Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng hát đúm tại Thủy Nguyên xưa và nay hay nhất năm 2022 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng và giải pháp khai thác hát đúm Thủy Nguyên, Hải Phòng phục vụ hoạt động du lịch dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Hoạt động hát Đúm tại Thủy Nguyên
Ngày 4/9/2018 Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Ngọc Thiện đã ký ban hành Quyết định số 3325/QĐ-BVHTTDL về việc công bố Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Các di sản văn hóa phi vật thể được công nhận thuộc 5 loại hình: Tri thức dân gian, Nghệ thuật trình diễn dân gian, Lễ hội truyền thống, Tập quán xã hội và tín ngưỡng và Nghề thủ công truyền thống. Rất vinh dự khi lần này hát Đúm Thủy Nguyên (xã Phục Lễ, xã Phả Lễ, xã Lập Lễ, xã Tam Hưng, xã Ngũ Lão, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng)đã được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia lần này cùng với 7 di sản khác đó là Kỹ thuật làm giấy bản của người Dao đỏ (thị trấn Việt Quang, huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang); Lễ hội Đền Quả Sơn (xã Bồi Sơn, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An); Lễ hội Đền Lăng Sương (xã Trung Nghĩa, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ); Lễ cúng trưởng thành của người Ê Đê (huyện Sông Hinh, huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên); Lễ vía Bà Linh Sơn Thánh Mẫu – Núi Bà Đen (thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh); Nghệ thuật múa rối nước ở Nguyên Xá và Đông Các (xã Nguyên Xá, xã Đông Các, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình); Nghề đúc đồng cổ truyền làng Chè (xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa).(Theo báo An ninh Hải Phòng)
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Trong kho tàng dân ca người Việt có một loại hình ca hát đối đáp của nam nữ thanh niên: Hát Đúm. Hát Đúm có ở nhiều nơi thuộc châu thổ và trung du Bắc Bộ, nhưng độc đáo và mang đậm nét văn hóa địa phương thì phải kể đến Hát Đúm ở vùng ven biển Thủy Nguyên – Hải Phòng
Hình thành và phát triển trên vùng đất có lịch sử lâu đời, nơi sinh tụ của những nền văn hóa thuần Việt như văn hóa đồ gốm Tràng Kênh, đồ đồng Việt Khê, Hát Đúm đã có một thời gắn bó với những buồn vui của cư dân Thủy Nguyên và là một sinh hoạt văn hóa phổ biến trên vùng đất ven biển này. Khóa luận: Thực trạng hát đúm tại Thủy Nguyên xưa và nay.
Lâu nay, khi nói tới Hát Đúm, nhiều người thường nhắc tới khái niệm đàn đúm hoặc là “lối hát dân gian dịp hội hố đầu xuân ở miền Bắc, Việt Nam do nhiều thanh niên trai gái cùng tham gia, thường ở dạng đối đáp” và tên gọi hát Đúm thường gắn với địa danh Thủy Nguyên – Hải Phòng. Riêng với hát đúm, ngoài khái niệm nghiêng về tính hình thức, còn là đặc trưng của một loại hình, làn điệu thuộc thể loại dân ca đối đáp của người Việt. Hơn nữa, ở Thủy Nguyên chỉ có ba địa danh: xã Phục Lễ, Phả Lễ, Lập Lễ thuộc tổng Phục Lễ xưa, được coi là cái nôi của Hát Đúm người Việt ở vùng ven biển Bắc Bộ.
Theo người dân vùng ven biển Thủy Nguyên – Hải Phòng thì Hát Đúm đã có đây cách ngày nay khoảng bảy, tám trăm năm (khoảng Thế kỉ XIII – thời nhà Trần), nhưng có lẽ phải tới Thế kỉ XVI (thời nhà Mạc), sau khi chùa Kiến Linh được tạo dựng ở Phục Lễ thì nó thực sự mới được hát trong lễ hội chùa. “Chùa Kiến Linh có bia tạo năm Thuần Phục 2 (1563) và Bính Dần (1566) thời Mạc,nội dung núi đất Phục Lễ địa linh nhân kiệt, Lê Thái Tổ (Lê Lợi) từng đến thăm”.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.1.2. Tình hình hoạt động hát Đúm tại Thủy nguyên. Khóa luận: Thực trạng hát đúm tại Thủy Nguyên xưa và nay.
Hát Đúm là loại hình dân ca hình thành trong môi trường lao động, sau đó trở thành dân ca trong lễ hội, hát đúm vùng tổng Phục – Thủy Nguyên đã gắn với những sắc thái văn hóa độc đáo của cư dân ven biển. Trong xã hội xưa, một trong những tục lệ phổ biến có liên quan đến hát đúm ở đây là tục bịt khăn che mặt của phụ nữ. Đến những năm 60 của Thế kỉ XX, nếu ai có dịp về vùng tổng Phục -Thủy Nguyên thì vẫn được chứng kiến cảnh cấc cô thôn nữ thường che kín mặt bằng chiếc khăn đen mỏ quạ, chỉ để hở hai con mắt trong lúc làm việc cũng như trong sinh hoạt hàng ngày. Các cụ kể lại rằng, xưa ở Tổng Phục, đặc biệt là Phục lễ, Phả Lễ, Lập Lễ khi khách đến chơi nhà, nếu gặp các cô gái mà muốn hỏi thăm thì rất khó, vì bình thường họ đã bịt khăn che kín mặt, nhưng thấy khách lạ, họ càng kín đáo hơn, thậm chí e thẹn trốn xuống nhà dưới không trả lời khách, càng gọi càng không thấy mặt. Thói quen bịt khăn còn được d uy trì đến khi các cô gái ra tham gia hội hát đúm đầu xuân ở chùa làng. Trong hội, khi bắt đầu hát, không cô gái nào bỏ khăn mà còn che kín mặt hơn. Họ thường đi thành tốp năm, sáu người, khi vào cuộc hát với bên nam, các chàng trai chỉ thấy nghe tiếng hát phát ra trong tốp nữ mà không nhìn thấy mặt ai. Chàng trai nào diễm phúc được xem mặt một cô nào đó thì chắc chắn phải chiếm được cảm tình của đối tượng, sau khi đó hát đối đáp với nhau khá nhiều bài. Nếu trường hợp hai bên hát với nhau một số bài mà cô gái vẫn không “mở mặt”, nghĩa là không “tâm đầu ý hợp”, chàng trai phải chọn người khác để làm quen và mời hát.
Xưa, trong xã hội cổ truyền, nếu hát đúm vùng tổng Phục hấp dẫn và lôi cuốn mọi người bởi những câu hát tình tứ, thơ mộng, thủ tục bịt khăn che mặt của phụ nữ lại tạo ra sự tò mò, cuốn hút khách thập phương. Rồi trải qua năm tháng, tục cổ này đã trở thành nét văn hóa độc đáo. Bịt mặt ắt phải có mở mặt, đây chính là chi tiết hấp dẫn đối với du khách xa gần, thậm chí với cả những người dân ở các làng bạn. Khi các cô gái mở mặt để hát đối đáp với các chàng trai, mọi người không khỏi trầm trồ, vì cô nào mặt cũng đẹp, da trắng, môi đỏ, mắt đen láy như hạt na… Khóa luận: Thực trạng hát đúm tại Thủy Nguyên xưa và nay.
Vào những ngày xuân, sinh hoạt hát Đúm đã thu hút sự chú ý của đông đảo nhân dân Phả Lễ và các xã lân cận cũng như những người yêu thích nghệ thuật hát đúm. Theo truyền thống, ngày bắt đầu của hội hát Đúm đồng thời cũng là ngày những cô gái của Tổng Phục bỏ chiếc khăn mỏ quạ bịt mặt trong suốt cả năm. Vì thế, Hội hát Đúm ngày xuân cũng còn là ngày Hội Mở mặt.
Hát Đúm thường diễn ra tại đình Phục Lễ, một trong những ngôi đình lớn. Tuy nhiên, cũng có thể diễn ra ở trên đường đi, ngoài cánh đồng khi các tốp trai thanh, gái lịch trong những bộ quần áo truyền thống ngày hội gặp nhau. Họ nắm tay nhau say sưa hát đối những làn điệu giao duyên thể hiện khát vọng về tình yêu đôi lứa thông qua nhiều câu hát ví von mang đậm chất dân gian của vùng quê.
Vào những ngày xuân, sinh hoạt hát Đúm đã thu hút sự chú ý của đông đảo nhân dân Phả Lễ và các xã lân cận cũng như những người yêu thích nghệ thuật hát đúm.. Hội làng đầu xuân có rất nhiều cuộc thi: Thi cỗ bánh, thi dệt cửi, thi đánh đu, đánh vật, đánh cờ… nhưng cuốn hút nhất vẫn là thi hát Đúm. Hát Đúm có từ lâu đời, ngay từ khi tổ tiên họ Đinh xuống vùng bãi bồi ven sông Bạch Đằng để quai đê lấn biển. Tương truyền rằng khi người dân đổ về đây khai hoang lập ấp, trên bến dưới thuyền rất đông. Ban ngày họ lao động vất vả cực nhọc, tối đến trai gái túm năm tụm ba thành từng nhóm để hò hát giao duyên cho khuây khỏa. Thế là thành lệ. Trước đây, thường là sau các vụ gặt hái xong, vào những đêm trăng thanh gió mát, trai gái lại rủ nhau đi hát Đúm. Nhưng sau này, chỉ có những ngày Tết mới tổ chức. Vì trai làng phải đi làm ăn xa, tết mới về. Còn gái làng thì lam lũ, làm lụng vất vả quanh năm, để bảo vệ sắc đẹp họ phải bịt khăn, nên ngày thường trai gái gặp nhau khó nhận biết, chỉ có ngày hội đi hát người con gái mới mở khăn để bạn hát nhìn thấy dung nhan. Do vậy tập quán hát Đúm cũng là tục lệ mở khăn của các cô gái. Khóa luận: Thực trạng hát đúm tại Thủy Nguyên xưa và nay.
Lễ Mở mặt tiến hành từ Mồng 2 Tết cho đến khoảng Mồng 10 tháng Giêng bằng một nghi thức giản dị, nhưng trang trọng để khẳng định cô gái được phép tìm người yêu. Còn chủ yếu của lễ Mở mặt là trai gái hát Đúm để đôi bên tìm ý trung nhân. Các cô gái sau khi được cởi bỏ khăn, cô nào cũng trắng, cũng xinh đẹp “chim sa cá lặn” khiến các chàng trai nhiều vùng quê kéo đến, hát thì ít mà xem mặt các cô là chính. Nhưng nếu muốn lọt mắt xanh các cô, các chàng phải học cách hát, phải hát giỏi may chăng mới được các cô đểý. Hát Đúm kéo dài từ sáng tới trưa, từ trưa tới tối. Giữa các canh hát, các cô mời trầu nước, tặng vật kỷ niệm cho các chàng để tỏ lòng mến mộ. Chiều, các cô mời các chàng về nhà mình ăn bữa cơm đầu xuân để biết nhà cửa và có sức tiếp tục hát tới khuya. Cứ như vậy, ngày này qua ngày khác, cuộc hát Đúm kéo dài đến Mồng 10. Qua những buổi hát, nhiều đôi đã kết nhau để cuối năm nên duyên chồng vợ.
Bởi có tục lệ ấy mà các cô gái ở đây cô nào cũng thuộc một số bài hát vì để đi hội gặp các chàng trai mời hát mà mở khăn đối đáp. Hát ví thường chỉ dựa vào hai thể thơ lục bát và song thất lục bát. Tuy không nhiều làn điệu, nhưng lại rất phong phú về đề tài, đôi hỏi người hỏt phải rất giỏi về đối đáp.
Trong ngày hội hát Đúm tại sân chùa Phục Lễ, nhiều bàn hát đúm mọc lên, mỗi bàn kê hai bộ tràng kỷ đối diện nhau. Giữa bàn để nhiều hộp trầu và khăn tay thêu cành hồng làm tặng phẩm. Một bên trai, một bên gái ngồi hai bên dây tràng kỷ. Mặt nhìn mặt, tay cầm tay. Thường thì cả hai bên trai gái vào hát đều di động để nếu nhỡ một anh hát bớ hay bị hỏi, đố, lung tung không trả lời được thì ra hiệu cho anh kia hát đỡ, gỡ bí cho. Khi hát có nhạc bát âm. Hai bên trai gái đối đáp. Bên nào không đối đáp được là thua. Đây là một hình thức thử tài văn chương, kiến thức của nhau, ướm lời yêu đương. Tìm hiểu bằng nghệ thuật, phải thuộc làu tục ngữ, truyện tích. Khóa luận: Thực trạng hát đúm tại Thủy Nguyên xưa và nay.
Lời hát Đúm được xuất khẩu tự nhiên, ứng đối linh hoạt, tùy tình huống mà xử lý. Cũng là những lời xa xôi bóng gió, những gửi gắm nỗi niềm. Những bài hát ví đối đáp rất đa dạng và phong phú. Hai bên nam nữ đố nhau học về các điển tích như “Từ Thức lên tiên“, “Phan Trần“, “Tống Trân Cúc Hoa“, “Phạm Tải Ngọc Hoa“, nhiều nhất vẫn là đố Kiều. Ngoài điển tích là những bài họa về Hoa, Lá, Cỏ, Chim… và những gì gần gũi với cuộc sống thường ngày. Vào hội, một khi bên nữ – vốn hay đột ngột chuyển làn điệu trong khi hát mà phía bên nam không kịp đối là thua. Ngày hội mở mặt còn được coi là ngày các cô gái thi sắc đẹp, làm quân cờ người. Chiếc khăn tung ra để lộ những khuôn mặt trắng mịn, môi hồng như hoa lưu, làm cho Hội thi hát Đúm thêm say mê, hào hứng. Trai gái hát mừng, học hỏi, hát đố, hát hoạ, hát giao duyên, huê tình, hát tiễn…
- Hãy nghe bên nữ hát đố:
- Tam sơn tứ hải nhất phần điền
- Chàng trai mà giải được, em liền theo không?
- Bên trai hát
- Tam sơn là núi, tứ hải là sông
- Nhất phần điền là ruộng, theo không là nàng.
- Và bên trai tách ra, một chàng cầm tay cô gái hát giao duyên :
- Thấy em vừa đẹp vừa xinh
- Anh thuận nhân tình, anh nắm cổ tay Nắm rồi, anh hỏi cổ tay
- Ai nặn nên trắng, ai day nên tròn?
- Rồi chàng trai kể nỗi gian truân:
- Vì nàng anh phải đi đêm
- Ngã năm ba cái đất mềm không đau Vì nàng anh phải đi thăm
- Ngã sứt đầu gối, ngã thâm bánh chè
- Bên gái cũng bộc lộ tình cảm
- Yêu nhau quá đỗi quá chừng
- Chèo non quên mệt, ngậm ngừng quên cay
Không ít các chàng trai, cô gái vì tình cảm mén nhau qua lời ca,điệu múa mà rồi lên vợ lên chồng. Và vì thế, hát đúm luôn là lễ hội hấp dẫn, trẻ trung, trở thành nét đặc trưng trong kho tàng văn hóa truyền thống của vùng đất này.
- Hội làng bên bến sông Rừng Khóa luận: Thực trạng hát đúm tại Thủy Nguyên xưa và nay.
- Díu dan câu đúm lừng chừng bước chân Đồng quê đang biếc lúa xuân
- Cầm tay anh nắn… bâng khuâng bến chờ Hẹn hò đang dở câu thơ
- Lời mềm mà buộc đến giờ.Lạ chưa?
- Dùng dằng giã bạn… ngẩn ngơ Để chiều ướt tím con đò sông quê Nghiêng nghiêng vành nón trăng thề
- Giếng lành em múc chiều về nắng buông Vọng nghe giọng hát yêu thương
- Nao nao sóng nước vương vương lỗi niềm Theo câu hát đúm nên duyên
- Mà tình neo mãi vào miền sông trăng…
Hát Đúm vui nhất là hôm hát giã đám. Lúc này họ trao giữ kỷ vật cho nhau, nấn ná đến tận khuya, mà đưa ra toàn những bài hát hay, mới nhất từ nỗi lòng sâu kín của họ. Hôm đó hai bên ít hát đối đáp mà toàn những bài trữ tình, bâng khuâng, lưu luyến… Những yêu đương, thương nhớ, những xa cách, chia ly, những hứa hẹn, đợi chờ và hy vọng… Họ mong đợi mùa hội sau, để lại được say đắm trong tiếng hát của nhau. Qua đó mà nên vợ, nên chồng.
Trong góc tiếp cận về phương diện âm nhạc học thuần túy, hát Đúm không phức tạp và ở cấp độ cao như hát quan họ Bắc Ninh. Thậm chí, các làn điệu âm nhạc mới chỉ ở cấp độ đầu trong tương quan của các hình thái sinh hoạt âm nhạc dân gian Việt Nam. Nhưng nếu nhìn nhận hát Đúm trong cách tiếp cận tổng thể một hiện tượng văn hóa dân gian lại là vấn đề không đơn giản, đòi hỏi nhiều trí tuệ của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian.Hát Đúm sinh ra từ chính nhu cầu của người dân lao động, được bao thế hệ nghệ nhân sáng tạo không ngừng qua năm tháng, và đến hôm nay vẫn là hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian được nhiều người yêu thích nhất ở miền quê này. Khóa luận: Thực trạng hát đúm tại Thủy Nguyên xưa và nay.
Khi nghe hát, nếu trên gương mặt người già dường như bừng lên, ánh lên những kỷ niệm của một thời tuổi trẻ cùng những canh hát Đúm say sưa, đằm thắm, mà không ít cặp khác sau đó đã nên vợ, nên chồng. Nếu như các cô chú trung niên đến đây không chỉ thưởng thức những làn điệu dân gian vốn là tài sản không chỉ vô giá của cha ông để lại, mà còn tâm chí hướng về trách nhiệm bảo tồn cho thế hệ mai sau loại hình văn hoá độc đáo này, thì trên gương mặt của những cô bé, cậu bé là sự đắm chìm trong những làn điệu dân ca, nhu cầu tiếp nhận những âm hưởng dân ca vốn đã vang vọng từ bao đời.
Bài bản của hát Đúm rất phong phú. Người hát Đúm phải hát được nhiều làn điệu như: Cò lả, trống quân, quan họ, sa mạc…Giai điệu gần với hát ví của đồng bằng Bắc Bộ nhưng khác ở chỗ luyến láy, nhấn giọng… Nét đặc sắc của hát Đúm Tổng Phục là ứng khẩu, tùy hứng từng hoàn cảnh cụ thể nên đòi hỏi người hát phải thông minh nhanh trí. Trình tự của cuộc Hát Đúm thường là gặp gỡ, hát chào, hát mừng, hát hỏi, hát mời trầu, hát cưới, kết thúc là hát tiễn, hát ra về. Trong hoàn cảnh cụ thể có thể hát họa, hát mời đến nhà, hát khuyên nhau đi học, hát đi lính, hát gửi thư.
Vào mùa xuân, hát đúm như trỗi dậy một sức sống mới vốn tiềm ẩn từ lâu trong tâm trí và tấm lòng của những người con quê hương hát đúm. Các chàng trai, cô gái (mà trong đó có cả các cô đã ở tuổi 80)… vẫn duyên dáng, say sưa trong những làn điệu hát đúm ngày xuân. Hát đúm cũng như một số hình thái sinh hoạt văn hóa dân gian khác đã phải trải qua những bước thăng trầm. Vậy mà, sức sống lâu bền, mãnh liệt của nó vẫn còn đến ngày hôm nay.
Mùa xuân này về Phục Lễ, Thủy Nguyên dự Lễ hội Mở mặt, nghe hát Đúm hòa trong không khí sinh hoạt độc đáo, loại hình nghệ thuật đặc sắc. Mời các bạn cùng thưởng thức sự phong phú của văn hóa dân gian Hải Phòng.
2.2. Nội dung một cuộc hát đúm Khóa luận: Thực trạng hát đúm tại Thủy Nguyên xưa và nay.
Trước khi bước vào lời ca mở đầu có câu “Rằng người thương ơi”, khi kết mỗi lời ca có đệm tiếp: “Duyên khách bạn tình ơi”. Hội hát được chia làm 9 bước: hát chào hỏi (hát giao hẹn), hát giao duyên (huê tình), hát đố – giảng, hát hoạ, hát mời, hát lính, hát thư, hát cưới và sau cưới, hát ra về.
Bước thứ nhất: Hát chào hỏi (Hát giao hẹn)
Kể cả ở hội thi hay hát vui giáo dục thuần tuý, khi vào hội thoạt đầu nam nữ gặp nhau, các chàng trai thường chủ động hát chào bên gái trước. Sau khi hát chào lẽ ra sẽ bước sang phần hát tiếp theo nhưng trong quá trình hát có nhiều chàng trai “xấu chơi” rất hay “hát tục”, “hát chua” nên các cô gái bao giờ cũng phải “hát răn” để xác định thái độ trước khi vào hát.
Hoặc các cô gái thường “giao hẹn” trước với các chàng trai có ý nhắc khéo rằng nếu không có tài đối đáp thì đừng nên vào hát.
Bước thứ hai: Hát giao duyên (Huê tình)
Đây được xem như nội dung chính của buổi hát giao duyên trao tình sôi nổi, cảm xúc say sưa nhất, vui nhất. Qua nhiều đợt sưu tầm, được nghe các cụ già kể lại, lời ca trong hát “Huê tình” rất phong phú, liên tục được bổ xung và biến đổi, nâng cao cảm xúc thiết tha yêu thương, nhớ nhung, mong ước, cả gửi gắm tâm tư bằng thơ như hát nói của ca trù. Mỗi khi đối diện nam hay nữ hát trước, ứng vận mượn hình ảnh nào gợi cảm thì bên kia buộc phải ứng tác lại cho đối xứng khớp với văn cảnh ấy. Hát “Huê tình” là phần chính còn các phần khác có thể coi như thủ tục và thử tài nhau trước khi vào hát “Huê tình” trai gái thổ lộ tình cảm yêu thương, tình cảm gia đình,… Các loại hình khác cũng chỉ nhằm phục vụ cho hát “huê tình” mà thôi.
Bước thứ ba: Hát đố – giảng Khóa luận: Thực trạng hát đúm tại Thủy Nguyên xưa và nay.
Đây là lúc đôi nam, nữ chính thức bộc lộ tài năng của mình: sự hiểu biết rộng, biết nhiều, sự từng trải, con mắt tinh đời cái tài suy đoán và tài ứng đối. Sự ứng đối nhạy bén trong qua trình hát còn là yếu tố, góp phần khuyến khích cộng đồng đề cao học vấn. Họ không chỉ sử dụng lời ca đố và giảng có sẵn trong sinh hoạt văn hoá dân gian. Từ lâu truyền lại mà còn sử dụng câu hát họ mới sáng tạo, buộc đối tác phải suy đoán nhạy cảm để đối đáp lại.
Bước thứ tư: Hát hoạ
Đây là bước tiếp của hát đố giảng, với lời ca vừa là thi thố về trình độ hiểu biết, tư duy liên tưởng, quan hệ mật thiết giữa vũ trụ và nhân sinh…Vừa góp vui vào lễ hội cộng đồng, khuyến khích tuổi trẻ tìm tòi vào thé giới thiên nhiên bao la qua hoạ hoè, hoạ đất, hoạ mây, hoạ cây cỏ… hay những sinh vật xung quanh cuộc sống hàng ngày và người hát đối phải hát hoạ lại theo đúng đề tài đó, hát hoạ được viết theo thể lục bát biểu thể.
Bước thứ năm: hát mời
Nhằm mục đích chuyển từ đề tài này sang đọ tài sang so trí bằng đố -giảng, bằng hoạ cảnh, hoạ vật và thi tứ ví von, với vần điệu uyển chuyển trong nhân dân lời ca sang hát mời nhau uống rượu, uống chè, ăn trầu, hút thuốc, cùng mời hẹn đến chơi nhà. Hay đó cũng là biểu tượng cho tính dân tộc ta là dân tộc hào phóng, hiếu bạn mà trong văn hoá dân gian về ứng xử luôn lấy “Miếng trầu là đầu câu chuyện”. Đó cũng là thể hiện đạo lý truyền thống bằng nọi dung lời hát mời.
Bước thứ sáu: Hát lính
Là đặc trưng riêng của sinh hoạt văn hoá dân gian ở hội xuân trong vùng hội chùa, đình ở khu vực này. Những người tham gia hát Đúm không chỉ có thành phần sĩ – nông – công, thương mà có cả binh lính đang tại ngũ. Đặc điểm này ít khi thấy ở các hội dân ca đối đáp khác sinh hoạt văn hoá dân gian nay đã có từ hàng nghìn năm, chỉ riêng nội dung lời ca là thường xuyên có biến đổi, từ ca từ khí tiết truyền thống với cảnh các chàng trai trí dũng theo lệnh quân vương chống giặc ngoại xâm. từ nội dung thể hiện lời ca cổ, dần dần biến đổi câu, đôi từ hay thêm cảnh cho thích ứng với từng giai đoạn lịch sử từng hoàn cảnh xã hội đương thời. Khóa luận: Thực trạng hát đúm tại Thủy Nguyên xưa và nay.
Bước thứ bẩy: Hát thư
Với nội dung lời ca ở đây, không phân biệt chỉ dùng cho đôi trai gái đã gặp nhau rồi xa nhau, trong những đôi bạn trẻ đã dùng cảnh chia ly… Nhân dịp vào hội hát, họ thường tranh thủ bộc lộ tâm tư, gửi gắm vào lời ca hát trong thư này những nhớ nhung da diết, những lạnh lẽo hắt hiu… Cũng là để cho hội hát thêm phong phú hơn, dài hơn, vui hơn, nhiều màu sắc, nhiều cảnh, nhiều tình hơn.
Bước thứ tám: Hát cưới và sau cưới
Đây là bước hát với nội dung lời ca, sau những câu giao duyên thoả lòng mong ước về hạnh phúc lứa đôi, như đã tìm thấy và gặp được người tài sắc xứng đôi, một số đôi bạn trẻ đã nên duyên vọ chồng. Theo phong tục truyền thống, mỗi cuộc hôn nhân đều trải qua lễ dạm hỏi, xin cưới, dẫn lễ nên nội dung hát ở đây có cả các bước trên. Tuy nhiên, với ý nghĩa là hội hát cho cuộc sống thêm phong phú, góp vui cho cộng đồng, bởi thế lẽ vật thách cưới trong hội hát không phải là những vật phẩm thông thường mà nó là khoa trương, phóng đại đến vua chúa cũng không ai có được.
Bước thứ chín: Hát ra về
Một buổi hát chào thì đến lúc kết thúc phải có hát ra về thể hiện thêm tình cảm đậm đà quyến luyến không muốn rời xa. Nội dung bước hát ra về bao gồm: hát trao nón, trao ô, khăn hoặc hát xin lại nón, ô đã trao gửi cho nhau khi bước vào hội hát cùng lời ca nên tâm trạng khi ra về và hứa hẹn gặp lại vào ngày mai hay hội hát mùa sau.
2.3.Một số đặc điểm của hát đúm Khóa luận: Thực trạng hát đúm tại Thủy Nguyên xưa và nay.
2.3.1. Hình thức diễn xướng
Xưa, hát đúm có hai hình thức diễn xướng, hát lẻ và hát hàng.
Hát lẻ chỉ do một giới (nam hoặc nữ) hát đối, mỗi nhóm hát thường có vài ba người; diễn ra mọi lúc, mọi nơi, hát khi đi trên đường, ở nơi lao động lúc giải lao hay vừa làm vừa hát, thậm chí ngay ở sân đình, sân chùa, những ngày hội…
Hát hàng thường chỉ diễn ra ở lễ hội đình, chùa, do hai giới nam và nữ tham gia; nữ giới thường là người làng, xã ngồi một bên hàng ghế, phía đối diện là hàng ghế danh cho nam giới; trước khi hát thì có giao kèo, bên thua cuộc mất một vật gì đó, có thể là cái áo, cái nón, cái ô…cho bên thắng. Khi hát có nhạc bát âm; các tràng trai, cô gái mặt nhìn mặt, tay cầm tay; hai bên đối đáp, bên nào không đối đáp được là thua.
Ngày nay, Hội Hát Đúm ở Thủy Nguyên vẫn được duy trì với niềm đam mê không chỉ của các nghệ nhân mà còn cả ở những thế hệ kế cận. Các xã còn thành lập CLB Hát Đúm để giao lưu và thi Hát Đúm toàn huyện. Hát Đúm không cầu kỳ về hình thức, phục trang…mà dễ đi vào lòng người từ hình thức hát đối đáp. Tuy nhiên đây là một hình thức diễn xướng dân gian gắn liền với lễ hội cho nên vẫn phải tuân thủ các quy tắc, thể lệ từ xưa truyền lại.
Theo đó, thể lệ hát được quy định khá chặt chẽ. Tốp hát cùng giới (nam hoặc nữ) thường là những người cùng lứa tuổi, không hát với người trong gia đình, họ tộc. Thú vị nhất là được hát với người làng bên. Khi hát, bạn hát (đặc biệt là nam) không được chọn các từ khó hiểu cho bạn hát của mình. Khi ứng đối không được, bạn hát có thể nhờ bạn trong tốp hát của mình ứng đối hộ, sau đó họ lại có thể tiếp tục cuộc hát. Người hát không được dừng hát giữa bài, bởi như vậy sẽ bị phạt, phải mời những người đi hát uống rượu, ăn quà…
Các nghệ nhân ở đây cho biết, khi vào cuộc hát, bao giờ câu hát mừng cũng được hát đầu tiên. Tiếp đó từng người trong nhóm nam và nhóm nữ có thể hát câu chào mừng để làm quen. Lời hát thường là thể song thất lục bát hoặc thể lục bát. Lời hát chỉ cần ứng đối đúng ý chính của bạn hát chứ không quy định ngắn dài… Đặc biệt, người hát sau tuyệt đối không được hát giống với lời ca của người hát trước.
2.3.2. Lời, làn điệu hát đúm Khóa luận: Thực trạng hát đúm tại Thủy Nguyên xưa và nay.
Hát đúm không phát triển về giai điệu, mà phát triển về lời ca, chỉ với ba cao độ Rề, Sol, Lá nhưng những người hát đã sáng tác ra hàng nghìn lời ca phản ánh đời sống của người dân vùng ven biển để ứng đối với nhau. Lời của hát Đúm chủ yếu thuộc hai thể loại chính là lục bát và song thất lục bát. Làn điệu của hát đúm gồm có: Trống quân, cò lả, quan họ, sa mạc, lý giao duyên.
Thủy Nguyên, tổng Phục xưa nổi tiếng là nơi có giọng nói trong trẻo, ngọt ngào. Vì lẽ đó mà cố nhạc sĩ Lưu Hữu Phước từng đề nghị dùng âm Phục Lễ làm âm chuẩn cho tiếng Việt.
2.3.3. Trình tự, nội dung, thời gian hát đúm
Tại các lễ hội, bài bản của hát Đúm rất phong phú, nhiều nội dung diễn ra từ sáng đến tối, từ ngày này sang ngày khác. Mở đầu là những câu hát chào, hát mừng khi gặp nhau (hát gặp hay hát chào hỏi), tiếp theo là các phần hát giao hẹn (giao kèo), hát hỏi, hát đố, hát mời (trầu, cơm, nước…), hát họa, hát huê tình (giao duyên), chinh phu, chinh phụ, hát cưới, hát lính, hát thư… và kết thúc là hát ra về (hát tiễn).
Vào đầu hội hát, chàng trai muốn hát với ai thì tiến tới ngỏ lời, nếu cô gái đồng ý sẽ đưa tay cho chàng nắm và đôi nam nữ tay trong tay gửi trao những lời hát yêu thương, trữ tình. Cô gái chỉ bỏ khăn che mặt để chàng trai được ngắm nhìn dung mạo của mình sau khi đã cảm mến chàng trai nào qua những lời ca, tiếng hát. Giữa canh hát, cô mời trầu nước, tặng vật kỷ niệm cho chàng để tỏ lòng mến mộ. Chiều, cô mời chàng về nhà mình ăn bữa cơm đầu xuân để biết cửa nhà.
Ngày hát giã đám kéo dài đến tận khuya, các chàng trai, cô gái trao giữ kỷ vật cho nhau, những lời ca đối đáp ít dần, mà thay vào đó là những câu hát từ nỗi lòng sâu kín, những lời hát trữ tình, bâng khuâng, lưu luyến, những yêu đương, thương nhớ, những xa cách, chia ly, những hứa hẹn, đợi chờ và hy vọng… và mong đợi mùa hội sau, lại được say đắm trong tiếng hát của nhau. Khóa luận: Thực trạng hát đúm tại Thủy Nguyên xưa và nay.
Ngay nay, trong đời sống hiện đại, hát đúm cũng đã thu hẹp dần và chỉ còn có ở Thủy Nguyên, nhiều nhất là các xã Phục, Phả, Lập và có nhiều thay đổi.
Hát lẻ không còn nữa, mà chỉ còn hát hàng. Người hát tham gia không mặc trang phục cổ truyền, ngồi hát theo kiểu “mặt nhìn mặt, tay cầm tay”, nam nữ đứng xen kẽ nhau, mặt quay xuống khán giả hát đối đáp qua máy phóng thanh. Các đôi của từng xã được phân công hát theo giờ, mỗi đôi hát từ một đến hai tiếng, sau đó chuyển qua đôi khác, và đôi này lại sang xã bạn hát tiếp.
Người tham gia hát không nhiều như xưa, rất ít thanh niên tham gia, chủ yếu từ 35 đến 60 tuổi. Người xem chủ yếu là những người lớn tuổi, tuổi trẻ thì chủ yếu là nữ, rất ít thanh niên xem.
Phục Lễ, hằng năm, hát đúm được tổ chức thi vào dịp đầu xuân ngay tại sân đình với sự tham gia của đoàn hát các xã Phục Lễ, Phả Lễ, Lập Lễ…Trong cuộc thi, ban giám khảo chính là các cụ của 3 xã, những nghệ nhân cao tuổi với nhiều kinh nghiệm làm trọng tài.
2.4. Thực trạng hát đúm tại Thủy Nguyên hiện nay
Xưa, trong xã hội cổ truyền, nếu hát đúm vùng tổng Phục hấp dẫn và lôi cuốn mọi người bởi những câu hát tình tứ, thơ mộng, thì tục bịt khăn che mặt của phụ nữ lại tạo ra sự tò mò, cuốn hút khách thập phương. Rồi trải qua năm tháng, tục cổ này đã trở thành nét văn hóa độc đáo đã thu hút được nhiều du khách đến dự hội.
Như nhiều loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian khác, hát Đúm ở tổng Phục cũng trải qua những biến cố, thăng trầm. Có lúc, sinh hoạt hát đúm còn bị cấm đoán bởi quan niệm sai lệch, vì có người cho rằng hát hò, cầm tay nhau là “không lành mạnh”. Dẫu vậy, sinh hoạt hát đúm ở tổng Phục vẫn được duy trì, được người dân địa phương yêu thích.
Vào nửa cuối TK XX, sinh hoạt hát đúm ở Thủy Nguyên có chiều lắng xuống, và hiện nay khi huyện Thủy Nguyên đang bước vào công cuộc hiện đại hóa, đô thị hóa thì hát đúm lại đứng trước những thử thách mới. Nếu trong xã hội nông thôn xưa, khi khoa học kỹ thuật chưa phát triển, phương tiện truyền thông còn hạn chế thì diễn xướng hát đúm ở đây được mọi người dân yêu thích, đặc biệt là thanh niên nam nữ. Họ tìm thấy ở hình thức sinh hoạt văn hóa này là địa chỉ để gửi gắm nỗi niềm của mình với bạn bè. Đặc biệt, từ các hội hát Đúm mà thanh niên nam nữ có chỗ, có dịp làm quen, tìm hiểu nhau để rồi đi đến luyến ái, hôn nhân. Nay thì, nhịp sống hối hả, sôi động với nhiều phương tiện hiện đại như tivi, internet, trò chơi điện tử, báo điện tử…, đã tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ tới lối sống, thị hiếu và thẩm mỹ của tầng lớp thanh niên. Một số không nhỏ thanh niên bắt đầu xa rời văn hóa dân gian truyền thống. Và, hát đúm dần trở nên “lỗi nhịp” với cuộc sống hiện đại, tương tự như một số loại hình dân ca giao duyên khác. Bởi nhịp điệu chậm rãi, đều đều của nó sẽ khó hòa vào nhịp sống sôi động của thanh niên trong thời đại công nghiệp. Khóa luận: Thực trạng hát đúm tại Thủy Nguyên xưa và nay.
Hiện đại hóa đang tạo ra sự biến đổi đời sống xã hội ở nông thôn Việt Nam. “Hiện đại hóa trước hết làm thay đổi cơ cấu nhân khẩu – xã hội học: số lượng người tham gia sản xuất nông nghiệp giảm nhanh, số người tham gia công việc ở những khu đô thị hóa, công nghiệp hóa ngày càng gia tăng. Như vậy, hiện đại hóa, theo một nghĩa hẹp gắn liền với công nghiệp hóa, đô thị hóa, và kéo theo nó là quá trình chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp, là quá trình di dân từ các khu vực sản xuất nông nghiệp sang các dịch vụ ở đô thị và làm việc ở khu công nghiệp”. Chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp và di dân là một trong những nguyên nhân chính tạo ra sự biến đổi xã hội. Biến đổi từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp hiện đại, sẽ kéo theo sự biến đổi văn hóa. Khi các nhà máy mọc lên, các dự án đầu tư khu công nghiệp, dịch vụ, khu vui chơi giải trí liên tiếp được phê duyệt, thì người dân Thủy Nguyên, đặc biệt là thanh niên sẽ bị thu hút vào “guồng máy” này. Lối sống khẩn trương, gấp gáp của xã hội công nghiệp, đô thị sẽ ảnh hưởng tới sự phát triển của hát Đúm. Và rồi, các cô gái Thủy Nguyên do điều kiện làm việc ở các khu công nghiệp, lấy chồng xa sẽ không còn điều kiện để nhớ đến các làn điệu hát Đúm quê hương…
Khi xưa, mỗi đêm trăng sáng, trai gái tổng Phục thường tụ tập bên cầu Hạnh Phúc để hát hò đối đáp và… “ghẹo nhau” thì nay, tối đến họ hẹn nhau đến quán café ở các “phố làng” để tâm sự, xem bóng đá, nghe nhạc pop, rock… Nhiều người trong số đó đã dần xa lạ với hát Đúm – dân ca của chính quê hương họ.
Hát Đúm hình thành và phát triển trong xã hội cũ gắn với nền văn hóa nông nghiệp, nay trong xã hội hiện đại, vai trò của nó trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân Thủy Nguyên đã thay đổi. Một câu hỏi đặt ra là: hát Đúm có còn giá trị gì trong xã hội hiện đại; xu hướng biến đổi và việc khai thác, phát huy như thế nào để nó thể tồn tại và đồng hành với các loại hình văn hóa nghệ thuật trong đời sống văn hóa ngày nay.
Hiện nay, hàng năm UBND huyện, xã và Nhà văn hóa huyện vẫn quan tâm khuyến khích, duy trì sinh hoạt hát đúm đầu xuân. Mỗi xã đều có kinh phí để tổ chức hát Đúm thi lấy giải. Nhưng một thực tế cho thấy,việc làm đó mới chỉ là hoạt động bề nổi, và ở Thủy Nguyên hiện nay, hát Đúm vẫn không được thanh niên ưa thích bằng hình thức ca nhạc “thời thượng” qua cách biểu diễn của các ca sĩ như Lam Trường, Ưng Hoàng Phúc, Đàm Vĩnh Hưng…
Theo khảo sát thực tế khách du lịch rằng: “Anh (chị) có thích hát Đúm không? ”, thì đa phần trả lời không. Và, họ còn nói thêm rằng: “hát Đúm không hay và khó hát”, thậm chí cô con gái ông chủ nhiệm Câu lạc bộ hát Đúm ở Phục Lễ, mặc dù biết hát nhưng cũng không thích hát Đúm mà thích nhạc trẻ” hơn. Khóa luận: Thực trạng hát đúm tại Thủy Nguyên xưa và nay.
Như vậy, biến đổi văn hóa xã hội dưới sự tác động của hiện đại hóa đô thị hóa, phần nào đã trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng tới sự tồn tại phát triển của hát Đúm ở Thủy Nguyên. Mặc dầu vậy, mọi thứ đều có quy luật sinh tồn và phát triển.
Theo quy luật những gì còn phù hợp với đời sống, đáp ứng được nhu cầu cuộc sống thì ít, nhiều nó vẫn được quần chúng nhân dân chấp nhận. Hát đúm ở Thủy Nguyên là một trường hợp như vậy. Trong đời sống hiện tại, hát đúm đã biến đổi và có những hướng tồn tại mới.
Trước hết đó là sự biến đổi về tổ chức hát. Xưa, trong xã hội cũ khi đến ngày hội mùa xuân thì trai làng này sang hát với gái làng kia, nhưng nay hình thức tổ chức đó đã khác. Dịp đầu năm có nhiều hội, nhưng không phải nơi nào ở Thủy Nguyên cũng có hát Đúm, mà chỉ tập trung vào ba xã Phục Lô, Phả Lô, Lập Lô. Hình thức hát hiện nay đơn giản so với trước rất nhiều. Trai gái không mặc trang phục cổ truyền, đứng hát theo kiểu “mặt nhìn mặt, tay cầm tay” mà ngồi ghế, mỗi người cầm một chiếc micro hát đối đáp qua máy phóng thanh cho cả xã nghe. Điều đáng chú ý nữa là, các đôi của từng xã được phân công hát theo giờ, mỗi đôi hát từ một đến hai tiếng, sau đó chuyển qua đôi khác, và đôi này lại “chạy sô” sang xã bạn hát tiếp.
Một hiện tượng mới xuất hiện, đó là hát Đúm Thủy Nguyên đã được ghi âm làm đĩa để bán phục vụ nhân dân. Xã hội hiện đại đã cho phép thực hiện những điều mà ngày xưa không thể làm được, như kỹ thuật thu hình, thu âm. Đây là một hình thức bảo lưu hát đúm khá hiệu quả, có thể nói, cách làm này tương tự như cách bảo tồn một số loại hình dân ca giao duyên khác.
Việc cố gắng để hát Đúm “sống” trong lòng các chàng trai cô gái thời hiện đại là điều vô cùng khó khăn. Vấn đề này sẽ còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhưng một thực tế cho thấy, hiện nay hát đúm vẫn đang tồn tại trong tầng lớp trung niên và người già ở Thủy Nguyên, mà việc bán đĩa hát đúm là một bằng chứng. Một ca nương hát Đúm ở xã Lập Lễ mới biết hát Đúm cách đây ba năm nhưng đã có giọng khá hay. Chị cho biết: “Hiện nay ở Lập Lễ có khá nhiều người mua đĩa hát đúm do chị hát”. Một chi tiết thú vị nữa là, đĩa hát đúm của chị còn được bán sang nhiều nước trên thế giới như Anh, Úc, Mỹ, Canada, Trung Quốc… cho bà con Việt kiều quê Thủy Nguyên, đặc biệt là những người gốc ở Lập Lễ.
Hát Đúm là một trong những hướng tồn tại của hát Đúm ở Thủy Nguyên trong xã hội hiện đại. Điều kiện kinh tế khá giả của người dân nơi đây đã là một “cứu cánh” cho hát đúm cổ truyền tồn tại. Sự tồn tại của một loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian, một phần phụ thuộc chính vào những người dân địa phương chủ nhân của nó. Khi người ta có điều kiện kinh tế và ở nơi đất khách quê người, họ thèm nghe điệu hát quê nhà, có lẽ không chỉ là nhu cầu để thưởng thức mà chủ yếu là cách để nhớ quê hương, ôn lại những dĩ vãng đã qua. Còn những người không xa quê, nhưng sẵn có tình yêu với văn hóa cổ, “dị ứng” với các loại hình văn hóa nghệ thuật của giới trẻ, đã tìm đến với hát đúm cổ truyền. Điều này có thể lý giải được tại sao đĩa hát Đúm lại bán được. Khóa luận: Thực trạng hát đúm tại Thủy Nguyên xưa và nay.
Hơn nữa, mỗi loại hình dân ca có những đặc trưng riêng, mặc dù chất liệu của nó (âm nhạc, lời ca, hình thức ca hát, phương thức ca hát, nội dung tư tưởng…) đã có những yếu tố không còn phù hợp với xã hội đương thời, nhưng nếu người nhạc sĩ biết “gạn đục khơi trong”, sử dụng chất liệu của nó một cách khéo léo thì sẽ tạo ra những sản phẩm nghệ thuật mới đáp ứng nhu cầu thời đại.
So với các loại hình dân ca khác như quan họ, chầu văn thì việc sử dụng chất liệu hát đúm trong giới sáng tác còn ít. Tuy nhiên, kết quả thử nghiệm sử dụng chất liệu hát đố – giảng của hát đúm cổ truyền và hình ảnh các cô thôn nữ Thủy Nguyên với kiểu bịt khăn che mặt được cách điệu trong tiết mục Hát Đúm hội Đu, do đoàn ca múa nhạc Hải Phòng dàn dựng tham dự Hội diễn ca múa nhạc chuyên nghiệp toàn quốc đợt 1 vừa qua là một kết quả đáng chú ý.
Một điều tất yếu là quá trình hiện đại hóa, đô thị hóa và xu hướng toàn cầu hóa đã tác động tới sự biến đổi văn hóa xã hội ở vùng nông thôn Thủy Nguyên. Những biến đổi đó ảnh hưởng tới sự tồn tại phát triển của văn hóa dân gian, văn hóa hát đúm cũng là điều không thể tránh khỏi. Thời đại ngày nay, một số yếu tố của hát đúm không còn phù hợp, nhưng theo em, hình thức đối đáp, ứng tác, ứng đối nhanh nhẹn, đầy cảm hứng và sáng tạo của nam nữ thanh niên, hay những lời ca trữ tình pha chút tinh nghịch của người dân vùng biển, kết hợp với lối tiến hành âm điệu và kiểu hát riêng, vẫn là những giá trị văn hóa, giá trị nghệ thuật quý giá cần được bảo tồn, phát huy.
Biến đổi để tồn tại, đó là quy luật chung của các loại hình ca hát dân gian. Tuy nhiên, theo em, dù có biến đổi đến đâu thì loại hình dân ca đó, nếu muốn tồn tại vẫn phải giữ lại được cái gốc và nét độc đáo của nó. Chính sự độc đáo này sẽ góp phần làm nên diện mạo văn hóa của một vùng miền. Chúng ta hãy hình dung trong khoảng vài chục năm tới, vùng ven biển Thủy Nguyên với diện mạo mới, các khu công nghiệp hiện đại, các khu vui chơi giải trí, dịch vụ sầm uất, và khi khách du lịch trong, ngoài nước đến Thủy Nguyên, cái mà họ chú ý chính là nét văn hóa địa phương. Khi đó, có thể trong một không gian yên bình, tĩnh lặng ở khu du lịch sinh thái Bắc sông Cấm hay khu resort sông Giá ….. những câu hát đúm với nhịp điệu dàn trải, ngân nga được diễn xướng bởi các cô gái, chàng trai Thủy Nguyên sẽ làm thư thái tâm hồn du khách. Khóa luận: Thực trạng hát đúm tại Thủy Nguyên xưa và nay.
Hiện nay hát Đúm ở Thủy Nguyên không còn phổ biến như trong xã hội cổ truyền. Hát Đúm đã biến đổi. Vấn đề mà em đã nêu ở trên có thể coi là những hiện trạng và xu hướng khai thác của hát đúm trong hiện tại và tương lai. Mọi loại hình văn hóa dân gian có thể biến đổi, thậm chí là mất đi. Tuy nhiên, trên thực tế, hiện nay hát đúm ở Thủy Nguyên vẫn tồn tại theo cách riêng của nó. Điều này chứng tỏ sức sống bền lâu của văn hóa văn nghệ dân gian trên vùng đất ven biển Thủy Nguyên Hải Phòng.
2.5. Ý nghĩa của hát Đúm
Hát Đúm xưa được nhiều người dân yêu thích và tham gia, nhất là thanh niên nam nữ, bởi đây là hình thức sinh hoạt văn hóa, nơi mà thanh niên nam nữ gửi gắm nỗi niềm của mình với bạn bè, cũng là dịp làm quen, tìm hiểu nhau để rồi đi đến luyến ái, hôn nhân. Cứ mỗi đêm trăng sáng, trai gái tổng Phục lại tụ tập bên nhau để hát hò đối đáp và… “ghẹo nhau”. Đến ngày hội xuân, các cô thôn nữ vẫn khăn đen mỏ quạ đội đầu, che mặt tham dự hội, trai làng này sang hát với gái làng kia.
Hát Đúm còn giúp thanh niên trai gái thông qua những lời ca tiếng hát mà sát lại gần nhau hơn, những ca từ của làn điệu hát đúm khi được cất lên cũng giúp người dân Thủy Nguyên thêm vui vẻ, chan hòa tình cảm yêu thương từ đó giúp cuộc sống trở nên ý nghĩa hơn, không những vậy nét đẹp của hát đúm cũng góp phần đưa du lịch của Thủy Nguyên phát triển .
Ngày nay khi mà xã hội ngày càng phát triển, hình thành rất nhiều hình thức giải trí mới thì việc lưu giữ lại được những giá trị truyền thống từ xa xưa điển hình là lễ hội hát Đúm, Thủy Nguyên, Hải phòng là một điều vô cùng trân quý. Thể hiện đuộc tinh thần gìn giữ xây dựng của người dân đối với nhưng giá trị vật chất tinh thần có từ nhiều đời nay.
Hơn nữa nó góp phần nhắc nhở cho những thế hệ sau biết rằng để có những thành tựu to lớn như bây giờ ông cha chúng ta đã trải qua hàng nghin năm xây dựng và phát triển. Khóa luận: Thực trạng hát đúm tại Thủy Nguyên xưa và nay.
Không chỉ riêng ở Huyện Thủy Nguyên mà còn lan rộng ra nhưng quận huyện lân cận. Mỗi dịp tết đến xuân về trai gái già trẻ nô nức áo quần đẹp đễ đi đến tổng Phục Lễ trẩy hội giao duyên thưởng thức làn điệu trong trẻo êm đềm hết sức tình tứ.
Vào những ngày xuân, hát đúm như trỗi dậy một sức sống mới vốn tiềm ẩn từ lâu trong tâm trí và tấm lòng của những người con quê hương hát đúm. Các chàng trai, cô gái vẫn duyên dáng, say sưa trong những làn điệu hát đúm ngày xuân. Hát đúm cũng như một số hình thái sinh hoạt văn hóa dân gian khác đã phải trải qua những bước thăng trầm. Vậy mà, sức sống lâu bền, mãnh liệt của nó vẫn còn đến ngày hôm nay.
Những làn điệu, ca từ của hát đúm được người dân lưu giữ từ thế hệ này qua thế hệ khác cũng giúp tạo nên các giá trị bản sắc dân tộc riêng của Thủy Nguyên.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Trên đây là những chi tiết cụ thể của Hát Đúm Thủy Nguyên, Hải Phòng những nét đặc sắc trong điệu hát truyền thông. Thực trạng của hát Đúm hiện nay đã có những sự mai một đi nhiều không còn thịnh hành như trước đây vì thế cần có những sự bảo tồn và phát huy truyền thống ông cha ta đã để lại. Ý nghĩa của hát Đúm trong đời sống của nhân dân Huyện Thủy Nguyên cũng như vùng lân cận. Khóa luận: Thực trạng hát đúm tại Thủy Nguyên xưa và nay.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Giải pháp bảo tồn khai thác hát đúm tại Thủy Nguyên

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

