Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Luận Văn: Phân tích các căn cứ xây dựng chiến lược phát triển kinh tế – xã hội huyện Bạch Long Vĩ đến năm 2030 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Giới thiệu chung về huyện Bạch Long Vĩ
Huyện Bạch Long Vĩ là một huyện đảo xa bờ nhất vịnh Bắc Bộ, là cơ quan hành chính cấp huyện trực thuộc thành phố Hải Phòng, Việt nam. Bạch Long Vĩ, theo nghĩa hán việt nghĩa là “Đuôi rồng trắng”. Trải qua hơn 25 năm xây dựng và phát triển, từ một đảo hoang sơ, chỉ có hoa xương rồng vàng và cát trắng, chỉ có các chú bộ đội đóng quân canh giữ biển trời tổ quốc thì nay, đảo Bạch Long Vĩ đã dần thay da đổi thịt, với những công trình mới mọc lên. Tuy còn gặp rất nhiều khó khăn nhưng với tinh thần đoàn kết, cán bộ, quân dân một lòng, huyện đảo đã có những bước phát triển đáng kể so với những năm trước kia.
Bạch Long Vĩ, với điều kiện tự nhiên, bề dày lịch sử xứng đáng trở thành một trung tâm hậu cần nghề cá, trung tâm cứu hộ cứu nạn, một điểm du lịch phát triển trong tương lai.
Hình 2.1. Huyện đảo Bạch Long Vĩ.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Quản Trị Kinh Doanh
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Trước khi thành lập huyện Bạch Long Vĩ:
Năm 1887, Pháp ký với nhà Thanh hoạch định biên giới lãnh hải giữa Việt Nam và Trung Quốc, đảo Bạch Long Vĩ thuộc chủ quyền của Việt Nam. Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Những năm đầu của thế kỷ XX, trên đảo Bạch Long Vĩ vẫn không có dân sinh sống vì không có nước ngọt. Đảo chỉ là nơi trú bão của ngư dân đi đánh cá. Mãi đến năm 1920, khi tìm thấy nguồn nước ngọt trên đảo, nhân dân vùng Quảng Yên (Việt Nam) và Hải Nam (Trung Quốc) tới đây lập nghiệp.
- Năm 1937, triều đình phong kiến nhà Nguyễn, thời kỳ vua Bảo Đại phái người tới lập đồn và thiết lập chế độ Lý trưởng trên đảo.
- Tháng 8/1945, Nhật đầu hàng đồng minh, Pháp quay lại Đông Dương khôi phục chế độ cai trị trên đảo.
Hòa bình lập lại, ngày 15/2/1957, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 049-TTg quy định đảo Bạch Long Vĩ là một xã trực thuộc Ủy ban hành chính thành phố Hải Phòng. Từ năm 1957 đến năm 1959, xã Bạch Long Vĩ thuộc huyện Cát Hải thành phố Hải Phòng.
Từ năm 1958 cho đến trước ngày 05/8/1964, trên đảo có 160 hộ dân làm nghề đánh cá và bộ đội thuộc Đội 152 Quân khu Tả ngạn canh giữ đảo.
Năm 1964, sau “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân. Đảo Bạch Long Vĩ là một mục tiêu đánh phá của không quân Mỹ. Trước tình hình đó, đảo đã sơ tán, chuyển 160 hộ dân vào Cát Bà sinh sống. Trên đảo chỉ còn lại lực lượng vũ trang và một số thanh niên trẻ khoẻ làm nhiệm vụ bảo vệ đảo.
Trong cuộc chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ, quân và dân đảo Bạch Long Vĩ đã bám trụ kiên cường, anh dũng chiến đấu, đánh 118 trận, bắn rơi 23 máy bay các loại, trong đó có chiếc thứ 700 và 701, góp phần vào chiến thắng chung của quân, dân miền Bắc. Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Với những thành tích đó, Đảng và Nhà nước đã tặng thưởng cho quân, dân đảo Bạch Long Vĩ 4 Huân chương Quân công, 58 Huân chương Chiến công các loại cho tập thể và cá nhân. Ngày 31/12/1973, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã ký lệnh số 109-LCT tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” cho 45 đơn vị và 20 cán bộ, chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam và dân quân, du kích, tự vệ, trong đó có Tiểu đoàn 152 thuộc Quân khu Tả ngạn và đảo Bạch Long Vĩ là “Đảo Anh hùng”.
Thành lập huyện Bạch Long Vĩ trực thuộc thành phố Hải Phòng:
Do tầm quan trọng của đảo Bạch Long Vĩ, Đảng và Nhà nước ta quyết định nâng cấp thành một đơn vị hành chính cấp huyện để phục vụ cho chiến lược biển – đảo.
Ngày 18/11/1992, Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 106/TTg về việc thành lập huyện Bạch Long Vĩ thuộc thành phố Hải Phòng.
Ngày 09/12/1992, Chính phủ Ban hành Nghị định số 15/CP do Thủ tướng Võ Văn Kiệt ký, chính thức thành lập huyện Bạch Long Vĩ, trực thuộc thành phố Hải Phòng. Huyện Bạch Long Vĩ nằm ở vị trí tiền tiêu, có vai trò đặc biệt quan trọng về kinh tế, quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, khác với huyện đảo Cát Hải và một số huyện đảo khác trên toàn quốc, huyện Bạch Long Vĩ không có đơn vị hành chính cấp xã. Đây là đặc thù, chi phối nhiệm vụ chính trị của Đảng bộ và chính quyền huyện.
Ngày 18/2/1993, Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng ra Quyết định số 428/QĐ-TU về việc thành lập Đảng bộ huyện Bạch Long Vĩ trực thuộc Thành ủy Hải Phòng. Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Thực hiện chủ trương đưa Thanh niên xung phong xây dựng huyện đảo Bạch Long Vĩ của Ban Thường vụ Thành uỷ Hải Phòng, ngày 22/02/1993, Tổng đội Thanh niên xung phong xây dựng kinh tế Hải Phòng đã ra Quyết định số 51/QĐ-TĐ về việc thành lập Đội Thanh niên xung phong xây dựng huyện Bạch Long Vĩ. Đội Thanh niên xung phong xây dựng huyện Bạch Long Vĩ có 62 cán bộ, đội viên, gồm 32 nam và 30 nữ là các đoàn viên thanh niên ở khu vực nội, ngoại thành Hải Phòng, tình nguyện đi xây dựng huyện đảo.
Ngày 26/2/1993, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng ra Quyết định số 537/QĐ-UBND về việc thành lập Ủy ban nhân dân lâm thời huyện Bạch Long Vĩ. Huyện Bạch Long Vĩ là một đơn vị hành chính không có cấp xã, chỉ có 03 khu dân cư và khu thanh niên xung phong [4].
Kể từ khi thành lập đến nay, các cơ quan Đảng, chính quyền, các đơn vị lực lượng vũ trang dần được thành lập; việc di dân ra đảo định cư, lập nghiệp lâu dài đã được tuyển chọn theo đợt qua các năm .Trải qua hơn 25 năm xây dựng và phát triển, với sự quan tâm của trung ương, thành phố, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, chính quyền, toàn thể cán bộ, quân, dân huyện đảo đã đoàn kết chung sức, chung lòng, phát huy truyền thống anh hùng của các thế hệ cha anh đi trước, vượt bao khó khăn xây dựng và bảo vệ đảo Bạch Long Vĩ tươi đẹp như ngày nay.
2.1.2. Điều kiện tự nhiên Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Bạch Long Vĩ là đảo nằm xa bờ nhất của Việt Nam trong Vịnh Bắc Bộ, cách Hòn Dáu (Đồ Sơn – Hải Phòng) 110 km. Có tọa độ 20007’35” – 20008’38” Vĩ tuyến Bắc, 107042’20” – 107044’15” Kinh tuyến Đông. Từ trên cao nhìn xuống đảo hình tam giác, với chu vi 6,5 km, diện tích phần nổi 2,5 km2 (chiều dài chạy theo hướng Đông Bắc – Tây Nam: 3 km, chiều rộng chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam: 1,5 km), đỉnh cao nhất 61,5m so với mực nước biển trung bình.
Địa hình ven bờ đảo thoai thoải, độ dốc thấp, nơi rộng nhất 500m, nơi hẹp nhất 10m, cách mặt nước biển khi triều cường (cao nhất) từ 2 đến 3m, khá bằng phẳng, là nơi tập trung chủ yếu các hoạt động kinh tế, dân sinh trên đảo.
Về khí hậu, thủy văn: Bạch Long Vĩ nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu đại dương, đồng thời chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa.
Mùa đông có gió mùa Đông Bắc, sức gió mạnh nhất là 30m/s. Mùa hè gió thổi theo nhiều hướng, sức gió mạnh nhất tối đa 50m/s.
Nhiệt độ không khí trung bình trong năm là 23,30C. Nhiệt độ trung bình mùa hè là 280C, nhiệt độ trung bình mùa đông là 17 0C, thấp nhất là 70C.
Độ ẩm trung bình là 86%.
Lượng mưa bình quân 1124mm/năm, tháng cao nhất lượng mưa không quá 200 mm.
Độ mặn trung bình của nước biển là 330/00, độ mặn cao nhất mùa đông là 360/00, thấp nhất vào mùa hè cũng không dưới 240/00.
Nguồn nước ngọt phục vụ cho đời sống sinh hoạt và sản xuất trên đảo rất khan hiếm. Cho tới nay chưa có tài liệu nào nghiên cứu về nguồn nước ngọt trên đảo. Nguồn nước ngọt khai thác tự nhiên chỉ đáp ứng thường xuyên được khoảng 1000 người dân sống trên đảo [2].
2.2. Phân tích môi trường bên ngoài huyện Bạch Long Vĩ Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
2.2.1. Về tự nhiên
2.2.1.1. Vị trí địa lý đối với phát triển kinh tế – xã hội huyện Bạch Long Vĩ
Bạch Long Vĩ là đảo xa bờ nhất trong vịnh Bắc Bộ, nằm ở khoảng giữa vịnh, cách hòn Dáu (Hải Phòng) 110 km, cách đảo Hạ Mai (Vân Đồn, Quảng Ninh) 70 km và cách mũi Đại Giác trên đảo Hải Nam (Trung Quốc) 130 km. Đảo nằm trên một trong tám ngư trường lớn của vịnh, có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, an ninh – quốc phòng biển của Việt Nam ở vịnh Bắc Bộ cũng như trong phân định vịnh Bắc Bộ [3].
Với vị trí vô cùng quan trọng đó, ta có thể định hình được những cơ hội cho phát triển kinh tế – xã hội huyện Bạch Long Vĩ:
Là đảo tiền tiêu của tổ quốc, án ngữ phía Đông, biên giới trên biển, có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, an ninh – quốc phòng biển của Việt Nam ở vịnh Bắc Bộ cũng như trong phân định vịnh Bắc Bộ nên được Đảng, Nhà nước, thành phố Hải Phòng quan tâm đặc biệt. Điều này có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của huyện đảo.
Là huyện trực thuộc thành phố Hải Phòng, là thành phố cảng quan trọng, trung tâm công nghiệp, cảng biển lớn nhất phía Bắc Việt Nam, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hoá, y tế, giáo dục, khoa học, thương mại và công nghệ của Vùng duyên hải Bắc Bộ. Đây là thành phố lớn thứ 3 Việt Nam, là thành phố lớn thứ 2 miền Bắc sau Hà Nội và là một trong 5 thành phố trực thuộc trung ương, đô thị loại 1 trung tâm cấp quốc gia. Như vậy, huyện Bạch Long Vĩ có lợi thế vô cùng lớn khi là một trong 15 quận, huyện trực thuộc thành phố Hải Phòng. Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Đảo nằm trên một trong tám ngư trường lớn của vịnh Bắc Bộ, ngư trường Bạch Long Vĩ có trữ lượng cá lớn nhất vịnh với diện tích 1.500 hải lý vuông. Đây là nơi cư ngụ của 395 loài, 229 giống thuộc họ hải sản với cá nục sồ, cá trá chiếm số lượng lớn. Ngoài ra, ngư trường Bạch Long Vĩ còn được biết đến với đặc sản bào ngư. Loại hải sản này giàu chất dinh dưỡng và đặc biệt nổi tiếng ở vùng này [2][9].
Đảo có một vị trí trung tâm, cách điểm du lịch ven bờ như: Cô Tô, Hạ Long, Cát Bà, Đồ Sơn, Sầm Sơn, Trà Cổ trong tầm bay 1 – 1h30’ bằng thuỷ phi cơ. Các tàu du lịch lữ hành có thể ghé vào đảo trong các hành trình xuyên biển. Như vậy, đảo là một trong những điểm đến trong quần thể các đảo du lịch cấp vùng và cả nước, rất hấp dẫn du khách. Đây cũng là một cơ hội để đảo có thể phát triển dịch vụ du lịch mang tầm cỡ quốc gia, quốc tế nếu như được đầu tư.
Tuy nhiên, ngoài những cơ hội đã được liệt kê thì những nguy cơ đối với sự phát triển kinh tế – xã hội huyện Bạch Long Vĩ cũng vô cùng quan trong, đó là:
Hiện tại, vẫn còn nhiều khó khăn về giao thông giữa đất liền và đảo, do đảo cách ở vị trí cách xa bờ (cách hòn Dáu Hải Phòng 110km) so với các đảo Cồn Cỏ thuộc tỉnh Quảng Trị, đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi thì Bạch Long Vĩ xa đất liền hơn rất nhiều (đảo Cồn Cỏ cách đất liền gần nhất là 13 hải lý (khoảng 27km), đảo Lý Sơn cách đất liền khoảng 30km) [19],[30].
Do đảo có vị trí đơn độc giữa Vịnh Bắc Bộ nên khi gặp thiên tai, đảo dễ bị cô lập. Ngoài cứu nạn tại chỗ, các phương tiện cứu nạn từ đất liền ra đảo nhanh nhất là máy bay trực thăng cũng mất 45 phút, tàu cứu hộ ra tới đảo cũng mất 2,5 giờ chưa kể công tác chuẩn bị.
2.2.1.2. Khí hậu đối với phát triển kinh tế – xã hội huyện Bạch Long Vĩ Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Bạch Long Vĩ nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp của khí hậu đại dương, đồng thời chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa.
Mùa đông có gió mùa Đông Bắc, sức gió mạnh nhất là 30m/s. Mùa hè gió thổi theo nhiều hướng, sức gió mạnh nhất tối đa 50m/s.
Nhiệt độ không khí trung bình trong năm là 23,30C. Nhiệt độ trung bình mùa hè là 280C, nhiệt độ trung bình mùa đông là 17 0C, thấp nhất là 70C.
Độ ẩm trung bình là 86%.
Lượng mưa bình quân 1124mm/năm, tháng cao nhất lượng mưa không quá 200 mm.
Số giờ nắng: Hàng năm có 1.600 – 1.900 giờ nắng phân bố khá đều. Nắng nhiều hơn vào cuối hè, đầu thu, ít nắng vào các tháng 2 và 3 [2]. Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
So với quốc gia và đảo tương đồng (đảo Cồn Cỏ, Quảng Trị):
Về nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình quốc gia trong năm từ 220c đến 270c. Như vậy nhiệt độ trung bình của đảo thấp hơn một chút so với quốc gia và đảo Cồn Cỏ thuộc tỉnh Quảng Trị (25,50c). Do đảo nằm giữa vịnh Bắc Bộ, không khí có độ mặn cao nên nhiệt độ mùa đông thường ấm hơn so với đất liền khoảng 10c, vào mùa hè do đảo không bị che chắn nên không khí mát hơn đất liền.
Về số giờ nắng: So với số giờ nắng trung bình của miền Bắc và quốc gia thì số giờ nắng đảo Bạch Long Vĩ khá cao, đảo Bạch Long Vĩ (số giờ nắng từ 1600 – 1900 giờ).
Về lượng mưa: Lượng mưa trung bình quốc gia hàng năm từ 1500mm đến 2000mm. Như vậy, so với quốc gia thì lượng mưa tại đảo ít hơn rất nhiều, gần như bằng phân nửa, so với đảo Cồn Cỏ thuộc tỉnh Quảng Trị thì lượng mưa tại đảo Bạch Long Vĩ ít hơn rất nhiều. Lượng mưa bình quân tại đảo Cồn Cỏ khá cao (khoảng 2169,5mm).
Về độ ẩm: Độ ẩm tại Bạch Long Vĩ là 86%, so với đảo Cồn Cỏ thuộc tỉnh Quảng Trị là tương đồng (85%).
Về gió, bão: Với vị trí giữa vịnh Bắc Bộ nên Bạch Long Vĩ là nơi hứng chịu bởi các cơn gió mùa Đông Bắc, gió mùa hè với sức gió lớn, có thể kéo dài cả tuần, tăng cường cả tháng, đặc biệt là các cơn bão vào vịnh Bắc Bộ, gây thiệt hại rất lớn đến tài sản, hoa màu, vật nuôi của các cơ quan, đơn vị, nhân dân trên đảo và ngư dân vào đảo tránh trú bão [2],[13],[30].
Bảng 2.1. Thống kê số lượng các cơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến Bạch Long Vĩ
Cơ hội về khí hậu đối với sự phát triển kinh tế – xã hội huyện Bạch Long Vĩ:
Nhiệt độ mùa đông thường ấm hơn so với đất liền khoảng 10c, vào mùa hè do đảo không bị che chắn nên không khí mát hơn đất liền, phù hợp với phát triển dịch vụ du lịch. Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Số giờ nắng, lượng gió, sức gió trong năm cao nên rất phù hợp phát triển nguồn năng lượng mặt trời, năng lượng gió.
Khi gió mùa lớn kéo dài các tàu thuyền từ các tỉnh miền trong đánh bắt hải sản ngư trường Bạch Long Vĩ vào âu tàu tránh trú gió sẽ giúp dịch vụ hậu cần nghề cá và các dịch vụ khác như ăn uống, vui chơi, giải trí phát triển.
- Nguy cơ về khí hậu đối với sự phát triển kinh tế – xã hội huyện Bạch Long Vĩ:
- Lượng mưa ít, thiếu nước sinh hoạt vào các tháng khô hạn trong năm.
- Gió mùa lớn kéo dài ảnh hưởng đến giao thông giữa đảo và đất liền, ảnh hưởng đến vật nuôi, hoa màu của bà con.
- Độ mặn trong không khí cao làm cho máy móc và các thiết bị điện tử dễ nhanh hỏng.
- Các cơn bão lớn tàn phá đảo, ảnh hưởng đến đời sống cán bộ, quân, dân huyện đảo, gây thiệt hại không nhỏ về tài sản vật chất, vật nuôi, hoa màu, thậm chí là tính mạng con người.
2.2.1.3. Hệ sinh thái vùng biển Bạch Long Vĩ
Vùng biển Bạch Long Vĩ là một ngư trường lớn của Vịnh Bắc Bộ, có diện tích 1.500 hải lý vuông, độ sâu trung bình 35 – 55 m (nơi sâu nhất 60 – 70 m) nền đáy tương đối bằng phẳng, thuận tiện cho việc đánh bắt hải sản. Có thể nói vùng biển Bạch Long Vĩ là ngư trường tốt nhất của Vịnh Bắc Bộ cả về sản lượng, chất lượng hải sản và thời gian khai thác.
Qua điều tra cho thấy, vùng biển Bạch Long Vĩ có tới 395 loài, 229 giống thuộc 105 họ hải sản, trong đó 61 loài có giá trị kinh tế cao.
Do đặc điểm địa lý và cấu tạo địa hình vùng biển ven đảo mà ngư trường Bạch Long Vĩ còn có những nguồn lợi thủy sản quý hiếm khác như: Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
- Bào ngư, cá Song, cá Mú.
- Nhiều loại rong quý hiếm như: rong câu (chế agar), rong loa gai, rong mơ, rong mơ mềm, rong quạt 4 lớp, …
- San hô: đã phát hiện tới 94 loài San hô cứng thuộc 26 giống, 11 họ. Đáng chú ý là ở đây có loài San hô 8 ngăn chứa chất prostogiadina có tác dụng chống ung thư, có giá trị kinh tế cao trên thị trường thuốc chữa bệnh quốc tế.
Ngoài ra, các nhà khoa học địa chất đánh giá rất cao khả năng tài nguyên dầu khí thềm lục địa, khu vực gần đảo Bạch Long Vĩ, với trữ lượng khá. Trong tương lai không xa, nếu tiến hành thăm dò và khai thác thì Bạch Long Vĩ sẽ trở thành một điểm dịch vụ dầu khí [2].
Cơ hội đối với huyện Bạch Long Vĩ:
Hệ sinh thái phong phú, đa dạng, với rất nhiều loại hải sản có thể khai thác thương mại như: Khai thác cá, mực, tôm tại ngư trường Bạch Long Vĩ; khai thác dịch vụ du lịch, lặn biển với các loại cá, san hô tuyệt đẹp.
Tài nguyên dầu khí thềm lục địa.
Nguy cơ đối với huyện Bạch Long Vĩ :
- Tình trạng khai thác quá đà, mất kiểm soát khiến nguồn lợi hải sản dần cạn kiệt.
- Khai thác bằng cách sử dụng các công cụ tận thu như xung điện, dã cào, hóa chất xianua….
Do nguồn lợi cạn kiệt dần nên số lượng tàu khai thác tại ngư trường Bạch Long Vĩ giảm, như vậy tàu thuyền vào đảo sử dụng dịch vụ giảm ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế huyện đảo.
Tranh chấp tài nguyên biển, tài nguyên thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc.
2.2.2. Về chính trị Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Việc phân tích chính trị nhằm giúp ta nhận định tình hình về cơ chế chính sách, đường lối phát triển của trung ương, tỉnh thành phố đối với biển hải đảo, các huyện đảo nói chung, đối với huyện đảo Bạch Long Vĩ nói riêng và tình hình chính trị trong nước, quốc tế giúp huyện nhận biết được tương lai của mình để có được chiến lược phát triển kinh tế – xã hội phù hợp.
2.2.2.1. Đối với đường lối, quan điểm, cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước
Trong thời đại ngày nay, môi trường hòa bình, hợp tác quốc tế sâu rộng nhưng cũng luôn tiềm ẩn nhiều yếu tố gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc phòng. Đối với đất nước, quan điểm phát triển kinh tế xã hội luôn luôn đi đôi với việc bảo đảm an ninh quốc phòng, toàn vẹn lãnh thổ. Do vậy, đối với các vùng biên giới, hải đảo quốc gia luôn được Trung ương đặc biệt quan tâm, nhất là các đảo, quần đảo khẳng định chủ quyền của đất nước.
Hiện nay, các huyện đảo của Việt Nam được chia thành 3 nhóm, gồm nhóm huyện đảo tiền tiêu – biên giới (Cô Tô, Phú Quốc, Bạch Long Vĩ), nhóm huyện đảo tiền tiêu (Cồn Cỏ, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo) và nhóm huyện đảo tuyến trong (Vân Đồn, Cát Hải, Kiên Hải) [16].
Để bảo đảm an ninh quốc phòng chúng ta có quân đội,với vùng biển đặc quyền kinh tế (200 hải lý tính từ đường cơ sở), chúng ta có hải quân, cảnh sát biển, biên phòng, kiểm ngư luôn ngày đêm canh giữ, làm nhiệm vụ bảo đảm an ninh quốc phòng, an ninh biên giới biển, kiểm tra, kiểm soát bảo vệ nguồn lợi thủy sản, bảo đảm hàng hải, cứu nạn, cứu hộ giúp ngư dân bám biển làm ăn, bảo vệ chủ quyền trên biển. Tuy nhiên, để bảo vệ toàn vẹn lảnh thổ, khẳng định chủ quyền lãnh thổ quốc gia trên biển đối với hải đảo, Nhà nước ta đã thực hiện chính sách định cư dân trên các hải đảo để sinh sống vừa bảo vệ chủ quyền đất nước vừa phát triển kinh tế biển đảo, khai thác,bảo vệ nguồn lợi tài nguyên thiên nhiên phong phú.
Về chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã xác định: Nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển trên cơ sở phát huy mọi tiềm năng từ biển; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế – xã hội với bảo đảm quốc phòng – an ninh, hợp tác quốc tế và bảo vệ môi trường; khai thác mọi nguồn lực để phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi trường biển trên tinh thần chủ động, tích cực mở cửa, phát huy đầy đủ và có hiệu quả các nguồn lực [1]. Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Về quy hoạch phát triển kinh tế đảo Việt Nam đến năm 2020, trong đó đã nêu rất rõ mục tiêu: Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững về kinh tế của hệ thống các đảo để có bước đột phá về phát triển kinh tế biển, đảo và ven biển của nước ta, đồng thời xây dựng hệ thống đảo trở thành tuyến phòng thủ vững chắc bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia các vùng biển, đảo của Tổ quốc; Xây dựng về cơ bản hệ thống kết cấu hạ tầng thiết yếu (gồm cầu cảng, hệ thống giao thông, cấp điện, cấp nước, thông tin và hạ tầng xã hội …) trên các đảo, nhất là các đảo quan trọng, tạo điều kiện cần thiết để phát triển kinh tế, kết nối các đảo với đất liền và bảo vệ vững chắc vùng biển của Tổ quốc; Hình thành và phát triển một số ngành mũi nhọn phù hợp với lợi thế của vùng đảo như du lịch, dịch vụ biển, khai thác và nuôi trồng hải sản [37].
Riêng đối với huyện Bạch Long Vĩ, Trung ương đã xác định “Xây dựng đảo Bạch Long Vĩ sớm trở thành trung tâm chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá cho các tỉnh ven biển Bắc Bộ”; đến năm 2013 của Bộ Chính trị cũng đã xác định lại “Xây dựng đảo Bạch Long Vĩ thành trung tâm hậu cần nghề cá và tìm kiếm cứu nạn khu vực phía Bắc” [4],[5].
Đối với thành phố Hải Phòng, từ khi thành lập huyện Bạch Long Vĩ đến nay, thành phố đã có những chính sách ưu đãi đặc biệt đối với cán bộ và nhân dân huyện đảo. Ngày 31/5/1994, Thành phố đã ban hành Quyết định số 409/QĐ-UB về việc ban hành quy định tạm thời một số chế độ chính sách theo chế độ tiền lương mới đối với những người làm việc tại huyện Bạch Long Vĩ. Trong đó có các chế độ ưu đãi về lương, nhà ở, khám chữa bệnh, đi lại … nhằm động viên khuyến khích các lực lượng tình nguyện ra công tác và sinh sống tại huyện đảo Bạch Long Vĩ [50]. Ngoài chế độ ưu đãi đặc biệt, thành phố Hải Phòng cũng đã phê duyệt đầu tư rất nhiều công trình, dự án cơ sở hạ tầng kỹ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu làm việc, sinh hoạt và đi lại của cán bộ, quân và dân huyện đảo.
Ngoài các chính sách ưu đãi về phát triển kinh tế, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia, Trung ương và thành phố cũng đặc biệt quan tâm đến huyện đảo Bạch Long Vĩ, thể hiện: Hơn 25 năm kể từ khi thành lập huyện Bạch Long Vĩ đến nay, huyện đã tiếp đón 13 đoàn công tác của Trung ương ra thăm và làm việc tại huyện đảo do các đồng chí lãnh đạo Nhà nước làm trưởng đoàn: Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Nguyễn Minh Triết, Phó Chủ tịch Quốc hội Đặng Quân Thụy, Huỳnh Ngọc Sơn, Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa, Phó Thủ tướng Vũ Khoan, Nguyễn Mạnh Cầm, Nguyễn Công Tạn, Phạm Gia Khiêm, Bí thư thứ nhất Trung ương đoàn Vũ Trọng Kim…và rất nhiều đoàn công tác do các đồng chí cấp Bộ, ngành, lãnh đạo thành phố, quận huyện khác ra thăm và làm việc tại huyện đảo.
2.2.2.2. Đối với tình hình chính trị trong nước và quốc tế Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Trong thập kỷ qua, tình hình chính trị trong nước luôn ổn định. Việt Nam đã và đang gia nhập các tổ chức thương mại quốc tế một cách sâu rộng, hợp tác chiến lược với nhiều nước khác; năm 2017 tổ chức thành công Hội nghị thượng đỉnh APEC, là sự kiện vô cùng quan trọng đối với một quốc gia đang trên đà phát triển….
Cơ hội về chính trị đối với huyện Bạch Long Vĩ:
Tình hình chính trị ổn định, an ninh quốc phòng đảm bảo;
Sự quan tâm đặc biệt của Trung ương, thành phố Hải Phòng đến vấn đề bảo vệ chủ quyền biển đảo, môi trường biển đảo, phát triển kinh tế biển hải đảo…. nói chung và đối với huyện đảo Bạch Long Vĩ nói riêng. Đây là cơ hội để huyện đảo Bạch Long Vĩ nắm bắt thời cơ trong phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ an ninh biên giới biển, vùng trời, vùng biển của tổ quốc;
Hội nhập quốc tế sâu rộng là điều kiện tiên quyết để giúp kinh tế đất nước, kinh tế thành phố Hải Phòng phát triển nhanh, từ đó tác động gián tiếp đến huyện đảo (hiện nay, vì vấn đề chủ quyền biển đảo, liên quan đến biên giới quốc gia, một trong các đảo tiền tiêu của tổ quốc do vậy đầu tư trực tiếp nươc ngoài vào huyện đảo còn nhiều bất cập).
2.2.3. Về kinh tế Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Về kinh tế Việt Nam:
Kinh tế Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới. Năm 2017, Việt Nam đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức toàn bộ 13 chỉ tiêu kế hoạch đề ra, trong đó GDP tăng 6,81%, vượt mục tiêu 6,7% và cao nhất kể từ năm 2010 trở lại đây; xếp hạng môi trường kinh doanh của Việt Nam tăng 14 bậc (từ 82 lên vị trí 68/190 nền kinh tế); chỉ số năng lực cạnh tranh tăng 5 bậc (từ 60 lên 55/137 nền kinh tế) [14].
Biểu đồ 2.1. Tăng trưởng GDP của Việt Nam từ năm 2013 – 2017Về Kinh tế thành phố Hải Phòng:
Tính đến tháng 6/2018, tổng sản phẩm trong nước (GRDP) theo giá so sánh 2010, ước tính 6 tháng năm 2018 đạt 69.421,1 tỷ đồng, tăng 16,03% so cùng kỳ năm trước, cao nhất từ trước đến nay, phản ánh sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thành phố. Trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 2,77% (kế hoạch tăng 2,75%), đóng góp 0,16 điểm % vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 25,02% (kế hoạch tăng 20,5%), đóng góp 10,77 điểm % vào mức tăng chung; khu vực dịch vụ tăng 10,37% (kế hoạch tăng 12,1%), đóng góp 4,71 điểm % vào mức tăng chung. Về cơ cấu kinh tế trên địa bàn: khu vực nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm tỷ trọng 5,78%, khu vực công nghiệp, xây dựng chiếm 43,92%; khu vực dịch vụ chiếm 45,09%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,21%.
- Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP): 6 tháng đầu năm 2018 ước tăng 24,2% so với cùng kỳ, vượt kế hoạch (kế hoạch tăng 22%).
- Sản lượng hàng qua cảng: 6 tháng đầu năm 2018 ước đạt trên 50,96 triệu tấn, tăng 31,5% so với cùng kỳ.
- Tổng lượt khách du lịch đến Hải Phòng 6 tháng đầu năm 2018 ước đạt trên 3,55 triệu lượt, tăng 16,1% so với cùng kỳ [28].
Thành phố Hải Phòng tính đến nay có rất nhiều dự án, công trình trọng điểm mới được khởi công xây dựng, có ý nghĩa chiến lược đối với tương lai của thành phố như: Dự án Nhà máy sản xuất, chế tạo ô tô Vinfast, Vinhomes Hải Phòng của tập đoàn Vingroup; Khu du lịch nghỉ dưỡng sinh thái, vui chơi giải trí cao cấp đảo Cát Bà; Trung tâm thương mại Aeon Mall đang triển khai xây dựng… cùng với đó là các cây cầu mới đã góp phần làm thay đổi bộ mặt của thành phố.
Biểu đồ 2.2. Tăng trưởng GRDP của thành phố Hải Phòng từ năm 2013-2017
Qua biểu đồ ta thấy tốc độ tăng trưởng GRDP của thành phố Hải Phòng từ năm 2013 đến năm 2017 rất tốt, đặc biệt là vào năm 2017, tốc độ tăng GRDP của thành phố (đạt 14,01%) hơn hẳn tốc độ tăng trưởng của những năm trước và tăng hơn 3% so với năm 2016 (11%). Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Như vậy, kinh tế đất nước, thành phố phát triển là cơ hội để nhà nước, thành phố quan tâm đầu tư nhiều hơn đến huyện đảo Bạch Long Vĩ.
2.2.4. Về văn hóa xã hội
Đất nước ta trải dài hình chữ “S”, với 3260km bờ biển, có rất nhiều điểm du lịch hấp dẫn từ Bắc vào Nam, từ miền xuôi lên miền ngược, từ vùng sâu, vùng xa tới hải đảo xa xôi, nơi đâu cũng có rất nhiều cảnh đẹp, núi non hùng vĩ, ruộng lúa mênh mông và đặc biệt là có rất nhiều bãi biển cát trắng nước trong xanh.
Ngoài các lễ hội đặc sắc, các làng nghề truyền thống, các kiến trúc mang nét văn hóa đặc trưng vùng miền và các giá trị văn hóa khác, thì nay văn hóa ẩm thực, văn hóa xê dịch “phượt” lại lên ngôi tại Việt Nam.
Với Hải Phòng, thành phố hoa phượng đỏ, hay còn gọi là thành phố cảng thân yêu cũng có rất nhiều điểm du lịch hấp dẫn du khách và rất nhiều các lễ hội văn hóa, làng nghề truyền thống. Điểm đặc biệt nơi đây là các món ăn mà nếu đến Hải Phòng, du khách không thể không thử, đó là các món: Bánh đa cua (Bánh đa cua Lạch Tray, Bánh đa cua Kỳ Đồng, Bánh đa cua nồi đất), bánh mỳ que cay (Chè Thái & Bánh mỳ cay Đinh Tiên Hoàng, Bánh mỳ Khánh Nạp, Bánh mỳ cay Bà Già), bánh bèo (Bánh bèo chợ Lương Văn Can, Bánh bèo Chu Văn An), Bánh đúc tàu (Bánh đúc tàu Cát Dài, bánh đúc tàu Dư Hàng), ốc (ốc Thủy Dương Lạch Tray, ốc chị Hoa Lương Văn Can)…[21].
Như vậy, đây là một cơ hội thuận lợi cho huyện đảo Bạch Long Vĩ vì với vị trí nổi lên giữa vịnh Bắc Bộ là một hòn đảo xanh tươi như ngọc, quanh năm sõng vỗ, bãi biển cát trắng, nước trong xanh. Nguồn lợi hải sản vô cùng phong phú với các loại cá, tôm, cua, ghẹ, mực, ốc, hải sâm, và đặc biệt là loại bào ngư chín lỗ quý hiếm… có thể chế biến rất nhiều món ăn ngon. Bạch Long Vĩ là nơi cho du khách bởi sự tò mò và cũng bởi có những hải sản, những món ăn ngon mà nghe nói đến du khách đã muốn ăn ngay được. Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Cơ hội thứ hai, trong những năm qua, huyện Bạch Long Vĩ dưới sự chỉ đạo và hỗ trợ của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, UBND thành phố Hải Phòng và sự đóng góp công sức của nhân dân đảo Bạch Long Vĩ, chùa Bạch Long được khởi công xây dựng từ năm 2008 đến tháng 3 năm 2009 chùa được khánh thành. Bên cạnh đó còn có đền Bạch Long, lầu phật; các hạng mục công trình thư viện, nhà thi đấu thể thao đa năng và tránh trú bão…
Tuy nhiên, nguy cơ về văn hóa xã hội không thể tránh khỏi là:
- Các yếu tố văn hóa ngoại lai, các loại hình văn hóa không phù hợp sẽ xâm nhập vào đảo.
- Các tôn giáo, tín ngưỡng trái quy định của pháp luật cũng có cơ hội xâm nhập vào đảo.
2.2.5. Về khoa học công nghệ
Khoa học công nghệ đất nước phát triển, là cơ hội để đầu tư huyện đảo các hạng mục phục vụ đời sống nhân dân: trong nuôi trồng thủy sản có trại giống bào ngư; thời gian tới đầu tư tuabin gió, năng lượng mặt trời cung cấp điện; hệ thống xử lý rác thải, nước thải; hệ thống lọc nước …. Cụ thể:
- Công nghệ thông tin, viễn thông: Các phần mềm quản lý
- Công nghệ sinh học: Nuôi trồng thủy sản, cây trồng, rau màu
- Công nghệ môi trường: Xử lý nước thải, rác thải
- Công nghệ năng lượng: Sản xuất điện năng
- Công nghệ trong giao thông vận tải: Tàu biển, sân bay, máy bay thủy phi cơ..
- Công nghệ trong y tế, chăm sóc sức khỏe con người.
2.2.6. Về hội nhập quốc tế
Nhờ có hội nhập quốc tế mà Việt Nam vươn lên phát triển nhanh,là thành viên Asian gia nhập các tổ chức kinh tế Apec, TPP…; ký kết các hiệp định về kinh tế, về pháp lý: công ước luật biển 1982….là cơ sở phát triển kinh tế biển đảo, cơ sở pháp lý để bảo vệ chủ quyền quốc gia.
Mặt khác Hội nhập quốc tế có ảnh hưởng đến huyện đảo rất lớn, đầu tư có thể sẽ sụt giảm khi kinh tế thành phố Hải Phòng, Việt Nam kém đi do ảnh hưởng của thương mại thế giới như: Chiến tranh thương mại giữa Mỹ với Trung Quốc, ….
2.3. Phân tích môi trường bên trong huyện Bạch Long Vĩ Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
2.3.1. Về tự nhiên (đất đai, nước, hệ sinh thái)
2.3.1.1. Đất đai trên đảo
- Bảng 2.2. Cơ cấu đất đai tại đảo Bạch Long Vĩ năm 2017
- Biểu đồ 2.3. Cơ cấu đất đai tại đảo Bạch Long Vĩ năm 2017
Tầng đất bề mặt đảo (có bề dày khoảng từ 0,2m đến 0,5m) chủ yếu là đất pha cát, sỏi nhỏ được hình thành do quá trình phân hủy, tích tụ thảm thực vật bề mặt.Loại đất này lại rất tốt cho các loại cây lâu năm, đặc biệt là cây ăn trái và rau màu.
Bề dày 0,5 – 1,5 m, chủ yếu gồm cát nguồn gốc biển. Trầm tích biển gồm cát, cuội, sỏi, mảnh vụn sinh vật, là sản phẩm quan trọng tạo nên các thềm biển cao 10 m, 5 m, 2 – 3 m và bãi biển hiện đại (bãi cát, bãi cuội tảng) [23].
Do đảo có chiều cao tự nhiên là 61,5m so với mực nước biển trung bình, với loại đất pha cát, sỏi phủ hầu hết bề mặt đảo, thích hợp với các loại cây phi lao, cây bụi, cỏ dại mà đảo xanh như ngọc, nổi lên giữa biển khơi. Cũng bởi chiều cao của đảo mà che chắn gió cho các tàu thuyền neo đậu bình yên hơn khi gió mùa về. Gió Đông Bắc, đảo có cảng Tây Nam, gió Tây Nam thì đảo cũng sắp có cảng Tây Bắc trong tương lai không xa.
2.3.1.2. Nguồn nước ngọt trên đảo Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Ngoài nguồn nước ngọt do mưa (khoảng 1124mm/năm), theo điều tra sơ bộ, Bạch Long Vĩ có vùng nước ngầm không áp lực, không mùi, không màu, không vị, có độ khoáng hóa thấp, hơi lơ nhạt về mùa khô. Nguồn nước ngọt này ở tầng nông, bề dày ước tính 4 đến 8 m. Diện tích của phần địa tầng chứa khoảng 25 ha, bằng 1/7 diện tích phần nổi của đảo) hiện đang được sử dụng bằng một số giếng đào (22 giếng). Chất lượng nước tốt và có quanh năm, đáp ứng được một phần nhu cầu sinh hoạt trên đảo. Còn nguồn nước ngầm tầng sâu, hiện đã khoan một số giếng với tầng sâu khoảng 80m. Tuy nhiên, chỉ sử dụng được 02 giếng khoan với lưu lượng trung bình 15m3/ngày, chủ yếu phục vụ cho quân đội, các khối cơ quan, đoàn thể trên huyện và bộ phận nhỏ người dân. Phần còn lại, nhân dân khai thác nước chủ yếu là các giếng đào tự phát, với chiều sâu từ 3,5 ÷ 25,0m. Tuy vậy, đa số các giếng đều cạn vào mùa khô. Ngoài các nguồn nước ở trên, người dân còn sử dụng nguồn nước chở từ đất liền ra với giá lên tới 200.000 đồng/m3nước. Do vậy, vấn đề thiếu nước ngọt sinh hoạt tại đảo đang rất cấp thiết.
Hiện nay, trên đảo thường xuyên có khoảng 1500 người sinh sống (trung bình 120 lít/người, 1500 người x120 lít = 180m3/ngày) và số lượng nước cung cấp cho các tàu thuyền đánh cá vào đảo lấy nước ngọt khoảng 11000m3/năm (30m3/ngày). Như vậy, lượng nước cần dùng cho sinh hoạt hàng ngày khoảng 210m3/ngày (Chưa tính đến lượng nước dùng cho sản xuất và chế biến nếu có các cơ sở sản xuất và chế biến).
Năm 2017, Liên đoàn Quy hoạch và Điều tra tài nguyên nước miền Bắc được giao thi công Đề án “Điều tra, đánh giá tài nguyên nước một số đảo và cụm đảo lớn, quan trọng – đảo Bạch Long Vỹ” đã tìm được 2 lỗ khoan BLV1 và BLV2 sâu 80m lưu lượng lỗ khoan BLV1 là 0,526l/s, BLV2 là 0,35l/s nước ngọt chất lượng nước tương đối tốt chỉ có hàm lượng sắt và mangan hơi cao dùng cho sinh hoạt cần được xử lý (tổng lưu lượng trung bình hai giếng là 75m3/ngày) (cuối năm 2017 đã đưa vào sử dụng).
Như vậy, tổng khối lượng nước tại 4 giếng khoan hiện có là 90m3/ngày. So với nhu cầu nước khoảng 210m3/ngày, lượng nước thiếu khoảng 120m3/ngày, tương đương khoảng 43.800m3/năm [11]. Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Bảng 2.3. Khai thác nước ngầm qua các năm trên đảo Bạch Long Vĩ
- TT Nước ngầm tại 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 các giếng khoan
- Giếng khoan 1 UBND huyện, Tiểu 6200 6150 4700 5750 5800 5200 5060 4500 đoàn phòng thủ đảo (02 giếng)
Theo bảng 2.3. trên, khối lượng khai thác nguồn nước ngầm tại đảo Bạch Long Vĩ ít dần theo năm. Như vậy, nếu tình hình dân số trên đảo tăng lên theo thời gian, theo nhịp phát triển kinh tế – xã hội huyện đảo thì việc thiếu nước ngọt sinh hoạt và sản xuất trầm trọng luôn luôn tiềm ẩn. Cụ thể, năm 2012, do lượng mưa trong năm 2011 giảm, đầu năm 2012 mùa khô hanh kéo dài dẫn đến thiếu nước ngọt trầm trọng, lượng nước ngọt khai thác bình quân đạt trên 6000m3 thì năm 2012 còn 4700m3.
Ngoài 02 giếng khoan cung cấp nước ngọt tầng sâu, 22 giếng khơi tầng nông thì tại đảo còn có một số bể nổi chứa nước mưa dùng cho ăn uống. Lượng nước mưa này phụ thuộc vào lượng mưa tại đảo, tuy nhiên do lượng mưa ít nên lượng nước chỉ sử dụng được đến tháng 01 của năm sau là hết, từ tháng 02 đến tháng 5 chủ yếu nước được dùng tạm qua hệ thống lọc hoặc được các tàu dịch vụ chở từ đất liền ra đảo bán.
2.3.1.3. Hệ sinh thái đảo Bạch Long Vĩ
Đảo Bạch Long Vĩ và vùng biển xung quanh có cảnh quan thiên nhiên đẹp, với các hệ sinh thái như: Hệ sinh thái rừng trên đảo, hệ sinh thái bãi triều cát, hệ sinh thái bãi triều đá – cuội – sỏi, hệ sinh thái rạn đá – san hô, hệ sinh thái rong cỏ biển.
Theo kết quả điều tra của Viện Tài nguyên và Môi trường Biển năm 2009 – 2010, đã phát hiện được khoảng 1.457 loài trong khu hệ động thực vật ở đảo Bạch Long Vỹ và vùng nước xung quanh. Trong đó, cá biển có 451 loài, thực vật trên cạn có 367 loài, thực vật phù du có 227 loài, động vật đáy có 125 loài, động vật phù du có 110 loài, san hô có 94 loài, rong biển có 65 loài, thực vật ngập mặn có 17 loài [23]. Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Điểm mạnh về tự nhiên đảo Bạch Long Vĩ:
- Đất đai phì nhiêu, thích hợp với nhiều loại cây ăn trái (Bưởi, cam, đu đủ, chuối, na, ổi và các loại rau, củ, quả….)
- Có cảnh quan thiên nhiên đẹp, với các hệ sinh thái bãi triều cát, hệ sinh thái bãi triều đá – cuội – sỏi, hệ sinh thái rạn đá – san hô, hệ sinh thái rong cỏ biển với đa dạng các loài, trong đó có nhiều loài mang lại giá trị kinh tế cao.
- Đảo có địa hình cao (61,5m) nên có thể che chắn gió cho các tàu thuyền neo đậu an toàn.
Điểm yếu về tự nhiên đảo Bạch Long Vĩ:
Hệ sinh thái rừng trên đảo hiện nay nghèo nàn về chủng loại thực vật và động vật (động vật chủ yếu là chuột, rắn, các loại bò sát nhỏ…)
Nguồn nước ngọt trên đảo còn khan hiếm, chưa đảm bảo nhu cầu trong sinh hoạt và sản xuất.
2.3.2. Về tổ chức, nhân sự
Hệ thống chính trị của huyện bao gồm: Đảng bộ huyện (đưa ra đường lối, chủ trương phát triển kinh tế – xã hội), HĐND huyện thông qua nghị quyết về phát triển kinh tế – xã hội và giám sát quá trình thực hiện nghị quyết đó, UBND huyện thực hiện nghị quyết về phát triển kinh tế – xã hội. Ngoài ra, còn có Ủy ban MTTQVN huyện và các đoàn thể huyện tham gia vào quá trình phát triển kinh tế – xã hội huyện.
Như vậy hệ thống chính trị huyện Bạch Long Vĩ gồm: Đảng bộ huyện, HĐND, UBND huyện, UBMTTQ và các đoàn thể huyện.
Về Đảng bộ huyện: Bao gồm 15 tổ chức cơ sở đảng trực thuộc, trong đó có 02 Đảng bộ cơ sở và 13 Chi bộ cơ sở. Tổng số đảng viên hàng năm từ khoảng 150 đến hơn 200 đảng viên. Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Huyện ủy Bạch Long Vĩ là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng bộ huyện, có nhiệm vụ lãnh đạo toàn diện các mặt công tác của Đảng bộ và hệ thống chính trị của huyện được quy định tại Điều lệ Đảng và Hiến pháp.
Hiện nay, Huyện ủy có 10 đồng chí biên chế làm việc, trong đó có 03 đồng chí trong thường trực (01 Bí thư, 01 Phó Bí thư thường trực và 01 Phó Bí thư kiêm nhiệm) và 08 đồng chí ở các phòng, ban của Huyện ủy (Văn phòng Huyện ủy, Ban Tổ chức, Ban Tuyên giáo, Ủy ban kiểm tra, Ban Dân vận).
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể bao gồm: Hội Liên hiệp phụ nữ, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân, Huyện đoàn, Liên đoàn Lao động. Về biên chế: UBMTTQ và các đoàn thể huyện được bố trí 03 biên chế chuyên trách, các vị trí còn lại đều hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm.
Về HĐND huyện: Là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên.
Tổ chức HĐND huyện gồm: Thường trực Hội đồng nhân dân (gồm 05 ông bà: 01 Chủ tịch, 02 Phó Chủ tịch và 02 Trưởng Ban) là cơ quan thường trực của Hội đồng nhân dân. HĐND huyện có 02 Ban, gồm: Ban Kinh tế – xã hội và Ban Pháp chế. Biên chế HĐND huyện có 03 ông bà trong thường trực HĐND huyện, các ông bà còn lại đều hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm. Tổng số đại biểu HĐND huyện gồm 30 ông bà đại biểu.
Về UBND huyện: Do HĐND huyện bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND huyện, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương, HĐND và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên.
Tổ chức UBND huyện gồm: 01 chủ tịch, 02 phó chủ tịch và 07 ủy viên UBND. Trong đó, Chủ tịch UBND huyện do Bí thư Huyện ủy kiêm nhiệm, 01 phó chủ tịch do phó bí thư thường trực kiêm nhiệm, 01 phó chủ tịch trong biên chế, các ông bà ủy viên ủy ban còn lại đều hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm. UBND huyện gồm 05 phòng chức năng và 06 đơn vị trực thuộc, cụ thể:
05 phòng chức năng: Văn phòng HĐND-UBND huyện, phòng Tài chính, phòng Kinh tế – Kế hoạch, phòng Tư pháp, phòng Văn xã. Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
06 đơn vị trực thuộc: Trung tâm Văn hóa – Thông tin – Thể thao, Đài Phát thanh, Trường Tiểu học – Mẫu giáo, Ban Quản lý Cảng & Khu neo đậu tàu, Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng, Ban Quản lý khu bảo tồn biển.
Các cơ quan giúp việc của chính quyền địa phương cấp huyện thông thường gồm các phòng, ban trực thuộc: Văn phòng Ủy ban Nhân dân, Phòng Tài chính – Kế hoạch, Phòng Nội vụ, Phòng Tài nguyên – môi trường, Phòng Công thương, Phòng Nông nghiệp-PTNT, Phòng Tư pháp, Phòng Giáo dục- Đào tạo, Phòng Y tế, Phòng Lao động- Thương binh xã hội, Thanh tra huyện, Phòng Văn hóa – thông tin.
Như vậy, đối với UBND huyện Bạch Long Vĩ so với quy định còn thiếu rất nhiều các phòng chuyên môn. Tuy nhiên là một huyện đảo nhỏ, không có chính quyền cấp xã, dân số rất ít nên các phòng chức năng của huyện đều hoạt động kiêm nhiệm thêm nhiệm vụ khác. Trong đó:
Văn phòng HĐND-UBND huyện: Là cơ quan tham mưu, giúp việc cho thường trực HDNĐ, UBND huyện. Hiện nay, Văn phòng HĐND-UBND huyện còn kiêm thêm mảng nội vụ, thanh tra huyện.
Phòng Kinh tế – Kế hoạch huyện: Là cơ quan tham mưu, giúp việc cho UBND huyện, thực hiện chức năng nhiệm vụ của các mảng công tác tài nguyên – môi trường, công thương, nông nghiệp và phát triển nông thôn, khoa học và công nghệ.
Phòng Văn xã: Là cơ quan tham mưu, giúp việc cho UBND huyện, thực hiện chức năng nhiệm vụ của các mảng công tác giáo dục – đào tạo, y tế, lao động – thương binh và xã hội, văn hóa – thông tin.
Ngoài 05 phòng chức năng , UBND huyện còn có 06 đơn vị trực thuộc, cụ thể:
Trung tâm Văn hóa – Thông tin – Thể thao, Đài Phát thanh, Trường Tiểu học – Mẫu giáo, Ban Quản lý các dự án đầu tư xây dựng huyện, Ban Quản lý Cảng và Khu neo đậu tàu Bạch Long Vĩ, Ban Quản lý khu bảo tồn biển Bạch Long Vĩ.
Bảng 2.4. Thống kê số lượng cán bộ, công chức, viên chức và người lao động cơ quan Huyện ủy, HĐND, UBND, MTTQ và các đoàn thể huyện Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Từ bảng 2.4. trên ta thấy số lượng cán bộ, công chức, viên chức và người lao động của cơ quan huyện không nhiều so với bộ máy tổ chức cán bộ cấp quận, huyện trong đất liền (do huyện có diện tích nhỏ, không có bộ máy hành chính cấp xã, số lượng công việc không nhiều). Giai đoạn 2015-2018, số lượng cán bộ, công chức, viên chức và người lao động đã giảm so với giai đoạn 2010-2015 là 17 người. Trình độ cán bộ, công chức, viên chức đã tăng đáng kể, từ 28 người có bằng đại học giai đoạn 2010-2015 đã tăng lên 43 người giai đoạn 2015-2018 (thông qua tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức). Tuy nhiên, số lượng người có bằng đại học chính quy vẫn còn ít, số lượng người có bằng đại học tại chức tăng do tự học và được cơ quan tạo điều kiện cho đi học (chủ yếu là hệ từ xa do hình thức đào tạo này phù hợp với cán bộ, công chức, viên chức làm việc ở đảo và điều kiện đi lại giữa đảo và đất liền).
Theo mục II, bảng 2.4. trên ta thấy số lãnh đạo cấp cao luân chuyển, thay đổi công tác qua các giai đoạn thật nhanh và gọn. Cả 2 giai đoạn, tính trung bình gần như mỗi năm có 01 đồng chí Bí thư, Chủ tịch huyện luân chuyển, thay đổi công tác từ đất liền ra đảo và ngược lại.
Điểm mạnh về tổ chức bộ máy, nhân sự :
- Bộ máy tinh gọn;
- Số lượng nam giới đông, có sức khỏe, chịu sóng gió tốt khi đi lại giữa đảo và đất liền công tác.
Điểm yếu về tổ chức, nhân sự:
Trình độ đào tạo theo hình thức tại chức, từ xa nhiều, người học chính quy, tập trung ít; ngay cả đối với cán bộ lãnh đạo cao nhất. Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Chuyên môn, nghiệp vụ còn yếu, không chuyên nghiệp, hiệu quả công việc chưa cao (do cán bộ, công chức kiêm nhiều mảng công việc nhưng số lượng công việc ít, lại phân tán giữa đảo và đất liền nên không có điều kiện học hỏi, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, hơn nữa lại ít va chạm, giao lưu với đơn vị bạn),
Số cán bộ lãnh đạo thay đổi, luận chuyển công tác quá nhiều, quá nhanh dẫn đến tư duy lãnh đạo theo nhiệm kỳ, chính xác là tư duy theo năm nên công việc không hiệu quả, luôn theo ý chí chủ quan của từng người.
Một số cán bộ, công chức, viên chức và người lao động cơ quan nhà nước chưa thực sự yên tâm công tác do mức lương đến nay vẫn tính lương theo Quyết định 409 của UBND thành phố về việc ban hành qui định tạm thời một số chế độ chính sách theo chế độ tiền lương mới đối với những người làm việc tại huyện Bạch Long Vĩ.
2.3.3. Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật
Từ khi thành lập đến nay, được Trung ương và thành phố quan tâm, cơ sở hạ tầng kỹ thuật của huyện về cơ bản ngày một hoàn thiện hơn. Cụ thể:
Hệ thống giao thông đường bộ gần như hoàn thiện. Hiện có 5 km đường nhựa (4 km ở độ cao 20 m và 1 km trong khu dịch vụ) và khoảng 10 km đường bê tông rộng 3,5 m vòng quanh đảo, tiêu chuẩn đường cấp 5 miền núi. Đã có 15 km đường đất ở phía Bắc, phía Đông, phía Tây đảo, hệ thống đường xương cá nối các tuyến trong khu dân cư, các cơ quan, đơn vị [23].
Hệ thống các trụ sở cơ quan Đảng, chính quyền, cơ quan nội chính, các đơn vị lực lượng vũ trang; hệ thống các công trình văn hóa, tâm linh (Trung tâm văn hóa, đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ, đền chùa, lầu phật); công trình công cộng (nhà thi đấu thể thao đa năng kết hợp tránh trú bão) cơ bản hoàn thiện. Hiện chỉ còn thiếu trụ sở chi nhánh của Công ty TNHH MTV Xổ số Hải Phòng và Bảo đảm an toàn hàng hải. Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Hệ thống cung cấp điện: Hiện nay, huyện có 01 Trạm điện, với 04 máy phát điện diezel công xuất từ 410kva đến 630kva, 06 trạm biến áp và hệ thống cáp ngầm, tủ điện cung cấp điện cho toàn đảo. Trước đây, Trạm điện là đơn vị trực thuộc UBND huyện, năm 2016, Trạm điện được bàn giao về Tập đoàn điện lực Việt Nam, do Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Phòng đã tiếp nhận và tổ chức quản lý vận hành toàn bộ hệ thống lưới điện trên huyện đảo Bạch Long Vĩ.. Trong năm 2016, Trạm điện đã được đầu tư thêm 01 máy phát điện diezel 630kva, nâng tổng số máy phát lên 04 máy phục vụ nhu cầu tiêu thụ điện của nhân dân toàn đảo.
Hệ thống cung cấp nước: Huyện hiện có 04 giếng khoan nước ngầm tầng sâu (80m) cung cấp khoảng 90m3/ngày, 22 giếng khơi, nhiều bể chứa nước mưa. Hiện trên đảo cũng đang triển khai Dự án hồ chức nước ngọt, hệ thống thủy lợi phục vụ cấp nước cho đảo Bạch Long Vĩ (giai đoạn 1) với diện tích hơn 04ha, dung tích chứa nước 48.000m3 nước.
Hệ thống cơ sở giáo dục – đào tạo: Trường Tiểu học- Mẫu giáo huyện, với cơ ngơi khang trang, sạch đẹp, luôn đáp ứng tốt nhu cầu học tập của con em cán bộ, quân, dân trên đảo.
Hệ thống cơ sở chăm sóc sức khỏe nhân dân: Trung tâm y tế quân dân y với đội ngũ y, bác sỹ (bác sỹ tăng cường từ đất liền ra đảo) luôn sẵn sàng chăm sóc sức khỏe cho toàn thể cán bộ, quân, dân và ngư dân.
Hệ thống Cảng và khu neo đậu tàu: Hiện đang hoạt động có Cảng và khu neo đậu tàu Tây Nam đảo rộng 30,9 ha với hệ thống đê chính dài 648 m, đê phụ 514 m. Có 3 bến cập tàu (bến chính có thể cập tàu 400T, bến tàu cá dài 100 m và bến nghiêng phục vụ quốc phòng); Cảng và khu neo đậu tàu Tây Bắc đảo đang triển khai thi công.
Hệ thống viễn thông và phát thanh truyền hình: Huyện đảo có 02 trạm thu phát tín hiệu viễn thông, cung cấp mạng internet 2G, 3G (Trạm viễn thông của VNPT và Trạm viễn thông của Viettel. Hai trạm này cung cấp dịch vụ nghe gọi, mạng internet tương đối ổn định. Đài phát thanh Bạch Long Vĩ, ngoài phát thanh các bản tin của huyện còn đảm nhiệm vai trò truyền hình Đài truyền hình Việt Nam (VTV1,2,3,6) và Đài truyền hình Hải Phòng (THP) phục vụ nhu cầu của cán bộ, quân, dân và ngư dân. Tuy nhiên hiện nay, việc bắt trực tiếp truyền hình kỹ thuật số từ vệ tinh đã phổ biến toàn đảo.
Từ khi thành lập huyện đến nay có khoảng 50 dự án, công trình vốn sự nghiệp đầu tư công , trong đó có 29 dự án, công trình vốn sự nghiệp, vốn đầu tư công đã hoàn thành, bàn giao đưa vào khai thác sử dụng đảm bảo hiệu quả nguồn vốn đầu tư. Hiện nay, các dự án công trình đầu tư xây dựng huyện đảo Bạch Long Vĩ đang quản lý, tổ chức thực hiện 12 dự án công trình tổng mức đầu tư được duyệt 824,225 tỷ đồng, đây là các dự án đầu tư xây dựng dân dụng, giao thông, hạ tầng kỹ thuật, cảng và các dự án quy hoạch xây dựng. Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Bảng 2.5. Một số dự án, công trình hiện đang triển khai tại đảo
Theo Bảng 2.5. trên, đến nay đã có dự án hoàn thành và cơ bản hoàn thành như Dự án cải tạo, nâng cấp khu nhà 3 tầng chức năng khoa khám bệnh – Trung tâm Y tế quân dân y huyện Bạch Long Vĩ, Dự án cải tạo hệ thống thoát nước, hè đường khu dân cư trên đảo Bạch Long Vĩ (giai đoạn 2). Tuy nhiên, trong đó có 02 dự án chậm tiến độ:1, Dự án đầu tư xây dựng cảng và khu neo đậu tàu phía Tây Bắc đảo Bạch Long Vĩ (giai đoạn I) (giá trị khối lượng của cả dự án ước đạt 80%) và Dự án Đóng mới tàu thủy chở khách và hàng hóa ra đảo Bạch Long Vĩ (mới được cấp vốn là 82,540 tỷ đồng, còn thiếu 90,31 tỷ đồng). Cả 02 dự án này vô cùng quan trọng đối với phát triển kinh tế – xã hội huyện Bạch Long Vĩ. 02 dự án này dự kiến hoàn thành trước năm 2014, tuy nhiên do nguồn vốn chậm nên việc thi công các dự án này kéo dài tới nay. Hiện tại, Dự án Đóng mới tàu thủy chở khách và hàng hóa ra đảo Bạch Long Vĩ cơ bản hoàn thành, nếu trả đủ số tiền nhà thầu thi công đã ứng thì có thế ngày 26/3 năm 2019 (ngày ra mắt chính quyền lầm thời) tàu “Hoa phượng” sẽ lướt sóng ra với đảo Bạch Long Vĩ.
Ngoài các dự án nêu trên, trên địa bàn huyện đang triển khai dự án đầu tư xây dựng hồ chứa nước ngọt, hệ thống thủy lợi phục vụ cấp nước cho đảo Bạch Long Vĩ (giai đoạn 1) do Tổng đội TNXP Hải Phòng làm chủ đầu tư với số vốn hơn 188,19 tỷ đồng. Đến nay dự án đã triển khai được 90% công việc.
Điểm mạnh về cơ sở hạ tầng kỹ thuật:
- Hệ thống trụ sở các cơ quan, đơn vị tương đối khang trang, diện mạo huyện đảo từ khi thành lập đến nay có nhiều sự thay đổi; Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
- Hệ thống giao thông trên đảo cơ bản thuận tiện;
- Hệ thống lưới điện được chôn ngầm dưới đất vừa đảm bảo an toàn khi có gió mùa lớn, bão vừa không gây mất mỹ quan.
- Đảo có 04 giếng khoan khai thác nguồn nước ngầm tầng sâu cũng là một điểm mạnh khi mà đảo nằm giữa Vịnh Bắc Bộ.
- Có hệ thống viễn thông (Trạm của Vinaphone, trạm Viettel) cung cấp mạng di động và internet cơ bản tốt.
Điểm yếu về cơ sở hạ tầng kỹ thuật:
Huyện chưa có hệ thống cung cấp điện năng đảm bảo nhu cầu sinh hoạt của toàn thể cán bộ, quân, dân và phục vụ các dịch vụ vui chơi, giải trí, phục vụ sản xuất, chế biến thủy sản;
Chưa có hệ thống cung cấp nước ngọt hoàn chỉnh từ nguồn đến tận các cơ quan, đơn vị và các khu dân cư cũng như cung cấp nước dịch vụ hậu cần nghề cá; chưa có hệ thống lọc nước biển thành nước ngọt phục vụ dân sinh khi thiếu nước vào mùa khô hạn;
Chưa có hệ thống xử lý nước thải, rác thải gây ô nhiễm môi trường huyện đảo. Hiện nước thải tại các cơ quan, đơn vị và các khu dân cư theo cống ngầm thải trực tiếp ra biển, một phần nhỏ ngấm xuống đất, mỗi ngày thải ra môi trường khoảng 180m3. Rác thải của các cơ quan, đơn vị và các khu dân cư được Tổ dọn vệ sinh môi trường do Hội Liên hiệp phụ nữ quản lý (gồm có 6 tổ viên thay phiên nhau thu dọn rác). Trung bình một ngày Tổ thu gom được khoảng hơn 03 tấn rác thải sinh hoạt các loại. Số rác thải sinh hoạt của các phương tiện trong âu cảng tại khu vực cảng Tây Nam đảo trung bình khoảng 02 tấn/ngày. Tổng số lượng rác thải toàn đảo vào khoảng 05 tấn/ngày (tương đương 1825 tấn rác/năm). Số rác này được thu gom, tập trung đốt và chôn lấp tại phía bờ Tây Nam đảo, gần khu nghĩa địa (thậm trí Ban Quản lý cảng và khu neo đậu tàu còn cho đốt rác thải nilon, chai nhựa ngay tại bờ âu cảng, gây ô nhiễm, mùi khói rất khó chịu). Cho đến nay, diện tích đất để chôn lấp rác ở khu vực Tây Nam đảo đã gần hết. Về xử lý lâu dài, huyện chưa có phương án cụ thể, khả thi ngoài phương án xây dựng lò đốt rác. Tuy nhiên, huyện chưa thể đầu tư do chưa có nguồn vốn.
Huyện chưa thể đưa tàu “Hoa phượng đỏ” vào khai thác nhằm đáp ứng nhu cầu đi lại của cán bộ, quân, dân và du khách thập phương do còn thiếu vốn; Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Huyện chưa thu hút được các nhà đầu tư quan tâm đầu tư cơ sở hạ tầng nghỉ dưỡng với số lượng phòng tiện nghi, các khu vui chơi giải trí đáp ứng nhu cầu nghỉ dưỡng, thăm quan, vui chơi giải trí của du khách;
Hiện chưa có cơ sở hạ tầng hậu cần nghề cá đáp ứng như Kết luận 72 của bộ Chính trị đã xác định Bạch Long Vĩ trở thành “Trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá và tìm kiếm cứu nạn”;
Khu dịch vụ hậu cần nghề cá, khu chế biến bột cá bị bỏ hoang (diện tích 5,05 ha), cơ sở nhà xưởng xuống cấp trầm trọng mà chưa thể thu hồi nhằm sử dụng vào mục đích khác.
2.3.4. Về phát triển kinh tế Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
2.3.4.1. Kết quả thực hiện các chỉ tiêu nhiệm vụ phát triển kinh tế
Bảng 2.6. Giá trị sản xuất các nhóm ngành giai đoạn 2010-2017
- TT Nhóm 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 6/2018 ngành
- 1 CN-XD 29,4 33,45 162 170,8 183,12 222 254,6 289,9 64
- 2 NN- TS 8,1 9,14 10,4 12,2 13,46 11,5 9,4 9,2 5,56
- 3 Dịch vụ 96,3 109,81 127 124 137 142 145 156 102
- Tổng 133,8 152,4 299,4 307 333,58 375,5 409 455,1 171,56 giá trị
Nhóm ngành Công nghiệp – Xây dựng:
Giá trị sản xuất ngành công nghiệp – xây dựng của huyện năm 2017 đạt 289,9 tỷ đồng, tăng hơn 9,86 lần so với năm 2010, chiếm 56,42% trong cơ cấu giá trị sản xuất toàn huyện. Tuy nhiên, 6 tháng đầu năm 2018, giá trị sản xuất nhóm ngành công nghiệp – xây dựng huyện chỉ đạt 64 tỷ đồng, giảm 2,23 lần so với 6 tháng đầu năm 2017 (142,4 tỷ đồng) nguyên nhân là do huyện không phát sinh thêm dự án, công trình mới mà chủ yếu tập trung hoàn hiện các hạng mục của các dự án, công trình cũ. Như vậy có thể thấy lĩnh vực công nghiệp của huyện giá trị sản xuất không đáng kể. Sự gia tăng giá trị sản xuất lĩnh vực công nghiệp – xây dựng đến từ lĩnh vực xây dựng. Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Về công nghiệp: Thực hiện Nghị quyết số 32-NQ/TW, ngày 05/8/2003 của Bộ Chính trị, đã xác định “Xây dựng đảo Bạch Long Vĩ sớm trở thành trung tâm chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá cho các tỉnh ven biển Bắc Bộ”, tuy nhiên, giai đoạn từ năm 2000-2009: Huyện cũng chỉ có một khu chế biến bột cá do Công ty Cổ phần Thương mại Bạch Long đến năm 2009 ngừng hoạt động, 01 khu dịch vụ hậu cần nghề cá (trong đó có xưởng làm đá lạnh, lọc nước biển thành nước ngọt..), đến năm 2008 cũng ngừng hoạt động do huyện không đủ nước ngọt, điện năng cung cấp cho các xưởng chế biến và sản xuất này.
Giai đoạn từ năm 2010 đến nay, thực hiện Kết luận số 72-KL/TW, ngày 10/10/2013 của Bộ Chính trị, đã xác định lại “Xây dựng đảo Bạch Long Vĩ thành trung tâm hậu cần nghề cá và tìm kiếm cứu nạn khu vực phía Bắc”, Huyện không có các nhà máy, xưởng chế biến, chế tạo, sản xuất lớn, chỉ có 31 cơ sở nhỏ do các hộ dân đầu tư xây dựng nhằm lọc nước, phân phối nước đóng bình. Về hậu cần nghề cá, ngoài các dịch vụ ăn uống, vui chơi giải trí, cung cấp ngư lưới cụ, cũng chỉ có một số hộ gia đình, cá nhân nhỏ lẻ mở xưởng sửa chữa nhỏ, sửa chữa tạm thời hoặc thay thế các vật dụng nhỏ cho các tàu cá của ngư dân vào đảo.
Bên cạnh đó, huyện chỉ có 01 Trạm điện, với 04 máy phát điện diezel công xuất từ 410kva đến 630kva, 06 trạm biến áp, cung cấp điện cho toàn đảo. Để phục vụ nhu cầu sử dụng điện của các cơ quan, đơn vị và nhân dân trên đảo, Trạm điện đã phải đóng, cắt điện luân phiên theo giờ và từng khu vực với 04 máy phát chạy luân phiên để đảm bảo cung cấp nguồn điện liên tục. Như vậy, công suất phát điện trung bình theo công suất của 01 máy cũng chỉ đạt vào khoảng từ 200kw đến 250kw chưa kể có lúc máy hỏng. Với hơn 31 cơ sở sản xuất, lọc nước đóng bình, hơn 30 đầu mối các cơ quan, đơn vị, 03 khu dân cư, 01 khu dân thanh niên xung phong, thường trực từ 1000 đến 1500 người, công suất tiêu thụ điện trung bình hiện nay vào khoảng 950kw, vào thời gian cao điểm có thể đạt đến hơn 1200kw. Như vậy, công suất phát điện của 01 máy phát điện cùng lúc chỉ bằng 1/5 công suất tiêu thụ điện. Chính vì vậy mà hiện nay, Trạm điện phải đóng, cắt điện luân phiên hạn chế tải nhằm đảm bảo phù hợp với công suất máy cung cấp. Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Khai thác nước ngầm hạn chế do phụ thuộc vào lượng mưa, máy bơm hút. Hiện nay, tổng khối lượng nước tại 4 giếng khoan hiện có của huyện vào khoảng 90m3/ngày. So với nhu cầu nước ngọt của toàn đảo và các phương tiện vào đảo khoảng 210m3/ngày khi đông người thì lượng nước thiếu khoảng 120m3/ngày, như vậy là chưa đủ để phục vụ nhu cầu dân sinh. Biện pháp hiện tại vẫn là chở nước ngọt từ đất liền ra đảo để đáp ứng nhu cầu chủ yếu của người dân và các phương tiện này.
Về xây dựng: Như ta phân tích ở phần công nghiệp thì giá trị sản xuất công nghiệp của huyện là không đáng kể. Với giá trị sản xuất tăng theo năm, năm 2017 gấp hơn 9,8 lần so với năm 2010, sự gia tăng giá trị sản xuất này chủ yếu đến từ nguồn vốn đầu tư của Nhà nước, đầu tư xây dựng các dự án, công trình, cụ thể:
Dự án gia cố cảng và khu neo đậu tàu phía Tây Nam đảo, Dự án khắc phục hậu quả cơn bão số 10 năm 2009, các dự án đầu tư nâng cấp, sửa chữa, xây mới trụ sở làm việc của một số cơ quan đơn vị, Dự án đầu tư xây dựng cảng và khu neo đậu tầu phía Tây Bắc đảo, Dự án đóng mới tàu chở khách và hàng hóa ra đảo Bạch Long Vĩ, Dự án xây dựng Hồ chứa nước ngọt, Dự án xây dựng Nhà đa năng kết hợp làm nơi tránh trú gió cho ngư dân, công trình Nhà khách Huyện ủy, Dự án cải tạo, nâng cấp đường dạo âu cảng và chỉnh trang khu vực Ngã 5 trung tâm huyện, Dự án cải tạo nâng cấp tuyến đường Khu dân cư số 3 từ nguồn hỗ trợ chương trình nông thôn mới, Dự án trồng rừng phủ xanh đất trống đồi nùi trọc ứng phó với biến đổi khí hậu, Dự án cải tạo hệ thống thoát nước, hè đường khu dân cư, công trình cải tạo, sửa chữa Trường Tiểu học – Mẫu giáo huyện.
Điểm mạnh về công nghiệp – xây dựng: Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Diện tích đảo nhỏ (khoảng 2,5km2), huyện đã có quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/2000 nên việc thực hiện, quản lý, giám sát các hoạt động về công nghiệp – xây dựng trên địa bàn được thuận lợi:
- Quản lý, giám sát các dự án đầu tư xây dựng trên địa bàn luôn đảm bảo chặt chẽ, hiệu quả;
- Quản lý, vận hành và sửa chữa Trạm điện cũng như hệ thống cung cấp điện năng nhanh, hiệu quả, đảm bảo an toàn.
- Quản lý, sử dụng nguồn nước ngầm đảm bảo hài hòa giữa mùa mưa và mùa khô, không lãng phí.
Điểu yếu về công nghiệp – xây dựng:
Đất va một số công trình năm trên đất khu Thương mại, khu chế biến bột cá (….ha) trước năm 2009 bị bỏ hoang đến nay, chưa có phương án di dời để huyện lấy lại quỹ đất sử dụng xây dựng một số công trình khác;
Do nằm xa đất liền, gió mùa kéo dài, nhiều cơn bão đổ bộ vào đảo nên rất khó khăn trong việc chuyên chở vật liệu xây dựng từ đất liền ra đảo nên hạn chế trong việc đảm bảo thời gian thi công các công trình;
- Nguồn điện từ máy phát điện tại Trạm điện không đủ để cung cấp cho nhân dân sử dụng và dùng cho sản xuất.
- Nguồn nước ngọt khan hiếm cũng là điểm yếu đối với huyện trong việc sinh hoạt, nuôi trồng và sản xuất.
- Huyện không phát triển được lĩnh vực công nghiệp, không tạo ra được sản phẩm từ nguồn lợi thủy sản (các sản phẩm chế biến từ hải sản).
Bảng 2.7. Sản lượng nông nghiệp – thủy sản của huyện
Nhóm ngành Nông nghiệp – Thủy sản: Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp – thủy sản năm 2017 đạt 9,2 tỷ đồng giảm 0,68 lần so với năm 2014 (năm 2014 đạt 13,46 tỷ đồng, là năm đạt giá trị cao nhất giai đoạn 2010-2017). Năm 2014 đạt giá trị cao là do huyện đảo chịu ảnh hưởng của mưa bão ít hơn các năm trước nên sản lược khai thác thủy sản được cải thiện, chăn nuôi, trồng trọt thuận lợi.
Về nông nghiệp của huyện: Gồm trồng trọt rau màu và cây ăn quả; chăn nuôi gia súc (lợn, trâu, bò, dê), gia cầm (gà, vịt, ngan, ngỗng). Sản lượng rau màu, gia súc, gia cầm tính đến nay, nếu thời tiết thuận lợi cơ bản đáp ứng nhu cầu của cán bộ, quân dân huyện đảo và đáp ứng một phần nhu cầu ngư dân trên các phương tiện khai thác thủy sản vươn khơi vào âu cảng tránh trú gió, sửa chữa nhỏ và làm hàng. Thời tiết một số năm không thuận lợi nên sản lượng nông nghiệp ít do dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm, gió mùa kèm theo hơi mặn của biển làm rau màu héo chết. Để đáp ứng nhu cầu ăn uống và sinh hoạt toàn đảo, một tháng có khoảng từ 01 đến 03 chuyến tàu của dân chở nhu yếu phẩm, rau củ quả và thực phẩm từ đất liền ra đảo.
Về thủy sản: Trên đảo có từ 20 đến 25 hộ dân dân sống chủ yếu bằng ngư nghiệp, còn lại vừa làm ngư nghiệp vừa làm dịch vụ. Bà con ngư dân chủ yếu khai thác thủy sản ven bờ, cách đảo khoảng 03 hải lý. Hải sản đánh bắt chủ yếu là các loại cá nhỏ và mực. Sản lượng tăng giảm theo mùa trong năm và theo năm.Có những năm vào mùa, bà con khai thác một ngày hàng tấn cá, mực các loại. Về khai thác bào ngư, hải sâm trong khu vực khoanh nuôi (theo Đề án 6m nước: giao cho các hộ dân để bảo vệ, khai thác) mỗi năm cũng chỉ được vài tạ (so với 15-20 năm về trước, mỗi năm bà con khai thác được hơn 30 tấn bào ngư). Như vậy, sản lượng bào ngư đã kiệt dần qua các năm.
Chính quyền địa phương luôn hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để nhân dân đầu tư phát triển nuôi trồng thủy sản; quản lý tốt việc nuôi trồng và khai thác bào ngư tại các khu vực mặt nước cho thuê; tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Trại giống bào ngư hoạt động nhằm cung cấp nguồn con giống ổn định cho nuôi trồng (Tuy nhiên, đến nay chưa có hiệu quả, chưa cung cấp được con giống phục vụ nhu cầu của nhân dân). Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Ngày 31/12/2013, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2630/QĐ-TTg của về thành lập khu bảo tồn biển Bạch Long Vĩ; Thành phố đã ban hành Quyết định số 1880/QĐ-UBND ngày 17/8/2015 về việc thành lập Ban quản lý Khu bảo tồn biển Bạch Long Vĩ. Từ năm 2015 đến nay, Ban Quản lý khu bảo tồn biển Bạch Long Vĩ đi vào hoạt động cùng với các lực lượng chức năng tích cực kiểm soát, ngăn chặn các hành vi khai thác thủy sản trái phép, tăng cường bảo vệ các rạn san hô quanh đảo, tạm dừng khai thác đối với một số loài hải sản đang có nguy cơ cạn kiệt, nhất là 22 loài hải sản đặc hữu, quí hiếm và có nguy cơ tuyệt chủng theo Quyết định thành lập khu bảo tồn biển Bạch Long Vĩ; đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền nâng cao nhận thức của nhân dân về bảo tồn biển. Tuy nhiên, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ chuyên môn của Ban Quản lý khu bảo tồn biển chưa được đầu tư đồng bộ, đặc biệt là còn thiếu các hạng mục quan trọng: Cắm phao tiêu phân vùng của khu bảo tồn;Trạm quan trắc và kiểm soát nguồn lợi; tàu, xuồng tuần tra trong khu bảo tồn; các trang thiết bị chuyên dụng phục vụ nghiên cứu khoa học… nên tình hình hoạt động của Ban Quản lý còn gặp rất nhiều khó khăn, hạn chế.
Từ tháng 12/2015 đến nay, Ban Quản lý khu bảo tồn biển đã phát hiện và phối hợp với lực lượng chức năng ngăn chặn, xử lý hơn 600 trường hợp vi phạm khai thác thủy sản trái phép trong khu bảo tồn biển.
Điểm mạnh về nông nghiệp – thủy sản:
- Có rất nhiều loại rau màu, cây ăn quả phù hợp với chất đất tại đảo nên xanh tốt quanh năm, hoa trái đầy cành.
- Có khu vực bảo tồn biển, được bảo vệ nghiêm ngặt bởi Ban Quản lý khu bảo tồn biển, tạo điều kiện bảo vệ nguồn lợi hải sản đa dạng, phong phú của đảo.
Điểm yếu về nông nghiệp – thủy sản:
- Chịu ảnh hưởng bởi yếu tố thời tiết;
- Ảnh hưởng bởi nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm từ nông nghiệp – thủy sản trên đảo.
- Sản xuất nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ; thủy sản chủ yếu là đánh bắt ven bờ, chưa vươn khơi.
Nhóm ngành Dịch vụ: Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Giá trị nhóm ngành dịch vụ năm 2017 đạt 156 tỷ, gấp 1,62 lần năm 2010, chiếm 40,35% trong cơ cấu giá trị sản xuất toàn huyện. Giá trị nhóm ngành dịch vụ chủ yếu tập trung vào doanh thu của các phương tiện dịch vụ hậu cần nghề cá, cung cấp xăng dầu, thu mua hải sản, dịch vụ bốc xếp, vận chuyển hàng hóa qua cảng và số hộ làm dịch vụ cung ứng nhu yếu phẩm phục vụ nhu cầu nhân dân trên đảo và các phương tiện vươn khơi.
Bảng 2.8. Số lượng các cửa hàng tạp vụ, giải trí, tàu dịch vụ hậu cần
Theo bảng 2.8 Trên ta thấy:
Số lượng cửa hàng tạp hóa, thực phẩm và nhà hàng dịch vụ ăn uống, giải trí tăng qua các năm, cụ thể: Năm 2010 có 13 cửa hàng tạp hóa, thực phẩm, năm 2017 có 24 cửa hàng, tăng 1,84 lần; năm 2010 có 35 nhà hàng dịch vụ ăn uống, giải trí, năm 2017 có 45 nhà hàng, tăng 1,28 lần. Số cửa hàng tạp vụ, thực phẩm và số nhà hàng dịch vụ ăn uống, giải trí tăng là do thu nhập của người dân trên đảo tăng, số ngư dân vào đảo chi tiêu cho ăn uống, nghỉ dưỡng, giải trí tăng do nhu cầu, thị hiếu va trào lưu hiện đại mặc dù lượng tàu thuyền vào đảo so với năm 2010 là giảm.
Bảng 2.9. Số lượng tàu, lượng người vào đảo; số lượng hàng hóa bốc xếp qua cảng
Số cửa hàng sửa chữa, buôn bán ngư lưới cụ giảm, cụ thể: Năm 2011 có 13 cửa hàng (năm có số cửa hàng cao nhất), năm 2017 còn có 9 cửa hàng, giảm 0,7 lần. Nguyên nhân là do số lượng tàu thuyền vào đảo giảm so với những năm trước năm 2009; do huyện không cung cấp đủ điện, nước nên không thể đầu tư mở rộng quy mô xưởng sửa chữa cho các tàu cá vươn khơi, các tàu này vào đảo chỉ sửa chữa nhỏ và về đất liền để lên đà sửa chữa, bảo dưỡng lớn. (bảng 2.8) do vài năm trở lại, ngư trường Bạch Long Vĩ có nhiều tàu làm dịch vụ hậu cần nghề cá ngay trên biển, cung cấp từ nhu yếu phẩm sinh hoạt đến ngư lưới cụ cho các tàu cá bám biển đánh bắt và làm hàng (khi gió to các tàu cá mới vào đảo tránh trú gió).
Hiện nay số lượng tàu làm dịch vụ hậu cần nghề cá, vận chuyển nhu yếu phẩm, hàng hóa từ đất liền ra đảo và ngược lại tăng mạnh. Năm 2010 có 07 tàu thì năm 2017 có 12 tàu, tăng 1,7 lần. Số lượng tàu này chủ yếu do người dân trên đảo đầu tư và một số công ty làm dịch vụ cung cấp xăng, dầu (ngoại trừ các tàu chuyển chở nguyên vật liệu xây dựng cho các công trình, dự án tại đảo). Như vậy, đây là lực lượng đi đầu, là cơ sở vô cùng quan trọng cho phát triển kinh tế –xã hội huyện đảo.
Theo bảng 2.9 trên, số lượng hàng hóa bốc xếp qua cảng tăng giảm liên tục do lượng hàng hóa qua cảng này chủ yếu là vật liệu xây dựng phục vụ các công trình, dự án xây dựng trên đảo. Năm 2014 lượng hàng hóa giảm (chỉ còn 5845 tấn) so với các năm còn lại và giảm 6,5 lần so với năm cao nhất 2015 (38000 tấn). Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Dịch vụ hậu cần của cảng và khu neo đậu tàu cá (Cảng Tây Nam, Tây Bắc đảo):
Cảng và khu neo đậu tàu phía Tây Nam Bạch Long Vĩ: Có diện tích mặt nước là 25,7ha, diện tích sử dụng để neo đậu tàu thuyền là 7,5ha. Năng lực neo đậu cho khoảng 200-300 tàu cá công suất máy từ 33CV đến 600CV vào tránh trú gió. Hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị, gồm đê kè, hệ thống chiếu sáng, cấp điện, nước, xăng dầu; hệ thống phao neo, phiêu tiêu, biển báo, treo đệm; thiết bị cẩu, xếp dỡ đều xuống cấp và thiếu. Đến nay, cảng Tây Nam chưa hoàn thiện tường chắn sóng cho toàn tuyến, chưa thể cho các tàu cá vào âu tránh bão.
Khu hậu cần nghề cá: Được quy hoạch thành từng phân khu phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, hạ tầng giao thông và hoạt động của mục đích hậu cần nghề cá,tuy nhiên hiện tại các công trình này đã hư hỏng, xuống cấp hoặc không còn thiết bị (bị bỏ hoang). Hạ tầng, trang thiết bị phục vụ quản lý vận hành cảng: Trang thiết bị phục vụ còn thiếu: Ca nô, điện đàm, thiết bị bảo hộ … Thiếu phương tiện thu gom, vớt rác, vận chuyển rác thải, cơ sở sử lý rác thải …
Cảng và khu neo đậu tàu phía Tây Bắc Bạch Long Vĩ: được Ủy ban nhân dân thành phố phê duyệt đầu tư tại Quyết định số 1725/QĐ-UBND ngày 18/10/2010 và phê duyệt điều chỉnh tại Quyết định số 93/QĐ-UBND ngày 24/01/2011; tổng kinh phí 560,503 tỷ đồng, diện tích 20,2 ha, đảm bảo cho trên 152 tàu thuyền công suất đến 600 DWT neo đậu tránh trú bão đang được đầu tư giai đoạn I, uớc khối lượng thực hiện đến ngày 30/6/2017 là 375,55 tỷ đồng. Đến nay, đang thực hiện giai đoạn 1, chưa đưa vào sử dụng.
Thực hiện Nghị quyết số 32-NQ/TW, ngày 05/8/2003 của Bộ Chính trị, đã xác định “Xây dựng đảo Bạch Long Vĩ sớm trở thành trung tâm chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá cho các tỉnh ven biển Bắc Bộ”, Kết luận số 72-KL/TW, ngày 10/10/2013 của Bộ Chính trị, đã xác định lại “Xây dựng đảo Bạch Long Vĩ thành trung tâm hậu cần nghề cá và tìm kiếm cứu nạn khu vực phía Bắc”; Nghị quyết Đại hội IV của huyện (nhiệm kỳ 2010-2015) xác định: Tập trung xây dựng huyện đảo sớm trở thành trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá cho các tỉnh ven biển Bắc bộ, …; Nghị quyết Đại hội V của huyện (nhiệm kỳ 2015-2020) xác định: Đẩy mạnh huy động mọi nguồn lực xây dựng Bạch Long Vĩ sớm trở thành trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá …, [4],[5],[7], [8], thì đến nay, Bạch Long Vĩ chưa thể trở thành trung tâm chế biến và dịch vụ hậu cần nghề cá cho các tỉnh ven biển Bắc Bộ và cũng chưa trở thành trung tâm hậu cần nghề cá theo các nghị quyết và kết luận đã đề ra. Hiện tại, chỉ cố một số hộ gia đình cung cấp dịch vụ sửa chữa, duy tu, bảo dưỡng nhỏ lẻ, cung cấp ngư lưới cụ, nước ngọt đóng bình, 02 công ty cung cấp xăng dầu (03 tàu chở xăng dầu cung cấp trực tiếp trong âu cảng Tây Nam đảo. Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Bảng 2.10. Số liệu cung cấp xăng dầu, nước ngọt
Điểm mạnh về dịch vụ:
- Tiềm lực kinh tế các hộ dân, cá nhân đầu tư tàu dịch vụ vận chuyển, cung cấp nhu yếu phẩm, xăng dầu, nước ngọt tại đảo lớn.
- Số lượng nhà hàng cung cấp dịch vụ ăn uống, giải trí lớn so với diện tích đảo.
Điểm yếu về dịch vụ:
Phụ thuộc vào thời tiết.(Ví dụ: Gió mùa to các phương tiện đánh bắt của ngư dân các từ các tỉnh miền Trung đến Quảng Ninh đánh bắt tại ngư trường Bạch Long Vĩ vào đảo tránh trú gió nhiều, mỗi đợt vào nhiều có đến 300 đến 400 tàu các loại tương đương với khoảng từ 2100 đến 2800 người.
Huyện không có đội quản lý thị trường nên hàng hóa tràn ra đảo khó kiểm soát, trong đó có những hàng hóa kém chất lượng, hảng giả, hàng nhái. Huyện đã thành lập Tổ Liên ngành để thực hiện một số chức năng, nhiệm vụ còn thiếu như tham mưu, giúp UBND huyện trực tiếp thực hiện công tác kiểm tra, xử lý vi phạm
hành chính trên các lĩnh vực tài nguyên, bảo vệ môi trường, quy hoạch, xây dựng, thương mại, dịch vụ, chất lượng, nhãn mác sản phẩm hàng hóa và các lĩnh vực khác. Tuy nhiên, đến nay do hoạt động không hiệu quả, Tổ Liên ngành đã bị giải thể.
Nhà hàng dịch vụ ăn uống, giải trí số lượng lớn so với diện tích đảo song hầu hết là nhỏ, không tiện nghi, giá cả còn dao động lớn, phong cách phục vụ không chuyên nghiệp. Hiện tại có khoảng 40 phòng nghỉ phục vụ du khách, trong đó có 10 phòng nghỉ của Huyện ủy, 08 phòng nghỉ tại Nhà thể thao đa năng kết hợp tránh trú bão, 10 phòng phòng dưới khu dân cư do tư nhân đầu tư là tiện nghi, còn lại không đủ tiêu chuẩn cho du khách nghỉ dưỡng. Như vậy, 100 du khách ra đảo cùng một lúc, thì số phòng nghỉ tại đảo là rất thiếu. Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Chưa có dịch vụ ngân hàng tại đảo nên cán bộ, quân, dân và ngư dân gặp nhiều khó khăn khi cần các giao dịch liên quan đến tiền: Gửi, vay, rút tiền, lưu chuyển tiền….
Theo Bảng 2.11, Số lượng khách ra thăm, nghỉ dưỡng và giao lưu tại đảo tăng dần qua các năm. Năm 2017 có 720 lượt khách, tăng 2,6 lần so với năm 2010 (280 lượt khách). Số lượng khách thăm, nghỉ dưỡng và giao lưu tại đảo phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết. Nếu cấp gió từ cấp 5 trở lên, biển động tàu chở khách du lịch không thể chạy ra đảo được do nguy hiểm đến tính mạng du khách.
Bảng 2.11. Số lượng khách ra nghỉ dưỡng và giao lưu tại đảo Bạch Long Vĩ
Từ năm 2017, Công ty Hà Nội Etoco phối hợp cùng Tổng đội Thanh niên xung phong Hải Phòng (Một trong những đơn vị nòng cốt xây dựng và phát triển đảo Bạch Long Vỹ) đã tổ chức các chương trình du lịch ra đảo Bạch Long Vĩ theo chương trình trợ giá của thành phố Hải Phòng(Đã đưa 09 đoàn khách với hơn 720 lượt người ra thăm đảo Bạch Long Vĩ).
Mặc dù quang cảnh đảo đẹp, có đồi cao 60m phóng tầm mắt ra xa, có bãi đá rộng khi triều xuống, du khách có thể đi khám phá thiên nhiên, các hệ sinh thái: hệ sinh thái bãi triều cát, hệ sinh thái bãi triều đá – cuội – sỏi, hệ sinh thái rạn đá – san hô, hệ sinh thái rong cỏ biển và đặc biệt là đảo Bạch Long Vĩ có bãi biển cát trắng, nước trong xanh đẹp tuyệt, du khách có thể tăm biển, bơi, lặn…, tuy nhiên, cho đến nay, xét về góc độ dịch vụ du lịch, thăm quan, nghỉ dưỡng thì huyện chưa phát triển. Hiện nay, huyện chưa có công trình, dự án nghỉ dưỡng, khu vui chơi giải trí nào có tầm cỡ, đạt tiêu chuẩn quốc gia và quốc tế.
Cả 02 cảng cá của huyện Bạch Long Vĩ đều chưa đáp ứng tiêu chí cảng cá loại I và khu tránh trú bão cấp vùng theo quy định cảu Chính phủ quản lý cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá; chưa đáp ứng với yêu cầu dịch vụ hậu cần và tránh trú bão cho khối tàu khai thác thủy sản xa bờ có công suất lớn. Dịch vụ bốc xếp, vận chuyển hàng hóa qua cảng còn lạc hậu, thiếu thốn trang thiết bị. Hiện nay, cảng Tây Nam Bạch Long Vĩ mới chỉ có 02 cần cẩu loại 2 tấn, 03 phương tiện chuyên chở đã xuống cấp, không đủ năng lực để bốc xếp, vận chuyển hàng hóa qua cảng [6],[36].
2.3.4.2. Cơ cấu giá trị SX các nhóm ngành của huyện Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
- Bảng 2.12. Cơ cấu giá trị SX các nhóm ngành của huyện
- Biểu đồ 2.4. Cơ cấu giá trị SX các nhóm ngành của huyện
Về cơ cấu giá trị SX các nhóm ngành của huyện năm 2017: Công nghiệp – xây dựng , Nông nghiệp – thủy sản, Dịch vụ tương ứng: 63,7% – 2,02% – 34,28%. Nhóm ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất hiện nay, chiếm nửa già là nhóm ngành Công nghiệp – xây dựng (chủ yếu là xây dựng), tiếp đến là nhóm ngành Dịch vụ và thấp nhất là nhóm ngành Nông nghiệp – thủy sản. Năm 2010, cơ cấu các nhóm ngành Công nghiệp – xây dựng , Nông nghiệp – thủy sản, Dịch vụ tương ứng: 21,97% – 6,05% – 71,97%, theo đó, nhóm ngành Dịch vụ đứng đầu cơ cấu, tiếp đến là Công nghiệp – xây dựng và thấp nhất là Nông nghiệp – thủy sản. Như vậy, giai đoạn 2010-2017, cơ cấu các nhóm ngành đã chuyển dịch theo hướng lấy Công nghiệp – xây dựng làm chủ đạo cho sự phát triển.
Tuy nhiên, với chỉ tiêu phấn đấu cơ cấu giá trị SX các nhóm ngành của huyện được đè ra tại hai kỳ Đại hội: Đại hội IV của Đảng bộ huyện (nhiệm kỳ 2015-2020) và Đại hội V của Đảng bộ huyện (nhiệm kỳ 2015-2020) thì cơ cấu giá trị SX các nhòm ngành của huyện đã không đạt như kỳ vọng.
Theo bảng 2.13 trên ta thấy, nhiệm kỳ 2010-2015, chỉ tiêu cơ cấu giá trị SX các nhóm ngành phát triển theo hướng: Thương mại – Dịch vụ, Công nghiệp – xây dựng, Nông nghiệp – thủy sản tương ứng: 82% – 10,5% – 7,5%., kết quả thực hiện theo hướng: Công nghiệp – Xây dựng, Dịch vụ, Nông nghiệp – Thủy sản tương ứng với 59,12% – 37,82% – 3,06%. Nhiêm kỳ 2015-2020, chỉ tiêu cơ cấu giá trị SX các nhóm ngành phát triển theo hướng: Công nghiệp – Xây dựng, Dịch vụ, Nông nghiệp – Thủy sản tương ứng với 52% – 43% – 5%, kết quả thực hiện tương ứng là: 63,7% – 34,28% – 2,02%.
- Bảng 2.13. Chỉ tiêu cơ cấu giá trị SX và kết quả thực hiện Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Từ bảng 2.14 trên ta thấy, nguồn vốn huy động cho đầu tư phát triển kinh tế – xã hội huyện thấp so với các huyện thuộc thành phố Hải Phòng. So với huyện đảo Cồn Cỏ thuộc tỉnh Quảng Trị giai đoạn 2010-2015 thì huyện đảo Bạch Long Vĩ cũng chỉ nhỉnh hơn một chút (Nguồn vốn đầu tư các dự án trọng điểm huyện đảo Cồn Cỏ: 700,76 tỷ đồng, còn tổng nguồn vốn đầu tư huyện Bạch Long Vĩ: 840 tỷ đồng). Cả hai huyện đảo nguồn vốn chủ yếu là từ ngân sách Nhà nước, đều đầu tư các công trình, dự án cơ sở hạ tầng nhằm phát triển kinh tế – xã hội huyện. Nếu như so sánh trên mọi lĩnh vực thì huyện đảo Bạch Long Vĩ có phần nhỉnh hơn huyện đảo Cồn Cỏ: Có diện tích lớn hơn (đảo Bạch Long Vĩ: 2,5km2, đảo Cồn Cỏ:
2,2km2), dân số đông hơn (năm 2016, dân số Bạch Long Vĩ: 1096 người, Cồn Cỏ: 500 người), …Bạch Long Vĩ là đảo tiền tiêu của tổ quốc, với tiềm năng lớn (là 01 trong 8 ngư trường lớn của Vịnh Bắc Bộ), Huyện Bạch Long Vĩ là huyện trực thuộc thành phố Hải Phòng, một trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương, trung tâm phát triển kinh tế lớn của vùng duyên hải Bắc Bộ, đô thi loại 1 cấp quốc gia… Như vậy, đảo Bạch Long Vĩ vô cùng quan trọng và xứng đáng được đầu tư nhiều hơn nữa trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng – an ninh của thành phố và cả nước.
Tuy nhiên, Huyện có được nguồn vốn của Nhà nước còn khó khăn nhưng việc sử dụng nguồn vốn giai đoạn 2010-2017 tại Bạch Long Vĩ hiệu quả lại không cao khi đầu tư một số công trình, dự án xét về công năng là chưa cần thiết hoặc đầu tư dàn trải, không tập trung, làm lãng phí nguồn vốn. Ví dụ:
Dự án trồng rừng phòng hộ phủ xanh đất trống, đồi núi trọc thích ứng với biến đổi khí hậu huyện Bạch Long Vĩ hiệu quả không cao, do điều kiện thời nên tỷ lệ cây sống không cao, hệ thống tường rào bảo vệ bằng dây thép gai nên qua 2 năm đã rỉ sét, nhiều đoạn đứt nối khiến trâu, bò vào khu vực rừng trồng phá hoại.
Dự án Xây dựng Quảng trường, cổng chào Bạch Long Vĩ, Dự án cải tạo, sửa chữa và nâng cấp Trung tâm văn hóa huyện Bạch Long Vĩ (đập bỏ Hội trường cũ với sức chứa 100 chỗ ngồi, hiện trạng còn sử dụng tốt, công năng sử dụng vẫn hiệu quả để xây Hội trường mới sức chứa 250 chỗ) là chưa cần thiết, do còn rất nhiều dự án rất cần thiết nhưng lại chưa có nguồn vốn như Dự án đóng mới tàu thủy chở khách và hàng hóa ra đảo Bạch Long Vĩ. (Tổng nguồn vốn đầu tư 03 dự án trên vào khoảng 37,066 tỷ đồng trong khi dự án đóng mới tàu chở khách và hàng hóa ra đảo vô cùng cần thiết thì lại còn thiếu 90,31 tỷ đồng, đến nay đã hạ thủy nhưng vẫn chưa đi vào khai thác). Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
2.3.4.4. Kết quả thu, chi ngân sách
- Bảng 2.15. Thu, chi ngân sách của huyện
- Theo Bảng 2.15 trên, tổng thu ngân sách địa bàn do huyện quản lý rất nhỏ.
Tổng thu hàng năm khoảng hơn 1 tỷ đồng, năm 2011 thu hơn 2,5 tỷ đồng là do thu từ hoạt động xổ số kiến thiết cao (1,94 tỷ, gấp khoảng 3 lần so với các năm khác). Tuy nhiên, tổng chi ngân sách hàng năm (do thành phố cấp, bình quân hơn 30 tỷ đồng mỗi năm) của huyện lớn, gấp từ 10 đến 20 lần so với thu ngân sách hàng năm (không tính nguồn vốn nhà nước đầu tư các công trình, dự án trên huyện). Tổng chi ngân sách của huyện gồm: Chi xây dựng cơ bản, chi thanh toán cá nhân, chi nghiệp vụ chuyên môn, chi bảo hiểm phương tiện, hội nghị, tiếp khách… Theo bảng trên ta thấy chi cho xây dựng cơ bản của huyện khá khiêm tốn, chỉ bằng 1/8 tổng chi ngân sách.
2.3.5. Về văn hóa xã hội
Bảng 2.16. Kết quả thực hiện một số chỉ về xã hội của huyện năm 2017
Theo Bảng 2.16 trên ta thấy kết quả thực hiện năm 2017 huyện Bạch Long Vĩ đã đạt được các chỉ tiêu về xã hội theo kế hoạch đề ra: Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên được giữ vững ở dưới mức 1%, duy trì tỷ lệ lao động có việc làm và qua đào tạo, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 100% và giữ vững không có hộ nghèo.
2.3.5.1. Về dân cư và tỷ lệ lao động Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Theo Bảng 2.17 trên, dân số huyện đảo chưa tính lực lượng quân đội, biên phòng, cảnh sát biển, kiểm ngư (do tính chất bí mật quân sự). Nếu tính tổng số cán bộ, chiến sĩ của các đơn vị này ước vào khoảng 400 người. Như vậy dân số thường trực trên đảo tính cả lực lượng vũ trang cũng vào khoảng trên 1500 người.
Tỷ lệ phụ nữ trên 40%, tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động rất lớn, trên 95% số dân toàn đảo. Như vậy, tại đảo số lượng lao động chiếm gần như tối đa, đây là lực lượng lao động chính tác động trực tiếp đến phát triển kinh tế – xã hội của huyện. Phần còn lại là người già rất ít, trẻ em trung bình vào khoảng từ 45 đến 50 cháu (từ 1 tuổi đến 10 tuổi). Các cháu học mẫu giáo và tiểu học tại đảo, đủ tuổi học trung học cơ sở là bố mẹ cho các cháu vào đất liền ăn học.
- Bảng 2.17. Dân số và tỷ lệ độ tuổi lao động tại huyện đảo
- Biểu đồ 2.5. Dân số tại đảo Bạch Long Vĩ giai đoạn 2010-2017
Từ năm thành lập huyện Bạch Long Vĩ, huyện đã nhiều lần di dân, cho đến nay đã có 134 hộ dân thường trú với 585 nhân khẩu, ngoài ra huyện còn có 95 hộ dân tạm trú với 205 nhân khẩu và hơn 700 người là cán bộ, công chức, viên chức và lao động của các cơ quan, đơn vị đứng chân trên đảo, dân cư lưu trú làm nghề tự do. Các hộ dân ra đảo lập nghiệp chủ yếu làm ngư nghiệp, phần nhỏ là những hộ gia đình có chồng là lính đảo, lấy vợ đưa ra đảo lập nghiệp, định cư lâu dài, sinh con, nuôi con ăn học từ nhỏ tại đảo. Đặc biệt, huyện đảo Bạch Long Vĩ không có hộ nghèo.
Dân định cư trên đảo đến từ rất nhiều nơi trong đất liền: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Thanh hóa, Hà Tĩnh, các tỉnh miền núi phía Bắc….Tuy có quê quán từ nhiều nơi song tất cả đều coi Bạch Long Vĩ là quê hương thứ hai của mình. Mọi người sống an bình, tình hình an ninh trật tự luôn ổn định.
Khu vực cư trú, làm việc cán bộ, dân cư tập trung ở phía Nam của đảo.
2.3.5.2.Về giáo dục – đào tạo Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
- Bảng 2.18. Số lượng các cháu mầm non và học sinh tiểu học các năm học
- Biểu đồ 2.6. Số lượng các cháu học sinh mầm non và tiểu học qua các năm
Trường Tiểu học – Mẫu giáo Bạch Long Vĩ là trường phổ thông công lập có hai bậc học là Mầm non và Tiểu học, là cơ sở giáo dục duy nhất tại huyện đảo Bạch Long Vĩ, Thành phố Hải Phòng.
Theo Bảng 2.18, ta thấy số học sinh của Trường rất ít và giảm dần qua các năm học: Năm học 2010-2011 có 33 cháu mầm non thì nay, năm học 2018-2019, chỉ có 26 cháu; năm học 2010-2011 có 25 học sinh tiểu học thì nay, năm học 2018-2019, chỉ có 16 học sinh. Số lượng học sinh giảm dần là do tình hình kinh tế, thu nhập của người dân tăng, gia đình các cháu có điều kiện cho các cháu về đất liền học theo nguyện vọng, với mong muốn các cháu có đầy đủ điều kiện học tập và học tập tốt hơn so với ở đảo, thứ hai là do số hộ dân tăng không đáng kể, tỷ lệ sinh thấp.
Số lượng giáo viên, hợp đồng lao động tính đến ngày thán 6/2018 là: 08 người, cơ bản đáp ứng được hoạt động giảng dạy của nhà trường. Tuy nhiên, Trường Tiểu học – Mẫu giáo huyện chưa có thầy, cô giáo dạy ngoại ngữ cho các cháu.Như vậy là so với đất liền, các cháu học sinh tiểu học tại đảo rất thiệt thòi. Mặc dù các thầy, cô giáo đã cố gắng học hỏi, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ song vẫn còn hạn chế, dẫn đến chất lượng giảng dạy, chất lượng học sinh không cao. Hầu hết các cháu khi học hết bậc tiểu học tại đảo nhưng khi về đất liền học bậc trung hoc cơ sở đều không theo kịp các bạn trong đất liền.
Về cơ sở hạ tầng nhà trường: Bậc tiểu học có 01 dãy nhà 2 tầng với 05 phòng học và các phòng chức năng. Năm 2011, Công ty tàu dịch vụ Dầu khí (PTSC Marine) đơn vị trực thuộc Tổng Công ty Cổ phần Dịch vụ Kỹ thuật Dầu khí (PTSC) thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN) đã trao tặng và khánh thành khu nhà dành cho bậc mầm non, có 03 phòng học, thực hành, 01 bếp ăn, với số vốn đầu tư 03 tỷ đồng. Với số lượng học sinh bậc tiểu học và bậc mầm non thì cơ sở hạ tầng nhà trường đáp ứng được nhu cầu học tập cũng như giảng dạy. Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Về cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy của trường còn nhiều thiếu thốn, không có phòng máy vi tính cho các cháu thực hành.
2.3.5.3. Về y tế
Bảng 2.19. Số lượng bệnh nhân được khám chữa bệnh tại đảo
Theo Bảng 2. Trên, ta thấy số lượng bệnh nhân ngày một tăng, năm 2017 có 5837 bệnh nhân được khám, chữa bệnh, gấp 3,3 lần so với năm 2010 (có 1778 bệnh nhân). Số ca cấp cứu nhiều nhất 14 ca trên 01 năm, chủ yếu là ngư dân do tai nạn nghề nghiệp hoặc ngộ độc hải sản; số bệnh nhân chuyển tuyến không nhiều (do bệnh nặng, cán bộ, quân, dân trực tiếp vào đất liền thăm khám) trừ trường hợp bất ngờ xảy ra do tai nạn lao động (chủ yếu là ngư dân).
Biểu đồ 2.7. Số bệnh nhân được khám chữa bệnh
Năm 2016, Bệnh viện đa khoa huyện được UBND thành phố Hải Phòng ra quyết định thành lập Trung tâm Y tế Quân dân y Bạch Long Vĩ, được đầu tư bổ sung một số trang thiết bị, công tác quân dân y kết hợp đã được đẩy mạnh. Đặc biệt Trung tâm y tế quân dân y luôn được tăng cường bổ sung các bác sỹ có tay nghề cao của Bênh viện Việt Tiệp, Kiến An và Quân Y 5 theo Đề án 1816 năm 2008 của Bộ Y tế nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh ở tuyến dưới [53].
Về cơ sở hạ tầng, Trung tâm y tế quân dân y năm 2012 được sửa chữa, đầu tư xây dựng mới khu nhà 2 tầng với quy mô 20 giường bệnh, và các phòng chức năng. Trang thiết bị y tế tuy chưa đầy đủ và hiện đại nhưng cũng đã có: Máy chụp Xquang cao tần tổng hợp, máy siêu âm, sinh hóa máu… Năm 2017, Trung tâm y tế quân dân y đã được cải tạo, nâng cấp thêm khu nhà 3 tầng chức năng khoa khám bệnh với giá trị đầu tư: 4,982 tỷ đồng, góp phần tăng cường cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng khám chữa bênh. Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Về đội ngũ y bác sĩ: Hiện Trung tâm y tế quân dân y có 04 bác sĩ, 05 y sĩ, 04 y tá, 01 nữ hộ sinh, 01 dược sĩ, 01 kế toán. Mặc dù lực lượng và trình độ y, bác sĩ còn hạn chế nhưng Trung tâm y tế quân dân y Bạch Long Vĩ luôn nêu cao tinh thần cứu người là trên hết nên hiện nay, cơ bản đáp ứng được số lượng bệnh nhân. Tuy nhiên, trong thời gian tới nếu số lượng bệnh nhân vượt quá con số 8000 người thì Trung tâm y tế quân dân y Bạch Long Vĩ cần phải tăng cường y bác sĩ và số giường bệnh nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân.
2.3.5.4. Về hóa văn nghệ, thể dục thể thao
Chính quyền huyện luôn phối hợp với các tổ chức đoàn thể tăng cường tổ chức các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, nhất là các dịp lễ, tết, các đoàn công tác ở đất liền ra thăm, giao lưu với cán bộ, quân dân huyện đảo.
Trong đó, Huyện đoàn Bạch Long Vĩ có đội văn nghệ xung kích luôn sẵn sàng phục vụ nhu cầu văn nghệ của các cơ quan, đơn vị và đặc biệt là giao lưu văn nghệ với du khách ra thăm đảo.
2.3.5.5. Về văn hóa tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo
Huyện đảo Bạch Long Vĩ cũng giống như bao làng quê Việt Nam trong đất liền, có đền, có chùa, có lầu phật, là nơi tuần rằm, mồng một cán bộ, quân, dân và ngư dân các tỉnh đến thắp hương, cầu khấn cho huyện đảo ngày càng phát triển, cán bộ, quân, dân có sức khỏe, công tác, làm ăn buôn bán thuận lợi, tàu thuyền đầy ắp cá tôm.
Tết nguyên đán nghi ngút khói hương, tiếng cười, nói rộn ràng một góc đảo, những chàng trai, cô gái chơi các trò chơi dân gian như kéo co, bịt mắt đập bóng vui khôn tả. Anh em cán bộ, quân dân chúc nhau từng chén rượu, tay bắt, mặt mừng phấn khởi chào đón một mùa xuân mới tràn đầy hạnh phúc giữa biển đảo quê hương.
Đảo không có người theo tôn giáo, không có tổ chức tôn giáo,chỉ có chùa,lầu phật, đền thờ Đức Thánh Trần là nơi trấn giữ mảnh đất linh thiêng của tổ quốc. Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
2.3.5.6. Về công tác bảo hiểm xã hội:
Thu Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm tự nguyện, cấp thẻ BHYT cho nhân dân đang sinh sống trên địa bàn huyện theo đúng quy định. Năm 2017, thu Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm tự nguyện đạt trên 2,1 tỷ đồng, đạt 107% kế hoạch được giao, cấp 323 thẻ BHYT cho nhân dân đang sinh sống trên địa bàn huyện với tổng số tiền trên 203 triệu đồng, ký hợp đồng khám chữa bệnh năm 2017 cho 54 trẻ em dưới 6 tuổi với số tiền gần 37 triệu đồng. Bảo hiểm xã hội thành phố, huyện đã hướng dẫn các cơ quan, đơn vị trên địa bàn thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm Y tế sửa đổi, bổ sung và các văn bản hướng dẫn. Các hoạt động thu, chi bảo hiểm đảm bảo đúng đối tượng, chính sách và kịp thời.
Điểm mạnh về văn hóa xã hội:
Có tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động lớn (trên 95%).
Thường xuyên giao lưu văn nghệ với các đoàn khách từ đất liền ra đảo; hoạt động thể thao luôn luôn được tổ chức, tạo niềm vui, hứng khởi cho cán bộ, quân và dân huyện đảo, góp phần thắm kết tình quân dân, tình yêu biển đảo quê hương, tô đẹp thêm bức tranh về kinh tế – văn hóa xã hội huyện.
Điểm yếu về văn hóa xã hội:
Sức ép về công văn việc làm lớn do nguồn lợi thủy sản ngày một cạn kiệt; dịch vụ hậu cần nghề cá giảm do số lượng ngư dân lên đảo ít hơn trước.
Chưa tổ chức được lễ hội truyền thống của đảo
Trình độ, kiến thức giảng dạy của các thầy, cô giáo còn hạn chế (do đảo xa đất liền nên các thầy cô giáo không thường xuyên được giao lưu, học hỏi kinh nghiệm), nhất là các cháu còn nhiều thiệt thòi do nhà trường chưa có thầy, cô giáo dạy ngoại ngữ, chưa có phòng máy vi tính….. Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Cơ sở vật chất, trang thiết bị khám, chữa bệnh của Trung tâm y tế quân dân y còn ít, lạc hậu; trình độ chuyên môn các y, bác sỹ còn hạn chế, nguyên nhân là do nhà nước, thành phố chưa thực sự đầu tư, số lượng bệnh nhân cấp cứu còn ít nên các y, bác sỹ không thường xuyên tiếp xúc dẫn đến thiếu kinh nghiệm, ít cọ sát trong quá trình thăm, khám bệnh nhân.
2.3.6. Về áp dụng khoa học công nghệ
Việc áp dụng khoa học công nghệ tại đảo thực sự “nghèo nàn, lạc hậu”. Đây là mấu chốt sự phát triển kinh tế – xã hội, tuy nhiên về nhận thức của lãnh đạo huyện chưa thật sự quan tâm. Từ năm 2010 đến nay hầu như không áp dụng nhiều phục vụ nhu cầu cuộc sống của cán bộ, quân, dân huyện đảo. Ngoài các máy phát điện được đầu tư từ lâu; khu trại giống bào ngư thử nghiệm xong bỏ hoang; nhà đốt rác trên Tiểu đoàn phòng thủ đảo bỏ hoang.
2.3.7. Về quốc phòng, an ninh
Trên địa bàn huyện, hiện có các lực lượng vũ trang: Tiểu đoàn phòng thủ đảo, Trạm Rada 27 (rada phòng không), Trạm Rada 490 (rada mặt biển), Trạm Trinh sát kỹ thuật, Trạm Cảnh sát biển, Đồn Biên phòng Bạch Long Vĩ, Ban Chỉ huy quân sự huyện, Công an huyện.
Về công tác quân sư – quốc phòng: Các đơn vị LLVT trên địa bàn huyện
hàng năm tổ chức triển khai thực hiện toàn diện các nhiệm vụ, đảm bảo an toàn mọi mặt về người và vũ khí trang bị, thực hiện tốt công tác trực sẵn sàng chiến đấu, xử lý các tình huống, không để bị động, bất ngờ xảy ra, đặc biệt là trong các dịp lễ, tết, các đoàn công tác của lãnh đạo trung ương ra đảo. Triển khai giao ban công tác đóng quân canh phòng hàng quý và tổng kết công tác quân sự quốc phòng – địa phương để đề ra phương hướng nhiệm vụ, giải pháp đảm bảo thực hiện tốt công tác quân sự – quốc phòng địa phương hàng năm. Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Về công tác bảo vệ chủ quyền biển, đảo: Luôn thực hiện tốt Quy chế phối hợp giữa các đơn vị LLVT trên địa bàn; phối hợp chặt chẽ trong công tác cảnh giới vùng trời và bảo vệ chủ quyền biển đảo, tăng cường công tác tuần tra kiểm soát trên biển. Giai đoạn 2011-2017, đã phát hiện 5.608 lượt tàu cá Trung Quốc vi phạm chủ quyền, khai thác trộm hải sản cách đảo từ 2 – 15 hải lý.
Về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội: Công an huyện thực hiện có hiệu quả quy chế phối hợp với các lực lượng trong đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn các dịp lễ, Tết, đón các đoàn khách ra thăm và làm việc tại đảo; làm tốt công tác bảo vệ bí mật Nhà nước, bảo vệ nội bộ; công tác tuần tra, kiểm soát, phòng ngừa tội phạm, tuyên truyền vận động nhân dân tích cực tham gia phòng ngừa, phát hiện, tố giác tội phạm, nghiên cứu xây dựng, triển khai mô hình “Bạch Long Vĩ – Đảo bình yên – Bền vững” nhằm nâng cao hiệu quả phong trào “Toàn dân bảo vệ ANTQ” và xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Công tác đảm bảo trật tự ATGT, quản lý nhân khẩu được duy trì tốt. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.
Công tác phòng chống thiên tai – tìm kiếm cứu nạn: Được chuẩn bị theo phương châm 4 tại chỗ (chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện vật tư tại chỗ, hậu cần tại chỗ). Ban Chỉ huy PCTT&TKCN huyện luôn chủ động xây dựng kế hoạch, điều chỉnh bổ sung các phương án phòng chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn, bổ sung trang thiết bị, cơ sở vật chất, lương thực dự trữ phù hợp với tình hình thời tiết, mưa bão hành năm. Giai đoạn 2009-10/2018: đã triển khai phòng chống 25 cơn bão đổ bộ trực tiếp vào đảo; cứu hộ 13 phương tiện với 93 thuyền viên gặp nạn trên khu vực biển Bạch Long Vĩ. Năm 2016, huyện đã chỉ đạo Ban chỉ huy PCTT&TKCN huyện, các đơn vị lực lượng vũ trang và ngư dân trên địa bàn tích cực phối hợp với các lực lượng tìm kiếm cứu nạn của Bộ Quốc phòng, sở ngành thành phố tổ chức tìm kiếm cứu nạn máy bay SU-30MK2 và CASA 212 gặp nạn trên khu vực biển Bạch Long Vĩ. Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
Đối với Trạm Tìm kiếm cứu nạn Bạch Long Vĩ, hiện được giao cho Ban Chỉ huy Quân sự huyện quản lý. Trạm được thành lập từ năm 2015 đến nay, tuy nhiên, trang thiết bị của Trạm (gồm 04 xuồng máy nhỏ) chưa lắp máy, chưa chạy thử bao giờ.
Công tác phòng cháy chữa cháy: Luôn coi trọng công tác phòng chống cháy rừng và cháy nổ tại khu vực Âu cảng Tây Nam (luôn thường trực 05 tàu xăng dầu với khối lượng hơn 90 tấn), khu vực dân cư và các cơ quan, đơn vị. Đội Cảnh sát PCCC Bạch Long Vĩ đã chủ động phối hợp với Đồn Biên phòng, Công an huyện, Ban quản lý Cảng và khu neo đậu tàu tiến hành kiểm tra công tác đảm bảo an toàn phòng cháy chữa cháy các phương tiện neo đậu trong khu vực Âu Cảng; tăng cường công tác kiểm tra, hướng dẫn các hộ kinh doanh trên địa bàn đầu tư trang bị các hệ thống an toàn phòng cháy chữa cháy.
Điểm mạnh: Đảo Bạch Long Vĩ, đảo tiền tiêu của tổ quốc, biên giới trên biển nên tại đây hội tụ hầu như đầy đủ các đơn vị LLVT đóng quân trên đảo; có sự phối hợp chặt chẽ giữa các LLVT trong công tác cảnh giới vùng trời và bảo vệ chủ quyền biển đảo, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Điểm yếu: Các trang thiết bị phục vụ công tác phòng cháy chữa cháy còn thiếu rất nhiều; các tàu xăng dầu neo đậu thường trực trong âu cảng là mối nguy hại vô cùng lớn nếu xảy ra cháy, nổ.
Tiểu kết chương 2
Chương 2 đã phân tích môi trường bên ngoài, môi trường bên trong huyện Bạch Long Vĩ. Với những cơ hội, nguy cơ đe đối với huyện đảo, những điểm mạnh, điểm yếu của huyện đảo, từ đó ta đưa ra được các phương án chiến lược đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của huyện đảo. Từ thực tế, từ cái nhìn nhận của tác giả, tác giả nhận thấy huyện đảo Bạch Long Vĩ còn rất nhiều việc phải làm, vì có quá nhiều điểm yếu nội tại cần phải khắc phục nếu muốn phát triển đi lên trong thời gian tới. Tác giả nghiêp về Phương án chiến lược W-O: Tận dụng những cơ hội bên ngoài nhằm khắc phục các điểm yếu của huyện đảo.
Trên cơ sở dự báo tương lai của huyện đảo với cái tâm mở, chương 2 này sẽ là cơ sở để xác định tầm nhìn, mục tiêu lựa chọn phương án phù hợp nhất và giải pháp tổ chức thực hiện tại chương 3. Luận văn: Phân tích phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Đề xuất phát triển kinh tế xã hội huyện Bạch Long Vĩ
