Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá tại cục hải quan Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1 Quá trình hình thành, phát triển của Cục Hải quan Hải Phòng.
2.1.1 Lịch sử hình thành phát triển
- Tên đầy đủ: Cục Hải quan thành phố Hải Phòng.
- Địa chỉ: Số 159 đường Lê Hồng Phong, P. Hải An, Thành phố Hải Phòng
- Điện thoại: (022) 53 836 26
- Website: www.hpcustom
Cục Hải quan thành phố Hải Phòng được thành lập ngày 14 tháng 4 năm 1955 theo Nghị định số 87/BTC-NĐ-KB của Bộ công thương. Các đơn vị trực thuộc Cục gồm: phòng Tổ chức cán bộ; phòng Hành chính quản trị; phòng Giám quản hàng hoá xuất nhập khẩu và công cụ vận tải xuất nhập cảnh; phòng Kiểm hoá và thuế – Giá biểu; Phòng Kiểm nghiệm hàng hoá; phòng Kiểm soát và xử lý; phòng Thuyền vụ làm nhiệm vụ bảo quản, điều động phương tiện thuỷ các loại để phục vụ công tác kiểm soát, sửa chữa, đóng mới tầu thuyền; đội Kiểm soát, giám sát vùng duyên hải; đội Thương cản g; phòng Hải quan Hòn Gai; phòng Hải quan Cửa Ông; phòng Hải quan Diêm Điền; phòng Hải quan Đồ Sơn; phòng Hải quan Cát Bà; phòng Quản lý xuất nhập khẩu.
Tháng 4/1958, Bộ Thương nghiệp chia tách thành 2 bộ là Bộ Nội thương và Bộ Ngoại thương, ngành Hải quan trực thuộc Bộ Ngoại thương. Hải quan Hải Phòng được đổi tên là Phân sở Hải quan Hải Phòng và trực thuộc Sở Hải quan Trung ương.
Ngày 17 tháng 6 năm 1962, đổi tên Sở Hải quan Trung ương thành Cục Hải quan Trung ương trực thuộc Bộ Ngoại thương và đổi tên Phân sở Hải quan Hải Phòng thành Phân cục Hải quan Hải Phòng.
Ngày 20/11/1984, sau khi được Hội đồng Nhà nước phê chuẩn thành lập Tổng cục Hải quan, Hội đồng Bộ trưởng đã ra Nghị định 139/HĐBT quy định chức năng nhiệm vụ quyền hạn, tổ chức bộ máy Tổng cục Hải quan. Phân cục Hải quan Hải Phòng được đổi thành Hải quan Thành phố Hải Phòng. Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
Năm 1994, Hải quan thành phố Hải Phòng được đổi tên thành Cục Hải quan TP Hải Phòng.
Tập thể cán bộ công chức Cục Hải quan Hải Phòng đã phát huy nội lực, sáng tạo, áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến vào quản lý nhà nước về hải quan; liên tục là đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua toàn ngành Hải quan.
Cục Hải quan Hải Phòng đã thực hiện đồng bộ các giải pháp: Kiện toàn tổ chức bộ máy; đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính, thực hiện kế hoạch cải cách; phát triển, hiện đại hoá Hải quan giai đoạn 2015-2020; công khai hoá quy trình thủ tục Hải quan, niêm yết công khai văn bản mới; áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:2008; tổ chức tuyên truyền pháp luật đến người khai Hải quan, người nộp thuế bằng nhiều hình thức, như: Thông tin đại chúng, tại trụ sở Cục, tư vấn hỗ trợ qua điện thoại… nhằm thu hút hoạt động XNK tại địa bàn, tổ chức Hội nghị đối thoại doanh nghiệp; đẩy mạnh công tác quản lý giá tính thuế.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Cục Hải quan Hải Phòng
Sau khi Luật Hải quan ra đời và có hiệu lực thi hành, bộ máy tổ chức Cục Hải quan Hải phòng được sắp xếp xây dựng theo quy định của Luật Hải quan và phù hợp với các quy định về chức năng, nhiệm vụ quyền hạn và quy trình nghiệp vụ Hải quan.
Hiện nay, Cục có 20 đơn vị trực thuộc bao gồm: 09 chi cục Hải quan cửa khẩu và ngoài cửa khẩu, 09 phòng ban tham mưu, 02 đơn vị tương đương (Đội KSHQ là đơn vị tương đương cấp Chi cục và Chi cục kiểm tra sau thông quan là Chi cục thực hiện chức năng riêng biệt).
Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Cục Hải quan thành phố Hải
2.1.3 Đội ngũ cán bộ, viên chức Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
Trong giai đoạn 2013 – 2017, tổng số cán bộ nhân viên tại Cục Hải quan Hải Phòng đương đối ổn định. Năm 2013 có 982 người, năm 2014 và 2015 có 969 người (giảm 13 người tương đương với 1.32% so với năm 2013). Năm 2016 có 974 cán bộ, nhân viên (tăng 5 người tương đương 0.52% so với năm 2015). Năm 2017 tăng lên 978 người (tăng 4 người tương đương 0.41% so với năm 2016).
Song song với đó, về mặt số lượng thì trình độ của cán bộ, nhân viên Cục Hải quan Hải Phòng cũng ngày càng được nâng cao, đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi của công việc. Điều này được thể hiện qua sự gia tăng của số lượng cán bộ, nhân viên có trình độ đại học, cao đẳng và trên đại học qua các năm.
Bảng 2. 1:Tình hình nhân sự của Cục Hải Quan Hải Phòng
Ngoài ra, số lượng cán bộ, nhân viên có trình độ trên đại học cũng chiếm tỷ lệ tương đối cao. Tất cả các năm trong giai đoạn số lượng cán bộ, nhân viên có trình độ trên đại học đều chiếm tỷ lệ trên 18% tổng số nhân viên đơn vị. Có được kết quả này chính là nhờ lãnh đạo Cục Hải quan Hải Phòng đã luôn chú trọng và đặt công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, phát triển nguồn nhân lực lên hàng đầu, để có thể đáp ứng được những đòi hỏi cấp thiết của công cuộc cải cách, hiện đại hóa Hải quan cũng như yêu cầu của sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội. Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
2.1.4 Một số kết quả đã đạt được của Cục Hải quan Hải Phòng
Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa (giai đoạn 2013 – 2017)
Bảng 2. 2: Kim ngạch XNK hàng hóa qua các năm
Giá trị kim ngạch XK tại Cục hải quan Hải Phòng trong giai đoạn 2013-2017 không ổn định. Năm 2015 kim ngạch XK đạt 53.86 tỷ USD (chiếm 86% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu). Năm 2016 giảm xuống còn 47.86 tỷ USD (giảm 11.14% so với năm 2015 nên chỉ chiếm 85% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu). Năm 2017 tăng mạnh, đạt 58,47 tỷ USD (tăng 22.18% so với năm 2016 nhưng tỷ trọng giảm xuống còn 83.65% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu).
Kim ngạch NK tại Cục trong giai đoạn 2013 – 2017 cũng không ổn định. Năm 2015 kim ngạch NK đạt 8.72 tỷ USD (chiếm 14% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu). Năm 2016 giảm xuống còn 8.59 tỷ USD (giảm 1.53% so với năm 2015, chiếm 15% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu). Năm 2017 tăng lên đạt 12,13 tỷ USD (tăng 41.29% so với năm 2016 nên tỷ trọng tăng lên đạt 16% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu).
Nguyên nhân của sự thay đổi là do năm 2016 nền kinh tế khá ảm đạm nhưng sang năm 2017 nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi nên các doanh nghiệp có xu hướng nhập khẩu trang thiết bị, nguyên vật liệu để sản xuất nên cả kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu đều tăng. Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
Hiện nay, hàng hóa làm thủ tục thông quan tại Cục Hải quan Hải Phòng chủ yếu là hàng rời và hàng đóng trong container. Các mặt hàng sắt thép, ô tô nguyên chiếc và phụ tùng, linh kiện lắp ráp ô tô, thiết bị máy móc, nguyên liệu sản xuất, lúa gạo, xăng dầu, … là những mặt hàng chủ đạo, chiếm phần lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Ngoài quy mô về hàng hóa tăng lên, chủng loại hàng hóa cũng đa dạng hơn, chủ thể XNK càng đa thành phần, thị trường đi và đến ngày càng được mở rộng… do đó khâu Kiểm tra sau thông quan ngày càng được coi là khâu quan trọng trong nghiệp vụ tại Cục Hải quan Hải Phòng.
Số lượng tờ khai hàng hóa xuất nhập khẩu Cục Hải quan Hải Phòng giải quyết
Số lượng tờ khai xuất nhập khẩu do Cục giải quyết trong giai đoạn 2013 – 2017 được thể hiện trong bảng 2.3.
Theo số liệu trong bảng 2.3 cho thấy, số lượng tờ khai XNK mà Cục Hải quan Hải Phòng giải quyết được trong giai đoạn 2013 – 2017 không ổn định. Theo đó năm 2015 Cục giải quyết được 1.000.911 tờ khai, năm 2016 giảm xuống còn 1.178.998 tờ khai (giảm 17.8% so với năm 2015); năm 2017 số lượng tờ khai giải quyết được đạt 1,309,630 tờ (tăng 11.08% so với năm 2016).
Bảng 2. 3: Số lượng tờ khai XNK đã giải quyết tại Cục Hải quan Hải Phòng
Số lượng tờ khai XK không ổn định theo các năm, năm 2015 Cục giải quyết được 865.788 tờ khai XK, năm 2016 tăng lên đạt 1.120.048 tờ khai (tăng 29.4% so với năm 2015), năm 2017 tăng lên 1,217,959 tờ khai (tăng 8.74% so với năm 2016).
Số lượng tờ khai NK không ổn định qua các năm, năm 2014 Cục giải quyết được 176,547 tờ khai XK, năm 2015 giảm xuống còn 135,123 tờ khai (giảm 23.5% so với năm 2014), năm 2016 giảm xuống còn 58,950 tờ khai (giảm 56.4% so với năm 2015), năm 2017 tăng lên đạt 91,674 tờ khai (tăng 55.51% so với năm 2016).
Có được kết quả này là do năm 2017 nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi và đặc biệt là sự cố gắng vượt bậc của Cục hải quan Hải Phòng. Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
Tổng số thu nộp ngân sách nhà nước
Thu thuế đối với hàng hóa xuất nhập khẩu là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Cục Hải quan TP Hải Phòng. Các giải pháp tập trung vào các lĩnh vực: tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu, tăng cường công tác cải cách hiện đại hóa; tăng cường quản lý thu NSNN, thu hồi và xử lý nợ thuế, tập trung rà soát các mặt hàng có thuế suất cao, trị giá lớn, tần suất nhập khẩu nhiều, C/O ưu đãi… Một trong những kết quả đáng ghi nhận của Cục Hải quan Hải Phòng giai đoạn 2013 – 2017 đó chính là sự gia tăng của số thuế thu nộp ngân sách Nhà nước.
Bảng 2. 4: Tổng số thu nộp ngân sách nhà nước
Biểu đồ 2. 2: Thu nộp ngân sách nhà nước (giai đoạn 2013 – 2017)
Số thực hiện thu nộp NSNN năm sau luôn cao hơn năm trước. Đặc biệt năm 2017 là năm đầu tiên Cục đạt mốc thu trên 53.000 tỷ đồng, tăng 11,3% so với số thực thu năm 2016 – cao nhất từ trước đến nay, đứng thứ 2 trong cả nước. Tuy nhiên do chỉ tiêu Bộ Tài chính giao thu NSNN cao (tăng 23,9% so với số thực thu năm 2016) nên số thực thu chỉ đạt 89,8% chỉ tiêu giao.
2.2 Giới thiệu về Chi cục Kiểm tra sau thông quan – Cục Hải quan Hải Phòng Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
2.2.1 Lịch sử hình thành phát triển
Quá trình 12 năm ra đời, xây dựng và phát triển của Chi cục Kiểm tra sau thông quan thuộc Cục Hải quan TP.Hải Phòng có thể chia làm hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: Từ 06/6/2006 đến tháng 12/2014 là giai đoạn thực hiện công tác kiểm tra sau thông quan theo Quy định của Luật Hải quan năm 2005 và Luật sửa đổi bổ sung Luật Hải quan năm 2011.
Từ khi thành lập, Chi cục có 35 công chức trong đó có 10 công chức đang công tác tại Phòng kiểm tra sau thông quan còn lại được điều động từ các Chi cục Hải quan cửa khẩu và các công chức mới được tuyển dụng vào ngành. Tuy trình độ có mặt còn hạn chế và còn nhiều bỡ ngỡ khi tiếp cận với nghiệp vụ mới song đã đoàn kết một lòng xây dựng Chi cục Kiểm tra sau thông quan. Các tổ chức trong Chi cục: Chi bộ, Công đoàn, Đoàn thanh niên, các Đội công tác v.v từng bước được hình thành và tổ chức hoạt động. Không thể kể hết những khó khăn ban đầu. Khó khăn là vậy, nhưng lãnh đạo và công chức thừa hành luôn gắn bó, chia sẽ và gần gũi động viên nhau để cố gắng vượt qua. Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
Trong giai đoạn này, Chi cục Kiểm tra sau thông quan đã thực hiện nhiều chuyên đề lớn, điển hình trong toàn ngành, phát hiện nhiều thủ đoạn gian lận mới kịp thời truy thu thuế cho ngân sách nhà nước. Thông qua hoạt động kiểm tra sau thông quan, Chi cục đã phát hiện nhiều bất cập về chính sách để kiến nghị sửa đổi kịp thời. Nhiều kiến nghị của Chi cục Kiểm tra sau thông quan được đưa vào Thông tư hướng dẫn kiểm tra sau thông quan, quy trình kiểm tra sau thông quan và được cụ thể hóa vào Luật Hải quan năm 2014.
Tháng 7 năm 2014 Chi cục Kiểm tra sau thông quan được chuyển về tòa nhà Cục Hải quan TP. Hải Phòng, một trụ sở làm việc khang trang, bề thế, hiện đại tương đối đầy đủ cơ sở vật chất.
Giai đoạn 2: Từ tháng 1/2015 đến nay:
Năm 2015 là năm có những thay đổi cơ bản về chính sách tác động lớn đến hoạt động kiểm tra sau thông quan:
Luật Hải quan số 54/2014/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/01/2015.
Những thay đổi về của Luật Hải quan và các văn bản hướng dẫn đã tác động sâu rộng đến toàn bộ hoạt động kiểm tra sau thông quan cả về cơ cấu tổ chức đến các hoạt động nghiệp vụ Kiểm tra sau thông quan.
Chi bộ Kiểm tra sau thông quan được Đảng bộ Cục Hải quan Hải Phòng quyết định nâng cấp thành Đảng bộ Chi cục Kiểm tra sau thông quan theo Quyết định số 746-QĐ/ĐUHQ ngày 28/1/2015 bao gồm 4 Chi bộ trực thuộc.
Ngay từ khi Luật Hải quan chưa có hiệu lực Chi cục Kiểm tra sau thông quan đã chủ động nghiên cứu triển khai Luật Hải quan về Kiểm tra sau thông quan. Trên cơ sở đó Chi cục Kiểm tra sau thông quan đã tham mưu cho Cục Hải quan Hải Phòng ban hành văn bản số 2470/HQHP-KTSTQ ngày 07/4/2015 chỉ đạo các Chi cục trực thuộc triển khai công tác kiểm tra sau thông quan theo mô hình Chi cục Kiểm tra sau thông quan thực hiện Kiểm tra sau thông quan theo thẩm quyền của Cục trưởng; Bộ phận Kiểm tra sau thông quan nằm trong Đội Quản lý thuế tại các Chi cục hải quan Cửa khẩu cảng Hải Phòng khu vực I, II, III, Đình Vũ và nằm trong Đội Tổng hợp tại các Chi cục ngoài cửa khẩu thực hiện Kiểm tra sau thông quan theo thẩm quyền của Chi cục trưởng. Việc triển khai mô hình Kiểm tra sau thông quan tại các Chi cục trực thuộc Cục Hải quan TP.Hải Phòng được Tổng cục Hải quan đánh giá cao và được triển khai áp dụng trong toàn quốc. Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
Do chủ động, quyết liệt trong trong việc chỉ đạo triển khai thực hiện nên công tác Kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan TP. Hải Phòng tạo được bước đột phá. Kết quả đạt được khá toàn diện trên tất cả các mặt công tác.
- Một số chuyên đề lớn đã triển khai thành công trong điều kiện phải chịu nhiều áp lực từ phía Doanh nghiệp, công luận…như:
- Chuyên đề Kiểm tra sau thông quan về mã số đối với mặt hàng phôi thép đã thu thu nộp ngân sách được 62 tỷ đồng.
- Chuyên đề kiểm tra C/O mặt hàng xăng dầu đã đã thu nộp ngân sách 92 tỷ đồng.
- Chuyên đề về khai báo mã ngụy trang: Đã thu nộp ngân sách trên 10 tỷ đồng, đồng thời hướng dẫn các Chi cục rà soát truy thu những lô hàng tương tự.
2.2.1 Cơ cấu tổ chức
Hiện nay số lượng cán bộ công chức của Chi cục Kiểm tra sau thông quan với hơn 80 người với 01 Chi cục trưởng, 03 Phó Chi cục trưởng, 05 Đội trưởng, 06 Phó đội trưởng phụ trách các đội nghiệp vụ như sau:
- Đội 1: Kiểm tra sau thông quan về trị giá tính thuế;
- Đội 2: Kiểm tra sau thông quan về mã số, thuế suất;
- Đội 3: Kiểm tra sau thông quan hàng gia công, sản xuất xuất khẩu;
- Đội 4: Đội kiểm tra về Chính sách thương mại;
- Đội 5: Tham mưu tổng hợp mưu tổng hợp
2.2.2 Chức năng nhiệm vụ của Chi cục Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
Chi cục Kiểm tra sau thông quan Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Hải quan năm 2014, các quy định khác của Pháp luật có liên quan, cụ thể:
- Trình Cục trưởng kế hoạch hàng năm về công tác Kiểm tra sau thông quan của Cục Hải quan Thành phố Hải Phòng.
- Giúp Cục trưởng trong việc quản lý, chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra thực hiện nhiệm vụ Kiểm tra sau thông quan trong phạm vi quản lý của Cục Hải quan Thành phố Hải Phòng.
- Thu thập, tổng hợp, phân tích, xử lý thông tin trong và ngoài ngành để phục vụ công tác Kiểm tra sau thông quan.
- Giúp Cục trưởng trong việc ra quyết định Kiểm tra sau thông quan. Trực tiếp thực hiện Kiểm tra sau thông quan theo quy định của pháp luật. Xử lý vi phạm hành chính và giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vi phạm hành chính theo quy định của Pháp luật… Thực hiện các nhiệm vụ khác do Cục trưởng Cục Hải quan Thành phố Hải Phòng giao.
2.3 Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá tại Cục Hải quan Hải Phòng. Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
2.3.1 Thực trạng về đội ngũ cán bộ kiểm tra sau thông quan tại Chi cục
Bảng 2. 5: Số lượng cán bộ kiểm tra sau thông quan
Từ số liệu trên cho thấy, biên chế của Chi cục Kiểm tra sau thông quan có xu hướng tăng trong các năm từ 2013 đến 2017. Số lượng cán bộ làm công tác Kiểm tra sau thông quan tại cục Hải quan Hải Phòng là 80 người, chiếm tỷ lệ 8,18 % trên tổng số cán bộ công chức toàn Cục, cụ thể:
Năm 2013 số cán bộ công chức Kiểm tra sau thông quan là 65 người chiếm tỷ lệ 6,62%; Năm 2014 là 74 người chiếm tỷ lệ 7,64%; Năm 2015 là 81 người chiếm tỷ lệ 8,36%; Năm 2016 là 81 người chiếm tỷ lệ 8,32%; Năm 2017 là 80 người chiếm tỷ lệ: 8,18%.
Cán bộ làm công tác Kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan tại Chi cục Kiểm tra sau thông quan chủ yếu từ hai nguồn: tuyển dụng mới và điều chuyển, luân chuyển từ các Phòng ban, Chi cục bộ phận nghiệp vụ khác.
Số lượng công chức làm công tác Kiểm tra sau thông quan về trị giá chuyên trách tại Cục không cụ thể và không có số liệu thống kê rõ ràng, mà số lượng được thể hiện trong số lượng chung của lực lượng Kiểm tra sau thông quan đã phân tích ở trên.
Biểu đồ 2. 3: Công chức Hải quan và công chức Kiểm tra sau thông quan tại Cục
Công tác luân chuyển cán bộ làm công tác Kiểm tra sau thông quan cũng được triển khai theo quy định trong quy chế bắt buộc phải luân chuyển vị trí theo định kỳ theo quy định của ngành Hải quan bao gồm cả luân chuyển cán bộ theo tính chất công việc và luân chuyển cán bộ theo địa bàn công tác. Tính chất đặc thù của công tác Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan ngoài những kiến thức nghiệp vụ thông thường còn cần có tính chuyên sâu về kế toán, kiểm toán, ngân hàng, ngoại thương..v..v. nên việc luân chuyển cán bộ đã ảnh hưởng không nhỏ tới việc ổn định của lực lượng Kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan ở cả cấp Cục và cả cấp Chi cục. Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
Phần lớn cán bộ Kiểm tra sau thông quan tại Chi cục được luân chuyển từ các Phòng ban, Chi cục, bộ phận nghiệp vụ khác, do đã trải qua các nghiệp vụ hải quan khác nhau nên có ít nhiều kinh nghiệm và do tính chất nghiệp vụ yêu cầu. Người có thời gian công tác tại Chi Cục Kiểm tra sau thông quan ngắn nhất chỉ là 1 năm. Hầu hết các cán bộ chỉ về Chi cục Kiểm tra sau thông quan dưới 3 năm đã luân chuyển.
Trong vấn đề chuyên môn nghiệp vụ, từ năm 2013, Tổng Cục Hải quan đã tập trung cho vấn đề đào tạo và đào tạo lại cho đội ngũ công chức làm công tác Kiểm tra sau thông quan, trong đó đặc biệt quan tâm đến nghiệp vụ chuyên sâu về trị giá hải quan. Trong 05 năm từ năm 2013- 2017, Chi cục Kiểm tra sau thông quan cử gần 50 lượt người đi đào tạo các khóa học và bồi dưỡng nghiệp vụ cho công chức hải quan làm công tác Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan về các nghiệp vụ chuyên sâu như kế toán, chứng từ thương mại, chứng từ thanh toán, kiểm tra phát hiện chứng từ giả, nghiệp vụ điều tra.
Đến thời điểm năm 2017, tại cấp Chi cục kiểm tra sau thông quan đáp ứng 100% cán bộ làm công tác Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan có trình độ đại học, 100% có trình độ kế toán phổ cập, 100% được phổ cập kiến thức thương mại, chứng từ thương mại, thanh toán quốc tế, tuy nhiên, những lĩnh vực như kiểm toán, nghiệp vụ điều tra… thì vẫn còn đạt tỷ lệ rất thấp. Tỷ lệ tuyển dụng cán bộ Kiểm tra sau thông quan đáp ứng yêu cầu về chuyên ngành về tài chính, kế toán, kiểm toán còn chưa cao.
Tỷ lệ số cán bộ công chức Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan có trình độ thành thạo về các nghiệp vụ chuyên môn phục vụ cho công tác kiểm tra về trị giá cũng có sự thay đổi, làm ảnh hưởng đến nghiệp vụ chuyên môn trong công tác của các cán bộ công chức mà một phần nguyên nhân là do sự luân chuyển cán bộ như đã đề cập ở trên.
Với xu hướng phát triển của Kiểm tra sau thông quan trong thời gian tới, có thể thấy rằng, số lượng và chất lượng cán bộ để đáp ứng yêu cầu của công tác Kiểm tra sau thông quan về trị giá trong giai đoạn hiện tại và trong những năm sắp tới là một trong những vấn đề cấp thiết và quan trọng của lực lượng Kiểm tra sau thông quan nói chung và lực lượng Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan nói riêng. Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
2.3.2 Thực trạng triển khai công tác Kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá tại Cục Hải quan TP Hải Phòng
2.3.2.1 Giai đoạn trước năm 2015 (trước khi thực hiện Luật Hải quan 2014):
Xu thế toàn cầu hoá, thương mại quốc tế ngày càng phát triển như hiện nay, các ràng buộc rào cản về quản lý ảnh hưởng đến hoạt động thương mại dần được dỡ bỏ. Chính điều này đã tạo điều kiện hết sức thuận lợi cho hoạt động thương mại xuất nhập khẩu hàng hóa nhưng cũng đã kích thích các hoạt động gian lận thương mại trên mọi lĩnh vực phát triển. Cùng chung với đó gian lận thương mại về trị giá tính thuế qua hoạt động xuất nhập khẩu của người khai hải quan cũng theo đó ngày càng tinh vi khó kiểm soát. Ngành Hải quan cũng đã nhận thức rõ điều này và từ đó đặt ra yêu cầu đòi hỏi cơ quan hải quan phải thay đổi gì để thích ứng với công tác quản lý để “vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong hoạt động XNK vừa đảm bảo kiểm tra, kiểm soát có hiệu quả”.
Năm 2014, Công tác Kiểm tra sau thông quan về trị giá được là thực hiện theo quy định tại Khoản 7, Điều 1, Thông tư 29/2014/TT-BTC. Thời điểm này việc kiểm tra sâu đối với lĩnh vực trị giá chỉ tập trung tại một đầu mối là Đội Kiểm tra sau thông quan về trị giá (Đội 1) thuộc Chi cục Kiểm tra sau thông quan. Công tác Kiểm tra sau thông quan về trị giá chủ yếu dựa trên thông tin ở các phiếu chuyển nghiệp vụ từ các Chi cục HQ cửa khẩu chuyển về. Do vậy, hàng ngày CBCC phải giải quyết một khối lượng công việc rất lớn để phân tích, xử lý thông tin để thực hiện kiểm tra.
Để giải quyết công việc Lãnh đạo đơn vị cũng đã đề ra một số giải pháp tập trung trọng điểm vào 3 nhóm công việc để xử lý như:
- Phân loại và thu thập, xử lý thông tin từ các Phiếu chuyển nghiệp vụ do các đơn vị trực thuộc Cục gửi đến ( áp.dụng.nguyên.tắc.quản.lý.rủi.ro: cho rà soát phân loại lần 1 sau đó giao cho CBCC thừa hành tiếp tục kiểm tra, phân loại lựa chọn những hồ sơ có mặt hàng trọng điểm vè trị giá để tiến hành Kiểm tra sau thông quan).
- Thu thập thông tin từ các chênh lệch về giá khác từ các hệ thống thông tin của Ngành giao cho từng nhóm CBCC phụ trách theo địa bàn để quản lý; Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
- Thu thập và xử lý thông tin từ nguồn thông tin rà soát các lô hàng luồng xanh.
Với phương án xử lý tập trung cao vào các mặt hàng trọng điểm về trị giá (có số thu thuế lớn, nằm trong danh mục QLRR của Tổng cục) kiểm tra theo chuyên đề định sẵn, phát huy năng lực sở trường của một số CBCC có kinh nghiệm kiểm tra theo mặt hàng để làm trưởng nhóm; thực hiện công tác đào tạo tại chỗ, hỗ trợ lẫn nhau để làm việc.
Tuy nhiên, trên thực tế cho thấy đơn vị có áp dụng quản lý rủi ro nhưng chưa triệt để trong việc giải quyết những phát sinh theo nghi vấn về giá của các Phiếu chuyển nghiệp vụ do các Chi cục Hải quan chuyển về. Ngoài những vấn đề vướng mắc phát sinh về nội dung nghi vấn chưa được trao đổi kịp thời với CBCC ở khâu thông quan do địa bàn cách xa nhau. Cùng thời gian này, ngành Hải quan đang triển khai đồng bộ dự án Vnaccs/Vcis và thực hiện nâng cấp hệ thống quản lý giá tính thuế GTT02 và hệ thống thông tin phục vụ Kiểm tra sau thông quan và quản lý rủi ro (STQ01). Trong thời kỳ đầu triển khai khi chưa được hướng dẫn, CBCC của Chi cục hoàn toàn tự tìm tòi khai thác để kết xuất dữ liệu phục vụ công tác thu thập thông tin. Mặt khác, việc khai thác dữ liệu trên chương trình Vics rất chậm. Thường trong giờ hành chính rất khó khai thác thông tin, việc này ảnh hưởng không nhỏ đến tiến độ các cuộc Kiểm tra sau thông quan.
2.3.2.2 Giai đoạn từ năm 2015 đến nay: Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
So với Luật Hải quan 2001 sửa đổi bổ sung năm 2005, các quy định của Luật Hải quan 2014 đã đưa thẩm quyền thực hiện Kiểm tra sau thông quan tại trụ sở cơ quan Hải quan đến cấp Chi cục Hải quan nơi doanh nghiệp mở tờ khai đối với những trường hợp có nghi vấn trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày tờ khai được thông quan. Lực lượng Kiểm tra sau thông quan không chỉ có Chi cục Kiểm tra sau thông quan -Cục Hải quan Hải Phòng, mà còn được mở rộng đến các Chi cục Hải quan cửa khẩu, ngoài cửa khẩu trực thuộc Cục Hải quan Hải Phòng.
Chi.cục Kiểm tra sau thông quan đã tham mưu cho Cục Hải quan Hải Phòng ban hành văn bản chỉ đạo mang tính định hướng cho các Chi cục Hải quan trực thuộc thực hiện như:
Trong lĩnh vực trị giá, tập trung Kiểm tra sau thông quan đối với các lô hàng XNK thuộc luồng xanh có nghi vấn về giá trong thời hạn 60 ngày. Tổ chức Kiểm tra sau thông quan về trị giá đối với các lô hàng có nghi vấn về trị giá tính thuế theo quy định tại Tiết a, c Khoản 2, Điều 21 Nghị định 08/2015/NĐ-CP.
Về mô hình tổ chức: Chi cục HQ cửa khẩu cảng Hải Phòng (Khu vực 1,2,3 và Hải quan Đình Vũ) bố trí nhóm từ 3 đến 4 công chức trực thuộc Đội quản lý thuế chuyên trách làm công tác Kiểm tra sau thông quan; đối với các Chi cục ( HQ đầu tư gia công, Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Khu CX-KCN) bố trí nhóm từ 2 đến 3 công chức trực thuộc Đội tổng hợp chuyên trách làm công tác Kiểm tra sau thông quan. Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
Chi cục Kiểm tra sau thông quan đã hỗ trợ các chi cục Hải quan cửa khẩu triển khai công tác Kiểm tra sau thông quan: Đối với Chi cục HQ cửa khẩu cảng Hải Phòng chủ yếu được yêu cầu hỗ trợ Kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá tính thuế; các chi cục hải quan ngoài cửa khẩu chủ yếu được yêu cầu hỗ trợ Kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực Gia công SXXK.
Tham mưu cho Cục Hải quan Hải Phòng trong việc xây dựng việc luân chuyển theo dõi hồ sơ trong công tác quản lý, kiểm tra về trị giá tính thuế giữa các khâu nghiệp vụ với mục tiêu đảm bảo quản lý thống nhất về trị giá hải quan trong toàn Cục.
Sau một thời gian triển khai thực hiện công tác Kiểm tra sau thông quan nói chung và Kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá nói riêng, một số quy định của Luật Hải quan 2014 và các văn bản dưới luật về Kiểm tra sau thông quan bộc lộ một số vướng mắc:
Thứ nhất là, Luật Hải quan 2014 chưa có quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của công chức hải quan trong Kiểm tra sau thông quan tại trụ sở cơ quan Hải quan. Việc chưa có quy định này không đảm bảo tính minh bạch của pháp luật trong quá trình thực hiện Kiểm tra sau thông quan tại trụ sở cơ quan Hải quan.
Thứ hai là, quy định hạn chế về đối tượng Kiểm tra sau thông quan tại trụ sở cơ quan Hải quan không phản ánh đúng bản chất của công tác Kiểm tra sau thông quan và gây khó khăn trong quá trình thực hiện. Cơ quan hải quan chỉ được yêu cầu cung cấp chứng từ thương mại và một số chứng từ thuộc hồ sơ hải quan mà không được yêu cầu cung cấp chứng từ, sổ sách kế toán. Quy định này có ưu điểm là tạo thuận lợi cho người khai hải quan… Nhưng lại có nhược điểm, mâu thuẫn với chính quy định về Kiểm tra sau thông quan là kiểm tra hồ sơ hải quan, chứng từ sổ sách kế toán của doanh nghiệp, không thể hiện đúng bản chất kiểm tra (kiểm toán) của Kiểm tra sau thông quan phải đi từ hệ thống sổ sách của doanh nghiệp để tìm ra chân dung tổng thể về quá trình giao dịch. Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
Thực tế việc thực hiện Kiểm tra sau thông quan về trị giá đối với tờ khai có dấu hiệu nghi vấn trong vòng 60 ngày kể từ ngày hàng hóa được thông quan chưa đạt hiệu quả cao. Tình trạng doanh nghiệp lợi dụng khai thấp giá hàng nhập khẩu để trốn thuế. Để che giấu hành vi vi phạm các doanh nghiệp hợp thức hóa hồ sơ và đối phó với cơ quan Hải quan, doanh nghiệp móc nối với các đối tác nước ngoài lập hợp đồng mua bán, chứng từ thanh toán không đúng với thực tế để gian lận qua giá. Hành vi này rất khó phát hiện và đấu tranh bác bỏ trị giá khai báo.
Thứ ba là, trong trường hợp Kiểm tra sau thông quan đối với tờ khai có nghi ngờ về trị giá, theo quy định tại Thông tư 39/2015/TT-BTC ngày 1/4/2015 và các quy định về Kiểm tra sau thông quan tại Thông tư 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015, trong quá trình kiểm tra ở khâu thông quan, nếu có nghi vấn giá mà người khai hải quan không yêu cầu tham vấn thì chuyển Kiểm tra sau thông quan. Do đó, phát sinh trường hợp có những mặt hàng liên tiếp rơi vào nghi vấn giá do thấp hơn giá trong Danh mục rủi ro về giá do Tổng cục Hải quan ban hành, cho dù cùng nhà xuất nhập khẩu, cùng hợp đồng mua bán và kết quả Kiểm tra sau thông quan trước đó cơ quan Hải quan đã chấp nhận giá khai báo. Trong trường hợp này việc Kiểm tra sau thông quan chỉ còn mang tính hình thức để đáp ứng theo đúng quy định, nhưng thực chất không đem lại hiệu quả quản lý, làm lãng phí thời gian, công sức của cả doanh nghiệp và cơ quan Hải quan.
2.3.3 Kết quả đạt được của công tác kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan tại Cục Hải quan Hải Phòng
2.3.3.1 Số cuộc Kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan.
Do sự gia tăng nhanh chóng về số lượng hàng hóa xuất nhập khẩu đã tạo sức ép phải thông quan nhanh hàng hóa, số hồ sơ đã được kiểm tra khi thông quan cũng chưa được kiểm tra đầy đủ, chi tiết nên vẫn cần thiết phải được Kiểm tra sau thông quan. Với tình hình đó, giai đoạn 2013 – 2017, được coi là bước ngoặt mới đối với lực lượng Kiểm tra sau thông quan, và đây chính là một trong những thời cơ để số lượng các cuộc kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan không ngừng gia tăng trong sự gia tăng chung về quy mô Kiểm tra sau thông quan. Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
Sự gia tăng số cuộc Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan được thể hiện thông qua số liệu thống kê chung về số cuộc kiểm tra sau thông quan giai đoạn 2013-2017 (xem Bảng 2.6)
Bảng 2. 6: Số lượng cuộc Kiểm tra sau thông quan và Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan
Qua bảng số liệu trên cho thấy, tổng số cuộc Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan tăng lên hàng năm kể cả Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan tại trụ sở doanh nghiệp cũng như Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan tại cơ quan hải quan. Nếu năm 2013, số cuộc Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan thực hiện được là 497 cuộc thì đến năm 2017 đã là 1108 cuộc, như vậy sau 5 năm, số cuộc kiểm tra sau thông quan đã tăng lên hơn 2 lần. Số cuộc kiểm tra sau thông quan tại cơ quan hải quan tăng lên đáng kể trong những năm gần đây, với năm 2013 là 461 cuộc, năm 2017 là 1036 cuộc. Số cuộc kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp cũng có chiều hướng tăng nhưng còn thấp, (xem bảng 2.6). Trong đó, năm 2013 số cuộc kiểm tra sau thông quan tại trụ sở doanh nghiệp là 36 cuộc, thì năm 2017 tăng lên 72 cuộc. Số cuộc Kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan tăng lên hàng năm, đáp ứng một phần yêu cầu tăng cường chống gian lận thương mại trong hoạt động xuất nhập khẩu.
2.3.3.2 Thu NSNN từ Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
Thực hiện nhiệm vụ thu NSNN lực lượng Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan đã đạt được những số thu khả quan qua các cuộc Kiểm tra sau thông quan. Số tiền thuế thu được cũng tăng lên tương ứng với số lượng tăng lên của các cuộc Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan tăng lên trong các năm. Giai đoạn từ 2013- 2017, số thu NSNN Chi cục được thể hiện qua Biểu đồ 2.4 dưới đây:
Biểu đồ 2. 4: Số thu NSNN từ Kiểm tra sau thông quan và Kiểm tra sau thông quan về trị giá
Với kết quả về số thu của lực lượng Kiểm tra sau thông quan tăng đều hàng năm, trong giai đoạn 2013- 2017, số thuế truy thu trung bình là 258 tỷ đồng, đặc biệt trong những năm gần đây số thuế thu tăng lên cao hơn nhiều so với những năm đầu mới triển khai nghiệp vụ Kiểm tra sau thông quan: năm 2013 thu 196,7 tỷ đồng, năm 2014 thu 200,6 tỷ đồng, năm 2015 thu 271,5 tỷ đồng; năm 2016 thu 299,1 tỷ đồng; năm 2017 thu 325 tỷ đồng. Trong đó, theo báo cáo số thuế từ Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan đã nộp NSNN trong giai đoạn 2013 – 2017 lần lượt là: 61,1 tỷ đồng, 62,2 tỷ đồng, 82 tỷ đồng, 89,7 tỷ đồng, 97 tỷ đồng. Số thu trên chưa kể số thu do lực lượng kiểm tra sau thông quan phát hiện giao lại hải quan các cửa khẩu thu chưa thống kê được.
Bảng 2. 7: Số thu NSNN từ Kiểm tra sau thông quan và Kiểm tra sau thông quan về trị giá
Như vậy, Số thu NSNN từ Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan liên tục tăng đã góp phần tăng thu trong nhiệm vụ thu NSNN. Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
Có được kết quả này là do Chi cục đã chủ động kiểm soát được tình hình gian lận thương mại qua giá, chính sách thuế đối với các DN làm thủ tục tại Cục Hải quan TP. Hải Phòng. Nâng cao tính tuân thủ pháp luật của DN góp phần hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách của Cục Hải quan TP. Hải Phòng.
Qua công tác kiểm tra sau thông quan Chi cục kiểm tra sau thông quan đã đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật tới cộng đồng doanh nghiệp, hướng dẫn, hỗ trợ, cung cấp văn bản pháp quy liên quan đến hoạt động xuất nhập khẩu giúp doanh nghiệp hiểu đúng, khắc phục các sai sót để nâng cao việc tuân thủ pháp luật hải quan, pháp luật thuế từ đó tạo được sự đồng thuận từ phía doanh nghiệp về công tác kiểm tra sau thông quan, được cộng đồng doanh nghiệp Nhật Bản, Hàn Quốc đánh giá cao.
Để đánh giá chính xác hơn về hiệu quả công tác Kiểm tra sau thông quan về trị giá Hải quan tại chi cục, cần phân tích sâu hơn về mối quan hệ giữa số thu ngân sách trên mỗi cuộc Kiểm tra sau thông quan và số thu ngân sách trên mỗi cuộc Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan(xem bảng 2.8).
Qua bảng 2.8 cho thấy, mặc dù số cuộc Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số cuộc điều tra nhưng số thu về thuế lại chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số thu từ hoạt động Kiểm tra sau thông quan.
Trong giai đoạn 2013 – 2017, trung bình cứ một cuộc Kiểm tra sau thông quan thu được 0,28 tỷ đồng thì hoạt động Kiểm tra sau thông quan về trị giá thu được 0,11 tỷ đồng/cuộc kiểm tra. Bên cạnh đó, mỗi cuộc Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan tại cơ quan hải quan trung bình thu được 0,1 tỷ đồng, thì con số này tại trụ sở doanh nghiệp là 0,18 tỷ đồng.
Bảng 2. 8: Số thu NSNN trên mỗi cuộc kiểm tra Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
Qua số liệu trên cho thấy, mặc dù số cuộc kiểm tra ít hơn nhưng hiệu quả của công tác Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan tại các doanh nghiệp cao hơn so nhiều với hiệu quả hiệu quả của công tác Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan tại cơ quan hải quan.
Vì vậy, trong thời gian tới, Chi cục nên tăng cường công tác kiểm tra tại trụ sở các doanh nghiệp vừa góp phần nâng cao hiệu quả công tác thanh kiểm tra, vừa giảm số lượng các cuộc kiểm tra, tránh gây phiền hà cho doanh nghiệp.
2.3.3.3 Số lượng doanh nghiệp tuân thủ
Kiểm tra sau thông quan nói chung và Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan nói riêng là hoạt động tích cực không chỉ cho hải quan mà cho cả doanh nghiệp; vừa giúp hải quan tăng cường quản lý, thu đủ và tránh bỏ lọt các nguồn thu của NSNN vừa giúp doanh nghiệp nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật. Trên thực tế, nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp là mục đích chính của công tác Kiểm tra sau thông quan, được đặt trên cả mục đích thu thuế cho NSNN. Giai đoạn 2013 – 2017 được đánh giá là giai đoạn khá thành công, tạo được chuyển biến vượt bậc, tạo một cú hích rất mạnh vào hoạt Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan làm số thu NSNN tăng mạnh thì bên cạnh đó tiêu chí nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật hải quan cũng được chú trọng hơn trước.
Hằng năm, lực lượng Kiểm tra sau thông quan tại Chi cục đều có kế hoạch thực hiện Kiểm tra sau thông quan để đánh giá tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp trong kế hoạch chung của Kiểm tra sau thông quan. Kiểm tra theo kế hoạch được cơ quan Hải quan kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp theo kế hoạch được xác định trong từng năm. Mỗi năm đều có số lượng doanh nghiệp xác định được kiểm tra và việc kiểm tra này phải dựa trên những tiêu chí nhất định của Tổng Cục Hải quan ban hành.
Qua thực tế, có thể thấy tổng số doanh nghiệp được kiểm tra, đánh giá sự tuân thủ pháp luật tăng mạnh theo các năm, cụ thể (Bảng 2.7) Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
Bảng 2. 9: Kết quả đánh giá doanh nghiệp tuân thủ pháp luật HQ
Kết quả cho thấy: Trong năm 2017, lực lượng Kiểm tra sau thông quan đã kiểm tra, đánh giá được 243 doanh nghiệp, gấp hơn 4 lần so với năm 2013.
Không chỉ gia tăng về số lượng các doanh nghiệp được kiểm tra, mà số tỷ lệ các doanh nghiệp được đánh giá tuân thủ tốt pháp luật Hải quan cũng gia tăng. Năm 2013 tỷ lệ các doanh nghiệp được đánh giá là tuân thủ tốt đạt 33,3% thì năm 2017 con số này đã tăng lên 52,3%, đây là một kết quả đáng đáng khích lệ của lực lượng Kiểm tra sau thông quan khi triển khai các chuyên đề như: Chuyên đề về hàng gia công, SXXK; Chuyên đề tàu biển; Chuyên đề giá ô tô, hàng điện tử; Chuyên đề thuế tự vệ của thép cốt bê tông, phôi thép; Chuyên đề Kiểm tra sau thông quan đối với MMTB NK theo loại hình máy chính; MMTB đã qua sử dụng từ TQ. Bên cạnh đó lực lượng Kiểm tra sau thông quan cũng tích cực trong công tác nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp, tiêu biểu như Công ty TNHH LG Electronic Việt Nam; Công ty TNHH Fuji Xerox Việt Nam.
Tuy nhiên, Hành vi gian lận thương mại vẫn diễn ra chủ yếu là các vi phạm về thủ tục, về khai báo: Khai, nộp hồ sơ Hải quan không đúng thời hạn quy định; không nộp đúng thời hạn chứng từ thuộc diện được chậm nộp theo quy định; không khai, khai sai tên hàng, số lượng hàng, chủng loại, thuế suất hàng hoá dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp. Số lượng hàng hóa quá hạn làm thủ tục hải quan nằm tại các cảng biển vẫn còn tồn tại, chủ yếu thuộc loại hình tạm nhập- tái xuất.
Qua công tác kiểm tra, kiểm soát, đã phát hiện nhiều vụ việc vi phạm pháp luật về Hải quan với phương thức thủ đoạn mới, trong đó đã khởi tố 05 vụ việc có dấu hiệu hình sự về tội buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa thuộc danh mục cites qua biên giới.
Việc phối hợp với các lực lượng chức năng trên địa bàn luôn là hoạt động thường xuyên, liên tục. Cục chủ động phối hợp với các lực lượng chức năng như cơ quan Công an, Cảnh sát biển để triển khai biện pháp nghiệp vụ cơ bản, thu thập, chia sẻ thông tin và đã thu được những kết quả nhất định công tác phòng, chống và kiểm soát ma túy.
2.3.3.4 Ngăn chặn gian lận thương mại qua trị giá hải quan Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan còn nhiều hạn chế trong việc ngăn chặn gian lận thương mại qua trị giá hải quan, bằng chứng là gian lận về giá hiện nay vẫn rất phổ biến, phức tạp và chưa có dấu hiệu bị đẩy lùi.
Trên thực tế, hàng nhập khẩu có thuế suất cao thì được doanh nghiệp khai với giá thấp hoặc hàng nhập khẩu có thuế suất thấp thì được khai với giá cao, hoặc những trường hợp ghi giá hóa đơn thấp hơn trị giá thực và không khai báo đầy đủ các khoản điều chỉnh giá ví dụ như các khoản phải cộng trong trị giá, như phí bản quyền, phí vận chuyển chặng nội địa… luôn là xu hướng gian lận qua trị giá phổ biến hiện nay của các doanh nghiệp nhập khẩu. Với mặt hàng rượu vang nhập khẩu, các doanh nghiệp khai báo với giá là 1,8 eur/chai nhưng thực chất qua tham vấn hải quan, xác định trị giá thực tế là 5,8 eur/chai (gấp 3 lần so với khai báo). Một số mặt hàng tiêu dùng nhập khẩu thường được khai thấp trị giá xuống rất nhiều lần. Ngoài việc doanh nghiệp khai báo tên hàng không đúng thì một số trường hợp, doanh nghiệp khai tên hàng gần so với tên hàng có trong cơ sở dữ liệu giá của cơ quan hải quan, nhưng lại khai báo giá thấp một cách bất hợp lý nhưng cơ quan Hải quan không có đầy đủ thông tin để so sánh, đối chiếu, thiếu căn cứ để bác bỏ trị giá khai báo thấp, bất hợp lý của doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp nhập khẩu cố tình khai giá nguyên liệu nhập khẩu rất thấp và chỉ qua quá trình gia công đơn giản như đóng gói bán lẻ, bổ sung thêm số thành phần như hương liệu để tạo ra sản phầm thay thế sản phẩm chính cần nhập khẩu.
Nếu trước kia, hành vi gian lận về trị giá chỉ xuất hiện ở hàng nhập khẩu thì thời gian gần đây, gian lận về trị giá hải quan đối với mặt hàng xuất khẩu có sự gia tăng. Một trong những nguyên nhân về gian lận qua trị giá hàng xuất khẩu gia tăng là do có sự điều chỉnh về thuế suất thuế xuất khẩu đối với một số mặt hàng. Thay vì được hưởng thuế suất 0% hoặc thuế suất ưu đãi thì thuế xuất khẩu của các mặt hàng này cũng được tăng lên. Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
Công tác Kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan đối với hàng xuất khẩu, nhập khẩu đang trở nên phức tạp hơn khi chủng loại hàng hoá nhập khẩu ngày càng đa dạng. Khi phát hiện dấu hiệu gian lận thuế qua giá, thông thường Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan phải tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ từ nhiều nguồn mà ở đó cần đến sự hợp tác hiệu quả của nhiều cơ quan hữu quan. Hậu quả là cơ quan Hải quan thường buộc phải chấp nhận giá khai báo như là trị giá giao dịch thực tế cho phần lớn hàng hóa nhập khẩu. Bên cạnh đó, việc Kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan đối với những trường hợp chuyển giá hầu như là chưa có kết quả.
Khối lượng và kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ngày càng lớn nhưng thanh toán phổ biến vẫn dùng tiền mặt hoặc doanh nghiệp sử dụng nhiều tài khoản để thanh toán, sử dụng hoá đơn không đáng tin cậy, không áp dụng các chuẩn mực kế toán và ghi chép sổ sách kế toán, không có địa chỉ kinh doanh cố định hoặc thường thay đổi tên doanh nghiệp. Trong những điều kiện như vậy, rất khó để áp dụng kiểm soát trị giá dựa trên Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan.
2.3.3.5 Công tác đảm bảo tính công bằng, cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp tham gia xuất, nhập khẩu.
Một trong những mục tiêu của Kiểm tra sau thông quan là nhằm tạo điều kiện thuận lợi và công bằng, bình đẳng trong cạnh tranh giữa các doanh nghiệp. Công bằng, bình đẳng ở đây được hiểu là giữa doanh nghiệp chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật và doanh nghiệp không chấp hành nghiêm các quy định. Kết quả đánh giá của Kiểm tra sau thông quan sẽ là thước đo để phân loại hai đối tượng trên, trả lại sự công bằng cho các doanh nghiệp chấp hành đúng những quy định của pháp luật, đồng thời có hình thức xử phạt các doanh nghiệp có vi phạm, có những thủ đoạn gian lận, trốn thuế, gây thất thu ngân sách nhà nước. Do số cuộc Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan còn đạt thấp nên chắc chắn còn khá nhiều doanh nghiệp vi phạm về khai báo trị giá không trung thực, nhưng do chưa kiểm tra phát hiện nên còn chưa bị xử phạt theo quy định.
Tất cả các cuộc kiểm tra dù được kiểm tra tại trụ sở cơ quan Hải quan hay tại trụ sở doanh nghiệp đều góp phần ngăn chặn hành vi gian lận tiếp theo của doanh nghiệp và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của doanh nghiệp. Tuy nhiên, hoạt động Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan tại trụ sở cơ quan Hải quan đang chiếm tỷ lệ lớn hơn kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả các cuộc kiểm tra sau thông quan về giá chưa cao. Việc kiểm tra sau thông quan một cách toàn diện từ khai báo hải quan đến các sổ sách, chứng từ kế toán, chứng từ thương mại .. tại trụ sở doanh nghiệp sẽ giúp đem lại những kết quả đáng tin cậy hơn cho cuộc kiểm tra. Với một số lượng nhỏ doanh nghiệp được kiểm tra trong thời gian vừa qua mà chủ yếu là tập trung kiểm tra tại trụ sở Hải quan nên kết quả của Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan tại Chi cục còn hạn chế trong việc nâng cao tính tự giác chấp hành pháp luật và tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng của doanh nghiệp
2.4 Đánh giá chung về công tác KTST trong lĩnh vực Trị giá hải quan tại Cục Hải quan Hải Phòng Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
2.4.1 Điểm mạnh
- Trong giai đoạn 2013 – 2017, Cục Hải quan Hải Phòng đã triển khai các biện pháp quyết liệt nhằm ngăn ngừa, phát hiện các hành vi vi phạm pháp luật hải quan cả ở khâu trước, trong và sau thông quan. Nâng cao hiệu quả lựa chọn đối tượng kiểm tra sau thông quan do đó tổng số cuộc Kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan tăng lên hàng năm, đáp ứng một phần yêu cầu tăng cường chống gian lận thương mại trong hoạt động xuất nhập khẩu;
- Công tác Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan đã góp phần tăng thu trong nhiệm vụ thu NSNN trong toàn Cục, số thu từ Kiểm tra sau thông quan nói chung và Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan nói riêng tăng mạnh qua các năm;
- Công tác Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan đảm bảo thực hiện theo quy trình và đạt hiệu quả bước đầu tương đối tốt;
- Công tác Kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan đã đánh giá được việc tuân thủ pháp luật của các doanh nghiệp, góp phần cũng cố cơ sở dữ liệu của cơ quan hải quan.
2.4.2 Điểm yếu Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
Bên cạnh kết quả đạt được, công tác Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế như:
- Công tác Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan so với yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra đạt được còn thấp cả về số lượng và chất lượng;
- Công tác Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan còn nhiều hạn chế trong việc ngăn chặn gian lận thương mại qua trị giá hải quan;
- Công tác Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan chưa đóng góp nhiều vào nhiệm vụ đảm bảo tính công bằng, cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp tham gia xuất, nhập khẩu
2.4.3 Nguyên nhân.
Có nhiều nguyên nhân khiến tiến trình áp dụng Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan đối với hàng hóa XNK không được như mong muốn. Một số trong những nguyên nhân chủ chốt là:
- Thứ nhất: Nhìn chung, cán bộ Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan chưa đáp ứng đầy đủ cả về số lượng và chất lượng so với yêu cầu của Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan trong tình hình hiện nay và sắp tới.
Mặc dù hiện nay về chất lượng, tại Cục Kiểm tra sau thông quan đã đáp ứng 100% trình độ đại học, tuy nhiên để đáp ứng chuyên môn về kiểm toán, các kỹ năng kiểm tra về chứng từ thương mại, chứng từ thanh toán, kiểm tra phát hiện chứng từ giả để phục vụ trong việc Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan thì vẫn còn rất thấp mà nguyên nhân xuất phát từ hai lý do sau:
Do khâu tuyển dụng và đào tạo không đảm bảo đầy đủ chất lượng theo yêu cầu nghiệp vụ Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan. Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
Tính chuyên sâu trong chuyên môn nghiệp vụ của công tác Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan được xem là lĩnh vực rất khó và có yêu cầu rất cao. Tuy nhiên, một số lượng công chức hải quan làm công tác Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan tăng hàng năm chủ yếu là do tuyển dụng mới, đó là những người chưa có kinh nghiệm về Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan. Thêm vào đó, việc bố trí cán bộ lãnh đạo, và cán bộ làm công tác kiểm tra sau thông quan về trị giá có một số trường hợp chưa đúng chuyên môn, chưa được đào tạo đầy đủ kiến thức về kinh tế, tài chính kế toán, kiểm toán hoặc ngoại thương nên đã gặp khó khăn trong khả năng xử lý nghiệp vụ của mỗi cuộc kiểm tra và là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm giảm chất lượng của các cuộc kiểm tra sau thông quan, nhất là kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan.
Do cơ chế luân chuyển cán bộ còn chưa hợp lý. Việc luân chuyển cán bộ không mang tính kế thừa mà còn mang nặng tính chủ quan, máy móc, cứng nhắc. Theo quy định, cán bộ hải quan là cán bộ nằm trong quy chế bắt buộc phải luân chuyển vị trí theo định kỳ nhằm hạn chế các hiện tượng tiêu cực xảy ra. Tuy nhiên, do đặc thù của công tác Kiểm tra sau thông quan về trị giá cần có tính chuyên sâu nên việc luân chuyển cán bộ làm công tác giá phải yêu cầu tính kế thừa để đảm bảo chất lượng về nghiệp vụ chuyên môn. Mặc dù vậy, tại các địa phương nhiều cán bộ đang làm công tác kiểm tra trị giá có trình độ chuyên môn, đáp ứng được yêu cầu, nhưng sau một thời gian ngắn đã phải chuyển sang các bộ phận khác theo quy chế chung, mà không tính đến tính kế thừa và tính chuyên sâu của công việc.
Một số cán bộ làm công tác Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan còn có những hạn chế về kỹ năng, kinh nghiệm thực tiễn. Điều này được thể hiện qua chất lượng các cuộc kiểm tra còn rất nhiều sai sót…
Bên cạnh đó, việc tự đào tạo cán bộ chuyên về kiểm tra trị giá trong nội bộ còn yếu, đa số phụ thuộc kế hoạch đào tạo của Tổng cục, việc cử cán bộ đi học còn mang tính hình thức chưa đúng đối tượng trực tiếp làm công tác Kiểm tra sau thông quan về trị giá. Cơ chế đãi ngộ chưa khuyến khích và động viên được công chức hải quan làm công tác Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan, chưa phù hợp để có thể khuyến khích công chức hải quan hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Thứ hai: Còn bộc lộ nhiều hạn chế ở từng khâu công việc trong quá trình thực hiện quy trình kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan. Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
Quy trình kiểm tra sau thông quan ban hành kèm theo Quyết định 1410/QĐ-TCHQ của Tổng cục Hải quan ngày 14 tháng 05 năm 2015. Theo đó, quy trình Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan bao gồm các bước sau:
- Thu thập thông tin từ các cơ sở dữ liệu trong hồ sơ hải quan và các nguồn thông tin khác.
- Tổng hợp phân tích thông tin để lựa chọn đối tượng kiểm tra (qua dấu hiệu hoặc theo kế hoạch);
Kiểm tra tại trụ sở hải quan;
- Yêu cầu đối tượng và đơn vị làm thủ tục thông quan giải trình về những vấn đề chưa rõ, nghi vấn (chủ yếu là nghi vấn nộp thiếu thuế);
- Nếu đối tượng giải trình rõ được các nghi vấn thì kết thúc kiểm tra, lưu hồ sơ, nhập thông tin vào cơ sở dữ liệu phục vụ cho quá trình quản lý tiếp theo (cả cho khâu thông quan, chống buôn lậu, Kiểm tra sau thông quan);
- Nếu giải trình vẫn không rõ thì thực hiện xác minh. Nếu kết quả xác minh đã làm rõ được các nghi vấn thì kết thúc kiểm tra, lưu hồ sơ, nhập thông tin vào cơ sở dữ liệu phục vụ cho quá trình quản lý tiếp theo (cả cho khâu thông quan, chống buôn lậu, Kiểm tra sau thông quan);
Nếu kết quả giải trình, xác minh không làm rõ được các khoản thuế còn thiếu thì ra quyết định truy thu. Nếu doanh nghiệp chấp hành nộp thuế thì kết thúc việc kiểm tra, lưu hồ sơ, nhập thông tin vào cơ sở dữ liệu; nếu doanh nghiệp không chấp hành quyết định truy thu thì quyết định Kiểm tra sau thông quan tại trụ sở doanh nghiệp. Thực hiện Kiểm tra sau thông quan tai trụ sở doanh nghiệp, cán bộ thực hiện đề nghị doanh nghiệp cung cấp, xuất trình hồ sơ hải quan lưu tại doanh nghiệp, sổ kế toán, chứng từ kế toán, hồ sơ thanh toán và các tài liệu có liên quan để thực hiện kiểm tra
Như vậy, với tóm lược quy trình trên cũng cho thấy hai vấn đề quan trọng có thể quyết định sự thành công của một cuộc Kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan. Đó là: Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
Vấn đề xử lý thông tin liên quan đến cuộc Kiểm tra sau thông quan đang kiểm tra. Theo quy trình hiện hành thì Kiểm tra sau thông quan thường bắt đầu từ Kiểm tra sau thông quan tại trụ sở hải quan dựa trên cơ sở phân tích thông tin. Chỉ khi Kiểm tra sau thông quan tại trụ sở hải quan không khẳng định được kết luận thì tiến hành Kiểm tra sau thông quan tại trụ sở doanh nghiệp. Như vậy, nắm được đầy đủ thông tin và xử lý thông tin là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của một cuộc kiểm tra sau thông quan về trị giá Hải quan.
Có thể thấy rằng, hệ thống thông tin dữ liệu giá và việc thu thập, khai thác, quản lý và sử dụng thông tin dữ liệu giữa Tổng cục và Cục Hải quan và các Chi cục là điểm then chốt nhất, quan trọng nhất có tính quyết định trong công tác kiểm tra, xác định trị giá theo Hiệp định Trị giá Hải quan GATT/WTO. Tuy nhiên cho đến nay, công việc đó chưa phục vụ đắc lực và hiệu quả cho công tác kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan. Các thông tin về hàng hóa nhập khẩu, về mức giá xác định sau tham vấn, mức giá của một số mặt hàng nhập khẩu giống hệt/ tương tự chuyển vào hệ thống cơ sở dữ liệu giá chưa đầy đủ, chưa kịp thời; đã làm ảnh hưởng đến độ chính xác của dữ liệu khi sử dụng.
Như vậy, việc thiếu những thông tin quan trọng đã khiến cán bộ kiểm tra sau thông quan không có thông tin để tiến hành xác định chính xác trị giá hải quan của hàng xuất khẩu, nhập khẩu.
Trình độ chuyên môn và kỹ năng nghiệp vụ trong quá trình kiểm tra sau thông quan, đặc biệt là giai đoạn kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp là còn nhiều hạn chế. Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
Với một quy trình Kiểm tra sau thông quan đã được ban hành như hiện nay, trong thời gian quy định là 05 ngày làm việc đối với trường hợp Kiểm tra sau thông quan tại trụ sở cơ quan hải quan; trường hợp tiếp tục kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp, cơ quan hải quan ban hành quyết định kiểm tra tại trụ sở doanh nghiệp trong thời hạn tối đa 10 ngày kể từ ngày công bố quyết định kiểm tra. Về vấn đề này, như đã phân tích ở trên, một số cán bộ làm công tác Kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan chưa đáp ứng đầy đủ những kiến thức và kinh nghiệm trong các lĩnh vực kế toán, kiểm toán, ngân hàng, ngoại thương…, một số trường hợp chưa có sự chuẩn bị thông tin đầy đủ, kịp thời thì không thể tiến hành thành công cuộc Kiểm tra sau thông quan đạt kết quả tốt. Cũng vì vậy, cho nên trong thực tế, phần nhiều là cán bộ Kiểm tra sau thông quan chấp nhận giá mà doanh nghiệp đã khai báo.
Thứ ba: Cơ chế phối kết hợp trong quá trình Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan ở phạm vi trong và ngoài ngành Hải quan còn chưa tốt.
Trong quá trình thực hiện Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan, cơ chế phối kết hợp để hỗ trợ chuyên môn, chuyên sâu khi Kiểm tra sau thông quan là rất quan trọng.Trên thực tế, dựa trên quy chế làm việc của Tổng cục Hải quan, các đơn vị trong quá trình thực hiện nghiệp vụ Kiểm tra sau thông quan đã có sự phối hợp tương đối tích cực theo chức năng, nhiệm vụ được giao, tuy nhiên trong các văn bản hướng dẫn chưa thể hiện cụ thể, mối quan hệ phối hợp vẫn còn bỏ ngõ.
Thứ tư: Công tác tham vấn để kiểm tra trị giá hải quan chưa được chú trọng trong công tác Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan.
Khi có nghi ngờ về trị giá khai báo trong quá trình thông quan, với sự chấp thuận của Chi cục trưởng Hải quan, công chức hải quan được tổ chức tham vấn để kiểm tra trị giá hải quan. Tham vấn trị giá, về cơ bản là tìm cách xác minh thẩm định tính trung thực, chính xác của trị giá khai báo. Trong trường hợp xác định được rằng, trị giá khai báo là không trung thực, không phản ánh đúng thực tế thương mại, không phải giá thực thanh toán của hàng hóa đó, mà là một mức giá khác thì cơ quan hải quan có thể bác bỏ trị giá khai báo, yêu cầu người khai hải quan xác định lại hoặc công chức Hải quan xác định rồi ấn định mức giá. Do vậy, mức thuế thu được từ doanh nghiệp sẽ không phải là mức thuế mà doanh nghiệp đã tính toán khi khai báo ban đầu. Đó phải là số thuế phản ánh chính xác hơn nghĩa vụ về kinh tế của doanh nghiệp đối với ngân sách nhà nước khi tham gia kinh doanh nhập khẩu hàng hóa. Bên cạnh đó, trong nhiều trường hợp, tham vấn giá giúp phát hiện các trường hợp chuyển giá cuả các công ty đa quốc gia hoặc các tổ chức tội phạm rửa tiến quốc tế. Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
Với xu hướng chủ yếu là “hậu kiểm” với 90% lượng hàng hóa nhập khẩu sẽ phải Kiểm tra sau thông quan trong những năm gần đây, thì việc tham vấn giá chỉ tập trung ở khâu thông quan đã là một hạn chế trong công tác Kiểm tra sau thông quan nói chung và Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan nói riêng. Công tác tham vấn về giá trong quá trình thông quan hiện nay cũng không mang lại hiệu quả cao với tỷ lệ bác bỏ sau khi tham vấn từ 10%- 12% trên tổng số các lô hàng tham vấn còn lại, đa số là chấp nhận trị giá khai báo đã gây thất thu lớn cho ngân sách, làm giảm hiệu quả kiểm tra về trị giá đang là một vấn đề thách thức cho công tác Kiểm tra sau thông quan.
Kết luận chương 2
Tóm lại, chương 2 đã nêu lên được bối cảnh của công tác kiểm tra sau thông quan về trị giá hải quan giai đoạn 2013- 2017 bằng cách đánh giá toàn diện thực trạng của Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan tại Chi cục. Với những số liệu qua khảo sát, thống kê từ Chi cục đảm bảo đưa đến cái nhìn toàn diện về bức tranh Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan. Qua đó, rút ra được những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế trong lĩnh vực này; để làm cơ sở đề xuất các giải pháp, tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện để phát triển công tác Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan đáp ứng yêu cầu theo phương pháp quản lý hiện đại. Luận văn: Thực trạng kiểm tra sau thông quan trong lĩnh vực trị giá.
Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan là một lĩnh vực còn non trẻ, và đang gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện. Trong bối cảnh và yêu cầu của việc phát triển ngành Hải quan theo hướng hiện đại hóa thì việc tìm ra các giải pháp để khắc phục những khó khăn, nâng cao hiệu quả trong lĩnh vực Kiểm tra sau thông quan về Trị giá hải quan là việc làm rất cần thiết.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm tra sau thông quan
