế theo hàng, vì ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại được thừa kế của cháu ruột, do vậy, ngược lại cháu nội, ngoại phải được thừa kế theo pháp luật của ông, bà nội ngoại trong cùng một hàng. Tuy nhiên, quy định như vậy đã làm phức tạp thêm cho việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc hưởng di sản thừa kế theo hàng thừa kế thứ hai, bởi vì cháu đã được thừa kế thế vị theo Điều 677 Bộ luật Dân sự, do vậy việc quy định cho các cháu nội, ngoại của người để lại di sản trong hàng thừa kế thứ hai là không thực sự hợp lý. Nếu quy định như pháp luật hiện hành thì cháu là một chủ thể được ưu tiên hưởng di sản thừa kế, nếu không thừa kế thế vị thì thừa kế theo hàng khi có đủ các điều kiện nhận di sản hoặc theo hàng thừa kế thứ hai hoặc thừa kế thế vị hưởng di sản của ông, bà nội, ngoại. Quy định này được xem là một sự đổi mới về nội dung pháp luật thừa kế. Tuy nhiên, sự bổ sung này rất hiếm xảy ra trong đời sống thực tế, do vậy hiệu quả điều chỉnh của quy định này không cao.

Với phân tích trên, nhằm hoàn thiện quy định về hàng thừa kế thứ hai, cần thiết phải sửa đổi theo hướng: Không quy định cho cháu nội, ngoại được hưởng di sản ở hàng thừa kế thứ hai của người để lại di sản là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại. Theo giải pháp này, hàng thừa kế thứ hai gồm: Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết.

3.2.2.2. Hàng thừa kế thứ ba

Điểm c Khoản 1 Điều 676 quy định hàng thừa kế thứ ba gồm: Cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

Cũng như hàng thừa kế thứ hai, xuất phát từ cơ cấu đối xứng về địa vị pháp lý của chủ thể trong quan hệ thừa kế theo hàng, các cụ nội, ngoại được thừa kế theo hàng thừa kế thứ ba của chắt và chắt cũng được thừa kế theo hàng thừa kế thứ ba của cụ nội, ngoại.

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì chắt là một chủ thể được ưu tiên hưởng di sản thừa kế, nếu không thừa kế thế vị thì thừa kế theo hàng khi có đủ các điều kiện nhận di sản hoặc theo hàng thừa kế thứ ba hoặc thừa kế thế vị hưởng di sản của các cụ nội, ngoại. Tuy nhiên, cũng như phân tích đối với trường hợp các cháu ở hàng thừa kế thứ hai, chắt đã được thừa kế thế vị theo Điều 677 Bộ luật Dân sự, do vậy việc quy định cho các chắt của người để lại di sản trong hàng thừa kế thứ ba là không cần thiết. Vì lẽ đó, pháp luật về thừa kế nên sửa đổi theo hướng: Không quy định cho chắt nội, ngoại được hưởng di sản ở hàng thừa kế thứ ba của người để lại di sản là các cụ nội, ngoại.

3.2.3. Về thừa kế thế vị Luận văn: Giải pháp diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.

Để đảm bảo quyền và lợi ích của các cháu của người để lại di sản, thừa kế thế vị cần thiết phải đặt ra trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước người để lại di sản nhưng người con đó khi còn sống đã bị kết án về một trong các hành vi theo quy định tại Khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005. Bởi lẽ xét theo hệ thân thuộc, cháu không có lỗi và cũng không chịu trách nhiệm về hành vi độc lập của bố, mẹ. Thiết nghĩ nên quy định cho cháu, chắt được hưởng thừa kế thế vị trong trường hợp cha hoặc mẹ khi còn sống có một trong các hành vi theo quy định tại Khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2005, cần sửa điều 677 về “Thừa kế thế vị” theo hướng: “Trong trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu thay cha, mẹ hưởng phần di sản của ông, bà; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt thay cha, mẹ hưởng phần di sản của các cụ” [27].

Như vậy, để các quy định về thừa kế nói chung, diện và hàng thừa kế theo pháp luật nói riêng phát huy hiệu quả trong thực tiễn đòi hỏi phải cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện chế định thừa kế nói chung, các quy định về diện và hàng thừa kế nói riêng phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước, phù hợp với phong tục tập quán của nhân dân và có tính tương thích với pháp luật của các nước trong khu vực và trên thế giới để đáp ứng yêu cầu hội nhập. Các vấn đề về người thừa kế, hàng thừa kế, thừa kế thế vị…được sửa đổi, bổ sung sẽ giúp cho việc giải quyết các tranh chấp được dễ dàng, giảm những sai sót đáng tiếc, bảo vệ tốt hơn quyền lợi hợp pháp của công dân. Bên cạnh đó, việc hiểu và áp dụng đúng pháp luật cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác xét xử các vụ án thừa kế. Cùng với việc sửa đổi, bổ sung pháp luật về thừa kế, cần có Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán hoặc Thông tư liên ngành để việc áp dụng pháp luật được thống nhất giữa các ngành, giữa Tòa án cấp trên với Tòa án cấp dưới, giữa các Thẩm phán khi xét xử các vụ án thừa kế.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.

Nghiên cứu về một hiện tượng xã hội hay một sự kiện pháp lý cần xem xét một cách toàn diện trong sự vận động và phát triển của các hiện tượng, sự kiện đó để tìm ra quy luật phát triển và bản chất của chúng, qua đó sẽ điều chỉnh pháp luật các quan hệ xã hội có hiệu quả.

Nghiên cứu về thừa kế, diện và hàng thừa kế theo pháp luật dưới nhiều góc độ sẽ làm rõ sự phát triển của quan hệ thừa kế có quan hệ mật thiết với phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, đặc biệt là với quan hệ sở hữu. Vai trò của chế định thừa kế là điều chỉnh các quan hệ sở hữu tài sản nhằm bảo vệ quyền thừa kế của cá nhân, củng cố quan hệ hôn nhân, gia đình và các giá trị văn hóa truyền thống.

Ở nước ta, Nhà nước là của dân, do dân và vì dân, do đó mọi hoạt động của Nhà nước đều lấy lợi ích của nhân dân làm nền tảng chủ đạo. Trong việc quản lý xã hội và điều chỉnh pháp luật, Nhà nước xuất phát từ quyền con người, lấy đó là mục đích điều chỉnh pháp luật. Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến các quyền tự do, dân chủ và các quyền dân sự, kinh tế của nhân dân. Từ việc quan tâm đó, Nhà nước đã tạo điều kiện cho nhân dân thực hiện các quyền chính trị, dân sự, kinh tế của con người. Trong các quyền kinh tế thì quyền lao động, quyền sở hữu và thừa kế tài sản của cá nhân được Nhà nước tạo các cơ hội bình đẳng để mọi người thực hiện và thỏa mãn các nhu cầu phù hợp với năng lực và khả năng của từng người.

Như vậy, quyền thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được Nhà nước bảo hộ. Tính chất đặc trưng của quyền này là sự định đoạt tài sản thuộc sở hữu của mình cho cá nhân hoặc tổ chức theo di chúc hoặc theo pháp luật. Tại các Bộ luật ở nước ta trước đây, những quy định về quyền thừa kế, diện và hàng thừa kế theo pháp luật có giá trị rất lớn trong việc góp phần điều chỉnh và ổn định các quan hệ xã hội phát sinh. Các quy định này đã có sự kế thừa, hoàn thiện và phát triển qua các thời kỳ lịch sử cùng với sự phát triển và thay đổi về kinh tế, xã hội của đất nước.

Xuất phát từ cơ sở lý luận, xã hội và những vấn đề thực tế, pháp luật dân sự nước ta xác định người tham gia các quan hệ tài sản thay vị trí của người chết trong các quan hệ tài sản chỉ có thể là người còn sống vào thời điểm cái chết của người có tài sản xảy ra. Thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự năm 2005 xác định diện thừa kế dựa trên các quan hệ: Hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng. Tuy nhiên, trong diện thừa kế không phải ai cũng được hưởng như nhau mà căn cứ vào mức độ quan hệ gần gũi pháp luật đã chia thành ba hàng thừa kế. Theo quy định, người thừa kế trước hết là cha, mẹ, vợ, chồng, con cái. Các cháu, chắt có thể được hưởng thừa kế nếu vào thời điểm mở thừa kế cha, mẹ của họ – những người có quyền hưởng thừa kế không còn sống. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản ngang bằng nhau, hàng gần loại trừ hàng xa và không thể có hai người thừa kế ở hai hàng khác nhau cùng được hưởng di sản theo pháp luật.

Có thể thấy, vấn đề xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự năm 2005 xuất phát từ quan điểm coi gia đình là tế bào của xã hội, đảm bảo quyền lợi chính đáng của mọi thành viên và sự ổn định trong gia đình. Thông qua quyền thừa kế nhằm giáo dục tinh thần, đảm bảo truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái của các thành viên trong gia đình cũng như của toàn xã hội. Luận văn: Giải pháp diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.

Về mặt kinh tế, quy định về thừa kế theo pháp luật nói chung, diện và hàng thừa kế theo pháp luật nói riêng tạo điều kiện cho mọi cá nhân yên tâm sản xuất, kinh doanh làm giàu hợp pháp cho cá nhân công dân, phù hợp với công cuộc đổi mới đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo.

Về công tác xét xử ở ngành Tòa án, việc xác định đứng đắn diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế theo pháp luật trong Bộ luật Dân sự có ý nghĩa thực tiễn to lớn, đã tạo cơ sở pháp lý cần thiết, vững chắc cho công tác xét xử dân sự về các tranh chấp về thừa kế của Tòa án kịp thời, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật.

Tuy vậy, qua thực tế giải quyết tranh chấp vẫn còn có những vướng mắc cần được sửa đổi, bổ sung để phù hợp và đáp ứng yêu cầu của đời sống xã hội. Điều đó đặt ra cho những nhà nghiên cứu lập pháp, các cơ quan chức năng phải nghiên cứu hoàn thiện, có hướng dẫn cụ thể làm căn cứ cho việc giải quyết các tranh chấp về thừa kế hiệu quả, phù hợp với đặc điểm xã hội và đạo lý của người Việt Nam. Luận văn: Giải pháp diện thừa kế và hàng thừa kế theo pháp luật.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Xác định diện thừa kế và phân chia hàng thừa kế

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *