Luận văn: Thực trạng pháp luật hoãn thi hành án của Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng pháp luật hoãn thi hành án của Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng của Việt Nam về hoãn thi hành án hình sự dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Thực trạng pháp luật về hoãn thi hành án hình sự ở Việt Nam

2.1.1. Hoãn thi hành đối với những biện pháp tư pháp

Tại khoản 1 Điều 70 ộ luật hình sự quy định 02 biện pháp tư pháp để áp dụng trong những trường hợp cụ thể đó là giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào trường giáo dưỡng. Nhưng đối với trường hợp giáo dục tại xã phường thì việc hoãn thi hành án không đặt ra. Còn biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng thì được quy định tại điều 6 của nghị định 52/2001 điều luật này quy định 02 trường hợp có thể hoãn thi hành biện pháp giáo dưỡng đó là:

  1. Đang ốm nặng, đang phải cấp cứu hoặc vì lý do sức khỏe khác mà không thể đi lại được và được cơ quan y tế hoặc bệnh viện từ cấp huyện trở lên chứng nhận;
  2. Có lý do chính đáng khác cản trở việc thi hành biện pháp giáo dưỡng được Trưởng Công an cấp huyện xác nhận.

2.1.2. Hoãn thi hành án đối với những hình phạt không phải là phạt tù

Do đặc thù của những hình phạt này nên việc nghiên cứu chế định hoãn thi hành án cũng chỉ tập trung vào một số hình phạt nhất định như các hình phạt tù và hình phạt tử hình. Tại Điều 58 của luật thi hành án hình sự đã quy định về Hoãn thi hành án tử hình. Theo quy định này sẽ có 03 căn cứ để hoãn thi hành án tử hình. Thứ nhất là người bị kết án thuộc trường hợp quy định tại Điều 35 của luật hình sự, căn cứ này đã tương đối rõ ràng. Thứ hai đó là có lý do bất khả kháng, lý do bất khả kháng ở đây có thể do khách quan như thiên tai hay do điều kiện kỹ thuật hoặc cũng có thể do yếu tố con người như thành phần hội đồng thi hành án tử hình. Lý do thứ ba thì xuất phát từ mục đích tạo điều kiện cho người bị kết án có thể lập công chuộc tội.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Thuê Viết Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2.1.3. Hoãn thi hành án phạt tù Luận văn: Thực trạng pháp luật hoãn thi hành án của Việt Nam.

2.1.3.1. Hoãn thi hành hình phạt tù chung thân

  • Tù chung thân là hình phạt tù không thời hạn được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
  • Hoãn thi hành hình phạt tù chung thân được quy định tại Điều 61 ộ luật hình sự.
  • Trên thực tế tại Việt Nam tuy có hành lang pháp lý cho việc hoãn thi hành án đối với những trường hợp tù chung thân nhưng việc cho bị án bị kết án tù chung thân được hoãn thi hành án là rất ít.

2.1.3.2. Hoãn thi hành hình phạt tù có thời hạn

Theo quy định thì người bị kết án ngoài những điều kiện cụ thể ra thì họ cần phải thỏa mãn đồng thời những điều kiện chung sau đây:

  • Điều kiện đầu tiên là: Họ có nơi làm việc hoặc nơi cư trú ổn định.
  • Điều kiện thứ hai là: không có căn cứ cho rằng họ bỏ trốn.
  • Điều kiện thứ ba là: sau khi bị phạt tù không có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng.
  • Sau khi đã thỏa mãn những điều kiện chung như nêu trên thì người bị kết án nếu thuộc một trong những điều kiện quy định dưới đây thì có thể được hoãn thi hành án.

Một là, người bị kết án là lao động duy nhất trong gia đình. Luận văn: Thực trạng pháp luật hoãn thi hành án của Việt Nam.

Người bị kết án là lao động duy nhất trong gia đình là người có đủ những điều kiện sau:

  • Thứ nhất: Là người bị kết án không phải về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng.
  • Thứ hai: là người duy nhất trong gia đình đang lao động có thu nhập.
  • Thứ ba: nếu bắt họ đi chấp hành hình phạt tù thì gia đình họ sẽ gặp khó khăn đặc biệt trong cuộc sống.

Họ có thể được hoãn tối đa là 1 năm.

Hai là, người bị kết án đang bị bệnh nặng.

Theo quy định người bị bệnh nặng là người đang mắc một trong các bệnh mà mức độ nghiêm trọng của bệnh đó được liệt kê của tiểu mục trên ngoài ra có thể còn một số trường hợp khác vì trong hướng dẫn của nghị quyết ngoài phần liệt kê còn có “… ” có nghĩa là có một số những bệnh khác nếu bệnh đó cũng làm cho người bị kết án không thể đi thi hành án được.

Tình trạng bệnh của người bị kết án phải được chứng minh bởi Kết luận của bệnh viện cấp tỉnh trở lên về việc nếu người bị kết án bị bệnh nặng và nếu phải đi chấp hành án sẽ nguy hiểm đến tính mạng của họ.

Người bị kết án đang bị bệnh nặng được hoãn đến khi sức khỏe hồi phục.

Ba là, người bị kết án đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi.

Theo quy định thì phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi (không phân biệt là con đẻ hay con nuôi), nếu họ bị xử phạt tù lần đầu. Luận văn: Thực trạng pháp luật hoãn thi hành án của Việt Nam.

Và để hiểu rõ hơn từ đó đưa ra những nhận định về các quy phạm liên quan đến việc hoãn thi hành án vì lý do đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi ta cần xem xét cụ thể một số vấn đề sau: Thứ nhất là quy định về điều kiện đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Thứ hai là về thời hạn hoãn thi hành án đối với trường hợp đang mang thai hay nuôi con dưới 36 tháng Thứ ba là trong chế định hoãn thi hành án chưa có có quy phạm nào quy định về trường hợp nếu có vấn đề rủi ro xảy ra đối với đứa trẻ là trong quá trình hoãn thi hành án ví dụ trường hợp đứa trẻ qua đời

Bốn là, hoãn thi hành án vì lý do công vụ.

Theo quy định thì người bị kết án về tội ít nghiêm trọng và do nhu cầu công vụ, tức là do nhu cầu của cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương cần thiết sự có mặt của họ để thực hiện công vụ nhất định và nếu bắt họ đi chấp hành hình phạt tù ngay thì chưa có người thay thế họ (có xác nhận bằng văn bản của cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương có liên quan đến việc thực hiện công vụ đó).

2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về hoãn thi hành án hình sự ở Việt Nam Luận văn: Thực trạng pháp luật hoãn thi hành án của Việt Nam.

2.2.1. Hoãn thi hành án đối với trường hợp áp dụng biện pháp tư pháp

Qua quá trình thu thập tài liệu và thống kê số liệu trên phạm vi toàn quốc trong thời hạn 05 năm tại Tòa án nhân dân tối cao về số liệu hoãn thi hành án đối với trường hợp đưa vào trường giáo dưỡng cho thấy trong vòng 05 năm không có trường hợp người chưa thành niên nào bị Tòa án áp dụng biện pháp tư pháp đưa vào trường giáo dưỡng được hoãn thi hành án. Chính vì lẽ đó tác giả cũng chưa có những trường hợp thực tế để đánh giá và phân tích

2.2.2. Hoãn thi hành án đối với hình phạt không phải là hình phạt tù

Như đã phân tích ở phần thực trạng pháp luật về hoãn thi hành án đối với những hình phạt không phải là phạt tù, trong phần này chúng ta chỉ xem xét về thực tiễn áp dụng đối với trường hợp hoãn thi hành hình phạt tử hình. Hoãn thi hành án đối với hình phạt tử hình trên thực tế đã có rất nhiều trường hợp hoãn thi hành hình phạt tử hình, nhưng do đặc thù của hình phạt này và nhằm đảm bảo tính bảo mật trong hoạt động nghiệp vụ nên số liệu về hoãn thi hành án tử hình không được công bố một cách công khai. Tuy nhiên trên thực tế cũng đã có những trường hợp hoãn thi hành án hình sự được các cơ quan có thẩm quyền thông báo như một hình thức tuyên truyền về tính nhân đạo pháp luật. Cũng có những trường hợp hoãn thi hành án tử hình gắn liền với một số những vi phạm pháp luật hoặc những sai sót trong quá trình quản lý phạm nhân.

2.2.3. Hoãn thi hành hình phạt tù Luận văn: Thực trạng pháp luật hoãn thi hành án của Việt Nam.

2.2.3.1. Hoãn thi hành hình phạt tù vì lý do bệnh nặng

Đối chiếu những tài liệu trong hồ sơ thực tiễn với những điều kiện luật quy định để được hoãn thi hành án vì lý do bệnh tật ta có thể thấy một số vấn đề cần xem xét như sau:: Thứ nhất đó là thẩm quyền ra quyết định hoãn thi hành án. Thứ hai là điều kiện hoãn thi hành án. Thứ ba là những tài liệu chứng minh điều kiện được hoãn thi hành án. Thứ tư là thời hạn được hoãn thi hành án.

Qua nghiên cứu hồ sơ hoãn thi hành án vì lý do bệnh tật ở trên và một số hồ sơ hoãn thi hành án khác thì thấy rằng trên thực tế khi giải quyết các hồ sơ hoãn thi hành án các cơ quan có thẩm quyền mà cụ thể ở đây là các Tòa án cũng đã có những vận dụng khá linh hoạt cho phù hợp với tình hình thực tế mà vẫn đảm bảo được ý nghĩa của chế định hoãn thi hành án này.

2.2.3.2. Hoãn thi hành án vì lý do mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi

Qua nghiên cứu một số trường hợp hoãn thi hành án vì lý do trên thì thấy có một số vấn đề sau:

Thứ nhất, về thời hạn hoãn thi hành án đối với những bị án đang mang thai thì các Tòa án thường cho hoãn thi hành án với thời gian khoảng 6 tháng đến 9 tháng. Sau thời gian hoãn đó nếu người bị kết án đã sinh con thì Tòa án sẽ hướng dẫn họ làm các thủ tục tiếp theo để được tiếp tục hoãn thi hành án cho đến khi con của họ đủ 36 tháng tuổi.

Thứ hai, trường hợp người bị kết án đã sinh con và đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi nếu đủ các điều kiện được hoãn thi hành án thì các Tòa án thường căn cứ vào giấy khai sinh hoặc giấy chứng sinh để cho người bị kết án đó được hoãn thi hành án đến khi con của họ đủ 36 tháng tuổi. Luận văn: Thực trạng pháp luật hoãn thi hành án của Việt Nam.

Thứ ba, về quản lý và giám sát người bị kết án thì hiện nay do căn cứ pháp lý chưa có nên hầu hết các cơ quan có thẩm quyền vẫn chưa có biện pháp giải quyết trong trường hợp người bị kết án tuy không còn nuôi con dưới 36 tháng tuổi nữa nhưng thời hạn hoãn thi hành án không còn.

2.2.3.3. Hoãn thi hành án vì lý do đang là lao động duy nhất trong gia đình

Qua nghiên cứu những hồ sơ về hoãn thi hành án do bị án là lao động duy nhất có những điều kiện sau:

Đầu tiên là về điều kiện nơi cư trú hoặc nơi làm việc ổn định thì các hồ sơ hoãn đều xác định xem người bị kết án có nơi cư trú ổn định rõ ràng. Và cơ quan cung cấp thông tin về nơi cư trú này là Ủy ban nhân dân và công an cấp xã.

Điều kiện tiếp theo là không có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng: Điều kiện này thì qua thể hiện trong thời gian ăn ở đó có hành vi vi phạm pháp luật nào khác không. Ý thức chấp hành pháp luật nói chung như thế nào.

Điều kiện thứ ba là không có căn cứ cho rằng họ bỏ trốn: Căn cứ này được chứng minh qua những tài liệu thể hiện họ thường xuyên ăn ở tại một địa chỉ khi các cơ quan có thẩm quyền mời lên làm việc thì họ trình diện đúng thời gian và địa điểm.

Điều kiện thứ tư: Là người duy nhất trong gia đình đang lao động có thu nhập. điều kiện này được thể hiện bằng đồng thời 02 loại tài liệu.

  1. Loại tài liệu thứ nhất đó là tài liệu chứng minh người bị kết án đang có công ăn việc làm để tạo ra thu nhập.
  2. Loại tài liệu thứ hai thể hiện họ là người duy nhất trong gia đình đang có thu nhập

Nhưng trong một số trường hợp cho rằng nếu trong gia đình họ tuy có một hoặc một số người khác đang trong tuổi lao động nhưng những người đó không có bất kỳ thu nhập nào mà chỉ có người bị kết án là người lao động có thu nhập thì vẫn có thể cho người bị kết án được hoãn thi hành án. Luận văn: Thực trạng pháp luật hoãn thi hành án của Việt Nam.

2.2.3.4. Hoãn thi hành án vì lý do công vụ.

Qua số liệu thống kê 05 gần đây (số liệu từ Tòa án nhân dân Tối cao) thì thấy rằng trong 05 năm không có bất kỳ trường hợp nào người bị kết án được hoãn thi hành án vì lý do cộng vụ. Lý do này xuất phát từ một số thực tế trong quá trình xử lý đối với cán bộ công chức nhà nước khi có những hành vi phạm tội khi bị cơ quan điều tra khởi tố bị can thì công chức đó thường sẽ bị xử lý hình thức kỷ luật là tạm đình chỉ công tác. Đến khi họ bị kết tội bởi một bản án có hiệu lực thì thông thường họ sẽ bị kỷ luật buộc thôi việc.

2.3. Cơ chế thực hiện pháp luật về hoãn thi hành án hình sự ở Việt Nam

Cơ chế thực hiện pháp luật về hoãn thi hành án hình sự được thể hiện ở một số lĩnh vực sau:

  • Chủ thể có quyền đề nghị cho bị án được hoãn thi hành án bao gồm bị án, người thân thích của bị án, Cơ quan thi hành án hình sự, Viện kiểm sát, và Tòa án.
  • Cơ quan quyết định định là Tòa án nơi ra quyết định thi hành án.
  • Cơ quan giám sát các hoạt động này là Viện kiểm sát cùng cấp
  • Cơ quan có quyền kiến nghị hủy quyết định hoãn thi hành án là Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp với Tòa án đã ra quyết định hoãn thi hành án.
  • Sự phối kết hợp giữa các cơ quan trong hoạt động hoãn thi hành án hình sự.
  • Cơ chế kiểm sát giám sát trong hoạt động hoãn thi hành án hình sự: Cơ chế giám sát trong lĩnh vực này chưa mang đến sự minh bạch và hiệu quả bởi chính sự phối hợp chặt chẽ đôi khi mang tính tình cảm giữa các cơ quan thực thi và cơ quan giám sát.

2.4. Một số đánh giá nhận xét về thực trạng của các quy định về hoãn thi hành án hình sự Luận văn: Thực trạng pháp luật hoãn thi hành án của Việt Nam.

Qua phân tích những quy phạm pháp luật và thực tế áp dụng những quy định trên trong thực tế tác giả có một số đánh giá nhận xét về các quy định về hoãn thi hành án hình sự như sau:

Thứ nhất: Trong pháp luật hình sự nói chung và pháp luật về thi hành án hình sự nói riêng chưa có quy định như thế nào là hoãn thi hành án hình sự dẫn đến có những cách hiểu không thống nhất giữa các chủ thể dẫn đến việc áp dụng cũng không thống nhất. Điều này ảnh hưởng đến tính công bằng và nghiêm minh của pháp luật.

Thứ hai: Theo quy định tại tiểu mục 7.1 mục 7 nghị quyết 01 ngày 02 tháng 10 năm 2007 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định về một trong những điều kiện chung của người bị kết án có để có thể được xem xét để được hoãn thi hành án đó là sau khi bị kết án không có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng.

Thứ ba: Theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 61- ộ luật hình sự thì đối với trường hợp này người bị kết án có thể được hoãn thi hành án đến khi con đủ 36 tháng tuổi. Nhưng trong trường hợp người bị kết án đang mang thai thì không có căn cứ để xác định trường hợp này.

Trường hợp người bị kết án được hoãn thi hành án vì đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi. Nhưng thực tế họ lại không nuôi đứa trẻ trên nữa mà cho người khác nhận làm con nuôi. Hoặc trong trường hợp xấu đứa trẻ chết trước khi đủ 36 tháng tuổi thì người bị kết án vẫn còn thời hạn được hoãn nhưng thực tế thì căn cứ để được hoãn thi hành án đã không còn.

Thứ tư: Theo quy định tại tiểu mục 7.1 mục 7 nghị quyết 01 thì “không có căn cứ cho rằng họ bỏ trốn” quy định này không có căn cứ rõ ràng Luận văn: Thực trạng pháp luật hoãn thi hành án của Việt Nam.

Thứ năm: Trong luật hình sự Việt Nam không có khái niệm cụ thể về “tại ngoại” nhưng trong quy định về hoãn thi hành án hình sự lại đưa “tại ngoại” là một điều kiện chung để xem xét.

Thứ sáu: Trong trường hợp đứa trẻ chỉ còn duy nhất là người bố đẻ đang trực tiếp nuôi dưỡng. Nếu bắt ông bố đó đi thi hành án thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của đứa trẻ và mục đích bảo vệ quyền trẻ em là không đạt được. Nhưng nếu không bắt đi thi hành án thì lại vi phạm nghiệm trọng luật tố tụng hình sự ảnh hưởng đến tính pháp chế XHCN. Chính vì vậy theo tôi đây cũng là quy định cần được nghiên cứu và bổ sung cho phù hợp để bảo vệ được tốt hơn quyền của trẻ em

Thứ bảy: Là việc quản lý đối với người bị kết án được hoãn thi hành án chưa phù hợp.

Thứ tám: Quy định về tài liệu hồ sơ đề nghị hoãn thi hành án cho người bị kết án mà không đưa ra điều kiện bắt buộc là cần có ý kiến của người bị kết án là không hợp lý. Luận văn: Thực trạng pháp luật hoãn thi hành án của Việt Nam.

Thứ chín: Trường hợp bị án bị bệnh nặng được hoãn thi hành án đến khi “sức khỏe hồi phục”. Nhưng không có quy định như thế nào được coi là sức khỏe hồi phục, cũng không giao cho cơ quan nào có quyền đưa ra những kết luận đó là chưa hợp lý.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Kiến nghị pháp luật hoãn thi hành án của Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *