Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho công chức

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho công chức hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ VÀ THỂ CHẾ VỀ PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÔNG CHỨC CẤP XÃ

2.1.1. Thực trạng đội ngũ công chức cấp xã

Trong bộ máy nhà nước, chính quyền và đội ngũ công chức cấp xã có vị trí, vai trò rất quan trọng, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, đưa đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống. Chính quyền và đội ngũ công chức cấp xã có nhiệm vụ xây dựng và quản lý các mặt đời sống xã hội từ kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng, tư pháp,… ở địa phương. Một Nhà nước vững mạnh thì phải có một hệ thống chính quyền và đội ngũ công chức cấp xã trong sạch, có đủ năng lực để đảm nhận được vai trò của mình.

Lý luận và thực tiễn hoạt động của Đảng ta đã chứng tỏ rằng, đối với một đảng cách mạng, đường lối và tổ chức cán bộ là hai vấn đề cốt lõi. Sau khi có đường lối đúng, đường lối đó được thể chế hóa bằng các quy định của pháp luật để đưa vào thực tiễn cuộc sống. Vấn đề đưa pháp luật vào cuộc sống như thế nào là do yếu tố cán bộ quyết định. Chính vì nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của vấn đề cán bộ mà Bác Hồ và Đảng ta đã dày công đào tạo, huấn luyện, xây dựng cho được một đội ngũ cán bộ tận tụy, kiên cường, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ qua các giai đoạn cách mạng. Cán bộ là khâu then chốt để xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân; là thành phần cơ bản để chỉ đạo, điều hành và thực hiện pháp luật. “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng” [18].

Hoạt động của cán bộ, công chức nói chung và đội ngũ công chức cấp xã nói riêng phải tuân thủ pháp luật trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đã được pháp luật quy định. Các đặc điểm của công chức cấp xã thể hiện như sau:

Thứ nhất, công chức cấp xã là đầu mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, là người đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đến người dân và trực tiếp tổ chức thực hiện, vận động nhân dân thực hiện. Công chức cấp xã vừa phải giải quyết công việc quản lý hành chính nhà nước hàng ngày, vừa phải quán triệt các nghị quyết, chỉ thị của cấp trên, lại phải nắm chắc tình hình thực tiễn ở địa phương để đề xuất các kế hoạch, chủ trương, biện pháp đúng đắn để thực hịên. Họ là người thúc đẩy phong trào và tổ chức thực hiện ở cơ sở. Thực tiễn ở cơ sở đã khẳng định: “Cán bộ nào phong trào ấy” [13, tr. 35]. Tình hình thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước tốt hay kém có một phần quan trọng là do chất lượng của đội ngũ công chức cấp xã. Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho công chức.

Công chức cấp xã hàng ngày, hàng giờ tiếp xúc với dân, trực tiếp giải quyết các công việc đa dạng, phức tạp, nóng bỏng nhất của nhân dân, trực tiếp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân và lắng nghe mọi ý kiến, nguyện vọng của nhân dân ở cơ sở, không qua một khâu trung gian nào. Là người gần dân, sát dân nhất, hàng ngày trực tiếp tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước trong cuộc sống, công chức cấp xã là người có thể phát hiện kịp thời những vấn đề vướng mắc, bất cập của chính sách, pháp luật, từ đó phản ánh, kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tiễn.

Thứ hai, công chức cấp xã là người trực tiếp tiếp xúc với nhân dân, trực tiếp tổ chức thực hiện pháp luật, vì vậy trong con mắt người dân ở cơ sở, họ chính là hiện thân thu nhỏ của Nhà nước. Nếu họ làm việc công bằng, khách quan, đúng pháp luật sẽ tạo được niềm tin của dân với Nhà nước, với pháp luật, tạo được sự thống nhất giữa ý Đảng, lòng dân.

Thứ ba, công chức cấp xã hầu hết đều là dân địa phương, họ làm ăn sinh sống tại xã, phường, thị trấn, có quan hệ dòng tộc, láng giềng thân thiết với người dân tại địa phương, có lợi ích và quan hệ gắn bó với làng xã về mọi mặt kinh tế, văn hoá, đời sống, sinh hoạt. Ở công chức cấp xã có sự kết hợp của các yếu tố: người dân, người cùng họ cùng làng, người đại diện của cộng đồng, người đại diện cho nhà nước ở địa phương. Các yếu tố này vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn, vừa xung đột nhau trong con người công chức cấp xã, chi phối các hoạt động của họ, nhất là trong việc giải quyết những vấn đề có liên quan đến mối quan hệ giữa các lợi ích cá nhân và cộng đồng. Họ vừa phải chịu nhiều sức ép từ phía người dân địa phương, đồng thời phải chịu sức ép từ yêu cầu nhiệm vụ được giao, từ cơ quan quản lý nhà nước cấp trên.

Thứ tư, trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị, kiến thức quản lý nhà nước, trình độ hiểu biết pháp luật của công chức cấp xã ở mức độ tương đối thấp so với cán bộ, công chức chính quyền cấp trên và so với yêu cầu của giai đoạn hiện nay.

Theo số liệu tổng điều tra, khảo sát, đánh giá đội ngũ cán bộ, công chức hành chính Nhà nước giai đoạn 2003 – 2005 thuộc Chương trình xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước giai đoạn I (2003 – 2005) của Bộ Nội vụ cho thấy: Tính đến năm 2005, cả nước có 81.314 công chức cấp xã, chiếm 42,25% tổng số cán bộ, công chức cấp xã, bao gồm 7 chức danh chuyên môn nghiệp vụ: Trưởng Công an xã (8.886 người, chiếm 10,93% công chức cấp xã); Chỉ huy trưởng quân sự (10.317 người, chiếm 12,69% công chức cấp xã); Văn phòng – Thống kê (13.671 người, chiếm 16,81% công chức cấp xã); Địa chính – Xây dựng (12.490 người, chiếm 15,36% công chức cấp xã); Tài chính – Kế toán (11.966 người, chiếm 14,72% công chức cấp xã); Tư pháp – Hộ tịch (11.729 người, chiếm 14,42% công chức cấp xã) và Văn hóa – Xã hội (12.255 người, chiếm 15,07% công chức cấp xã). Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho công chức.

Về trình độ văn hóa của đội ngũ công chức cấp xã: 67.426 người tốt nghiệp trung học phổ thông (chiếm 82,92%), 12.108 người tốt nghiệp trung học cơ sở (chiếm 14,89%) và vẫn còn 1.780 người tốt nghiệp tiểu học (chiếm 2,19%). Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ công chức cấp xã: 13 người có trình độ trên đại học (chiếm 0,02%), 7.298 người có trình độ cao đẳng và đại học (chiếm 8,98%), 35.563 người có trình độ trung cấp (chiếm 43,74%), 7.505 người có trình độ sơ cấp (chiễm 9,23%) và vẫn còn khá nhiều người chưa qua đào tạo (30.935 người, chiếm 38,04%).

Trong đội ngũ công chức cấp xã có 28.192 người đã qua lớp bồi dưỡng kiến thức quản lý hành chính (chiếm 25,37%) và có 44.239 người có trình độ lý luận chính trị từ sơ cấp trở lên (chiếm 54,31%), nhưng vẫn còn tới 53.122 người chưa được bồi dưỡng kiến thức quản lý hành chính (chiếm 74,63%) và 37.075 người chưa qua đào tạo trình độ lý luận chính trị (chiếm 45,59%) [1].

Trình độ các mặt trên đây của đội ngũ công chức cấp xã cũng có sự chênh lệch giữa chính quyền xã với chính quyền phường, thị trấn. Công chức chính quyền cơ sở ở thành phố có trình độ cao hơn ở nông thôn, ở đồng bằng cao hơn miền núi, vùng sâu, vùng xa, ở phường, thị trấn cao hơn ở xã. Trong những năm gần đây, công tác đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã đã được quan tâm đẩy mạnh một bước, tuy nhiên trình độ của đội ngũ công chức cấp xã vẫn còn nhiều bất cập so với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra. Hơn nữa, độ ổn định của đội ngũ công chức cấp xã không cao, thường xuyên biến động, nhất là sau các kỳ bầu cử chính quyền cấp xã. Nguồn công chức cấp xã ở các tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa rất hạn chế, vì vậy thường đội ngũ công chức cấp xã ở các nơi này không đáp ứng được yêu cầu về tiêu chuẩn, trình độ.

Với đặc điểm nêu trên, công chức cấp xã có nhiều nhiệm vụ quan trọng trong đời sống mọi mặt ở địa phương. Một trong những nhiệm vụ đó là hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho nhân dân trên địa bàn, qua hoạt động này, các đối tượng được phổ biến, giáo dục pháp luật có thể phát sinh, chi phối tư tưởng, tình cảm và hành vi pháp luật trong các mối quan hệ xã hội. Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật của công chức cấp xã góp phần quan trọng vào việc duy trì trật tự kỷ cương nhà nước, quá trình dân chủ hóa xã hội và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của nhân dân. Công chức cấp xã là lực lượng chính có nhiệm vụ tổ chức thực hiện, phổ biến, giáo dục pháp luật, bảo đảm đưa pháp luật vào cuộc sống… Những mối quan hệ cơ bản trong các hoạt động trên đạt hiệu quả hay không phụ thuộc vào trình độ hiểu biết pháp luật toàn diện, sâu sắc, có thái độ tôn trọng pháp luật, có hành vi tích cực chấp hành pháp luật của đội ngũ công chức cấp xã.

Để thực hiện nhiệm vụ trên, đòi hỏi công chức cấp xã phải có hiểu biết pháp luật. Hiểu biết pháp luật là một trong những điều kiện quan trọng để công chức cấp xã có thái độ đúng đắn đối với pháp luật, qua đó mới có thể phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng khác. Thực tế hiện nay, đội ngũ công chức cấp xã được bổ sung từ nhiều nguồn khác nhau của các ngành kinh tế, xã hội, tư pháp, an ninh quốc phòng, do đó, kiến thức quản lý hành chính nhà nước và kiến thức pháp luật chủ yếu được tích lũy qua quá trình đào tạo, bồi dưỡng và qua kinh nghiệm thực tiễn công tác. Vì vậy, sự hiểu biết pháp luật trong đội ngũ công chức cấp xã cũng có sự khác nhau, việc đánh giá phải gắn với đánh giá về chuyên môn pháp luật, trình độ văn hóa, quản lý hành chính nhà nước, chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm công tác của họ. Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho công chức.

Hiến pháp Việt Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã khẳng định nguyên tắc: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, các cơ quan nhà nước và cán bộ, công chức nhà nước phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Mọi vi phạm pháp luật đều bị xử lý theo pháp luật và bình đẳng trước pháp luật. Đặc biệt, trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa và bối cảnh nước ta hội nhập quốc tế, nhu cầu tìm hiểu pháp luật của cán bộ, công chức nói chung, công chức cấp xã nói riêng và người dân ngày càng cao. Do đặc thù hoạt động của công chức cấp xã trong thực thi nhiệm vụ, đòi hỏi đội ngũ công chức này phải cập nhật thông tin, chế độ chính sách pháp luật, thường xuyên phải nắm vững các lĩnh vực pháp luật có liên quan thiết thực tới công việc của công chức cấp xã, của nhiệm vụ mà nhà nước đã giao cho từng đối tượng công chức này, thậm chí có cả những quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, về trách nhiệm quản lý của chính quyền cơ sở….

Qua khảo sát về nhu cầu tìm hiểu pháp luật của cán bộ cơ sở do Viện Khoa học pháp lý Bộ Tư pháp thực hiện cho thấy có tới 94,5% công chức cấp xã rất cần được phổ biến, giáo dục pháp luật để xử lý các nhiệm vụ theo quy định. Số liệu này không chỉ phản ánh nhu cầu của công chức cấp xã về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật mà còn thể hiện quan điểm đúng đắn của bản thân họ trong cuộc sống và lao động xã hội. Ngoài yêu cầu giỏi về chuyên môn nghiệp vụ và hiểu biết về pháp luật chuyên ngành, mỗi công chức cấp xã còn cần những kiến thức và hiểu biết về pháp luật hành chính, dân sự, lao động, hình sự… để giải quyết công việc và tuyên truyền, phổ biến lại cho nhân dân và đối tượng khác trong phạm vi địa bàn xã. Theo kết quả khảo sát, điều tra có 99,5% công chức cấp xã có nhu cầu hiểu biết về pháp luật dân sự; 90,5% công chức cấp xã có nhu cầu hiểu biết về pháp luật hành chính; 89% công chức cấp xã có nhu cầu hiểu biết về pháp luật đất đai; 88,5% công chức cấp xã có nhu cầu hiểu biết về pháp luật hình sự; 85,5% công chức cấp xã có nhu cầu hiểu biết về pháp luật lao động; 80,5% công chức cấp xã có nhu cầu hiểu biết về pháp luật thuế; 79,6% công chức cấp xã có nhu cầu hiểu biết về pháp luật bảo vệ môi trường; 64,1% công chức cấp xã có nhu cầu hiểu biết về pháp luật kinh tế. Trong khi đó chỉ có: 36,3% công chức cấp xã có nhu cầu hiểu biết về pháp luật đầu tư nước ngoài; 37,3% công chức cấp xã có nhu cầu hiểu biết về pháp luật quốc tế.

Cũng qua khảo sát, điều tra nêu trên cho thấy: Trong mỗi đối tượng công chức cấp xã, so với yêu cầu tiêu chuẩn về trình độ thì nhu cầu hiểu biết để được phổ biến, giáo dục pháp luật về các lĩnh vực pháp luật có sự khác nhau về mức độ, nhưng họ đều có nhu cầu được trang bị những kiến thức cơ bản về pháp luật cần thiết tối thiểu phục vụ cho quá trình thực thi công vụ của các đối tượng công chức cấp xã. Đặc biệt, đội ngũ công chức cấp xã rất cần được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, nhất là tăng cường nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật và năng lực áp dụng pháp luật để có thể đáp ứng yêu cầu xử lý, giải quyết công việc được giao và đáp ứng nhu cầu của 73% nông dân có nhu cầu về giải đáp pháp luật, hướng dẫn, giải đáp thắc mắc liên quan đến đời sống, sinh hoạt, lao động hàng ngày của người dân vùng nông thôn [43].

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2.1.2. Thể chế về phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho công chức.

Trong quá trình đổi mới, nhận thấy rõ tầm quan trọng của công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra nhiều chính sách và biện pháp nhằm nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân. Những chính sách này vừa mang tính chất chung nhưng cũng có những chính sách, biện pháp trực tiếp cho công chức cấp xã. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã được Nhà nước ta thể chế hóa từng bước trong Luật Tổ chức Chính phủ và các văn bản pháp luật khác. Chỉ thị số 315/CT ngày 07 tháng 12 năm 1982 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) về một số biện pháp trước mắt để quản lý nhà nước bằng pháp luật là văn bản pháp luật có ý nghĩa quan trọng, ghi nhận việc thể chế công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Mặc dù đã được pháp luật ghi nhận và các cấp, các ngành tuy đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, những trong thực tiễn công tác này còn bị coi nhẹ, chưa đặt ngang tầm với vị trí, vai trò của nó. Các hình thức, phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật chậm được đổi mới, chưa phù hợp với nghề nghiệp, vùng miền của đối tượng, dẫn đến hiệu quả chưa cao. Nhiều địa phương còn bị động, lúng túng trong hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật; hình thức tuyên truyền chủ yếu là phổ biến văn bản pháp luật cho cấp tỉnh, cấp huyện mà hầu như chưa phổ biến, giáo dục pháp luật một cách thường xuyên cho công chức cấp xã. Thể chế công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tuy đã được hình thành nhưng chưa cụ thể, lại thiếu kiểm tra, giám sát và phối hợp, chưa có sự phối kết hợp thường xuyên giữa các cơ quan, công chức của hệ thống Tư pháp với cơ quan, đơn vị có liên quan nên hiệu quản công tác này chưa cao. Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho công chức.

Xuất phát từ thực trạng trên, những năm gần đây, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã được thực hiện theo các chương trình, kế hoạch cụ thể được Chính phủ phê duyệt. Sau khi ban hành Chỉ thị số 02/1998/CT-TTg ngày 07 tháng 01 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật trong giai đoạn hiện nay và Quyết định số 03/1998/QĐ-TTg ngày 07 tháng 01 năm 1998 về việc ban hành Kế hoạch triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 1998 đến năm 2002 và thành lập Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, công tác này đã đạt được những kết quả đáng khích lệ. Tiếp nối chương trình này, ngày 17 tháng 01 năm 2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 13/2003/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2003 đến năm 2007. Đây là những văn bản pháp luật có ý nghĩa quan trọng, khẳng định quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, làm chuyển biến nhận thức, từng bước nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, góp phần tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, quản lý xã hội bằng pháp luật trong thời kỳ đổi mới. Đây cũng là chương trình hành động của Chính phủ nhằm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và lần thứ IX, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới.

Để tiếp tục đưa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật lên một tầm cao mới, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, ngày 09 tháng 12 năm 2003, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị số 32-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân. Chỉ thị đã tạo một bước phát triển mới về nhận thức và lãnh đạo công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước, toàn dân ta trong việc nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân. Để triển khai thực hiện Chỉ thị này, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 212/2004/QĐ-TTg ngày 16 tháng 12 năm 2004 phê duyệt Chương trình hành động quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2010. Tiếp đó ngày 12 tháng 3 năm 2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2008 đến năm 2012.

Triển khai Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng, các Quyết định, Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ, các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân các cấp đã chủ động xây dựng kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật dài hạn, hàng năm và kế hoạch triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở từng thời gian cụ thể, từng đợt cao điểm. Căn cứ vào các nghị quyết của cấp uỷ Đảng, nhiệm vụ chính trị của cơ quan, tổ chức và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, nhiều Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện đã phê duyệt Chương trình, Kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật cho cả giai đoạn, hoặc kế hoạch hàng năm, hàng quý, và tuỳ thuộc nhiệm vụ cấp bách về phổ biến, giáo dục pháp luật, ban hành cả kế hoạch tháng để chỉ đạo, hướng dẫn kịp thời, sát sao việc thực hiện Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật trong phạm vi quản lý của mình. Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho công chức.

Theo quy định của pháp luật, Chính phủ thành lập Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã thành lập Hội đồng phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp ở địa phương để điều phối chung hoạt động và nâng cao chất lượng một cách toàn diện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Hội đồng phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp nêu trên là cơ quan tư vấn, giúp Chính phủ, Ủy ban nhân dân cùng cấp triển khai xây dựng các kế hoạch và thực hiện nhiệm vụ phổ biến, giáo dục pháp luật trong phạm vi thẩm quyền được giao. Hội đồng của Chính phủ do Bộ Tư pháp làm thường trực, các Hội đồng của Ủy ban nhân dân các cấp ở địa phương do cơ quan Tư pháp cùng cấp làm thường trực.

Đồng thời, để thực hiện Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2003 đến năm 2007, các Bộ, ngành được giao chủ trì 04 Đề án là Bộ Tài nguyên và Môi trường, Uỷ ban Dân tộc, Ban Tôn giáo của Chính phủ và Bộ Tư pháp đã ban hành các văn bản triển khai Đề án tương đối kịp thời, trong đó tập trung chỉ đạo, hướng dẫn nội dung, bảo đảm tiến độ thực hiện từng Đề án. Đến nay, các Đề án về cơ bản đã hoàn thành đúng yêu cầu, tiến độ. Hàng năm các cơ quan chủ trì Đề án đều tiến hành tổng kết, báo cáo kết quả gửi Bộ Tư pháp để tổng hợp báo cáo Chính phủ. Ngoài 04 Đề án của Chính phủ, một số bộ, ngành, địa phương đã chủ động xây dựng các Đề án riêng phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ và nhu cầu về pháp luật của cán bộ, nhân dân trên địa bàn như: Đề án “Đổi mới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong các học viện, nhà trường và đơn vị quân đội” (Bộ Quốc phòng); Đề án “Nâng cao nhận thức pháp luật cho cán bộ, chiến sỹ bộ đội biên phòng, tuyên truyền và phổ biến pháp luật cho nhân dân vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo” (Bộ Ngoại giao); Đề án “Nâng cao nhận thức pháp luật cho đồng bào dân tộc miền núi Thanh Hoá” và Đề án “Nâng cao nhận thức pháp luật cho cán bộ, nhân dân các xã, phường ven biển” (tỉnh Thanh Hoá); Đề án “Đem luật về làng” (huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng); Đề án “Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong cán bộ, công chức và nhân dân giai đoạn 2001-2005” (tỉnh Đắc Lắc)…

Nhìn chung, các văn bản được ban hành để chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ngày càng thường xuyên và kịp thời hơn, đã chú trọng bám sát mục tiêu, yêu cầu, mục đích phổ biến, tuyên truyền pháp luật của Chương trình và gắn công tác phổ biến, giáo dục pháp luật với nhiệm vụ chính trị cụ thể của cơ quan, đơn vị, địa phương, đặc điểm của đối tượng và đặc thù của địa bàn. Đặc biệt từ khi có Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, nhiều cấp uỷ Đảng đã ban hành Nghị quyết, Chỉ thị, Thông tri để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Ngoài ra, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản làm cơ sở quan trọng để triển khai thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã như: Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho công chức.

  • Thông báo Kết luận số 74-TB/TW ngày 11 tháng 5 năm 2007 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW;
  • Chỉ thị số 17-CT/TW ngày 15 tháng 10 năm 2007 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới;
  • Chỉ thị số 10/2002/CT-TTg ngày 19 tháng 3 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai thực hiện Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02 tháng 01 năm 2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp thời gian tới;
  • Quyết định số 212/2004/TTg ngày 16 tháng 12 năm 2004 phê duyệt Chương trình hành động quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2010;
  • Quyết định số 28/2006/QĐ-TTg ngày 28 tháng 01 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt các đề án chi tiết thuộc Chương trình hành động quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2010;
  • Nghị quyết số 61/2007/NQ-CP ngày 07 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 của Ban Bí Thư Trung ương Đảng (khoá IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân;
  • Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg ngày 12 tháng 3 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2008 đến năm 2012 với 04 Đề án trọng tâm kèm theo của Bộ Tư pháp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Giáo dục và Đào tạo.

2.2. TÌNH HÌNH PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO CÔNG CHỨC CẤP XÃ Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho công chức.

2.2.1. Chính quyền cấp xã với nhiệm vụ phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã

Theo quy định của pháp luật, chính quyền cấp xã là đơn vị hành chính thấp nhất, có chức năng bảo đảm thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương mình. Những năm gần đây, chính quyền cấp xã đã có nhiều cố gắng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho các tầng lớp nhân dân trên địa bàn, từng bước nâng cao ý thức pháp luật cho công chức cấp xã, đáp ứng một phần yêu cầu của việc tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật. Tuy nhiên, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở chính quyền địa phương vẫn chưa được tiến hành thường xuyên, liên tục, chưa huy động được sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội. Nhiều cấp ủy Đảng và chính quyền cơ sở chưa quan tâm đúng mức đến công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã, chưa có chỉ đạo cụ thể, mà phó mặc cho đội ngũ công chức này tự tổ chức thực hiện. Tình trạng thiếu sự quan tâm nêu trên diễn ra ở hầu hết các xã của các tỉnh khu vực miền núi phía Bắc, thậm chí cấp ủy Đảng và chính quyền một số xã không có văn bản chỉ đạo nào về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã trong vòng 5 năm trở lại đây [5].

Bên cạnh vai trò của cấp ủy Đảng và chính quyền cơ sở trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã, các cơ quan, đoàn thể, cơ quan thông tin đại chúng trong hệ thống chính trị của chính quyền cơ sở cũng thực hiện một số hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng của tổ chức mình và công chức cấp xã. Tuy nhiên, hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã vẫn còn những hạn chế vì việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật của các cơ quan này chủ yếu nhằm vào đối tượng do mình quản lý, tính chuyên nghiệp chưa cao, nội dung phổ biến chưa đáp ứng nhu cầu của công chức cấp xã.

2.2.2. Cơ quan và công chức chuyên trách phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho công chức.

Theo quy định của pháp luật, cơ quan chuyên trách về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được thành lập ở cấp Trung ương là Bộ Tư pháp, ở cấp tỉnh là Sở Tư pháp, ở cấp huyện là Phòng Tư pháp và ở cấp xã chính là đội ngũ công chức Tư pháp – Hộ tịch. Các cơ quan tư pháp từ Trung ương đến cơ sở có chức năng quản lý nhà nước thống nhất về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, ở cấp tỉnh và cấp huyện thì Sở Tư pháp và Phòng Tư pháp là cơ quan chuyên môn có nhiệm vụ tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp xây dựng kế hoạch và tổ chức phối hợp thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật; ở cấp xã thì công chức Tư pháp – Hộ tịch có nhiệm vụ tham mưu giúp Ủy ban nhân dân cấp xã xây dựng kế hoạch và tổ chức phối hợp thực hiện phổ biến, giáo dục pháp luật.

Đánh giá trong 10 năm qua, việc xây dựng và kiện toàn tổ chức làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã có một bước tiến đáng kể, đã hình thành, củng cố và phát triển được một hệ thống các cơ quan, tổ chức trực tiếp thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật theo hướng hoạt động chuyên nghiệp hơn. Điểm nổi bật trong kiện toàn tổ chức và củng cố nguồn nhân lực làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa phương là việc đã thành lập Phòng Phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc Sở Tư pháp. Tính đến năm 2008, tất cả các Sở Tư pháp trên phạm vi toàn quốc đều đã thành lập Phòng phổ biến, giáo dục pháp luật. Nhiều Sở, ban, ngành cấp tỉnh thành lập phòng pháp chế hoặc bố trí cán bộ pháp chế thực hiện nhiệm vụ về xây dựng pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật. Hầu hết, các đơn vị cấp huyện trong cả nước đã thành lập Phòng Tư pháp, trong đó có thực hiện chức năng, nhiệm vụ về phổ biến, giáo dục pháp luật [3].

Căn cứ chức năng, nhiệm vụ của hệ thống cơ quan chuyên môn và công chức chuyên trách làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, thời gian qua các cơ quan, công chức thực hiện nhiệm vụ này đã quan tâm tới việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà đội ngũ công chức cấp xã vẫn chưa được phổ biến, giáo dục pháp luật một cách thường xuyên, liên tục và chưa trúng những vấn đề họ cần, đặc biệt ở các xã thuộc khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện khó khăn thì tình trạng này vẫn còn diễn ra khá nhiều.

2.2.3. Đội ngũ những người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho công chức.

Nhìn một cách tổng thể, những năm gần đây, lực lượng làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã và đang dần được củng cố, kiện toàn, đồng thời có sự phát triển mạnh về số lượng và chất lượng. Sau khi có Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, lãnh đạo các cấp, các ngành đã có sự quan tâm, chỉ đạo tăng cường năng lực của đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật bằng nhiều hình thức, chủ động đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn cho đội ngũ này và xây dựng, phát triển đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục cho công chức cấp xã.

Lực lượng biên tập viên, phóng viên pháp luật ở các cơ quan báo, đài; báo cáo viên pháp luật ở các Bộ, ngành, đoàn thể trung ương tăng hơn về số lượng, số người có trình độ chuyên môn chiếm tỷ lệ cao. Một số bộ, ngành đã tổ chức được mạng lưới báo cáo viên, tuyên truyền viên pháp luật theo ngành dọc có nơi đến tận xã. Tính đến cuối tháng 12 năm 2008, cả nước có 232 báo cáo viên pháp luật trung ương, 22.342 báo cáo viên cấp tỉnh và báo cáo viên cấp huyện, 87.346 tuyên truyền viên cấp xã, 60.832 người từ các lực lượng khác tham gia công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Ở địa phương, 63/63 Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thành lập Phòng phổ biến, giáo dục pháp luật với 263 cán bộ chuyên trách. Phòng Tư pháp cấp huyện với hơn 2.400 cán bộ đã góp phần tăng thêm năng lực cho đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở địa phương. Công chức Tư pháp – Hộ tịch và các công chức khác của xã, phường, thị trấn cũng là lực lượng đông đảo tham gia công tác này [5].

Các lực lượng nói trên đã phát huy được sức mạnh tổng hợp trong phổ biến, giáo dục pháp luật những năm gần đây, theo đúng tinh thần Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, đã có đóng góp đáng kể cho công tác đưa pháp luật vào cuộc sống, tạo chuyển biến rõ nét trong việc nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các thành viên trong xã hội nói chung và công chức cấp xã nói riêng.

2.2.4. Cơ sở vật chất và việc sử dụng các nguồn lực cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã

Cơ sở vật chất, đầu tư kinh phí cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã chủ yếu do ngân sách nhà nước cấp. Chương trình hành động của ngành Tư pháp giai đoạn 2002 – 2007 được Bộ trưởng Bộ Tư pháp phê duyệt tại Quyết định số 584/2002/QĐ-BTP đã đề cập đến việc xây dựng Quỹ phổ biến, giáo dục pháp luật ở Bộ Tư pháp và các cơ quan Tư pháp địa phương. Đặc biệt từ khi Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá IX) ban hành Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09 tháng 12 năm 2003 và các Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ, việc đầu tư nguồn lực về bộ máy, cán bộ và kinh phí cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được tăng cường. Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho công chức.

Triển khai Thông tư số 63/2005/TT-BTC ngày 05 tháng 8 năm 2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn việc quản lý và sử dụng kinh phí bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, các bộ, ngành, các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đều bố trí kinh phí cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong kế hoạch ngân sách hàng năm của mình. Việc ban hành Thông tư số 63/2005/TT-BTC nêu trên đã tạo điều kiện thuận lợi cho các bộ, ngành, địa phương chủ động trong việc bố trí ngân sách hàng năm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và hầu hết các huyện đều phê duyệt kinh phí theo kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật. Ngoài khoản ngân sách Nhà nước cấp cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật, có nơi còn nhận được hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân, dự án; huy động được sự đóng góp từ phía doanh nghiệp, cá nhân trong nước và nước ngoài.

Tuy nhiên, đối với xã, phường, thị trấn, thì kinh phí phổ biến, giáo dục pháp luật ở nhiều nơi còn rất khó khăn. Cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật và kinh phí dành cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật đối với công chức cấp xã còn chưa thỏa đáng, cơ chế cấp kinh phí phải thực hiện qua nhiều bước, không kịp thời, chưa đáp ứng được yêu cầu phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng này. Thậm chí hầu hết các địa phương thuộc khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa vẫn còn gặp khó khăn trong việc tìm nguồn kinh phí cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật đối với công chức cấp xã, nhất là trong việc in ấn, cấp phát tài liệu, đầu tư trang thiết bị. Kinh phí dành cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đối với công chức cấp xã thường chỉ sử dụng trong phạm vi hạn mức kinh phí của các cơ quan chuyên trách phổ biến, giáo dục pháp luật, còn một phần bổ sung khác do sự điều tiết của Ủy ban nhân dân các cấp ở địa phương. Chính những hạn chế về cơ sở vật chất nêu trên dẫn đến đối tượng thụ hưởng trong phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã vẫn còn nhiều hạn chế.

2.2.5. Cơ chế phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã

Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là nhiệm vụ của các cơ quan tư pháp, các cơ quan tuyên truyền và các cơ quan trong hệ thống chính trị nước ta. Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật được triển khai rộng khắp dựa trên cơ chế phối hợp thông qua hoạt động của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp. Hoạt động theo mô hình và cơ chế này, lần đầu tiên, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đã huy động được sự tham gia đông đảo của các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể; phát huy được tính xã hội hoá, thu hút được nhiều nguồn lực trong xã hội tham gia. Sự tồn tại của Hội đồng cùng hiệu quả hoạt động của nó đã và đang được khẳng định. Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho công chức.

Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ ngày càng được kiện toàn, củng cố. Thành viên tham gia Hội đồng đã chủ động và tích cực hơn trong công tác phối hợp. Quy chế hoạt động của Hội đồng được xây dựng và sửa đổi, bổ sung đảm bảo phát huy hiệu quả hoạt động của Hội đồng. Trước đòi hỏi mới của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nhiều Bộ, ngành ở Trung ương đã thành lập Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Tại địa phương, đến nay có 63/63 Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cấp tỉnh đã được củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng hoạt động. Gần 100% huyện, quận, thị xã cũng đã thành lập Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và hoạt động nề nếp, thường xuyên hơn. Đặc biệt, ở các tỉnh đều đã thành lập Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tới cấp xã. Việc thành lập và đi vào hoạt động của các Hội đồng phổ biến, giáo dục pháp luật ở địa phương đều căn cứ vào quy chế, thành phần và tổ chức các phiên họp triển khai công việc (hàng tháng, hàng quý, hàng năm). Hoạt động của Hội đồng dựa trên kế hoạch công tác được xây dựng theo hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền cấp trên, trong đó có sự phân công rõ trách nhiệm của các thành viên, thậm chí có địa phương nhiều cơ quan thành viên ký các kế hoạch liên tịch và phối hợp tổ chức thực hiện có hiệu quả. Hội đồng phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp thực hiện chức năng tham mưu, giúp cơ quan có thẩm quyền xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật. Với việc thành lập Hội đồng, lần đầu tiên chúng ta đã xây dựng được một cơ chế phối hợp chính thức, thường xuyên, có sự phân công rõ nhiệm vụ với sự tham gia của các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.

Nhìn chung, Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp đang dần được kiện toàn, củng cố, ngày càng nâng cao tính chủ động và bước đầu thực hiện tốt nhiệm vụ tham mưu trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung và công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã nói riêng. Trách nhiệm của từng thành viên Hội đồng cũng như sự phối hợp giữa các thành viên trong việc đề xuất các giải pháp đổi mới phương thức hoạt động của Hội đồng, phương thức tổ chức hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật được đề cao. Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn còn một số Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở một số nơi, một số cấp vẫn còn nhiều bất cập, “hoạt động của Hội đồng phối hợp ở một số địa phương, bộ, ngành còn mang tính hình thức, do vậy, hiệu lực của Hội đồng chưa cao, hiệu quả của các hoạt động phối hợp chưa đạt được yêu cầu đặt ra” [42].

2.2.6. Nội dung, hình thức và phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã

Công chức cấp xã vừa có đặc điểm của công chức Việt Nam nói chung, nhưng lại có những đặc điểm riêng về văn hóa, trình độ chuyên môn, vị trí, vai trò và ảnh hưởng… Những đặc thù của đối tượng này đòi hỏi chủ thể phải lựa chọn được những nội dung, hình thức và phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật tương ứng phù hợp. Đây là yếu tố quyết định hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng này. Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho công chức.

Về nội dung: Những năm qua, việc định hướng nội dung pháp luật cần phổ biến, giáo dục cho công chức cấp xã đã bám sát các chủ trương, chính sách lớn của Đảng trong phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội, hội nhập kinh tế quốc tế và phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ chính trị của ngành và chính quyền cơ sở. Từ đó các cấp, các ngành đã tập trung vào những quy định pháp luật gắn liền với các chủ trương, chính sách nói trên, lấy tiêu chí đặc điểm địa bàn và đối tượng tuyên truyền làm cơ sở để xây dựng và triển khai kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật, gắn công tác phổ biến, giáo dục pháp luật với thực tiễn chấp hành pháp luật. Tuỳ theo yêu cầu của từng giai đoạn cụ thể và căn cứ vào nhu cầu thực tế của công chức cấp xã, trong thời gian qua, hàng ngàn văn bản pháp luật quan trọng, liên quan đến nhiệm vụ của công chức cấp xã đã được phổ biến, giáo dục pháp luật như các quy định pháp luật về dân sự, kinh tế (Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Doanh nghiệp…); về quyền dân chủ của công dân (Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Quy chế dân chủ ở cơ sở…); về an ninh, trật tự (Bộ luật Hình sự, các quy định pháp luật về trật tự an toàn giao thông, Luật Biên giới quốc gia, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính, Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm…); về hội nhập kinh tế quốc tế (Luật Đầu tư, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, các quy định liên quan đến việc Việt Nam gia nhập WTO…); về văn hoá – xã hội (Luật Giáo dục, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật Khoa học và công nghệ, Pháp lệnh Người cao tuổi, Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo…).

Theo tinh thần Chỉ thị số 32-CT/TW của Ban Bí thư và Nghị định số 122/2004/NĐ-CP của Chính phủ, các bộ, ngành chủ trì dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đã đảm nhận trách nhiệm chính trong việc phổ biến và thực hiện văn bản pháp luật đó cho cán bộ, công chức của bộ, ngành mình; đồng thời phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp, các đoàn thể ở Trung ương và chính quyền các cấp triển khai phổ biến đến cán bộ và nhân dân, trong đó có đội ngũ công chức cấp xã.

Căn cứ vào nhiệm vụ chính trị và tình hình cụ thể, các địa phương đã triển khai phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương, của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân địa phương phù hợp với từng đối tượng công chức cấp xã; lựa chọn nội dung pháp luật để tuyên truyền, phổ biến căn cứ vào hoàn cảnh cụ thể của địa phương mình. Các tỉnh biên giới tuyên truyền Luật Biên giới quốc gia; các tỉnh miền núi tập trung triển khai Luật Bảo vệ và phát triển rừng; các tỉnh có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất quan tâm phổ biến pháp luật lao động và giải quyết tranh chấp lao động… Nhiều địa phương đã chú ý hơn đến việc tuyên truyền, phổ biến các nội dung pháp luật có ý nghĩa trong các đợt cao điểm diễn ra sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa quan trọng (bầu cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, các lễ hội lớn, hội nghị quốc tế lớn diễn ra tại Việt Nam…). Bên cạnh đó, việc lồng ghép nội dung pháp luật với quy ước, hương ước, luật tục tiến bộ cũng được nhiều địa phương coi trọng.

Về hình thức và phương pháp: Được sự chỉ đạo trong các văn bản của Đảng và Nhà nước, pháp luật đã được đưa tới công chức cấp xã thông qua nhiều hình thức. Để đảm bảo hiệu quả cao khi tuyên truyền pháp luật, các ngành, các cấp đều có sự lựa chọn các hình thức phù hợp với một hoặc một số đối tượng nhất định của công chức cấp xã. Các hình thức, biện pháp tuyên truyền truyền thống tiếp tục được vận dụng sáng tạo bên cạnh các hình thức tuyên truyền mới.

Tuyên truyền miệng được sử dụng như một hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật chính, gắn bó chặt chẽ với nhiều hình thức tuyên truyền khác và là một bộ phận không thể thiếu, không thể tách rời trong tổng thể các hình thức tuyên truyền pháp luật. Đây là hình thức tuyên truyền chiếm ưu thế, hiện được tất cả bộ, ngành, địa phương sử dụng thường xuyên thông qua việc học pháp luật, hội nghị, hội thảo, toạ đàm, các lớp tập huấn và một số hoạt động khác cho công chức cấp xã. Trong nhiều hội nghị, hội thảo, toạ đàm, lớp tập huấn cho công chức cấp xã đã tăng cường thảo luận, trao đổi, đối thoại để nắm bắt vướng mắc, nhu cầu của người nghe và giải đáp đúng những vấn đề mà họ yêu cầu. Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho công chức.

Các bộ, ngành, địa phương trong thời gian qua đã thực hiện tuyên truyền miệng cho công chức cấp xã theo hướng tăng cường trao đổi, đối thoại; chủ thể tuyên truyền đã tạo sự hấp dẫn, gây ấn tượng khi nói, sử dụng phương pháp thuyết phục trong tuyên truyền, đồng thời nắm vững đối tượng được tuyên truyền (về thành phần, trình độ, tâm lý) và nắm vững những vấn đề liên quan tới lĩnh vực văn bản điều chỉnh. Do vậy, trong thời gian qua, hiệu quả tuyên truyền miệng đã được khẳng định.

Việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã thông qua hệ thống thông tin đại chúng ngày càng được phát huy như một hình thức đang giữ nhiều ưu thế. Nhận thức được lợi thế của hình thức này trong giai đoạn hiện nay là phổ cập, nhanh chóng, kịp thời, rộng khắp, hấp dẫn và có đông đảo bạn đọc, khán thính giả trong nước và nước ngoài, do đó, các bộ, ngành, địa phương đã tiếp tục duy trì và đẩy mạnh phổ biến, giáo dục pháp luật qua các kênh của Đài phát thanh và truyền hình Trung ương và địa phương cho mọi tầng lớp cán bộ, nhân dân, trong đó có công chức cấp xã. Các chuyên trang, chuyên mục trên các loại hình báo chí được củng cố và cải tiến, tăng về số lượng, cách trình bày hấp dẫn dưới nhiều hình thức (hỏi đáp, tình huống, tiểu phẩm, phóng sự, giới thiệu văn bản, nghiên cứu trao đổi…) và nội dung có ý nghĩa, thiết thực (“An toàn giao thông”, “pháp luật và đời sống”, “trả lời thư bạn đọc” “Truyền thanh pháp luật”, “Văn bản mới”, “chuyên mục phát bằng tiếng dân tộc”, “tư vấn pháp luật”, nêu gương người tốt việc tốt…). Việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật lưu động cho công chức cấp xã thông qua đội phát thanh, đội chiếu phim lưu động đã phát huy được hiệu quả đối với những vùng, miền có nhiều khó khăn, vùng sâu, vùng xa. Nhiều xã, phường, thị trấn đã thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức và nhân dân trên địa bàn thông qua hệ thống loa truyền thanh ở cơ sở.

Bên cạnh việc tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã, các báo đài đã tập trung phản ánh những vấn đề thực tế bức xúc của cuộc sống có liên quan đến pháp luật như: đất đai, xây dựng, thuế, an toàn giao thông, an toàn vệ sinh thực phẩm, vấn đề tiết kiệm, chống lãng phí, phòng chống tham nhũng, phòng chống tệ nạn xã hội, hội nhập kinh tế quốc tế… Thông qua đó phát hiện, kiến nghị với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền những bất cập trong thực tiễn áp dụng pháp luật, những vấn đề còn bỏ ngỏ, thiếu sự điều chỉnh của pháp luật, góp phần hoàn thiện và tăng cường hiệu lực thi hành của pháp luật.

Tài liệu tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã đã được biên soạn theo hướng phù hợp với nhu cầu của từng đối tượng, địa bàn, đáp ứng tính thời sự và yêu cầu phổ biến, giáo dục pháp luật trong từng giai đoạn. Ngoài sách hỏi đáp, sách chuyên đề, sổ tay pháp luật, sách nghiệp vụ, tờ gấp, đề cương giới thiệu luật, sách song ngữ Việt – Anh, tiếng Việt – tiếng dân tộc, còn có các loại tài liệu khác như băng tiếng, băng hình, trong đó thu băng các cuộc nói chuyện về pháp luật, xây dựng phóng sự, tiểu phẩm pháp luật, tình huống pháp luật, phim về đề tài pháp luật. Các loại bản tin (Tin hoạt động, Tin nội bộ, Tin tư pháp…) được xuất bản và phát hành định kỳ đã chú trọng gắn hoạt động của cá ngành với việc giới thiệu văn bản mới, câu chuyện pháp luật, gương điển hình về chấp hành pháp luật cho công chức cấp xã.

Các cuộc thi tìm hiểu pháp luật cho công chức cấp xã diễn ra sôi nổi và ngày càng được đổi mới về cách thức tổ chức. Trong các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật, thi tìm hiểu pháp luật là một trong những hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật hấp dẫn, có hiệu quả cao, được sử dụng nhiều bởi ưu thế dễ dàng mở rộng phạm vi đối tượng tuyên truyền và đáp ứng được yêu cầu phổ cập pháp luật của công chức cấp xã. Bên cạnh đó, thi tìm hiểu pháp luật phát huy được tính tích cực, chủ động của công chức cấp xã và giúp họ nhận thức sâu sắc hơn nội dung pháp luật cần tìm hiểu, từ đó nâng cao ý thức pháp luật cho họ. Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho công chức.

Ngoài thi viết truyền thống, có nơi tổ chức thi trắc nghiệm, thi vấn đáp, thi sân khấu hoá, hái hoa dân chủ, thi theo chủ đề có nội dung liên quan tới nghề nghiệp, công việc của đối tượng dự thi như: “Hòa giải viên giỏi”, “Hộ tịch viên giỏi”, “Tuyên truyền viên pháp luật giỏi”, “Công chức Tư pháp Hộ tịch giỏi”…; nhiều bộ, ngành, địa phương chủ động tổ chức thi tìm hiểu các quy định pháp luật liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ của công chức cấp xã theo nhu cầu của từng nhóm đối tượng cụ thể. Các cuộc giao lưu văn hoá, văn nghệ lồng ghép nội dung thi pháp luật được tổ chức thường xuyên giúp công chức cấp xã nắm bắt pháp luật thuận tiện, kịp thời.

Quản lý, sử dụng và khai thác tủ sách pháp luật, một hình thức phản ánh sự nỗ lực của các cấp ủy, chính quyền, cơ quan tư pháp, các ban ngành liên quan trong việc đưa pháp luật đến gần dân hơn. Theo báo cáo của 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi về Bộ Tư pháp, đến hết tháng 8 năm 2008, 100% các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đều đã triển khai xây dựng tủ sách pháp luật. Hiện cả nước có 11.263 tủ sách pháp luật xã/10.999 xã, phường, thị trấn, trong đó có 51/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đã xây dựng tủ sách pháp luật đến 100% đơn vị cấp xã. Nhìn chung, trong thời gian qua tủ sách pháp luật cấp xã đã trở thành chỗ dựa, là công cụ để công chức cấp xã tra cứu, tìm hiểu pháp luật, phục vụ công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và các hoạt động điều hành, quản lý của hệ thống chính trị cơ sở, từng bước mở rộng phục vụ nhu cầu tiếp cận pháp luật của nhân dân, góp phần nâng cao hiểu biết, ý thức sống và làm việc theo pháp luật, phát huy dân chủ, tăng cường giám sát việc thực hiện chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở cơ sở [4].

Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và các biện pháp khác trong tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã đã được quan tâm chỉ đạo sát sao hơn. Các bộ, cơ quan ngang bộ đã kết nối mạng Internet, xây dựng Website, sử dụng mạng LAN trong phổ biến, giáo dục pháp luật, có có chuyên trang riêng về phổ biến, giáo dục pháp luật trên Cổng thông tin điện tử (Bộ Tư pháp), đưa văn bản pháp luật mới ban hành trên mạng thông tin điện tử bằng tiếng nước ngoài (Thông tấn xã Việt Nam), xây dựng phần mềm giao lưu trực tuyến (Bộ Tài nguyên và Môi trường), thông qua mạng misten trong nội bộ Quân đội (Bộ Quốc, phòng)… 100% Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đã nối mạng tin học diện rộng của Chính phủ, mạng Internet, nhiều huyện, xã đã ứng dụng Internet trong phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng trang chuyên đề về phổ biến, giáo dục pháp luật (Sở Tư pháp Lạng Sơn), có huyện đã xây dựng hệ thống cung cấp văn bản pháp luật qua mạng Internet ở tất cả các xã (Thái Bình) [5]. Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho công chức.

2.3. NHỮNG HẠN CHẾ, TỒN TẠI VÀ NGUYÊN NHÂN

2.3.1. Những hạn chế, tồn tại

Về nhận thức của các cấp, các ngành: Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở một số nơi chưa được quan tâm thực sự. Mặc dù Chỉ thị số 32-CT/TW đã xác định rõ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là bộ phận quan trọng của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là trách nhiệm của các ngành, các cấp nhưng đến nay việc chỉ đạo, lãnh đạo công tác này của cấp uỷ và chính quyền một số nơi chưa sát sao, chưa gắn kết chặt chẽ hoạt động chuyên môn với tuyên truyền, phổ biến pháp luật.

Hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật ở nhiều Bộ, ngành mới chủ yếu tập trung vào việc tổ chức hội nghị giới thiệu văn bản trong nội bộ cơ quan mà chưa có sự hướng dẫn, chỉ đạo theo ngành dọc cho công chức cấp xã. Một số bộ, ngành ở Trung ương và các sở ban, ngành địa phương chưa hoàn toàn coi công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã cũng là nhiệm vụ chính trị, công tác chuyên môn của mình, thiếu sự phối hợp chặt chẽ với các cơ quan hữu quan trong công tác này.

Về tổ chức công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã: Xét về tổng thể, hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trong thời gian qua ở một số bộ, ngành, địa phương vẫn còn mang tính thời sự, phong trào, chưa đi sâu phân tích, giải thích một cách cụ thể những nội dung chủ yếu công chức cấp xã cần tìm hiểu, chưa xuất phát từ nhu cầu bức xúc của đối tượng này và chưa mang tính giải đáp pháp luật từ những vụ việc thực tế. Mặt khác, việc phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay thường tập trung vào các bộ luật, luật, pháp lệnh, chưa chú trọng tuyên truyền các văn bản dưới luật. Đồng thời, phần văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương ban hành, liên quan trực tiếp với từng địa phương cũng chưa được quan tâm phổ biến.

Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã tuy có nhiều đổi mới song vẫn chưa theo kịp tình hình thực tiễn, nhất là cấp cơ sở.

Một số nơi còn nặng về hình thức, chưa chú trọng tới hiệu quả. Tuyên truyền miệng là hình thức chủ đạo song phương pháp vẫn chưa thực sự được đổi mới; phần trao đổi, giải đáp pháp luật, thông tin hai chiều chưa thực hiện được nhiều. Thời lượng và chất lượng phổ biến, giáo dục pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng, việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã nhìn chung chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới. Tài liệu pháp luật tuy đã được biên soạn dưới nhiều hình thức khác nhau nhưng số lượng phát hành còn hạn chế nên chưa đáp ứng được nhu cầu tìm hiểu pháp luật của công chức cấp xã. Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho công chức.

Một số hình thức, biện pháp truyền thống có ưu thế chưa được phát huy tối đa. Các biện pháp và hình thức tuyên truyền mới (điều tra thăm dò dư luận xã hội, ký cam kết không vi phạm pháp luật, Ngày pháp luật, tuyên truyền qua tổ cán bộ nòng cốt, định kỳ phổ biến, giáo dục pháp luật tại thôn, làng, bản, tổ dân phố…) chưa được tổng kết, đánh giá thường xuyên để hướng dẫn nhân rộng. Một số địa phương còn thiếu linh hoạt trong lựa chọn hình thức, biện pháp tuyên truyền phù hợp với trình độ của công chức cấp xã được tuyên truyền và đặc thù của địa bàn.

Nguồn nhân lực hiện có của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã còn nhiều điểm bất cập, chưa ngang tầm nhiệm vụ và đáp ứng được đòi hỏi mới của xã hội và đất nước. Đa số những người làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật tuy được đào tạo chuyên môn về pháp luật hoặc một chuyên ngành khác nhưng chưa được đào tạo bài bản về nghiệp vụ, kỹ năng phổ biến, giáo dục pháp luật và tổ chức thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Lực lượng làm công tác này tuy đông về số lượng nhưng lại phân tán; số người chuyên trách không nhiều, chủ yếu là những người làm kiêm nhiệm; tính chuyên nghiệp trong phổ biến, giáo dục pháp luật của công chức chuyên trách làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn yếu. Bên cạnh đó, thiếu một cơ chế đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch lâu dài nguồn nhân lực cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật đối với công chức cấp xã. Nguồn lực đầu tư cho công tác này chưa tương xứng với yêu cầu, sự đầu tư của Nhà nước chưa đáp ứng được thực tiễn của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, chưa tạo ra cơ chế tốt để thu hút các nguồn lực xã hội tham gia công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã.

Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp chưa thực sự tạo được bước đột phá, tạo cơ chế hữu hiệu để các cấp, các ngành có chương trình hoạt động cụ thể, biến nhận thức về tầm quan trọng của công tác này thành hoạt động thiết thực nhằm đẩy mạnh hơn nữa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã. Hoạt động của Hội đồng chưa nhạy bén, chưa theo sát được yêu cầu, đòi hỏi của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong từng thời kỳ. Trong hoạt động còn thiếu sự gắn kết chặt chẽ giữa các Ban và giữa các thành viên Hội đồng. Hội đồng của một số Bộ, ngành, địa phương hoạt động còn mang tính hình thức, chưa thực sự phát huy được vai trò phối hợp để thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã. Trách nhiệm của từng ban, từng thành viên chưa được phát huy một cách đồng đều, một số thành viên còn thiếu tính tích cực, chủ động trong triển khai các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật.

Về hệ thống pháp luật: Trong thời gian qua, hệ thống pháp luật đã không ngừng phát triển và hoàn thiện, thể chế hóa kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công chức cấp xã và chính quyền cơ sở, góp phần vào việc ổn định xã hội, tăng trưởng kinh tế và quan trọng hơn là tạo tiền đề cho việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật. Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho công chức.

Tuy vậy, hệ thống pháp luật hiện hành vẫn còn nhiều hạn chế. Số lượng các văn bản pháp luật đồ sộ, tồn tại ở quá nhiều lĩnh vực khác nhau; một số văn bản còn mâu thuẫn, chồng chéo, thiếu minh bạch, thiếu tính khả thi; tính ổn định của hệ thống quy phạm pháp luật còn yếu. Sự hạn chế này của hệ thống pháp luật đã làm giảm hiệu lực của pháp luật trong cuộc sống, ảnh hưởng không nhỏ tới công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã và thực thi pháp luật của đội ngũ công chức này.

Về tổ chức thực hiện pháp luật: Việc tổ chức thực hiện pháp luật của công chức cấp xã nhiều nơi còn thiếu chặt chẽ. Ở một số không ít công chức cấp xã có nhận thức pháp luật chưa đi đôi với hành động. Một số người lợi dụng kẽ hở của luật pháp để tổ chức các hoạt động nhằm trục lợi cá nhân. Bên cạnh đó, việc xử lý một số vụ việc vi phạm pháp luật, đặc biệt là một số vụ việc liên quan đến công chức cấp xã không nghiêm minh, thiếu chính xác đã ảnh hưởng không nhỏ đến niềm tin của nhân dân đối với những gì được tuyên truyền, phổ biến về bản chất, vai trò và các giá trị của pháp luật.

Về nguồn lực đầu tư cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật: Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc dành cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho công chức cấp xã chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ, nhất là ở những địa phương có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn. Do chưa có cơ sở pháp lý rõ ràng và đủ mạnh nên địa phương nào quan tâm đến công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thì dự trù hoặc cấp kinh phí phù hợp cho công tác này và ngược lại, dẫn đến sự không đồng đều trong mặt bằng phổ biến, giáo dục pháp luật ở các bộ, ngành, địa phương.

2.3.2. Nguyên nhân

Thứ nhất, nguyên nhân cơ bản của những khó khăn, hạn chế hiện nay của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là thể chế của công tác này chưa hoàn thiện.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về phổ biến, giáo dục pháp luật còn tản mạn, chưa đồng bộ, chưa có văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao như Luật hay Nghị quyết của Quốc hội nên việc triển khai phổ biến, giáo dục pháp luật gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong việc xác định và phân công trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương; chưa có các quy định rõ ràng về trách nhiệm của các cơ quan, ban ngành trong việc phổ biến, tuyên truyền các đạo luật hoặc văn bản pháp luật cụ thể dẫn đến cơ chế phối hợp và chịu trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong công tác này còn nhiều bất cập, đôi khi có sự chồng chéo hoặc ngược lại tồn tại những “khoảng trống” trong phổ biến, giáo dục pháp luật nhưng chưa có biện pháp hiệu quả để khắc phục; việc huy động nguồn lực tạo điều kiện cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chưa được tiến hành một cách đồng bộ, rộng khắp. Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho công chức.

Thứ hai, nhận thức của một số cấp uỷ Đảng, chính quyền, bộ, ngành, địa phương và nhận thức chung của xã hội về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chưa thực sự đầy đủ và chưa tương xứng với vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác này. Hoặc tuy nhận thức được đây là nhiệm vụ rất quan trọng nhưng lại cho rằng là nhiệm vụ lâu dài, không cấp bách nên ít quan tâm chỉ đạo, phó thác cho cơ quan Tư pháp hay cơ quan chuyên môn khác.

Thứ ba, công tác tham mưu của cơ quan Tư pháp và cơ quan chuyên môn cho cấp ủy, chính quyền nhiều khi chưa chủ động, chưa thường xuyên, kịp thời, có nơi công tác này chỉ giao cho cơ quan Tư pháp thực hiện. Việc kiện toàn tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế phối hợp để giáo dục pháp luật chậm được đổi mới.

Thứ tư, Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật các cấp hoạt động theo cơ chế phối hợp, các thành viên làm việc kiêm nhiệm nên không thể dành nhiều thời gian đầu tư cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Phần lớn thành viên tham gia Hội đồng phối hợp các cấp giữ vị trí lãnh đạo ở bộ, ngành, địa phương phải đảm trách nhiều công việc nên sự chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra, hướng dẫn và phối hợp chưa thật đều. Công tác tham mưu của cơ quan Tư pháp và cơ quan chuyên môn khác đối với Hội đồng cũng còn hạn chế.

Thứ năm, đội ngũ cán bộ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cả nước tuy số lượng đông nhưng trình độ không đồng đều. Chất lượng của đội ngũ cán bộ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật còn thấp, nhất là cán bộ cơ sở. Số cán bộ có trình độ chuyên môn về pháp luật, nhất là pháp luật chuyên ngành còn ít; cán bộ có kinh nghiệm và nghiệp vụ tập trung chủ yếu tại các thành phố lớn. Do đội ngũ cán bộ này hoạt động bán chuyên trách, lại chưa có cơ chế rõ ràng trong việc quản lý, sử dụng, nên trong thực tế hiệu quả hoạt động chưa cao.

Thứ sáu, việc ban hành quá nhiều văn bản pháp luật cũng như các chương trình, kế hoạch của nhà nước cần triển khai, thực hiện cùng một thời điểm, trong khi điều kiện nhân lực, vật lực có hạn. Hệ thống pháp luật nước ta chưa đồng bộ, tính khả thi thấp, chậm đi vào cuộc sống, chất lượng các văn bản luật chưa cao, số lượng các văn bản pháp luật của Nhà nước ban hành ngày càng nhiều, lại thường xuyên sửa đổi, bổ sung… do vậy đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc triển khai công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Luận văn: Thực trạng phổ biến giáo dục pháp luật cho công chức.

Thứ bảy, cơ sở vật chất, phương tiện làm việc dành cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chưa đáp ứng được yêu cầu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa hoặc những địa bàn khó khăn. Chế độ, chính sách cho báo cáo viên, tuyên truyền viên còn thiếu, chưa thực sự khuyến khích và phát huy được tiềm năng của đội ngũ làm công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp phổ biến giáo dục pháp luật cho công chức

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *