Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong, tỉnh Thanh Hóa dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết
Trước yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vi nhân dân, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ và nhân dân cần được tăng cường thường xuyên, liên tục và ở tầm cao hơn nhằm tạo sự chuyển biến căn bản về ý thức tôn trọng pháp luật và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân. Xác định rõ phổ biến, giáo dục pháp luật là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Trong các hoạt động giáo dục pháp luật thì hoạt động giáo dục pháp luật có tính chất khó khăn, gian khổ, phức tạp nhất và cũng là hoạt động có ý nghĩa quan trọng về chính trị, pháp lý, kinh tế, xã hội và mang tính nhân văn sâu sắc nhất thể hiện bản chất truyền thống của nhà nước Việt Nam đó chính là hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân. Giáo dục pháp luật cho phạm nhân vừa có ý nghĩa quan trọng trong việc phòng ngừa, giáo dục phạm nhân sau khi chấp hành án xong không tái phạm tội, vi phạm pháp luật, trở thành con người lương thiện, có ích cho xã hội và giúp đỡ họ tái hòa nhập cộng đồng. Giáo dục pháp luật cho phạm nhân còn là hoạt động để bảo đảm thực hiện các quyền con người, quyền công dân; trách nhiệm của Nhà nước và công dân. Luận văn: Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong.
Hiện nay, theo báo cáo tổng kết của Trại giam Thanh Phong những năm gần đây, số lượng phạm nhân vào trại giam chấp hành án trong các trại giam ngày càng gia tăng về cả số lượng, cũng như tính chất, mức độ nguy hiểm gây ra nhiều khó khăn trong công tác quản lý, giam giữ.
Đặc biệt là công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân. Công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam ở Việt Nam trong những năm qua đã đạt được những kết quả quan trọng, giúp phạm nhân nhận thức được lỗi lầm, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội mà mình gây ra và hình thành, củng cố ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật trong và sau khi chấp hành án phạt tù trở về với xã hội. Tuy nhiên, công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân cũng còn bộc lộ những hạn chế, khó khăn, vướng mắc nhất định, như vẫn còn hiện tượng phạm nhân trốn trại; phạm nhân vi phạm nội quy, quy chế trại giam; phạm nhân thực hiện hành vi phạm tội trong trại giam; vẫn còn nhiều phạm nhân phạm tội mới sau khi mãn hạn chấp hành án phạt tù.
Từ những lý do trên, em cho rằng việc nghiên cứu hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân là một đòi hỏi cấp thiết, có ý nghĩa về lý luận, thực tiễn và chính trị, nhân đạo sâu sắc.
Vì vậy, trong khuôn khổ của một luận văn, em đã chọn đề tài: “Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong, tỉnh Thanh Hóa” để làm luận văn thạc sĩ luật học.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu
Giáo dục pháp luật là một trong những nội dung quan trọng của khoa học Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật, đã được nhiều nhà khoa học, tác giả quan tâm nghiên cứu thể hiện ở những đề tài khoa học, các sách chuyên khảo, giáo trình, các bài báo khoa học đã được công bố; đồng thời là đề tài nghiên cứu của rất nhiều Luận án tiến sĩ, Luận văn thạc sĩ luật học. Căn cứ vào tên đề tài và nội dung của các công trình, bài viết liên quan đến vấn đề giáo dục pháp luật có thể phân loại các tài liệu đó thành các nhóm vấn đề sau: Nhóm nghiên cứu giáo dục pháp luật cho một nhóm đối tượng xã hội cụ thể như: Giáo dục pháp luật cho Phụ nữ; Thanh thiếu niên; Cán bộ, công chức; Người dân tộc thiểu số; Người khuyết tật, nhóm người yếu thế; Sinh viên, học sinh… v.v; Luận văn: Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong.
Nhóm nghiên cứu giáo dục pháp luật trên một phạm vi, địa điểm nghiên cứu như: Trên địa bàn cấp chính quyền một Tỉnh, một huyện; Trong một cơ quan của bộ máy nhà nước; Trong một hay nhiều trường Đại học, Cao Đẳng, Trung cấp, Trung học phổ thông, Trung học cơ sở…v.v;
Nhóm nghiên cứu giáo dục pháp luật kết hợp giữa nhóm đối tượng và phạm vi, địa điểm cụ thể như: Giáo dục pháp luật cho cán bộ, công chức trên địa bàn thành phố Hà Nội; Phổ biến, giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Nghệ An… v.v. Những công trình nghiên cứu lý luận về chủ đề giáo dục pháp luật cho từng nhóm đối tượng xã hội cụ thể và tại từng khu vực, địa bàn nhất định ở nước ta cũng đã được triển khai nghiên cứu tương đối đa dạng, phong phú bởi nhiều tác giả, nhà khoa học khác nhau.
Nhóm nghiên cứu lý luận chung về giáo dục pháp luật: Nội dung, phương pháp, hình thức giáo dục pháp luật; Vai trò của giáo dục pháp luật; Giáo dục pháp luật về một ngành, lĩnh vực pháp luật cụ thể.
Nhóm nghiên cứu giáo dục pháp luật về vấn đề một số giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật như: Nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật; Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật; Tăng cường phối hợp giữa Ngành Tư pháp và giáo dục trong việc nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật v.v.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây trên các diễn đàn khoa học pháp lý hiện nay, hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân (đối tượng đặc thù) trong các trại giam ở Việt Nam – hoạt động có ý nghĩa chính trị, kinh tế xã hội và mang tính nhân văn sâu sắc – là vấn đề còn ít được quan tâm cả trên phương diện nghiên cứu lý luận và đánh giá thực tiễn. Theo sự cập nhật thông tin của tác giả luận văn, có thể liệt kê một số công trình, bài viết có liên quan đến chủ đề này trong một vài năm gần đây như sau:
- Dương Văn Đại (2012), “Tác động của công tác giáo dục pháp luật đối với phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại trại giam”, Hội thảo quốc tế Chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về công tác xã hội và an sinh xã hội, NXB. Đại học Quốc gia, Hà Nội, tr. 650-660.
- Dương Văn Đại (2014), “Vai trò công tác giáo dục pháp luật đối với phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại các trại giam”, Tạp chí Khoa học Quản lý và giáo dục tội phạm (13), tr. 37-39.
- Dương Văn Đại (2014), “Vai trò giáo dục pháp luật đối với phạm nhân đang chấp hành án tại các trại giam thuộc Bộ Công an” (Nghiên cứu trường hợp trại giam Nam Hà), Luận án Tiến sĩ Xã hội học.
- Nguyễn Văn Sơn (2012), Hoạt động giáo dục phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù tại các trại giam phía Nam thuộc Bộ Công an – Thực trạng và giải pháp, Đề tài khoa học cấp Bộ, Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2012.
- Nguyễn Văn Sơn (2011), “Phòng ngừa tội phạm về ma túy do phạm nhân thực hiện tại các trại giam thuộc Bộ Công an“, Tạp chí khoa học giáo dục CSND, (số 16 (9/2011)). Luận văn: Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong.
- Nguyễn Văn Sơn (2011), “Một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục phạm nhân tại các trại giam thuộc Bộ Công an”, Tạp chí Khoa học giáo dục CSND, (số 12 (01/2011)).
- Ngô Văn Trù (2013), “Tăng cường giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam”, Tạp chí Công an nhân dân, (1), tr.79-83.
- Ngô Văn Trù (2013), Giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam (Sách chuyên khảo), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
- Ngô Văn Trù (2014), “Một số ý kiến qua nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam”, Tạp chí
- Ngô Văn Trù (2020), “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam thuộc Bộ Công an quản lý”, Tạp chí
- Ngô Văn Trù (2020), “Vai trò của giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Công an nhân dân, tr.105-108.
Tìm hiểu một số công trình, bài viết có liên quan đến chủ đề này có thể thấy các công trình nghiên cứu về giáo dục phạm nhân tập trung cơ bản vào các vấn đề: đặc điểm tình hình thực trạng đang chấp hành án tại trại giam, chế độ chính sách của phạm nhân; đổi mới nội dung, phương pháp, đa dạng hoá các hình thức giáo dục cho phạm nhân; phương pháp, cách thức tổ chức giáo dục,… v.v. Các công trình nghiên cứu chỉ ra các góc độ và khía cạnh đa dạng, phản ánh khá cơ bản, toàn diện bức tranh về việc giáo dục cho phạm nhân.
Luận án và các bài viết của tác giả Dương Văn Đại nghiên cứu vấn đề hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân theo hướng tiếp cận xã hội học. Kết quả nghiên cứu của tác giả có thể được dùng làm tài liệu phục vụ cho quá trình nghiên cứu, tham khảo, giảng dạy và học tập môn xã hội học tội phạm, xã hội học pháp luật tại các trại giam và chủ thể khác có liên quan.
Đề tài khoa học cấp bộ và các bài viết của tác giả Nguyễn Văn Sơn, Sách chuyên khảo của tác giả Ngô Văn Trù nghiên cứu hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân được mở rộng ở tầm khu vực của Quốc gia (Các trại giam phía Nam, các trại giam ở tỉnh miền núi phía Bắc) tuy nhiên chưa có sự so sánh hoạt động này ở các trại giam ba miền Bắc, Trung, Nam.
Như vậy, tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy, hiện tại chưa có một luận văn thạc sĩ luật học nào nghiên cứu về hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân với khách thể và địa điểm nghiên cứu đặc thù này. Đây là Luận văn luật học nghiên cứu đầu tiên một cách có hệ thống và tương đối toàn diện về hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong trại giam Thanh Phong, tỉnh Thanh Hóa.
3. Đối tượng phạm vi nghiên cứu đề tài Luận văn: Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là: hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân tại Trại giam Thanh Phong, tỉnh Thanh Hóa.
Phạm vi nghiên cứu:
- Địa điểm: Trại giam Thanh Phong, tỉnh Thanh Hóa.
- Thời gian: Từ năm 2018 – 2020
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận được sử dụng trong luận văn đó là phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin. Luận văn được thực hiện trên cơ sở sự vận dụng những nguyên lý của Triết học Mác – Lênin về lý luận nhận thức; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về nhà nước và pháp luật, về giáo dục pháp luật, về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩ; các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục pháp luật cho các đối tượng xã hội; chính sách, pháp luật của Nhà nước về giáo dục pháp luật nói chung, giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam nói riêng. Ngoài ra, những quan điểm lý luận, kết quả nghiên cứu thực tiễn về giáo dục pháp luật của các nhà khoa học, tác giả đi trước cũng là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng trong luận văn.
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu khoa học đó là: phương pháp quan sát, mô tả; phương pháp tư duy trừu tượng; phương pháp phân tích; phương pháp tổng hợp; phương pháp khái quát; phương pháp hệ thống và phương pháp so sánh. Các phương pháp nghiên cứu khoa học này được sử dụng để nghiên cứu đề tài nghiên cứu theo mã số chuyên ngành Lý luận và Lịch sử nhà nước và pháp luật. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong các chương của luận văn như sau:
Chương 1 của luận văn sử dụng Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các các tài liệu giáo trình, sách chuyên khảo trong nước về giáo dục pháp luật; Các công trình nghiên cứu, các bài viết, các sách có liên quan đến giáo dục pháp luật cho phạm nhân; các văn bản của Đảng, văn bản pháp luật về giáo dục pháp luật cho phạm nhân.
Chương 2 của luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu như: phương pháp quan sát, mô tả (thực tiễn hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân tại Trại giam Thanh Phong, tỉnh Thanh Hóa); phương pháp phân tích, tổng hợp các báo cáo công tác giáo dục của Trại giam Thanh Phong, tỉnh Thanh Hóa; Các chuyên đề về công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân; phương pháp khái quát hóa. Luận văn: Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong.
Chương 3 của luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu như: phương pháp trừu tượng hóa; phương pháp khái quát hóa, mô hình hóa; phương pháp so sánh pháp luật để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục pháp luật cho phạm nhân.
5. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ những vấn đề lý luận về giáo dục pháp luật cho phạm nhân và thực tiễn hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân tại Trại giam Thanh Phong, tỉnh Thanh Hóa. Qua đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân tại các Trại giam Thanh Phong, tỉnh Thanh Hóa.
6. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa về mặt lý luận: Nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ và phong phú thêm những vấn đề lý luận về giáo dục pháp luật cho phạm nhân – giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù.
- Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Nghiên cứu của đề tài góp phần vào việc giải quyết, hạn chế những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân tại Trại giam Thanh Phong, tỉnh Thanh Hóa; Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho quá trình nghiên cứu hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1. Cơ sở lý luận về giáo dục pháp luật cho phạm nhân.
- Chương 2. Thực trạng hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân tại Trại giam Thanh Phong, tỉnh Thanh Hóa.
- Chương 3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân tại Trại giam Thanh Phong, tỉnh Thanh Hóa.
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC PHÁP LUẬT CHO PHẠM NHÂN
1.1. Khái niệm và đặc điểm giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong trại giam
1.1.1. Khái quát về giáo dục pháp luật Luận văn: Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong.
Theo Từ điển Từ và ngữ Hán – Việt “Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho con người những phẩm chất đạo đức và những tri thức cần thiết để người ta có khả năng tham gia mọi mặt của đời sống xã hội” [12, tr. 395].
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự bắt buộc chung, là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội do Nhà nước ban hành, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền và được thể hiện bằng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước.
Giáo dục pháp luật được coi là một bộ phận – hệ thống con của hệ thống giáo dục nói chung. Giáo dục pháp luật được khẳng định là một bộ phận, một hoạt động có tính độc lập tương đối và có mối quan hệ tương hỗ với các hệ thống con khác kinh tế, chính trị, văn hóa, đạo đức… tạo nên một hệ thống các mối quan hệ xã hội tác động lên các cá nhân, làm hình thành nên bản chất con người, xã hội, lịch sử.
Theo nghĩa rộng, Giáo dục pháp luật là một khái niệm bao gồm cả quá trình nâng cao tri thức pháp luật cho đối tượng và bằng nhiều phương pháp để hình thành tình cảm, niềm tin pháp luật cho đối tượng, từ đó nâng cao ý thức tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật của đối tượng. Giáo dục pháp luật bao gồm các giai đoạn: định hướng giáo dục pháp luật, lập chương trình, kế hoạch giáo dục pháp luật, xây dựng nội dung, sử dụng các phương pháp và hình thức giáo dục pháp luật nhất định để triển khai thực hiện; kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục pháp luật; sơ kết, tổng kết, rút kinh nghiệm công tác giáo dục pháp luật.
Theo nghĩa hẹp, Giáo dục pháp luật là hoạt động có mục đích, có tổ chức, có kế hoạch của nhà giáo dục (chủ thể giáo dục pháp luật) để chuyển tải, truyền đạt những nội dung, thông tin, tri thức về các bộ luật, đạo luật, các văn bản pháp luật, thông qua các phương pháp giáo dục khoa học và hình thức giáo dục phù hợp tới đối tượng tiếp nhận giáo dục (khách thể giáo dục pháp luật) nhằm đạt được những mục tiêu, hiệu quả giáo dục nhất định. So với phổ biến thì giáo dục cũng nhằm nâng cao nhận thức, tình cảm của đối tượng, song nội dung rộng hơn, phương thức tiến hành chặt chẽ hơn, đối tượng xác định hơn, mục đích lớn hơn. Xét dưới góc độ nhất định thì phổ biến chính là các phương thức giáo dục cụ thể.
Hiện nay, đa số các tài liệu khoa học về pháp luật ở nước ta hiện nay đều đã khá thống nhất khái niệm Giáo dục pháp luật: Giáo dục pháp luật là hoạt động có định hướng, có tổ chức, có chủ định của chủ thể giáo dục tác động lên đối tượng giáo dục một cách có hệ thống và thường xuyên nhằm mục đích hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm pháp lý và hành vi phù hợp với các đòi hỏi của pháp luật hiện hành.
1.1.2. Khái quát về phạm nhân trong trại giam Luận văn: Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong.
1.1.2.1. Phạm nhân
Theo từ điển Tiếng Việt (Viện Khoa học xã hội Việt Nam – Viện Ngôn ngữ học – Hà Nội năm 2002), “phạm nhân là người có tội đã bị xử án và đang ở tù” [25, tr. 754].
Tại khoản 2 Điều 3 Luật Thi hành án Hình sự năm 2017 quy định: “Phạm nhân là người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân” [15, Điều 3]. Như vậy, một người được coi là phạm nhân khi họ bị kết án bằng hình phạt tù và bản án đã có hiệu lực pháp luật, họ đang thi hành án tại các trại giam.
Do những nguyên nhân, điều kiện chủ quan và khách quan khác nhau, xuất phát từ động cơ, mục đích khác nhau, một số thành viên trong xã hội thực hiện các hành vi phạm tội. Sau đó họ bị các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền thực hiện việc khởi tố điều tra, truy tố, xét xử về hành vi phạm tội đó. Cái giá mà người phạm tội phải trả là phải chấp hành những bản án nghiêm khắc do Tòa án tuyên với hình phạt chính và có thể kèm theo hình phạt bổ sung tùy theo hành vi phạm tội cụ thể được quy định trong Bộ luật Hình sự. Người thực hiện hành vi phạm tội bị kết tội và phải chịu hình phạt theo bản án đã có hiệu lực pháp luật. Những người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân, nếu không có quyết định hoãn chấp hành án phạt tù của cơ quan có thẩm quyền, thì sẽ phải chấp hành án tại các trại giam theo quyết định của cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an. Hình phạt tù là hình phạt nghiêm khắc, áp dụng đối với những người phạm tội.
Đối tượng phạm nhân trong các trại giam có cơ cấu rất đa dạng và mang những nét đặc thù riêng chỉ có ở đối tượng này, như: có hành vi phạm tội với những tội khác nhau và có mức án phạt tù, số tiền án khác nhau; trình độ học vấn, nhận thức không đồng đều, từ mù chữ cho đến tốt nghiệp đại học, thậm chí cả sau đại học; có nghề nghiệp và địa bàn cư trú khác nhau từ đồng bằng đến miền núi, từ nông thôn tới thành thị; có sự đa dạng về thành phần dân tộc; Đa số phạm nhân không có hoặc rất thiếu kiến thức, hiểu biết pháp luật; Một số phạm nhân có diễn biến tâm lý phức tạp, nhiều tiền án. Đặc biệt, một số trại giam có cả phạm nhân là người nước ngoài. Luận văn: Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong.
Trong thời gian chấp hành hình phạt tù, phạm nhân bị hạn chế một số quyền tự do về: thân thể, cư trú, đi lại, bầu cử, ứng cử, kinh doanh, đi ra nước ngoài, lập hội, thư tín, điện tín, kết hôn…. Ngoài ra, phạm nhân có thể còn bị hạn chế hoặc tước một số quyền khác như: quản chế, cấm cư trú, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định, hạn chế một số giao dịch, mua bán dân sự…. Nhưng không phải phạm nhân bị tước bỏ toàn bộ các quyền về dân sự, kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội của mình. Theo quy định, phạm nhân được hưởng các quyền công dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, như: có quyền học tập, lao động; có quốc tịch; có tài sản; bình đẳng trước pháp luật; bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm; nghiên cứu, phát minh, sáng chế…. Để thực hiện tốt mục tiêu giáo dục cũng như quyền của phạm nhân, các trại giam, trại tạm giam tổ chức cho phạm nhân tham gia học tập, lao động, dạy nghề, văn nghệ, thể dục, thể thao nhằm giúp phạm nhân nhận rõ lỗi lầm, quyết tâm phấn đấu, trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội.
Như các công dân bình thường khác, phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù trong trại giam, trại tạm giam phải thực hiện các nghĩa vụ của công dân, như: trung thành với Tổ quốc; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tuân theo Hiến pháp và Pháp luật; bảo vệ an ninh trật tự; tôn trọng tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản của người khác; bảo vệ tài sản của Nhà nước, tập thể và lợi ích công cộng,… Để giữ gìn trật tự, kỷ cương trại giam, trại tạm giam tạo điều kiện thuận lợi cho việc chấp hành hình phạt tù, tất cả phạm nhân phải thực hiện tốt quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm quy định trong Pháp lệnh thi hành án phạt tù, Quy chế và Nội quy trại giam [3, tr. 43].
Ngoài ra, phạm nhân còn có tâm lý ẩn chứa nhiều nét đặc trưng mà khó có chủ thể nào có được và sánh kịp. Đó là trạng thái tâm lý, diễn biến tâm lý, nhận thức và cảm xúc của phạm nhân trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam. Nét nổi bật về trạng thái tâm lý của phạm nhân là tính phức tạp cao của nó, có nguyên nhân từ sự xuất hiện, luân chuyển và pha trộn giữa các trạng thái tâm lý đặc trưng của phạm nhân trong thời gian ở trại giam như: trạng thái tâm lý bị ức chế, trạng thái trông chờ sự thay đổi, trạng thái bi quan, tuyệt vọng, trạng thái buồn, nhớ nhà, nhớ cuộc sống tự do. Thời gian phạm nhân chấp hành hình phạt tù là thời gian diễn ra cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa cái thiện và cái ác, cái tốt và cái xấu, cái chuẩn mực và phi chuẩn mực, cái tích cực và cái tiêu cực… trong con người phạm nhân; là thời gian để họ ăn năn hối hận và sửa chữa lỗi lầm đã phạm. Luận văn: Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong.
1.1.2.2. Trại giam
Trại giam là nơi chấp hành hình phạt của người bị kết án tù có thời hạn và tù chung thân. Trại giam là cơ quan Nhà nước được giao trách nhiệm trực tiếp tổ chức thi hành án phạt tù, là công cụ thực hiện sự cưỡng chế của Nhà nước đối với những người bị Toà án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhằm giáo dục, cải tạo họ trở thành người lương thiện. Trại giam còn là công cụ quan trọng của Nhà nước, của xã hội để thiết lập bảo vệ, xây dựng trật tự xã hội, xã hội chủ nghĩa.
Trại giam được Nhà nước đầu tư, xây dựng, trang bị cơ sở vật chất phục vụ công tác thi hành án phạt tù với lực lượng cán bộ chuyên trách được trang bị vũ khí, phương tiện chuyên dụng, các trang thiết bị khác phục vụ việc giam giữ, quản lý, giáo dục, cải tạo phạm nhân. Trại giam được tổ chức thành phân trại, khu giam giữ, nhà giam, các công trình phục vụ việc quản lý giam giữ, phục vụ sinh hoạt, chăm sóc y tế, giáo dục cải tạo phạm nhân; các công trình phục vụ làm việc, sinh hoạt của sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, chiến sĩ, công nhân, viên chức công tác tại trại giam. Tổ chức bộ máy quản lý của trại giam gồm có Giám thị, Phó giám thị, Trưởng phân trại, Phó trưởng phân trại, Đội trưởng, Phó đội trưởng; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan; chiến sĩ và công nhân, viên chức. Giám thị, Phó giám thị, Trưởng phân trại, Phó trưởng phân trại, Đội trưởng, Phó đội trưởng phải là người đã tốt nghiệp đại học cảnh sát, đại học an ninh, đại học luật trở lên và bảo đảm các tiêu chuẩn khác theo quy định của Chính phủ. Trại giam là cơ quan nhà nước chuyên trách có nhiệm vụ quản lý, cải tạo, giáo dục phạm nhân theo quy định của pháp luật nhằm giáo dục, cảm hóa phạm nhân, giúp họ trở thành công dân có ích cho xã hội sau khi chấp hành xong án phạt tù, ngăn ngừa họ phạm tội mới, đảm bảo được mục đích của hình phạt và đảm bảo thực hiện các quyền, nghĩa vụ của phạm nhân theo quy định pháp luật. Hiện nay, các trại giam chủ yếu đóng quân ở các vùng rừng núi cách xa trung tâm thành phố, thị trấn hoặc đường quốc lộ, ở những khu vực xa dân cư, điều kiện địa lý, tự nhiên, khí hậu, giao thông đi lại và cơ sở vật chất còn rất khó khăn, thiếu thốn.
1.1.3. Khái niệm và đặc điểm của giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong trại giam
1.1.3.1. Khái niệm giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong trại giam
Giáo dục pháp luật cho phạm nhân là một trong các hình thức giáo dục pháp luật cho nhóm đối tượng trong xã hội, tuy nhiên nó đã được cụ thể hóa về đối tượng giáo dục và nó cũng mang đầy đủ các đặc điểm, yếu tố cấu thành của hoạt động giáo dục pháp luật cho các đối tượng trong xã hội. Phạm nhân trong thời gian chấp hành án phạt tù tại trại giam có địa vị pháp lý và quyền và nghĩa vụ khác với các công dân khác, vì vậy đòi hỏi phải có hình thức giáo dục riêng và phù hợp.
Xuất phát từ khái niệm giáo dục pháp luật, khái niệm phạm nhân, các yếu tố cấu thành của hoạt động giáo dục pháp luật, có thể khẳng định: Luận văn: Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong.
Giáo dục pháp luật cho phạm nhân là hoạt động có mục đích, có tổ chức, tuân theo kế hoạch, chương trình nhất định; thông qua các phương pháp đặc thù và bằng những hình thức phù hợp cung cấp trang bị cho phạm nhân những thông tin, kiến thức pháp luật về các quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân nói chung, các nội dung pháp luật cụ thể liên quan đến quá trình chấp hành án phạt tù trong trại giam nói riêng; làm hình thành ở phạm nhân tri thức, hiểu biết pháp luật, tình cảm, niềm tin đối với pháp luật và hành vi pháp luật phù hợp với yêu cầu của công tác quản lý giam giữ, giáo dục, cải tạo phạm nhân; giúp họ có khả năng hòa nhập cộng đồng, biết sống và làm việc theo pháp luật sau khi mãn hạn chấp hành án phạt tù [10, tr. 20].
1.1.3.2. Đặc điểm giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong trại giam
Giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam có đầy đủ các đặc điểm của giáo dục pháp luật cho các đối tượng khác trong xã hội. Đó là hoạt động giáo dục pháp luật có sự tương tác giữa chủ thể giáo dục pháp luật và đối tượng tiếp nhận giáo dục pháp luật; là hoạt động có mục đích, có tổ chức, tuân theo kế hoạch, chương trình, tuân theo những nội dung giáo dục pháp luật nhất định; bằng nhiều hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật cụ thể. Tuy nhiên, hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân cũng có những đặc trưng của nó:
Giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam là hoạt động được tiến hành với những đối tượng đặc biệt – là những phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù: Giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam là hoạt động giáo dục pháp luật diễn ra trong môi trường đặc biệt, với các đối tượng đặc biệt. Đối tượng đặc biệt là các phạm nhân – người đang chấp hành án phạt tù có thời hạn, tù chung thân.
Giáo dục pháp luật cho phạm nhân là hoạt động được diễn ra trong môi trường giáo dục đặc biệt: Trại giam là các cơ quan Nhà nước được giao nhiệm vụ trực tiếp thi hành án phạt tù, là nơi người bị kết án phạt tù phải chấp hành hình phạt. Trại giam là nơi giam giữ, giáo dục phạm nhân nhưng lại cách biệt với môi trường xã hội, là một “môi trường tội phạm thu nhỏ” trong đó tồn tại mối quan hệ chính yếu giữa phạm nhân với phạm nhân. Với đặc thù các trại giam đóng quân hầu hết ở các vùng sâu, vùng xa, giao thông đi lại rất khó khăn, hạ tầng và thông tin liên lạc còn hạn chế.
Giáo dục pháp luật cho phạm nhân có đặc thù về nội dung, hình thức giáo dục pháp luật: Xuất phát từ đặc thù về đối tượng hướng đến của hoạt động giáo dục pháp luật là phạm nhân trong các trại giam đã dẫn đến những đặc thù về nội dung, hình thức giáo dục pháp luật. Luận văn: Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong.
Về nội dung, song song với những nội dung giáo dục pháp luật chung, nội dung giáo dục pháp luật cho phạm nhân có những đặc trưng riêng xuất phát từ mục đích, mục tiêu giáo dục pháp luật cho phạm nhân. Nội dung giáo dục pháp luật cho phạm nhân tập trung vào các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của công dân, pháp luật về hình sự, thi hành án hình sự, xử lý vi phạm hành chính; pháp luật về phòng, chống ma túy và các tệ nạn xã hội.
Nội dung, tài liệu giáo dục pháp luật cho phạm nhân được biên soạn theo các chủ đề phù hợp với độ tuổi, trình độ văn hóa, thời hạn chấp hành án phạt tù của phạm nhân và yêu cầu của công tác giam giữ, quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân. Những nội dung giáo dục pháp luật trên đều rất quan trọng, là bắt buộc và cần thiết cho phạm nhân trong quá trình chấp hành án phạt tù, giúp họ có thông tin, kiến thức pháp luật để ổn định tư tưởng, có nền tảng để tự xác định mục tiêu phấn đấu học tập, cải tạo tốt để trở thành công dân lương thiện tái hòa nhập cộng đồng.
Về hình thức, hình thức giáo dục pháp luật cho phạm nhân được chú trọng thực hiện thông qua chương trình học pháp luật, giáo dục công dân và lồng ghép trong chương trình học văn hoá, học nghề, giáo dục tái hòa nhập cộng đồng; phổ biến thông tin thời sự, chính sách; sinh hoạt câu lạc bộ, nhóm đồng đẳng và các hình thức phù hợp khác.
Các trại giam có thể tổ chức giáo dục pháp luật cho công dân bằng nhiều hình thức, phù hợp với điều kiện của đơn vị, với khả năng của giáo viên và nhận thức của phạm nhân. Hình thức chủ yếu là tổ chức thành các lớp học (giáo viên lên lớp hướng dẫn bài giảng, quản giáo tổ chức thảo luận theo đội, tổ). Việc phổ biến tài liệu, hướng dẫn nội dung giáo dục pháp luật, giáo dục công dân cho phạm nhân có thể thực hiện thông qua các hệ thống phát thanh, truyền hình cáp nội bộ, băng, đĩa video và các hình thức phù hợp khác. Ngoài hình thức học tập trung trên hội trong hội trường, những hình thức đặc thù trong giáo dục pháp luật cho phạm nhân bao gồm: Hình thức cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật cho phạm nhân; Hình thức niêm yết thông tin pháp luật tại bảng tin của Trại giam, tại buồng giam phạm nhân; Hình thức giáo dục pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh, panô, áp – phích, tranh cổ động, báo tường; Hình thức giáo dục pháp luật cá biệt, tư vấn pháp luật riêng cho từng phạm nhân.
Về mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng của hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân
Trong hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam nơi mà việc họ tập pháp luật không chỉ là quyền của phạm nhân mà việc học tập pháp luật là bắt buộc đối với mỗi phạm nhân. Chủ thể giáo dục pháp luật là những cán bộ giáo dục thuộc biên chế của các Trại giam và những giảng viên, chuyên gia pháp luật, luật sư bên ngoài được trại giam mời hoặc đồng ý tham gia công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân. Đối tượng tiếp nhận giáo dục pháp luật là các phạm nhân đang chấp hành án phạt tù tại trại giam. Quan hệ quản lý từ phía chủ thể giáo dục pháp luật đối với phạm nhân là quan hệ mang tính chất mệnh lệnh – phục tùng. Các trại giam được Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, kinh phí hỗ trợ phục vụ giáo dục pháp luật cho phạm nhân. Đây là những điều kiện thuận lợi, dễ thực hiện hơn của công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân so với giáo dục pháp luật cho những đối tượng khác.
1.2. Vai trò, mục đích giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong trại giam Luận văn: Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong.
1.2.1. Vai trò giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong trại giam
Giáo dục pháp luật cho phạm nhân có vai trò, ý nghĩa to lớn đối với xã hội và bản thân các phạm nhân. Vai trò của công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhận trong các trại giam ở Việt Nam thể hiện trên các phương diện sau:
Giáo dục pháp luật giúp cho phạm nhân nhận thức đầy đủ, đúng đắn, sâu sắc hơn về tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà họ đã gây ra. Giáo dục pháp luật cho phạm nhân là một bộ phận của công tác giáo dục cải tạo, chuyển hóa về nhận thức của các loại đối tượng phạm nhân, công tác này mang tính đặc thù nhằm cảm hóa, thuyết phục những con người đã một thời phạm tội nhận rõ lỗi lầm từ đó xác định được trách nhiệm, thái độ của bản thân, từ đó có ý thức tích cực cải tạo và phấn đấu sống, lao động có ích cho gia đình và xã hội để làm lại cuộc đời.
Giáo dục pháp luật có vai trò cung cấp, trang bị những thông tin, kiến thức pháp luật cần thiết cho phạm nhân trong quá trình chấp hành án phạt tù.
Qua đó nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh, phòng chống, ngăn chặn việc vi phạm nội quy, quy chế trại giam, thực hiện tội phạm mới của phạm nhân ngay trong trại giam. Luận văn: Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong.
Giáo dục pháp luật góp phần định hướng, xây dựng, hình thành thái độ tích cực, củng cố niềm tin đối với pháp luật cho phạm nhân. Sự hiểu biết về pháp luật là cơ sở, nền tảng giúp phạm nhân biết cách hành động phù hợp với các chuẩn mực xã hội đặt ra. Bên cạnh đó, giáo dục pháp luật còn hướng tới hình thành ở các phạm nhân động cơ, hành vi và thói quen xử sự theo pháp luật. Giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam cũng góp phần củng cố, nâng cao ý thức tôn trọng, chấp hành pháp luật, tự giác và chủ động thực hiện hành vi pháp luật hợp pháp cho phạm nhân.
Giáo dục pháp luật góp phần chuẩn bị hành trang kiến thức pháp luật cần thiết để phạm nhân tái hòa nhập cộng đồng sau khi mãn hạn chấp hành án phạt tù, trở thành công dân có ích cho xã hội. Thông qua giáo dục pháp luật, các phạm nhân nhận biết được những chuẩn mực tốt đẹp về lòng nhân ái, sự công bằng, bình đẳng, dân chủ, lòng khoan dung, biết yêu cái chân, thiện, mỹ, biết đấu tranh, phê phán với cái xấu và trong những tình huống cụ thể phạm nhân biết nên và cần ứng xử như thể nào cho phù hợp với đạo lý làm người, biết định hướng đúng và trân trọng những giá trị cuộc sống.
Giáo dục pháp luật cho phạm nhân góp phần phòng, chống hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm ngoài xã hội, phát triển, sáng tạo văn hóa pháp lý và hoàn thiện pháp luật. Điều đó thể hiện qua việc nâng cao hiểu biết, hình thành ý thức, thúc đẩy hành vi văn hóa pháp lý của phạm nhân trong quá trình chấp hành án và sau khi hết án trở về với xã hội. Các phạm nhân biết cách sàng lọc, lựa chọn các giá trị văn hóa tiến bộ, phù hợp với các chuẩn mực pháp luật, loại bỏ những hành vi sai trái, đi ngược những giá trị của pháp luật, qua đó phát triển nền văn hóa pháp lý. Hơn nữa, thông qua thực tiễn hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân, các trại giam, các cơ quan chức năng Nhà nước được nghe ý kiến phản hồi về những “lỗ hổng, tính lỗi thời lạc hậu, bất cập, không khả thi trong các quy định của pháp luật từ chính các đối tượng đã có hành vi phạm pháp luật. Từ đó, các cơ quan chức năng Nhà nước tiếp thu, phân tích và tổng hợp những ý kiến trên, sau đó có những sự sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh các quy định của pháp luật cho phù hợp với sự thay đổi và phát triển của xã hội.
1.2.2. Mục đích giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong trại giam
Mục đích của giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam phản ánh những yêu cầu của quá trình quản lý, giáo dục, cải tạo phạm nhân theo chính sách khoan hồng, tinh thần nhân đạo trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, tạo những điều kiện tốt nhất để phạm nhân sau khi chấp hành xong hình phạt tù có thể tái hòa nhập cộng đồng, trở về con đường lương thiện, trở thành công dân có ích cho xã hội. Luận văn: Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong.
Giáo dục phạm nhân để đầu vào là một người phạm tội, đầu ra là một công dân lương thiện, có ích cho xã hội, có ý thức chấp hành các quy định pháp luật nhà nước vừa là nhiệm vụ vừa là mục đích chủ yếu của các trại giam. Vì vậy, hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam có mục đích cuối cùng là loại bỏ, giảm thiểu, hạn chế nguyên nhân đã dẫn phạm nhân đến hành vi phạm tội trước đây; tạo cơ hội, điều kiện để họ tiếp thu những kiến thức, hiểu biết pháp luật cần thiết để có thể trở về tái hòa nhập cộng đồng, biết sống và làm việc theo pháp luật.
Mục đích giáo dục pháp luật cho phạm nhân để thể hiện qua các phương diện cơ bản cụ thể như sau:
Thứ nhất, nâng cao hiểu biết pháp luật cho phạm nhân: Đây là mục đích đầu tiên của hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân. Điều này xuất phát từ mối quan hệ giữa nhận thức với thái độ và hành vi của phạm nhân. Chính từ sự hiểu biết pháp luật, sự nhận thức đúng đắn về giá trị xã hội và vai trò điều chỉnh của pháp luật sẽ là điều kiện cần thiết để hình thành tình cảm và lòng tin vào pháp luật ở mỗi phạm nhân. Hơn nữa, tri thức pháp luật còn giúp cho phạm nhân tổ chức một cách có ý thức hoạt động của mình và tự đánh giá, đối chiếu, kiểm tra hành vi của mình với các chuẩn mực pháp luật. Mục đích này đặc biệt quan trọng trong điều kiện như nước ta hiện nay và đối với các phạm nhân, khi mà hiểu biết pháp luật của họ còn rất hạn chế dẫn đến việc họ thực hiện hành vi phạm tội mà không biết điều này.
Pháp luật của Nhà nước không phải khi nào cũng được mọi người trong xã hội biết đến, tìm hiểu, đồng tình ủng hộ và thực hiện nghiêm chỉnh. Tuy rằng bản chất pháp luật của Nhà nước ta là rất tốt đẹp, nó phản ánh ý chí, nguyện vọng, mong muốn của đông đảo quần chúng nhân dân trong xã hội. Pháp luật của Nhà nước có thể được một số người tìm hiểu, quan tâm và nắm bắt xuất phát từ nhu cầu học tập, nghiên cứu hay từ nhu cầu sản xuất kinh doanh của họ. Những người này luôn theo sát những quy định pháp luật mới được ban hành để phục vụ trực tiếp cho công việc của mình, nhưng số lượng đối tượng này không phải là nhiều. Ở nước ta, hệ thống các văn bản pháp luật vô cùng đồ sộ, cùng với điều kiện trình độ dân trí còn chưa cao, đời sống kinh tế của đa số nhân dân còn gặp nhiều khó khăn cho nên các đối tượng nằm trong sự điều chỉnh của các văn bản pháp luật, nghĩa là số đông nhân dân lao động trong xã hội chưa có điều kiện tiếp cận với pháp luật. Đặc biệt là đối với các phạm nhân, đa số họ đều không có hoặc rất thiếu kiến thức, hiểu biết về pháp luật. Trong trại giam không có điều kiện tiếp cận thông tin, chính sách pháp luật mới, tự nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật nếu không được các trại giam tổ chức thực hiện công tác giáo dục pháp luật. Giáo dục pháp luật chính là phương tiện truyền tải hiệu quả những thông tin, những yêu cầu, nội dung và các quy định pháp luật đến với phạm nhân giúp cho họ hiểu biết, nắm bắt các quy định pháp luật hiện hành, nắm bắt kịp thời sự thay đổi, các chính sách mới của pháp luật. Luận văn: Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong.
Thứ hai, phạm nhân nhận thức được tội lỗi của mình gây ra và hình thành lòng tin vào pháp luật: Những quan niệm, hành vi trái pháp luật xâm phạm các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ được hình thành từ hiểu biết hạn chế và mơ hồ, sai lầm về pháp luật. Giáo dục pháp luật cho phạm nhân là để cung cấp thông tin, kiến thức pháp luật cơ bản để phạm nhân trước tiên nhận thức được tội lỗi, hành vi trái pháp luật của mình gây ra trước đây, biết ăn ăn, hối hận, hình thành động cơ phấn đấu học tập, cải tạo tốt, chủ động tiếp thu kiến thức pháp luật, biết hành vi nào là hành vi vi phạm pháp luật, biết hành vi nào là hành vi hợp pháp để sau khi chấp hành xong hình phạt tù có thể hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội.
Pháp luật chỉ có thể được phạm nhân thực hiện nghiêm chỉnh trong quá trình họ chấp hành hình phạt tù ở trại giam và sau khi mãn hạn tù trở về với xã hội khi họ tin tưởng vào những quy định của pháp luật, nhận thức được sự cần thiết và tính nhân văn của các quy định pháp luật. Pháp luật được xây dựng là để bảo vệ cho quyền và lợi ích của nhân dân, đảm bảo lợi ích chung của cộng đồng, đảm bảo công bằng và dân chủ xã hội. Khi nào mọi người nhận thức đầy đủ được như vậy thì pháp luật không cần một biện pháp cưỡng chế nào mà mọi người vẫn tự giác thực hiện.
Thứ ba, nâng cao ý thức tự giác, ý thức về trách nhiệm và nghĩa vụ chấp hành pháp luật của phạm nhân trong và sau khi chấp hành án: Ý thức pháp luật của người dân được hình thành từ hai yếu tố đó là tri thức pháp luật và tình cảm pháp luật. Tri thức pháp luật là sự hiểu biết pháp luật của các chủ thể có được qua việc học tập, tìm hiểu pháp luật, qua quá trình tích luỹ kiến thức của hoạt động thực tiễn và công tác.Tình cảm pháp luật chính là trạng thái tâm lý của các chủ thể khi thực hiện và áp dụng pháp luật, họ có thể đồng tình ủng hộ với những hành vi thực hiện đúng pháp luật, lên án các hành vi vi phạm pháp luật.
Công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân nhằm hình thành, củng cố tình cảm tốt đẹp của phạm nhân đối với pháp luật, đồng thời ngày càng nâng cao sự hiểu biết của phạm nhân đối với các văn bản pháp luật và các hiện tượng pháp luật trong đời sống, từ đó nâng cao ý thức tự giác, ý thức về trách nhiệm và nghĩa vụ chấp hành pháp luật của phạm nhân.
Công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân nói riêng và giáo dục cải tạo phạm nhân nói chung phải giúp loại bỏ những yếu tố tâm lý tiêu cực, những tư tưởng cực đoan, chống đối; chỉnh sửa, uốn nắn để làm thay đổi những quan điểm, tư tưởng, suy nghĩ sai trái, lệch lạc về pháp luật và đạo đức đang còn trong tâm lý, nhận thức của phạm nhân. Giúp họ ổn định tư tưởng, có thái độ và niềm tin đúng đắn về pháp luật,ngăn chặn, loại bỏ các nguyên nhân, điều kiện phạm tội của phạm nhân ngay trong trại giam, ngay trong thời gian chấp hành án phạt tù. Luận văn: Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong.
1.3. Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong trại giam
Trong những năm gần đây, công tác phổ biến, giáo dục pháp luật luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, coi đó là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong việc tăng cường quản lý xã hội bằng pháp luật. Quan điểm của Đảng ta là: “Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cần được tăng cường thường xuyên, liên tục và ở tầm cao hơn, nhằm làm cho cán bộ và nhân dân hiểu biết và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, thông qua đó mà kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật”.
Theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự năm 2017: Khoản 1, Điều 28 quy định “Phạm nhân phải học pháp luật…”; Khoản 2, Điều 28 quy định “Phạm nhân được cung cấp thông tin về thời sự, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Điều này có nghĩa là việc học tập, trong đó có học tập pháp luật là một trong những yêu cầu bắt buộc của phạm nhân.
Tiếp đó là các quy định tại Khoản 1, 2 Điều 21 Luật phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 về giáo dục pháp luật cho người đang chấp hành hình phạt tù:
Việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho người đang chấp hành hình phạt tù, người đang bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc, tùy theo từng đối tượng mà tập trung vào các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của công dân, pháp luật về hình sự, thi hành án hình sự, xử lý vi phạm hành chính; pháp luật về phòng, chống ma túy và các tệ nạn xã hội. Luận văn: Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong.
Phổ biến, giáo dục pháp luật cho người đang chấp hành hình phạt tù, người đang bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được chú trọng thực hiện thông qua chương trình học pháp luật, giáo dục công dân và lồng ghép trong chương trình học văn hoá, học nghề, giáo dục tái hòa nhập cộng đồng; phổ biến thông tin thời sự, chính sách; sinh hoạt câu lạc bộ, nhóm đồng đẳng và các hình thức phù hợp khác [16, Điều 21].
Luật phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012 đã xác định 06 đối tượng đặc thù, trong có phạm nhân. Đây là các đối tượng còn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp nhận thông tin, tìm hiểu, học tập pháp luật, đó là: người dân ở vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn và ngư dân; người lao động trong các doanh nghiệp; nạn nhân bạo lực gia đình; người khuyết tật; người đang chấp hành hình phạt tù, người đang bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc và người đang bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, người bị phạt tù được hưởng án treo.Theo quy định của Luật phổ biến, giáo dục pháp luật đối với mỗi đối tượng đặc thù, Luật quy định những nội dung pháp luật thiết thực, liên quan trực tiếp đến đối tượng được phổ biến, giáo dục; các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật phù hợp với từng đối tượng; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trực tiếp phổ biến, giáo dục pháp luật; những chính sách về phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng đặc thù và khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong xã hội đầu tư, hỗ trợ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng này.
Cùng với đó là các văn bản pháp luật quy định liên quan trực tiếp đến công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân như: Thông tư liên tịch số 02/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BGDĐT ngày 06 tháng 02 năm 2012 về việc hướng dẫn việc tổ chức dạy văn hóa, giáo dục pháp luật, giáo dục công dân, phổ biến thông tin thời sự, chính sách và thực hiện chế độ sinh hoạt, giải trí cho phạm nhân trong đó dành Chương II (từ Điều 8 đến Điều 11) để quy định về chương trình, nội dung, thời gian, hình thức, chủ thể giáo dục pháp luật, giáo dục công dân cho phạm nhân và tổ chức giáo dục pháp luật, giáo dục công dân cho phạm nhân trong quá trình chấp hành hình phạt tù ở các trại giam. Luận văn: Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong.
Thông tư số 39/2013/TT-BCA ngày 10 tháng 05 năm 2013 quy định về giáo dục và tư vấn cho phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù có những quy định cụ thể về vấn đề giáo dục, tư vấn pháp luật cho phạm nhân sắp chấp hành xong hình phạt với các nội dung Giáo dục pháp luật: Các quy định về xóa án tích, về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; quy định của pháp luật về cư trú, về bảo vệ an ninh, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tội phạm và các tệ nạn xã hội. Quy định của thông tư số 39/2013/TT-BCA nhằm tạo điều kiện thuận lợi và bảo đảm cho tất cả phạm nhân sắp chấp hành xong án phạt tù đều được giáo dục và tư vấn để tái hòa nhập cộng đồng, góp phần phòng ngừa tái phạm và vi phạm pháp luật. Các phạm nhân sắp hết thời hạn chấp hành án phạt tù, trước đó từ 01 đến 02 tháng được tổ chức giáo dục tập trung trong thời gian từ 15 ngày trở lên tùy thuộc vào số lượng phạm nhân sắp hết án, điều kiện của từng các trại giam.
1.4. Một số nội dung cơ bản về giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong trại giam
1.4.1. Các nguyên tắc giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong trại giam
Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa: Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa là nguyên tắc cơ bản, xuyên suốt toàn bộ quá trình hoạt động xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật. Nguyên tắc này đòi hỏi tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội, các tổ chức kinh tế, cán bộ, công chức và mọi công dân đều phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm chỉnh, triệt để và chính xác. Trong thực hiện pháp luật về thi hành án hình sự, nguyên tắc pháp chế đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền và mọi cá nhân có liên quan phải nghiêm túc chấp hành các quy định pháp luật nói chung, giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam nói riêng.
Theo đó, công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam không chỉ tuân thủ các quy định trong Bộ Luật hình sự; Luật Thi hành án hình sự; Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật; mà còn phải đảm bảo tuân thủ các quy định về nội dung, phương pháp, hình thức, thời lượng giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam được nêu tại các văn bản hướng dẫn của các cơ quan chức năng của Bộ Công an. Luận văn: Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong.
Về phía phạm nhân, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi mỗi phạm nhân phải tuyệt đối chấp hành các quy định pháp luật về nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức và thời lượng giáo dục pháp luật mà chủ thể thực hiện hoạt động giáo dục pháp luật đã xây dựng và triển khai dành riêng cho phạm nhân đang chấp hành án phạt tù trong các trại giam; phạm nhân phải có tinh thần tự giác, ý thức trách nhiệm trong việc học tập pháp luật để vừa phục vụ cho quá trình chấp hành án phạt tù, vừa trang bị kiến thức, nhận thức đúng về pháp luật để có thể tái hòa nhập cộng đồng sau khi kết thúc thời hạn chấp hành án.
Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, tôn trọng nhân phẩm, quyền, lợi ích hợp pháp của người chấp hành án: Nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa là một trong những nguyên tắc lớn, phổ biến trong chính sách, pháp luật của Nhà nước ta và được áp dụng rộng rãi trong đời sống pháp luật. Các nguyên tắc xử lý của pháp luật hình sự mang tính nhân đạo:
Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ra; Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, đã hối cải, thì có thể áp dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức hoặc gia đình giám sát, giáo dục; Đối với người bị phạt tù thì buộc họ phải chấp hành hình phạt trong trại giam, phải lao động, học tập để trở thành người có ích cho xã hội; nếu họ có nhiều tiến bộ thì xét để giảm việc chấp hành hình phạt; Người đã chấp hành xong hình phạt được tạo điều kiện làm ăn, sinh sống lương thiện, hoà nhập với cộng đồng, khi có đủ điều kiện do luật định thì được xóa án tích.
Việc pháp luật quy định Giám thị các trại giam có trách nhiệm tổ chức phổ biến, giáo dục pháp luật cho phạm nhân và học tập pháp luật quyền, trách nhiệm của phạm nhân tự nó đã chứng tỏ tính chất nhân đạo, nhân văn của pháp luật rằng giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam là để thay đổi nhận thức về pháp luật một cách đúng đắn, để trang bị kiến thức, hiểu biết pháp luật cho phạm nhân, giúp họ nhận ra sai lầm, tội lỗi mình đã phạm phải trước đây, nay cần phải chủ động, tự giác học tập pháp luật để có những thay đổi tích cực về nhận thức, hiểu biết, hành vi, thái độ tình cảm đối với pháp luật nhằm phục vụ cho việc tái hòa nhập cộng đồng sau này. Chính vì vậy, trong công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân phải tuân thủ nguyên tắc “bảo đảm nhân đạo xã hội chủ nghĩa, tôn trọng nhân phẩm, quyền, lợi ích hợp pháp của người chấp hành án”.
Nguyên tắc kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục pháp luật với giáo dục công dân, dạy văn hóa và dạy nghề cho phạm nhân: Thực hiện nguyên tắc kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục pháp luật cho phạm nhân với giáo dục công dân, dạy văn hóa và dạy nghề cho phạm nhân là nhằm đảm bảo tính đồng bộ, hài hòa và có hiệu quả của công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam. Giữa giáo dục pháp luật và giáo dục công dân, dạy văn hóa và dạy nghề cho phạm nhân có mối quan hệ biện chứng với nhau, có tác dụng bổ trợ lẫn nhau. Luận văn: Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong.
Giáo dục pháp luật cho phạm nhân phải gắn với giáo dục công dân, giáo dục pháp luật cũng là một bộ phận của giáo dục công dân. Bởi giữa đạo đức và pháp luật cũng có một mối quan hệ rất chặt chẽ, không thể tách rời nhau. Nội dung chủ yếu của giáo dục công dân cho phạm nhân là giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, các chuẩn mực đạo đức xã hội trong các mối quan hệ với bản thân, với người khác, với công việc, với gia đình và cộng đồng. Mục đích của giáo dục pháp luật và giáo dục đạo đức là hình thành ở mỗi cá nhân tri thức, quan điểm, hành vi phù hợp với pháp luật và phù hợp với đạo đức. Xã hội dân chủ, công bằng, văn minh là xã hội mà ở đó mọi công dân đều phải có ý thức và lối sống phù hợp với nền tảng đạo đức và tuân thủ pháp luật, vì những giá trị nhân văn của con người. Có kiến thức pháp luật mà thiếu sự hiểu biết, thiếu tôn trọng các giá trị đạo đức thì phạm nhân khó có thể trở thành người lương thiện khi trở về tái hòa nhập xã hội. Và ngược lại, mặc dù có sự hiểu biết về văn hóa, đạo đức, lối sống mà do thiếu hiểu biết pháp luật thì có thể dẫn đến việc thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
Giáo dục pháp luật cũng được triển khai lồng ghép với hoạt động giáo dục dạy nghề cho phạm nhân. Việc tổ chức lao động, dạy, học nghề của phạm nhân có hiệu quả là một trong những yếu tố quan trọng hỗ trợ, góp phần tích cực cho công tác quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân nói chung và giáo dục pháp luật cho phạm nhân nói riêng. Thông qua các hình thức lao động, học nghề giúp phạm nhân hình thành thói quen lao động, kỹ năng lao động, từ đó có ý thức tôn trọng sức lao động, hiểu rõ và trân trọng giá trị của sức lao động. Đồng thời, đào tạo cho phạm nhân có trình độ và khả năng nghề nghiệp nhất định, sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về với gia đình, xã hội có điều kiện tìm kiếm việc làm tạo lập cuộc sống bản thân và trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, góp phần ngăn ngừa tình trạng tái phạm tội của phạm nhân.
Nguyên tắc phối kết hợp chặt chẽ giữa trại giam, các cơ quan hữu quan, gia đình phạm nhân và bản thân mỗi phạm nhân: Luận văn: Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong.
Theo nguyên tắc đó, công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa trại giam, các cơ quan hữu quan, gia đình phạm nhân và bản thân mỗi phạm nhân. Các trại giam giữ vai trò chủ thể chính, trực tiếp chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện công tác giáo dục pháp luật theo chương trình, kế hoạch đã được xác định; vai trò hàng đầu thuộc về lãnh đạo trại giam, các cán bộ giáo dục của trại giam được phân công giao nhiệm vụ giáo dục pháp luật cho phạm nhân; các cán bộ quản giáo, trinh sát, dạy văn hóa, dạy nghề có trách nhiệm hỗ trợ tích cực cho hoạt động này. Các cơ quan hữu quan giữ vai trò phối hợp trong việc cử chuyên gia trực tiếp lên lớp giảng dạy, hỗ trợ tư vấn pháp luật cho phạm nhân khi có yêu cầu, thỏa thuận hợp tác và kiểm tra, giám sát việc thực hiện chương trình giáo dục pháp luật cho phạm nhân. Gia đình phạm nhân giữ vai trò động viên phạm nhân an tâm tư tưởng, tự giác, tích cực học tập pháp luật, chấp hành nội quy, quy chế trại giam qua những lần thăm gặp phạm nhân; có thể gửi sách, báo, tạp chí có nội dung pháp luật phù hợp để phạm nhân tự tìm hiểu thêm. Còn bản thân mỗi phạm nhân cũng phải nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của việc học tập pháp luật. Mỗi phạm nhân cần nhận thức được rằng, việc trại giam tổ chức hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong trại giam là sự thể hiện chính sách nhân đạo, nhân văn của Đảng, Nhà nước đối với phạm nhân, phục vụ trực tiếp cho việc đạt được mục đích cuối cùng của hình phạt. Sự phối kết hợp chặt chẽ giữa trại giam, các cơ quan hữu quan, gia đình phạm nhân và bản thân mỗi phạm nhân vừa là nguyên tắc, quan điểm chỉ đạo, vừa là biện pháp bảo đảm nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân.
1.4.2. Nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong trại giam
Nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục pháp luật là những yếu tố cấu thành cơ bản của hoạt động giáo dục pháp luật cho bất kỳ đối tượng giáo dục nào. Giữa các yếu tố Nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục pháp luật có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, nếu có sự phù hợp, đồng bộ thì sẽ đảm bảo chất lượng, hiệu quả của hoạt động giáo dục pháp luật nói chung, giáo dục pháp luật cho phạm nhân nói riêng trong trại giam.
Về nội dung, nội dung giáo dục pháp luật là thành tố rất quan trọng của quá trình giáo dục pháp luật. Xác định nội dung giáo dục pháp luật là đảm bảo cần thiết để giáo dục pháp luật có hiệu quả. Song song với những nội dung giáo dục pháp luật chung, nội dung giáo dục pháp luật cho phạm nhân có những đặc trưng riêng xuất phát từ mục đích, mục tiêu giáo dục pháp luật cho phạm nhân. Nội dung giáo dục pháp luật cho phạm nhân tập trung vào các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của công dân, pháp luật về hình sự, thi hành án hình sự, xử lý vi phạm hành chính; pháp luật về phòng, chống ma túy và các tệ nạn xã hội… mà chủ thể giáo dục pháp luật có trách nhiệm truyền đạt cho các đối tượng phạm nhân, giúp học có được những thông tin, kiến thức, hiểu biết nhất định về pháp luật. Luận văn: Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong.
Về hình thức, Hình thức giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam là tập hợp các mô hình tổ chức triển khai thực hiện, những cách làm cụ thể, đa dạng khác nhau mà thông qua đó chủ thể giáo dục pháp luật truyền tải các nội dung giáo dục pháp luật cho phạm nhân nhằm đạt được mục tiêu giáo dục pháp luật cho đối tượng này. Hình thức giáo dục pháp luật cho phạm nhân được chú trọng thực hiện thông qua chương trình học pháp luật, giáo dục công dân và lồng ghép trong chương trình học văn hoá, học nghề, giáo dục tái hòa nhập cộng đồng; phổ biến thông tin thời sự, chính sách; sinh hoạt câu lạc bộ, nhóm đồng đẳng và các hình thức phù hợp khác.
Các trại giam có thể tổ chức giáo dục pháp luật cho công dân bằng nhiều hình thức, phù hợp với điều kiện của đơn vị, với khả năng của giáo viên và nhận thức của phạm nhân. Hình thức chủ yếu là tổ chức thành các lớp học (giáo viên lên lớp hướng dẫn bài giảng, quản giáo tổ chức thảo luận theo đội, tổ). Việc phổ biến tài liệu, hướng dẫn nội dung giáo dục pháp luật, giáo dục công dân cho phạm nhân có thể thực hiện thông qua các hệ thống phát thanh, truyền hình cáp nội bộ, băng, đĩa video và các hình thức phù hợp khác. Ngoài hình thức học tập trung trên hội trong hội trường, những hình thức đặc thù trong giáo dục pháp luật cho phạm nhân bao gồm: Hình thức cung cấp thông tin, tài liệu pháp luật cho phạm nhân; Hình thức niêm yết thông tin pháp luật tại bảng tin của Trại giam, tại buồng giam phạm nhân; Hình thức giáo dục pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, loa truyền thanh, pa – nô, áp – phích, tranh cổ động, báo tường; Hình thức giáo dục pháp luật cá biệt, tư vấn pháp luật riêng cho từng phạm nhân.
Về phương pháp, Phương pháp giáo dục pháp luật là hệ thống các cách thức sử dụng, cách thức tổ chức hoạt động dạy và học được chủ thể giáo dục pháp luật và đối tượng phạm nhân – đối tượng giáo dục sử dụng nhằm chuyển hóa nội dung giáo dục pháp luật thành kiến thức, hiểu biết pháp luật của phạm nhân, qua đó hiện thực hóa mục tiêu giáo dục pháp luật cho phạm nhân. Các phương pháp được sử dụng trong quá trình giáo dục pháp luật cho phạm nhân như: Phương pháp tuyên truyền, giải thích pháp luật; Phương pháp thông tin pháp luật; Phương pháp nói chuyện, trao đổi pháp luật; Phương pháp nêu gương điển hình; Phương pháp tạo dư luận xã hội trong phạm nhân để giáo dục pháp luật; Phương pháp giảng dạy pháp luật trên hội trường, trong lớp học; Phương pháp nêu các yêu cầu pháp luật; Phương pháp tạo tình huống pháp luật; Phương pháp rèn luyện, thực hành pháp luật.
1.5. Vấn đề hiệu quả giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong trại giam
1.5.1. Các yếu tố tác động đến hiệu quả giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong trại giam Luận văn: Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong.
Về cơ cấu, đặc điểm tình hình phạm nhân: Cơ cấu, đặc điểm tình hình phạm nhân trong các trại giam bao gồm sự biến động tăng, giảm số lượng phạm nhân; cơ cấu lứa tuổi, cơ cấu nghề nghiệp; cơ cấu thành phần dân tộc, quốc tịch; cơ cấu trình độ học vấn; cơ cấu loại tội danh; cơ cấu mức án phạt tù; cơ cấu về sức khỏe, bệnh tật… có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân. Số lượng phạm nhân quá đông trong trại giam sẽ gây ra tình trạng quá tải so với quy mô giam giữ của trại giam, gây ra khó khăn trong công tác tổ chức quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân nói chung và giáo dục pháp luật cho phạm nhân nói riêng.
Đặc biệt, cơ cấu phạm nhân phạm tội các tội về ma túy; các tội về xâm phạm an ninh quốc gia; các phạm nhân có án dài, phạm nhân có tiền án, tiền sự, tái phạm nguy hiểm; các phạm nhân nhiễm HIV/AIDS, bệnh lao, viêm gan B và các căn bệnh xã hội khác đặt ra rất nhiều khó khăn, thách thức trong công tác quản lý, giáo dục cải tạo phạm nhân, tổ chức lao động sản xuất, hướng nghiệp, dạy nghề phạm nhân, công tác bảo đảm an ninh an toàn trại giam đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân.
Phạm nhân là những người sống trong điều kiện môi trường cách li với đời sống xã hội, tâm lý luôn căng thẳng, giao tiếp hạn chế, đơn điệu, nên việc quan tâm đến đời sống văn hóa tinh thần có ý nghĩa rất quan trọng. Trình độ học vấn, nhận thức, khả năng tiếp nhận thông tin, kiến thức pháp luật và nhu cầu học tập pháp luật của phạm nhân cũng là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân. Hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam là sự tương tác giữa chủ thể giáo dục pháp luật và đối tượng tiếp nhận giáo dục pháp luật là phạm nhân. Vì vậy, hiệu quả của hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân phụ thuộc rất nhiều vào trình độ học vấn, khả năng tiếp nhận thông tin, kiến thức pháp luật, nhu cầu văn hóa tinh thần, học tập pháp luật của chính các phạm nhân.
Ý thức trách nhiệm, năng lực tổ chức thực hiện của chủ thể giáo dục pháp luật cho phạm nhân: như đã phân tích ở mục Đặc điểm giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong trại giam, hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam là sự tương tác giữa chủ thể giáo dục pháp luật và đối tượng tiếp nhận giáo dục pháp luật là phạm nhân. Vì vậy hiệu quả của hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm cũng phụ thuộc rất lớn vào chủ thể thực hiện giáo dục pháp luật. Mà ở đây chính là phụ thuộc vào sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện của Đảng ủy, Ban giám thị, cán bộ chỉ huy đối với công tác giáo dục pháp luật và công tác triển khai thực hiện nhiệm vụ của các cán bộ trại giam làm công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân; phụ thuộc vào ý thức trách nhiệm, năng lực tổ chức thực hiện của cán bộ trực tiếp thực hiện hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân. Các cán bộ làm công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân mà có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ tốt, am hiểu pháp luật, có kỹ năng nghiệp vụ sư phạm, khả năng giáo dục cảm hóa phạm nhân và có đạo đức nghề nghiệp, có tinh thần trách nhiệm cao, tận tụy yêu nghề được bố trí sử dụng đúng người, đúng vị trí công tác phù hợp với năng lực sở trường thì sẽ mang lại hiệu quả công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân và ngược lại. Luận văn: Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong.
Yếu tố về chính sách của Nhà nước, quy định của pháp luật đối với phạm nhân và việc tổ chức thực hiện: chủ đề quyền con người trong hệ thống tư pháp hình sự là một vấn đề rất quan trọng và nó đang ngày càng được hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở nước ta trong quá trình phát triển và hội nhập thế giới. Nó đóng vai trò rất quan trọng bởi vì nó góp phần xây dựng, củng cố sự an toàn an ninh và ổn định trật tự xã hội. Bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự đã được ghi nhận rất trong hiến pháp 2013. Tuy nhiên, trong lĩnh vực thi hành án phạt tù, vấn đề quyền và nghĩa vụ của người đang chấp hành án phạt tù vẫn chưa được qui định và tổ chức thực hiện một cách có hệ thống.
Trong quá trình chấp hành án tại trại giam phạm nhân họ bị tước và hạn chế một số quyền công dân, như bị tước quyền bầu cử đại biểu cơ quan quyền lực nhà nước; bị hạn chế quyền tự do đi lại. Nhưng họ vẫn còn quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân như: lao động, học tập, nghỉ ngơi, tiếp cận thông tin kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của đất nước, nắm bắt các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước [32]. Luật nhân quyền của Liên hiệp quốc đã quy định các điều kiện nhà tù đảm bảo tôn trọng tính nhân văn cơ bản của quyền con người, cấm tra tấn hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hay những hành hạ khác và đặt việc giáo dục cải tạo là mục tiêu chính trong quá trình thi hành án [31].
Yếu tố về điều kiện kinh tế xã hội, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân: Điều kiện kinh tế, xã hội luôn tạo tiền đề về cơ sở vật chất, phương tiện phục vụ cho hoạt động giáo dục pháp luật nói chung và hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân nói riêng. Kinh phí thực hiện cho công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân được ngân sách Nhà nước đảm bảo. Điều này giúp cho hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam được thực hiện thường xuyên, liên tục. Việc bảo đảm kinh phí giúp các chủ thể giáo dục pháp luật sẽ có đầy đủ trí lực, thời gian để làm tròn trách nhiệm truyền tải tri thức pháp luật; đối tượng phạm nhân được thụ hưởng sẽ tập trung để học tập, nghiên cứu pháp luật. Tuy nhiên, nếu điều kiện kinh tế xã hội kém phát triển, việc đảm bảo kinh phí đầu tư cho hoạt động của trại giam nói chung và công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân nói riêng sẽ hạn chế, khi đó hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân sẽ phụ thuộc vào việc các trại giam coi trọng khai thác sức lao động của phạm nhân nhiều hơn này tạo điều kiện nhiều hơn cho phạm nhân có cơ hội tiếp thu, học tập kiến thức pháp luật phục vụ quá trình chấp hành án cũng như sau khi mãn hạn tù trở về với xã hội. Bởi lẽ, Thông tư liên tịch 02/2012/TTLT-BCA-BQP-BTP-BGDĐT hướng dẫn việc tổ chức dạy văn hóa, giáo dục pháp luật, giáo dục công dân, phổ biến thông tin thời sự, chính sách và thực hiện chế độ sinh hoạt, giải trí cho phạm nhân do Bộ Công an – Bộ Quốc phòng – Bộ Tư pháp – Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành ngày 06/02/2012 có quy định về việc trích kinh phí thu được từ kết quả lao động của phạm nhân để đảm bảo nguồn kinh phí cho việc tổ chức dạy văn hóa, giáo dục pháp luật, giáo dục công dân, phổ biến thông tin thời sự, chính sách và thực hiện chế độ sinh hoạt, giải trí cho phạm nhân.
Sự phát triển không ngừng của xã hội sẽ tạo được tiền đề về nhân lực, trí lực đối hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân. Đối với chủ thể giáo dục pháp luật, họ sẽ được toàn xã hội quan tâm, tạo điều kiện tốt nhất để hoàn thành tốt việc giáo dục, cải tạo, nâng cao tri thức, đặc biệt về pháp luật cho các đối tượng giáo dục pháp luật là phạm nhân; họ cũng được thường xuyên tăng cường bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, có chế độ đãi ngộ phù hợp để họ yên tâm công tác. Về phía phạm nhân, sự phát triển của xã hội sẽ làm thay đổi dần dần tư duy, định kiến, cách nhìn nhận về phạm nhân. Qua đó, phạm nhân không còn những suy nghĩ, cảm giác tự ti, tiêu cực về khả năng họ tái hòa nhập cộng đồng. Luận văn: Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong.
Từ những phân tích ở trên có thể thấy, điều kiện kinh tế – xã hội, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân có tác động mạnh mẽ lên hiệu quả của công tác giáo dục pháp luật cho phạm nhân.
Yếu tố về nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật cho phạm nhân: Giáo dục pháp luật không thể đối tượng nào cũng một nội dung, một hình thức, phương pháp. Giáo dục pháp luật cho phạm nhân là giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù nhất. Vì vậy, cần phải xây dựng nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật riêng phù hợp với đặc điểm của phạm nhân. Đây là điều kiện tiên quyết ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân. Nội dung, hình thức và phương pháp giáo dục pháp luật cho phạm nhân có mối quan hệ biện chứng với nhau tạo thành một tổ hợp thống nhất của hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân. Nội dung giáo dục pháp luật cơ bản, thiết thực được truyền tải bằng các hình thức, phương pháp giáo dục đa dạng, sinh động, dễ hiểu sẽ thu hút, tạo được sự quan tâm hào hứng và khơi dậy nhu cầu học tập nội tại của chính các phạm nhân và ngược lại.
Nội dung giáo dục pháp luật cho phạm nhân, ngoài các nội dung có tính chất “quy định cứng”, thì tùy theo cơ cấu, đặc điểm tình hình phạm nhân ở các trại giam, các trại giam có thể xây dựng những chuyên đề giáo dục pháp luật có tính chất hẹp, chuyên sâu, thiết thực hơn để giảng dạy cho phạm nhân. Đối với hình thức, phương pháp giáo dục pháp luật cho phạm nhân ngoài những hình thức, phương pháp đang được các trại giam sử dụng phổ biến cần tiếp tục đa dạng hóa các hình thức giáo dục pháp luật khác, nhân rộng các mô hình mới có hiệu quả phù hợp với các quy định của pháp luật và điều kiện từng trại giam.
1.5.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong trại giam Luận văn: Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong.
Về nhận thức và kiến thức pháp luật của phạm nhân: phạm nhân hiểu được các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta đối với phạm nhân trong các trại giam, và ý nghĩa nhân văn, nhân đạo của các chủ trương, đường lối, chính sách đó. Phạm nhân nắm được các quyền và nghĩa vụ của công dân. Phạm nhân phải nhận thức rõ, đúng đắn về hậu quả, mức độ hành vi phạm tội của mình gây ra là trái với các quy định của pháp luật, xâm hại các quan hệ xã hội đang được Nhà nước bảo vệ, ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội trước đây. Phạm nhân nhận biết, tiếp thu, ghi nhớ, tích lũy được những thông tin, kiến thức pháp luật cơ bản phục vụ trực tiếp cho quá trình chấp hành án phạt tù và sau khi mãn hạn tù trở về với cộng đồng.
Về thái độ, tình cảm đối với pháp luật của phạm nhân: phạm nhân có thái độ tin tưởng vào các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của nhà nước, có niềm tin vào sự công bằng, công minh của pháp luật; tôn trọng pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật, tuân thủ nội quy, quy chế trại giam; quyết tâm cải tạo tốt, vươn lên làm lại cuộc đời; biết đồng tình, ủng hộ các hành vi, việc làm đúng; phản đối hành vi, việc làm vi phạm chính sách, pháp luật của nhà nước; đi ngược lại các chuẩn mực đạo đức xã hội.
Về kĩ năng, hành vi pháp luật của phạm nhân: thể hiện qua khả năng vận dụng các kiến thức pháp luật trong quá trình học tập pháp luật để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của phạm nhân trong quá trình chấp hành án tại trại giam, phạm nhân không vi phạm nội quy, quy chế của trại giam, thực hiện hành vi phạm tội mới trong trại giam; biết phân tích, đánh giá, phân biệt giữa các hành vi, việc làm phù hợp và không phù hợp với các giá trị, chuẩn mực pháp luật và đạo đức; xây dựng, củng cố hành vi pháp luật hợp pháp, tích cực; biết sống và làm việc theo pháp luật khi chấp hành xong án phạt tù; có các kĩ năng sống cơ bản, cần thiết để có thể vượt qua được những khó khăn, mặc cảm, định kiến, sửa chữa lỗi lầm, hoàn lương, hòa nhập với gia đình và cộng đồng.
Kết luận chương 1 Luận văn: Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong.
Giáo dục pháp luật pháp luật cho phạm nhân là hoạt động có tính chất khó khăn, gian khổ, phức tạp nhất và cũng là hoạt động có ý nghĩa quan trọng về chính trị, pháp lý, kinh tế, xã hội và mang tính nhân văn sâu sắc nhất thể hiện bản chất truyền thống của nhà nước Việt Nam. Giáo dục pháp luật cho phạm nhân vừa có ý nghĩa quan trọng trong việc phòng ngừa, giáo dục phạm nhân sau khi chấp hành án xong không tái phạm tội, vi phạm pháp luật, trở thành con người lương thiện, có ích cho xã hội và giúp đỡ họ tái hòa nhập cộng đồng.
Giáo dục pháp luật cho phạm nhân trong các trại giam có đầy đủ các đặc điểm của giáo dục pháp luật cho các đối tượng khác trong xã hội.Đó là hoạt động giáo dục pháp luật có sự tương tác giữa chủ thể giáo dục pháp luật và đối tượng tiếp nhận giáo dục pháp luật;là hoạt động có mục đích, có tổ chức,tuân theo kế hoạch, chương trình, những nội dung giáo dục pháp luật nhất định; bằng nhiều hình thức,phương pháp giáo dục pháp luật cụ thể.
Giáo dục pháp luật cho phạm nhân có vai trò, ý nghĩa to lớn đối với xã hội và bản thân các phạm nhân, qua đó giúp cho các phạm nhân nhận thức được lỗi lầm của mình gây ra; cung cấp, trang bị những thông tin, kiến thức pháp luật cần thiết cho phạm nhân trong quá trình chấp hành án phạt tù; góp phần định hướng, xây dựng, hình thành thái độ tích cực, củng cố niềm tin đối với pháp luật cho phạm nhân; chuẩn bị hành trang kiến thức pháp luật cần thiết để phạm nhân tái hòa nhập cộng đồng sau khi mãn hạn chấp hành án phạt tù, trở thành công dân có ích cho xã hội; góp phần phòng, chống hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm ngoài xã hội, phát triển, sáng tạo văn hóa pháp lý và hoàn thiện pháp luật.
Mục đích cuối cùng của hoạt động giáo dục pháp luật phạm nhân chính là để đầu vào là một người phạm tội, đầu ra là một công dân lương thiện, có ích cho xã hội, có ý thức chấp hành các quy định pháp luật nhà nước. Luận văn: Giáo dục pháp luật từ thực tiễn trại giam Thanh Phong.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng hoạt động giáo dục pháp luật cho phạm nhân

Pingback: Luận văn: Giải pháp giáo dục pháp luật cho phạm nhân ở trại giam