Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài: Thực trạng hoạt động mua bán, sáp nhập các Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam trường hợp nghiên cứu tại ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. KHUNG PHÁP LÝ CHO HOẠT ĐỘNG MUA BÁN, SÁP NHẬP NGÂN HÀNG TẠI VIỆT NAM

Hoạt động M&A doanh nghiệp nói chung và M&A ngân hàng thương mại nói riêng tại Việt Nam chưa có văn bản pháp lý riêng quy định cụ thể mà chịu sự chi phối của nhiều văn bản pháp lý khác nhau. Hiện nay, Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Cạnh tranh, Luật Đầu tư đều có điều khoản quy định về hoạt động M&A doanh nghiệp. Trong đó:

Bộ luật Dân sự năm 2021, bắt đầu có hiệu lực từ năm 2023 có điều khoản quy định về hoạt động hợp nhất, sáp nhập pháp nhân. Tại điều 88 Bộ luật Dân sự 2021, hợp nhất pháp nhân là các pháp nhân có thể hợp nhất thành pháp nhân mới. Kể từ khi pháp nhân mới thành lập, các pháp nhân cũ chấm dứt tồn tại. Mọi quyền lợi và nghĩa vụ của các pháp nhân cũ sẽ được chuyển giao cho pháp nhân mới. Cũng tại Bộ luật này, điều 89 quy định về hoạt động sáp nhập pháp nhân. Theo đó, một pháp nhân có thể được sáp nhập và một pháp nhân khác. Sau khi sáp nhập, pháp nhân được sáp nhập chấm dứt tồn tại, mọi quyền lợi và nghĩa vụ của pháp nhân dược sáp nhập đều được chuyển giao cho pháp nhân sáp nhập. Những quy định trong Bộ luật Dân sự 2021 đã tạo ra khung pháp lý mở hơn cho hoạt động hợp nhất, sáp nhập khi bỏ đi quy định bắt buộc hoạt động hợp nhất, sáp nhập phải được thực hiện bởi các pháp nhân cùng loại. Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

Luật Doanh nghiệp mới nhất năm 2020 đề cập đến sáp nhập doanh nghiệp như là hành vi “tổ chức lại doanh nghiệp”, xuất phát từ chính nhu cầu của doanh nghiệp. Các công ty cùng loại hoặc khác loại có thể sáp nhập lại với nhau. Các vấn đề về quyền và nhiệm vụ của Đại hội đồng cổ đông cũng được quy định rõ trong Luật này. Khoản 2, điều 194 và khoản 2, điều 195 của Luật Doanh nghiệp 2020 quy định rõ về thủ tục hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp. Quy định nào tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể tham gia hoạt động nắm được thủ tục pháp lý để thực hiện hoạt động M&A. Ngoài ra, để đảm bảo tính cạnh tranh trên thị trường, Luật Doanh nghiệp 2020 cũng quy định về hành vi tập trung kinh tế sau khi hợp nhất, sáp nhập. Tại khoản 2, điều 194 và khoản 3 điều 195, Luật này cấm các trường hợp các công ty hợp nhất, nhận sáp nhập có thị phần trên 50%.

Luật Cạnh tranh 2004 đưa ra các quy định liên quan đến sáp nhập, hợp nhất và mua lại doanh nghiệp trong nội dung về tập trung kinh tế. Điều 17 của Luật Cạnh tranh 2004 quy định rõ các khái niệm liên quan đến sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp và mua lại doanh nghiệp. Trong đó, sáp nhập doanh nghiệp là “việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời, chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập”. Khoản 2 điều 17 Luật Cạnh tranh 2004 quy định “hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hay nhiều nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất”. Tại khoản 3, điều 17 của Luật Cạnh tranh 2004, “mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp mua toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối toàn bộ hoặc một ngành nghề của doanh nghiệp bị mua lại”. Luật Cạnh tranh 2004 đề cập đến hoạt động mua bán, hợp nhất, sáp nhập doanh nghiệp trong nội dung tập trung kinh tế để kiểm soát việc hình thành nên các doanh nghiệp, tập đoàn lớn thao túng thị trường, gây thiệt hại cho người tiêu dùng, doanh nghiệp và nền kinh tế. Thông qua việc đánh giá thị phần, luật này cấm tập trung kinh tế khi thị phần kết hợp giữa các doanh nghiệp tham gia hoạt động mua bán, sáp nhập, hợp nhất chiếm trên 50% thị trường liên quan, trừ trường hợp sau khi tập trung kinh tế vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp, thị phần kết hợp trên thị trường của các doanh nghiệp tham gia hành vi tập trung kinh tế dưới 30% hoặc vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định thì các doanh nghiệp không cần phải thực hiện thủ tục thông báo bắt buộc cho Cục Quản lý cạnh tranh. Đồng thời, Luật cũng quy định bắt buộc đại diện hợp pháp của các doanh nghiệp sau tham gia tập trung kinh tế chiếm thị phần 30 – 50% thị trường liên quan phải thực hiện thủ tục thông báo cho Cục Quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành tập trung kinh tế. Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

Thông tư số 04/2016/TT-NHNN là văn bản pháp luật duy nhất quy định về hoạt động M&A đối với các ngân hàng thương mại. Được ban hành vào ngày 11/02/2016, thông tư này được xem như là cơ sở pháp lý, hướng dẫn thực hiện hoạt động sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng. Thông tư này quy định rõ các nội dung liên quan đến điều kiện để các tổ chức tín dụng được tham gia M&A. Bên cạnh đó, thông tư này cũng quy định rõ về trình tự và thủ tục xử lý, hồ sơ đề nghị M&A cũng như đề án M&A để giúp các tổ chức tín dụng, trong đó có ngân hàng thương mại hiểu và nắm được các thủ tục pháp lý nhằm thực hiện hoạt động M&A. Sự ra đời của Thông tư vào năm 2016 cơ bản đã tạo ra được hành lang pháp lý cần thiết cho hoạt động tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại giai đoạn 2017 – 2021. Tuy nhiên, hiện nay thông tư này được xem là khá cũ chưa còn phù hợp với xu hướng M&A của các ngân hàng thương mại trong thời gian tới.

Như vậy, việc có nhiều văn bản pháp lý khác nhau đưa ra các quy định về hoạt động M&A doanh nghiệp nói chung, ngân hàng thương mại nói riêng chưa thực sự tạo ra hành lang thuận lợi cho hoạt động M&A phát triển. Cùng với quá trình hội nhập quốc tế, hoạt động M&A ngân hàng thương mại không chỉ diễn ra giữa các ngân hàng thương mại mà còn có thể diễn ra với các tổ chức khác trong và ngoài nước, vì vậy, cần hoàn thiện cơ chế pháp lý để tạo điều kiện cho các ngân hàng thương mại trong việc thực hiện các thương vụ M&A trong thời gian tới.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Nhận Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tài Chính Ngân Hàng

2.2. KHÁI QUÁT THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MUA BÁN, SÁP NHẬP CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2020 – 2023

Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2017 – 2021” được ra đời với một trong những mục tiêu được đề ra là xử lý các ngân hàng thương mại yếu kém thông qua hoạt động hợp nhất, sáp nhập. Sau khi thực hiện thành công 7 thương vụ M&A với sự tham gia của 16 ngân hàng thương mại, hệ thống ngân hàng đã giảm bớt 10 ngân hàng thương mại (PGS. TS. Nguyễn Hồng Sơn & ctg, 2023). Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

Điều này góp phần không nhỏ trong việc giải quyết các ngân hàng thương mại nhỏ, hoạt động yếu kém, từ đó nâng cao tính ổn định của hệ thống, hạn chế tình trạng cạnh tranh không lành mạnh giữa các ngân hàng.

Trong giai đoạn 2020 – 2023, chỉ có 03 thương vụ được thực hiện thành công vào năm 2021. Đầu tiên là thương vụ sáp nhập giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam với Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long vào tháng 5/2021. Đến tháng 8 năm 2021, Ngân hàng Thương mại cổ phần Hàng hải Việt Nam đã nhận sáp nhập Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển Mê Kong. Sau đó 2 tháng, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín chính thức được Ngân hàng Nhà nước phê duyệt thông qua việc nhận sáp nhập với Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam. Về cơ bản, hoạt động M&A ngân hàng trong giai đoạn 2017 – 2023 thông qua việc xử lý các ngân hàng yếu kém bằng biện pháp M&A đã góp phần nâng cao “sức khỏe” hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng tham gia vào các thương vụ M&A cũng đạt được nhiều kết quả khả quan khi tăng trưởng thần tốc về quy mô tài sản, vốn, nhân sự và mạng lưới hoạt động. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong đó, chủ yếu về mặt quy mô, các ngân hàng sau khi nhận sáp nhập thường phải trải qua thời gian dài để ổn định do những hạn chế của quá trình sáp nhập mang lại như biến động nhân sự, sức khỏe ngân hàng bị sáp nhập kém…Trong 03 thương vụ sáp nhập diễn ra năm 2021, thương vụ sáp nhập giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và Ngân Hàng Thương mại cổ phần Phương Nam được xem như là một thương vụ điển hình về những hậu quả của việc sáp nhập. Nguyên nhân là do sau 2 năm sáp nhập, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín vẫn còn có quá nhiều vấn đề tồn tại như lợi nhuận giảm sút nghiêm trọng, nợ xấu tăng cao, bị đưa vào diện phải tái cơ cấu…

Đề tài đi sâu vào nghiên cứu trường hợp sáp nhập giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và Ngân Hàng Thương mại cổ phần Phương Nam nhằm đánh giá về hoạt động hậu sáp nhập của các ngân hàng thương mại, trong đó, tập trung về hiệu quả kinh doanh của ngân hàng theo mô hình CAMEL cũng như những yếu tố liên quan đến văn hóa doanh nghiệp và nhân sự. Từ đây, đề tài sẽ đưa ra những giải pháp, đề xuất, kiến nghị giúp các ngân hàng thương mại hạn chế, khắc phục những tác hại của việc sáp nhập đến hoạt động ngân hàng.

2.3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MUA BÁN, SÁP NHẬP VỚI NGÂN HÀNG Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

2.3.1. Giới thiệu Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn thương tín và Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam trước khi sáp nhập

2.3.1.1. Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn thương tín

  • Tên gọi: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN THƯƠNG TÍN
  • Tên tiếng Anh: SAI GON THUONG TIN COMMERCIAL JOINT STOCK BANK
  • Tên viết tắt: NGÂN HÀNG Thương mại cổ phần SÀI GÒN THƯƠNG TÍN
  • Trụ sở: 266 – 268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, quận 3, Tp. Hồ Chí Minh
  • Website: https://www. Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín.com.

Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín được thành lập vào ngày 05/12/1991 theo Giấy phép hoạt động số 0006/NH-GP do Ngân hàng Nhà nước cấp. Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín được chuyển thể từ Ngân hàng Phát triển kinh tế Gò Vấp và sáp nhập với Hợp tác xã tín dụng Tân Bình, Hợp tác xã Thành Công, Hợp tác xã Lữ Gia với mức vốn ban đầu chưa đến 3 tỷ đồng. Sau 10 năm kể từ này thành lập, khi quy mô nguồn vốn được tăng dần lên 190 tỷ vào năm 2001, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín đã có những thay đổi mạnh mẽ như mở rộng mạng lưới chi nhánh đến 20 tỉnh thành cả nước, xác lập quan hệ với hơn 80 chi nhánh ngân hàng trên khắp thế giới… Ngày 12/07/2006 được xem là dấu mốc lịch sử đáng nhớ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín khi trở thành ngân hàng thương mại đầu tiên của hệ thống ngân hàng thương mại niêm yết trên thị trường chứng khoán. Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín còn trở thành ngân hàng thương mại Việt Nam đầu tiên khai trương chi nhánh ở nước ngoài Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín – Chi nhánh Lào và một năm sau là chi nhánh mới ở Campuchia, hoàn thành chiến lược phát triển toàn bán đảo Đông Dương. Đây là một trong những bước đi để Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín vươn mình trở thành Tập đoàn tài chính ngân hàng theo định hướng đặt ra. Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trước khi sáp nhập có đội ngũ lãnh đạo có năng lực quản trị, năng lực chuyên môn cao và giàu kinh nghiệm. HĐQT của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trước khi sáp nhập là 9 người, ban kiểm soát là 3 người và Ban điều hành là 20 người. Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín có 12.608 người lao động, làm việc tại 428 điểm giao dịch trong nước và 11 điểm giao dịch nước ngoài. Hệ thống cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín phù hợp với quy mô hoạt động, có tính chuyên môn hóa cao, đảm bảo tách bạch chức năng và giảm xung đột lợi ích trong hoạt động kinh doanh.

Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín luôn được đánh giá là một trong những ngân hàng thương mại tư nhân hàng đầu Việt Nam xét về quy mô hoạt động cũng như vốn và mạng lưới hoạt động. Cuối năm 2020, vốn điều lệ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín là 12.425 tỷ đồng, thuộc khối Ngân hàng thương mại cổ phần lớn của hệ thống. Mạng lưới chi nhánh giao dịch của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín lên đến 428 điểm giao dịch, trong đó, tại việt Nam là 418 điểm giao dịch và 11 điểm giao dịch ở nước ngoài. Đồng thời, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín cũng liên tục nhận được các giải thưởng danh giá liên tục hàng năm như Ngân hàng bán lẻ tốt nhất Việt Nam, Ngân hàng nội địa tốt nhất Việt Nam…

2.3.1.2. Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

  • Tên gọi: NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN PHƯƠNG NAM
  • Tên tiếng Anh: SOUTHERN COMMERCIAL JOINT STOCK BANK
  • Tên viết tắt: SOUTHERN BANK
  • Trụ sở: 279 Lý Thường Kiệt, phương 15, quận 11, Tp. Hồ Chí Minh.

Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam được thành lập vào tháng 5 năm 1993 với số vốn khiêm tốn ban đầu 10 tỷ đồng. Vào năm 1997, trước chủ trương xây dựng hệ thống ngân hàng thương mại vững mạnh, Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam đã xác định định hướng phát triển trở thành ngân hàng đa sở hữu lớn mạnh theo mô hình ngân hàng thương mại cổ phần. Do đó, Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam đã thực hiện hàng loạt các thương vụ sáp nhập với các ngân hàng cũng như các tổ chức tín dụng trong giai đoạn 1997 – 2003: (1) Sáp nhập với Ngân hàng Thương mại cổ phần Đồng Tháp (1997), (2) sáp nhập Ngân hàng Thương mại cổ phần Đại Nam (1999), (3) mua lại Quỹ tín dụng nhân dân Định Công, Thanh Trì, Hà Nội (2000), (4) sáp nhập với Ngân hàng Thương mại cổ phần Nông thôn Châu Phú (2001) và (5) sáp nhập với Ngân hàng Thương mại cổ phần Nông thôn Cái Sắn, Cần Thơ (2003). Cùng với quá trình phát triển không ngừng nghỉ, từ một ngân hàng với số vốn 10 tỷ và chỉ có 1 Hội sở và 1 chi nhánh thì đến năm 2019, Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam đã đạt vốn điều lệ hơn 4,000 tỷ đồng và đã có 141 chi nhánh, phòng giao dịch trải rộng khắp cả nước. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam được xây dựng đầy đủ các chức năng, bộ phận theo yêu cầu luật định cũng như phù hợp với quy mô hoạt động của ngân hàng. Nhân sự cao cấp của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam gồm 3 người thuộc HĐQT, 3 người thuộc Ban kiểm soát và 11 người nằm trong Ban điều hành. Đội ngũ lao động của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam trước khi sáp nhập là 2,902 người. Đến 01/10/2021, Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam ký kết biên bản bàn giao chính thức sáp nhập vào Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín.

2.3.2. Quá trình sáp nhập giữa Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn thương tín và Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam

2.3.2.1. Giới thiệu về đề án sáp nhập giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và Ngân Hàng Thương mại cổ phần Phương Nam Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

Năm 2021, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu đề ra, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý. Đồng thời, triển khai đồng bộ các giải pháp về hoàn thiện thể chế, công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát để bảo đảm hoạt động của hệ thống các TCTD an toàn, tuân thủ theo các quy định pháp luật. Tiếp tục triển khai Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2017-2021, phấn đấu về cơ bản thực hiện đầy đủ các nội dung theo chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước. Trước tính hình đó, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín với tiềm năng phát triển nhanh và bền vững đã quyết định nhận sáp nhập ngân hàng Ngân Hàng Thương mại cổ phần Phương Nam nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Thương vụ sáp nhập giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và Ngân Hàng Thương mại cổ phần Phương Nam đã được hai ngân hàng chính thức khởi động từ tháng 3/2020 và chính thức sáp nhập vào tháng 10/2021. Thời gian chuẩn bị tương đối dài cùng với đơn vị tư vấn giàu kinh nghiệm là Công ty TNHH Ernst & Young, đề án sáp nhập hai ngân hàng đã được xây dựng chi tiết và đầy đủ các nội dung quan trọng, cần thiết cho quá trình thực hiện thương vụ. Nội dung đề án đề cập đến các khía cạnh của quá trình sáp nhập, phân tích các bên tham gia, nhận diện những khó khăn, thách thức trong quá trình sáp nhập (gồm xử lý các vấn đề tài chính phát sinh từ Ngân Hàng Thương mại cổ phần Phương Nam ảnh hưởng đến Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín, những vấn đề về xung đột văn hóa hay phản ứng tiêu cực của thị trường cũng như quá trình tích hợp công nghệ hay đào tạo đội ngũ lao động). Sự ra đời và hoàn thành với đầy đủ các nội dung quan trọng của đề án là một trong những yếu tố làm cho thương vụ sáp nhập giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và Ngân Hàng Thương mại cổ phần Phương Nam được thực hiện thành công.

2.3.2.2. Nguyên nhân sáp nhập Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

Sáp nhập ngân hàng được xem như là một trong những biện pháp hữu hiệu mà Ngân hàng Nhà nước nêu ra trong đề án tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại giai đoạn 2017 – 2021 nhằm tạo ra những ngân hàng có quy mô lớn, năng lực cạnh tranh cao. Dựa trên việc đánh giá năng lực kinh doanh, năng lực hoạt động nội tại của mỗi ngân hàng, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và Ngân Hàng Thương mại cổ phần Phương Nam đều nhận thấy việc sáp nhập là phù hợp với xu thế của thị trường, định hướng của Ngân hàng Nhà nước và cũng xuất phát từ chính nhu cầu của ngân hàng trong quá trình hướng đến phát triển bền vững và an toàn. Những lợi ích mà hai bên Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và Ngân Hàng Thương mại cổ phần Phương Nam cùng nhận thấy là:

Thứ nhất, sau khi sáp nhập Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín sẽ có sự tăng trưởng vượt bậc về quy mô. Cụ thể, sau khi nhận sáp nhập Ngân Hàng Thương mại cổ phần Phương Nam, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín sẽ trở thành ngân hàng nằm trong Top 5 các Ngân hàng thương mại cổ phần lớn nhất Việt Nam về vốn điều lệ, quy mô tài sản và mạng lưới hoạt động. Số lượng khách hàng được mở rộng nhanh chóng lên khoảng 3,5 triệu người.

Thứ hai, ngân hàng nhận sáp nhập sẽ hưởng được giá trị công hưởng to lớn từ thương vụ sáp nhập khi năng lực quản trị điều hành, năng lực quản trị rủi ro được nâng cao thông qua quá trình thừa hưởng bộ máy lãnh đạo cũng như các hệ thống văn bản, quy trình, quy chế, cơ chế quản trị rủi ro, hệ thống cơ sở thông tin của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín. Khả năng nhận diện thương hiệu trên thị trường của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín sẽ được gia tăng, đặc biệt là ở khu vực Đông Nam Bộ, miền Tây Việt Nam – nơi mà Ngân Hàng Thương mại cổ phần Phương Nam đã xây dựng được thương hiệu và chiếm thị phần cao. Bên cạnh đó, nhờ việc sáp nhập, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín sẽ tiết kiệm các chi phí đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực cũng như phát triển mạng lưới, rất có lợi cho định hướng phát triển mảng bán lẻ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín.

Thứ ba, mang lại lợi ích cho các bên có liên quan như khách hàng, cổ đông, đội ngũ nhân viên và xã hội. Trong đó, đối với khách hàng, tất cả các quyền lợi, nghĩa vụ với khách hàng sau khi sáp nhập đều được Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín đảm bảo và thừa hưởng. Lúc này với tiềm lực lớn, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín có thể đưa ra được những sản phẩm dịch vụ phục vụ cho nhóm khách hàng lớn về quy mô và chất lượng đồng thời, tăng khả năng cung ứng vốn ra thị trường. Cổ đông cũng sẽ có lợi khi khả năng sinh lời kỳ vọng được nâng cao, từ đó, đem lại nhiều giá trị thặng dư cho cổ đông. Đội ngũ nhân viên từ việc đang làm cho một ngân hàng nhỏ, có cơ hội được chuyển giao kiến thức mới hiện đại nhằm nâng cao trình độ kỹ năng và cũng là cơ sở để nâng cao thu nhập. Xã hội, đặc biệt là thị trường tài chính – ngân hàng, sẽ trở nên lành mạnh hơn, hiệu quả hơn khi có những ngân hàng thương mại chất lượng, hiệu quả.

2.3.2.3. Nguyên tắc sáp nhập Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

Thứ nhất, nguyên tắc quan trọng nhất của thương vụ sáp nhập giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và Ngân Hàng Thương mại cổ phần Phương Nam là nguyên tắc tự nguyện. Hai bên sáp nhập với nhau dựa trên sự quyết định của Đại hội cổ đông hai ngân hàng. Hai bên tự nguyện hợp nhất vốn, tài sản, công nợ của hai ngân hàng theo giá trị sổ sách.

Thứ hai, ngân hàng nhận sáp nhập Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín sẽ đảm bảo sự kế thừa quyền và nghĩa vụ của Ngân Hàng Thương mại cổ phần Phương Nam sau khi sáp nhập. Nguyên tắc này có nghĩa là Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín sẽ tiếp nhận và thực thi tất cả các quyền của chủ sở hữu đối với những gì là tài sản của ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam như toàn bộ tài sản, thương hiệu, hình ảnh, các tài sản sở hữu trí tuệ khác. Đồng thời, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín cũng phải chịu trách nhiệm về tất cả các khoản nợ, các khoản thuế và các nghĩa vụ tài chính của Ngân Hàng Thương mại cổ phần Phương Nam, cũng như các quyền và nghĩa vụ đối với các giao dịch dân sự, kinh tế thương mại, lao động mà hai ngân hàng đã xác lập trước đó. Trong đó, đối với người lao động, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín sau sáp nhập sẽ sử dụng tất cả cán bộ, nhân viên hiện tại của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và Ngân Hàng Thương mại cổ phần Phương Nam vào ngày sáp nhập. Nguyên tắc này nhằm đảm bảo quyền cũng như nghĩa vụ cho các bên có liên quan với hai ngân hàng.

Thứ ba, hai ngân hàng tham gia sáp nhập phải đảm bảo duy trì hoạt động liên tục, các giao dịch vẫn diễn ra thường xuyên, đồng thời bảo đảm an toàn trong quá trình sáp nhập. Hai bên thỏa thuận về việc nghiêm cấm tẩu tán tài sản dưới mọi hình thức trong quá trình sáp nhập. Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

Một trong những nguyên tắc sáp nhập của đề án được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận có chi tiết: Ông Trầm Bê hiện là Phó Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín tự nguyện cam kết ủy quyền không hủy ngang, vô thời hạn cho Ngân hàng Nhà nước hoặc tổ chức, cá nhân do Ngân hàng Nhà nước chỉ định thực hiện đầy đủ các quyền của cổ đông theo quy định của pháp luật và điều lệ ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam, điều lệ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín sau khi nhận sáp nhập Phương Nam đối với toàn bộ số cổ phần tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín, ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam và ngân hàng sau sáp nhập thuộc quyền sở hữu của ông Trầm Bê và các bên có liên quan. Đây được xem là một trong những điểm khác biệt của thương vụ so với các thương vụ sáp nhập khác của ngành ngân hàng. Với việc được ủy quyền, Ngân hàng Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong hoạt động tái cơ cấu sau khi sáp nhập của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín. Ngân hàng Nhà nước có nghĩa vụ thực hiện trong phạm vi nội dung được ông Trầm Bê ủy quyền. Trước khi ủy quyền không hủy ngang, vô thời hạn cho Ngân hàng Nhà nước, Ông Trầm Bê và nhóm người có liên quan trước khi sáp nhâp đang nắm giữ lượng trên 50% cổ phiếu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín với tỷ lệ hoán đổi được thông qua là 1: 0.75 (tức 1 cổ phiếu của ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam được đổi 0.75 cổ phiếu ngân hàng Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín). Như vậy, sau khi nhận ủy quyền, Ngân hàng Nhà nước là tổ chức đại diện cho toàn bộ số cổ phiếu của Trầm Bê tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và sẽ thực hiện quyền cổ đông đối với toàn bộ số cổ phiếu thuộc sở hữu của Trầm Bê và những người có liên quan. Nói cách khác, Ngân hàng Nhà nước đóng vai trò quan trọng khi đang là người được ủy quyền của nhóm cổ đông nắm quyền định đoạt. Điều này về cơ bản tạo thuận lợi cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trong việc xây dựng kế hoạch phát triển sau sáp nhập.

2.3.2.4. Lộ trình sáp nhập Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

Lộ trình sáp nhập là một trong những nội dung quan trọng của đề án sáp nhập Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam. Những bước cụ thể với thời gian dự kiến tương ứng được xây dựng chi tiết giúp cho thương vụ được thực hiện thành công theo kế hoạch. Trong đó, giai đoạn xin chấp thuận chủ trương của Ngân hàng Nhà nước và Đại hội đồng cổ đông dược thực hiện từ tháng 3 năm 2020. Đây là nội dung chiếm khá nhiều thời gian trong đề án sáp nhập giữa hai ngân hàng khi phải đến tháng 2 năm 2021, sau khi được thông qua, hai bên mới chính thức tiến hành xây dựng và hoàn thiện Dự thảo đề án sáp nhập. Sau 5 tháng, Dự thảo Hồ sơ sáp nhập gồm điều lệ, hợp đồng, đề án đã được trình trước Đại hội đồng cổ đông và sau đó là Ngân hàng Nhà nước. Trong quý III năm 2021, hai bên tiến hành hoàn thiện hồ sơ sáp nhập và trình Ngân hàng Nhà nước để được chấp thuận sáp nhập. Cuối quý III/2021, hai bên sẽ hoàn tất thủ tục sáp nhập và công bố thông tin và hoàn tất các thủ tục sau sáp nhập vào quý IV năm 2021.

Việc xây dựng đề án, trong đó, có lộ trình sáp nhập chi tiết, với sự tư vấn của tổ chức giàu kinh nghiệm đã giúp cho tiến trình sáp nhập của hai ngân hàng diễn ra trôi chảy với khoảng thời gian đúng như dự kiến ban đầu. Quá trình hoàn tất các thủ tục pháp lý cũng như các vấn đề sau sáp nhập như sắp xếp mạng lưới, phòng giao dịch, sắp xếp nhân sự quản trị, điều hành diễn ra trôi chảy, đúng như đề án được xây dựng.

2.4. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

2.4.1. Các hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín sau sáp nhập trong giai đoạn 2020 – 2023

Đứng ở vị thế là ngân hàng nhận sáp nhập, các thông tin chung của hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương tín sau khi sáp nhập không có nhiều thay đổi so với trước khi sáp nhập.

Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trước khi sáp nhập có đội ngũ lãnh đạo có năng lực quản trị, năng lực chuyên môn cao và giàu kinh nghiệm. HĐQT của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trước khi sáp nhập là 9 người, ban kiểm soát là 3 người và Ban điều hành là 20 người. Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín có 12.608 người lao động, làm việc tại 428 điểm giao dịch trong nước và 11 điểm giao dịch nước ngoài. Hệ thống cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín phù hợp với quy mô hoạt động, có tính chuyên môn hóa cao, đảm bảo tách bạch chức năng và giảm xung đột lợi ích trong hoạt động kinh doanh

Mặc dù không thay đổi về thông tin chung nhưng những thông tin liên quan đến quy mô, mạng lưới, đội ngũ nhân sự của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín có nhiều thay đổi sau khi nhận sáp nhập. Với việc nhận sáp nhập Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín đã xây dựng chiến lược đưa Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trở thành tập đoàn tài chính – ngân hàng lớn mạnh ở Việt Nam. Trong đó, ở giai đoạn 2021 – 2022, ngân hàng đưa ra các mục tiêu cơ bản như sau: (1) tập trung tái cấu trúc cơ cấu nguồn vốn và sử dụng vốn theo hướng an toàn, hiệu quả và bền vững, (2) đồng bộ hóa hệ thống nhân sự và khai thác tối đa nguồn nhân lực địa phương, (3) phát triển sản phẩm theo hướng đơn giản – thân thiện – vượt trội, (4) đẩy mạnh các kênh giao dịch hiện đại, (5) triển khai các sản phẩm đa dạng, đa tiện ích, hỗ trợ gia tăng năng suất làm việc của nhân viên, (6) tiến đến áp dụng chuẩn mực Basel II theo thông lệ quốc tế. Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

Sau sáp nhập, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín có lợi thế về quy mô vốn khi vốn điều lệ tăng lên 18,853 tỷ đồng, trở thành Top 5 ngân hàng thương mại tư nhân có vốn tự có cao. Điều này góp phần nâng cao vị thế và khả năng cạnh tranh của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trên thị trường trong nước cũng như vươn mình ra khu vực.

Nhân sự cấp cao của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín sau sáp nhập có thành phần nòng cốt là các thành viên Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trước khi sáp nhập. Tuy nhiên, nếu có nhu cầu từ thực tế và quy mô hoạt động, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín có thể bổ sung thêm người từ Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam cho Ban Kiểm soát và Ban Tổng Giám đốc. Một trong những nội dung Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín triển khai sau khi sáp nhập là thực hiện cơ cấu lại hệ thống quản trị để phù hợp với tổ chức mới. Trong đó, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín tiếp tục hoàn thiện và phát triển các hệ thống quản trị rủi ro phù hợp với nguyên tắc, chuẩn mực của Ủy ban Basel; tiếp tục hoàn thiện tổ chức quản trị doanh nghiệp theo hướng minh bạch nhằm bảo đảm quyền lợi cho tất cả cổ đông, giải quyết hài hòa mối quan hệ lợi ích giữa ban điều hành, cổ đông và người lao động. Thực tế, sau sáp nhập, HĐQT được giữ nguyên 9 người như Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trước khi sáp nhập. Ban kiểm soát của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín hậu sáp nhập được tăng thêm 2 người thanh 5 người và ban điều hành được bổ sung thêm 5 người thành 25 người. Sự tăng lên trong đội ngũ lãnh đạo cấp cao là cần thiết với quy mô hoạt động được mở rộng sau khi sáp nhập. Đến cuối năm 2023, nhân sự cấp quản lý cấp cao của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam đã không còn. Đối với các cấp lãnh đạo khác, trong quá trình sáp nhập không thể tránh hiện tượng trùng lắp, lúc này Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín sẽ xác định những vị trí lãnh đạo cần thiết, tiến hành đánh giá ứng cử viên để chọn lựa ứng cử viên phù hợp nhất. Một số vị trí lãnh đạo cấp phòng giao dịch, cấp chi nhánh đã được chuyển chức danh từ quản lý xuống chuyên viên, một số đề nghị xin thôi việc, một số bị sa thải do không vượt qua được các cuộc sát hạch cũng như không đảm bảo nội dung công việc. Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

Về nhân sự, do nguyên tắc của sáp nhập là bảo đảm quyền lợi của các bên liên quan nên số lượng lao động của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín sau sáp nhập chính là số lao động của hai ngân hàng cộng lại 15,510 người. Công tác đào tạo nhân sự được chú trọng, thể hiện qua việc tổ chức chương trình “Hợp nhất để phát triển”. Chương trình tổ chức các buổi tập huấn cho nhân viên Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam về những thay đổi hệ thống kế toán, hệ thống nghiệp vụ nhằm giúp đảm bảo thông suốt trong quá trình hoạt động. Tất cả các nhân viên tại ngân hàng Phương Nam từ cấp Quản Lý đến chuyên viên đều được tham gia các khóa đào tạo nghiệp vụ tại Trung tâm đào tạo của ngân hàng Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín (có địa chỉ tại 270B, Bạch Đằng, Phường 24, Quận Bình Thạnh, Tp,HCM). Tùy từng vị trí mà thời gian đào tạo sẽ khác nhau, thời gian có thể kéo dài từ 3 đến 8 tuần. Sau thời gian đào tạo, học viên sẽ phải thi hoàn thành khóa, hình thức thi là trắc nghiệm tiến hành trên máy tính, quá trình thi cử được diễn ra hết sức nghiêm túc. Kết quả thi sẽ được gởi về công khai trên trang website của ngân hàng.

Những học viên không đạt kết quả thi dưới 70% sẽ bị chuyển chức danh xuống thấp hơn, hoặc bị giảm lương. Điều này giúp Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín thực hiện được việc sàng lọc nhân sự giỏi, phù hợp với định hướng phát triển. Trong giai đoạn 2021 – 2023, số lượng nhân viên không tái xét hợp động hoặc bị sa thải trước hạn trên toàn hệ thống là từ 500 – 600 người. Đồng thời, hàng năm, để đảm bảo cho hoạt động, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trung bình tuyển mới thêm 2.800 người.

Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín giữ nguyên mạng lưới hoạt động của cả hai bên làm cho mạng lưới của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín sau sáp nhập lên đến 563 điểm giao dịch. Điều này làm cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín có mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch lớn thứ 5 hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, chỉ đứng sau 4 ngân hàng quốc doanh. Trong bối cảnh Thông tư 21/2019/TT-NHNN gây khó cho các ngân hàng thương mại trong việc mở rộng mạng lưới kinh doanh thì việc sáp nhập với Phương Nam tạo ra lợi thế rất lớn cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trong cuộc chiến trên thị trường ngân hàng bán lẻ. Đồng thời, để tăng hiệu quả hoạt động của các điểm giao dịch, tránh hiện tượng chồng chéo địa bàn, hoạt động gần nhau, trong năm 2022, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín đã thực hiện tái bố trí gần 100 điểm giao dịch theo hướng phát triển đến các khu vực ngoại thành, vùng ven, vùng sâu, vùng xa nhằm đem dịch vụ ngân hàng đến tận tay người dân. Các Quỹ tiết kiệm cũng đã được Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín nâng cấp lên thành Phòng giao dịch để được mở rộng các sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khách hàng. Đến cuối năm 2023, 75% chi nhánh cũ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam đã trở thành phòng giao dịch và một số đã trả mặt bằng do trung lặp địa bàn hoạt động với chi nhánh Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín. Điều này giúp Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín cân đối lại mạng lưới hoạt động, phát triển ở những khu vực chưa có điểm giao dịch, thay vì có các điểm giao dịch trùng lắp. Việc tái bố trí lại mạng lưới chi nhánh là cần thiết trong quá trình mở rộng phạm vi hoạt động theo hướng triển khai ở những khu vực chưa khai thác. Đây là động thái phù hợp giúp Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín thu hút thêm khách hàng, tăng doanh thu và tạo ra nhiều lợi nhuận. Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín chú trọng phát triển sản phẩm theo hướng đơn giản – thân thiện – vượt trội thể hiện qua việc liên tục cải tiến các tiện ích hiện đại của các dịch vụ ngân hàng hiện đại, ứng dụng công nghệ cao như Internet Banking, Mobile banking… Nhiều ứng dụng lần đầu tiên được triển khai trên thị trường Việt Nam đã được Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín tiên phong cung cấp như các ứng dụng kết hợp với thẻ, các ứng dụng cho hệ khách hàng doanh nghiệp…Hệ thống công nghệ thông tin ứng dụng trong hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín sau khi sáp nhập vẫn là Core Banking T24 do công ty Temenos phát triển nhưng có đầu tư nâng cấp nhằm chuẩn hóa quy trình, tăng khả năng xử lý giao dịch, giảm thiểu tối đa sai sót…

Trong quá trình sáp nhập, với sự ủy quyền của Trầm Bê, Ngân hàng Nhà nước cũng đã tham gia vào quá trình tái cơ cấu ngân hàng sau sáp nhập. Trong gần 2 năm sau sáp nhập, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín phải thực hiện lại đánh giá chất lượng tài sản của mình bởi tỷ lệ nợ xấu thực tế của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam cao hơn rất nhiều so với số liệu “tự khai” của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam trước sáp nhập. Điều này đồng nghĩa với việc hiệu quả hoạt động của ngân hàng Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín sẽ bị ảnh hưởng đáng kể do phải trích phần lớn lợi nhuận để dự phòng rủi ro cho các khoản nợ xấu của Phương Nam mang về sau sáp nhập.

2.4.2. Thực trạng hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín giai đoạn 2020– 2023 Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

2.4.2.1. Mức độ an toàn vốn:

Một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hoạt động của các ngân hàng chính là mức độ an toàn vốn được thể hiện thông qua chỉ tiêu hệ số an toàn vốn tối thiểu CAR. Trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều rủi ro, để đảm bảo an toàn trong hoạt động, ngân hàng càng chấp nhận nhiều rủi ro thì càng phải có nhiều vốn tự có để hỗ trợ cho hoạt động của mình cũng như bù đắp được tổn thất tiềm năng.

Là một trong những Ngân hàng thương mại cổ phần hàng đầu của Việt Nam, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín luôn chú trọng đến việc đảm bảo an toàn trong hoạt động nhằm phát triển bền vững trong tương lai. Một trong những minh chứng cho định hướng đó là việc Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín luôn tuân thủ quy định về hệ số CAR.

Biểu đồ 2.1: Hệ số an toàn vốn tối thiểu CAR của Sacombank giai đoạn 2020 – 2023

Mặc dù luôn tuân thủ quy định về hệ số CAR lớn hơn 9% nhưng có thể thấy rõ sự tác động của thương vụ sáp nhập với Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam đã làm cho chỉ tiêu này của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín biến động mạnh trong giai đoạn 2021 – 2023. Trước khi sáp nhập, hệ số CAR của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín đạt mức 11% nhưng sau khi sáp nhập giảm mạnh xuống chỉ còn 9.51%. Thương vụ sáp nhập của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín với Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam làm cho vốn tự có của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín tăng lên nhanh chóng, tuy nhiên, mức tăng của vốn không bù đủ cho mức tăng của tài sản đã điều chỉnh rủi ro. Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam trước khi sáp nhập là một trong những ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao trong ngành ngân hàng với số liệu trong báo cáo thường niên 2020 là 5.92% và đây là một trong những nguyên nhân khiến Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam nằm trong nhóm ngân hàng bị sáp nhập theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước. Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

Dựa trên hệ số CAR có thể thấy việc sáp nhập giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín với Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc đảm bảo an toàn vốn của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín do chất lượng tài sản của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam. Sau khi sáp nhập, bản thân Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín cũng thấy được vấn đề về chất lượng tài sản nên trong đề án tái cơ cấu, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín đã chỉ rõ ưu tiên trong việc cải thiện chất lượng tài sản, đa dạng hóa lĩnh vực ngành nghề, hạn chế cấp tín dụng ở một số lĩnh vực ngành nghề có dư nợ cao và rủi ro cao như các khoản cho vay liên quan đến bất động sản, tập trung xử lý các khoản nợ có vấn đề dưới dạng bán cho VAMC hoặc xử lý thông qua công ty Quản lý tài sản của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín. Với định hướng đó, hệ số CAR của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín dần được cải thiện khi tăng nhẹ từ 9.51% năm 2021 lên 9.61% năm 2022 và đạt được mức ấn tượng 11.3% năm 2023. Đây có thể xem như là kết quả khả quan bước đầu mà Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín đã đạt được trong đề án tái cơ cấu sau khi sáp nhập với Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam.

2.4.2.2. Chất lượng tài sản

Ngân hàng thương mại là một trong những trung gian tài chính quan trọng bậc nhất của nền kinh tế. Mặc dù theo đuổi mục tiêu lợi nhuận nhưng ngân hàng thương mại luôn phải cân đối với yếu tố rủi ro nhằm hạn chế trường hợp đổ vỡ. Vì vậy, việc đánh giá chất lượng tài sản là một nội dung quan trọng trong đánh giá hoạt động của ngân hàng. Khi phân tích hệ số CAR của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trong nội dung về mức độ an toàn vốn, phần nào cũng phản ánh chất lượng tài sản của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trước và sau khi sáp nhập với Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam có nhiều biến động. Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

Bảng 2.1: Tình hình dư nợ cho vay, tổng tài sản và tỷ trọng dư nợ cho vay của Sacombank giai đoạn 2020 – 2023

Theo bảng 2.1, cho thấy: tổng tài sản của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín năm 2021 đạt 290,364 tỷ đồng, tăng 53.89% so với năm 2020. Nguyên nhân đầu tiên làm cho tổng tài sản của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín tăng đột biến là do Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín nhận sáp nhập Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam với giá trị tài sản sáp nhập theo báo cáo tài chính cuối năm 2020 là 82,068 tỷ đồng. Nguyên nhân tiếp theo, mặc dù trong giai đoạn sáp nhập nhưng với nguyên tắc tiếp tục duy trì hoạt động, bản thân Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín đạt mức tăng tổng tài sản 18.2% và đạt 133.1% so với kế hoạch đề ra. Điều này cho thấy bản thân Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín sau khi sáp nhập vẫn tiếp tục phát triển, mở rộng quy mô từ tiềm lực hiện tại và kết hợp với sáp nhập để tạo ra một ngân hàng lớn mạnh hơn.

Trong tổng tài sản, khoản mục chiếm tỷ trọng cao của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín là dư nợ cho vay. Tuy nhiên, sau khi sáp nhập, có thể thấy Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín đang đẩy mạnh các hoạt động khác thay vì quá phụ thuộc vào hoạt động cho vay điều này được thể hiện qua sự biến động của tỷ trọng dư nợ cho vay và tốc độ tăng trưởng cho vay trong giai đoạn 2020 – 2023. Năm 2021, dư nợ cho vay đang chiếm 62.2% tổng tài sản của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trong khi trước khi sáp nhập tỷ lệ này ở mức 66%. Trái ngược với tỷ trọng dư nợ cho vay giảm xuống sau khi sáp nhập năm 2021, tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay năm 2021 ở mức khá cao lên đến 44.97%. Nguyên nhân là do sáp nhập toàn bộ giá trị dư nợ cho vay của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam vào dư nợ cho vay của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín, đồng thời, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín vẫn tiếp tục duy trì hoạt động cho vay với mức tăng 17.4%. Nguyên nhân làm cho tốc độ tăng trưởng cao nhưng tỷ lệ dư nợ cho vay thấp là bởi vì trong cơ cấu tài sản của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam, dư nợ cho vay chỉ chiếm 52.5% tổng tài sản. Sau khi sáp nhập, với định hướng tái cơ cấu ngân hàng theo hướng tập trung nâng cao chất lượng tài sản, phát triển bền vững, ngân hàng Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín đã tiến hành bán một lượng lớn các khoản nợ xấu, đồng thời, tập trung thu hồi nợ, chỉ phát triển cho vay ở những lĩnh vực ít rủi ro hoặc theo chính sách khuyến khích hỗ trợ vốn của Nhà nước như nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ… Điều này làm cho tốc độ tăng trưởng dư nợ cho vay của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín năm 2022 ở mức thấp, chỉ đạt 6.92%, tương ứng với giá trị khoản mục dư nợ cho vay vào thời điểm cuối năm là 193,098 tỷ đồng. Tỷ trọng dư nợ cho vay cuối năm 2022 giảm mạnh xuống chỉ còn lại 58.66%, giảm 5.69% so với năm 2021. Mặc dù tiếp tục thực hiện đề án tái cơ cấu sau sáp nhập, nhưng đến năm 2023 cùng với sự khởi sắc của nền kinh tế cùng với việc đưa ra kế hoạch hoạt động cụ thể cho từng mục tiêu, dư nợ cho vay đạt 222,946 tỷ đồng, tăng ấn tượng 15.46% so với năm 2022. Tỷ trọng dư nợ cho vay trên tổng tài sản cũng tăng 60.51% trong năm 2023. Điều này cho thấy hoạt động cho vay đang dần trở lại quỹ đạo với quy mô tăng lên có kế hoạch, tỷ trọng dư nợ cho vay ở mức phù hợp với chính sách phát triển của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín, từ đó, góp phần không nhỏ cho hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín sau khi sáp nhập. Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

Biểu đồ 2.2 cho thấy chất lượng tài sản của ngân hàng Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trong giai đoạn 2020 – 2023 dựa vào tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ xấu. Trong giai đoạn 2020 – 2023, tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín có nhiều biến động, đặc biệt tăng cao từ sau khi sáp nhập. Trước khi sáp nhập, năm 2020, tỷ lệ nợ quá hạn của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín ở mức thấp, đạt 1.57% dư nợ cho vay thấp hơn 5% so với quy định của Ngân hàng Nhà nước. Trong bối cảnh nợ xấu là nỗi ám ảnh của phần lớn các ngân hàng thương mại trong hệ thống thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín luôn duy trì được tỷ lệ nợ xấu ở mức thấp, trong đó, năm 2020, tỷ lệ này chỉ ở mức 1.18%, thấp hơn 3% mức quy định của Ngân hàng Nhà nước. Điều này cho thấy Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trước khi sáp nhập rất quan tâm đến việc đảm bảo chất lượng tài sản, từ đó đảm bảo cho việc phát triển bền vững của ngân hàng. Không chỉ tuân thủ quy định đảm bảo an toàn tài sản theo Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trước khi sáp nhập cũng đã xem xét việc triển khai quản trị rủi ro tín dụng theo Hiệp ước Basel 2 nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập. Tuy nhiên, chất lượng tài sản của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín sụt giảm nghiêm trọng sau khi sáp nhập với Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam.

Cụ thể, cuối năm 2021, tỷ lệ nợ quá hạn của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín tăng lên đến 6.41% và tỷ lệ nợ xấu lên đến 6%. Tỷ lệ nợ quá hạn và nợ xấu tăng cao đột ngột là chủ yếu là do gộp chung với tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam. Theo báo cáo trong đề án sáp nhập được Ngân hàng Nhà nước thông qua, tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam cuối năm 2020 lên đến 5.92% – con số cao hơn nhiều so với mức quy định 3% của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, mức độ nghiêm trọng về nợ xấu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam trong thực tế có khi còn cao hơn trên báo cáo bởi trong Đại hội đồng cổ đông được tổ chức đầu năm 2022, Chủ tích HĐQT phải thừa nhận sau khi sáp nhập, đánh giá lại tài sản mới thấy mức độ nghiêm trọng của các khoản nợ xấu, nợ quá hạn mà Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam để lại. Đây cũng chính là lý do làm cho tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín năm 2022 tiếp tục tăng lên, lần lượt là 7.97% và 6.68% mặc dù ngay sau khi sáp nhập Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín đã quán triệt đề án tái cơ cấu ngân hàng với mục tiêu hàng đầu là xử lý nợ xấu, nợ quá hạn. Sang năm 2023, một trong những thuận lợi của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trong việc xử lý nợ xấu đó chính là sự ra đời của Nghị quyết 42/2023/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu mà trong đó Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín là ngân hàng được lựa chọn để áp dụng thí điểm. Nghị quyết này đã tạo ra hành lang pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu và tài sản cấn trừ nợ. Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín đã xử lý được 19.665 tỷ đồng nợ xấu và tài sản tồn đọng trong năm 2023 mà 15.365 tỷ đồng trong số đó là thuộc Đề án tái cơ cấu. Bên cạnh đó, việc hoàn thiện chính sách, quy trình và cơ chế quản trị rủi ro tín dụng theo thông lệ quốc tế đã giúp Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín hạn chế phát sinh các khoản nợ xấu, nợ quá hạn. Điều này đã giúp giảm tỷ lệ nợ quá hạn về còn 4.99% và tỷ lệ nợ xấu là 4.5% trong năm 2023. Như vậy, có thể nói, mặc dù đã được cảnh báo trước thông qua quá trình xây dựng đề án sáp nhập nhưng rõ ràng chất lượng tài sản của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam là một thách thức cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trong thời kỳ hậu sáp nhập. Nếu không nhờ có sự thông thoáng về hành lang pháp lý cho việc xử lý nợ xấu và tài sản tồn đọng cũng như không có sự quán triệt trong đề án tái cơ cấu hậu sáp nhập và những thay đổi cần thiết trong hoạt động thì chắc chắn chất lượng tài sản sẽ là vấn đề hết sức nghiêm trọng của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín hậu sáp nhập.

Biểu đồ 2.2: Tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu của Sacombank giai đoạn 2020 – 2023

2.4.2.3. Năng lực quản lý

Con người trong bộ máy quản lý đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá năng lực quản lý của ngân hàng. Sau khi thương vụ sáp nhập hoàn thành, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín chứng kiến sự thay máu HĐQT cũng như Ban lãnh đạo ngân hàng. Trong đề án sáp nhập giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam, nội dung về nhân sự cao cấp được trình bày chi tiết, cụ thể. Theo đó, cơ cấu nhân sự cao cấp của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín được giữ nguyên, bổ sung thêm các cá nhân có năng lực quản trị và chuyên môn cao từ Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam. Đối với HĐQT, thành phần nòng cốt là từ HĐQT của ngân hàng Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín nhiệm kỳ 2017 – 2021. Đồng thời, nếu có nhu cầu, dự trên tỷ lệ sở hữu của nhóm cổ đông và theo quy định của pháp luật, có thể chọn thêm hai thành viên tham gia HĐQT. Ban Kiểm soát, Tổng Giám đốc cũng như Ban Tổng Giám đốc của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín được giữ nguyên sau khi sáp nhập. Riêng đối với Ban Tổng Giám đốc của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam sẽ được phân công bổ sung khi có nhu cầu thực tế. Theo đề án này, nhân sự cao cấp của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín năm 2020 và 2021 về cơ bản được giữ nguyên. Đây có thể xem là nguyên tắc phù hợp nhằm đảm bảo ổn định hoạt động sau sáp nhập. Giữa năm 2023 là năm đánh dấu mốc quan trọng khi phần lớn các vị trí quan trọng ở HĐQT, Ban lãnh đạo Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín có sự thay đổi. Ông Kiểu Hữu Dũng – Chủ tịch HĐQT giai đoạn 2020 đến giữa năm 2023 được thay bởi ông Dương Công Minh. Cũng vào giữa năm 2023, vị trí Tổng Giám đốc do bà Nguyễn Đức Thạch Diễm phụ trách thay cho ông Phan Huy Khang trước đó. Những thay đổi nhân sự cao cấp cho thấy sự thay đổi toàn diện trong quá trình tái cơ cấu sau sáp nhập của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín. Đề án tái cơ cấu ngân hàng Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín hậu sáp nhập, mặc dù chưa đi được nửa chặng đường, nhưng kết quả hoạt động bắt đầu có dấu hiệu khởi sắc trở lại trong năm 2023 sau giai đoạn trầm lắng 2021, 2022 cho thấy đội ngũ lãnh đạo mới đã đề ra được chính sách kinh doanh đúng đắn và có hiệu quả. Cơ cấu tổ chức theo hướng quản lý tập trung, điều hành phân cấp, tinh gọn bộ máy được triển khai hợp lý và đang vận hành có hiệu quả. Năng lực quản lý còn được thể hiện qua việc Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín đã và đang triển khai các công cụ quản trị theo mô hình mới, hướng đến tiếp cận theo thông lệ quốc tế, theo hướng dân chủ, công khai, minh bạch nhằm tạo cơ chế phối hợp nhịp nhàng giữa công tác quản trị điều hành và giám sát hoạt động ngân hàng và tạo ra môi trường làm việc thân thiện, gắn bó cho nhân viên. Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

Giai đoạn 2020 – 2023 là giai đoạn nhiều biến động của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín, đặc biệt là kể từ khi nhận sáp nhập Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam. Giai đoạn 2021, 2022 có thể xem như là giai đoạn chững lại trong quá trình phát triển của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín do thương vụ sáp nhập ảnh hưởng với nguyên nhân lớn nhất chính là chất lượng tài sản của ngân hàng bị sáp nhập Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam. Những kết quả khởi sắc trong việc thu hồi, xử lý các khoản nợ xấu, cũng như tình hình hoạt động chung như tổng tài sản, lợi nhuận.. đang có dấu hiệu phục hồi trong năm 2023 và có khả năng rút ngắn được thời gian thực hiện tái cơ cấu hậu sáp nhập là những minh chứng cho thấy đội ngũ lãnh đạo của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín có năng lực quản lý khá tốt, có biện pháp phù hợp với biến động trên thị trường cũng như thực hiện nghiêm túc các quy định, quy chế hoạt động theo pháp luật.

2.4.2.4. Lợi nhuận Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

Những phân tích liên quan đến chất lượng tài sản của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trong giai đoạn 2020 – 2023 phần nào phản ánh được sự biến động của lợi nhuận Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trong giai đoạn này.

Thương vụ sáp nhập giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam về cơ bản giúp ngân hàng mở rộng quy mô hoạt động, tuy nhiên, về chất lượng tài sản và khả năng tạo ra lợi nhuận lại là hạn chế sau thương vụ. Chất lượng tài sản của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam ở mức thấp đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng tài sản của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín sau sáp nhập, buộc Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín phải thực hiện đề án tái cơ cấu sau sáp nhập được Ngân hàng Nhà nước thông qua. Với mục tiêu hàng đầu là xử lý nợ xấu nên cơ bản hoạt động cấp tín dụng – hoạt động tạo ra phần lớn lợi nhuận của các ngân hàng thương mại không được chú trọng mở rộng làm ảnh hưởng không nhỏ đến tổng thu nhập từ hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín.

Qua số liệu ở bảng 2.2 cho thấy sự sụt giảm nghiêm trọng về khả năng tạo ra thu nhập và lợi nhuận của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín sau khi sáp nhập. Cụ thể, tổng thu từ hoạt động kinh doanh năm 2021 chỉ đạt 8,288 tỷ đồng giảm gần 90% so với năm 2020. Đà giảm tiếp tục được duy trì năm 2022 khi tổng thu từ hoạt động chỉ còn lại 6,530 tỷ đồng, giảm hơn 21% so với năm 2021. Nguyên nhân sụt giảm được chỉ ra là do ngân hàng chú trọng nâng cao chất lượng tài sản, không đẩy mạnh hoạt động cho vay, cấp tín dụng nên thu nhập lãi thuần giảm mạnh khi thu từ lãi và các khoản thu nhập tương tự tăng không theo kịp mức tăng của chi phí. Tuy vậy, nhờ có thu từ dịch vụ được cải thiện nên năm 2022 mức giảm của tổng thu từ hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín ít hơn so với năm 2021. Đến năm 2023, tổng thu nhập từ hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín đã được cải thiện khi đạt 8,645 tỷ đồng, tương ứng với tốc độ tăng là 32.4% so với năm 2022. Khởi sắc này đến từ hoạt động cho vay nói riêng, cấp tín dụng nói chung và còn từ tăng thu các khoản ngoài lãi. Đây là định hướng đúng đắn khi trong 2 năm 2022, 2023, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi không ngừng được cải thiện và tỷ trọng thu nhập ngoài lãi được tăng lên đáng kể. Đặc biệt năm 2023, tỷ trọng thu nhập ngoài lãi trong cơ cấu tổng thu nhập của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín đã lên đến 39%. Tận dụng tốt được mạng lưới rộng lớn, chú trọng các yếu tố về công nghệ, nhân sự để giúp khách hàng có những trải nghiệm dịch vụ tốt, tạo ra được lượng lớn khách hàng đồng thời thu hút thêm khách hàng mới sử dụng sản phẩm dịch vụ thẻ, thanh toán đã tăng thu cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín. Xu hướng tăng dần tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ thay vì quá phụ thuộc vào cho vay là xu hướng phát triển đúng đắn trong bối cảnh phát triển ngành ngân hàng hiện nay. Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

Bảng 2.2: Tổng thu nhập từ hoạt động kinh doanh, lợi nhuận sau thuế của Sacombank giai đoạn 2020 – 2023

Lợi nhuận sau thuế của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín cũng sụt giảm mạnh sau khi thực hiện sau sáp nhập khi từ 2,206 tỷ đồng năm 2020 giảm chỉ còn gần 648 tỷ đồng năm 2021, đến năm 2022, lợi nhuận sau thuế chỉ còn lại hơn 88 tỷ đồng. Nguyên nhân thứ nhất tổng thu nhập giảm mạnh. Nguyên nhân thứ 2, trong khi thu nhập giảm nhưng chi phí của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín tăng lên vì phải đảm bảo cho việc duy trì mạng lưới rộng khắp, đội ngũ nhân sự đông đảo và các yếu tố về cơ sở hạ tầng khác. Nguyên nhân thứ ba và quan trọng nhất là do Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín phải trích chi phí dự phòng rủi ro tín dụng lớn để phù hợp với chất lượng tài sản và đảm bảo an toàn trong hoạt động của ngân hàng. Nhất quán thực hiện tái cơ cấu sau sáp nhập, cùng với việc được tạo hành lang pháp lý trong việc xử lý nợ, chú trọng đẩy mạnh nguồn thu từ dịch vụ đã giúp Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín cải thiện được tình hình lợi nhuận sau thuế trong năm 2023. Mức lợi nhuận sau thuế năm 2023 đạt được là 1,181 tỷ đồng, tăng với tỷ lệ lên đến 1233% so với năm 2022. Đây là dấu hiệu khởi sắc, cho thấy một điểm sáng khác nữa của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trong quá trình tái cơ cấu sau sáp nhập. Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

Biểu đồ 2.3: Khả năng sinh lời của sacombank qua hai chỉ tiêu ROA, ROE giai đoạn 2020 – 2023

Bên cạnh đó, hai chỉ tiêu tài chính quan trọng để đánh giá khả năng sinh lời của ngân hàng là ROA, ROE của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín cũng cho thấy sự biến động mạnh trong giai đoạn 2020 – 2023, được thể hiện rõ trong biểu đồ 2.3. Trong đó, khả năng sinh lời trên tài sản ROA giảm mạnh từ 1.31% năm 2020 chỉ còn lại 0.22% trong năm 2021 và tiếp tục suy giảm xuống chỉ còn 0.02% trong năm 2022. Chỉ tiêu sinh lời trên vốn chủ sở hữu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trong giai đoạn 2021 – 2022 cũng giảm mạnh. Trước khi sáp nhập, chỉ tiêu ROE đạt mức 13.21% năm 2020 thì đến năm 2021 chỉ còn lại 2.72% và tiếp tục giảm xuống mức thấp là 0.35% trong năm 2022. Nguyên nhân giảm là do mức giảm mạnh của lợi nhuận sau thuế cũng như mức tăng nhanh của tài sản và vốn tự có của ngân hàng. Trong đó, lợi nhuận sau thuế giảm là vì giai đoạn đầu sáp nhập, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín phải ổn định tổ chức hoạt động, tập trung tái cơ cấu tài sản nợ – có, quyết liệt xử lý nợ xấu, đồng thời tăng trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trong quá trình thực hiện tái cơ cấu làm cho lợi nhuận trước thuế và sau thuế ở mức thấp và giảm mạnh trong 2 năm 2021 và 2022. Trong khi đó, tài sản và vốn chủ sở hữu không ngừng tăng lên cao do kết quả của việc sáp nhập hai ngân hàng Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam. Các hoạt động dần được cải thiện trong năm 2023 đã tạo điều kiện cho hai chỉ tiêu ROA, ROE được tăng lên. Cụ thể, ROA năm 2023 tăng lên 0.34% và ROE tăng lên 5.3%. Mặc dù chưa khôi phục lại được tình trạng như ban đầu trước khi sáp nhập nhưng sự tăng lên của 2 chỉ tiêu này phần nào phản ánh được dấu hiệu tích cực của việc tái cơ cấu sau khi sáp nhập của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín.

Hiệu quả hoạt động thấp, khả năng sinh lời chưa cao làm cho vị thế, khả năng cạnh tranh của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trên thị trường sụt giảm mạnh. Cuối năm 2022, xét về quy mô vốn, mạng lưới, nhân sự, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín luôn lọt nhóm 5 ngân hàng Thương mại cổ phần lớn nhất Việt Nam tuy nhiên về khả năng sinh lời, hiệu quả hoạt động, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín không còn thuộc nhóm 5 ngân hàng tốt nhất (Kim Tiền, 2023). Đến giữa năm 2023, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín chính thức không còn nằm trong danh sách 10 Ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2023 do Vietnam Report báo cáo. Vì lý do này, quyền lợi của các cổ đông trong giai đoạn 2021 – 2023 không được đảm bảo. Bên cạnh giá cổ phiếu Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín giảm xuống thấp so với thời kỳ đỉnh cao, các cổ đông trong nhiều năm liền không nhận được cổ tức. Nguyên nhân là vì chất lượng tài sản thấp, buộc phải tái cơ cấu nhằm xử lý các khoản nợ. Trong đề án tái cơ cấu được Ngân hàng Nhà nước thông qua, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín không được chi trả cổ tức cho đến khi nào tái cơ cấu xong. Đây là một trong những hạn chế lớn của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trong quá trình sáp nhập.

2.4.2.5. Khả năng thanh khoản Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

Khả năng thanh toán là một tiêu chuẩn cơ bản để đánh giá chất lượng và sự an toàn trong quá trình hoạt động của một ngân hàng. Để đảm bảo khả năng thanh toán, ngân hàng phải duy trì được một tỷ lệ tài sản có nhất định dưới dạng tài sản có tính lỏng, đặc biệt là các tài sản có tính thanh khoản cao như tiền mặt, tiền gửi ở NHTW và các công cụ dự trữ thanh khoản khác. Ngoài ra, các ngân hàng còn phải chú trọng nâng cao chất lượng các tài sản có, xây dựng danh mục tài sản hợp lý, có khả năng chuyển hoá thành tiền nhanh chóng và thu hồi nợ đúng hạn để đáp ứng yêu cầu chi trả cho khách hàng hoặc thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết. Một trong những chỉ tiêu để đánh giá khả năng thanh khoản là tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi. Theo thông lệ, chỉ tiêu tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi phải đảm bảo thấp hơn 80% mới được xem là an toàn.

Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi của sacombank giai đoạn 2020 – 2023

Trong giai đoạn 2020 – 2023, tỷ lệ này của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín ở mức thấp cho thấy khả năng đảm bảo an toàn thanh khoản của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín ở mức khá cao. Cụ thể, năm 2020, tỷ lệ này đạt mức tối ưu 75.79% theo kế hoạch của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín với tốc độ tăng trưởng cho vay phù hợp với nguồn vốn huy động dồi dào của ngân hàng, đồng thời đảm bảo được khả năng thanh khoản. Tỷ lệ này tiếp tục được duy trì ở mức thấp trong giai đoạn hậu sáp nhập phù hợp với kế hoạch tái cơ cấu ngân hàng, tập trung nâng cao chất lượng tài sản, đảm bảo an toàn hoạt động. Bên cạnh đó, theo báo cáo thường niên của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín năm 2020 đến năm 2023, tỷ lệ tài sản có thanh toán ngay trên tổng nợ phải trả cũng như khả năng đảm bảo khả năng chi trả 7 ngày tới luôn được Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín duy trì trên mức tối thiểu. Như vậy, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín luôn chú trọng đến công tác đảm bảo an toàn cho quá trình hoạt động, trong đó, chú trọng đến đảm bảo khả năng thanh khoản. Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

2.5. VĂN HÓA DOANH NGHIỆP CỦA NGÂN HÀNG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN THƯƠNG TÍN SAU SÁP NHẬP

2.5.1. Những giá trị hữu hình của ngân hàng

Sau khi nhận sáp nhập Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam, về cơ bản những giá trị hữu hình như tầm nhìn, logo, slogan vẫn được giữ nguyên, không có sự thay đổi so với trước đây. Thương hiệu Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín với hơn 20 năm xây dựng và phát triển đã trở thành một thương hiệu lớn trong hệ thống ngân hàng nói riêng và thị trường Việt Nam nói chung. Logo và slogan đã được Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín in trong đầy đủ các ấn phẩm, tao nên dấu ấn thương hiệu trên thị trường cũng như là niềm tự hào cho nhân viên của ngân hàng. Điều này được thể hiện rõ qua kết quả khảo sát khi đến 85% nhân viên nhớ chính xác và chọn đúng logo cũng như trả lời đúng câu slogan “Đồng hành cùng phát triển” của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín. Trong đó, tỷ lệ trả lời chính xác của nhân viên từ Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam sau khi sáp nhập khá cao lên đến 95% số nhân viên được khảo sát. Logo ấn tượng kết hợp với câu slogan ngắn gọn, dễ nhớ, đồng thời được xuất hiện dày đặc trong các ấn phẩm là nguyên nhân quan trọng làm cho nhân viên có thể nhớ chính xác. Bên cạnh đó, 70% nhân viên được khảo sát nhớ đúng tầm nhìn của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín “Trở thành Ngân hàng bán lẻ hiện đại và đa năng hàng đầu Khu vực”. Tỷ lệ khá cao này cho thấy đội ngũ nhân sự của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín đã thấm nhuần tầm nhìn trở thành ngân hàng hàng bán lẻ, đa năng hàng đầu trong khu vực chứ không chỉ là trong nước. Nguyên nhân các nhân viên được khảo sát nhớ được tầm nhìn của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín là do nhân viên cảm thấy tự hào về mạng lưới Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín không những chỉ phát triển rộng trong nước mà còn phát triển ở Lào, Campuchia. Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

Đồng phục là yếu tố tiếp theo nằm trong những giá trị hữu hình được khảo sát. Đồng phục của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín đối với nữ là chân váy đen ngắn, sơ mi gạch và vest đen hoặc là áo dài màu gạch, quần trắng. Nam nhân viên đồng phục là quần đen và áo sơ mi trắng, thắt caravat. Với màu gạch khá nổi bật trong trang phục của nữ, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín đã tạo ra được hình ảnh của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín đối với khách hàng, đối tác. Đối với nhân viên nữ, khi được hỏi về mức độ hài lòng về đồng phục thì có đến 49% nhân viên nữ cảm thấy từ hài lòng đến rất hài lòng, 35% cảm thấy bình thường, 16% cảm thấy không hài lòng. Phần lớn nhân viên đánh vào mức độ không hài lòng là cựu nhân viên của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam được sáp nhập. Họ giải thích rằng việc mặc áo dài làm họ cảm thấy không thuận tiện trong quá trình làm việc. Trước đây nếu họ không thích mặc váy vest họ có bộ vest quần, thuận tiện hơn nhiều so với mặc áo dài. Đây chính là một trong những vấn đề về văn hóa doanh nghiệp sau sáp nhập. Riêng đối với nam, tỷ lệ cảm thấy bình thường về trang phục là 98%, 2% cảm thấy hài lòng. Nguyên nhân nhân viên nam cảm thấy bình thường về trang phục là bởi trang phục của nam chưa tạo ra được dấu ấn trong việc nhận diện thương hiệu. Đây là điều mà Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín cần phải cân nhắc trong việc thiết kế đồng phục của nam nhằm tăng thêm khả năng quảng bá hình ảnh về ngân hàng.

Không gian làm việc được hiểu là địa điểm chi nhánh, kiến trúc công sở, cách bố trí chi nhánh phòng giao dịch. Không gian làm việc có ảnh hưởng không nhỏ đến năng suất, hiệu quả làm việc của nhân viên. Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín luôn chú trọng đảm bảo không gian làm việc phù hợp với công việc của nhân viên. Kết quả khảo sát cho thấy có 63% nhân viên cảm thấy hài lòng về không gian làm việc, trong đó, yếu tố liên quan đến cách bố trí công sở được đánh giá khá cao khi phần lớn cảm thấy hài lòng về khoảng không gian làm việc của bản thân.

Tuy nhiên, 25% nhân viên cảm thấy không hài lòng về địa điểm chi nhánh. Phần lớn nhân viên cảm thấy không hài lòng về địa điểm chi nhánh là do đặt ở nơi đông đúc, thường hay bị kẹt xe và không có chỗ đậu xe thuận tiện cho nhân viên.

2.5.2. Những giá trị được chia sẻ, chấp nhận và tuyên bố Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

Với lịch sử hình thành và phát triển lâu dài, cùng với định hướng phát triển trở thành ngân hàng bán lẻ hiện đại, đa năng của khu vực, môi trường làm việc của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín được đánh giá là chuyên nghiệp, luôn đề cao hiệu quả công việc. Kết quả khảo sát cho thấy có 74% đánh giá Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín có môi trường làm việc chuyên nghiệp và rất chuyên nghiệp, 20% đánh giá mức bình thường. Trong đó, nhóm nhân viên làm cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam có mức độ đánh giá chuyên nghiệp, rất chuyên nghiệp khá cao. Trong phần ý kiến khác, nhóm nhân viên này cũng chỉ ra việc xây dựng quy trình chuẩn hóa ở các bước, ý thức tuân thủ quy trình quy định cao là một trong những điểm làm cho họ thấy ở Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín chuyên nghiệp hơn so với môi trường làm việc trước đây. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận không nhỏ là 6% vẫn cảm thấy môi trường làm việc thiếu chuyên nghiệp. Trong bảng khảo sát có câu hỏi dành cho nhóm nhân viên của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam về việc khi bước vào môi trường làm việc mới của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín, nhân viên có cảm thấy bị ngợp không. 82% nhân viên được khảo sát trả lời là không. Đạt được điều này là nhờ trong giai đoạn chuẩn bị sáp nhập, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín đã chú trọng công tác đào tạo nhân sự nhằm hạn chế mâu thuẫn trong việc xây dựng văn hóa doanh nghiệp sau khi sáp nhập. Chương trình “Hợp nhất để phát triển” đã được Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín tổ chức nhằm tập huấn cho nhân viên của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam về thay đổi hệ thống kế toán, hệ thống nghiệp vụ cũng như đảm bảo cho quá trình tương tác giữa nhân viên mới và cũ nhằm xây dựng môi trường làm việc năng động, chuyên nghiệp, cởi mở. Về mức độ hài lòng, có đến 76% nhân viên được khảo sát cho ý kiến từ hài lòng trở lên. Điều này cho thấy xét về tổng thể, môi trường làm việc mà Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín xây dựng được nhân viên đánh giá cao. Đây là một trong những yếu tố quan trọng giúp Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín xây dựng được văn hóa doanh nghiệp đặc trưng, thu hút và giữ được chân nhiều nhân viên giỏi, có tiềm năng gắn bó lâu dài. Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín có sự phân định rõ ràng trong các mối quan hệ ứng xử giữa đồng nghiệp, giữa cán bộ quản lý với nhân viên và giữa nhân viên với khách hàng. Trong đó, mối quan hệ đồng nghiệp với nhau về cơ bản được các nhân viên đánh giá là hài lòng trở lên, khi tỷ lệ này ở mức 66%. Một số nhân viên làm ở các vị trí chạy theo doanh số, có tính cạnh tranh cao thường chọn mối quan hệ này ở mức độ bình thường, thậm chí không hài lòng. Văn hóa ứng xử giữa cấp trên và cấp dưới ở Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín được đánh giá là cởi mở, thân thiện. Mặc dù vậy, phong cách làm việc giữa cấp trên và cấp dưới vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là những chi nhánh có sự thay đổi lãnh đạo từ Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín sang chi nhánh của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam trước đây. Đây cũng chính là vấn đề mà bản thân các chi nhánh trong quá trình hoạt động phải tự khắc phục và cũng là yếu tố để đánh giá tầm của người lãnh đạo. Điều này làm cho chỉ có 52% nhân viên được khảo sát cảm thấy hài lòng về mối quan hệ giữa nhân viên và cấp trên. Một bộ phận không nhỏ nhân viên từ Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam chuyển qua cảm thấy khó gần gũi với lãnh đạo mới từ Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín chuyển qua. Đôi khi nhân viên vẫn còn cảm thấy khó xử khi có mâu thuẩn trong chỉ đạo giữa lãnh đạo mới của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín chuyển qua và lãnh đạo cũ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam giữ lại. Văn hóa giao tiếp với khách hàng được cụ thể hóa qua mô hình 5T mà Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín xây dựng. Mô hình 5T bao gồm 5 yếu tố sau: (1) thương hiệu thân thiện, (2) tác phong chỉnh chu, (3) thái độ tận tâm, (4) tri thức đầy đủ và (5) thao tác chuyên nghiệp. Đây là mô hình mà Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín triển khai và được xem như là một trong những tiêu chí dể đánh giá nhân viên.

Chính sách lương thưởng, chính sách đào tạo cũng như định hướng phát triển cá nhân của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín được nhân viên đánh giá khá cao khi tỷ lệ nhân viên hài lòng trở lên chiếm đến 80% tổng số nhân viên thực hiện khảo sát. Đặc biệt nhóm nhân viên từ Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam chuyển qua phần lớn cảm thấy rất hài lòng. Nguyên nhân làm cho họ hài lòng về chính sách lương thưởng vì qua đây họ được hưởng chính sách lương thưởng tốt hơn so với ngân hàng cũ, hoạt động đào tạo cũng được chú trọng với chương trình “Hợp nhất để phát triển” cũng như phần lớn nhân viên đều được định hướng phát triển lâu dài gắn bó với Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một bộ phận nhân viên cảm thấy không hài lòng về chính sách lương thưởng với tỷ lệ tương ứng là 5%. Nguyên nhân là do họ cảm thấy các chỉ tiêu công việc được đặt ra quá cao trong khi mức lương được trả chưa tương xứng, bên cạnh đó, tính đào thải của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín là khá lớn bởi khi không đạt được chỉ tiêu trong khoảng thời gian xác định thì có thể bị sa thải hoặc đề nghị xin nghỉ việc. Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

2.5.3. Những giá trị hướng đến cộng đồng, xã hội

Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín cũng là một trong những ngân hàng tiên phong liên quan đến các hoạt động gắn kết với xã hội. Các hoạt động xã hội luôn được Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín chú trọng triển khai trong giai đoạn 2020 – 2023. Một số chương trình tiêu biểu như: (1) “Ấm tình mùa xuân” được thực hiện vào tháng 1/2023 dành tặng quà cho các cụ già neo đơn, trẻ mồ côi khuyết tật ở các trung tâm, mái ấm, nhà mở trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh; (2) Chương trình “Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín – Chia sẻ từ trái tim” là chương trình hiến máu nhân đạo do Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín tổ chức từ Hội sở đến các chi nhánh, phòng giao dịch tại thành phố Hồ Chí Minh; (3) Chương trình học bổng thường niên “Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín – Ươm mầm cho những ước mơ” được triển khai đến các tỉnh thành trên toàn quốc nhằm trao những cơ hội cho các em học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, đạt được thành tích cao trong học tập…

Qua những phân tích trên có thể thấy Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín về cơ bản đã đạt được những kết quả khả quan trong việc dung hòa văn hóa doanh nghiệp của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam, đã tạo dựng được giá trị văn hóa đầy đủ cả ba tầng tạo cơ sở cho việc phát triển thương hiệu Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín. Đạt được kết quả đó là nhờ Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín đã xây dựng kế hoạch chuẩn bị chu đáo với chương trình đào tạo “Hợp nhất để phát triển” cùng với việc tạo ra, duy trì môi trường làm việc năng động, chuyên nghiệp, sáng tạo, cởi mở và văn hóa giao tiếp phù hợp với các chủ thể khác nhau cũng như gắn kết trách nhiệm với cộng đồng. Tuy nhiên, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín vẫn cần phải xử lý một số hạn chế về mối quan hệ giữa nhân viên với cấp trên để đảm bảo dung hòa được mối quan hệ này, hạn chế tình trạng xung đột văn hóa lãnh đạo giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam. Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

2.6 ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH SÁP NHẬP CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN SÀI GÒN THƯƠNG TÍN

2.6.1. Kết quả đạt được

Quá trình đánh giá thực trạng hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trong giai đoạn 2020 – 2023 cũng như những yếu tố liên quan đến văn hóa doanh của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín sau sáp nhập cho thấy hoạt động sáp nhập có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín. Xét về tổng thể, việc nhận sáp nhập Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam đã làm cho quy mô hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín tăng lên nhanh chóng được thể hiện qua việc tăng vốn, tăng tài sản và mạng lưới hoạt động, đội ngũ lao động. Tuy nhiên, tăng quy mô nhưng không đi kèm với chất lượng đã làm cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín thực sự gặp nhiều khó khăn sau khi nhận sáp nhập. Nhìn nhận lại quá trình sáp nhập của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam, có thể thấy rõ được một số các kết quả đạt được như sau:

Thứ nhất, thương vụ sáp nhập được thực hiện thành công theo đúng kế hoạch đã đề ra. Theo lộ trình đề án sáp nhập, thương vụ sáp nhập chính thức diễn ra vào quý III năm 2021 và trong thực tế, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam đã chính thức sáp nhập vào tháng 10 năm 2021. Kết quả này có được là do cả hai bên đều tự nguyện trong quá trình sáp nhập, có sự chuẩn bị chu đáo, chi tiết trong đề án sáp nhập cũng như có được sự tư vấn của công ty giàu kinh nghiệm. Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

Thứ hai, cơ bản dung hòa được văn hóa doanh nghiệp sau sáp nhập. Với vị trí là ngân hàng lớn hơn, hoạt động tốt hơn, hiệu quả hơn, cùng với kế hoạch hoạt động được xây dựng chi tiết trước và sau khi sáp nhập đã giúp Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín nhanh chóng gần như xóa bỏ văn hóa doanh nghiệp của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam, gần như chỉ còn duy nhất một văn hóa doanh nghiệp Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín sau sáp nhập. Với việc giữ đội ngũ nhân sự lãnh đạo cao cấp trong giai đoạn đầu sáp nhập đã giúp cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín hoạt động ổn định, không bị nhiều xáo trộn. Đây là điều kiện quan trọng giúp Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín duy trì hoạt động ổn định của mình trước và sau khi sáp nhập cũng như thực hiện được đúng chiến lược hoạt động trong đề án sáp nhập đã xây dựng.

Thứ ba, quy mô hoạt động không ngừng tăng lên. Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín tận dụng tốt các lợi ích mà sáp nhập mang lại như lợi thế về quy mô, về đội ngũ nhân sự giỏi, mạng lưới hoạt động, hệ thống khách hàng của ngân hàng tham gia sáp nhập. Điều này được thể hiện thông qua quy mô hoạt động của ngân hàng không ngừng tăng lên, lượng vốn huy động tăng trưởng ấn tượng, vượt kế hoạch đề ra, tỷ trọng thu ngoài lãi trên tổng thu nhập hoạt động không ngừng cao do tốc độ tăng trưởng ấn tượng của nguồn thu ngoài lãi. Chỉ tiêu này tăng lên còn cho thấy Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín đang dần trở thành ngân hàng hiện đại, phân tán được rủi ro khi không còn quá phụ thuộc vào hoạt động cho vay truyền thống. Để đạt được kết quả ấn tượng đó phải kể đến sự tác động của mạng lưới giao dịch rộng lớn, lợi thế về dịch vụ của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam trước khi sáp nhập, cũng như lợi thế thương hiệu khi trở thành ngân hàng Top 5 của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam. Đội ngũ nhân sự được củng cố từ nguồn của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam là một trong những yếu tố giúp cho việc nâng cao chất lượng phục vụ và mở rộng hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín sau giai đoạn sáp nhập. Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

Thứ tư, phần lớn các chỉ tiêu an toàn của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín đều được đảm bảo theo quy định của Ngân hàng Nhà nước như chỉ tiêu về an toàn vốn, chỉ tiêu về đảm bảo thanh khoản. Trong quá trình tái cơ cấu sau sáp nhập, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín đặt rõ mục tiêu tái cơ cấu tài sản nợ – có, luôn đảm bảo khả năng thanh khoản và an toàn vốn trong hoạt động. Các chỉ tiêu an toàn khác cũng được ngân hàng chú trọng thực hiện nhằm đảm bảo không những tăng trưởng về quy mô mà còn đảm bảo về chất lượng.

Thứ năm, chất lượng tài sản và khả năng sinh lời đang dần được cải thiện là kết quả khả quan của quá trình tái cơ cấu hậu sáp nhập. Do đánh giá có sai sót trong quá trình nhận sáp nhập về chất lượng tài sản nên sau khi sáp nhập, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín phải mất khoảng thời gian dài để tiếp tục cải thiện chất lượng tài sản nhằm đảm bảo an toàn cho việc phát triển bền vững của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín. Quán triệt mục tiêu nâng cao chất lượng tài sản cũng đồng nghĩa với việc Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín chấp nhận mất đi một nguồn thu lớn đến từ lãi. Mặc dù thu nhập từ lãi thuần giảm nhưng khả năng sinh lời được cải thiện do Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín tăng thu từ hoạt động dịch vụ.

Thứ sáu, năng lực quản lý của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín luôn được đánh giá cao trong hệ thống ngân hàng cả trước và sau khi sáp nhập. Đội ngũ lãnh đạo với những người tâm huyết, giàu kinh nghiệm đã dẫn lãi cho con tàu Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín vững bước trong quá trình tái cơ cấu cũng như phát triển sau này để trở thành ngân hàng bán lẻ hiện đại, đa năng trong khu vực.

2.6.2. Hạn chế và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

2.6.2.1. Hạn chế

Mặc dù đạt được một số kết quả quan trọng nhưng quá trình sáp nhập giữa hai ngân hàng vẫn còn một số hạn chế cần phải khắc phục, bao gồm:

Thứ nhất, hoạt động ngân hàng Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín sau sáp nhập còn nhiều hạn chế, trong đó, đáng quan tâm nhất là vấn đề về chất lượng tài sản. Việc xác định thiếu chính xác chất lượng tài sản của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam trong giai đoạn chuẩn bị sáp nhập đã thực sự làm cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín phải gánh chịu khá nhiều thiệt hại sau khi sáp nhập. Nguyên nhân là do thông tin thiếu minh bạch. Điều này được thể hiện rõ qua tình hình nợ xấu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín sau khi sáp nhập. Tỷ lệ nợ xấu Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín tăng mạnh lên trong năm 2021, 2022 thay vì giảm xuống như trong đề án tái cơ cấu hậu sáp nhập của ngân hàng. Nguyên nhân quan trọng làm cho tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín tăng lên đột ngột sau sáp nhập là do chất lượng tài sản của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam trước khi sáp nhập cao hơn so với con số 5.92% trong báo cáo tài chính được công bố. Kiểm toán Nhà nước sau khi kiểm tra đã kết luận tình trạng nợ xấu thực sự của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam cao hơn nhiều so với con số báo cáo.

Thứ hai, mặc dù có dấu hiệu cải thiện nhưng khả năng sinh lời của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín ở mức thấp là một hạn chế lớn của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín hậu sáp nhập. Thực tế hoạt động sau hai năm sáp nhập đều không đạt được phần lớn các chỉ tiêu đề ra trong đề án sáp nhập giữa hai ngân hàng, đặc biệt là nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời càng giảm sút. Sau khi sáp nhập, khả năng sinh lời trên tài sản, khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín giảm mạnh, xuống mức cực thấp ROA là 0.02% và ROE chỉ còn lại 0.35%. Nguyên nhân là do ngân hàng phải trích lập chi phí dự phòng rủi ro quá lớn cho chất lượng các khoản tín dụng sau khi thực hiện sáp nhập. Do đó, trong thời gian tới ngân hàng cần có kế hoạch cụ thể hơn, quyết liệt hơn nhằm xử lý tốt vấn đề về nợ xấu nhằm giảm chi phí trích lập dự phòng, bên cạnh đó, tìm cách tăng thêm nguồn thu để làm cho hiệu quả khai thác tài sản, hiệu quả sử dụng vốn được tốt hơn. Hiệu quả hoạt động giảm, khả năng sinh lời thấp là những yếu tố làm giảm uy tín, thương hiệu, vị thế của ngân hàng trên thị trường. Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

Thứ ba, chưa đảm bảo được quyền lợi của các cổ đông, đặc biệt là nhóm cổ đông nhỏ. Việc hiệu quả hoạt động sau sáp nhập thấp, không đạt được chỉ tiêu kế hoạch, bên cạnh đó, phải tuân thủ đề án tái cơ cấu sau sáp nhập làm cho các cổ đông của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trong nhiều năm liền không nhận được cổ tức.

Thứ tư, mặc dù về cơ bản đã đảm bảo được sự thống nhất trong văn hóa doanh nghiệp của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín sau khi sáp nhập nhưng ở cấp quản lý tầm trung cấp chi nhánh, phòng giao dịch vẫn còn mâu thuẫn trong văn hóa lãnh đạo giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam. Bên cạnh đó, vẫn còn có khoảng cách giữa đội ngũ lãnh đạo của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín với các nhân viên của Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam trong quá trình hoạt động sau sáp nhập.

2.6.2.2. Những nguyên nhân

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, thương vụ sáp nhập giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và Southerbank vẫn chưa được như kỳ vọng đã đề ra, còn tồn tại nhiều hạn chế cần khắc phục trong thời gian tới. Nguyên nhân dẫn đến những mặt hạn chế trong thương vụ sáp nhập này là:

Thứ nhất, thông tin thiếu minh bạch, chính xác trong quá trình lựa chọn đối tác sáp nhập, thực hiện sáp nhập chính là nguyên nhân quan trọng nhất làm cho chất lượng tài sản, hiệu quả hoạt động sinh lời của ngân hàng Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín sau sáp nhập không đạt được như kỳ vọng, dẫn đến không đảm bảo được quyền lợi của cổ đông đặc biệt là cổ đông nhỏ. Mặc dù các báo cáo tài chính của các bên đã được kiểm toán độc lập bởi công ty kiểm toán hàng đầu, đã có đội ngũ tư vấn từ công ty giàu kinh nghiệm cũng như có sự tham gia chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước trong thương vụ sáp nhập nhưng vẫn xảy ra sai sót trong nội dung đánh giá thực trạng hoạt động của Southerbank. Do đó, việc đảm bảo thông tin minh bạch, chính xác đóng vai trò quan trọng trong các thương vụ M&A. Để đảm bảo được chất lượng thông tin không những là vai trò của các ngân hàng tham gia thương vụ M&A mà còn là trách nhiệm của các bên tham gia tư vấn, Ngân hàng Nhà nước…

Thứ hai, thiếu chế tài xử phạt ràng buộc trách nhiệm của các bên tham gia thương vụ M&A. Việc đánh giá Southerbank chưa chính xác đã làm cho kế hoạch hoạt động hậu sáp nhập của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín có nhiều thay đổi theo hướng bất lợi, tuy nhiên, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín không có bất kỳ chế tài nào để xử phạt các bên tham gia khi cung cấp, phân tích thông tin thiếu chính xác. Nếu có chế tài xử phạt nghiêm minh, các bên tham gia sẽ hạn chế cung cấp thông tin sai lệch cũng như các bên tham gia khác sẽ phải có trách nhiệm cao hơn trong vấn đề cung cấp, sử dụng, kiểm chứng thông tin. Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

Thứ ba, xuất phát từ nguyên nhân thông tin thiếu minh bạch đã làm cho kế hoạch hậu sáp nhập của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín có nhiều thay đổi do phải tập trung xử lý các khoản nợ xấu, trích lập dự phòng rủi ro tín dụng cao. Trong giai đoạn nghiên cứu, những khó khăn trong hoạt động xử lý nợ xấu không chỉ tồn tại đối với riêng Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín mà là khó khăn chung của cả hệ thống ngân hàng thương mại khi thủ tục pháp lý vẫn còn nhiều vướng mắc. Do đó, trong thời gian tới, nếu muốn Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và các ngân hàng thương mại khác giải quyết được vấn đề nợ xấu thì Ngân hàng Nhà nước và các ban ngành có liên quan cần tạo cơ chế thuận lợi hơn cho việc xử lý nợ xấu.

Thứ tư, những thay đổi trong hoạt động hậu sáp nhập của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín cho thấy mặc dù đã lên kế hoạch rất cụ thể, chi tiết trong đề án tái cơ cấu với các mục tiêu rõ ràng nhưng thực tế triển khai lại không được như kỳ vọng. Nguyên nhân một phần ngoài do thông tin thiếu minh bạch, còn do kế hoạch chỉ xây dựng theo một kịch bản nhất định mà thiếu sự đa dạng trong các kịch bản, tình huống có thể phát sinh. Điều này đã làm cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín gặp nhiều khó khăn trong việc xử lý hậu sáp nhập.

Thứ năm, sau khi sáp nhập, việc các cổ đông, đặc biệt là nhóm cổ đông nhỏ thực sự bức xúc do nhiều năm liền không nhận được cổ tức. Vấn đề về cổ tức mặc dù nằm trong đề án tái cơ cấu nhưng lại chưa được công bố công khai trong đề án sáp nhập, dẫn đến các cổ đông không nắm được thông tin. Điều này một lần nữa đề cập đến vấn đề minh bạch thông tin.

Thứ sáu, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn trong văn hóa doanh nghiệp ở Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín là do trong đề án xây dựng cơ cấu nhân sự mới chỉ tập trung vào nhân sự cao cấp. Đội ngũ nhân sự cấp trung của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín hậu sáp nhập mới là bộ phận có nhiều biến động và ảnh hưởng không nhỏ đến việc duy trì và phát triển văn hóa doanh nghiệp của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín. Dù biết rằng để hòa hợp văn hóa cần có một khoảng thời gian nhưng với khoảng thời gian hai năm, Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín cần phải có chính sách, chương trình cũng như chế tài mạnh mẽ hơn nữa để đảm bảo sự thống nhất trong văn hóa doanh nghiệp của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín. Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

Thứ bảy, Ngân hàng Nhà nước chưa thể hiện rõ vai trò của mình đối với trường hợp của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín khi vừa là cơ quan thanh tra, giám sát hoạt động vừa trở thành người được ủy quyền đại diện cho nhóm cổ đông lớn. Ngân hàng Nhà nước cần thể hiện rõ hơn nữa sự hỗ trợ của mình trong việc tái cơ cấu hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trong thời gian tới, chú trọng đến vấn đề nâng cao hiệu quả hoạt động, năng lực quản trị, năng lực cạnh tranh. Bên cạnh đó, cơ sở hành lang pháp lý, các văn bản hướng dẫn các thương vụ M&A trong ngành ngân hàng chưa hoàn thiện là nguyên nhân quan trọng dẫn đến hạn chế trong thương vụ M&A ngành ngân hàng nói chung và thương vụ sáp nhập giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam nói riêng. Nếu có văn bản hướng dẫn chi tiết các nội dung, định hướng cho các ngân hàng thương mại cần xây dựng nhiều kịch bản trong đề án, đưa ra các chế tài xử phạt vi phạm gây ảnh hưởng tiêu cực đến thương vụ M&A và hoạt động của ngân hàng sau M&A… thì sẽ không dẫn đến các khó khăn của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín như thời gian qua.

Kết luận chương 2

Dựa trên việc phân tích quá trình sáp nhập giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam, kết hợp với phân tích hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trong giai đoạn 2020 – 2023 và văn hóa doanh nghiệp của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín hậu sáp nhập, chương 2 cho thấy hoạt động sáp nhập đã mang lại những lợi ích cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín như về quy mô vốn, về mạng lưới hoạt động, đội ngũ nhân sự nhưng đồng thời cũng tạo ra cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín nhiều khó khăn liên quan đến chất lượng tài sản, hiệu quả sinh lời cũng như giá trị của ngân hàng trên thị trường. Về thương vụ sáp nhập, kết quả đạt được bao gồm: (1) quá trình sáp nhập diễn ra đúng kế hoạch, (2) hoạt động sau sáp nhập diễn ra bình thường, không bị nhiều xáo trộn, (3) quy mô hoạt động không ngừng tăng, (4) các chỉ tiêu đảm bảo an toàn cơ bản về vốn, thanh khoản được đảm bảo sau khi sáp nhập, (5) chất lượng tài sản và khả năng sinh lời đang được cải thiện, (6) năng lực quản lý của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín được đánh giá cao. Hạn chế trong thương vụ sáp nhập giữa hai ngân hàng là: (1) do thông tin thiếu minh bạch nên việc định giá thiếu chính xác, gây khó khăn cho quá trình hoạt động sau sáp nhập, (2) khả năng sinh lời, hiệu quả hoạt động thấp, ảnh hưởng đến vị thế của Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín trên thị trường, (3) quyền lợi cổ đông không được đảm bảo, (4) một số mâu thuẫn còn tồn tại trong văn hóa doanh nghiệp ảnh hưởng đến hoạt động ngân hàng. Như vậy, những kết quả đạt được, đặc biệt là những hạn chế và những nguyên nhân trong thương vụ sáp nhập giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín và Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam là những cơ sở khoa học thực tiễn đưa ra hệ thống giải pháp, kiến nghị và đề xuất nhằm phát triển hoạt động sáp nhập ngân hàng thương mại trong thời gian tới. Luận văn: Thực trạng mua bán sáp nhập các NH Thương Mại.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp mua bán sáp nhập ngân hàng thương Mại

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *